lạm phát ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào thực trạng và giải pháp
Trang 1mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Trong quá trình phát triển kinh tế nhất là trong nền kinh tế thị trờng, các nớcXHCN kể cả Lào đã phải đơng đầu lạm phát cao và tăng trởng chậm Lạm phát cao,thậm chí là siêu lạm phát đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế bởi vì nó đãgây rất nhiều tác hại đối với quá trình phát triển của những nớc đó Dờng nh có mộtquy luật chung là không có nớc nào tiến hành chuyển đổi theo hớng thị trờng màkhông có lạm phát
Khi tự do hoá thị trờng đã đạt đến một mức độ nhất định, lạm phát đã tănglên rất cao, các nớc bắt đầu thực hiện chơng trình ổn định bằng việc cắt giảm khoáchặt, chính sách thu nhập và cải tổ các doanh nghiệp nhà nớc Lạm phát đã giảm đinhng sản xuất cũng giảm đi nhanh chóng do sự suy giảm của tổng cầu, do đầu tgiảm, hệ thống kinh tế cũ đã bị xoá bỏ, hệ thống kinh tế mới cha phát huy hiệu quả.Nguyên nhân tái lạm phát vẫn tồn tại trong áp lực tăng lơng và chính sách lãi xuấtcao đã khuyến khích nợ giữa các xí nghiệp cuối cùng gây áp lực đối với hệ thốngngân hàng để tái tài trợ các khoản nợ này Một lần nữa các nớc chuyển đổi kinh tếlại đứng trớc nguy cơ tái lạm phát, một số nớc đã thực sự rơi vào cuộc khủng hoảng
nợ và lạm phát trầm trọng nh nớc Nga năm 1998
Sau ba cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu á (1997), Nga (1998), Brazil(1999) và sự rối loạn về tài chính ở Mexico (1999), Lào, Việt Nam, Trung Quốc vàmột số nớc khác đã chuyển sang giai đoạn giảm phát và suy thoái kinh tế Trớc bốicảnh đó Chính phủ Lào đã áp dụng các biện pháp kích cầu băng việc nới lỏng chínhsách tiền tệ và chính sách tài khoá Điều tất yếu đã xảy ra mang tính chu kỳ, năm
2008 lạm phát đã quay trở lại gây rất nhiều tranh cãi Nhiều ý kiến cho rằng lạmphát ở Việt Nam cũng nh ở Lào không có yếu tố tiền tệ mà là lạm phát chi phí đẩyphát sinh từ sự tăng giá quốc tế và họ ủng hộ quan điểm tăng tiền vào lu thông đểgiải quyết các vấn đề ách tắc của nền kinh tế Một số ý kiến khác lại cho rằng lạmphát ở Lào có nguyên nhân tiền tệ và họ khuyến nghị nên áp dụng ngay các giảipháp thắt chặt tiền tệ, thắt chặt tài khoá trớc khi lạm phát không thể kiểm soát đợc.Trong khi đó, một số nhà kinh tế lại đa ra khái niệm lạm phát cơ bản, theo họ cầnphải loại bỏ các mặt hàng có tính nhạy cảm cao về giá cả nh xăng dầu, lơng thực rakhỏi rổ hàng hoá khi tính lạm phát cơ bản Nh vậy lạm phát cơ bản ở Lào cha cao vàcha cần áp dụng các biện pháp mạnh để kiềm chế lạm phát Từ các quan điểmtrái ngợc nhau đã dẫn đến những giải pháp rất khác nhau trong việc kiềm chế lạmphát, điều đó cho thấy sự phức tạp và tính chất nghiêm trọng của lạm phát Việcnghiên cứu lạm phát và cơ chế truyền dẫn lạm phát ở Lào, trên cơ sở đó tìm ra
Trang 2các giải pháp hữu hiệu để kiềm chế lạm phát là rất cần thiết và có ý nghĩa thựctiễn Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề tôi đã chọn đề tài nghiên cứu
“Lạm phát ở nớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào - Thực trạng và giải pháp“.
2 Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn chống lạm phát của các nớc chuyển đổi kinh
tế nói chung và của Lào nói riêng Đề tài của luận án sẽ tập trung nghiên cứu cácnguyên nhân căn bản và cơ chế truyền dẫn lạm phát ở Lào trong quá trình chuyển
đổi kinh tế, phân tích ảnh hởng của cải tổ kinh tế và tác động của các chính sáchkinh tế vĩ mô chống lạm phát trong thời gian qua từ đó rút ra các biện pháp thíchhợp cho việc kiềm chế lạm phát ở Lào trong tơng lai
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Lạm phát liên quan đến rất nhiều vấn đề của kinh tế phát triển nh là phânphối thu nhập, đói nghèo và thất nghiệp Nhng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu lạmphát và ổn định kinh tế vĩ mô đó là hai vấn đề quan trọng của các nớc XHCN và một
số nớc trên thế giới trong quá trình phát triển kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tậptrung sang cơ chế thị trờng Luận án bao gồm những nội dung chính sau đây
a Nghiên cứu lạm phát ở các nớc trên thế giới trong thời gian qua, trên cơ sở
đó rút ra bài học cho chuyển đổi kinh tế và kiềm chế lạm phát
b Nghiên cứu lạm phát ở Lào nhằm làm rõ nguyên nhân căn bản và cơ chếtruyền dẫn của lạm phát, tác động qua lại giữa phát triển kinh tế và lạm phát, hiệuquả của các chính sách kinh tế vĩ mô chống lạm phát trong thời gian qua Cuối cùng
đa ra các giải pháp cho việc kiềm chế lạm phát
Đề tài sẽ giới hạn việc nghiên cứu lạm phát trong khoảng thời gian từ năm
1980 đến năm 2008 Nguồn số liệu của đề tài đợc rút ra từ nhiều tài liệu đã xuất bảncông khai có liên quan đến nền kinh tế Lào cũng nh các nền kinh tế chuyển đổi khácnhất là nớc CHXHCN Việt Nam Các số liệu có thể cha chính xác và cha nhất quán,
đó là một khó khăn rất lớn trong quá trình nghiên cứu đề tài
4 Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng một số phơng pháp nh phântích và tổng hợp, quy nạp và diễn giải, so sánh và phơng pháp lịch sử Các phơngpháp đó đợc vận dụng đan xen lẫn nhau
Đặc biệt ở đây nguyên tắc toàn diện, lịch sử và cụ thể là phơng pháp luậntrong quá trình nghiên cứu lạm phát ở Lào cũng nh các nớc khác Luận án còn sửdụng phơng pháp phân tích định lợng để bổ sung và kiểm chứng kết quả nghiên cứu
định tính
Trang 35 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
1 Hệ thống hoá các quan điểm lí thuyết về lạm phát chi phí đẩy (cost push)
và lạm phát cầu kéo (Demand pull) trên quan điểm của Keynes, trờng phái cơ cấu vàtrờng phái tiền tệ
2 Phân tích nguồn gốc và cơ chế truyền dẫn lạm phát ở các nớc trong quá trìnhphát triển kinh tế, các biện pháp đã đợc sử dụng để kiềm chế lạm phát Cuối cùng rút raquy luật chung cho các nền kinh tế chuyển đổi và bài học cho Lào
3 Phân tích nguồn gốc căn bản và cơ chế chuyền dẫn lạm phát ở Lào trongquá trình phát triển kinh tế Dùng phơng pháp kinh tế lợng để phân tích định lợngcác mối quan hệ giữa lạm phát, tăng trởng kinh tế, cung tiền, tỷ giá và sự a thích
đồng nội tệ để kiểm chứng cho các phân tích định tính và rút ra các gợi ý về giảipháp kiềm chế lạm phát ở Lào
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung luận án bao gồm 3 chơng, 10 tiết
Trang 4Chơng 1 Lạm Phát và phát triển kinh tế - các vấn đề
Do vậy, định nghĩa nêu trên chỉ là một điểm khởi đầu
Hai khái niệm khác tơng đối gần với định nghĩa về lạm phát là thiểu phát(deflation) và giảm phát (disflation) Trớc hết thiểu phát là hiện tợng mà trong đó giá
đang giảm đi, một lần nữa khái niệm này cũng không nêu đợc nguồn gốc và ảnh ởng của việc giảm giá Điều đáng lu ý ở đây là lạm phát và thiểu phát chỉ là sự khácnhau trong hớng vận động ngợc chiều của giá cả Thứ hai, giảm phát là sự giảm dầntrong sự tăng của mức giá chung Trong khái niệm này, giá vẫn tăng nhng tốc độchậm hơn, hiện tợng này thờng đợc xem nh một quá trình giảm dần tốc độ lạm phát
h-do các chính sách tích cực của chính phủ Trong một số trờng hợp khác, giảm phát
là kết quả tác động thuần tuý của các lực lợng thị trờng
1.1.1.2 Phơng pháp tính lạm phát
Chúng ta đã nêu khái niệm cơ bản về lạm phát Có rất nhiều loại giá cả trongnền kinh tế, có loại giá tăng lên, có loại giá giảm đi, và số còn lại không thay đổi.Với một khối lợng các loại giá cả lớn và khác nhau nh vậy, chúng ta cần có mộtcách tính để thể hiện đợc tất cả các loại giá cả Hầu hết các nhà kinh tế đều nhất trí
sử dụng tổng mức giá bình quân để phản ảnh xu hớng của các loại giá khác nhau.Nếu cho trớc tổng giá cả là P, tỷ lệ lạm phát đợc tính riêng rẽ hoặc đợc tính đồngthời nh sau (Mankiw, 1994):
1 t
1 t t
P P
Trang 5Trong đó πt là tỉ lệ lạm phát của giai đoạn t;
Pt và Pt-1 là tổng giá cả của 2 giai đoạn kế tiếp nhau giai đoạn t và giai đoạn t-1 Trong nghiên cứu, chúng ta sử dụng cả 2 cách tính tỷ lệ lạm phát riêng rẽ và
đồng thời
Có một số phơng pháp tính tổng mức giá Chỉ số giảm phát GDP (GrossDomestic Product), chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI) (Consumers Price Index), chỉ số giáhàng bán lẻ (RPI) (Retails Price Index), chỉ số giá của ngời sản xuất (PPI) (ProducersPrice Index) và chỉ số giá hàng bán buôn (WPI) (Wholesellers Price Index)
Chỉ số giảm phát GDP là chỉ số giá phản ánh bình quân giá của tất cả cáchàng hoá và dịch vụ đợc sản xuất trong nớc Chỉ số này đợc sử dụng để giảm lạmphát GDP danh nghĩa và tính đợc GDP thực Chỉ số giảm phát GDP đợc tính nh sau(Mankiw, 1994)
Chỉ số giảm phát GDP = GDP danh nghĩa/ GDP thực tế =
∑
∑
=
= N
Q P
Trong đó Pit và Qit là giá và lợng của sản phẩm i trong giai đoạn t, Pio là giácủa sản phẩm i trong giai đoạn cơ sở, và N là tổng số sản phẩm Lu ý rằng Qit làtrọng số và những trọng số đó thay đổi theo thời gian Bởi vì chỉ số giảm phát GDP
là một chỉ số Paasche
Chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI) thờng đợc xem nh là phơng pháp đo lờng chiphí của cuộc sống liên quan tới rổ hàng hoá và dịch vụ cụ thể đợc mua bởi ngời tiêudùng Rổ hàng hoá đợc ấn định đối với một năm cơ sở, chỉ số CPI là một chỉ sốLastpayers (Mankiw, 1994)
Q
P CPI
Nh vậy cách tính chỉ số CPI là cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọngkinh tế của nó chứ không phải là cộng đơn giản các giá cả lại và chia cho tổng khốihàng Chỉ số giảm phát GDP đợc đánh giá là toàn diện hơn chỉ số giá tiêu dùng CPIvì bao quát đợc tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ trong GDP
Khác với chỉ số CPI, chỉ số giá ngời sản xuất đợc tính toán dựa trên giá một
rổ hàng hoá đặc trng đợc mua bởi các công ty
Bên cạnh các giá trị bình quân, các khía cạnh khác của lạm phát cũng cần
đ-ợc nghiên cứu một cách thích đáng, đó là biên độ của lạm phát Biên độ của lạm
Trang 6phát là khoảng cách mà trong đó lạm phát dao động Trong một giai đoạn cụ thể,biên độ lạm phát đợc tính toán bằng phơng sai chuẩn (Standard deviation - SD) hoặc
hệ số của biên độ (Coefficient of variation - CV) của tỉ lệ lạm phát trong giai đoạn
đó
t N
1 i
2 it
Trong đó πi là tỷ lệ lạm phát của giai đoạn i trong thời gian cần nghiên cứu
Và π là lạm phát bình quan trong giai đoạn đó Đối với những tỷ lệ lạm phát thấp,
hệ số biên độ sẽ giảm đi căn bản, gần nh bằng zero Do vậy mà phơng sai chuẩnthờng đợc sử dụng để phản ảnh biên độ dao động của lạm phát
1.1.2 Phân loại lạm phát
Căn cứ vào tốc độ lạm phát, ngời ta chia lạm phát ra làm 3 loại chính:
Lạm phát vừa phải: Tỷ lệ lạm phát dới 10% Đây là loại lạm phát phổ biến
và tồn tai gần nh thờng xuyên trong hầu hết các nền kinh tế
Lạm phát phi mã: Mức giá tăng rất nhanh ở tỷ lệ 2 hoặc 3 con số, từ 20 đến
999% năm Lạm phát nh vậy gây ảnh hởng đến tầng lớp dân nghèo và trung lu Việckiểm soát lạm phát đòi hỏi các biện pháp tài chính và tiền tệ mạnh, nếu không sẽdẫn đến siêu lạm phát
Siêu lạm phát: Theo định nghĩa của Cagan (1956), siêu lạm phát
(Hyperinflation) đợc xác định khi tỷ lệ lạm phát hàng tháng vợt quá 50% Đặc trng
đầu tiên của siêu lạm phát là sự phá vỡ hoàn toàn hệ thống tài chính và tiền tệ Với
tỷ lệ lạm phát hàng tháng lên tới 3, 4 và 5 con số, ngời ta sẽ rời bỏ tiền nội tệ để nắmgiữ vàng, ngoại tệ hoặc hàng hoá, trừ khi việc sử dụng các phơng tiện thanh toán bịbắt buộc bởi pháp luật (để thanh toán tiền thuế hoặc sử dụng các lợi ích côngcộng,v.v…) Đặc trng thứ hai là thời gian hiệu lực của các hợp đồng danh nghĩa rútngắn lại, từ hàng tháng xuống hàng tuần, ngày và thậm chí đôi khi tính bằng giờ.Một đặc trng thứ ba của siêu lạm phát là hình thức thái quá của việc tài trợ thâm hụtngân sách Trong thực tế, siêu lạm phát thờng đi đôi với suy thoái, thất nghiệp và sựbất ổn xã hội nghiêm trọng Siêu lạm phát ở Hungary đã đợc ghi lại là siêu lạm phátcao nhất trong lịch sử thế giới, chỉ trong một năm giá đã tăng lên tới 3,8 x1027 (3,8octillion time), và tỷ lệ lạm phát bình quân một tháng là 19800%, ngời ta ớc tính
Trang 7thiệt hại tới 40% tài sản của Hungary Trong phần tới chúng ta sẽ nghiên cứu quan
điểm của các trờng phái kinh tế khác nhau khi giải thích nguyên nhân lạm phát
1.1.3 Nguyên nhân gây lạm phát
Cuộc tranh cãi về các nguyên nhân gây lạm phát vẫn cha kết thúc Một sốnhà kinh tế thuộc trờng phái Keynes chỉ ra các nguyên nhân gần nh trực tiếp gây ralạm phát chủ yếu là trong mặt cung cầu Các nhà kinh tế khác lại nghiên cứu sâu cácnguyên nhân cơ bản của lạm phát Những nhà kinh tế đó thuộc về trờng phái cơ cấu
và trờng phái tiền tệ
