1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những nội dung cơ bản, các bước xây dựng và áp dụng hệ thống ISO 9000

20 470 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 47,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nội dung cơ bản, các bước xây dựng và áp dụng hệ thống ISO 9000

Trang 1

I.MỞ ĐẦU

Hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng nổi trội và do đó đã trở thành môi trường của các cuộc cạnh tranh gay gắt gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thế giới Toàn cầu hóa kinh tế và nhất thể hóa kinh tế khu vực làm gia tăng sự liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp của các nước, nhưng đồng thời cũng buộc các doanh nghiệp phải trực tiếp cạnh tranh với nhau ngày càng gay gắt Trong cuộc cạnh tranh ở quy mô lớn như vậy, muốn thành công, ngoài những yếu tố hợp thành khác, các doanh nghiệp phải luôn tìm cơ hội cải tiến chất lượng liên tục, thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng

Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 – đề cập tới các lĩnh vực chủ yếu trong quản lý chất lượng : chính sách và chỉ đạo về chất lượng, nghiên cứu thị trường, thiết kế và triển khai sản phẩm, cung ứng, kiểm soát thị trường, bao gói, phân phối, dịch vụ sau khi bán, xem xét đánh giá nội bộ, kiểm soát tài liệu,…Vì vậy, ISO 9000 là mô hình rất tốt đảm bảo chất lượng, đồng thời cũng là mô hình lý tưởng cho một tổ chức đạt hiệu quả cao và liên tục nâng cao vị thế cạnh tranh trên thế giới

Xuất phát từ những lý do trên nhóm 3 chúng em quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài “ Những nội dung cơ bản, các bước xây dựng và áp dụng hệ thống ISO 9000”

Trang 2

II NỘI DUNG

2.1 Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO.

ISO là một tổ chức phi chính phủ quốc tế, là liên đoàn quốc tế của các cơ quan tiêu chuẩn hóa quốc gia và là tổ chức tiêu chuẩn hóa lớn nhất của thế giới hiện nay

ISO được thành lập năm 1946 tại London (Anh) nhưng chính thức hoạt động từ ngày 23/2/1947, Trụ sở chính đặt tại Geneve (Thụy sỹ) ISO có tên đầy đủ là: “THE INTERNATIONAL ORGANIZATION FOR STANDARDIZATION” Thành viên của ISO phải là cơ quan tiêu chuẩn hóa quốc gia và mỗi quốc gia chỉ có một cơ quan/tổ chức đại diện để tham gia ISO ISO có ba loại thành viên: thành viên đầy đủ, thành viên thông tấn và thành viên đăng ký Số lượng thành viên tham gia ISO không ngừng gia tăng và tính đến tháng 4/2009 ISO có

161 thành viên

Việt Nam là thành viên chính thức thứ 72 từ năm 1977 Cơ quan đại diện

là Tổng cục tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng.Việt Nam đã tham gia Hội đồng ISO trong 2 nhiệm kỳ: 1997-1998 và 2001-2002, được bầu vào Hội đồng ISO nhiệm kỳ 2004-2005; hiện tham gia với tư cách thành viên P (thành viên chính thức) trong 5 ISO/TCs và ISO/SCs, tham gia với tư cách thành viên O (thành viên quan sát) trong hơn 50 ISO/TCs và ISO/SCs và là thành viên P của 3 ban chức năng của ISO: DEVCO, COPOLCO và CASCO Cho đến nay, có khoảng 1.380 tiêu chuẩn ISO được chấp nhận thành Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN)

Cơ cấu tổ chức của ISO bao gồm:

- Đại Hội đồng: họp toàn thể mỗi năm một lần;

-Hội đồng ISO: gồm 18 thành viên được Đại Hội đồng ISO bầu ra;

- Ban Thư ký Trung tâm: thực hiện chức năng Thư ký vụ cho Đại Hội đồng và Hội đồng trong việc quản lý kỹ thuật, theo dõi các vấn đề thành viên, hỗ trợ kỹ thuật

Trang 3

cho các Ban kỹ thuật và Tiểu ban kỹ thuật, chịu trách nhiệm về xuất bản, thông tin, quảng bá và chương trình cho các nước đang phát triển

