Từ những phân tích dịch tễ học mô tả Nguyễn Thu Thủy và cộng sự, 2013 và kết quả điều tra ổ dịch Cục Thú y, 2013 cho thấy, yếu tố vận chuyển gia súc có thể đóng vai trò quan trọng trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỐI LIÊN HỆ GIỮA VẬN
CHUYỂN GIA SÚC VÀ BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN TRUNG VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, là một phần kết
quả của dự án “Triển khai nghiên cứu vận chuyển gia súc ở miền Trung Việt
Nam” với ký hiệu LOA FAVIE 2013/21 GCP/RAS/283/ROK do Cục Thú y
và Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO) đầu tư và
tổ chức thực hiện Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nguyệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các tổ chức, cơ quan, các nhà khoa học, các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Cục Thú y và Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO), đã cho phép tôi tham gia triển khai và sử dụng số liệu, kết quả của dự án “Triển khai nghiên cứu vận chuyển gia súc ở miền Trung Việt Nam” với ký hiệu LOA FAVIE 2013/21 GCP/RAS/283/ROK
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự hướng dẫn, giúp đỡ chân tình, đầy trách nhiệm và hết lòng vì khoa học của TS Huỳnh Thị Mỹ Lệ và TS Nguyễn Văn Long
Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban quản lý đào tạo và giảng viên khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới các thầy, các cơ quan, các nhà khoa học cùng các đồng nghiệp các tỉnh triển khai dự án đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình đã luôn quan tâm, động viên giúp tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Nguyệt
Trang 6Chương 2 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1.1 Mô tả tình hình chăn nuôi và dịch bệnh LMLM tại các tỉnh nghiên cứu 22 2.1.2 Nghiên cứu xác định mức độ lưu hành virus LMLM trên gia súc được
2.3.1 Mô tả tình hình chăn nuôi và dịch bệnh LMLM tại các tỉnh nghiên cứu 23 2.3.2 Nghiên cứu xác định mức độ lưu hành virus LMLM trên gia súc được
2.3.3 Nghiên cứu xác định các loại hình vận chuyển gia súc 27 2.3.4 Nghiên cứu xác định các yếu tố liên quan đến loại hình vận chuyển gia súc 27
Trang 7Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30 3.1 Mô tả tình hình chăn nuôi và dịch bệnh LMLM tại các tỉnh nghiên cứu 30 3.1.1 Tình hình chăn nuôi gia súc của các tỉnh nghiên cứu 30 3.1.2 Tình hình dịch bệnh LMLM từ năm 2010 - 2014 33 3.2 Nghiên cứu xác định mức độ lưu hành virus LMLM trên gia súc được
3.2.2 Kết quả xét nghiệm mẫu huyết thanh và mẫu probang 40 3.3 Nghiên cứu xác định các loại hình vận chuyển gia súc 43 3.3.1 Loại hình vận chuyển gia súc theo không gian (địa phương) 43 3.3.2 Loại hình vận chuyển gia súc theo thời gian 46
3.4 Xác định các yếu tố liên quan đến các loại hình vận chuyển gia súc và
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
ELISA Enzyme linked immuno-sorbent assay
FAO Food and Agriculture Organization
FMD Foot and Mouth Disease
LPB-ELISA (Liquid Phase Blocking-ELISA)
NN&PTNN Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
OIE World Organisation for Animal Health
PBS phosphate buffer saline
PCR Polymerase Chain Reaction
ROC Operating Characteristic
SEAFMD RCU The Southeast Asia Foot and Mouth Disease Campaign
(SEAFMD) Regional Coordination Unit in Bangkok USD United States dollar
WRLFMD World Reference Laboratory for Foot and mouth disease
WTO World Trade Organization
