Đảng ta khẳng định: “nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-PHẠM ANH ĐÀO
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO NÔNG DÂN
XÂY DỰNG NÔNG THÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: chính trị học
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-PHẠM ANH ĐÀO
ĐẢNG BỘ BẮC GIANG LÃNH ĐẠO NÔNG DÂN
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phùng Hữu Phú
Hà Nội - 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Tình hình nghiên cứu đề tàì 10
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 13
3.1 Mục đích của Luận văn 13
3.2 Nhiệm vụ của Luận văn 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn 13
4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận văn 13
4.2 Phạm vi nghiên cứu Luận văn 14
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của Luận văn 14
5.1 Cơ sở lý luận của Luận văn 14
5.2 Phương pháp nghiên cứu của Luận văn 14
6 Đóng góp mới của Luận văn 14
7 Kết cấu của Luận văn 14
NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO NÔNG DÂN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 15
1.1 Đảng chủ trương xây dựng nông thôn mới 15
1.1.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước 15
1.1.2 Mô hình nông thôn mới theo chủ trương của Đảng 18
1.1.3 Vị trí, vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới 22
1.2 Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới 25
1.2.1 Tuyên truyền quán triệt chủ trương xây dựng nông thôn mới 25
Trang 41.2.2 Lãnh đạo các Cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp xây dựng
chương trình, kế hoạch xây dựng nông thôn mới phù hợp với nguyện
vọng và lợi ích của nông dân 30
1.2.3 Lãnh đạo hội nông dân và các đoàn thể quần chúng phát huy quyền làm chủ năng lực sáng tạo của nông dân 33
1.2.4 Kiểm tra việc triển khai thực hiện; sơ kết tổng kết nhân rộng điển hình nông dân tiêu biểu 36
CHƯƠNG2: ĐẢNG BỘ BẮC GIANG VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 38
2.1 Triển khai xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 38 2.1.1 Đặc điểm nông thôn và nông dân Bắc Giang 38
2.1.2 Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng 39
2.1.3.Hình thành tổ chức chỉ đạo xây dựng các chủ trương, kế hoạch 47 2.1.4 Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nông dân 51
2.1.5 Phát huy vai trò của hội nông dân và các đoàn thể chính trị - xã hội 56
2.1.5.1 Hội nông dân 56
2.1.5.2 Mặt trận tổ quốc 61
2.2 Kết quả, hạn chế 64
2.2.1 Những kết quả đạt được 64
2.2.2 Khó khăn hạn chế, nguyên nhân 73
2.2.2.1 Khó khăn, hạn chế 73
2.2.2.2 Nguyên nhân khách quan 75
2.2.2.3 Nguyên nhân chủ quan 69
2.2.3 Những kinh nghiệm bước đầu 70
2.3 Phương hướng tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới 72
2.3.1 Phương hướng xây dựng nông thôn mới 72
2.3.2 Giải pháp cần bổ sung 80
2.3.3 Kiến nghị 82
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông thôn Việt Nam là địa bàn sinh sống của người nông dân trên lãnh thổ Việt Nam, được hình thành một cách tự nhiên trong lịch sử Ở đó hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với lối sống và sinh hoạt mang tính cộng đồng cao, được kết tinh thành nền văn hóa dân gian truyền thống mang nét đặc thù của mỗi vùng Nói đến nông thôn Việt Nam là nói đến nghề nông trồng lúa nước, đến những cánh đồng mênh mông, mỏi cánh cò bay mà
ở đó dân tộc Việt Nam đã sinh sôi, lớn mạnh và trưởng thành để có được tầm vóc ngày hôm nay Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta luôn rất quan tâm đến
sự phát triển nông nghiệp, nông thôn và đã có những chủ trương, chính sách đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển của khu vực này
Trong quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta khẳng định: “nông nghiệp, nông dân, nông thôn
có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước” [42; 27]
Trang 7Trong nông nghiệp và nông thôn, vấn đề nông dân luôn có vị trí đặc biệt quan trọng và được Đảng ta xác định là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam Trải qua các giai đoạn cách mạng, nông dân đã có những đóng góp
to lớn, góp phần cùng toàn dân làm nên thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Ngày nay, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, nông dân vẫn là lực lượng đông đảo, nòng cốt và chủ yếu tham gia trực tiếp vào quá trình này
Bắc Giang là một tỉnh thuộc trung du miền núi phía Đông Bắc nước ta Bắc Giang có nền kinh tế nông - công nghiệp, trong đó sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo Tỉnh Bắc Giang hiện có 90,4% dân số sống ở nông thôn, nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội và đang là lực lượng chủ yếu tham gia phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Do vậy, nông thôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cùng với xu thế chung của cả nước, Bắc Giang cũng đã và đang đẩy mạnh xây dựng mô hình nông thôn mới Quá trình xây dựng nông thôn mới ở Bắc Giang đang đi đúng hướng và gặt hái được nhiều thắng lợi quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, nông nghiệp và nông thôn Bắc Giang vẫn còn một số hạn chế Đặc biệt, nông dân Bắc Giang mặc dù đóng một vai trò vô cùng to lớn trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới, nhưng cho đến nay đời sống của đa số nông dân vẫn còn nghèo, vẫn còn gặp
nhiều khó khăn, thiếu thốn
Để quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới ở Bắc Giang ngày càng
đi vào chiều sâu, tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa trong những năm tới, đòi hỏi Bắc Giang phải nỗ lực xây dựng, hoàn thiện một hệ thống những chủ trương, chính sách, phương hướng, giải pháp đồng bộ nhằm phát triển toàn diện nông thôn Điều quan trọng hơn hết là phải khơi dậy cho được sự cố gắng, lòng nhiệt tình, tính năng động, tích cực sáng tạo của nông
Trang 8dân Bắc Giang Bởi mỗi bước phát triển của nông nghiệp và nông thôn suy cho cùng cũng là nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân Nông dân là mục tiêu, là động lực phát triển của nông nghiệp, nông thôn Phát triển nông nghiệp và nông thôn là do nông dân và vì nông dân Vai trò của nông dân trong việc xây dựng nông thôn mới là vô cùng to lớn Tuy nhiên, quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới dưới tác động của nền kinh tế thị trường tất yếu buộc nông dân phải đối mặt với những thách thức không dễ gì tránh khỏi, đó là hiện trạng nông dân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất; hiện tượng phân hóa giàu nghèo, mất đoàn kết trong nội bộ nông dân; tình trạng ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, Đây là những vấn đề lớn đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người nông dân Vì vậy, sức mạnh của nông dân chỉ có thể được nhân lên và phát huy mạnh mẽ khi có sự quan tâm sâu sát, sự hỗ trợ kịp thời và thường xuyên của các cấp, các ngành địa phương,