- Các Ban chính sách phát triển gồm có: Ban Đánh giá sự phù hợp - CASCO; Ban Phát triển - DEVCO; Ban Thông tin - INFCO; Ban Chất chuẩn - REMCO; Ban Chính sách người tiêu dùng - COPOLCO

- Hội đồng Quản lý Kỹ thuật (TMB): tổ chức và quản lý hoạt động của các Ban kỹ thuật tiêu chuẩn;

- Các Ban Kỹ thuật tiêu chuẩn: hiện nay, ISO có 2859 cơ quan kỹ thuật bao gồm

186 Ban Kỹ thuật, 576 Tiểu ban Kỹ thuật, 2057 Nhóm Công tác và 40 Nhóm Nghiên cứu (số liệu năm 1999) để tiến hành nghiên cứu và soạn thảo các tiêu chuẩn và các hướng dẫn của ISO

- Các Ban cố vấn

+ Hiện có khoảng 30.000 các nhà khoa học, kỹ thuật, các nhà quản lý, cơ quan chính phủ, các nhà công nghiệp, người tiêu dùng, đại diện cho các cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia thành viên tham gia vào việc xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế

và các chính sách phát triển của ISO

+ Hiện có trên 500 tổ chức quốc tế có quan hệ với các cơ quan kỹ thuật của ISO + Tính đến hết năm 2000, ISO đã ban hành được trên 12000 tiêu chuẩn quốc tế ISO và các xuất bản phẩm khác (hướng dẫn, báo cáo kỹ thuật, v.v )

Danh sách các tiêu chuẩn ISO

- Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 (gồm ISO 9000, ISO 9001, ISO 9004 ): Hệ thống quản

lý chất lượng

- Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 (gồm ISO 14001, ISO 14004 ): Hệ thống quản lý môi trường

- Bộ tiêu chuẩn ISO 22000 (gồm ISO 22000, ISO 22002, ISO 22003, ISO 22004, ISO 22005, ISO 22006 ): Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm

Trang 4

- ISO/TS 22003:2007: Quản lý hoạt động đánh giá hệ thống an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 22000

- ISO/IEC 17021:2006: Hệ thống tiêu chuẩn cho các tổ chức chứng nhận

- ISO/TS 19649: Được xây dựng bởi Hiệp hội ôtô quốc tế (IATF) - The

International Automotive Task Force Tiêu chuẩn ISO/TS 16949: 2002 là quy định

kỹ thuật phù hợp với tiêu chuẩn HTQLCL ngành công nghiệp ôtô toàn cầu như:

QS 9000 (Mỹ), VDA6.1 (Đức), EAQF (Pháp), AVSQ (Ý) với mục đích loại bỏ nhiều chứng nhận nhằm thỏa mãn yêu cầu của nhiều khách hàng Đây không phải

là tiêu chuẩn bắt buộc cho các nhà sản xuất ôtô trên thế giới

- ISO 15189: Hệ thống quản lý phòng thí nghiệm y tế (yêu cầu cụ thể về năng lực

và chất lượng Phòng thí nghiệm Y tế), (Phiên bản đầu tiên ban hành năm 2003, phiên bản gần đây ban hành năm 2007 và có tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam tương đương là TCVN 7782:2008)

2.2 Sự hình thành và phát triển của ISO 9000.

Trong những năm 70 nhìn chung giữa các ngành công nghiệp và các nước trên thế giới có những nhận thức khác nhau về “chất lượng” Do đó, Viện tiêu chuẩn Anh Quốc (British Standard Institute - BSI) là một thành viên của ISO đã chính thức đề nghị ISO thành lập một ủy ban kỹ thuật để phát triển các tiêu chuẩn quốc tế về kỹ thuật và thực hành bảo đảm chất lượng, nhằm tiêu chuẩn hóa việc quản lý chất lượng trên toàn thế giới Ủy ban kỹ thuật 176 (TC 176 - Technical committee 176) ra đời gồm đa số là thành viên của cộng đồng Châu Âu đã giới thiệu một mô hình về hệ thống quản lý chất lượng dựa trên các tiêu chuẩn sẳn có của Anh quốc là BS-5750 Mục đích của nhóm TC176 là nhằm thiết lập một tiêu chuẩn duy nhất sao cho có thể áp dụng được vào nhiều lĩnh vực kinh doanh, sản xuất và dịch vụ Bản thảo đầu tiên xuất bản vào năm 1985, được chấp thuận xuất bản chính thức vào năm 1987 và sau đó được tu chỉnh vào năm 1994 với tên gọi ISO 9000

