Bên cạnh sự thay đổi mang tính tích cực đã có nhiều bất cập xẩy ra: Về việc làm, đời sống công bằng xã hội, quan hệ chủ thợ v.v… nhiều chủ doanh nghiệp trong khu vực kinh tế ngoài nhà nư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ĐỨC THẠCH
CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, HỘI NHẬP QUỐC TẾ
(NGHIÊN CỨU THỰC TẾ Ở TỈNH HÀ TĨNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ĐỨC THẠCH
CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, HỘI NHẬP QUỐC TẾ
(NGHIÊN CỨU THỰC TẾ Ở TỈNH HÀ TĨNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH Nguyễn Viết Vượng
Trang 3ỜI
Tôi xin cam rằng: Luận văn Thạc sĩ Chính trị học: “Công đoàn bảo vệ
quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế” (nghiên cứu thực tế ở tỉnh Hà Tĩnh) là
công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TSKH Nguyễn Viết Vượng Những số liệu, tài liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng và tin cậy Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với các công trình khác./
Tác giả luận văn
guyễn ức Thạch
Trang 4ỜI Ả Ơ
Tôi xin trân trọng gửi đến các quý thầy cô giáo trong Khoa Khoa học Chính trị (Trường ĐHKHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội), Đại học Hà Tĩnh lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc về quá trình đào tạo trong suốt 2 năm học Cao học vừa qua
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn về sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của thầy giáo hướng dẫn - Thầy PGS.TSKH Nguyễn Viết Vượng; sự hỗ trợ, động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cơ quan: Thư viện Quốc gia, Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện tỉnh Hà Tĩnh, Liên đoàn Lao động tỉnh Hà Tĩnh…
đã cung cấp những tài liệu quan trọng, quý báu cho tôi hoàn thành đề tài
Học viên
guyễn ức Thạch
Trang 5Ụ Ụ
Ở ẦU 1
hương 1 Ơ SỞ Ý UẬ VỀ H ẠT Ộ G BẢ VỆ QUYỀ ỢI GƯỜI Ộ G Ủ Ô G À 6
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa ác- ê nin, tư tưởng Hồ hí inh và ảng ta về vị trí, vai trò, chức năng của tổ chức ông đoàn 6
1.1.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về công đoàn và tæ chøc
công đoàn 6
1.1.2 T- t-ëng Hå ChÝ Minh vÒ công đoàn vµ tæ chøc công đoàn 10
1.1.3 Quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò,
chức năng của tổ chức Công đoàn trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước 12
1.1.4 Vị trí, vai trò và chức năng nhiệm vụ của Công đoàn trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước 15
1.2 ột số khái niệm có liên quan 20
1.2.1 Khái niệm c¸n bé công đoàn 20
1.2.2 Khái niệm người lao động, quyền, nghĩa vụ của người lao động 21
1.2.3 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người lao động 21
1.2.4 Khái niệm doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước 22
1.2.5 Khái niệm công đoàn cơ sở 22
1.2.6 Khái niệm Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở 23
1.3 ác nhân tố ảnh hưởng tới việc bảo vệ quyền lợi người lao động
của công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước 23
1.3.1 Nhân tố chủ quan 23
1.3.2 Nhân tố khách quan 23
hương 2 THỰ TRẠ G Ô G À BẢ VỆ QUYỀ ỢI GƯỜI Ộ G TẠI D H GHIỆP G ÀI HÀ ƯỚ
Ở TỈ H HÃ TĨ H 25
2.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của ông đoàn trên địa bàn
tỉnh Hà Tĩnh 25
2.1.1 Tình hình công nhân, lao động tỉnh Hà Tĩnh 25
2.1.2 Đại diện, bảo vệ quyền lợi của người lao động và các hoạt động
xã hội 27
Trang 62.2 Thực trạng công đoàn bảo vệ quyền lợi người lao động ở các
doanh nghiệp ngoài hà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 30
2.2.1 Công đoàn thảo luận các vấn đề về quan hệ lao động 30
2.2.2 Công đoàn tham gia kiểm tra, giám sát thi hành các quy định của
pháp luật lao động, các chính sách, chế độ liên quan đến người lao động 36
2.2.3 Công đoàn thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể 40
2.2.4 Công đoàn tham gia hoạt động quản lý, sử dụng lao động 43
2.2.5 Công đoàn tham gia đẩy mạnh công tác Bảo hộ lao động 48
2.2.6 Công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp lao động và đình công 51
2.2.7 Công đoàn tổ chức nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người
lao động 53
2.3 ánh giá thực trạng công đoàn bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp ngoài hà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 57
2.3.1 Về ưu điểm 58
2.3.2 Về hạn chế 64
2.3.3 Nguyên nhân 66
hương 3 PHƯƠ G HƯƠ G, GIẢI PHÁP Â G V I TRÒ Ủ Ô G À TR G VIỆ BẢ VỆ QUYỀ ỢI GƯỜI Ộ G TẠI D H GHIỆP G ÀI HÀ ƯỚ Ủ
Ô G À TỈ H HÀ TĨ H 68
3.1 Phương hướng, mục tiêu bảo vệ quyền lợi người lao động tại
doanh nghiệp ngoài nhà nước của công đoàn tỉnh Hà Tĩnh 68
3.1.1 Phương hướng 68
3.1.2 Mục tiêu 69
3.2 Giải pháp bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp
ngoài nhà nước của công đoàn tỉnh Hà Tĩnh 73
3.2.1 Về các quy định của pháp luật 73
3.2.2 Về tổ chức thực hiện 80
3.2.3 Khuyến nghị 85
KẾT UẬ 89
D H Ụ TÀI IỆU TH KHẢ 91
PHỤ Ụ 95
Trang 7D H Ụ Á HỮ VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm Y tế
Công nhân lao động
V Công nhân, viên chức, lao động
TVS -PCCN An toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ
KT-XH Kinh tế- xã hội
Trang 8Ở ẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển nhất là doanh nghiệp ngoài Nhà nước
Tình hình phát triển kinh tế nhiều thành phần trong những năm qua cho thấy, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế góp phần tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trong thời gian qua đã mang lại hiệu quả to lớn Đặc biệt là huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển đất nước, tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại tiên tiến, xây dựng kết cấu hạ tầng, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước,
có ý nghĩa then chốt trong giải quyết các vấn đề xã hội, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, đào tạo phát triển đồng đều giữa các vùng trong cả nước
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tác động sâu sắc làm chuyển dịch cơ cấu giai cấp công nhân nước ta Cơ cấu, chất lượng đội ngũ công nhân lao động ở nước ta ngày càng phát triển phong phú, đa dạng và đang thay đổi nhanh chóng Bên cạnh sự thay đổi mang tính tích cực đã có nhiều bất cập xẩy ra:
Về việc làm, đời sống công bằng xã hội, quan hệ chủ thợ v.v… nhiều chủ doanh nghiệp trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước đã không chấp hành, đã không làm đúng các quy định của pháp luật lao động, vi phạm quyền lợi của người lao động như việc làm, tiền lương, BHXH, BHYT, giao kết HĐLĐ, BHLĐ, ký kết TULĐTT, điều kiện làm việc cho người lao động Vì vậy đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong quan hệ lao động, tình trạng tranh chấp lao động và đình công của các công nhân lao động trong các doanh nghiệp ngày càng gia tăng và có nhiều diễn biến phức tạp, nhất là trong các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước
Công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động đã được quy định trong các văn bản pháp luật của nhà nước như Hiến pháp, Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn và các văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, trên thực tế trong
Trang 9những năm qua vai trò của tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước còn mờ nhạt Do đó, nâng cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến
bộ trong doanh nghiệp đang là vấn đề cần được quan tâm Xuất phát từ các lý do trên, qua tìm hiểu, nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức, hoạt động công đoàn, với trách nhiệm của một cán bộ chuyên trách Công đoàn, sau khi được học tập, nghiên cứu chương trình Cao học tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại
học Quốc gia Hà Nội, tôi chọn đề tài “Công đoàn bảo vệ quyền lợi người lao
động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế” (nghiên cứu thực tế ở tỉnh Hà Tĩnh) làm luận văn tốt nghiệp thạc
sỹ ngành Chính trị học của mình với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước Đồng thời nhằm bổ sung, nâng cao kiến thức về lý luận và thực tiễn cũng như hiệu quả công tác cho bản thân, góp phần đẩy mạnh phong trào công nhân, viên chức lao động và hoạt động công đoàn của tổ chức Công đoàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bảo vệ quyền lợi ích, hợp pháp, chính đáng của người lao động là một trong những chức năng cơ bản nhất của tổ chức công đoàn Xây dựng tổ chức công đoàn
và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài nhà nước là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp công đoàn quan tâm Thời gian qua, công tác này đã có những chuyển biến nhất định Tuy nhiên, do đây là một vấn đề mới đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu sắc nhằm làm rõ hơn cả về lý luận và thực tiễn Để đáp ứng được
yêu cầu đó đã có một số nghiên cứu vấn đề này như: “Một số vấn đề về tổ chức và
hoạt động công đoàn khu vực kinh tế ngoài quốc doanh” của Ban Tổ chức Tổng
Liên đoàn, xuất bản năm 1997; đề tài “Tổ chức và hoạt động công đoàn trong công