của cả hệ thống chính trị Vì vậy, Đảng Bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo nông dân xây dựng nông thôn mới, là một trong những vấn đề cấp thiết đang được
đặt ra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài này làm luận văn
2 Tình hình nghiên cứu đề tàì
Trong những năm đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân là những chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan lãnh đạo, quản lý, các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở nước ta
Trên thế giới, trước hết phải kể đến công trình: “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển”, Frans Ellits, Nxb Nông Nghiệp, 1994 Tác giả đã nêu lên những vấn đề cơ bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển: chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào,
Trang 9đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản, những vấn
đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá
- “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân nông thôn ở các nước và
Việt Nam” của các tác giả Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc
và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nxb Hà Nội ấn hành năm 2000 Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam
- “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam và một số nước”,
Michaelk R Dove, William Roseberry… Nguyễn Ngọc, Đỗ Đức Thịnh tuyển chon, giới thiệu, Nxb Văn Hóa Dân Tộc, 2008
Trong nước về nông nghiệp, nông dân và nông thôn cũng có hàng loạt các công trình nghiên cứu Tiêu biểu nhất là công trình ngiên cứu:
- “Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử”, GS
Phan Đại Doãn và PGS Nguyễn Quang Ngọc làm chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, 1994
-“Phát triển nông thôn", GS Phạm Xuân Nam (chủ biên), Nxb Khoa
học xã hội, 1997 Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nông thôn Trong công trình này, tác giả đã phân tích khá sâu sắc một số nội dung về phát kinh tế - xã hội nông thôn nước ta như dân số, lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; vấn đề sử dụng và quản lý nguồn lực tài nguyên thiên nhiên; vấn đề phân tầng xã hội và xoá đói giảm nghèo…
- “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết X của Bộ Chính
trị” do PGS,TSKH Lê Đình Thắng (chủ biên ), Nxb Chính trị Quốc Gia,
1998
Trang 10- “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của PGS,TS
Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê, năm 2003 Đây là công trình nghiên cứu rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có tính thuyết phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm, công trình còn cung cấp
hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như là một Niên giám thống kê nông nghiệp thu nhỏ Công trình đã luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Những gợi mở về những vấn đề cần giải quyết của phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như vấn đề đầu tư, vấn
đề phân hoá giàu nghèo, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh, xuất khẩu nông sản đã được tác giả lý giải với nhiều luận cứ có tính thuyết phục
- “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Kinh nghiệm Việt Nam,
Kinh nghiệm Trung Quốc”, GS.TS Phùng Hữu Phú( Chủ Biên), Nxb Chính
Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009
- “Tăng cường năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cho ngành nông
nghiệp” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng tổ chức Ausaid
nghiên cứu đã đi sâu phân tích những quy định của WTO về thương mại nông sản
- “Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đến phát triển nông
nghiệp Việt Nam” là một dự án nghiên cứu tập thể do TS Nguyễn Từ phụ
trách
Những công trình trên đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những
dữ liệu rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nước ta Song các công trình ấy chưa đi sâu nghiên cứu quá trình triển khai, áp dụng các
Trang 11chính sách về nông nghiệp, nông thôn nói chung và mô hình nông thôn mới nói riêng ở các địa phương đặc biệt là những địa phương có tiềm năng nông nghiệp như tỉnh Bắc Giang Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trên chính
là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tiếp thu, sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn này và trong những công trình nghiên cứu của mình
về sau
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích của Luận văn
Nghiên cứu, đề suất một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả nội dung chủ trương chính sách về xây dựng mô hình nông thôn mới, của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của Luận văn
Để đạt được mục đích trên, Luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận và quan điểm chủ trương của Đảng về xây dựng nông thôn mới ở nước ta trong tình hình hiện nay
- Nghiên cứu, khảo sát đánh giá thực trạng, nguyên nhân kinh nghiệm trong việc xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong việc xây dựng mô hình nông thôn mới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận văn
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang nhằm phát huy vai trò người nông dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu Luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong việc lãnh đạo nông dân xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian từ năm 2008 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của Luận văn
5.1 Cơ sở lý luận của Luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt nam về vấn
đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn; đồng thời kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình khoa học khác có liên quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, ngoài phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, quy nạp và diễn dịch, thống kê, điều tra
6 Đóng góp mới của Luận văn
- Trên phạm vi tỉnh Bắc Giang luận văn là công trình đầu tiên được nghiên cứu ở quy mô và phạm vi một luận văn thạc sĩ chính trị học
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu tham khảo ở các cấp Ủy Đảng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội
Trang 13Nông dân Việt Nam tỉnh Bắc Giang; làm tài liệu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng cho trường chính trị tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO NÔNG DÂN
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Đảng chủ trương xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước
Việt Nam là một nước nông nghiệp Mấy nghìn năm trước đã hình thành và phát triển nền văn minh sông Hồng - văn minh nông nghiệp hay văn minh lúa nước Lịch sử dựng nước, giữ nước, văn hóa, lối sống đều gắn với kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp là gốc (dĩ nông vi bản), có vai trò quan trọng trong đời sống của cư dân, sự vững bền của đất nước (phi nông bất ổn)
Xã tắc trường tồn là nhờ đất và cây lúa Các thế hệ người Việt Nam đã dựng nước và mở bờ cõi cũng có nghĩa là khai khẩn các vùng đất nông nghiệp từ hoang vu thành mầu mỡ suốt từ đồng bằng sông Hồng đến miền Trung và
đồng bằng sông Cửu Long
Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công với nền nông nghiệp lạc hậu và hậu quả của nạn đói, Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
Trang 14đạo phát triển nông nghiệp để cứu đói, xây dựng "đời sống mới" để xóa bỏ tàn
dư lạc hậu do chế độ cũ để lại Ngày mùng 3 tháng 4 năm 1946, Ủy ban vận động đời sống mới Trung ương được thành lập nhằm đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động xây dựng đời sống mới trong toàn dân và toàn quốc Đây chính là giải pháp có ý nghĩa đột phá để xây dựng nông thôn mới Chủ tịch Hồ Chí minh đã viết tác phẩm " Đời sống mới"(1947) để hướng dẫn các tầng lớp nhân dân thực hành xây dựng đời sống mới Đó chính là những tiền đề đầu tiên để tiến hành xây dựng nông thôn mới trong suốt quá trình chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược
Khi miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, Đảng, Chính phủ chỉ đạo khôi phục kinh tế, trước hết là khôi phục kinh tế nông nghiệp, chăm lo đời sống nông dân Đảng chủ trương cải tạo nông nghiệp theo con đường xã hội chủ nghĩa để xây dựng nề kinh tế quốc dân có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công nghiệp, nông nghiệp là "hai chân" của nền kinh tế, là cơ sở để phát triển kinh tế công nghiệp
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, quá trình xây dựng nông thôn mới vẫn tiếp tục được duy trì và phát huy trong thời kỳ mới
và đạt những thành tựu to lớn góp phần ổn định chính trị - xã hội, xóa bỏ tàn
dư của văn hóa thực dân do Mỹ - Ngụy để lại, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững chủ quyền và an ninh quốc gia, tạo những tiền đề cho quá trình đổi mới đất nước
Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã nhấn mạnh: nông nghiệp là lực lượng hàng đầu, đưa nông nghiệp tiến lên một bước theo hướng sản xuất lớn Việc xây dựng và thực hiện ba chương trình kinh tế lớn đều liên quan trực tiếp đến nông nghiệp (lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng
Trang 15xuất khẩu) Đó là sự cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Sau hơn 20 năm đổi mới, vấn đề xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn đã đạt được những bước tiến quan trọng Cơ sở kinh tế ở nông thôn
là nông nghiệp đã chuyển từ nền sản xuất tự cung tự cấp, sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là bước chuyển
cơ bản làm thay đổi cấu trúc kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn, tạo động lực xây dựng nông thôn mới
Hiện nay, trong quá trình tiếp tục sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa là trục cơ bản để giải quyết nhiệm vụ phát triển đất nước Trong trục này, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn là nội dung quan trọng bậc nhất, là nhiệm vụ đầu tiên phải ưu tiên giải quyết trong quá trình công nghiệp hóa Định hướng chiến lược này bắt nguồn từ nhận thức điều kiện phát triển thực tiễn của Việt Nam - xuất phát từ một quốc gia nông nghiệp với nông dân chiếm đại bộ phận dân số cả nước, do đó, sứ mệnh lịch
sử của quá trình công nghiệp hóa là cải biến nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn lạc hậu cổ truyền, xây dựng nông thôn mới
Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung Ương lần thứ bảy (khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới Nghị quyết khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng
bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn nước ta còn là khu vực giàu tiềm năng cần khai thác một cách có
Trang 16hiệu quả Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta khẳng định xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh
tế xã hội của đất nước Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: tiếp tục triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam
Thực hiện đường lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội
1.1.2 Mô hình nông thôn mới theo chủ trương của Đảng
Nông thôn Việt Nam là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về thành phần tộc người, về văn hóa, là nơi bảo tồn, lưu giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, là nơi sản xuất quan trọng, làm ra các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống con người Trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp Vì vậy, xây dựng nông thôn mới được Đảng và Nhà nước Việt Nam cho là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng Phát triển nông nghiệp nông thôn đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò
Trang 17quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước Xây dựng nông thôn
mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông
thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
Nghị quyết 26/NQTW ngày 28/05/2008 đã nêu một cách tổng quát về mục tiêu, nhiệm vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước Quan điểm đó của Đảng là sự kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm lịch sử về phát huy sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo ra sức mạnh tổng hợp xây dựng nông thôn mới Mục tiêu xây dựng nông thôn mới được Đảng ta xác định là: xây dựng nông thôn mới có kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ;
an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao
Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ Đây là chương
Trang 18trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng
Để chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Thủ Tướng Chính phủ ra quyết định
số 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Theo quyết định, mỗi xã được công nhận là xã nông thôn mới khi đạt được 19 tiêu chí sau:
Nhóm 1 là Quy hoạch, gồm một tiêu chí là quy hoạch và thực hiện quy
hoạch Trong đó có quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới; quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện
có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
Nhóm 2 là hạ tầng kinh tế xã- hội, gồm tám tiêu chí (từ tiêu chí 2 đến
tiêu chí 9) Tiêu chí về giao thông (tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT; tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT; tỷ
lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa; tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện); tiêu chí về thủy lợi (hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; tỷ lệ
km trên mương do xã quản lý được kiên cố hóa); tiêu chí điện (hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn); tiêu chí trường học (tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia); tiêu chí
về cơ sở vật chất văn hóa (nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ DL; tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-
Trang 19VH-TT-TT-DL); tiêu chí về Chợ nông thôn (đạt chuẩn của Bộ Xây dựng); tiêu chí về bưu điện (có điểm phục vụ bưu chính viễn thông; có Internet đến thôn); tiêu chí về nhà ở dân cư (không có nhà tạm, dột nát; tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ Xây dựng)
Nhóm 3 là Kinh tế và Tổ chức sản xuất, gồm bốn tiêu chí (từ tiêu chí 10
đến tiêu chí 13) Tiêu chí về Thu nhập (Thu nhập bình quân đầu người/ năm
so với mức bình quân chung của tỉnh); tiêu chí về hộ nghèo (giảm tỉ lệ hộ nghèo theo vùng); tiêu chí về cơ cấu lao động (tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp); tiêu chí về hình thức tổ chức (có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả)
Nhóm 4 là Văn hóa - Xã hội - Môi trường, gồm bốn tiêu chí (từ tiêu chí
14 đến tiêu chí 17) Tiêu chí về Giáo dục (Phổ cập giáo dục trung học; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học ( phổ thông, bổ túc, học nghề;
tỷ lệ lao động qua đào tạo); tiêu chí về Y tế (tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế; y tế xã đạt chuẩn quốc gia); tiêu chí về văn hóa (xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL); tiêu chí về môi trường (tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia; các cơ sở sản xuấ, kinh doanh đạt tiêu chuẩn
về môi trường; không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch; chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định)
Nhóm 5 là Hệ thống chính trị, gồm hai tiêu chí (tiêu chí 18 và tiêu chí
19) Tiêu chí về Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh (Cán bộ xã đạt chuẩn; có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định; Đảng
bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh; các tổ chức đoàn
Trang 20thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên); tiêu chí về an ninh trật
tự xã hội (Aa ninh, trật tự xã hội được giữ vững)
Bộ tiêu chí cũng quy định rất rõ, xã đạt nông thôn mới khi xã thực hiện
đủ 19 tiêu chí trên; huyện nông thôn mới đạt danh hiệu nông thôn mới khi có 75% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới; tỉnh được công nhận nông thôn mới khi có 80% số huyện trong tỉnh đạt chuẩn nông thôn mớ
1.1.3 Vị trí, vai trò của nông dân trong xây dựng nông thôn mới
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, giai cấp nông dân Việt Nam có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và phát triển đất nước Hơn tám mươi năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và phát triển giai cấp nông dân Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nông nghiệp và nông dân luôn có một vị trí đặc biệt đối với xã hội; phát triển nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn của mọi vấn đề xã hội Năm 1946, trong thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam, Hồ Chí Minh viết: Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giầu thì nước ta giầu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” Nông dân là lực lượng đông đảo, trực tiếp thực hiện vai trò quan trọng của nông nghiệp Lao động nông thôn không chỉ là nguồn nhân lực chủ yếu và quyết định trong phát triển sản xuất và kinh
tế nông thôn mà còn có đóng góp quan trọng trong các hoạt động kinh tế - xã hội khác của cả nước, nhất là trong việc cung cấp nguồn lao động cho công nghiệp hóa, đô thị hóa Cư dân nông thôn chiếm đa số dân cư cả nước, tạo nên nền tảng của xã hội và lực lượng chính trị của chế độ Vai trò quan trọng của nông dân Việt Nam không chỉ được thể hiện trong phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới mà còn trong toàn bộ tiến trình đổi mới, phát
Trang 21triển và hiện đại hóa xã hội Việt Nam nói chung, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
Giai cấp nông dân cùng với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa là lực lượng cơ bản của cách mạng Nông dân, giai cấp nông dân như Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã xác định là "chủ thể" của quá trình phát triển Vai trò đó đã từng được thể hiện trong quá trình cách mạng giải phóng dân tộc trước đây, trong các cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập,
tự do của Tổ quốc, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Phát huy vai trò đó giai cấp nông dân Việt Nam là một bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu xã hội, trong khối liên minh giai cấp, dân tộc và xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy đổi mới và thực hiện thắng lợi mục tiêu của đổi mới
Dựa vào người dân, phát huy vai trò chủ thể của người dân là tư tưởng nổi bật trong chủ trương xây dựng nông thôn mới của Đảng, Nhà nước Sự tham gia của nông dân vào việc xây dựng nông thôn mới được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại theo phương pháp tiếp cận, phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ, trong thí điểm mô hình Khi tham gia vào quá trình phát triển thôn mới với sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân tại các cộng đồng dân cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường kỹ năng, năng lực về quản lý nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài Khi xem xét quá trình tham gia của người dân trong các hoạt động phát triển nông thôn, vai trò của người dân ở đây được thể hiện qua việc: dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi Như vậy, vai trò của người dân vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự ở đây hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc” Các nội dung trong nâng cao vai trò của người dân trong việc thực hiện mô hình nông thôn mới được hiểu:
Trang 22Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ công đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi
Dân bàn: bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như: bàn luận mở ra hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính, trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi
Dân làm: chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt động phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào việc lập kế hoạch, hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng Việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân Ngoài ra dân còn góp của góp công Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