1.1.3.1 Các lý thuyết về lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy
Việc giải thích lạm phát về mặt cung và cầu đợc mô tả nh sau:
Hình 1.1 chỉ ra điểm cắt nhau giữa đờng cung và đờng cầu sẽ xác định mứcgiá Trong trờng hợp đầu tiên, lạm phát cầu kéo, đờng tổng cầu dịch chuyển lêntrên do tổng cầu của ngời tiêu dùng, kinh doanh và chính phủ về hàng hoá dịch vụ v-
ợt quá tổng cung, vợt quá năng lực của nền kinh tế (kể cả những hàng hoá và dịch vụtrong các kho và hàng nhập khẩu gộp lại), khiến giá cả nói chung tăng lên và phátsinh lạm phát
Hình 1.1 Tổng cung và tổng cầu
Các nhà kinh tế trọng tiền nhấn mạnh vai trò của tiền là nguyên nhân cơ bảncủa lạm phát cầu kéo Họ giả thiết rằng đờng tổng cung là cố định, nền kinh tế luônluôn đạt ở mức sản lợng tiềm năng, cung tiền tăng lên làm tăng cầu đối với hàng hoánhng cung hàng hoá không thể tăng do các nguồn lực đã đợc sử dụng ở mức toàndụng dẫn đến tăng giá cùng với tốc độ tăng cung tiền và lạm phát thực sự sẽ xẩy ra
Nhng J.M.Keynes không cho rằng nền kinh tế luôn luôn ở mức toàn dụngnhân công Trớc khi có toàn dụng nhân công thì mọi khoản tài trợ làm tăng cầu xãhội không những là cần thiết để tăng tổng cầu, tăng sản lợng và công ăn việc làm
mà còn cha gây lạm phát, hay chỉ tạo ra lạm phát lành mạnh Nhng khi tổng cầu,sản lợng và công ăn việc làm tăng hơn nữa, quy luật thu nhập giảm dần và sự khanhiếm các nguồn lực bắt đầu xuất hiện, giá bắt đầu tăng lên Sự tăng giá trong giai
P
P∗
AS AD Sản l ợng tiềm năng
Q
Trang 8đoạn này đợc hiểu là lạm phát ngầm Nếu cung tiền (Money Supply)vợt quá mứctoàn dụng nhân công, sản lợng không tăng và giá tăng lên cùng tỷ lệ với tăng cungtiền Theo Keynes đây là lạm phát thực sự, nhng ông cho rằng lạm phát trong giai
đoạn toàn dụng nhân công vẫn có ích vì nó làm hng thịnh nền kinh tế, cứu vãn suythoái và thất nghiệp Ông coi lạm phát để tăng đầu t cho nền kinh tế tạo ra cầu dthừa là động lực phát triển kinh tế
Trong trờng hợp thứ hai, lạm phát chi phí đẩy (Cost Push), đờng tổng cungdịch chuyển lên trên do chi phí sản xuất tăng nhanh hơn năng suất lao động (tăngchi phí chủ yếu là tăng lơng và giá của các yếu tố vào không phải là sức lao động
nh dầu lửa, nguyên, nhiên vật liệu, công nghệ cũ và cơ chế quản lý lạc hậu) khi đócác doanh nghiệp sẽ đối phó lại bằng cách tăng giá cả hàng hoá và lạm phát xuấthiện mặc dù cầu về sản phẩm của họ không tăng
Nh vậy “lạm phát chi phí đẩy” đã giải thích nguyên nhân lạm phát trong ờng hợp cầu không đổi hoặc thậm chí giảm xuống, ngay cả trong trờng hợp thu hẹpcầu bằng việc cắt giảm đầu t và tín dụng có thể gây thất nghiệp và suy thoái kinh tếchứ không làm giảm lạm phát
tr-Điểm đáng lu ý là “lạm phát cầu kéo” xuất hiện do cầu vợt cung khi nền kinh
tế tới hoặc vợt quá mức sản lợng tiềm tăng, có sự toàn dụng nhân công và công xuấtmáy móc thiết bị, thì “lạm phát chi phí đẩy” phát sinh ngay cả khi tài nguyên cha đ-
ợc sử dụng hết, cha tới trạng thái toàn dụng nhân công, thậm chí lạm phát ngay cảkhi suy thoái kinh tế Nh vậy có thể coi “lạm phát chi phí đẩy” là một hiện tợng mớicủa nền kinh tế công nghiệp hiện nay
Còn có nhiều tranh cãi giữa các nhà kinh tế về việc tách biệt lạm phát cầukéo và lạm phát chi phí đẩy Họ cho rằng quá trình lạm phát thực sự chứa đựng cácnhân tố của cả hai phía Trong thực tế các nhân tố d cầu và chi phí đẩy hoạt động
đồng thời và độc lập trong một quá trình lạm phát Do đó lạm phát đợc kết hợp cảcầu kéo và chi phí đẩy khi mức giá thay đổi do sự dịch chuyển đi lên của cả hai hàmtổng cung và tổng cầu
Giữa “lạm phát cầu kéo” và “lạm phát chi phí đẩy” tồn tại một mối quan hệtuyến tính, tăng giá do cầu kéo dẫn đến tăng giá do chi phí đẩy Cụ thể là do tổngcầu về thành phẩm và dịch vụ tăng dẫn đến mở rộng sản xuất của các doanh nghiệplàm cho nhu cầu nguyên vật liệu và lao động tăng lên khiến cho chi phí sản xuấttăng, giá thành tăng, phát sinh lạm phát
Trên đây là các cách giải thích lạm phát một cách trực tiếp vì nó nêu cácnguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm phát từ phía cung và cầu Các trờng phái khác đi
xa hơn, họ nghiên cứu các điều kiện cơ bản mà trong đó lạm phát xảy ra
Trang 91.1.3.2 Cách tiếp cận của trờng phái cơ cấu
Ngay từ những năm 1950, khi nghiên cứu lạm phát trong các nớc đang pháttriển, các nhà kinh tế thuộc trờng phái cơ cấu đã cho rằng nguyên nhân gây lạmphát là sự không co giãn của cung và sự cứng nhắc của cơ cấu giữa các khu vựccủa nền kinh tế (Torado, 1989) Họ cho rằng có sự tồn tại tơng quan một - một giữaquá trình kinh tế và cơ cấu kinh tế và vì vậy đối với mỗi cơ cấu kinh tế t ơng ứngmột vectơ duy nhất của giá tơng đối Điều này ám chỉ rằng mọi thay đổi trong cơcấu kinh tế đều dẫn đến sự thay đổi trong giá tơng đối Nếu giá tính bằng tiền giảm
đi không linh hoạt, thay đổi trong giá tơng đối sẽ dẫn đến tăng trong mức giáchung và sinh ra rấp lực lạm phát mà trong một môi trờng tiền tệ thụ động sẽ dẫn
đến một quá trình lạm phát
Tóm lại, thuyết lạm phát cơ cấu đợc dựa trên ba yếu tố căn bản: (1) giá tơng
đối thay đổi khi cơ cấu kinh tế thay đổi, (2) sự kém linh hoạt của giá cả tiền tệ, và(3) cung tiền thụ động để đóng khoảng cách lạm phát (inflation gap) phát sinh doviệc tăng giá (Olivera, 1957) Họ cho rằng lạm phát là không thể tránh đợc trongnền kinh tế đang cố gắng tăng trởng nhanh nhng phải đối mặt với nút thắt cổ chai vềcơ cấu Những nút tắt cổ chai cơ bản là (1) cung lơng thực không co giãn, (2) hạnchế về ngoại tệ và (3) hạn chế về ngân sách của chính phủ
Với khía cạnh nút thắt cổ chai trong khu vực nông nghiệp, họ cho rằng đô thịhoá và tăng thu nhập dẫn đến tăng nhanh chóng về cầu lơng thực và nguyên liệu thô
mà khu vực nông nghiệp không thể đáp ứng đợc Phản ứng của cung yếu ớt vì nhữnghạn chế cơ cấu trong khu vực nông nghiệp Giá tơng đối của hàng nông sản có xu h-ớng tăng lên Nếu giá hàng công nghiệp không giảm xuống vì cấu trúc của thị trờngkhông nhạy cảm, cơ chế truyền dẫn khi đó sẽ chuyển áp lực lạm phát cơ cấu vàolạm phát Tiền lơng phải tăng lên vì chi phí cho cuộc sống tăng lên và do đó tăngchi phí sản xuất trong khu công nghiệp dẫn đến tăng giá hàng công nghiệp Nếulợi ích cận biên đợc giữ nguyên thì sẽ có một sự điều chỉnh mới trong giá tơng đốingay lập tức bắt đầu lặp lại quá trình đã mô tả Toàn bộ quá trình đó giả thiết là tồntại cung tiền thụ động đảm bảo cân bằng trên thị trờng tiền tệ
Nút thắt cổ chai thứ hai là hạn chế về ngoại tệ, phát sinh do tỷ lệ tăng trởngngoại tệ nhận đợc không đủ đáp ứng tăng cầu quá nhanh về nhập khẩu tạo ra bởi sự
cố gắng phát triển nhanh, tăng dân số và cố gắng công nghiệp hoá trong môi trờnghạn chế về kỹ thuật, mất cân đối cơ cấu và sự biến đổi tác nhân không hoàn hảo.Thiếu hàng nhập khẩu và tăng giá hàng nhập khẩu đã tích luỹ việc tăng giá, cán cânthanh toán gặp khó khăn cuối cùng buộc các nớc phải phá giá đồng nội tệ hoặc ápdụng hạn ngạch nhập khẩu áp lực lạm phát cơ cấu xuất hiện và cơ chế truyền dẫnkhi đó sẽ chuyển nó vào lạm phát thông qua hệ thống kinh tế nh sau:
Trang 10Nếu kiểm soát nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu (quota) đợc sử dụng để hạn chếnhập khẩu, kết quả là d cầu và thiếu hàng hoá trong nớc làm cho giá cả trong nớc củahàng nhập khẩu tăng lên, đặc biệt khi co giãn giá cả của cầu đối với hàng nhập khẩu là rấtthấp Khi hàng thay thế nhập khẩu có sẵn trong nớc, giá của chúng sẽ có xu hớng tăngcùng với hàng nhập khẩu Sự tăng giá sẽ dẫn đến cầu về tiền lơng tăng lên, và bằng cácbiện pháp nới lỏng tín dụng trong nớc, lạm phát sẽ xảy ra.
Nếu phá giá đợc áp dụng, ảnh hởng ngay lập tức của phá giá sẽ làm tăng giáC.I.F (Cost Insurance Freight) của hàng nhập khẩu tính bằng tiện nội tệ Khi một tỷtrọng đáng kể hàng nhập khẩu bao gồm bán thành phẩm và máy móc thiết bị, chiphí hàng nhập khẩu cao hơn sẽ làm tăng giá sản xuất của thành phẩm đợc sản xuấttrong nớc Tăng giá tơng đối của hàng thơng mại (tradable goods) sẽ dẫn đến tănggiá dịch vụ và hàng phi thơng mại (non-tradable goods) Phản ứng của bộ phận lao
động có tổ chức đối với việc giảm thu nhập thực tế có thể dẫn đến việc tăng tiền l
-ơng Phá giá cũng có thể có ảnh hởng lạm phát thông qua ảnh hởng của lãi suất.Tăng giá bắt nguồn từ phá giá sẽ làm giảm giá trị thực của các khoản tín dụngngân hàng Do đó các công ty buộc phải tìm đến các nguồn vốn không chính thứcvới lãi suất sẽ cao hơn, chi phí vốn lu động tăng lên, chi phí sản xuất tăng lên, và
đờng tổng cung dốc lên Kết quả là giảm sản lợng thực tế và tăng mức giá
Nút thắt cổ chai thứ ba là thiếu nguồn lực tài chính (the fiscal constraint) Sự
cố gắng phát triển đã làm tăng phạm vi liên quan của chính phủ trong nền kinh tế (đặcbiệt trong việc cung cấp các phơng tiện vật chất để xây dựng hạ tầng và xã hội) Thêmvào đó, tỷ lệ hình thành vốn t nhân thấp và thích an toàn nh đầu t phi sản xuất (đất đai
và nhà cửa, gửi tiền trong tài khoản tại các ngân hàng nớc ngoài, v.v…) đã buộc chínhphủ phải đóng vai trò lớn hơn trong việc tạo vốn để cung cấp một khối lợng đủ để hấpthụ lợng lao động d thừa do tăng dân số quá nhanh Trong khi đó, thu nhập của chínhphủ hiếm khi tăng nhanh chóng để đủ đáp ứng tăng trởng chi tiêu, cơ cấu thuế khônghiệu quả và tham nhũng Sự cần thiết phải cải tổ hệ thống thuế là vấn đề trong dài hạntrong khi đó đầu t hạ tầng lớn trong ngắn hạn là một điều kiện cần thiết trong tăng tr-ởng kinh tế nhanh chóng Khi hệ thống tài chính trong nớc kém phát triển không thểrút ra đợc các nguồn lực cho đầu t và việc tiếp cận với các nguồn tài chính bên ngoài bịhạn chế, tình thế lỡng nan thờng đợc giải quyết bằng việc in tiền để tài trợ thâm hụt và
do đó dẫn đến lạm phát Thêm vào đó, các nút thắt cổ chai khác trong khu vực nh: điện,nhiên liệu thô nhập khẩu, giao thông vận tải và các phơng tiện tín dụng cũng góp phầnquan trọng làm tăng áp lực lạm phát
1.1.3.3 Cách tiếp cận của trờng phái tiền tệ
Trang 11Ngợc lại với trờng phái cơ cấu, các nhà kinh tế trọng tiền (đại diện làFriedman, Laidler, Dornbusch và Fischer) đã cho rằng lạm phát là vấn đề thuần tuý
về tiền tệ, bắt nguồn và đợc duy trì bởi các chính sách tiền tệ và tài khoá mở rộng(chi tiêu thâm hụt của chính phủ, các chính sách mở rộng tín dụng và mở rộng hoạt
động ngoại hối của ngân hàng trung ơng) Việc kiểm soát lạm phát đòi hỏi kiểmsoát đủ và cần thiết lợng tiền cung ứng tăng lên với một tỷ lệ đồng nhất với tăng tr-ởng cầu tiền tại mức giá ổn định Đặc biệt, tỷ lệ lạm phát cũng giảm đi, và sự bópméo trong nền kinh tế đợc loại bỏ, thông qua việc kiềm chế d cầu bằng các chínhsách tiền tệ và tài khoá, kiểm soát việc tăng lơng và loại bỏ tỷ giá đánh giá cao(overvalued exchange rate)
Sau đại chiến thế giới lần thứ II, trờng phái tiền tệ hiện đại đã đợc khởi đầu
và phát triển bởi Milton Friedman và những ngời khác Các nhà kinh tế trọng tiền
đã đa ra mô hình tiền tệ dựa trên hàm cầu tiền ổn định với lợng tiền thực tế Lợngtiền thực tế nh vậy đợc cầu do các giao dịch và mục đích dự phòng, và mức của nó
đợc giả định là một hàm số của thu nhập thực tế và chi cơ hội của việc giữ tiềnthay cho giữ tài sản mà ít nhất có thể thoả mãn động cơ dự phòng Hơn nữa ngời tacòn cho rằng cung tiền là ngoại sinh và có thể đợc kiểm soát bởi các nhà chứctrách trong lĩnh vực tiền tệ Trong mô hình này, lạm phát là kết quả của việc mởrộng cung tiền nhanh hơn cầu tiền Thuyết cầu tiền do Friedman đa ra (1956a) làtác phẩm nổi tiếng trong số các học thuyết mới về số lợng tiền tệ Học thuyết đợcphát triển trên cơ sở thuyết số lợng tiền tệ cũ từ Cambridge Nó đợc dựa trênnguyên tắc là cầu tiền của cá nhân bị ràng buộc chặt chẽ bởi các nguồn của anh ta
và đợc xác định bằng phơng trình về thu nhập của việc giữ tiền và thu nhập củaviệc giữ các tài sản khác thay cho tiền Friedman đã thể hiện học thuyết của mìnhbằng hàm cầu tiền danh nghĩa nh sau:
∫
= P r , r , p , h , y , u
Trong đó: Md: Cầu tiền tệ danh nghĩa
P: Mức giá tuyệt đối
Y: Thu nhập thờng xuyên, tức là thu nhập dự kiến tính bình quân, thunhập dự kiến tính bình quân, thu nhập hiện tại và quá khứ đã đợc chỉnhlý
rB, rE, Ρ, h: Phản ánh mức sinh lời danh nghĩa trên tài sản mà có thể nắm
giữ thay cho tiền Biến rB là lãi xuất của trái phiếu, biến rE là hiệu suấtsinh lời của cổ phiếu và Ρ là phần trăm thay đổi của mức giá.
h: Tỷ lệ thu nhập từ thiết bị và con ngời
Trang 12u: Hằng số biểu thị tất các các yếu tố khác nhau có thể giải thích chonhu cầu cá nhân về tiền tệ.