ty cổ phần” do Trường Đại học Công đoàn nghiên cứu, năm 2001; “Nâng cao hiệu
quả hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”
Trang 10Dương Văn Sao, (2003); “Hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh”, Trường Đại học Công đoàn Việt Nam tr.169, Nxb Lao động, Hà Nội
(2006); “Báo cáo kết quả khảo sát thực tế về quan hệ lao động trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”, Viện Công nhân và Công đoàn Việt Nam, Hà
Nội (2007); “Công đoàn với chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
lao động trong cơ chế thị trường ở Việt Nam”, Viện nghiên cứu phát triển Thành
phố Hồ Chí Minh, (2008)
Tuy vậy, các công trình, bài viết nói trên chỉ đi sâu nghiên cứu vai trò của công đoàn trong doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng, hoặc trong phạm vi hẹp hơn (giải quyết tranh chấp lao động…), hoặc chỉ tập trung vào việc tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp mà không đề cập đến thực trạng hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng như vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước Chính vì vậy
việc nghiên cứu một cách sâu sắc, có hệ thống và đầy đủ vấn đề “Công đoàn bảo vệ
quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế” (nghiên cứu thực tế ở tỉnh Hà Tĩnh) mang ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc
3 ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích vai trò của công đoàn trong bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua; làm rõ sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phong trào công nhân, viên chức, lao động và hoạt động Công đoàn trên địa bàn tỉnh, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trang 113.2 Nhiệm vụ Nghiên cứu
- Nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề lý luận và thực tiễn việc thực hiện vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Hà Tĩnh
- Đánh giá những ưu điểm, nhược điểm trong việc thực hiện vai trò bảo vệ quyền lợi người lao động của tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp ngoài nhà nước
ở tỉnh Hà Tĩnh
- Đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước
4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng về vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo về quyền lợi của người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Trên cơ
sở đó, kết hợp việc tham khảo tổng hợp các ý kiến của một số cán bộ công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, các nhà quản lý nhằm đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả, vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
4.2.1 Về nội dung: Vai trò của công đoàn trong doanh nghiệp ngoài nhà nước
có nội hàm rất rộng, trong điều kiện thời gian và tài liệu có hạn, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước
4.2.2 Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
4.2.3 Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2008 - 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ
của tổ chức Công đoàn
Trang 12- Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, điều tra Xã hội học, phương pháp quan sát được sử dụng phù hợp với từng mặt, từng lĩnh vực nghiên cứu của đề tài để thực hiện được nhiệm vụ
và đạt được mục đích mà luận văn đề ra
6 óng góp và ý nghĩa của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về lý lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công đoàn, vai trò của công đoàn và vận dụng những quan điểm lý luận trên vào nghiên cứu vai trò của công đoàn trong bảo vệ quyền lợi của người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước ở tỉnh Hà Tĩnh
- Phân tích thực trạng hoạt động của công đoàn trong doanh nghiệp ngoài nhà nước hiện nay Qua đó góp phần đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động, đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống chính trị, phát triển đất nước, địa phương theo hướng ổn định vững chắc
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho cán bộ công đoàn các cấp hoạt động, phục vụ công tác giảng dạy tại các trường đào tạo cán bộ công đoàn các cấp và những ai quan tâm đến hoạt động công đoàn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động bảo về quyền lợi người lao động của
Công đoàn
Chương 2: Thực trạng Công đoàn bảo vệ quyền lợi người lao động ở các
doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của công đoàn trong
việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp ngoài nhà nước của công đoàn tỉnh Hà Tĩnh
Trang 13hương 1
CƠ SỞ Ý UẬ VỀ H ẠT Ộ G BẢ VỆ QUYỀ ỢI
GƯỜI Ộ G Ủ Ô G À
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa ác - ênin, tư tưởng Hồ hí inh và
ảng ta về vị trí, vai trò, chức năng của tổ chức ông đoàn
1.1.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về công đoàn và tæ chøc công đoàn
C.Mác và Ph.Ănghen là lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới, là những người đầu tiên phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, chỉ ra đấu tranh giai cấp vừa là quy luật vừa là động lực phát triển của lịch sử xã hội loài người khi xã hội phân chia thành giai cấp Trong học thuyết của mình, các ông đã nhiều lần đề cập đến vai trò, vị trí của tổ chức Công đoàn, đến tính tất yếu phải thống nhất hoạt động Công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của chính Đảng của giai cấp vô sản
Khi bàn về Công đoàn, Mác-Ănghen viết: “Các công đoàn đã trở thành
trung tâm tổ chức đối với giai cấp công nhân Nếu công đoàn cần thiết cho công cuộc đấu tranh du kích giữa tư bản và lao động thì công đoàn lại càng quan trọng hơn với tư cách là lực lượng có tổ chức để tiêu diệt bản thân chế độ lao động làm thuê và quyền lực của chủ nghĩa tư bản Nhiệm vụ chính là giải phóng hoàn toàn giai cấp công nhân, các tổ chức công đoàn phải rèn luyện để hoạt động một cách
tự giác với tư cách là trung tâm tổ chức giai cấp công nhân Các công đoàn phải ủng hộ mọi phong trào xã hội và chính trị nhằm mục tiêu ấy Tự coi mình là đại biểu của toàn bộ giai cấp công nhân và chiến đấu cho giai cấp đó, các công đoàn phải thu hút vào hàng ngũ của mình cả những công nhân chưa đứng trong tổ chức Các công đoàn phải làm cho toàn thế giới tin rằng mình chiến đấu không phải vì những quyền lợi cá nhân hẹp hòi, mà là để giải phóng hàng triệu người bị
áp bức”[1, tr 236]
Phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa C.Mác trong điều kiện mới của lịch sử, V.I Lênin đã hoàn thiện lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản, học thuyết về Đảng và Nhà nước, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
Trang 14cộng sản, những vấn đề thuộc lý luận và thực tiễn hoạt động của công đoàn Cụ thể hoá những nguyên tắc về chiến lược, chiến thuật của phong trào công nhân của Đảng cách mạng, của giai cấp công nhân và các tổ chức của nó đã được C.Mác và Ăngghen
đề ra V.I Lênin đã phát triển và hoàn thiện học thuyết về công đoàn, chỉ rõ vị trí, vai trò, xác định chức năng nhiệm vụ, phương pháp hoạt động của công đoàn trong điều kiện chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ giữa công đoàn với Đảng của giai cấp công nhân, công đoàn với Nhà nước chuyên chính vô sản
V.I.Lênin là người kế tục và phát triển sáng tạo học thuyết Mác trong điều kiện lịch sử Chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản, bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Trên cơ sở những nguyên tắc về chiến lược, chiến thuật của phong trào công nhân và tổ chức của nó đã được Mác và Ănghen đề ra, Lênin đã phát triển
và hoàn chỉnh học thuyết về Công đoàn Người chỉ rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm
vụ, phương pháp hoạt động của Công đoàn trong điều kiện chủ nghĩa tư bản và xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Công đoàn với Đảng của giai cấp công nhân, Công đoàn với Nhà nước chuyên chính vô sản Trong diễn văn đọc tại phiên họp liên tịch của các đảng đoàn Đảng cộng sản Nga tại Đại hội VIII các Xô viết toàn Nga, ngày
30/12/1920 ở Matxcơva, Lênin đã chỉ rõ: “…công đoàn không phải là một tổ chức
nhà nước, không phải là tổ chức cưỡng bức, nó là một tổ chức giáo dục, thu hút, huấn luyện, nó là một trường học, trường học quản lý, trường học kinh tế, trường học chủ nghĩa cộng sản”[1, tr.249] Công đoàn có vai trò vô cùng quan trọng trong xã
hội, đặc biệt đối với xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Lênin khẳng định:
“Đối với giai cấp vô sản công nghiệp, công đoàn không phải chỉ là một tổ chức tất yếu về mặt lịch sử, mà còn là một tổ chức không thể không có được về mặt lịch sử; và trong điều kiện chuyên chính vô sản, tổ chức đó bao gồm hầu hết giai cấp vô sản công nghiệp”[1, tr.249] Theo Lênin: “Trong hệ thống chuyên chính vô sản, Công đoàn có vị trí ở giữa Đảng và chính quyền Nhà nước…Công đoàn tạo ra mối liên hệ giữa đội tiên phong với quần chúng; công đoàn lấy công tác hàng ngày để thuyết phục quần chúng, quần chúng của giai cấp duy nhất có khả năng đưa chúng ta từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản”[1, tr.250]