- 1955, Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương đưa ra các tiêu chuẩn về chất lượng cho

tàu APOLO của Nasa, máy bay Concorde của Anh – Pháp…

- 1956, Bộ Quốc Phòng Mỹ thiết lập hệ thống MIL - Q9858, nó được thiết kế

như là một chương trình quản trị chất lượng

Trang 5

- 1963, MIL-Q9858 được sửa đổi và nâng cao.

- 1968, NATO chấp nhận MIL-Q9858 vào việc thừa nhận hệ thống bảo đảm

chất lượng của những người thầu phụ thuộc các thành viên NATO (Allied Quality Assurance Publication 1 - AQAP - 1 )

- 1969, Anh, Pháp thừa nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn quốc phòng với các hệ

thống đảm bảo chất lượng của người thầu phụ thuộc vào các thành viên của NATO

- 1970, Bộ Quốc Phòng Liên Hiệp Anh chấp nhận những điều khoản của

AQAP - 1 trong Chương trình quản trị Tiêu chuẩn quốc phòng, DEF/STAN 05-8

- 1972, Viện tiêu chuẩn Anh (Briitish Standards Institute-BSI) ban hành BS

4891 – Hướng dẫn đảm bảo chất lượng

- 1979, Viện Tiêu Chuẩn Anh Quốc (British Standards Institute - BSI) đã phát

triển thành BS 5750, hệ thống tiêu chuẩn chất lượng quản trị đầu tiên trong thương mại Đây chính là tiền thân của ISO 9001 sau này

- 1987, tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) chấp nhận hầu hết các yêu cầu

trong tiêu chuẩn BS5750, và dựa vào đó để ban hành bộ tiêu chuẩn ISO

9000, bộ tiêu chuẩn ISO 9000 được xem là những tài liệu tương đương như nhau trong áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng quản trị, bộ tiêu chuẩn này bao gồm:

• ISO 9001:1987 với tên gọi: Mô hình đảm bảo chất lượng trong thiết kế/triển khai, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật (Model for quality assurance in design, development, production, installation and servicing)

• ISO 9002:1987 với tên gọi: Mô hình đảm bảo chất lượng trong sản xuất, lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật (Model for quality assurance in production, installation and servicing)

• ISO 9003:1987 với tên gọi: Mô hình đảm bảo chất lượng trong kiểm tra

và thử nghiệm cuối cùng (Model for quality assurance in final inspection and test)

- 1994, các tiêu chuẩn ISO 9001, ISO 9002, ISO 9003 được tổ chức ISO sửa

đổi, lần sửa đổi này nhấn mạnh vào đảm bảo chất lượng thông qua hành động phòng ngừa, thay vì chỉ kiểm tra sản phẩm cuối cùng và tiếp tục yêu

Trang 6

cầu bằng chứng về sự tuân thủ các tài liệu Thuật ngữ “hệ thống chất lượng” (Quality systems) cũng được đưa vào tên gọi của các tiêu chuẩn để nhấn mạnh ý tưởng đảm bảo chất lượng

• ISO 9001:1994 với tên gọi: Hệ thống chất lượng - Mô hình đảm bảo chất lượng trong thiết kế/triển khai, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật (Quality systems Model for quality assurance in design, development, production, installation and servicing)

• ISO 9002:1994 với tên gọi: Hệ thống chất lượng – mô hình đảm bảo chất lượng trong sản xuất, lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật (Quality systems Model for quality assurance in production, installation and servicing)