Hàm cầu tiền danh nghĩa có thể đợc biểu diễn thành hàn cầu tiền thực nh sau:
∫
= r , r , p , h , y , u P
Theo M Friedman, muốn kìm hãm lạm phát cần kìm chế sự tăng trởng số ợng tiền và để không có lạm phát thì tốc độ phát hành tiền vào lu thông phải cùngvới tốc độ tăng trởng sản xuất đích thực
l-Nh vậy, xét về lịch sử, học thuyết về số lợng tiền tệ đã phát triển gần 400 năm
và là một bộ phận cấu thành trong kho tàng lý luận tiền tệ
Cuối cùng, chúng ta thấy rằng, cho dù xuất phát từ các quan điểm kinh tếkhác nhâu để phân tích nguyên nhân gây lạm phát thì tất cả các nhà kinh tế đều thừanhận lạm phát xảy ra khi tổng cầu vợt quá tổng cung hàng hoá và dịch vụ
1.2 tác động của lạm phát đối với phát triển
1.2.1 ảnh hởng của lạm phát đối với tăng trởng kinh tế
Để làm rõ mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trởng là không đơn giản bởi vìchúng có cả hai mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp Lu ý rằng điều chúng ta quantâm ở đây là hớng từ lạm phát đến tăng trởng chứ không phải hớng ngợc lại Lạmphát sẽ ảnh hởng trực tiếp tới tăng trởng khi tiền đợc xem là đầu vào trực tiếp củasản xuất trong hàm sản xuất Ngoại trừ kênh này, lạm phát sẽ ảnh hởng đến tăng tr-ởng thông qua các biến khác nh tiết kiệm, đầu t, năng suất lao động… Quá trình ảnhhởng này đợc mô tả bằng hình 1.2
Hình 1.2: Quan hệ giữa lạm phát và tăng trởng
Lúc này cần phải nhận dạng các biến số tích cực đợc xem nh là các kênhhoặc cầu nối từ lạm phát tới tăng trởng, tất cả các kênh đó sẽ đợc gắn vào hai cáchtiếp cận trái ngợc nhau là trờng phái cơ cấu và trờng phái tân cổ điển và sẽ đợc thảoluận trong phần dới đây
∗ Cách tiếp cận của trờng phái cơ cấu.
Theo quan điểm của trờng phái cơ cấu, tại bất kỳ một khoảng thời gian nào,bao giờ cũng tồn tại một số lĩnh vực không sử dụng hết nguồn lực và thiệt hại từ cầuthấp cùng tồn tại với các lĩnh vực khác đang d cầu và đang tăng giá Thông tin
Các biến số
Trang 13không hoàn hảo, thiếu nguồn lực về vốn và kỹ năng quản lý, sai lầm về chính sách
và các nhân tố khác làm cho độ co giãn của cung rất nhỏ Đồng thời do giảm đô kếtdính, việc tăng giá ở các lĩnh vực d cầu không đợc bù đắp bằng việc giảm giá ở cáclĩnh vực d cung và do đó gây ra một sự dịch chuyển liên tục theo chiều hớng tănglên (thờng xuyên nhng không nhanh) trong mức giá chung Nếu tổng cầu đợc ấn
định ở mức thấp đến nỗi giá cả ổn định ngay cả trong các lĩnh vực có độ co giãnthấp thì cái giá phải trả là giảm sản lợng và giảm tăng trởng Do vậy sẽ có một sựtrao đổi giữa lạm phát và tăng trởng, một xã hội u tiên cho tăng trởng thì sẽ phảichấp nhận lạm phát đi cùng với nó
∗ Cách tiếp cận của trờng phái tân cổ điển.
Ngợc lại với trờng phái cơ cấu, trờng phái tân cổ điển (Neoclassical) cho rằnglạm phát dờng nh có hại hơn đối với tăng trởng Việc tăng giá không những khôngkhuyến khích đầu t mà còn cản trở đầu t bằng việc sói mòn giá trị thực của nó Lạmphát có xu hớng làm méo mó cơ cấu đầu t theo hớng đầu t vào lĩnh vực có lợi nhuậnnhanh chóng nh đầu cơ trong khi đó không khuyến khích đầu t dài hạn vào ngànhcông nghiệp nặng và lĩnh vực nghiên cứu Hơn nữa, lạm phát, kèm theo đó là sự dao
động giá cả rất mạnh và dự đoán không chính xác về các biện pháp đối phó củachính phủ sẽ làm tăng sự bất ổn và làm cho việc hoạch định kế hoạch khó khăn hơn,làm giảm cả đầu t và năng suất đầu t Trong trờng hợp cực kỳ nghiêm trọng siêu lạmphát làm cho ngời ta chạy trốn khỏi đồng tiền, phá vỡ việc cung cấp có hiệu quả cácnguồn lực của nền kinh tế, làm trầm trọng các nút thắt cổ chai, làm thay đổi phânphối thu nhập và kìm hãm sự tăng trởng
Ngoài ra, ngời ta cho rằng lạm phát có thể gây hại đến tăng trởng thông qua
ảnh hởng của nó đối với cán cân thanh toán Nếu (a) lạm phát trong nớc cao hơn tỷ
lệ lạm phát chung trên thế giới và (b) tỷ giá hối đoái là cố định hoặc không thả nổihoàn toàn sẽ dẫn đến giá hàng nhập khẩu rẻ hơn so với hàng hoá trong nớc, khi đócầu trong nớc về hàng nhập khẩu sẽ tăng lên, chi phí sản xuất hàng xuất khẩu sẽtăng lên mà không đợc bù đắp bằng việc tăng giá thế giới Do đó cán cân thơng mại
sẽ yếu đi và nền kinh tế có thể phải đối mặt với việc thiếu ngoại tệ
Hiện nay, các công trình nghiên cứu nhấn mạnh mối quan hệ giữa các thị ờng tài chính và tăng trởng kinh tế Ngời ta cho rằng lạm phát làm giảm khả nănghoạt động có hiệu quả của thị trờng tài chính Điều này sẽ tạo thêm một kênh thôngqua đó lạm phát có thể gây hại cho tăng trởng Trong thế giới thông tin không hoànhảo, các vấn đề thông tin có thể làm cho lạm phát trầm trọng thêm, làm cho cácngân hàng không có khả năng phân biệt giữa các công ty kém và các công ty tốt đểphân phối các khoản tín dụng của họ một cách có hiệu quả
tr-1.2.2 ảnh hởng của lạm phát đối với cơ cấu nền kinh tế
Trang 14Những điều mà chúng ta đã bàn đều chỉ liên quan đến quan hệ giữa lạm phát
và tăng trởng kinh tế Nhng tăng trởng không phải là khía cạnh duy nhất của pháttriển Chúng ta cần phải quan tâm đến ảnh hởng của lạm phát đối với cơ cấu nềnkinh tế, đến nghèo đói và phân phối thu nhập Trong phần này, chúng ta bàn về ảnhhởng của lạm phát đối với cơ cấu nền kinh tế
Ngời ta cho rằng việc bùng phát lạm phát đợc kết hợp với sự vận động tănglên tơng đối của giá cả trong nền kinh tế đã góp phần đáng kể vào sự khác nhautrong độ co giãn về cung của các khu vực kinh tế khác nhau Thay đổi giá tơng đốidờng nh thúc đẩy những thay đổi trong cơ cấu sản lợng Vấn đề là liệu lạm phát cólàm sai lệch một cách dai dẳng giá cả trong những khu vực cụ thể, Sproas cho rằng
điều đó chịu ảnh hởng bởi cầu hoặc giá phải trả là lạm phát Trong trờng hợp giáphải trả là lạm phát, ông giả thiết rằng giá tơng đối sẽ dịch chuyển một cách hệthống đối với khu vực chế tạo, lạm phát cầu sẽ dịch chuyển giá cả tơng đối trong sảnxuất hàng nông sản, trong đó lơng thực dờng nh là bộ phận quan trọng nhất Bất kỳ
sự thay đổi giá tơng đối đều có hậu quả phân phối của nó và ảnh hởng lên cơ cấu sảnxuất
1.2.3 ảnh hởng của lạm phát đối với nghèo đói và phân phối thu nhập
ảnh hởng của lạm phát đối với mức thu nhập thực tế phụ thuộc vào nguồngốc nhận thu nhập và khả năng của các tầng lớp khác nhau trong xã hội trong việc
dự báo lạm phát và tự bảo vệ họ chống lạm phát
Trong trờng hợp tiền lơng, phản ứng của ngời lao động có tổ chức đối vớiviệc giảm mức thu nhập thực tế tạo nên sự xung đột góp phần làm tăng sự dao độngcủa giá tơng đối và thúc đẩy quá trình lạm phát Mối quan hệ tiền lơng - giá cả phụthuộc một cách gay gắt vào sức mạnh chính trị của ngời lao động, ảnh hởng của lạmphát đối với lực lợng lao động không có tổ chức còn khó phân tích hơn nữa Nếu giáhàng hoá và dịch vụ đợc bán bởi các hộ t nhân không chính thức ở thành thị tăngcung tơng ứng với giá mua tiêu dùng của họ, thu nhập thực tế của họ sẽ không bị
ảnh hởng nhiều Trong khu vực nông thôn, những ngời lao động không có đất dờng
nh bị thiệt hại do giảm thu nhập thực tế khi giá cả lơng thực và hàng hoá tiêu dùngkhác tăng lên Những hộ gia đình nông thôn sản xuất một lợng lơng thực d thừa bántrên thị trờng có thể có lợi nếu giá lơng thực tăng nhanh hơn mức giá chung Tuynhiên, đối với những ngời nghèo, tỷ trọng chi tiêu cho lơng thực trong tổng chi tiêu
sẽ cao hơn làm cho nghèo đói sẽ tăng lên một cách tơng đối Sử dụng số liệu của ấn
Độ trong giai đoạn những năm 1960s, Mellor (1978) chỉ ra rằng nếu giá lơng thựctăng 10%, mức chi tiêu thực tế của nhóm hộ gia đình có thu nhập thấp nhất sẽ giảm5,5% Ngợc lại nhóm hộ gia đình có thu nhập cao nhất giảm 5%, giảm thấp hơn sovới nhóm có thu nhập thấp Khi ảnh hởng của giá cả tăng lên đối với ngời sản xuất
Trang 15là đáng kể thì ngời ta thấy rằng thu nhập của những ngời nông dân nghèo nhất bịgiảm đi khi họ là ngời mua lơng thực.
Lạm phát có thể ảnh hởng đến cơ cấu của thị trờng lao động bằng việc dichuyển lao động sang các khu vực có mức thu nhập cao hơn Lạm phát cũng có thể
có lợi cho một nhóm ngời giàu có hoặc các nhà t bản từ sự thiệt hại của nhóm khác.Nếu lạm phát đợc kết hợp với tỷ giá cố định và kiểm soát nhập khẩu, thu nhập củanhững ngời xuất khẩu sẽ bị giảm đi, trong khi đó thu nhập của những ngời nhập khẩulại tăng lên Nếu lạm phát đợc kết hợp với việc cố định lãi suất danh nghĩa, các nhà tbản sẽ có lợi từ việc tiếp cận các khoản tín dụng với lãi suất thấp
1.3 Lạm phát trong các nớc chuyển đổi kinh tế
1.3.1 Nguồn gốc căn bản và cơ chế truyền dẫn lạm phát
Trớc khi chuyển đổi, trong các nớc XHCN lạm phát bị kìm hãm Có cầu dthừa nhng tình trạng d cầu không chuyển vào lạm phát vì sự kiểm soát giá, lạmphát hoặc siêu lạm phát chỉ có thể bắt đầu khi giá cả đợc xác lập một cách tự do.Trong quá trình chuyển đổi, lạm phát bị kìm hãm đã trở thành lạm phát mở khicầu tăng lên, cung bị co lại, phá giá mạnh, thâm hụt tài chính đã tạo lên sự mấtcân đối nghiêm trọng Khi các nớc XHCN tiến hành chơng trình ổn định, lạmphát giảm đi, nhng sản lợng đã giảm đi nhanh chóng, nguy cơ tái lạm phát vẫntồn tại Nguồn gốc căn bản của lạm phát trong quá trình chuyển đổi có thể đợctìm thấy trong sự thâm hụt tài chính bắt nguồn từ hoạt động không có hiệu quảcủa các doanh nghiệp nhà nớc, từ việc bao cấp của ngân sách, từ các khoản chitiêu lớn cho quân đội, tham nhũng, thâm hụt cán cân thanh toán, nợ n ớc ngoài và
nợ nần dây da giữa các doanh nghiệp Dựa trên quan điểm của trờng phái cơ cấu
và trờng phái tiền tệ, phần này sẽ đi vào phân tích chi tiết nguồn gốc căn bản vềlạm phát
1.3.1.1 Thâm hụt ngân sách
Trong các nớc chuyển đổi, đầu tiên và trên hết, lạm phát phát sinh từ thâmhụt tài chính mà nguồn gốc sâu xa của thâm hụt tài chính là do tình trạng hoạt độngkém hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nớc Với việc tiếp cận không hạn chế của khuvực này đối với các nguồn lực từ ngân sách của chính phủ hoặc từ hệ thống ngânhàng để tài trợ không chỉ các yêu cầu về vốn cho hoạt động mà còn bù đắp nhữngkhoản lỗ Các khoản lỗ đó vẫn đợc tài trợ bằng việc cấp bù lỗ của chính phủ, bằngcác khoản tín dụng với lãi suất thấp từ các ngân hàng và các khoản thuế rất thấp Sựbao cấp dai dẳng này là nhân tố chính thúc đẩy lạm phát và cũng là một nhân tố chophép tồn tại các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả Ví dụ, ở Nam T, trong thờigian từ năm 1981 đến 1988 lỗ của các doanh nghiệp đã lên tới hơn 4% tổng sản
Trang 16phẩm xã hội (GSP), trong khi đó lợi nhuận của doanh nghiệp có thể tồn tại đã giảm