Trang 15Vấn đề vị trí của Công đoàn trong điều kiện chế độ xã hội chủ nghĩa là một vấn đề lý luận quan trọng nhất trong học thuyết của Lênin về Công đoàn Việc xác định đúng vị trí của Công đoàn gắn liền với vấn đề nhận thức sâu sắc về tính chất, vai trò của tổ chức Công đoàn trong hệ thống chính trị - xã hội, qua đó, xác định được nhiệm vụ của Công đoàn trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trong bài phát biểu cũng như các tác phẩm của V.I Lênin về Công đoàn sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga như: “Nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết” (1918 và 1920), “dự thảo đề cương về vai trò, nhiệm vụ của Công đoàn trong điều kiện thực hiện chính sách kinh tế mới” (1922), “thư gửi Đại hội V Công đoàn Nga” (1922)… V.I.Lênin cho rằng: “các công đoàn đã trở thành tổ chức của giai cấp lãnh đạo, thống trị nắm chính quyền của giai cấp, thực hiện nền chuyên chính của giai cấp, thực hiện cưỡng chế của Nhà nước” Vấn đề vị trí của công đoàn trong điều kiện chế độ xã hội chủ nghĩa là một trong những vấn đề lý luận quan trọng nhất trong học thuyết của V.I Lênin về công đoàn Việc xác định đúng đắn vị trí của công đoàn gắn liền với vấn đề nhận thức sâu sắc về vai trò của tổ chức công đoàn trong hệ thống chính trị xã hội, trên cơ sở đó xác định được nhiệm vụ của công đoàn trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Người cho rằng: Công đoàn theo vị trí của mình trong hệ thống chuyên chính vô sản đứng ở chỗ nếu như có thể nói được là: “Giữa Đảng và chính quyền Nhà nước”
Dưới chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, vị trí của công đoàn khác nhau căn bản: Sự khác nhau đó là do quan hệ sản xuất mới, do vị trí mới của giai cấp công nhân trong nền sản xuất xã hội quyết định
Dưới chủ nghĩa xã hội, với tư cách là một hình thức tổ chức của giai cấp công nhân, Công đoàn đã trở thành một thành viên quan trọng trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
Khi nói về vị trí của Công đoàn trong hệ thống chính trị - xã hội của thời kỳ
quá độ lên Chủ nghĩa xã hội V.I Lênin cho rằng: “trong hệ thống chuyên chính vô
sản Công đoàn có một vị trí ở giữa Đảng và chính quyền Nhà nước” và là chỗ dựa
vững chắc của chính quyền và Nhà nước Nhận thức đúng đắn về vị trí của công đoàn là một trong những nhân tố quan trọng làm cho toàn bộ hệ thống chuyên chính
Trang 16vô sản được bền vững Vì vậy, vị trí, vai trò của công đoàn cũng là vấn đề đấu tranh gay gắt về tư tưởng Nhận thức đúng đắn về vị trí công đoàn phải gắn liền với nhận thức về chuyên chính vô sản Chính vì lẽ đó mà kẻ thù của Chủ nghĩa xã hội, muốn phá hoại hệ thống chính trị xã hội thì đồng thời tìm mọi cách thay thế vị trí của công đoàn trong hệ thống chính trị xã hội đó và muốn tách công đoàn ra khỏi hệ thống chuyên chính vô sản Trước những diễn biến phức tạp về chính trị, kinh tế -
xã hội, trước những đòi hỏi của công cuộc cải cách ở một số nước xã hội Chủ nghĩa trên toàn thế giới, hàng loạt những vấn đề liên quan đến lý luận, nhận thức về công đoàn, xung quanh vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công đoàn trong chế độ
xã hội Chủ nghĩa được đặt ra Muốn thành công, việc quán triệt học thuyết Mác - Lênin về công đoàn có ý nghĩa to lớn Công đoàn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng, không có nghĩa là công đoàn không còn vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị - xã hội, không còn tính độc lập về mặt tổ chức, quan hệ giữa công đoàn và Đảng Cộng sản là quan hệ qua lại dựa trên nguyên tắc 2 mặt: Một mặt thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công đoàn, mặt khác thể hiện vai trò của công đoàn trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng
Về phương pháp luận, xem xét vị trí công đoàn trong xã hội xã hội chủ
nghĩa, V.I Lênin đã chỉ ra rằng: Công đoàn đã trở thành “Một tổ chức của giai cấp
đang cầm quyền, đang thống trị, đang chấp chính, là tổ chức của giai cấp đang thực hiện chuyên chính, giai cấp đang thực sự cưỡng bức Nhà nước”[22, tr.249]
nhưng do bản chất xã hội của công đoàn nên đã xác định địa vị đặc thù của tổ chức, tức vị trí riêng của tổ chức công đoàn so với các tổ chức khác trong hệ thống chính
trị xã hội Tuy là một tổ chức đang cầm quyền nhưng “Công đoàn không phải là
một tổ chức Nhà nước, không phải là một tổ chức cưỡng bức, nó là một tổ chức giáo dục, thu hút, huấn luyện, nó là một trường học, trường học quản lý, trường học quản lý kinh tế…” V.I Lênin cũng coi vai trò của công đoàn và cả vấn đề chức
năng của công đoàn “Một trong những vấn đề lý luận cơ bản nhất, vị trí công đoàn Việt Nam trong chặng đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được xác định từ Đại hội lần thứ III, IV, V và đã được phát triển ở các Đại hội tiếp theo của công đoàn Việt Nam”
Trang 171.1.2 T- t-ëng Hå ChÝ Minh vÒ công đoàn vµ tæ chøc công đoàn
Từ quan điểm tư tưởng trên của chủ nghĩa Mác-Lênin, kết hợp những tinh hoa trong nghệ thuật dùng người của các nước Phương Đông và của cha ông chúng
ta trong suốt bề dày lịch sử, trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh cũng là người đặt nền móng lý luận về tư tưởng và tổ chức cho Công đoàn Việt Nam Năm 1925, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã nói đến
sự cần thiết phải thành lập Công hội cách mạng Người chỉ rõ vai trò, nhiệm vụ của
tổ chức này: “Tổ chức Công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có
cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân; năm là giúp
cho quốc dân, giúp cho thế giới”[21, tr.234]
Để xúc tiến cho việc thành lập tổ chức Công đoàn ở nước ta, năm 1926, trên
báo Thanh niên, Hồ Chí Minh đã nói đến hai cách tổ chức Công hội, đó là: “…chức
nghiệp tổ chức và sản nghiệp tổ chức Chức nghiệp tổ chức là: nghề nghiệp nào tổ chức theo nghề nghiệp ấy… sản nghiệp tổ chức là: không theo nghề nghiệp mà theo những người làm ở chỗ nào thì tổ chức ở chỗ ấy” Người thường nhắc nhở: “Mục đích của Công đoàn là phải cải thiện dần đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của giai cấp công nhân”[20, tr.52] Trong Sắc lệnh số 29 - SL ngày
12/3/1947 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký, tại Điều 151 ghi: “Công đoàn là những đoàn thể lập ra, mục đích để bảo vệ quyền lợi của công nhân về phương diện nghề nghiệp”
Khi nói về nhiệm vụ của Công đoàn, Người nói: “Công đoàn phải làm cho
công nhân hiểu rõ trách nhiệm, nâng cao năng suất lao động là nguồn của cải to lớn nhất; phải làm cho họ hiểu lỗ, lãi của đơn vị, việc sử dụng công suất máy móc, việc tiêu hao nguyên liệu, vật tư… Công đoàn phải giáo dục công nhân có tinh thần kiên quyết đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc và phát triển kinh tế, đó
là cái lớn; đồng thời cũng phải kiên quyết đấu tranh, phê bình người làm sai, dù
ai làm sai cũng thẳng thắn phê bình, giúp đỡ nhau sửa chữa cho tốt”[21, tr.234]
Theo Người, “Công đoàn phải bảo vệ cho công nhân có quyền thật sự trong xí
nghiệp về sản xuất, đời sống”[21, tr.234] Ngày 18/7/1969, khi đến thăm và làm
Trang 18việc với lãnh đạo Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ công đoàn cần phải mạnh dạn đưa những công nhân trẻ vào cương vị lãnh đạo, việc đào tạo, bồi dưỡng lực lượng
kế cận là rất cần thiết… Người nói: “Phải làm cho họ vừa hồng, vừa chuyên, đó là
nhiệm vụ trước mắt và cũng là chiến lược lâu dài của cán bộ lãnh đạo các cấp công đoàn”[19, tr.42]
Khi bàn về vai trò của cán bộ và tổ chức công đoàn, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tổ chức công đoàn Sự ra đời của tổ chức Công đoàn Việt Nam gắn liền với tên tuổi và quá trình hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc Ngay từ những năm tháng xa tổ quốc, hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Người
đã quan tâm đến việc thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam mà tiền thân là Công
hội đỏ Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” xuất bản năm 1927, Người viết “Tổ
chức công hội trước hết là đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang các sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là
để giúp cho quốc dân giúp chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa” [20, tr.175]
Những lý luận về thành lập tổ chức công đoàn cách mạng của lãnh đạo Nguyễn Ái Quốc, được các hội viên Thanh niên cách mạng, một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam truyền bá rộng rãi trong phong trào công nhân, nhiều
tổ chức công hội được thành lập Đặc biệt, từ năm 1928 Việt Nam thanh niên cách mạng phát động phong trào “vô sản hoá” thì phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam càng sôi nổi, đã thúc đẩy sự phát triển của tổ chức công hội mới lên một bước mới
Với nhận thức về vai tr ò quan trọng đặc biệt của công tác cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng và tổ chức công đoàn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng, đào tạo và rèn luyện được đội ngũ cán bộ công đoàn, đầy bản lĩnh chính trị, được trang bị bằng học thuyết Mác-Lênin, suốt đời nguyện hy sinh, phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân và lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa Đội ngũ cán bộ dày dạn kinh nghiệm và bản lĩnh đó đã được tôi luyện và thử thách trong