Dân kiểm tra: dân kiểm tra mọi vấn đề, mọi công việc liên quan đến xây dựng nông thôn mới, từ chủ trương xây dựng cơ sở hạ tầng; hoặc như việc cấp
Trang 23đất, cấp vốn, cho đến hiệu quả đầu tư xây dựng công trình phúc lợi, mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính mọi việc đều phải được dân kiểm tra, chất vấn, theo dõi, giám sát đến nơi đến chốn, trên tinh thần "Dĩ công vi thượng"
Dân hưởng lợi: dân được hưởng những gì mà dân làm, dân đóng góp trong xây dựng nông thôn mới Quyền dân hưởng những lợi ích chính đáng sẽ tạo động lực, cổ vũ nông dân phát huy vai trò chủ động, tích cực và nguồn lực sáng tạo trong xây dựng nông thôn mới
Vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng NTM văn minh, hiện đại được thể hiện qua việc tích cực tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch xây dựng NTM; chủ động, sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn; trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất; tích cực, sáng tạo trong xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá - xã hội, môi trường ở nông thôn; là nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh Để thực hiện tốt chương trình xây dựng nông thôn mới, vấn đề đặt ra là cần phải phát huy vai trò chủ thể của người nông dân
1.2 Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Tuyên truyền quán triệt chủ trương xây dựng nông thôn mới
Tuyên truyền xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc tổ chức thực hiện chương trình, là nhiệm vụ của các cấp, các ngành
từ Trung ương đến tỉnh, đến cơ sở Thông qua công tác tuyên truyền giúp cán
bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của chương trình xây dựng nông thôn mới, tạo sự thống nhất trong nhận thức, hành động Vì vậy, công tác tuyên truyền cần phải thống nhất về nội dung, tuyên truyền phải sâu rộng, thường xuyên, liên tục trên cơ sở bám sát mục tiêu, nhiệm
Trang 24vụ, nguyên tắc, nội dung xây dựng nông thôn mới và tình hình, kết quả, nhiệm
vụ giải pháp thực hiện chương trình của tỉnh
Ngày 4/6/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, Quyết định đã tạo nên tinh thần phấn khởi không khí cho cán bộ và nhân dân cả nước, kỳ vọng về chính sách của Chính phủ lần này sẽ tạo điều kiện cho nông thôn phát triển mạnh mẽ hơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân sẽ được cải thiện nhanh hơn Xây dựng nông thôn mới đã được đưa vào chương trình nghị sự của đại hội Đảng ở các cấp Nhiều nội dung xây dựng nông thôn mới đã thành chỉ tiêu phấn đấu của các Đảng bộ xã, huyện, tỉnh nhiệm kỳ 2011-2015 Sau gần 1 năm triển khai, đến nay đã có 100% số tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, đã thành lập xong Văn phòng điều phối (hoặc tổ công tác) giúp việc Ban chỉ đạo; 38/63 tỉnh thành đã phê duyệt kế hoạch xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 và
đã triển khai nhiều nội dung xây dựng nông thôn mới…
Tuy nhiên, Chương trình MTQG xây dựng NTM là một chương trình phát triển nông thôn tổng hợp với nhiều nội dung lớn, nguyên tắc, phương pháp cách làm; cơ chế chính sách có nhiều đổi mới so với trước… do đó, công tác tuyên truyền, tập huấn đến người dân và đội ngũ cán bộ vận hành có
ý nghĩa rất quan trọng Qua thực tế, kiểm tra đánh giá cho thấy: đại bộ phận cán bộ các cấp và người dân nông thôn còn chưa hiểu đầy đủ về các nội dung xây dựng nông thôn mới, nhất là về vai trò chủ thể là người dân trong xây dựng nông thôn mới; thu hút nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới; quy hoạch nông thôn mới; cách thức phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn; nội dung và cách thức xây dựng lối sống văn hoá, giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá nông thôn trong quá trình hiện đại hoá; nội dung, phương pháp bảo vệ, cải tạo môi trường sinh thái nông thôn; cách thức lôi cuốn doanh nghiệp
Trang 25về nông nghiệp, nông thôn; về sự khác biệt của các chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo và an sinh xã hội khác ở Việt Nam
Xuất phát từ thực tế trên, Ban chỉ đạo Trung ương đã xây dựng và triển khai kế hoạch số 30/KHBCDTW-VPĐP ngày 20/05/2011 về việc tuyên truyền Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 Mục tiêu tuyên truyền: để mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu về tầm quan trọng của Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới; hiểu được nội dung, phương pháp, cách làm, nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc xây dựng nông thôn mới để tạo ra phong trào thi đua sâu rộng, sôi nổi trong xã hội, giúp cho cộng đồng chủ động hơn trong việc tham gia thực hiện Chương trình Xóa
bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại trong xây dựng nông thôn mới
Nhiệm vụ tuyên truyền: tuyên truyền về nguyên tắc, tiêu chí, nội dung
của Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới; phương pháp huy động nguồn lực, các cơ chế chính sách trong xây dựng nông thôn mới…; tuyên truyền để người dân nông thôn thấy rõ vai trò chủ thể của mình và phát huy nội lực của cộng đồng để xây dựng nông thôn mới; tuyên truyền, biểu dương những thành quả của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; tuyên truyền những tấm gương nông dân sản xuất giỏi dám nghĩ dám làm…
Nội dung tuyên truyền:
Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay Tính cấp thiết phải xây dựng nông thôn mới xuất phát từ các lý do sau
đây:
Do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công
Trang 26trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất
về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ
sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển
Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ
Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao
Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục ); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch
Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần 3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
Trang 27nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó
Thứ hai, tuyên truyền những tiêu chí nông thôn mới thời kỳ CNH-HĐH giai đoạn 2011-2020 Đó là 19 tiêu chí theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày
16/4/2009 về bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới
Thứ ba, tuyên truyền những nội dung cơ bản của chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới: Chương trình mục tiêu quốc gia về xây
dựng nông thôn mới - chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung sau: quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn; phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
Thứ tư, tuyên truyền đặc điểm, nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ
để quyết định và tổ chức thực hiện
Trang 28Xây dựng nông thôn mới được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
Xây dựng nông thôn mới được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)
Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn mới” do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới
Thứ năm, tuyên truyền các cơ chế chính sách mới trong xây dựng nông thôn mới Đảng và Nhà nước ta luôn tạo mọi điều kiện về cơ chế chính sách
đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới do vậy đây cũng là một trong những nội dung cần được quan tâm kịp thời đưa những chính sách mới đến với người dân
1.2.2 Lãnh đạo các Cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch xây dựng nông thôn mới phù hợp với nguyện vọng
và lợi ích của nông dân
Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng nông thôn mới vừa là mục tiêu, vừa
là yêu cầu của phát triển bền vững, vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là chủ
Trang 29trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng mang tính nhân văn của sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân VN Qua đó tạo được
sự đồng thuận và sức mạnh tổng hợp của các hệ thống chính trị, sự đồng tâm hiệp lực của toàn xã hội trong triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới Cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể
trong xây dựng nông thôn mới
Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương để chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia do đồng chí Phó Thủ tướng thường trực Vũ Văn Ninh làm Trưởng ban;
triển nông thôn Cao Đức Phát làm Phó trưởng ban thường trực; Thứ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Đăng Khoa phó Trưởng Ban Chuyên trách; Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Văn Trọng Lý phó Trưởng Ban Chỉ đạo;
Ban Cố vấn: Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Huy Ngọ; Nguyên Thứ trưởng Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hồ Xuân Hùng
Các Uỷ viên gồm đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành, các tổ chức đoàn thể có liên quan: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Nội vụ; Bộ Y tế; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Xây dựng; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Công Thương; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Bộ Thông tin và Truyền thông;
Bộ Công an; Ủy ban Dân tộc; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; Trung ương Hội Cựu Chiến binh Việt Nam; Trung ương Hội Liên hiệp
Trang 30Phụ nữ Việt Nam; Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam
Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở các cấp để chỉ đạo triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM của tỉnh, thành phố (gọi chung là Ban Chỉ đạo tỉnh)
Các Bộ, ngành được phân công thực hiện các nội dung của chương trình chịu trách nhiệm về việc xây dựng cơ chế, chính sách; hướng dẫn xây dựng các đề án, dự án để thực hiện các nội dung theo yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, đồng thời, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo thực hiện ở
cơ sở
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực Chương trình, có nhiệm vụ: giúp Ban Chỉ đạo Trung ương chỉ đạo thực hiện Chương trình; chủ trì và phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm về mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp và nhu cầu kinh phí thực hiện Chương trình gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo Chính phủ; đôn đốc, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Chương trình của các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổng hợp báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương và Chính phủ; bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành có liên quan cân đối và phân bổ nguồn lực cho Chương trình thuộc nguồn vốn ngân sách Trung ương; phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng cơ chế, chính sách, quản lý thực hiện Chương trình; bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định vốn từ ngân sách đối với từng nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ,
Trang 31ngành, địa phương triển khai thực hiện Chương trình theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; đồng thời chịu trách nhiệm hướng dẫn cơ chế tài chính phù hợp với các Đề án, dự án của Chương trình; giám sát chi tiêu; tổng hợp quyết toán kinh phí Chương trình; cơ chế lồng ghép các nguồn vốn; bộ Xây dựng hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương hoàn thành quy hoạch ở các xã theo tiêu chí nông thôn mới; ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chính sách tín dụng của các ngân hàng tham gia thực hiện chương trình [51; 13]
1.2.3 Lãnh đạo hội nông dân và các đoàn thể quần chúng phát
huy quyền làm chủ năng lực sáng tạo của nông dân
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân Việt Nam, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của giai cấp nông dân Các cấp Hội nông dân luôn tích cực tập hợp, đoàn kết, tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên nông dân phát huy truyền thống vẻ vang của giai cấp nông dân Việt Nam, khắc phục khó khăn, có nhiều đóng góp to lớn trong các phong trào nông dân tham gia phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá, giữ gìn quốc phòng, an ninh ở nông thôn
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là cuộc vận động đòi hỏi phải có sự nỗ lực tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Là thành viên của Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, Hội nông dân có vai trò quan trọng trong triển khai nghị quyết của Đảng
về phong trào xây dựng nông thôn mới Đảng chú trọng lãnh đạo hoạt động của Hội Nông dân càng đổi mới và chuyển biến tích cực Các cấp Hội đã đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng đẩy mạnh các hoạt động hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ, dịch vụ và dạy nghề cho nông dân Tích cực thực
Trang 32hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, góp phần vào công tác xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của nông dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, ngày càng xứng đáng với vai trò trung tâm và nòng cốt trong các phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới
Ngày 10 tháng 5 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 673/QĐ- TTg “Về việc Hội NDVN trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn giai đoạn 2011-2020” Nhằm phát huy hơn nữa vai trò trung tâm và nòng cốt của Hội Nông dân Việt Nam trong phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện đại, bền vững, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng, theo tinh thần quyết định số 673 Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với các Bộ, ngành để thực hiện các nhiệm vụ liên quan:
Tham gia với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTG ngày 27.11.2009 của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng và nhân rộng một số mô hình giảm nghèo bền vững vùng đặc biệt khó khăn
Tham gia với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện các hoạt động khuyến nông bằng nguồn ngân sách nhà nước; hướng dẫn và phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và nhân rộng mô hình kinh tế hợp tác sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản
Tham gia với Bộ Công Thương thực hiện chính sách của Chính phủ về tiêu thụ nông sản hàng hoá cho nông dân
Trang 33Tham gia với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường nông thôn; nâng cao năng lực thích ứng cho nông dân đối với biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Tham gia với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên và nông dân
về văn hoá và nhiệm vụ phát triển văn hoá nông thôn Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hoá, mô hình thôn, ấp, bản, làng văn hoá; xây dựng
và duy trì các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao quần chúng; vận động và hướng dẫn nông dân tham gia thường xuyên các hoạt động văn hóa, thể thao
Tham gia với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức các hoạt động truyền thông ứng dụng công nghệ thông tin cho nông dân
Nắm được mục tiêu, yêu cầu xây dựng nông thôn mới các cấp Hội luôn
đề cao công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên, nông dân hiểu biết đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của Hội, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo của nông dân Vận động, tập hợp
và làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội, quốc phòng, an ninh Chăm lo đời sống và tinh thần của hội viên, nông dân
Các cấp Hội là thành viên tích cực trong hệ thống chính trị thực hiện các chính sách, pháp luật, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ở nông thôn Hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường
Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nâng cao chất lượng hội viên Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt;
Trang 34đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh Tham gia giám sát và phản biện xã hội theo quy chế Kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của nông dân với Đảng và Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân Thực hiện Pháp lệnh Dân chủ cơ sở, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân; góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội
Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng, tăng cường hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, tiến bộ khoa học, kỹ thuật, quảng bá hàng hoá nông sản, văn hoá Việt nam với tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ trong khu vực và trên thế giới
1.2.4 Kiểm tra việc triển khai thực hiện; sơ kết tổng kết nhân rộng điển hình nông dân tiêu biểu
Các Bộ, ngành được phân công thực hiện các nội dung của chương trình chịu trách nhiệm về việc xây dựng cơ chế, chính sách; hướng dẫn xây dựng các đề án, dự án để thực hiện các nội dung theo yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, đồng thời, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo thực hiện ở
cơ sở
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đôn đốc, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Chương trình hàng năm, giữa kỳ, khi kết thúc Chương trình của các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổng hợp báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương và Chính phủ;
Trang 35Bộ Tài chính giám sát chi tiêu; tổng hợp quyết toán kinh phí Chương trình; cơ chế lồng ghép các nguồn vốn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chính sách tín dụng của các ngân hàng tham gia thực hiện chương trình
Chế độ báo cáo kết quả thực hiện: văn cứ chỉ số giám sát đánh giá kết quả thực hiện chương trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, Ban Chỉ đạo ở các tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thực hiện thu thập báo cáo ở các cấp cơ sở để tổng hợp báo cáo gửi Ban Chỉ đạo trung ương Ban Chỉ đạo chương trình ở mỗi cấp địa phương phải có cán bộ chuyên trách về công tác báo cáo tổng hợp Riêng số liệu giải ngân vốn, trước khi gửi báo cáo, yêu cầu các chủ đầu tư phải đối chiếu số liệu có xác nhận của Kho bạc Nhà nước tại nơi mở tài khoản; Báo cáo định kỳ hàng quý, năm thực hiện theo quy định về chế độ và biểu mẫu báo cáo Chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn qui định;
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổng hợp, báo cáo Ban Chỉ đạo trung ương theo kỳ 6 tháng và cả năm
Trang 36CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ BẮC GIANG VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ
TRƯƠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.1 Triển khai xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang
2.1.1 Đặc điểm nông thôn và nông dân Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh miền núi, phía Đông Bắc của Tổ quốc Phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Tây giáp Thủ đô Hà Nội và tỉnh Thái Nguyên Vị trí của tỉnh nằm trên hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cạnh tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng
- Quảng Ninh) rất thuận lợi cho việc phát triển và liên kết vùng Thành phố Bắc Giang (thủ phủ của tỉnh) cách Thủ đô Hà Nội 50km; cách cửa khẩu Hữu Nghị Quan sang CHND Trung Hoa 110 km; cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km; cách cảng biển Hải Phòng và cảng biển nước sâu Cái Lân - Quảng Ninh
130 km Từ đây có thể dễ dàng thông thương với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 37Đơn vị hành chính của tỉnh có 09 huyện, 01 thành phố; 230 xã, phường, thị trấn (207 xã, 7 phường, 16 thị trấn); dân số gần 1,6 triệu người, trong đó 90,4% dân cư sống ở khu vực nông thôn Lao động trong lĩnh vực nông - lâm
- thủy sản chiếm trên 68% Nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội
và đang là lực lượng chủ yếu tham gia phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Do vậy, nông thôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh
Bắc Giang có tiềm năng lớn về đất đai nhất là đồi rừng, có nhiều thuận lợi cho việc trồng cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày hay chăn nuôi gia súc, gia cầm Đó là điều kiện tốt cho một nền nông nghiệp phát triển phong phú, đa dạng Hiện nay ở tỉnh đã hình thành những vùng trồng lúa, lạc, chè, thuốc lá, đậu tương…có năng suất chất lượng cao như huyện Việt Yên, Hiệp Hòa, Tân Yên, Yên Thế Trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, Bắc Giang đã trở thành vùng quê nổi tiếng về vải thiều ( Lục Ngạn), gà đồi ( Yên Thế)…góp phần xóa đói giảm nghèo đi đến ấm no, tạo nên sự trù phú của nhiều làng quê trong cơ chế thị trường
Nông dân Bắc Giang là lực lượng lao động đông đảo của tỉnh, luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của giai cấp mình, bằng trí thông minh và tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, luôn là lực lượng chủ lực tạo nên sự giầu đẹp cho quê hương Trong những năm qua, nông dân Bắc Giang luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Hiện nay, nông dân Bắc Giang đang tích cực, sôi nổi tham gia thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
tỉnh
2.1.2 Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng
Trang 38Những năm qua, phát triển nông thôn là vấn đề luôn được các cấp ủy, chính quyền trong tỉnh quan tâm do vậy khu vực nông thôn của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực Song bên cạnh đó phát triển nông thôn của tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế- xã hội bền vững Từ khi có Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang đã tổ chức Hội nghị nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết cho cán bộ chủ chốt Tỉnh uỷ, các sở, ban, ngành, huyện uỷ, thành uỷ và các Đảng
uỷ trực thuộc Thông qua học tập quán triệt Nghị quyết, nhận thức của các cấp
uỷ đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên có chuyển biến tích cực; thấy rõ hơn
vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trước mắt và lâu dài trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm
2020 và những năm tiếp theo, từ đó nâng cao trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tỉnh uỷ Bắc Giang đã ban hành Chương trình hành động số CTTr/TU ngày 03/10/2008 về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó xác định phát triển nông nghiệp trong thời gian tới theo hướng: Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện và hiện đại theo hướng CNH-HĐH; đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực
47-để hiện đại hoá nền nông nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu và nâng cao hiệu quả nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển ngành trồng trọt thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung lớn, phát triển chăn nuôi, thuỷ sản theo hướng trang trại và hình thành các khu chăn nuôi tập trung theo quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, chăn nuôi công nghiệp; phát triển lâm nghiệp toàn diện từ quản lý, bảo vệ, trồng, cải tạo, làm giầu rừng, tập trung phát triển rừng sản xuất trong thời gian tới nhanh chóng hình thànhvùng sản xuất nguyên liệu gỗ tập trung phục vụ chế biến và xuất khẩu Không ngừng
Trang 39nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nông dân, nhất là các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng các nước tiên tiến trong khu vực; có đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ ở nông thôn Nền nông nghiệp hàng hoá hiện đại, đa dạng, bền vững, hiệu quả phù hợp với điều kiện sản xuất của tỉnh, có khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo an ninh lương thực Xã hội nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại;
cơ cấu và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp và dịch vụ đô thị; xã hội nông thôn ổn định, phát triển bền vững, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn vững mạnh [45; 1]
Tiếp tục thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đã ban hành Nghị quyết số 145-NQ/TU, ngày 14/7/2011 về xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, với phương châm “Kinh tế phát triển - đời sống ấm no - thôn bản văn minh - an ninh ổn định - quản lý dân chủ” Nghị quyết đã khẳng định: “Những năm qua, tỉnh luôn quan tâm đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhất là từ khi có Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X Đã huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu ở nông thôn như hệ thống giao thông, điện, trường học, trạm y tế, công trình thuỷ lợi, nước sinh hoạt, thiết chế văn hoá cơ sở, hỗ trợ xoá nhà tạm, nhà dột nát cho người nghèo Do
đó, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc kinh tế nông nghiệp phát triển khá toàn diện cả về trồng trọt, chăn nuôi và thuỷ sản; hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung lớn, có giá trị kinh tế cao như: vải thiều Lục Ngạn; gà đồi Yên Thế; rau chế biến Lạng Giang, Tân Yên; lúa thơm Yên Dũng Đời sống vật chất, tinh thần của người dân khu vực nông thôn ngày càng cải thiện;
Trang 40tỷ lệ hộ nghèo giảm An ninh trật tự được bảo đảm Hệ thống chính trị ở cơ sở được củng cố; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được khơi dậy và phát huy” [12, 1]
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được thì do những yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau nông thôn Bắc Giang vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế: ”Thực trạng nông thôn phát triển chưa đồng bộ, chưa có quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng.nông thôn mới Quy mô sản xuất nông nghiệp nhỏ, lẻ, manh mún Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là giao thông, thuỷ lợi còn hạn chế; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn còn chậm; phần lớn lao động ở nông thôn chưa qua đào tạo Nông sản chủ yếu ở dạng sơ chế, ít có thương hiệu, giá trị gia tăng thấp Thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn khó khăn; Đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân; nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn Tỷ lệ hộ nghèo bình quân
cả tỉnh 19,61% Chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn (Tỷ lệ hộ nghèo: Thành phố Bắc Giang 3,79%, huyện Yên Dũng 13,12% huyện Hiệp Hoà 13,76% huyện Lục Ngạn 43,96% huyện Sơn Động 53,34% ), phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc về việc làm, thu nhập Nếp sống văn minh có lúc có nơi chưa được quan tâm thực hiện Vệ sinh môi trường nông thôn, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông diễn biến phức tạp; Hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều nơi, nhiều mặt còn hạn chế, bất cập” [12, 1] Do vậy Đảng bộ tỉnh cần đưa ra một chiến lược phù hợp để thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh nhằm khắc phục những hạn chế, phát huy tối đa những lợi thế của tỉnh nhà đem lại hiệu quả cao Nghị quyết thống nhất chỉ ra quan điểm: "Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là cuộc vận động toàn diện trên tất cả các lĩnh vực là cơ sở để xây dựng nông thôn tỉnh Bắc