đi 7% của GSP Tổng kết lại lợi nhuận của các doanh nghiệp đã giảm từ 10,4% củaGSP trong năm 1981 xuống -1,0% vào năm 1988 Trong những năm 1980s, ở Nam
T, lỗ của các doanh nghiệp đợc tài trợ bằng một số nguồn Nguồn đầu tiên đến từviệc chuyển một cách tự nguyện từ ngời tạo lợi nhuận sang ngời bị lỗ, tình trạng này
đã tích luỹ nợ nần dây da giữa các doanh nghiệp và gây áp lực đối với ngân hàng đểtái tài trợ những khoản nợ đó Nguồn thứ hai đến từ những khoản tín dụng bao cấpcủa ngân hàng Tại Nam T, việc tạo tiền để tài trợ cho các khoản bao cấp đã lên tới 4
và 5% của GDP mỗi năm từ giữa những năm 1980s trở đi, và 11% trong năm 1989
Bên cạnh đó, tham nhũng cũng là một nguyên nhân chính gây lạm phát ởcác nớc Đông Âu Nhà nớc yếu và do đó tham nhũng mạnh tồn tại Những ngờilãnh đạo khu vực doanh nghiệp nhà nớc đã gây áp lực rất mạnh buộc nhà nớc phảicấp các khoản tín dụng bao cấp, trợ cấp và đặc quyền trong ngoại thơng thông quamột loạt giấy phép nhập khẩu và quota Tổng cộng các khoản bao cấp đó có thể rấtlớn và nó đã gây áp lực mạnh đối với lạm phát Ví dụ: trong năm 1993, ở Nga cáckhoản tín dụng bao cấp của nhà nớc có lãi suất 10 hoặc 25% năm, trong khi đólạm phát năm 1992 là 2500% và năm 1993 đã lên tới 8400% Do đó, những khoảntín dụng nh vậy thực sự là những món quà của nhà nớc cho những kẻ giàu và cóquan hệ tốt
Thâm hụt ngân sách ở Nga cũng phát sinh từ chi phí quá lớn cho quân đội,trong ngân sách năm 1989, các khoản chi tiêu cho quốc phòng đã tăng lên 77,3 tỷRubles hoặc 8,4% GNP (hoặc 12% của thu nhập quốc dân) Thêm vào đó nhữngnăm 1970s và 1980s những khoản chi tiêu rất lớn cho các chơng trình liên quan đếnphòng thủ nh viện trợ cho các nớc khác và chơng trình vũ trụ Trong năm 1991 thâmhụt ngân sách là 16% GNP
Gánh nặng bao cấp cho các DNNN đã tăng lên làm thâm hụt ngân sách trầmtrọng ở Trung Quốc Mặc dù có những bớc khởi đầu mạnh mẽ trong cải tổ doanhnghiệp nhà nớc Nhng các DNNN vẫn nằm trong sự điều khiển của chính phủ và phảimang gánh nặng xã hội nh thu nạp một lực lợng lao động d thừa và cung cấp các dịch
vụ liên quan đến hàng hoá công cộng nh hầu hết các nớc khác Do đó họ tiếp tục đợcquyền bao cấp từ chính phủ Trong thực tế một phần trợ giúp của chính phủ đợc sửdụng để bù đắp cho những hoạt động không hiệu quả của DNNN Các khoản bao cấpcông khai hoặc không công khai của chính phủ cho những DNNN bị lỗ đợc ớc tínhkhoảng 3,5% GDP
Trong khi các khoản chi tiêu tăng lên, về phần thu, thu nhập của chính phủcác nớc XHCN phụ thuộc nặng nề vào việc kiểm soát giá và sở hữu các doanhnghiệp nhà nớc để tạo và sau đó là thu những khoản thặng d lớn từ khu vực công
Trang 17nghiệp Khi tự do hoá bắt đầu, phần tài sản công nghiệp thuộc sở hữu của chính phủbắt đầu giảm xuống, thêm vào đó việc tự do hoá giá cả và cạnh tranh công nghiệp
từ các nguồn lực trong nớc và ngoài nớc đã làm giảm lợi nhuận biên của tất cảcác doanh nghiệp công nghiệp cho dù doanh nghiệp đó có thuộc sở hựu nhà nớchay không Kết quả là thu nhập của chính phủ (tính bằng % GDP) đã giảm xuốngnhanh chóng, ví dụ, thu nhập của chính phủ Trung Quốc đã giảm từ 34,8% GDPtrong năm 1978 xuống 18,5% GDP trong năm 1991, thâm hụt tài chính đã lên tới10% GDP trong năm 1991 Việc giảm thu ngân sách của chính phủ, đến lợt nólàm trầm trọng thâm hụt ngân sách trong hầu hết các nớc XHCN và gây áp lựclạm phát (bài học 1)
đã làm tăng rất lớn lợng tiền trong lu thông Ví dụ, ở Trung Quốc, khoản vay mới từngân hàng đã tăng từ 18 tỷ Yuan trong năm 1978 lên 378 tỷ Yuan trong năm 1991
Điều này đã gây áp lực lạm phát rất mạnh và đây cũng là một chỉ số khẳng địnhrằng các nhà chức trách trong lĩnh vực tiền tệ của Trung Quốc đã không thành côngtrong việc kiểm soát của các khoản vay ngân hàng
Trong các nớc Đông Âu, các ngân hàng Trung ơng phải tiếp tục trợ giúp cácdoanh nghiệp nhà nớc dới hình thức cho vay lãi suất thấp hoặc tái tài trợ các khoản
nợ nần dây da giữa các doanh nghiệp trong khi các ngân hàng không thể huy
động đợc vốn với hai lý do: Thứ nhất, lãi suất thực âm đã không khuyến khíchtiền gửi của dân chúng, thứ hai, tiền lơng thực tế giảm rất mạnh trong hầu hết cácnớc trong quá trình chuyển đổi, do đó tiền gửi tiết kiệm của hộ gia đình (tính trêndoanh số bán lẻ) đã giảm đi nhanh chóng, ví dụ, từ 60% trong năm 1991 xuốngkhoảng 25% vào giữa năm 1992 và thực sự biến mất vào cuối năm đó ở nga.Thêm vào đó hệ thống ngân hàng t nhân đang nổi lên và hoạt động kém hiệu quả
đã góp phần phá hỏng hệ thống ngân hàng và đẩy nhanh lạm phát ở Nga (bài học2)
1.3.1.3 Nợ nớc ngoài trầm trọng
Trang 18Nợ nần trầm trọng đợc kết hợp với việc chảy máu các nguồn lực lớn ra nớcngoài gây thêm áp lực thâm hụt ngân sách và sau đó là lạm phát ở Nam T và Ba Lan.
Ba Lan với hơn 45 tỷ USD nợ nớc ngoài và Nam T với 18 tỷ USD đã làm mất đi uytín của họ: các khoản nợ thơng mại của họ đợc trao đổi trên thị trờng thứ cấp với giáthấp so với giá trị trên bề mặt của nó Hungary với 20 tỷ USD nợ nớc ngoài sau mộtnăm 1989 đã tăng thêm 2 tỷ USD, bắt đầu giảm đi chút ít vào đầu năm 1990 và đợcbán lại vào cuối năm 1990 Nga với khoản nợ dòng 30 tỷ USD, Bulgaria trên 9 tỷUSD không còn khả năng dựa vào các nguồn vốn chảy vào để bù đắp sự suy giảm thunhập hoặc giảm bớt gánh nặng nợ (Cộng hoà dân chủ Đức có 10 tỷ USD nợ nớcngoài vào giữa năm 1990 tại thời điểm thống nhất nớc Đức)
Trung Quốc tổng số nợ nớc ngoài kể cả ngắn hạn và dài hạn tăng lên 83,6 tỷUSD vào cuối năm 1993, tơng đơng với 95% kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ hoặc22% GDP, gần với mức trung bình của Đông á và Thái Bình Dơng là 102,4% và30,7% Hầu hết nợ nớc ngoài của khu vực kinh tế t nhân Trung Quốc đợc chuyểnvào thông qua các trung gian tài chính đợc chỉ định hoạt động nh là “các cửa sổ”vay nớc ngoài Khi các doanh nghiệp nhà nớc đợc tự chủ hơn, các nhà chức trách sẽphải chịu trách nhiệm về việc tăng nhanh chóng những khoản nợ nớc ngoài của họ
Nợ nớc ngoài sẽ gây áp lực lạm phát trong tơng lai khi sử dụng kém hiệu quả nhữngkhoản vốn vay (bài học 3)
1.3.1.4 Thâm hụt cán cân thanh toán
Sự sụp đổ của khối thơng mại CMEA trong những năm 1990 - 1991 đã gây ramột phản ứng dây truyền và càng trầm trọng hơn khi ngày càng nhiều nớc tronghiệp hội không còn khả năng thanh toán Các nớc XHCN bắt đầu phải mua nguyênliệu thô theo giá thế giới cao hơn so với giá bao cấp của Liên Xô Những nớc đó đã
đơng đầu với việc giảm tỷ lệ thơng mại với bên ngoài và cũng mất kim ngạch xuấtkhẩu trong khu vực Các nớc Đông Âu bị thiệt hại nhiều nhất trong những cú sốcnày Ví dụ, tại Ukraine giá nhập khẩu dầu và gas trong năm 1993 tính trên danhnghĩa là tăng khoảng 1.080 lần và cao cấp 565 lần so với giá năm 1991 Đây là nhân
tố quan trọng tạo ra sự mất cân đối lớn trong cán cân thanh toán của Ukraine Thêmvào đó giảm cầu xuất khẩu trong liên bang Xô Viết cũ (FSU) cũng tạo ra một sự bấtlợi đáng kể cho kim ngạch xuất khẩu của Ukraine
Mặt khác, cán cân thơng mại tồi tệ đi trong suốt những năm đầu của quá trìnhchuyển đổi trong các nớc XHCN phần nào phản ánh thực tế rằng một khi nhập khẩukhông bị kiểm soát, không phải tất cả hàng nhập khẩu đợc đa vào dành cho việc sảnxuất hàng xuất khẩu hoặc cho các doanh nghiệp sản xuất Một phần tăng lên đợc dànhcho hành tiêu dùng Tại Hungary, hàng tiêu dùng chỉ chiếm 12,5% trong tổng trị giáhàng nhập khẩu năm 1989 nhng đã tăng lên 22,7% vào đầu năm 1991 ở Ba Lan, trong
Trang 198 tháng đầu năm 1991 hàng tiêu dùng trong hàng nhập khẩu đã tăng từ 18,8% lên31,6% Tính trên tỷ lệ tăng trởng, đối với Bulgaria, Czechoslovakia, Hungary, Poland,Romania, và USSR cũ, hàng tiêu dùng có xu hớng tăng nhanh nhất trong tổng số hàngnhập khẩu năm 1992, trên cả công nghệ và t liệu sản xuất.
Để đối phó với tình trạng chảy nguồn lực ra bên ngoài trong những năm1980s buộc chính phủ Nam T phải thực hiện các biện pháp rất mạnh để cân bằngcán cân thanh toán Chơng trình điều chỉnh bao gồm phá giá rất mạnh và trớc tiên làgiảm mạnh hàng nhập khẩu Thông qua các biện pháp đó để làm tăng thặng d cáncân vãng lai trong thực tế, hầu nh ngay sau đó hoạt động kinh tế suy thoái và lạmphát đã tăng lên nhanh chóng (bài học 4)
1.3.1.5 Nợ nần dây da giữa các doanh nghiệp
Nợ nần dây da giữa các doanh nghiệp phát sinh do 2 nguyên nhân Thứ nhất,trong hệ thống cũ các doanh nghiệp nhà nớc đã rất vất vả để đáp ứng các chỉ tiêu đợcgiao Khi họ đã làm nh vậy, gần nh họ đợc thanh toán tự động và nhà nớc đảm bảoviệc thanh toán cuối cùng của họ Trong quá trình chuyển đổi, rất nhiều doanh nghiệpnhà nớc đã ngừng thanh toán cho ngời cung cấp, hoặc vì họ thiếu tiền hoặc vì họ thấy
có lợi khi các biện pháp phạt không có hiệu lực và việc chậm trễ thanh toán sẽ làmgiảm giá trị thực tế của các khoản thanh toán trong một môi trờng lạm phát cao Thứhai, chính sách tiền tệ chặt đã đợc các nớc XHCN áp dụng trong các chơng trình ổn
định, đã khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ phi ngân hàng do
đó làm tăng nợ nần giữa các doanh nghiệp Các khoản nợ nần giữa các doanh nghiệpngày càng tăng gây áp lực cho chính phủ và ngân hàng trung ơng phải tái tài trợ mà
đến lợt nó gây áp lực lạm phát (bài học 5)
1.3.2 Các biện pháp kiềm chế lạm phát
Điểm khởi đầu cho việc xem xét điều trị lạm phát cao có liên quan tới việc xác
định đúng nguồn gốc căn bản của vấn đề đòi hỏi phải quan tâm đến các biện pháp ổn
định nền kinh tế Trớc hết là việc cải tổ các doanh nghiệp nhà nớc, sau đó là các chínhsách kinh tế vĩ mô sẽ đợc thảo luận trong phần này
1.3.2.1 Cải tổ doanh nghiệp
Nh đã trình bày, nguyên nhân chính gây ra lạm phát trong các nớc XHCN
đ-ợc hình thành từ tình trạng mất cân đối tài chính của khu vực công cộng dẫn đếnthâm hụt tài chính lớn Yêu cầu cấp thiết là phải cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà n-
ớc Công cuộc cải cách này thờng bao gồm ít nhất hai giai đoạn Thứ nhất, tái t bảncác doanh nghiệp cùng với các khoản lỗ đợc tích luỹ của họ có thể đợc thực hiệnbằng việc tập trung các khoản lỗ (nh Hungary đã làm) vào ngân hàng trung ơng vàsau đó phát hành trái phiếu cung cấp cho các doanh nghiệp để tạo t bản mới Phơng
Trang 20pháp này sẽ hạn chế ảnh hởng lạm phát bằng việc hạn chế các khoản thâm hụt tàichính nhng lại tạo nên chi phí dịch vụ của các trái phiếu mới Thứ hai, các doanhnghiệp hoạt động không có hiệu quả nói chung cần có một cuộc cải tổ sâu sắc nhằmmục đích t nhân hoá và nâng cao hiệu quả quản lý của các doanh nghiệp nhà nớcvẫn duy trì trong khu vực công cộng.