gần một thế kỷ đấu tranh khốc liệt của cuộc cách mạng
Trang 191.1.3 Quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò, chức năng của tổ chức Công đoàn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện Trong suốt chặng đường lịch sử hơn
80 năm qua, Đảng luôn giữ vững bản chất, lập trường của giai cấp công nhân, coi giai cấp công nhân là lực lượng nòng cốt của liên minh công - nông - trí thức, đây là vấn đề chiến lược, là điều kiện đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong mọi thời kỳ lịch sử
Đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động công nhân và tăng cường sức mạnh cho tổ chức công hội đỏ, Ban Chấp hành lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng quyết định triệu tập Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ miền Bắc Việt Nam vào ngày 28/7/1929 Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh - Uỷ viên Ban Chấp hành lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng, phụ trách công tác vận động công nhân của Đảng đã trình bày báo cáo chung trước Đại hội, trong đó nhấn mạnh đặc điểm, tình hình phong trào công nhân, công hội trong giai đoạn sau đó Từ Đại hội này, Tổng Công hội đỏ miền Bắc Việt Nam, một tổ chức được Đảng Cộng sản thành lập đã trở thành
tổ chức công đoàn cách mạng, tiêu biểu của giai cấp công nhân Việt Nam Nó là kết quả tất yếu của phong trào công nhân vận động với sự truyền bá lý luận công đoàn cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các Đảng viên Đảng Cộng sản vào
phong trào công đoàn nước ta Công đoàn Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam suốt chặng đường hơn 85 năm qua, đã có những đóng góp to lớn vào thành công của các giai đoạn cách mạng Việt Nam, luôn tin tưởng và ủng
hộ đường lối của Đảng, thể hiện sự giác ngộ về lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, một lòng đi theo Đảng
Công đoàn Việt Nam đã ngày càng phát triển về số lượng, thu hút đông đảo
công nhân lao động vào tổ chức công đoàn
Cùng với việc quan tâm đến tổ chức công đoàn, ngay từ khi mới ra đời, Đảng
ta dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ Tịch đã nhận thức đúng về vị trí và tầm quan trọng
Trang 20của việc xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng, coi "cán bộ là cái dây truyền của bộ
máy Nếu dây truyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt”
Từ năm 1986, Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo nước Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta bước vào thời kỳ phát triển theo hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá; chủ động tham gia hội nhập quốc tế và khu vực, giữ vững nền độc lập dân tộc, tiếp tục xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã chỉ rõ: “Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, củng cố và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng, nhất là Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân tập thể… Đối với nội dung và phương pháp hoạt động của các đoàn thể quần chúng hướng mạnh về cơ sở, thu hút đông đảo nhân dân vào tham gia các hoạt động phong trào cách mạng Xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể và tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa, củng cố Liên minh công nông, chăm lo giáo dục thế hệ trẻ, tăng cường khối Đại đoàn kết toàn dân tộc”[4, tr.225, 226]
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước bước vào thời
kỳ đổi mới, nhất là đổi mới về kinh tế Từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với một thành phần kinh tế, chuyển sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế Đây là bước chuyển đổi căn bản vô cùng quan trọng đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là các thành viên trong hệ thống chính
trị, trong đó có tổ chức Công đoàn mà đại diện là: “Giai cấp công nhân Việt Nam
thông qua Đảng là đội tiên phong của mình đã lãnh đạo cách mạng nước ta hơn nửa thế kỷ qua, ngày nay lại đang đi đầu trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá”
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định
mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới là: “Phát triển về
số lượng, chất lượng và tổ chức, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
Trang 21hiện đại hoá đất nước Giải quyết việc làm, giảm tối đa số công nhân thiếu việc làm và thất nghiệp Thực hiện tốt chính sách và pháp luật về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hộ lao động, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ đối với công nhân; chính sách ưu đãi nhà ở đối với công nhân bậc cao Xây dựng tổ chức, phát triển đoàn viên công đoàn, nghiệp đoàn đều khắp ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân và những người lao động, chú trọng công nhân làm việc ở các khu công nghiệp và đô thị lớn Chăm lo đào tạo cán bộ và kết nạp đảng viên từ những công nhân ưu tú”[15, tr.11]
Trải qua nhiều kỳ Đại hội từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Đảng
ta luôn nhất quán đề cao vai trò, vị trí của tổ chức Công đoàn và giai cấp công nhân; coi việc xây dựng giai cấp công nhân là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị mà trước hết thuộc về tổ chức Công đoàn Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá X đã ra Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/1/2008 về “Tiếp tục
xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Quan điểm trên một lần nữa được khẳng định tại Nghị quyết Đại hội
lần thứ XI của Đảng: “Phát huy vai trò của giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo
cách mạng” và tiếp tục “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị”[17, tr.13]
Triển khai các quan điểm của Đảng về vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc của Công đoàn Việt Nam lần thứ V, VI, VII, VIII, IX, X, XI đều xác định: Công đoàn Việt Nam có chức năng to lớn là tham gia công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, động viên công nhân lao động và mọi tầng lớp nhân dân lao động xây dựng và bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa, thực chất là bảo vệ tận gốc quyền lợi của giai cấp công nhân, thông qua việc tổ chức các phong trào hành động cách mạng của quần chúng, tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người lao động Công đoàn còn có chức năng giáo dục cho công nhân lao động về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước,
Trang 22nâng cao trình độ giác ngộ giai cấp, nhận thức về khoa học công nghệ, các yếu tố của nền kinh tế tri thức, động viên công nhân, lao động ra sức thi đua học tập nâng cao trình độ văn hoá, trình độ tay nghề, ngoại ngữ để đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp cách mạng mới
1.1.4 Vị trí, vai trò và chức năng nhiệm vụ của Công đoàn trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước
* Vị trí của Công đoàn Việt Nam
Vị trí của Công đoàn là chỗ đứng của Công đoàn trong hệ thống chính trị, được xác định thông qua mối liên hệ giữa Công đoàn với các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị và trong xã hội
Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và trong bối cảnh xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vị trí của Công đoàn Việt Nam được xác định từ Đại hội III
và đã được phát triển ở Đại hội VI - Công đoàn Việt Nam, cho đến nay: Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị làm cầu nối giữa Đảng với quần chúng; là người cộng tác đắc lực, chỗ dựa của chính quyền Nhà nước; là đại diện hợp pháp của giai cấp công nhân, của người lao động Vị trí của Công đoàn được thể hiện thông qua mối quan hệ chặt chẽ giữa Công đoàn với các tổ chức trong hệ thống chính trị, với công nhân, viên chức, lao động
- Quan hệ với Đảng: Đảng lãnh đạo Công đoàn bằng đường lối, nghị quyết, phương hướng và thông qua các đảng viên của Đảng; đồng thời, Đảng tôn trọng tính độc lập tương đối về mặt tổ chức của Công đoàn Công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, là chỗ dựa vững chắc của Đảng và là sợi dây nối liền giữa Đảng với quần chúng Hạt nhân nòng cốt của tổ chức Công đoàn là giai cấp công nhân, đây là lực lượng đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử của phát triển thời đại
Công đoàn là tổ chức tuyên truyền, phổ biến đường lối, nghị quyết của Đảng đến công nhân, viên chức, lao động; có trách nhiệm động viên công nhân, viên chức, lao động thực hiện đường lối của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống của người lao động
Trang 23- Quan hệ với Nhà nước: Công đoàn là người cộng tác đắc lực của Nhà nước Công đoàn với Nhà nước là quan hệ thống nhất, cộng tác, giúp đỡ lẫn nhau Nhà nước không can thiệp vào công việc nội bộ của tổ chức Công đoàn, luôn tạo điều kiện vật chất và ban hành các văn bản pháp quy đảm bảo về mặt pháp lý cho Công đoàn hoạt động Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn góp phần tham gia xây dựng Nhà nước Công đoàn và Nhà nước có cùng mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