• ISO 9003:1987 với tên gọi: Hệ thống chất lượng - Mô hình đảm bảo chất lượng trong kiểm tra và thử nghiệm cuối cùng (Quality systems – Model for quality assurance in final inspection and test)

- 2000, tổ chức ISO hợp nhất 3 tiêu chuẩn ISO 9001:1994, ISO 9002:1994,

ISO 9003:1994 thành một tiêu chuẩn ISO 9001:2000 Doanh nghiệp chỉ áp dụng thủ tục thiết kế và phát triển khi trong thực tế Doanh nghiệp có tham gia thực hiện thiết kế sản phẩm mới Phiên bản ISO 9001:2000 đã thay đổi

tư duy căn bản bằng cách đưa vào khái niệm “quản lý theo quá trình” và xem khái niệm này là trung tâm của tiêu chuẩn ISO 9001:2000 sử dụng kiểm soát quá trình để theo dõi, đo lường và tối ưu các nhiệm vụ và hoạt động của Doanh nghiệp thay vì kiểm tra sản phẩm cuối cùng Phiên bản

2000 của ISO 9001 cũng yêu cầu sự tham gia của Lãnh đạo cao nhất, thông qua đó Lãnh đạo cao nhất sẽ tích hợp hệ thống quản lý chất lượng vào các hệ thống kinh doanh hiện tại, tránh trường hợp nhiều hệ thống chồng chéo cùng tồn tại trong một doanh nghiệp Mong đợi của tổ chức ISO đối với các Doanh nghiệp trong việc tăng cường cải tiến liên tục hệ thống và tăng sự hài lòng của khách hàng thông qua việc theo dõi và đo lường mức độ hài lòng của khách hàng cũng được thể hiện rõ ràng trong phiên bản này

- 2008, Tổ chức ISO lại một lần nữa nâng cấp phiên bản của tiêu chuẩn ISO

9001 Đây là phiên bản mới nhất hiện nay có tên gọi đầy đủ là “ISO 9001:2008 - Hệ thống quản lý chất lượng – Các yêu cầu” Không có yêu cầu mới trong tiêu chuẩn ISO 9001 giữa phiên bản 2008 và 2000 Tiêu chuẩn ISO 9001:2008 chỉ làm rõ các yêu cầu không được rõ ràng, dễ gây lầm lẫn của ISO 9001:2000 và có một số thay đổi nhỏ nhằm mục đích cải thiện tính nhất quán với tiêu chuẩn ISO 14001:2004

Hiện nay bộ Tiêu chuẩn ISO 9000 được áp dụng tại hơn 180 nước trên toàn

thế giới Việt Nam là thành viên chính thức năm 1977 Tại Việt Nam,Tổng

Trang 7

Cục Tiêu Chuẩn Đo lường Chất Lượng Việt Nam gọi tắt là STAMEQ (Directorate Management for Standards and Quality) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đưa tiêu chuẩn ISO 9000 vào hệ thống tiêu chuẩn của Việt Nam với mã hiệu là TCVN ISO 9001:2008

2.3 Cấu trúc và các nguyên tắc cơ bản của ISO 9000

2.3.1 Cấu trúc của ISO 9000

ISO 9000 bao gồm bốn bộ tiêu chuẩn sau:

- Bộ ISO 9000: mô tả cơ sở của hệ thống quản lý chất lượng và giải thích ngôn ngữ

- Bộ ISO 9001: quy định những yêu cầu cơ bản của hệ thống quản lý chất lượng của 1 tổ chức

- Bộ ISO 9004: hướng dẫn cải tiến việc thực hiện hệ thống quản lý chất lượng

- Bộ ISO 19011: hướng dẫn đánh giá hệ thống quản lý chất lượng và hệ thống quản

lý môi trường

* Cụ thể ISO 9000:1994 bao gồm 25 tiêu chuẩn, chia thành 5 nhóm Trọng tâm là nhóm các tiêu chuẩn nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm được tạo thành bởi 3 tiêu chuẩn ISO 9001 ISO 9002 và ISO 9003

- ISO 9001: là tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng đối với tất cả các khâu: thiết kế, phát triển sản xuất và dịch vụ

-ISO 9002: là tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng trong các khâu sản xuất và dịch vụ sau sản xuất