Trong thực tế, hầu hết các nớc Đông Âu, t nhân hoá nhanh chóng đã mang lạinhững bất lợi cho nền kinh tế của họ Trong nông nghiệp, t nhân hoá trong thời gianngắn đã dẫn tới một tình trạng kém hiệu quả của quy mô, trang trại quá nhỏ và không
có khả năng kỹ thuật Một số vấn đề đã xảy ra nh là chia cắt một cách quá đáng đất
đai và các tài sản nông nghiệp khác, thiếu kỹ năng quản lý trang trại và các dịch vụ hỗtrợ, đó là việc cung cấp đầu vào, các kênh phân phối của thị trờng, các khoản tín dụng
và quy mô trang trại cần thiết, tất cả đã góp phần làm giảm sản lợng nông nghiệpnhanh chóng
Trong công nghiệp, hầu hết các doanh nghiệp nhà nớc bị xoá bỏ trở thànhhậu doanh nghiệp nhà nớc hoặc các công ty cổ phần, t nhân hoá nhanh chóng nh vậy
là cách duy nhất để đa chúng trở thành các doanh nghiệp tham gia đấu giá không hạnchế của các doanh nghiệp nhà nớc và duy trì việc bao cấp (soft budget) đã đẩy giánguyên liệu thô lên cao, đến lợt nó gây ra lạm phát ở các nớc Đông Âu
Tại Trung Quốc các hình thức cải cách doanh nghiệp rất đa dạng từ cổ phầnhoá, bán doanh nghiệp, sát nhập, hợp nhất, cho thuê doanh nghiệp, khoán kinhdoanh, giải thể và phá sản các doanh nghiệp nhà nớc làm ăn thua lỗ kéo dài
Thâm hụt ngân sách là nguồn gốc cuối cùng của lạm phát Khi các nguồnvốn bên ngoài hoặc thị trờng vốn trong nớc không thể tài trợ đợc các khoản thâmhụt, khi đó các khoản thâm hụt sẽ phải đợc điều chỉnh Trớc hết, phải cải tổ hệ thốngthuế bao gồm cả việc chống tham nhũng và trốn thuế đồng thời áp dụng các loạithuế mới (thuế giá trị gia tăng - VAT) Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nớc Tây Âucho thấy việc áp dụng thuế VAT mất ít nhất ba năm mới có hiệu quả với điều kiệncác tài khoản của doanh nghiệp đợc tổ chức thích hợp Do thiếu một hệ thống thuếthay thế, áp lực cân đối ngân sách thờng dẫn đến cắt giảm chi tiêu, nhng trong dàihạn, nó phải trả một giá kinh tế rất cao, đó là giảm đầu t hạ tầng nh đờng xá và hệthống truyền thông
Cân đối ngân sách phải tập trung vào cả thu thuế và loại bỏ cao cấp cho cácdoanh nghiệp nhà nớc Chính phủ cũng nên thiết lập một hệ thống thuế có hiệu quảcao hơn Trong các nớc XHCN, cốt lõi của giai đoạn ổn định bớc đầu là cân đốingân sách, trớc tiên thông qua việc cắt giảm thờng xuyên chi tiêu của chính phủ chocác khoản bao cấp hàng hoá và dịch vụ Trong khi cắt giảm bao cấp có thể chiếm tới
8 - 10% GDP đã tiết kiệm trên mặt chi tiêu nhng đã làm tăng chi phí xã hội nh thấtnghiệp, bần cùng hoá, bất ổn, làm tồi tệ các dịch vụ giáo dục và y tế Tỷ lệ thất
Trang 21nghiệp của những ngời trẻ tuổi trong các nớc đã lên tới mức cao, bình quân 31% ở
Ba Lan, 26% ở Slovakia, 19% ở Hungary và 17% ở Bulgaria trong năm 1992 đã gâybất lợi chính trị cho quá trình chuyển đổi trong các nớc đó và gây áp lực mạnh đốivới chi tiêu của chính phủ trở thành một yếu tố lớn trong thâm hụt ngân sách dớihình thức trợ cấp thất nghiệp
Năm 1988, các nhà chức trách Trung Quốc đã quá hăng hái, vội vàng kiềmchế lạm phát với mục tiêu là giảm tỷ lệ lạm phát xuống dới 10% trong vòng 1 năm.Tiếp theo chơng trình này một loạt các dự án đầu t bị trì hoãn, tạm dừng hoặc là bịhuỷ bỏ Tổng cộng đầu t thực tế trong năm 1989 thấp hơn 30% so với năm 1988.Việc uỷ quyền phê duyệt dự án đã đợc tập trung lại đến một quy mô lớn hơn Cácmức trần cho đầu t đã đợc quy định cho mỗi tỉnh và thành phố lớn Điều này đã gây
ảnh hởng xấu đến nền kinh tế
Không giống nh các nớc Đông Âu, tại Trung Quốc việc giữ tiền (M2) đã tăngmạnh từ 28% GDP trong năm 1978 lên khoảng 97% GDP trong năm 1991 Nhữngcon số đó thể hiện thặng d tài chính của khu vực thành thị và các hộ gia đình nôngthôn hoặc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng lên nhanh chóng Do chính phủvẫn sở hữu và tiếp tục kiểm soát hệ thống ngân hàng, tình trạng tài chính suy giảm
sẽ đợc bù đắp bằng việc vay các khoản thặng d đó Đây là hình thức huy động tàichính quy mô lớn không gây lạm phát để bù đắp cho thâm hụt tài chính của chínhphủ và là điểm tựa mong manh cho việc ổn định kinh tế vĩ mô của Trung Quốc trongnhững năm 1980s Chính phủ Trung Quốc không thể dựa hoàn toàn vào việc đi vaynặng nề nh vậy vì khi tài sản lỏng của hộ gia đình trong thu nhập đạt tới mức caonhất, hoặc thậm chí trớc đó có thể xảy ra khủng hoảng tài chính nếu khu vực quốcdoanh vẫn tiếp tục đi vay Cho đến năm 1994, tình trạng này có thể đợc cải thiện khicải tổ hệ thống thuế
Trong quá trình cải tổ các nền kinh tế XHCN, thay đổi giá và thu nhập là quálớn để có thể đợc làm dịu đi bằng chính sách thu nhập Trớc hết các nớc đó đã trải
Trang 22qua việc thiếu hàng hoá kinh niên, việc tăng giá nhanh chóng sẽ là cần thiết để kíchthích cung Hơn nữa, do hậu quả của việc xoá bỏ tức thì sự kiểm soát của chính phủ,giá có thể vợt quá điểm cân bằng cuối cùng (overshoot) vì phản ứng chậm của cung.Tơng tự nh vậy, trong một hệ thống đã bị bóp méo vì bao cấp, việc xoá bỏ hệ thốngbao cấp sẽ cung cấp rất ít cơ hội làm giảm các loại giá khác để bù lại Do đó, phikiểm soát và xoá bỏ bao cấp đã làm các nhà cung cấp mong đợi nhận đợc lợi thế củacải tổ bằng cả việc tăng giá và tiền lơng trừ khi chính phủ chấp nhận tăng nhanh tỷ
lệ thất nghiệp Cuối cùng, áp lực của tổng cầu và tiền tệ đối với lạm phát là đáng kểtrong hầu hết các nền kinh tế đang cải tổ Trong môi trờng thay đổi cơ cấu cực kỳkhó khăn nh vậy, ảnh hởng chống lạm phát của chính sách thu nhập đã bị hạn chế
Trong các nền kinh tế Đông Âu, giá giảm xuống sau khi tự do hoá Sau lànsóng tăng giá ban đầu, tỷ lệ lạm phát hàng tháng bắt đầu giảm xuống Các chínhsách thu nhập nh là chỉ số tiền lơng tính bằng tiền trên sự tăng giá và tỷ giá hối đoái
cố định nh “mỏ neo danh nghĩa” trên mức giá đã dẫn đến việc giảm tỷ lệ lạm phátvới giả thiết rằng chính sách tiền tệ chặt đợc áp dụng Các chính sách thu nhập đó đãgóp phần trực tiếp làm giảm lạm phát giá bằng việc hạn chế tăng chi phí sản xuất.Trong quá trình này, tiền lơng thực tế giảm hơn 30 - 40% trong các nớc Đông Âu ởNga tiền lơng thực tế đã giảm gần 50% trong năm 1992 và đã tiếp tục giảm xuốngtrong năm 1993 phát sinh một vấn đề chính trị nghiêm trọng
Việc giảm tiền lơng thực tế đã dẫn đến giảm tổng cầu và do đó làm giảm sảnlợng Tổng cộng các khoản thanh toán tiền lơng thấp hơn trong các hợp đồng kinh tế
đã chỉ ra cả việc giảm tiền lơng trên một đơn vị lao động và tình trạng tàn phá nghềnghiệp Đi đôi với cắt giảm tiền lơng, tỷ giá cố định đã cung cấp một mỏ neo danhnghĩa cho chơng trình ổn định và do đó làm giảm lạm phát Sau lần phá giá ban đầu,
tỷ giá hối đoái đợc chốt lại nh cái mỏ neo danh nghĩa trên giá cả ở Ba Lan vàCzechoslovakia và đợc phép thả nổi ở Bulgaria và Romania Hungary đã thực hiệncải cách dần dần bằng việc phá giá 15% và tự do hoá một chút trong hệ thống giá
Tỷ giá thả nổi cho phép cân đối cung và cầu đồng nội tệ và ngoại tệ nhng gây
ra sự dao động mạnh trong tỷ giá danh nghĩa và nuôi dỡng kỳ vọng lạm phát Chúngcản trở đầu t nớc ngoài, vì các nhà đầu t tơng lai sợ sự bất ổn, trừ khi dự báo đợcchính sách tiền tệ và chính sách tài khoá Tỷ giá hối đoái cũng không còn ổn địnhtrong một quốc gia kém cạnh tranh
Sử dụng tỷ giá hối đoái nh là một mỏ neo danh nghĩa sẽ không tránh khỏiviệc dẫn đến đánh giá cao đồng nội tệ, khuyến khích nhập khẩu làm cho lợinhuận cận biên của xuất khẩu giảm xuống Do phá giá lần đầu tiên bị sói mònbởi lạm phát, tất cả các nớc Đông Âu trừ Romania đồng nội tệ đều mạnh lên từ
15 đến 30% so với đồng USD Đánh giá cao tỷ giá hối đoái sẽ tạo ra kỳ vọng
Trang 23phá giá và cũng dẫn đến kỳ vọng lạm phát, chính phủ phải duy trì lãi suất thựcrất cao để tránh tình trạng đầu cơ lãi suất thực cao đến l ợt nó sẽ tăng nợ trongnớc và làm tồi tệ ngân sách chính phủ Cuối cùng, việc điều chỉnh tỷ giá hối
đoái phải xảy ra, nhng thờng thì đánh giá cao tỷ giá hối đoái đã vợt quá xa dẫn
đến khủng hoảng và sụp đổ hoàn toàn tỷ giá là kết cục chấm dứt sự cố gắng yếu
ớt để duy trì tỷ giá cố định và lạm phát bùng phát trở lại Cách trung gian là phágiá dần dần tỷ giá hối đoái kèm theo việc thắt chặt chính sách tiền tệ và chínhsách tài khoá (crawling - peg regime) có thể thích hợp hơn với các n ớc XHCNtrong quá trình chuyển đổi (chính sách này đã áp dụng ở Ba lan trong tháng 11năm 1991)
Tại Trung Quốc từ năm 1980 đến giữa năm 1986 chính phủ đã giảm đáng kểviệc đánh giá cao đồng nội tệ Nghe theo lời khuyên của IMF, vào tháng 05 năm
1986, ngân hàng Bank of China đã tuyên bố phá giá 15,8% đồng Yuan so với tất cảcác đồng ngoại tệ Tỷ giá hối đoái thực tiếp tục bị phá giá cho đến tháng 12 năm 1989(khoảng 55% ở thị trờng trong nớc giữa hai kỳ điều chỉnh tỷ giá vào tháng 6/1986 vàtháng 12/1989) Bao cấp xuất khẩu, mặc dù vẫn còn tồn tại nhng đã giảm xuống 4%tổng trị giá xuất khẩu Do đó ngời xuất khẩu phải đơng đầu với những khó khăn tàichính lớn hơn với sự tồi tệ của lạm phát và tỷ giá đánh giá cao đòi hỏi phải điều chỉnh
tỷ giá danh nghĩa để duy trì sự ổn định của tỷ giá thực Việc điều chỉnh tỷ giá 21%vào tháng 12 năm 1989 có thể là quá muộn Đầu năm 1994, China tiến hành cải tổtiền tệ nhằm mục đích thiết lập một hệ thống kiểm soát tiền tệ Chính phủ đã chấpthuận một hệ thống tỷ giá thả nổi và phá giá khoảng 40% Nhờ cuộc cải cách tiền tệ
và phá giá năm 1994 mà Trung Quốc đã tránh đợc khủng hoảng tài chính tiền tệ trongnhững năm 1997 - 1998
1.3.2.3 Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ có một vai trò rất quan trọng trong chơng trình ổn định và
là một trong biện pháp chính để kiềm chế lạm phát Các công cụ của chính sách tiền
tệ bao gồm lãi suất, dự trữ bắt buộc và hoạt động thị trờng mở Tuy nhiên trongnhững năm đầu cải tổ, các thị trờng cha phát triển, hầu hết các nớc đã nhấn mạnhchính sách lãi suất, do đó trong phần này chúng ta sẽ trình bày về ảnh hởng củachính sách lãi suất đối với lạm phát
Từ sự phân tích ảnh hởng của chính sách lãi suất đối với nền kinh tế, Calvo
đã cho rằng lãi suất cao có thể làm giảm sự thành công của chơng trình ổn định vì
nó làm đầu t thiệt hại nghiêm trọng và gây phản ứng tiêu cực của cung do đó cầnphải thận trọng khi sử dụng chính sách lãi suất đó
Nếu lãi suất thực sự đợc duy trì cao hơn tỷ lệ lợi tức thực tế trên vốn của mộtdoanh nghiệp trong nhiều tháng và đặc biệt trong các nền kinh tế XHCN đang
Trang 24chuyển đổi nơi mà tỷ lệ lợi tức nói chung rất thấp hoặc thậm chí là âm, khi đó thua
lỗ của các doanh nghiệp sẽ tăng lên và xói mòn vốn trong quá trình kinh doanh sẽ
đẩy phần lớn các doanh nghiệp đi đến phá sản và khuyến khích nợ nần dây da giữacác doanh nghiệp
Calvo kết luận rằng tỷ lệ lãi suất nên đợc xác định một cách thận trọng saocho không mâu thuẫn với chơng trình ổn định Cần phải tránh tỷ lệ lãi suất quá caocũng bởi vì một số rất ít ngời đi vay tiềm năng sẽ chấp nhận lãi suất đó hơn là cácdoanh nghiệp không có khả năng hoặc không có ý định trả nợ Lãi suất danh nghĩacao còn là một dấu hiệu cho thấy một số mặt khác của gói chính sách kinh tế vĩ mô
đã sai lầm Từ quan điểm của trờng phái cơ cấu, Calvo và Coriselli (1992) đã chorằng thắt chặt tín dụng làm lạm phát trầm trọng bằng việc đẩy đờng cung dịchchuyển vào phía trong Các doanh nghiệp ở Nga đã tăng giá để phản ứng lãi suất cao
đối với các khoản vay vốn lu động, đây là một dạng của lạm phát chi phí đẩy ổn
định lạm phát dựa vào thắt chặt tiền tệ và lãi suất cao sẽ trở nên rất khó khăn
Cuối cùng, chúng ta quan tâm đến tình thế lỡng nan trong chính sách ổn định
đối với cải tổ doanh nghiệp Nếu lãi suất đợc thiết lập ở mức giá quá thấp, cần phảixem xét thận trọng để quyết định ai sẽ đợc nhận các khoản tín dụng nhằm mục đíchcắt giảm cung tín dụng đối với những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả không cókhả năng hoàn trả trong bất kỳ trờng hợip nào Tuy nhiên giải pháp thực cho vấn đềnày có thể là thực hiện cải tổ bền vững các doanh nghiệp trớc khi xem xét việc sửdụng lãi suất cao cho mục đích ổn định Điều này cũng có một ý nghĩa từ quan điểmmục tiêu t nhân hoá Nhng điều đó dờng nh không thể đạt đợc khi lãi suất cao vì cổtức thực tế và cổ tức tơng lai của các công ty mới đợc t nhân hoá sẽ không thể cạnhtranh với lãi suất quá cao trên tài sản an toàn
ở Nam T, sai lầm trong việc cung cấp các nguồn lực là rất dai dẳng khi lãisuất đã đợc tự do hoá Trong môi trờng tự do, d cầu đối với tín dụng từ những ngờikhông có khả năng trả nợ nhng vẫn hoạt động, ngời đi vay đã đẩy lãi suất lên tớimức cao hơn nhiều so với mức sinh lời trong những khoản đầu t hiệu quả nhất, do đó
đã lấn át những khoản đầu t sản lợng tiềm năng
ở Trung Quốc, chính sách lãi suất, cụ thể là lãi suất tiết kiệm vẫn rất quantrọng trong quá trình khuyến khích các hộ gia đình và các doanh nghiệp tự tạo nêncác tài sản tài chính của họ Tích luỹ từ khu vực ngoài quốc doanh là nguồn chínhtài trợ cho thâm hụt ngân sách của chính phủ Ngời ta cho rằng chính sách lãi suất
đã hoạt động tốt và đóng góp nhiều vào việc kiềm chế lạm phát
Chính sách lãi suất thờng đợc kết hợp với kiểm soát trực tiếp cung tiền tệ(thông qua việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao và hạn chế tín dụng) Thả lỏngchính sách tiền tệ cũng là một lý do giải thích siêu lạm phát ở Nga trong năm 1992
Trang 25và 1993 khi Ngân hàng Trung ơng mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp đểgiải quyết nợ nần dây da đã tích luỹ lâu ngày giữa các doanh nghiệp Để chống lạilạm phát, Chính phủ đã thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ một cách quá đáng lãisuất thực đã lên tới 8%/tháng trong tháng 4 đã góp phần làm giảm hơn 25% sản lợngtrong vòng 4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1994) so với cùng kỳ năm 1993.Vào cuối năm 1994 Nga đã thoát khỏi siêu lạm phát thông qua tỷ lệ tăng giá hàngtiêu dùng/tháng đã đạt tới 16% trong tháng 12 Nó đã cứu vãn cuộc khủng hoảngngoại hối trong tháng 10 và sự dao động trong chính sách lãi suất.