- Quan hệ với tổ chức CT-XH khác: Công đoàn là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng với các tổ chức CT-XH, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hợp tác, đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ chung dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Quan hệ với Giới chủ: Là mối quan hệ đại diện của người lao động với người
sử dụng lao động, hai bên bình đẳng, tôn trọng nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh nhằm giải quyết hài hoà về lợi ích của mỗi bên trong quan hệ lao động Mục đích, nội dung hoạt động trong mối quan hệ giữa Công đoàn với người sử dụng lao động là nhằm làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNLĐ; chung tay xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa,
ổn định, tiến bộ trong các doanh nghiệp
Vị trí của công đoàn trong doanh nghiệp ngoài nhà nước:
Công đoàn là tổ chức chính trị, xã hội của công nhân và người lao động trong doanh nghiệp, có vị trí là người đại diện hợp pháp duy nhất cho người lao động trong quan hệ với giới chủ (người sử dụng lao động) Trong mối quan hệ đó, công đoàn và chủ doanh nghiệp đảm bảo sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, vừa hợp tác, vừa đấu tranh nhằm giải quyết hài hoà và lợi ích của mỗi bên trong quan hệ lao động Nội dung và mục đích của mối quan hệ giữa công đoàn và người sử dụng lao động là nhằm làm cho doanh nghiệp phát triển, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của công nhân lao động Công đoàn có trách nhiệm phối hợp với người sử dụng lao động vận động đoàn viên, công nhân lao động sản xuất với năng suất với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao nhất…đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của
Trang 24doanh nghiệp; tạo cơ sở ổn định việc làm, cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao
thu nhập cho người lao động
* Vai trò của Công đoàn Việt Nam
Trong suốt quá trình phát triển của cách mạng, Công đoàn luôn có vai trò tích cực tác động đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vai trò “trường học” của Công đoàn vẫn được khẳng định và nội dung của nó ngày càng được mở rộng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công đoàn Việt Nam vẫn thể hiện rõ vai trò của mình đối với xã hội thông qua hệ thống tổ chức từ Trung ương đến địa phương, ngành, cơ sở, thông qua lực lượng đoàn viên lao động và đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng
Khi đánh giá vai trò của công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước phải dựa trên cơ sở vai trò của Công đoàn Việt Nam, được thể hiện trên các lĩnh sau:
- Trong lĩnh vực kinh tế: Công đoàn vận động công nhân, viên chức, lao động
tham gia tích cực việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; hoàn thiện cơ cấu và các chính sách kinh tế Vận động công nhân, viên chức, lao động nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, giữ vững thương hiệu sản phẩm trên thị trường; tham gia thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội Một mặt công đoàn đẩy mạnh hoạt động tại các doanh nghiệp; mặt khác công đoàn hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển đúng hướng
- Trong lĩnh vực chính trị: Là thành viên trong hệ thống chính trị, dưới sự
lãnh đạo cảu Đảng Cộng sản Việt Nam, công đoàn có vai trò xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, củng cố và giữ vững bộ máy nhà nước, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, xây dựng Nhà nước thật sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, góp phần bảo đảm sự ổn định chính trị
Trang 25- Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn tích cực xây dựng giai cấp công nhân vững
mạnh, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ học vấn, tay nghề, khoa học công nghệ, trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; góp phần củng cố khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức, trở thành nòng cốt khối Đại đoàn kết toàn dân tộc và là cơ sở xã hội vững chắc, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước Công đoàn tuyên truyền, giáo dục người lao động chống tiêu cực và các tệ nạn xã hội, xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, kỷ năng nghề nghiệp cho người lao động
- Trong lĩnh vực văn hoá, tư tưởng: Công đoàn giáo dục công nhân, lao động
nâng cao lập trường giai cấp công nhân, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng; phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại; giáo dục lối sống mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; phòng chống các tệ nạn xã hội, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, học vấn; quan tâm, chăm lo nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho CNLĐ
- Vai trò của công đoàn trong cơ chế ba bên: Với vai trò là người đại diện và
bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, có trách nhiệm tham gia với nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước và đội ngũ công nhân, lao động trong khu vực này có xu hướng giảm dần; công nhân, lao động trong các thành phần kinh
tế khu vực ngoài nhà nước ngày càng tăng Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng chưa phản ánh được đầy đủ sự lớn mạnh của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Qua thực tế hiện nay cho thấy, một bộ phận không nhỏ công nhân, lao động trình độ giác ngộ về giai cấp còn hạn chế, ý thức và hiểu biết về pháp luật chưa cao, dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, kỷ luật lao động còn nhiều Thực trạng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, thu nhập của người lao động, thậm chí trở thành nguyên nhân của các vụ xung đột làm nãy sinh mâu thuẫn và các vụ
Trang 26tranh chấp lao động, làm ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung
Trong cơ chế thị trường, do cạnh tranh về kinh tế, người sử dụng lao động dù
vô tình hay cố tình, còn vi phạm lợi ích chính đáng của người lao động Công đoàn với tư cách là người đại diện cho người lao động có trách nhiệm tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động Khi quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động được bảo vệ, người lao động sẽ tự nguyện, nhiệt tình hăng hái tham gia hoạt động công đoàn, làm cho vai trò công đoàn ngày càng có ảnh hưởng tích cực hơn đối với doanh nghiệp nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung
* Chức năng của Công đoàn Việt Nam
Chức năng của Công đoàn luôn gắn chặt với các mặt hoạt động của tổ chức Công đoàn và người lao động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động Do đó chức năng của Công đoàn mang tính khách quan, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn và có thể thay đổi cho phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội
Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, Công đoàn tập hợp CNLĐ đấu tranh chống lại sự
áp bức bóc lột của giai cấp tư sản để bảo vệ lợi ích của CNLĐ Công đoàn không thể không tập hợp, vận động, giáo dục họ để tiến hành cuộc đấu tranh, vì vậy, giáo dục đã phát triển thành chức năng của Công đoàn
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, chức năng của công đoàn vừa có sự kế thừa phát triển, đồng thời có sự thay đổi do sự thay đổi vị trí, vai trò của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn trong xã hội Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Công đoàn có chức năng đại diện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động Có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần của người lao động Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị; tổ chức quản lý kinh tế, xã hội, quản lý Nhà nước Trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật Đồng thời, Công đoàn
Trang 27có trách nhiệm tổ chức giáo dục, động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Chức năng của Công đoàn là một chỉnh thể, một hệ thống đồng bộ, trong đó chức năng bảo vệ lợi ích là chức năng trung tâm, là mục tiêu hoạt động của Công đoàn; chức năng tham gia quản lý là phương tiện; chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần để đạt được mục tiêu
Từ chức năng chung của tổ chức công đoàn được pháp luật quy định, công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước cần thực hiện các chức năng một cách sáng tạo với nội dung, phương thức phù hợp để công đoàn cơ sở thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy của người lao động
Công đoàn cơ sở là một bộ phận quan trọng nằm trong hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam Thông qua hoạt động của công đoàn cơ sở, mọi chủ trương, biện pháp của công đoàn Việt Nam đi vào thực tiễn, gắn liền với đời sống của công nhân, lao động Việc nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá vai trò của các công đoàn cơ
sở trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước là góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề hoạt động của công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