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1: Tổng đàn trâu, bò, lợn tại 11 tỉnh nghiên cứu từ năm 2010 – 10/2014 30 3.2: So sánh nguy cơ có dịch LMLM tại các tỉnh nghiên cứu giai 34 3.3: Tổng hợp số lượng gia súc bị bệnh, chết vì bệnh LMLM và buộc
3.4: Tổng hợp kết quả lấy mẫu của các địa phương 39 3.5: Tổng hợp kết quả giám sát lưu hành virus LMLM tại các tỉnh 41
3.7: So sánh các thông số vận chuyển gia súc đi hai miền Bắc và miền Nam 44 3.8: Tổng hợp theo đối tượng và mục đích vận chuyển 49 3.9: Kết quả phân tích mô hình đa tầng, nhiều biến (Multilevel 50
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.1: So sánh tổng đàn trâu của 11 tỉnh nghiên cứu 32 3.2: So sánh tổng đàn bò của 11 tỉnh nghiên cứu 32 3.3: So sánh tổng đàn lợn của 11 tỉnh nghiên cứu 33 3.4: Bản đồ thể hiện mức độ dịch bệnh LMLM (tổng số gia súc bị 35 3.5: Diễn biến các ổ dịch LMLM theo thời gian tại các 11 tỉnh 36 3.6: Số lượng mẫu lấy được trong quá trình giám sát 40 3.7: Diễn biến gia súc vận chuyển có mẫu huyết thanh và mẫu 42 3.8: Bản đồ thể hiện các tỉnh ghi chép số liệu vận chuyển gia súc và các
3.9: Phân bố theo thời gian về tổng số gia súc (trâu, bò, lợn) được vận
3.10: Phân bố theo thời gian về trâu được vận chuyển tại các tỉnh 47 3.11: Phân bố theo thời gian về bò được vận chuyển tại các tỉnh nghiên cứu 47 3.12: Phân bố theo thời gian về lợn được vận chuyển tại các tỉnh nghiên cứu 48 3.13: Đường cong ROC (receiver operating characteristic) thể hiện khả
năng dự đoán của mô hồi quy logic đa tầng nhiều biến Chỉ số phía dưới đường cong ROC là 0.793 cho thấy mô có thể phân biệt tốt về khả năng gia súc được vận chuyển ra khỏi xã 51
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Bệnh lở mồm long móng (Foot-and-mouth disease) là bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm của động vật thuộc loài móng guốc chẵn Bệnh xuất hiện với tỷ lệ ốm, tỷ lệ chết khác nhau giữa các loài gia súc và tùy thuộc mức độ miễn dịch do tiêm phòng hoặc nhiễm virus ngoài thực địa (Nguyễn Thu Thủy
và cộng sự, 2013) Sự nguy hiểm của bệnh là khả năng lây lan rất nhanh và rất rộng Bệnh có thể lây lan từ một đến nhiều xã trong cả nước hoặc từ một đến nhiều nước khác nhau trên thế giới và gây thành đại dịch Bệnh lây lan không chỉ do tiếp xúc giữa động vật khoẻ với động vật mắc bệnh mà còn do tiếp xúc trực tiếp hoặc qua các sản phẩm động vật, thức ăn, nước uống, không khí, chất thải, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, động vật… có mang virus lở mồm long móng (LMLM) Vì vậy, bệnh thường phát thành đại dịch gây thiệt hại về chăn nuôi, ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế xã hội của nhiều nước trên thế giới ở nhiều mặt, đó là thiệt hại cho sản xuất, chi phí tiêu diệt dịch, trở ngại vận chuyển động vật, sản phẩm động vật giữa các nước
Do tính chất nguy hiểm nên bệnh LMLM được Tổ chức Dịch tễ thế giới (OIE) nay được gọi là Tổ chức Thú y thế giới xếp xếp bệnh LMLM là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hàng đầu trong các bệnh truyền nhiễm ở động vật (bảng A) Theo luật Thú y của OIE những nước đang có bệnh LMLM không được xuất khẩu nông sản sang các nước khác Trong quá trình toàn cầu hóa và đặc biệt là từ 01/01/1995 khi Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) bắt đầu hoạt động, thương mại, du lịch phát triển; bệnh LMLM cũng có xu thế lây lan khắp thế giới Vì vậy, các nước trên thế giới đều quan tâm và hầu như có chương trình quốc gia phòng chống bệnh LMLM Việc phòng chống bệnh LMLM ở nhiều nước đã trở thành một chính sách rất quan trọng, nhất là trong nền kinh tế thị trường Việc xem xét có hay không bệnh LMLM trong sản