1.3.3 Thành tựu của chính sách chống lạm phát và nguy cơ tái lạm phát
Mục đích của chính sách ổn định là kiềm chế lạm phát, khôi phục cân đối tàichính và nâng cao cán cân thanh toán quốc tế Hầu hết các nớc đã áp dụng giỏ chínhsách tơng tự nh nhau nhng kết quả thực sự khác nhau Trung Quốc vẫn duy trì đợcmức giá tơng đối ổn định trong khi hầu hết các nơc Đông và Trung Âu (trừCzechoslovakia và Cộng hoà Czech) lạm phát vẫn tồn tại ở mức cao trung bình trên40%, điển hình là Belarus lạm phát 69% trong năm 2001 (Thời báo kinh tế số 13ngày 30/01/2002)
Tình trạng lạm phát tiếp tục tồn tại có thể đợc giải thích bằng các nguyênnhân cơ cấu Xét trên mặt cầu, việc neo giữ tiền lơng danh nghĩa thậm chí với mộtchỉ số nếu có thể tạo nên sự tự duy trì lạm phát, nếu tỷ lệ lạm phát lớn hơn nhiều sovới kỳ vọng khi cố định mục tiêu danh nghĩa, nó có thể dẫn đến (nh trờng hợp BaLan trong năm 1990) thu nhập thực tế giảm rất mạnh ngoài ý muốn
Các nhân tố trên mặt cung giải thích lạm phát tiếp tục tồn tại ngay cả trongcác nớc đợc xem là thành công nhất trong việc kiềm chế lạm phát Nhân tố đầu tiên
là tăng giá nguyên liệu, cụ thể là giá nguyên liệu do mất đi nguồn cung cấp giá rẻsau khi sụp đổ khối CMEA và USSR Thứ hai, hành vi độc quyền của các doanhnghiệp nhà nớc chắc chắn đã đẩy giá lên không giống nh kết quả của hành vi tối đahoá lợi nhụân kiểu thị trờng mà do những doanh nghiệp đó vẫn duy trì số lợng lao
động và điều chỉnh tiền lơng danh nghĩa gần với sự dao động của giá cả Thứ ba, lãisuất cao đã làm cho những ngời đi vay chính (các doanh nghiệp nhà nớc) tìm kiếmcác nguồn tài trợ phi ngân hàng dẫn đến tăng nợ nần giữa các doanh nghiệp Khi nợnần dây da giữa các doanh nghiệp tăng lên đến mức rất cao buộc chính phủ phảibơm tiền vào khu vực doanh nghiệp và lạm phát tăng tốc lần nữa nh đã xảy ra ở Nga.Cuối cùng, lãi suất rất đắt giá, nó đã chuyển vào giá cả bởi các doanh nghiệp độcquyền và do đó đã trở thành nhân tố của lạm phát chi phí đẩy
Sau nhiều năm chuyển đổi, nhìn lại hai nền kinh tế lớn - Nga và Trung Quốc.Với xuất phát điểm khác nhau và cách tiếp cận khác nhau, vẫn tồn tại những vấn đềrất nghiêm trọng Thâm hụt ngân sách, nợ nớc ngoài nặng nề và thiếu hụt trầm trọngnguồn ngoại tệ mạnh đã đẩy nớc Nga vào cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998
Trang 26Khoản nợ nớc ngoài trên 150 tỷ USD (tức là mỗi công dân nợ 1000 USD) là quá tải
đối với các nguồn tài chính của Nga Ngày 17/8/1998, lần đầu tiên Nga phải tuyên
bố không thanh toán đợc các khoản nợ ngắn hạn do chính phủ vay Tổng số nợ Ngaphải trả trong năm 1999 lên tới 23,5 tỷ USD lớn gấp 5 lần số nợ 4,5 tỷ USD mà Ngacha thanh toán nổi cho năm 1998 Bộ Tài chính Nga cho biết cứ 3 Rúp thu đợc chokho bạc thì Nhà nớc phải bỏ ra 1 Rúp để trả nợ Đồng Rúp đang suy yếu tiếp tục bịmất giá rất mạnh tới mức 20,4 Rúp/USD trong tháng 12/1998 so với 5,97 Rúp/USDlúc đầu năm 1998 giảm hơn 3,5 lần Trong khi đó nớc Nga đang ngày càng khanhiếm ngoại tệ và mỗi năm nớc Nga bị thất thoát trên 20 đến 25 tỷ USD qua tìnhtrạng chảy vốn nớc ngoài Trong khoảng thời gian từ 01/01 đến 01/12/1998, dự trữngoại tệ nớc này đã giảm 37% và dự trữ vàng giảm 12% Tốc độ tăng trởng kinh tếcủa nớc này giảm 5-6% trong năm 1998 và tiếp tục giảm từ 3-9% trong năm 1999
Tỷ lệ lạm phát của Nga lên tới trên 84% trong năm 1998 (nguồn NH nhà nớc) Điều
đó không có gì đáng ngạc nhiên khi vớng mắc cơ bản của nền kinh tế Nga vẫn cònnguyên: Toàn bộ hệ thống ngân hàng yếu kém vẫn cha đợc cải tổ và theo tính toán
số lợng ngân hàng có thể tồn tại đợc sẽ không vợt quá con số 50% của tổng số 1500ngân hàng ở nớc này Tiền trong các ngân hàng Nga đã cạn, nợ nớc ngoài của cácngân hàng thơng mại Nga lên đến 16 tỷ USD có nguy cơ phá hỏng bảng cân đối tàisản của các ngân hàng này và Chính phủ Nga không vay nổ tiền nớc ngoài kể từ khicuộc khủng hoảng bùng nổ Trong khi căn bệnh kinh niên của ngành thuế cha đợcgiải quyết thì giải pháp duy nhất là in thêm tiền và chấp nhận lạm phát gia tăng Để
đa nớc Nga thoát khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ, củng cố niềm tin vào vai trò to lớncủa Liên bang Nga trên trờng quốc tế, tháng 7 năm 2000, Chính phủ Nga đã thôngqua chơng trình phát triển kinh tế - xã hội dài hạn (2000 - 2010) Cuộc cải cách bắt
đầu từ lĩnh vực thuế, áp dụng chính sách tài chính khắc khổ, gạt bỏ sự lệ thuộc vàonớc ngoài, cải thiện bầu không khí đầu t, duy trì cân bằng cán cân kinh tế vĩ mô vàkiềm chế lạm phát Tổng thống Nga còn yêu cầu kiểm soát chặt chẽ công tác xuấtkhẩu, ngăn chặn tiền “rò rỉ” ra nớc ngoài, tiến hành cuộc đấu tranh chống hoạt động
“kinh tế ngầm” và tham nhũng Kết quả là lạm phát đã giảm xuống mức 20,2%trong năm 2000, 18,6% trong năm 2001 và 14% trong năm 2002 Trong năm 2002Nga đã thanh toán 14,5 tỷ USD nợ nớc ngoài, đa tổng số nợ nớc ngoài của Nga chỉcòn 120 tỷ USD vào cuối năm 2002 tơng đơng với 40% GDP (theo RIA
“NOVOSTI”)
Trung Quốc, một nớc đợc ca ngợi là thành công nhất trong chuyển đổi kinh
tế với tỷ lệ tăng trởng GDP bình quân 7-8% năm, lạm phát dới 10% vẫn là một nềnkinh tế yếu kém và phải chịu những tác động của công cuộc cải tổ có tính chất cơcấu Thể chế kinh tế thị trờng - XHCN cha hoàn thiện Cơ chế hoạt động của các xínghiệp quốc hữu cỡ lớn không hợp lý, trách nhiệm xã hội nặng nề, khả năng đổi mới
Trang 27còn yếu kém Cải cách ở mức sâu nền kinh tế thuộc sở hữu nhà nớc vẫn là khâuquan trọng nhất trong cải cách tổng thể nền kinh tế Sự can dự hành chính trong hoạt
động đầu t vốn vẫn còn nhiều Lĩnh vực đầu t vốn đối với các sản phẩm công cộngvẫn còn thiếu cơ chế ràng buộc rủi ro và cơ chế cạnh tranh, dẫn đến hiện tợng thấtthoát vốn và hiệu quả đầu t thấp Hệ thống ngân hàng yếu kém, hiệu quả phân bổnguồn vốn thấp, làm ăn thua lỗ, nợ chồng chất và khó có thể trụ vững trong côngcuộc cạnh tranh quốc tế khi Trung Quốc gia nhập WTO Theo thống đốc Ngân hàngtrung ơng Trung Quốc thì nợ cũ khó đòi của các ngân hàng thơng mại quốc doanhchiếm từ 8 đến 9% tổng số tín dụng, trong khi đó các chuyên gia phơng Tây lại chorằng nợ khó đòi của các ngân hàng này lên tới 200 tỷ USD chiếm 25% tổng d nợ tíndụng (39%) Năm 1999, Chính phủ Trung Quốc đã thành lập 4 công ty quản lý tàisản (AMC) nhằm thực hiện chức năng giảm nợ dài hạn thông qua việc thay thế cáckhoản nợ đóng băng của các ngân hàng quốc doanh bằng các trái phiếu có lãi suất
đợc các AMC ấn định trên bảng cân đối tài sản của ngân hàng Chính phủ cũng camkết sẽ hỗ trợ các khoản thua lỗ của các AMC do việc bán tài sản trên Theo cam kếtban đầu, chính phủ đã phải hỗ trợ thêm 153 tỷ USD nhằm tái hoá vốn hệ thống ngânhàng Còn trong năm 2000, gánh nặng của việc tái hoá vốn hệ thống ngân hàng vàokhoảng 189 tỷ USD chiếm 17% GDP Chơng trình kích thích nhu cầu đầu t và tiêudùng trong nớc của Trung Quốc trong năm 1998 - 1999 cũng không đạt đợc kết quả
nh mong muốn Các công trình xây dựng hạ tầng cơ sở có chiều hớng thu hồi vốnchậm Cải cách doanh nghiệp nhà nớc và bộ máy chính phủ vẫn cha hoàn thiện, nên
tỷ lệ thất nghiệp vẫn gia tăng Nhà nớc và bộ máy chính phủ vẫn cha hoàn thiện, nên
tỷ lệ thất nghiệp vẫn gia tăng Xuất khẩu và đầu t nớc ngoài của Trung Quốc vẫn tiếptục giảm sút, áp lực thâm hụt ngân sách vẫn nặng nề, Trung Quốc khó có thể duy trì
tỷ lệ đầu t quá cao vào hạ tầng cơ sở vì sẽ dẫn đến thâm hụt nghiêm trọng gnân sáchnhà nớc Rủi ro của việc huy động vốn quan thị trờng chứng khoán vẫn gia tăng Đểthúc đẩy đầu t nớc ngoài và xuất khẩu nhằm duy trì đợc tốc độ tăng trởng, TrungQuốc đã tăng trởng quá nóng, các ngân hàng đầu t quá nhiều khó có khả năng thuhồi, Thủ tớng Trung Quốc đã cảnh báo khủng hoảng kinh tế có thể bùng nổ bất cứlúc nào Hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện chiến lợc hạ cánh hẹ “short landing”
để hạ nhiệt nền kinh tế đang tăng trởng nóng, nếu Trung Quốc không thành côngtrong chiến lợc này thì nền kinh tế thế giới sẽ đi đến đâu?
Từ thực tiễn của nớc Nga và Trung Quốc, câu hỏi đặt ra là cách tiếp cận nào
đối với chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trờng sẽ làtốt hơn? Sẽ rất khó tìm ra câu trả lời chính xác cho vấn đề này, để góp phần hạn chếnhững tác động tiêu cực đối với lạm phát trong quá trình chuyển đổi, từ thực tế củacác nớc chuyển đổi, chúng ta rút ra các bài học để áp dụng cho Lào
Trang 281.3.4 Các bài học cho việc kiềm chế lạm phát trong quá trình chuyển đổi kinh tế
Chính sách chính thống trong những năm đầu của quá trình chuyển đổi đicùng với thể chế XHCN đã dẫn đến suy giảm lớn về sản lợng và thu nhập kèm theolạm phát cao trong hầu hết các nớc XHCN Từ kinh nghiệm của các nớc chuyển đổichúng ta rút ra một số bài học cho Lào
Vấn đề thứ nhất là lựa chọn chiến lợc kinh tế Tự do hoá và quốc tế hoá phải
đợc thực hiện với sự can thiệp thông minh và mạnh mẽ của nhà nớc trong các thị ờng sẽ là rất cần thiết trong quá trình chuyển đổi
tr-Thứ hai, nên thận trọng khi lựa chọn và thực hiện các chính sách kiềm chế lạm
phát vì hầu hết các biện pháp nh thắt chặt tài chính, tiền tệ, chính sách thu nhập khôngchỉ có thể dừng lạm phát quán tính với cái giá quá cao không thể chấp nhận đợc làviệc giảm tiền lơng hoặc tăng thất nghiệp Nếu giá tăng ở tỷ lệ 2 hoặc 3 con số/nămcần đợc giảm đi trong tơng lai, việc thắt chặt các chính sách tài chính, tiền tệ, thunhập phải đợc bổ sung bằng các biện pháp kiểm soát giá
Thứ ba, không nên phá giá quá mạnh vì việc phá giá quá mạnh (nh ở Ba Lan
hoặc Czechoslovakia) đã đa đến giảm tiền lơng thực tế xuống mức quá thấp và lạmphát nhập khẩu nhiên liệu đã xảy ra đòi hỏi các chính sách thắt chặt Các chính sáchthắt chặt nh lãi suất cao đã không đánh vào các doanh nghiệp nhà nớc và hầu nh làmviệc tăng nợ nần dây da giữa các doanh nghiệp, nó đã đánh vào khu vực kinh tế tnhân và các doanh nghiệp nhỏ cũng nh khu vực nông nghiệp và gây hại cho sự pháttriển của các khu vực này
Thứ t, liên quan đến việc xác định sản lợng, cắt giảm tiền lơng thực tế đã dẫn
đến giảm tổng cầu, gây ảnh hởng đến mức sản xuất trong những năm đầu chuyển
đổi Đầu t trong giai đoạn này ở mức rất thấp do thiếu chính sách khuyến khích đầu
t, bất ổn trong môi trờng kinh doanh và tỷ lệ tiết kiệm thấp do sự thâm nhập quá lớncủa hàng nhập khẩu vào giỏ hàng hoá tiêu dùng của các hộ gia đình (đây là kết quảcủa tự do hoá ngoại thơng) Bài học rút ra từ tình trạng này là Lào không nên thựchiện cắt giảm tiền lơng quá mức và đồng thời phá giá quá mạnh, nên áp dụng chínhsách khuyến khích đầu t
Thứ năm, tiếp theo các chính sách là các vấn đề gây tranh cãi khác, các nớc
nên ổn định lạm phát hoặc cán cân thanh toán, sau đó điều chỉnh theo hớng tăng sảnlợng cân bằng Trong thực tế, hai lĩnh vực pha trộn lẫn nhau: giảm lạm phát có thể khôngthực hiện đợc trừ khi và cho đến khi sản lợng bắt đầu tăng lên, trong khi phản ứng cungrất yếu trong môi trờng bất ổn về tơng lai do mất cân đối kinh tế vĩ mô
Thứ sáu, tự do hoá quá mức cũng phải đợc xem xét thận trọng, vì thị trờng
trong nớc đã đợc mở quá dễ dàng và quá mạnh mẽ, cần phải thực hiện chính sách bảo
hộ Trong một trật tự tối u của tự do hoá kinh tế, thiết lập một hệ thống tài chính nhị
Trang 29nguyên và kiểm soát hai giá áp dụng khác nhau cho khu vực truyền thống và khu vực
đã đợc tự do hoá trong những năm đầu chuyển đổi là thích hợp Trung Quốc là một ví
dụ điển hình về thành công của cách tiếp cận dần dần đối với tự do hoá nền kinh tế.Mô hình kiểm soát nhị nguyên đó đã đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô khi thực hiện tự
do hoá ở Trung Quốc
Thứ bảy, kinh nghiệm của các nớc đang phát triển đã chỉ ra rằng rất ít nền
kinh tế thành công trong chuyển đổi mà không cần tiếp cận nhiều với nguồn ngoạihối (từ sự giúp đỡ của bên ngoài, từ xuất khẩu hoặc đi vay…) Tuy nhiên, các nguồnvốn chảy vào đến lợt nó sẽ làm tăng cầu hoặc ảnh hởng tới thu nhập gây áp lực lạmphát Ngoại tệ không phải là điều kiện đủ cho tăng trởng Quan trọng hơn là làm thếnào để chuyển các nguồn ngoại tệ đó vào một motor cho tăng trởng sản lợng Để đạt
đợc mục tiêu này, chính phủ phải cải tổ doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) và tạo điềukiện cho khu vực t nhân phát triển, khuyến khích họ tiết kiệm, đầu t và hấp thụ côngnghệ mới
Cuối cùng, một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công của quá trình chuyển
đổi là phải có một chính phủ mạnh có khả năng hoạch định chính sách tốt, điềuhành cải tổ một cách hiệu quả, và để đạt đợc sự ổn định tiền tệ, ngân hàng Trung -
ơng phải đợc độc lập trong việc điều hành chính sách tiền tệ và ngăn chặn việc tiền
tệ hoá thâm hụt ngân sách nhà nớc
Tóm tắt chơng 1
Qua việc phân tích lạm phát ở các nớc XHCN trong qúa trình chuyển đổikinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trờng, chúng ta rút ra một quy luậtchung cho các nền kinh tế chuyển đổi đó là không có một nớc nào tiến hành chuyển
đổi sang kinh tế thị trờng mà không có lạm phát Điều này có thể hiểu đợc vì chuyển
đổi sang kinh tế thị trờng ít nhất đã bộc lộ lạm phát ngầm hoặc “money overhang”
đã đợc che dấu bởi cơ chế cũ Quan trọng hơn, trong quá trình chuyển đổi cơ chế cũ
đã bị phá vỡ nhng không đợc loại bỏ hoàn toàn, và cơ chế mới đã đợc thiết lập nhngcha hoạt động có hiệu quả Thờng thì những nớc nào càng ít gắn chặt với học thuyết
kế hoạch hoá tập trung chính thống càng có khả năng chống đỡ tốt hơn cú sốc cải tổ
và ít thiệt hại hơn trong hành trình tới nền kinh tế thị trờng Chỉ một số rất ít nớc đãthích hợp hoàn toàn và đã giành đợc kết quả mong muốn từ cải tổ Hungari là một ví
dụ điển hình, họ đã bắt đầu cải tổ dần dần từ sau khủng hoảng chính trị những năm
1960, cho đến năm 1990, khoảng 80% hàng tiêu dùng đã đợc tự do hoá giá cả vàcho đến năm 1991 là 90% Không giống nh các nớc khác, Hungary không có
“money overhang” Trung Quốc là một ví dụ khác, thành công của cải tổ kinh tế ởTrung Quốc nằm trong việc lựa trọn gói chính sách thích hợp và chấp nhận cách tiếpcận dần dần đối với cải tổ Vấn đề là liệu quy luật chung trong các nớc cải tổ có
Trang 30đúng với Lào không? và Lào sẽ làm gì để tránh hoặc ít nhất là kiềm chế đợc lạmphát Chơng II và chơng III của bản luận án sẽ tập trung nghiên cứu lạm phát trongquá trình phát triển kinh tế để tìm cách giải quyết vấn đề này.