1.2 Một số khái niệm có liên quan
1.2.1 Khái niệm c¸n bé công đoàn
- C¸n bé
Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức
- Cán bộ công đoàn : Là người đảm nhiệm các chức danh từ tổ phó công
đoàn trở lên thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn; được các cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định, công nhận bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của tổ chức công đoàn
Trang 28Cán bộ công đoàn gồm cán bộ công đoàn chuyên trách và cán bộ công đoàn không chuyên trách
+ Cán bộ công đoàn chuyên trách là người đảm nhiệm công việc thường xuyên trong tổ chức công đoàn, được đại hội, hội nghị công đoàn các cấp bầu ra hoặc được cấp có thẩm quyền công đoàn bổ nhiệm chỉ định
+ Cán bộ công đoàn không chuyên trách là người làm việc kiêm nhiệm, do đoàn viên tín nhiệm bầu vào các chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên và được cấp
có thẩm quyền của công đoàn công nhận hoặc chỉ định
1.2.2 Khái niệm người lao động, quyền của người lao động
Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc
theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động (theo Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2012)
* Người lao động có các quyền sau đây:
a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình
độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;
b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;
c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;
d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; đ) Đình công
1.2.3 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người lao động
Là bảo vệ quyền và nghĩa vụ chính đáng, hợp pháp của người lao động như: hướng dẫn, tư vấn cho người lao động về quyền, nghĩa vụ của người lao động khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao
Trang 29động; đại diện cho tập thể người lao động thương lượng, ký kết và giám sát thực hiện thõa ước lao động tập thể; xây dựng và giám sát việc thực hiện thang bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng và nội quy lao động Kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và Công đoàn cấp trên xem xét, giải quyết khi quyền, lợi ích của tập thể lao động hoặc người lao động bị xâm phạm đồng thời tiến hành thương lượng với người sử dụng lao động và thực hiện
giải quyết tranh chấp lao động tập thể theo quy định của pháp luật
1.2.4 Khái niệm doanh nghiệp và doanh nghiệp ngoài nhà nước
Doanh nghiệp theo định nghĩa chung nhất của Luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 (Luật Doanh nghiệp 2005) “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thể tổ chức theo mô hình khác nhau phù hợp với Luật Doanh nghiệp bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên trỏ lên”, công ty cổ phần, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân, nhóm công ty (công ty mẹ, công ty con, tập đoàn kinh tế và một số
mô hình khác)
Doanh nghiệp được chia làm hai loại, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung vào khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước
Doanh nghiệp ngoài nhà nước được hiểu là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, liên kết (bao gồm cả doanh nghiệp được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần mà nhà nước không nắm chi phối vốn điều lệ), công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
1.2.5 Khái niệm công đoàn cơ sở
Công đoàn cơ sở là tổ chức cơ sở của Công đoàn, tập hợp đoàn viên công
đoàn trong một hoặc một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp
trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam
Trang 301.2.6 Khái niệm Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở
Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở là một cấp trong hệ thống tổ chức công
đoàn, trực tiếp thực hiện quyền công nhận công đoàn cơ sở, chỉ đạo hoạt động công đoàn cơ sở và liên kết công đoàn cơ sở theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam
1.3 ác nhân tố ảnh hưởng tới việc bảo vệ quyền lợi người lao động của công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước
vệ quyền lợi của người lao động Tuy nhiên, chính sách mức lương tối thiểu là con dao hai lưỡi, nó có thể kích thích tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, ngược lại nó có thể gây khủng hoảng kinh tế và hạn chế đầu tư nước ngoài Vì vậy, tăng hay giảm mức lương tối thiểu, vào thời điểm nào rất quan trọng Trong những
Trang 31năm qua, để thu hút đầu tư nước ngoài, Chính phủ đã áp dụng mức lương tối thiểu quá thấp so với mặt bằng chung khu vực và giá cả thị trường Sự điều chỉnh của Chính phủ thường không theo kịp so với tốc độ gia tăng chỉ số tiêu dùng Lương tối thiểu tăng, nhưng thu nhập thực tế của công nhân lại giảm Các nhà đầu tư lợi dụng chính sách lương tối thiểu thấp để bóc lột công nhân là điều hiển nhiên Giá trị thặng dư thu được dựa trên nền tảng bóc lột giai cấp công nhân là bản chất không bao giờ thay đổi của chủ nghĩa tư bản Tiếp đó, nhiều nơi, chính quyền địa phương buông lỏng quản lý, làm ngơ trước các hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng của công nhân, lao động Ở nhiều địa phương, nhiều doanh nghiệp còn trốn tránh nghĩa
vụ đóng bảo hiểm, đối xử hà khắc, tuỳ tiện sa thải công nhân…
Hai là, vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, vai trò quản lý, điều hành của chính quyền còn nhiều tồn tại, thiếu sót Vai trò của cấp uỷ đảng ở địa phương và
trong doanh nghiệp ở nhiều nơi còn mờ nhạt Cấp uỷ đảng, các ngành chức năng và chính quyền địa phương ở một số nơi không thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết của Đảng về xây dựng đội ngũ công nhân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hoặc có thực hiện, nhưng thiếu thường xuyên và nặng về hình thức Chưa chú trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước Ở nhiều doanh nghiệp ngoài nhà nước, đảng viên không có nơi sinh hoạt, vai trò lãnh đạo của Đảng hầu như không có Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho công nhân bị xem nhẹ
Hệ thống chính sách, pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung, không theo kịp tình hình Đặc biệt là pháp luật về lao động chưa có chế tài đủ mạnh xử lý các trường hợp chủ doanh nghiệp cố tình trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động, không ký hợp đồng lao động và các hành vi vi phạm pháp luật khác về sử dụng lao động Chính quyền và các ngành chức năng ở một số địa phương buông lỏng quản lý, thiếu sự chăm lo đến đời sống, điều kiện làm việc của công nhân, để chủ doanh nghiệp lấn lướt, xâm phạm lợi ích chính đáng của người lao động, vi phạm pháp luật mà không giải quyết, xử lý
Trang 32hương 2 THỰ TRẠ G Ô G À BẢ VỆ QUYỀ ỢI GƯỜI Ộ G TẠI D H GHIỆP G ÀI HÀ ƯỚ Ở TỈ H HÀ TĨ H
2.1 Khái quát về tổ chức và hoạt động của ông đoàn trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh
2.1.1 Tình hình công nhân, lao động tỉnh Hà Tĩnh
2.1.1.1 Về số lượng, cơ cấu và chất lượng CNLĐ, đoàn viên công đoàn
Do tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chính sách khuyến khích đối với dự án đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh, nhiều doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất hoặc thành lập mới nên số lượng công nhân lao động tăng nhanh, nhất là lực lượng lao động công nhân, viên chức, lao động trẻ Cơ cấu đội ngũ công nhân, lao động chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ trong các ngành công nghiệp, dịch vụ
và trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước, giảm tỷ lệ trong các ngành nông, lâm nghiệp Năm năm qua, đội ngũ công nhân, lao động của tỉnh có bước chuyển biến tích cực, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã
có những đóng góp trực tiếp, to lớn vào sự phát triển KT-XH của tỉnh
Đến 31/12/2013, tổng số công nhân, viên chức, lao động có 101.510 người, tăng 23.593 người so với năm 2008 Trong đó khu vực hành chính sự nghiệp 40.500 người; khu vực sản xuất, kinh doanh 61.010 người Tổng số đoàn viên công đoàn toàn tỉnh có 69.474 người, chiếm tỷ lệ 68,5% so với CNVCLĐ, tăng 8.024 người so với năm 2008, trong đó đoàn viên thuộc LĐLĐ tỉnh quản lý là 61.274 người, số đoàn viên thuộc Công đoàn ngành Trung ương quản lý là 8.200 người; hệ thống tổ chức Công đoàn Hà Tĩnh có 32 công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở (cả công đoàn Giáo dục huyện, thị xã, thành phố), tổng số CĐCS là 1.592 đơn vị (trong đó khu vực nhà nước 1.338 đơn vị, khu vực ngoài nhà nước 254 đơn vị) Trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của công nhân, viên chức, lao động, đoàn viên
công đoàn ngày càng được nâng lên (đoàn viên có trình độ trên đại học 2,2%; đại
học, cao đẳng 57,7%; trung cấp 20,2%; sơ cấp và công nhân kỹ thuật 13,6%; chưa
Trang 33qua đào tạo 5,9%) [23, tr.7], trình độ mọi mặt của đội ngũ công nhân, viên chức,
lao động từng bước được nâng lên đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy vậy, so với yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội thì chất lượng đội ngũ công nhân, viên chức, lao động của tỉnh còn hạn chế,