-ISO 9003 là tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng chỉ trong khâu kiểm tra và thử nghiệm cuối cùng

* Ngày 15/12/2000, ISO đã chính thức ban hành bộ tiêu chuẩn ISO 9000 – phiên bản 2000 (soát xét lại lần 2) gồm 4 tiêu chuẩn chính

- ISO 9000: Hệ thống quản lý chất lượng – cơ sở và thuật ngữ

- ISO 9001 Hệ thống quản lý chất lượng – các yêu cầu chung

- ISO 9002: Hệ thống quản lý chất lượng - hướng dẫn cải tiến hiệu quả hoạt động

Trang 8

- ISO 9011: Các hướng dẫn về đánh giá hệ thống quản lý

Ngay sau khi bộ tiêu chuẩn ISO 9000- 2000 được ban hành, tổng cục đo lường chất lượng quyết định chấp nhận bộ tiêu chuẩn này thành TCVN

2.3.2 Các nguyên tắc của quản trị chất lượng theo ISO 9000 (8 nguyên tắc)

Nguyên tắc 1: Định hướng bởi khách hàng (Customer focus)

Thông thường, nhà sản xuất coi khách hang và người cung ứng là những bộ phận của tổ chức trong giao dịch, thường thương lượng, mặc cả với họ để lấy được phần lợi về mình, do đó , nhiều khi doanh nghiệp lại dồn vào thế bó buộc Người cung ứng sẽ phải cạnh tranh về giá cả, khách hang sau khi mua hang không được hài long, điều này ảnh hưởng đến quá trình lưu thong hàng hóa Để đảm bảo chất lượng cần thiết phải nhìn nhận khách hang và người cung ứng là một trong những

bộ phận của doanh nghiệp và là một bộ phận của quá trình sản xuất, người cung ứng và khách hang sẽ giúp cho nhà sản xuất duy trì uy tín của mình Việc xây dựng mối quan hệ lâu dài trên cơ sở hiểu lẫn nhau giữa nhà sản xuất, người cung ứng và khách hàngsẽ giúp cho nhà sản xuất duy trì uy tín của mình Đối với khách hang , nhà sản xuất phải coi chất lượng là mức độ thỏa mãn những mong muốn của họ chứ không phải là việc cố gắng đạt được tiêu chuẩn chất lượng nào đó đã đề ra từ trước, vì thực tế mong muốn của khách hang luôn luôn thay đổi và không ngừng đòi hỏi cao hơn Một sản phẩm có chất lượng phải đươc thiết kế, chế tạo trên cơ sở nghiên cứu tỉ mỉ những nhu cầu của khách hang Vì vậy, việc không ngừng cải tiến

cà hoàn thiện chất lượng sản phẩm dịch vụ là một trong những hoạt động cần thiết

để đảm bảo chất lượng, đảm bảo danh tiếng của doanh nghiệp

Đối với người cung ứng, cầm thiết phải coi đó là một bộ phận quan trọng của các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần thiết phải mở rộng hệ thống kiểm soát chất lượng sang các cơ sở cung ứng, thầu phụ của mình

Ví dụ :

Trang 9

Tại Việt Nam Viettel là

Thương hiệu mạnh nhất Việt Nam ngành hàng Bưu chính-Viễn thông-Tin

học

• Doanh nghiệp đầu tiên phá thế độc quyền trong ngành Bưu chính Viễn thông ở Việt Nam

• Mạng di động đứng đầu Việt Nam với việc cung cấp dịch vụ GPRS trên toàn quốc, có 11 triệu thuê bao, và là một trong những mạng di động có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới (tạp chí Wireless Intelligence bình chọn)