Trang 31Chơng 2 thực trạng lạm phát ở nớc cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và một số bài học
ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh tế
Trong chơng 1 chúng ta đã nghiên cứu các vấn đề lý thuyết và thực tiễn củalạm phát và chuyển đổi kinh tế Việc nghiên cứu nh vậy đã cung cấp cho chúng tanhiều phơng pháp để phân tích lạm phát và chuyển đổi kinh tế ở Lào Chơng II sẽtập trung nghiên cứu các vấn đề sau: (1) các áp lực buộc Chính phủ Lào phải chấpnhận và tiến hành chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thịtrờng; (2) chuyển đổi kinh tế ở Lào lại đi đôi với lạm phát cao (3) nguyên nhân cănbản và cơ chế truyền dẫn của lạm phát ở Lào và lạm phát trong quá trình phát triểnkinh tế ở Việt Nam
2.1 Đặc trng kinh tế chính trị của Lào trớc năm 1990
Trớc năm 1990, nền kinh tế Lào mang đặc trng của cơ chế kế hoạch hoá tậptrung Các phơng tiện sản xuất thuộc sở hữu của nhà nớc và tập thể Nhà nớc quyết
định phơng hớng hoạt động của tất cả các ngành kinh tế quan trọng thông qua hệthống kế hoạch hoá sản xuất và phân phối sản phẩm dựa trên những quy định chặtchẽ về giá cả
Khu vực kinh tế nhà nớc và khu vực kinh tế tập thể thống trị nền kinh tế và
đợc bao cấp thông qua việc cấp vốn đầu t và vốn tín dụng u đãi Khu vực kinh tế tnhân không đợc khuyến khích phát triển Cơ chế thị trờng, nếu có, chỉ hoạt độngtrong lĩnh vực kinh tế hộ gia đình và kinh doanh nhỏ Trong lĩnh vực th ơng mại,nhà nớc độc quyền ngoại thơng bằng việc kiểm soát các công ty xuất nhập khẩu vàcấp giấy phép xuất nhập khẩu Bất kỳ khoản lợi nhuận hoặc khoản lỗ nào đều đ ợc
bù đắp bởi ngân sách nhà nớc
Bất lợi lớn nhất của hệ thống kế hoạch hoá tập trung là đã không tạo ra bất kỳmột động lực nào cho tập thể và cho cá nhân trong các hoạt động kinh tế của họ vìnhiều lý do Trớc hết, hệ thống kế hoạch hoá đã ít quan tâm đến mong muốn cá nhân
mà chỉ quan tâm đến mong muốn của một bộ phận những ngời lãnh đạo Hơn nữa,trách nhiệm của cá nhân và của những ngời ra quyết định không liên quan chặt chẽ
đến hậu quả của các quyết định của họ Thứ hai, độc quyền trong khu vực kinh tếnhà nớc đi đôi với bao cấp và hạn chế khu vực kinh tế t nhân, đã thủ tiêu cạnh tranh,không tạo ra bất kỳ một động lực nào cho cá nhân và cho kinh doanh Thứ ba, phânphối mang nặng đặc trng tập trung hoá đã không khuyến khích các hoạt động cánhân và hoạt động kinh doanh
Trong hệ thống kế hoạch hoá tập trung, vai trò của tiền tệ là thụ động Tiềnchỉ đợc sử dụng làm đơn vị hạch toán Giá cả, tiền lơng và tỷ giá hối đoái đã không
Trang 32phản ánh mối quan hệ cung cầu trên thị trờng Hơn nữa, hệ thống kế hoạch hoá đãgây cản trở rất lớn đối với sự năng động của nền kinh tế và làm cho nó phản ứng rấtyếu ớt đối với những thay đổi nhanh chóng trong cung và cầu.
Dựa trên một mô hình kinh tế nh vậy, trong một thời gian dài Lào đã theo
đuổi chiến lợc phát triển thận trọng dựa vào việc đầu t trong lĩnh vực công nghiệpnặng Kết quả là cơ cấu nền kinh tế đã mất cân đối nghiêm trọng, nông nghiệp vàcông nghiệp nhẹ đã bị xem nhẹ, nhu cầu tối thiểu của con ngời đã không đợc thoảmãn Trong giai đoạn này, nền kinh tế Lào đã đóng cửa và phụ thuộc nặng nề vàoviện trợ nớc ngoài Bảo hộ cao đợc thực hiện theo chiến lợc phát triển “hớng nội”, và
đã không khuyến khích xuất khẩu Nhiều thập kỷ trôi qua hầu hết đầu t công cộng ởLào đợc tài trợ thông qua viện trợ của Liên Xô cũ Tỷ lệ tiết kiệm rất thấp và tiếtkiệm trong khu vực kinh tế công cộng là âm Thâm hụt ngân sách chính phủ ngàycàng tăng
2.2 Thực trạng lạm phát ở CHDCND Lào từ năm 1986 đến nay
2.2.1 Diễn biến của lạm phát
Sau khi giải phóng đất nớc năm 1975, Đảng NDCM Lào đã quyết định đitheo con đờng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế Lào đợc tổ chức theo mô hình kinh tế
kế hoạch hóa tập trung kiểu LB Nga Tất cả các hoạt động kinh tế từ đầu t, sản xuất
đến thơng mại đều do các doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) và các hợp tác xã thựchiện Còn giá cả do Nhà nớc quy định
Qua một thời gian Chính phủ Lào nhận ra rằng mô hình kinh tế này đã cảntrở sự phát triển của sản xuất và thơng mại nói riêng cũng nh tăng trởng kinh tếnói chung Tuy nhiên phải đến năm 1986 Chính phủ Lào mới tuyên bố áp dụng
“cơ chế kinh tế thị trờng mới”(NEM) Nội dung chính của những cải cách kinh tếlúc này là tạo điều kiện để khu vực t nhân hoạt động Giá cả do thị trờng quyết
định, chứ không phải do Nhà nớc quy định nh trớc Nông dân đợc quyền sở hữu
về đất đai và bán nông sản trên thị trờng DNNN đợc quyền tự do quyết định giácả hơn trớc và không đợc bao cấp nữa Chính phủ đề ra tỷ giá hối đoái gần vớigiá thị trờng, bãi bỏ những cản trở thơng mại, áp dụng thuế nhập khẩu, và chophép khu vực t nhân đợc nhập khẩu trực tiếp và đợc nhận tín dụng Những cảicách này đã dẫn đến kinh tế phát triển Tuy nhiên, nó cũng dẫn đến lạm phát vàgiá cả gia tăng
Tỷ lệ lạm phát trung bình giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1989 vào khoảng11.5%, trong đó riêng năm 1989 lạm phát đã tăng rất mạnh và lên đến 52% Nguyênnhân chính, ngoài việc Chính phủ Lào thực hiện tự do hóa giá cả, còn do lợng cungtiền đã tăng mạnh trong giai đoạn từ giữa thập kỷ 1980 để chi trả lơng Trong giai
Trang 33đoạn 1984-1987 lợng cung tiền M2, theo Ngân hàng Thế giới, đã tăng trong khoảng
từ 35%/năm đến 75%/năm Trong giai đoạn tiếp theo sự bùng nổ tín dụng khiến cungtiền M2 tăng mạnh hơn với tốc độ năm 1989 là 90% Bên cạnh đó việc cấm xuất khẩu
gỗ, việc tạm dừng xuất khẩu điện cho Thái Lan cũng khiến đồng Kíp bị mất giá vàphải định giá lại Điều này đã gây ra những ảnh hởng tiêu cực (nh khuyến khích ngờidân giữ ngoại tệ) và làm tăng tốc độ lạm phát trong giai đoạn này
Năm 1989, Chính phủ Lào đã cam kết với Ngân hàng Thế giới (WB), Ngânhàng Phát triển châu á (ADB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về cải cách bổ sung.Chính phủ đã đồng ý sẽ cải cách về ngân sách nhà nớc (NSNN) và chính sách tiền tệ,khuyến khích kinh doanh t nhân và đầu t nớc ngoài, đầu t cá nhân hoặc là liên doanh
và làm cho hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ hơn Ngoài ra Chính phủ Lào còn
đồng ý ổn định tỷ giá hối đoái, giảm thuế nhập khẩu và xoá bỏ các quy định về thơngmại không cần thiết Trong năm 1990 chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng lãisuất đã hạn chế tín dụng cho các DNNN Kết quả là tốc độ tăng M2 đã ở mức 23%trong năm 1990 Giá lơng thực giảm do đợc mùa trong năm 1989 và năm tiếp theo
1990 cũng góp phần làm giảm lạm phát xuống khoảng 20% Trong những năm sau đólạm phát tiếp tục giảm và đến năm 1994 chỉ còn khoảng 9%
Mặc dù vậy, cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu á cùng với những bất cập trong quản lý kinh tế của Chính phủ đã làm cho đồng tiền kíp mất giá (87% từ tháng
6 năm 1997 đến tháng 6 năm 1999) và kết quả là tỷ lệ lạm phát lại gia tăng lên mức hơn 100% năm 1999 Trong những năm trớc 2001 chính sách kinh tế vĩ mô bất hợp
lý của Chính phủ Lào đã dẫn đến thâm hụt ngân sách rất lớn (khoảng 25% ) và NHNN đã cung cấp tiền để bù đắp một phần các khoản thâm hụt này
Tuy nhiên, chính sách tiền tệ thắt chặt đã làm ổn định kinh tế vĩ mô trongnăm 2000 và giảm mức lạm phát xuống dới 1% hàng tháng Tốc độ tăng M2 đãgiảm từ mức 78,3% năm 1999 xuống còn 45,8% năm 2000 và 20% năm 2001 Lạmphát trong năm 2001 giảm xuống chỉ còn 7,8%, thấp hơn mức mục tiêu Chính phủ
đặt ra là 10% Đồng kíp trong năm 2001 chỉ còn mất giá 13,7% so với đồng USD,còn đến năm 2005 mức mất giá chỉ còn 3% Nếu so sánh với mức lạm phát cao trongcác năm 1998 và 1999 có thể thấy Chính phủ Lào đã thành công trong việc chống lạmphát Trong những năm gần đây lạm phát ở CHDCND Lào vào khoảng 6-8%
Trang 34ngời nghèo, và ngời có thu nhập biến động toàn là những ngời giàu (2) Lạm phát làm
ảnh hởng xấu đến việc cạnh tranh quốc tế Giá xuất khẩu đắt lên đối với nớc ngoài
Điều đó có thể làm cho nhu cầu về hàng xuất khẩu giảm xuống Do đó dẫn đến sựgiảm cầu về tiền nội tệ và làm giảm tiền mất giá Sự giàm giá này có thể dẫn đến việcxuất khẩu khôi phục lại, nhng lại làm cho việc nhập khẩu càng đắt lên, do đó làm nẩysinh ra làm phát Bởi vì làm phát đã làm ảnh hởng xấu đến s cạnh tranh quốc tế chonên hầu hết các chính phủ làm khống chế lạm phát là vấn đề then chốt của chính sáchkinh tế của họ
Còn về tiêu chuẩn đời sống là đợc thừa nhận một cách rộng răi là lạm phátthúc đẩy giá cả lên trớc khi tăng lơng
Dân phần lớn không a lạm phát bởi vì họ cảm thấy là nó rất dễ làm cho chínhphủ, các chủ, các viện tài chính, và các tổ chức khác bị sai lầm
Đã có chứng cứ khẳng định rằng là dân bị lầm tởng, ít nhất trong ban đầu, về
l-ơng của họ Các nhà kinh tế Peter Diamong, Eldar Shafir, và Amos Tversky đã tranhcãi trong bài viết gần đây, “Về Money Illusion” rằng, con ngời hầu hết dựa vào sự hàilòng của họ về thu nhập giả, hơn là thu nhập thực sự Cũng nh nhà kính tế Shiller cũngphát hiện rằng hơn một nửa của nhng ngời đợc phỏng vấn đồng ý rằng, “ tôi nghĩ rằngnếu mà tôi đợc trả lơng tăng lên, tôi sẽ vừa lòng hơn trong công việc của tôi, mặc dùgiá cả đã tăng lên nhiều mấy đi chăng nữa.”
Lạm phát có thể làm giảm giá trị của sự tiết kiệm
Lạm phát còn có thể làm giảm giá trị của sự tiết kiệm nhất là khi mà lãi suất
bị âm Có nghĩa là lãi suất đã nhận đợc không bù đắp đợc số với mức độ giá cả tănglên Nh vậy có thể nói là lạm phát là có hại cho những ngời tiết kiệm hoặc là ngờicho vay, nhng ngợc lại là có lợi cho ngời đi vay
Ngời tiêu dùng và những ngời lao đông lĩnh lơng cố định hàng tháng, nhữngkinh doanh mà có thu nhập cố định sẽ bị thiệt
Lạm phát thờng dẫn đến lãi suất danh nghĩa cao hơn và sẽ có ảnh hởng đếngiảm xuống của GDP
Lạm phát làm ảnh hởng đến đầu t phát triển.