có chỗ còn bất cập, thiếu cán bộ quản lý giỏi, công nhân kỹ thuật lành nghề, thợ bậc cao, trình độ ngoại ngữ, tin học tác phong lao động công nghiệp chưa trở thành nề nếp của đại bộ phận công nhân lao động
2.1.1.2 Việc làm, tiền lương, thu nhập và đời sống
Cùng với sự phát triển nhanh về số lượng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, số lao động có việc làm ngày càng tăng, đến tháng 31/12/2013, toàn tỉnh có 3.519 doanh nghiệp (trong đó có 254 doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn với 12.500 đoàn viên); bình quân hàng năm có trên 01 vạn lao động được giải quyết việc làm trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh Tuy vậy, mấy năm gần đây
do khó khăn chung của nền kinh tế, hiện tại có 19.070 lao động thiếu việc làm, hoặc việc làm không ổn định ở các doanh nghiệp, nên vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động vẫn là yêu cầu bức thiết Tiền lương của CNLĐ có tăng do Nhà nước thực hiện chính sách cải cách tiền lương và điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng, nhưng do giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng, nên tiền lương vẫn chưa đủ chi cho nhu cầu thiết yếu để đảm bảo cuộc sống; tiền lương và thu nhập của người lao động
ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước còn thấp, chỉ đạt bình quân 2,7 triệu đồng/người/tháng (bình quân chung cả nước 3,5 triệu đồng/người/tháng) nên đời sống gặp nhiều khó khăn Về nhà ở, đất ở, mặc dầu Chính phủ, tỉnh đã có nhiều chủ trương, chính sách và các giải pháp nhưng vấn đề nhà ở, đất ở đang là nổi băn khoăn của công nhân, lao động [23, tr.8] Qua khảo sát của các cấp công đoàn, hiện tại toàn tỉnh có 16.175 CNVCLĐ có nhu cầu cần giải quyết về nhà ở, đất ở
2.1.1.3 Tình hình thực hiện pháp luật lao động
Tình hình việc làm của CNVCLĐ tỉnh Hà Tĩnh tương đối ổn định, số CNVCLĐ phải nghỉ việc do thiếu việc làm thường xuyên không lớn Hàng năm, có
từ 1,5 - 1,7% so với tổng số CNLĐ được khảo sát thiếu việc làm
Trang 34Điều kiện làm việc của người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước được quan tâm cải thiện Ở một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, khu vực kinh tế
tư nhân có quy mô vừa và nhỏ, một bộ phận người lao động phải làm việc trong môi trường độc hại và mất an toàn Tỷ lệ công nhân được khám sức khoẻ định kỳ, huấn luyện an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) theo quy định còn thấp
Tình trạng người sử dụng lao động vi phạm các quy định pháp luật lao động
về hợp đồng lao động, tiền lương, tiền thưởng, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn xảy ra, nhất là ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng chế tài xử lý việc thực thi pháp luật chưa đủ mạnh nên những quyền lợi thiết thân của người lao động còn bị xâm phạm
Tình hình tranh chấp lao động dẫn đến đình công chưa diễn ra nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ Nguyên nhân chủ yếu do người sử dụng lao động không thực hiện đúng các quy định của pháp luật Lao động và Luật Công đoàn, nhất là các quy định
về hợp đồng lao động, tiền công, tiền lương, Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y
tế (BHYT), thời giờ và điều kiện lao động không đảm bảo, thu nhập thấp Công tác quản lý nhà nước về lao động còn nhiều bất cập, kém hiệu lực Công đoàn cơ sở ở các doanh nghiệp xảy ra đình công chưa thể hiện được vai trò của mình Nhận thức của người lao động về pháp luật và Công đoàn, về tác phong công nghiệp còn nhiều hạn chế Việc thực hiện pháp luật lao động nhìn chung được đảm bảo, ở khu vực hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước thực hiện khá tốt Tuy vậy, ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước, tình trạng người sử dụng lao động vi phạm pháp luật lao động còn xảy ra; một số doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với người lao động như: Giao kết hợp đồng lao động, ký kết thoả ước lao động tập thể, tiền lương, đóng nộp BHXH, BHYT, Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), ATVSLĐ…; trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước mới có 48,4% CNLĐ được
đóng BHXH (Nguồn: Liên đoàn Lao động tỉnh Hà Tĩnh)
2.1.2 Đại diện, bảo vệ quyền lợi của người lao động và các hoạt động xã hội
Các cấp Công đoàn đã tích cực tham mưu, đề xuất với cấp uỷ, chính quyền, tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến vào các văn bản pháp luật như Bộ luật lao động
Trang 35(sửa đổi), Luật Công đoàn (sửa đổi), đặc biệt là các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của công nhân, viên chức, lao động như việc làm, tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN, BHLĐ, nhà ở, đất ở Nhiều nội dung tham mưu, đóng góp ý kiến của tổ chức công đoàn và CNLĐ được các cấp tiếp thu, chấp thuận và từng bước giải quyết [23, tr.5]
Công đoàn đã tích cực tham gia thực hiện sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp; xếp hạng và xếp hạng lại cho 34 doanh nghiệp, xét duyệt, giải quyết chế độ cho 166 lao động tại các doanh nghiệp sau khi
cổ phần hóa với số tiền được hưởng trên 8,1 tỷ đồng; làm việc với một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, tham gia giải quyết những bức xúc của công nhân lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp [23, tr.5] Quá trình Công đoàn tham gia gắn với tuyên truyền giúp người lao động có nhận thức đúng đắn, tích cực ủng hộ và thực hiện sắp xếp doanh nghiệp
Hàng năm, Công đoàn chủ động phối hợp với chính quyền, chuyên môn đồng cấp chỉ đạo, triển khai thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tổ chức Đại hội công nhân viên chức, Hội nghị cán bộ công chức, Hội nghị người lao động theo tinh thần Nghị định 07, 71, 87 của Chính phủ Đây là diễn đàn trực tiếp để công nhân, viên chức, lao động tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất, công tác, định mức tiền lương, tiền công, tiền thưởng, đảm bảo việc làm, thu nhập; thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể, tham gia quản lý cơ quan, doanh nghiệp Bình quân hàng năm có 95% cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp và xã, phường, thị trấn hội nghị cán bộ công chức, 100% doanh nghiệp Nhà nước đại hội công nhân viên chức, 55,8% doanh nghiệp ngoài nhà nước có tổ chức công đoàn tổ chức hội nghị người lao động (riêng công ty cổ phần, công ty TNHH có tổ chức công đoàn Hội nghị người lao động đạt 66,2%); 74,4% doanh nghiệp có tổ chức công đoàn ký kết, thực hiện thỏa ước lao động tập thể [23, tr.9]
Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động được tăng cường LĐLĐ tỉnh tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra 350 lượt doanh nghiệp về thực hiện pháp luật lao động, Luật Công đoàn,
Trang 36Luật BHXH, ATVSLĐ-PCCN; tham gia với Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh giám sát tình hình quản lý, sử dụng quỹ BHXH trên địa bàn tỉnh; tham gia Hội đồng giám định
y khoa tỉnh giám định 2.941 đối tượng; tham gia điều tra 176 vụ tai nạn lao động và tai nạn giao thông có tính chất tai nạn lao động; kiến nghị giải quyết cho 178 người lao động được hưởng chế độ Công tác tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý cho công nhân, viên chức, lao động được tăng cường Trong nhiệm kỳ đã tư vấn trực tiếp và gián tiếp cho trên 700 lượt người lao động về các chế độ, quyền lợi; tiếp nhận 121 đơn thư khiếu nại, tố cáo của tập thể và cá nhân, giải quyết 34 đơn thư thuộc thẩm quyền, chuyển 87 đơn thư đến cơ quan nhà nước và các tổ chức khác xem xét, giải quyết, kết quả đã giải quyết cho 58 người được trở lại làm việc, 10 người được hạ mức kỷ luật, 128 người được giải quyết các quyền lợi khác [23, tr.10]
Hàng năm, Công đoàn đã tích cực chủ động phối hợp với các cơ quan quản
lý Nhà nước, người sử dụng lao động tham gia Chương trình Quốc gia về ATVSLĐ-PCCN, gắn nội dung tổ chức Tuần lễ với việc phối hợp kiểm tra các đơn
vị sản xuất kinh doanh về kỹ thuật an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, khám sức khỏe định kỳ, trang cấp các phương tiện bảo vệ cá nhân, bồi dưỡng độc hại, chế
độ ca ba cho người lao động Năm năm qua, LĐLĐ tỉnh đã tham gia kiểm tra 279 doanh nghiệp về công tác bảo hộ lao động
Việc thực hiện các chế độ chính sách như chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ; khám sức khoẻ định kỳ cho công nhân, viên chức, lao động được các cấp công đoàn quan tâm và phối hợp thực hiện có hiệu quả Triển khai có hiệu quả
“Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm", LĐLĐ tỉnh phối hợp với Ngân hàng Chính sách - Xã hội triển khai cho vay 70 dự án hộ gia đình, tạo việc làm cho 495 công nhân, viên chức, lao động; số dư nợ bình quân hàng năm trên 3,1 tỷ đồng