• Số 1 về dịch vụ di động tại Việt Nam

• Là doanh nghiệp có số trạm nhiều nhất với vùng phủ rộng nhất tại Việt Nam Đóng góp vào thành công đó có phần quan trọng của một chiến lược kinh doanh mang tính cộng đồng và phương châm “ đặt lợi ích khách hàng lên vị trí số 1” Những ngày đầu cung cấp dịch vụ vốn còn hạn chế và kinh nghiệm chưa nhiều Viettel đã lựa chọn giải pháp an toàn là xây dựng mạng lưới ở một số tỉnh thành

có nhu cầu sử dụng cao để thu hồi vốn nhanh Nhận thấy Việt Nam có hơn 80% dân số sống ở nông thôn có thu nhập thấp vì thế Viettel đã đưa ra giá cước ưu đãi

và nhiều chương trình khuyến mãi Tiếp đó viettel quyết định xây dựng đồng bộ CSHT trên 64 tỉnh thành cả nước nhằm mục tiêu “phục vụ đi trước lợi ích đi sau”

Về việc xây dựng thương hiệu, Viettel lựa chọn Slogan “Hãy nói theo cách của

bạn”không chỉ đáp ứng quan điểm hướng tới những nhu cầu riêng biệt của từng khách hàng mà còn thể hiện sự quan tâm lắng nghe của Viettel đối với nhu cầu

đó Mặt khác, đối với chính nội bộ của Viettel, slogan này cũng thể hiện sự quan tâm, lắng nghe đến các nhu cầu, ý kiến, ý tưởng sáng tạo của từng cá nhân và cho phép họ được thể hiện theo cách riêng của mình

Về bộ phận chăm sóc khách hàng viettel có một hệ thống nhân viên trực tổng đài hùng hậu có kỹ năng và kinh nghiệm sãn sàng lắng nghe và giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng

Có thể nói Viettel là một điển hình cho việc áp dụng nguyên tắc định hướng khách hàng để thành công Họ đã xác định đúng khách hàng và các nhu cầu của họ

từ đó đáp ứng tối đa nhất các nhu cầu có thể

Trang 10

Nguyên tắc 2: Sự cam kết của các nhà lãnh đạo cấp cao (Leadership)

Lãnh đạo cao cấp thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích đường lối và môi trường nôị bộ trong doanh nghiệp Họ hoàn toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Hoạt động chất lượng của doanh nghiệp không

có hiệu quả nếu không có sự cam kết triệt để của lãnh đạo cấp cao

Lãnh đạo doanh nghiệp phải có tầm nhìn xa, xây dựng các mục tiêu rõ ràng cụ thể

và định hướng vào khách hang Để củng cố những mục tiêu này cần có sự cam kết

và tham gia của từng cá nhân lãnh đạo với tư cách là một thành viên doanh nghiệp Lãnh đạo chỉ đạo, định hướng, thẩm định, phê duyệt, điều khiểm, kiểm tra và kiểm soát Vì vậy, kết quả của các hoạt động sẽ phụ thuộc vào những quyết định của họ Muốn thành công, mỗi tổ chức cần phải có một ban lãnh đạo cấp cao có trình độ,

có trách nhiệm, gắn bó chặt chẽ với tổ chức, cam kết thực hiện những chính sách, mục tiêu đề ra

Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người (Involvement of people)

Nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp đó là con người có sự hiểu biết của mọi người khi tham gia vào các quá trình sẽ có lợi cho doanh nghiệp

Thành công trong cải tiến chất lượng công việc phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng, nhiệt tình hăng say trong công việc của lực lượng lao động Doanh nghiệp cần tạo điều kiện để nhân viên học hỏi nâng cao kiến thức

Doanh nghiệp cần khuyến khích sự tham gia của mọi người vào mục tiêu của doanh nghiệp và đáp ứng các vấn đề an toàn, phúc lợi xã hội, đồng thời phải gắn mục tiêu cải tiến lien tục và các hoạt động của doanh nghiệp

Khi đã đáp ứng được các nhu cầu và tạo sự tin tưởng các nhân viên trong doanh nghiệp sẽ:

+ Dám nhận công việc, nhận trahcs nhiệm giải quyết các vấn đề

+ Tích cực các cơ hội đẻ cải tiến, nâng cao hiểu biết về kinh nghiệm và truyền đạt chúng cho đội, nhóm công tác

+ Đổi mới và sang tạo để nâng cao hơn nữa các mục tiêu cảu doanh nghiệp

Ngày đăng: 25/11/2015, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w