Sự đầu t, trong kinh tế có nghĩa là gây vốn hàng háo mới Nhng đầu t có thể
có đợc nhờ có sự tiết kiệm Lạm phát làm khuyến khích sự tiêu dùng và làm cản trở
sự tiết kiệm, nếu không sẽ có thể có vốn để đầu t tăng lên Do có sự đầu t thấp, nêndẫn đến tỷ lệ phát triển chậm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Do đó dẫn đếncông ăn việc làm giảm và gây thất nghiệp tăng lên Lạm phát có thể làm cho thị tr -ờng không thể sử dụng tốt nguồn lực trong nớc
Lạm phát gây ảnh hởng đến việc lập kế hoạch của kinh doanh
Lạm phát gây ảnh hởng đến việc lập kế hoạch của kinh doanh tơng lai bất ổn
định gây khó khăn cho việc lập kế hoạch và điều này có thể có ảnh hởng dấu đến
Trang 35việc lập dự án đầu t vốn
Việc lập ngân sách cũng có vấn đề bởi khi công ty không lờng trớc đợc vềkhoản chi phí của mình Nếu lạm phát cao và biến động, các công ty sẽ đòi hỏi caohơn về tỷ lệ lãi suất trong các dự án đó trớc khi họ sẽ đầu t vốn vào những dự án đó
Những tỷ lệ nặng nề đó có thể làm cho những dự án đó bị huỷ bỏ hoặc bịhoãn lại cho đến khi nào tình hình kinh tế đợc củng cố lên Và khi đầu t về vốn bịgiảm xuống thì rõ ràng sẽ làm hại cho sự phát triển kinh tế và năng lực sản xuấttrong thời gian dài
Lạm phát cao làm cho nguy cơ dẫn đến lạm phát thêm, sau đó dẫn đến đòihỏi phải tăng lơng Nó cần một thời gian để có thể khống chế đợc sự hốt hoảng vềlạm phát này
Lạm phát cao và lạm phát bất ổn có thể làm hại cho cả kinh doanh t nhân vàngời tiêu dùng và cả kinh tế toàn quốc chung
2.2.2 Những tác động tích cực của công cuộc chống lạm phát tại Cộng hòa dân
chủ nhân dân Lào
Việc ổn định đợc giá cả đã khiến nền kinh tế Lào phát triển mạnh hơn tronggiai đoạn 2001-2005 Tốc độ tăng trởng GDP bình quân 5 năm 2001 - 2005 đạtkhoảng 6,2%/năm, cao hơn mức trung bình của 5 năm 1996 -2000 khoảng 0,3%, tuycòn thấp hơn so với kế hoạch 0,8% Tăng trởng diễn ra trong tất cả các khu vực kinh
tế Giá trị gia tăng khu vực nông nghiệp tăng trung bình 3,5%/năm, cao hơn cận dớicủa chỉ tiêu kế hoạch 5 năm (4-5%) Giá trị gia tăng khu vực công nghiệp và xâydựng tăng 11%/năm, bằng cận trên của chỉ tiêu kế hoạch 5 năm (10-11%) Giá trịgia tăng khu vực dịch vụ tăng 6,7%, cao hơn tốc độ tăng trởng chung toàn nền kinh
tế, nhng thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch (8-9%)
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hớng công nghiệp hoá, từng bớc phát huy
đ-ợc các lợi thế so sánh của đất nớc Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 52,1%năm 2000 xuống còn 46,4% năm 2005 (kế hoạch 5 năm đề ra là 47% vào năm2005); tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 22,1% năm 2000 lên 26,9% năm
2005 (kế hoạch 5 năm đề ra là 26% vào năm 2005); tỷ trọng các ngành dịch vụ cũngtăng từ 24,4% năm 2000 lên 25,7% năm 2005 (kế hoạch 5 năm đề ra là 27% vàonăm 2005)
Cân đối vốn đầu t phát triển liên tục đợc cải thiện qua các năm; tỷ lệ huy
động vốn đầu t trong GDP có xu hớng tăng lên, từ 22,4% năm 2000 lên khoảng28,4% năm 2005; trung bình 5 năm đạt 25,1% Tổng vốn đầu t đa vào nền kinh tếtrong 5 năm 2001 - 2005 tính theo giá hiện hành đạt khoảng 27.536 tỷ kíp, xấp xỉ
đạt chỉ tiêu Đại hội đề ra (27.900 tỷ kíp)
Trang 362.2.2.1 Tình hình tài chính
a/ Những thành tựu đã đạt đợc.
Trong 5 năm (2000-2005) tổng thu ngân sách nhà nớc có xu hớng tăng lên hàngnăm và tổng số huy động nguồn thu vào ngân sách trong 5 năm là 21,437 tỷ kíp, bình quântăng 18%/năm Trong đó thu nội địa thực hiện đợc 12,662 tỷ kíp, thu từ viện trợ khônghoàn lại là 1,302 tỷ kíp và thu từ vốn vay trong và ngoài nớc là 7,472 tỷ kíp
Đã thay đổi vài nét của cơ cấu thu ngân sách do vậy làm cho nguồn thu từThuế-hải quan có xu hớng tăng từ 81% của tổng số thu trong năm 2000-01 đến 83%trong năm 2004-05, nhng nguồn thu từ không thuộc diện thuế - hải quan có xu hớnggiảm xuống từ 19% của tổng thu ngân sách trong năm 2000-01 xuống còn 17%trong năm 2004-05
Bốn cấu thành chính (thuế lợi nhuận, thuế doanh thu, thuế tiêu thụ và nhậpkhẩu) của cơ cấu thu ngân sách có xu hớng tăng về tổng giá trị, thí dụ nh: trong năn2004-05 tổng thu của thuế doanh thu ớc tính sẽ đạt đợc 774 tỷ kíp tăng so với năm2000-01 là 318 tỷ kíp và thuế tiêu thụ ớc tính sẽ đạt đợc 628 tỷ kíp trong năm 2004-05tăng so với năm 2000-01 là 371 tỷ kíp Ngợc lại, 3 cấu thành (số thu không thuộc diệnthuế-hải quan nh: Tiền bán gỗ, phí bay qua bầu trời và trích nộp lợi nhuận) có xu hớngchậm phát triển và chậm lại, đặc biệt là thu từ tiền bán gỗ có xu hớng giảm từ 361 tỷkíp trong năm 2001-02 xuống còn 150 tỷ kíp trong năm 2004-05
Biểu đồ 2.1: Tổng thu ngân sách năm 2000-2001
Biểu đồ 2.2: Tổng thu ngân sách năm 2004-2005
Trang 37Lu ý: Khoản thu từ xuất nhập khẩu đã bao gồm các khoản thuế tiêu thụ và thuế
doanh thu liên quan trong khẩu xuất nhập khẩu
Tổng số chi ngân sách nhà nớc trong 5 năm ớc tính sẽ đạt đợc 22,179 tỷkíp bình quân tăng 19.4%/năm cơ cấu chi ngân sách nhà nớc đã có sự thay đổinh: Chi thờng xuyên tăng 36% của tổng chi ngân sách nhà nớc trong năm 2000-
01 lên tới 48% của tổng chi ngân sách nhà nớc Còn chi đầu t giảm xuống từ 59%trong năm 2000-01 xuống còn 50% trong năm 2004-05
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu chi ngân sách năm 2000-2001
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu chi ngân sách năm 2004-2005
Chi tiền lơng và trợ cấp tăng từ 12% của tổng chi ngân sách năm 2000-01lên tới 23% trong năm 2004-05 Đồng thời chi đầu t mà sử dụng nguồn vốn vay
và viện trợ không hoàn lại có xu hơng tăng từ 37% trong năm 2000-01 lên tới41% trong năm 2004-05 Trong 5 năm qua đã có một số thay đổi quan trọngtrong việc đáp ứng vốn cho các ngành nh: kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá - xãhội và cho việc xoá đói giảm nghèo mà số vốn đó đã tăng từ 11% trong năm2000-01 lên tới 12% trong 2004-05
Tỷ trọng đầu t của toàn xã hội so với GDP có xu hớng tăng trong năm 2000 là22.4% và ớc tính trong 2005 sẽ đạt đợc 28.4%, Bình quân trong 5 năm sẽ đạt đợc25.1%/năm Trong đó đầu t trong nớc của nhà nớc có xu hớng giảm xuống, có nghĩa
Trang 38là sự tăng lên của đầu t để phát triển tăng trong t nhân và doanh nghiệp nhà nớc làchính.
Biểu đồ 2.5: Chi ngân sách nhà nớc năm 2000-2001
Biểu đồ 2.6: Chi ngân sách nhà nớc năm 2004-2005
Việc quản lý và theo dõi nợ trong và nớc ngoài đã tổ chức thực hiện một cách
hệ thống và liên tục; Riêng nợ trong nớc có thể tập hợp đợc, chiếm tới 11% của GDP
và có thể phân loại các nợ và tách ra thành khoản nợ liên quan giữa ngân sách vàngân hàng nhà nớc và ngân hàng thơng mại thuộc trực tiếp nhà nớc chiếm tới 5.2%của GDP Khoản nợ liên quan đến việc trớc khi kiểm tra công việc theo hợp đồngchiếm tới 2.3% của GDP (nợ ngoài dự toán) và các khoản nợ đã đợc bố trí vào trong
dự toán để thành toán chiếm tới 2.5% của GDP Trong những năm vừa qua việc xử lý
nợ trong nớc cũng đã tổ chức thực hiện theo hệ thống nh sau: Đã bố trí một khoảntvốn của ngân sách để thanh toán các khoản nợ phải thanh toán của Kho bạc Nhà nớc
và áp dụng chính sách lấy nợ thành vốn hoặc kéo dài thời hạn thanh toán để ổn địnhnền kinh tế Đối với nợ nớc ngoài chiếm tới 61% của GDP Trong đó, đối với nợ củacác tổ chức tài chính quốc tế chiếm tỷ trọng lớn trong việc đầu t phát triển cơ sở hạtầng và mạng lới sản xuất hàng hoá Ngoại ra, còn bố trí nguồn vốn và thờng xuyênthanh toán các khoản nợ đó theo định kỳ và xây dựng kế hoạch thanh toán cáckhoản nợ đó nằm trong dự toán ngân sách hàng năm cho tới năm 2015, hàng nămcác khoản thành toán đó chiếm tỷ trọng 11% của tổng số chi ngân sách nhà nớc vàtăng lên trong hàng năm tài khoán của ngân sách nhà nớc khoảng 1-2% của tổng sốchi Ngân sách
Trang 39Chấn chỉnh cơ cấu của doanh nghiệp nhà nớc đã thực hiện theo kế hoạchchấn chỉnh của dự án FMAC trong 04 doanh nghiệp lớn, tiếp tục chấn chỉnh cơ cấu
và xây dựng tính lành mạnh cho hệ thống ngân hàng thơng mại, đặc biệt đã banhành luật về ngân hàng thơng mại Tổng số đơn vị doanh nghiệp hiện nay có khoảng
130 đơn vị, trong đó 71 đơn vị dới sự quản lý và theo dõi của Trơng ơng và 59 đơn vịdới sự quản lý của địa phơng
Cân đối ngân sách trong những năm vừa qua chúng ta đã tích cực khai thácnguồn thu ngày càng tăng, hạn chế khoản chi không cần thiết áp dụng việc bù
đắp số thâm hụt dới hình thực vay trong nớc bằng cách bán trái phiếu và cổ phiếucủa Ngân hàng thông qua việc đấu thầu lãi suất chiếm tới 10% của tổng số vốn đểcân đối Kể từ năm 1999-2000 đến đây, chúng ta đã quyết tâm thực hiện biện pháp
là không ứng trớc tiền từ ngân hàng nhà nớc, đồng thời cũng phải tranh thủ và sửdụng nguồn vốn vay và viện trợ không hoàn lại có hiệu quả hơn nữa
Đã điều chỉnh cơ chế về tổ chức và một số các văn bản pháp quy về tài tiền tệ nh: sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế, Hải quan cho phù hợp với sựphát triển của nền kinh tế hiện nay nh: mức thuế đất, một số mức thuế suất, sửa đổilại tiền thuê tài sản nhà nớc, tỷ giá hối đoái để làm căn cứ tính thuế và một số phí, lệphí, một số văn bản pháp quy đề làm căn cứ cho việc quản lý các Cửa khẩu, điềuchỉnh việc sử dụng hệ thống sổ sách kế toán của các đơn vị doanh nghiệp và việcphân cấp quản lý thu ngân sách của lĩnh vực thuế giữa Trơng ơng và địa phơng phải
chính-rõ ràng hơn nữa
Ngành tài chính đã chấn chỉnh sự lành mạnh về chính trị, tổ chức bộ máy vàcán bộ Không ít cán bộ tài chính đã đợc nâng cao trình độ chuyên môn Sử dụngcác biện pháp nghiêm chỉnh đối với việc chống thất thu ngân sách trong đội ngũ cán
bộ tài chính Xây dựng hợp th góp ý và lắng nghe d luận của xã hội đối với việc thựchiện nhiệm vụ của cán Bộ Tài chính
b/ Những tồn tại và yếu kém.
1 Thu ngân sách nhà nớc hàng năm không đạt đợc theo kế hoạch đặt ra nh:trong năm 2000-10 chỉ thực hiện đợc 94% của kế hoạch, năm 2001-02 thực hiện đợc95%, năm 2002-03 đạt đợc thực hiện đợc 93% và năm 2003-04 thực hiện đợc 98% Dovậy, thu ngân sách nhà nớc không đạt đợc kế hoạch 05 năm đề ra (18% của GDP) ớctính sẽ thực hiện đợc 13% của GDP trong cuối năm 2004-05
2 Những khó khăn về tài chính-ngân sách mà cha thể giải quyết đợc là thâmhụt ngân sách nhà nớc vẫn ở mức cao và thâm hụt hàng năm bình quân trong 05năm khoảng 6-7% của GDP đã gây ra tình hình nợ phải thanh toán nặng nề chongân sách mà có thể phân biệt nh sau: Nợ phải thanh toán theo hợp đồng, Nợ phải
Trang 40thanh toán trong dự toán và Nợ phải thanh toán trong hệ thống Kho bạc Tổng d nợtrong nớc chiếm tới 11% của GDP.
Biểu đồ 2.7: Thu - chi ngân sách so với GDP
3.Đồng thời, nguồn vốn vay và viện trợ không hoàn lại để cân đối ngân sách có
xu thế gia tăng hàng năm và nó đã trở thành vấn đề cần phải giải quyết trong thờigian dài và gây sức ép hàng năm cho ngân sách nhà nớc Nhng ngợc lại nguồn vốntrong lĩnh vực doanh nghiệp t nhân và tín dụng của ngân hàng cho đầu t còn chậm, ởmức thấp và dới hình thức tự túc tự cấp Còn nguồn cân đối trong nớc là cha pháttriển, việc tiết kiệm tiền trong hệ thống ngân hàng còn thấp, nếu có cũng là tiền tệ
mà không thể sử dụng để cho vay đợc, thị trờng trái phiếu và thị trờng tiền tệ cònnhỏ bé và cha phát triển và cha có tính tích cực trong việc huy động vốn cho đầu tphát triển
4.Quan điểm của việc xây dựng nền tài chính quốc gia có tính độc lập, tự chủ
và xây dựng nền tài chính vững chắc do chính mình cha thật sự tích cực và cha tạomôi trờng thuận lợi cho việc phát triển sản xuất của doanh nghiệp và dịch vụ mà lànguồn thu chủ yếu của ngân sách Đến nay, đã có một số doanh nghiệp đó lại rơivào tình trạng không linh hoạt trong các hoạt động kinh doanh và dịch vụ, một sốkinh doanh ngừng hoạt động tạm thời, chủ yếu là những doanh nghiệp kinh doanh
gỗ, xây dựng và hàng xuất nhập khẩu Nói tóm lại, các tình hình đã nêu trên làm choviệc thu ngân sách nhà nớc không sát với sự tăng trởng nền kinh tế
5.Sự phối hợp giữa ngành tài chính với các Bộ, các địa phơng trong quản lýngân sách, quản lý công sản nhà nớc cha chặt chẽ và hoà hợp, một số địa phơng vẫntiếp tục giảm hoặc không thu thuế, điều chỉnh giá tính thuế không tuân theo luật
định Một số ngành khi ký kết các dự án đã cho phép họ chính sách miễn thuế trongthời gian dài gây ảnh hởng rất nhiều cho thu ngân sách
6.Những hiện tợng tiêu cực trong ngành tài chính còn nhiều và cha có dấu hiệugiảm xuống Cơ chế, chế độ các văn bản pháp quy về quản lý tài chính và việc phâncấp quản lý giữa trung ơng và địa phơng cha đầy đủ, chi tiết, rõ ràng và tổ chức bộmáy cha hoàn chỉnh Một số trờng hợp về chi khi chi ngân sách tăng lên trong 06