Công tác chăm lo đời sống, giúp đỡ đoàn viên, CNVCLĐ có hoàn cảnh khó khăn và các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện được các cấp công đoàn tổ chức thực hiện tốt, CNVCLĐ luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong việc thực hiện các cuộc vận động do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và Công đoàn phát động, nhất là ủng hộ khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt cả trong và ngoài nước; xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, “Ngày vì người nghèo” với số tiền hàng tỷ đồng mỗi năm; LĐLĐ tỉnh
Trang 37và các cấp công đoàn đã tranh thủ sự giúp đỡ của Quỹ tấm lòng vàng lao động và huy động sự đóng góp, ủng hộ của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh cùng với sự đóng góp của đoàn viên, CNVCLĐ với số tiền 18,360 tỷ đồng; trực tiếp thăm hỏi, trợ cấp 15.614 lượt CNVCLĐ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, hỗ trợ 18.000 lượt người dân và học sinh nghèo, trợ cấp 786 lượt trẻ em con CNVCLĐ bị nhiễm chất độc điôxin, tàn tật, mồ côi, bị tim bẩm sinh, bệnh hiểm nghèo; hỗ trợ xây mới 387 nhà “Mái ấm Công đoàn” cho CNVCLĐ (đạt 387% so với chỉ tiêu đề ra); hỗ trợ xây dựng nhà nội trú giáo viên trường THCS Hà Linh (Hương Khê), nhà đa chức năng Trường Tiểu học Thạch Hải (Thạch Hà), xây dựng nhà ở và hệ thống cấp thoát nước tại Làng trẻ mồ côi Hà Tĩnh; xây dựng 04 phòng học tại Trường Mầm non xã Cẩm Dương (huyện Cẩm Xuyên) Đóng góp của công nhân, viên chức, lao động trong hoạt động xã hội, nhân đạo và sự quan tâm, chăm lo đời sống của tổ chức công đoàn đối với CNVCLĐ mang ý nghĩa chính trị, xã hội, nhân văn sâu sắc, góp phần thực hiện có hiệu quả chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, khơi dậy tinh thần yêu nước, truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc Việt Nam, phát huy được vai trò, vị thế của tổ chức công đoàn
trong xã hội (Nguồn: Liên đoàn Lao động tỉnh Hà Tĩnh)
2.2 Thực trạng công đoàn bảo vệ quyền lợi người lao động ở các doanh nghiệp ngoài hà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
2.2.1 Công đoàn thảo luận các vấn đề về quan hệ lao động
Nền kinh tế Việt Nam hiện đang vận hành theo cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế vì vậy tính chất của quan hệ lao động so với nền kinh tế kế hoạch hoá trước đây đã thay đổi Do có sự thay đổi về tính chất của quan hệ lao động nên đã ảnh hưởng trực tiếp đối với hoạt động của Công đoàn
Trước đây quan hệ lao động là do Nhà nước và CNLĐ tạo thành và lấy lợi ích chung làm điểm xuất phát, còn hiện nay quan hệ lao động là do doanh nghiệp và người lao động tạo thành trên cơ sở hai bên giúp đỡ lẫn nhau cùng có lợi Do tính chất quan hệ lao động thay đổi, nên những xung đột trong quan hệ lao động những năm gần đây ngày càng có xu hướng gia tăng
Trang 38Sự thay đổi của quan hệ lao động, đòi hỏi Công đoàn phải lấy lĩnh vực lao động làm lĩnh vực hoạt động cơ bản và lấy việc điều hoà, ổn định quan hệ lao động làm nhiệm vụ xã hội cơ bản Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN
và hội nhập quốc tế, Công đoàn có vai trò điều hoà và ổn định quan hệ lao động xã hội, đây là vai trò không một tổ chức nào khác có thể thay thế
Bởi vì, Công đoàn là đại diện một bên của quan hệ lao động, thiếu Công đoàn không thể tạo thành quan hệ lao động hoàn chỉnh Chính sự điều tiết quan hệ lao động yêu cầu Công đoàn phải tham gia, bởi vì việc điều tiết quan hệ lao động trong cơ chế thị trường là do hai bên trong quan hệ lao động qua cơ chế thị trường
tự điều tiết, không có sự tham gia của Công đoàn, quan hệ lao động sẽ không thể vận hành bình thường
Sau nhiều năm thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN Ngày 5/6/2008 Ban Bí thư Trung ương đã ban hành hành Chỉ thị số 22-CT/TW về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong các doanh nghiệp
Tiếp theo là Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày18/8/2008 triển khai chỉ thị 22-CT/TW về quy định nhiệm vụ cho các bộ, ban ngành và uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn LĐVN cũng đã có Kế hoạch số 1233/KH-TLĐ ngày 17/7/2008 về triển khai chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương trong hệ thống Công đoàn
động Trong mối quan hệ đó, chủ thể chủ yếu là người lao động và người sử dụng lao động, sự phát triển mối quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả việc thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Tại các doanh nghiệp đã thành lập tổ chức Công đoàn, công đoàn đóng vai trò cầu nối giữa người sử dụng lao động và người lao động Thông qua tổ chức Công đoàn, doanh nghiệp dễ dàng
và nhanh chóng truyền đạt đến người lao động những quy định về lao động của doanh nghiệp cũng như nắm bắt, thu thập thông tin, những phản hồi của người lao động đối với các quy định về lao động của doanh nghiệp, nắm bắt thông tin về người lao động làm cơ sở đề xuất chủ doanh nghiệp điều chỉnh chính sách lao động
Trang 39phù hợp với thực tiễn cũng như các quy định của pháp luật Vì thế, tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước được xem như một kênh thông tin quan trọng, giúp các doanh nghiệp ngoài nhà nước phổ biến các chính sách lao động đến với người lao động, đồng thời nhận được sự phản hồi từ người lao động
về các chính sách lao động đó
Theo điều 10 Luật Công đoàn (sửa đổi 2012) quy định: “Công đoàn Đại diện cho tập thể người lao động thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thoả ước lao động tập thể”
Khoản 1, Điều 73 Bộ luật Lao động sửa đổi (năm 2012) quy định: “Thỏa ước
lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể” Quy định tại điều 73 cho thấy đại diện thương lượng thỏa ước lao động tập thể
là Ban Chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành công đoàn lâm thời
Vai trò của công đoàn trong việc thảo luận các vấn đề về quan hệ lao động thể hiện trong việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể, phản ánh các nguyện vọng của người lao động tới chủ sử dụng lao động, qua đó tạo cơ sở cho việc thực hiện các cam kết giữa các ben trong quan hệ lao động, tạo điều kiện cho các bên hiểu nhau từ đó hướng tới xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp, đảm bảo lợi ích của các bên
Thỏa ước lao động tập thể - kết quả của quá trình thương lượng, đàm phán,
ký kết giữa Công đoàn (Đại diện cho tập thể người lao động) với đại diện người sử dụng lao động là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động Nội dung của thỏa ước lao động tập thể bao gồm các vấn đề: Việc làm và đảm bảo việc làm; thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp lương; định mức lao động; an toàn vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
và các thỏa thuận khác Đây là các lĩnh vực mà người lao động và người sử dụng lao động liên quan trực tiếp với nhau, ảnh hưởng rất lớn tới quan hệ lao động
Qua nghiên cứu thực tế tại các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh cho thấy, một số doanh nghiệp nhờ sự năng động nhiệt tình của ban chấp hành công đoàn đã tạo được niềm tin đối với chủ sử dụng lao động, làm cho
Trang 40họ thấy được vai trò tích cực của tổ chức công đoàn Chủ doanh nghiệp đã có sự quan tâm, chăm lo tốt tới đời sống vật chất tinh thần cho người lao động Điển hình như công ty Viết Hải đã mua bảo hiểm tai nạn cho người lao động với mức đền bù cao nhất là 24 tháng lương, tiền ăn ca từ 10.000đ lên 15.000đ/ca/người, những người làm ca đêm là 25.000đ/ca/người; công ty Hoành Sơn đã tăng phúc lợi từ 300.000đ lên 500.000đ, hỗ trợ sinh con thứ nhất 500.000đ, con thứ hai 300.000đ, trợ cấp khó khăn từ 500.000đ lên 1.000.000đ, trên một trường hợp; nhiều công ty, doanh nghiệp đã tổ chức các lớp dạy nghề cho công nhân lao động, tạo điều kiện cho cán bộ công đoàn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ như: Công ty Cố phần xuất nhập khẩu nam Hà Tĩnh (Công đoàn ngành Nông nghiệp), Công ty Cổ phần gạch ngói Cầu Họ (Công đoàn ngành Xây dựng), Công ty Dược
và thiết bị Y tế Hà Tĩnh (Công đoàn ngành Y tế), Công ty Cổ phần nước khoáng
và du lịch Sơn Kim (Công đoàn ngành Công Thương), Công ty TNHH Tân Trường Phát, công ty Tư vấn Thiết kế môi trường đô thị (Liên đoàn Lao động huyện Kỳ Anh) đã tạo điều kiện cho hơn 90 cán bộ công đoàn tham gia khóa tập huấn nghiệp vụ Công đoàn do Liên đoàn Lao động tỉnh và Liên đoàn Lao động các huyện tổ chức Tại khóa học này, cán bộ công đoàn được tập huấn 7 chuyên đề của hoạt động Công đoàn: Chuyên đề về Tổ chức, chính sách- pháp luật, thi đua khen thưởng, tuyên giáo, công tác kiểm tra, hoạt động Nữ công, tài chính Các học viên được trang bị kiến thức và kỷ năng hoạt động công đoàn theo phương pháp tích cực, tham gia thảo luận nhóm, giải quyết các tình huống cụ thể do báo cáo viên đặt ra
Như vậy, ở những đơn vị có cán bộ Công đoàn cơ sở có trình độ, am hiểu về pháp luật, nhiệt tình, tâm huyết, có uy tín, có phương pháp thương lượng, biết tranh thủ ý kiến chỉ đạo, giúp đỡ của công đoàn cấp trên, am hiểu tình hành sản xuất của Doanh nghiệp và có sự đồng tình của lãnh đạo doanh nghiệp thì sẽ xây dựng được bản thỏa ước lao động có nội dung tích cực, đạt chất lượng và cam kết được nhiều điều khoản có lợi hơn so với quy định của pháp luật, đem lại được nhiều quyền lợi thiết thực cho người lao động