Trang 12xuất, chăn nuôi là một tiêu chí trong quan hệ buôn bán quốc tế và mọi quốc gia đều sử dụng nó như là một thứ vũ khí thương mại Vì vậy để phát triển chăn nuôi bền vững đem lại hiệu quả kinh tế, có đủ điều kiện tham gia thương mại quốc tế, việc an toàn bệnh LMLM gia súc là một vấn đề cấp thiết đối với tất cả các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Trong thời gian gần đây, tình hình diễn biến của dịch bệnh LMLM xảy
ra ở các nước trên thế giới ngày càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát Ở Việt Nam, từ nhiều năm qua dịch bệnh LMLM xuất hiện và tái xuất hiện thường xuyên gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn đối với ngành chăn nuôi Khoảng 26% xã, phường của 62/63 tỉnh, thành có ít nhất một báo cáo về ổ dịch LMLM trong giai đoạn 2006 – 2012 (Nguyễn Thu Thủy và cộng sự, 2013) Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của ngành thú y nước ta phấn đấu thực hiện là: khống chế một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở gia súc, mà đặc biệt là bệnh LMLM
Từ những phân tích dịch tễ học mô tả (Nguyễn Thu Thủy và cộng sự, 2013) và kết quả điều tra ổ dịch (Cục Thú y, 2013) cho thấy, yếu tố vận chuyển gia súc có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát tán lây lan dịch bệnh LMLM, nhất là tại một số tỉnh miền Trung, nơi có lượng gia súc được vận chuyển trong nước và từ nước ngoài vào Việt Nam rất lớn Vì vậy, để có
cơ sở phân tích, đưa ra những nhận định chính xác nhằm có các biện pháp phòng chống bệnh LMLM phù hợp và hiệu quả hơn chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu xác định mối liên hệ giữa vận chuyển gia súc và bệnh LMLM ở một số tỉnh miền Trung Việt Nam”
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định các yếu tố có liên quan đến các loại hình vận chuyển gia súc
và lưu hành virus LMLM, từ đó đề xuất biện pháp phòng bệnh có hiệu quả
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu chung
Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) còn có tên khác là Apthaeepizooticae, Foot and Mouth Disease (FMD) - Anh, Khẩu đề dịch - Trung Quốc
Bệnh LMLM là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm, lây lan nhanh, mạnh đối với các loài động vật móng guốc chẵn như: trâu, bò, lợn, dê, cừu, hươu, lạc đà… Bệnh do một loại virus hướng thượng bì gây ra với những đặc điểm đặc trưng là sốt, hình thành những mụn nước ở miệng, lưỡi, vành móng, kẽ móng, chân và vú ở các loài động vật cảm thụ Mặc dù bệnh LMLM xuất hiện đôi khi như là bệnh nhẹ, tỷ lệ tử vong thấp nhưng bệnh lại lây lan nhanh có thể gây ra những ổ dịch lớn nên sự thiệt hại về kinh tế rất trầm trọng Theo số liệu của Tổ chức dịch tễ thế giới (OIE), bệnh LMLM gây sảy thai khoảng 25% ở động vật có chửa, làm giảm sản lượng thịt 25%, giảm sản lượng sữa 50% và ở cừu năng suất lông giảm 25% (Đăng Văn Kỳ và Nguyễn Văn Thông, 2001)
Do tính chất nguy hiểm nên bệnh LMLM được OIE quy định bắt buộc các nước thành viên phải khai báo (Cục thú y, 2003)
1.2 Lịch sử bệnh LMLM
1.2.1 Lịch sử bệnh
Cuối thế kỉ 19, bệnh LMLM đã lây lan nhanh chóng khắp Châu Âu và
có hàng chục triệu bò mắc bệnh, kèo dài đến hàng chục năm không kiểm soát được (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)
Từ đầu thế kỉ 20 trở đi, bệnh LMLM đã xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới: Châu Mỹ: Mỹ (1902, 1908, 1914, 1929), Mêhicô (1946 - 1954), Canada (1952) và một số nước ở Nam Mỹ như: Argentina (1953) Châu Phi bệnh thường xảy ra ở Bắc Phi và Nam Phi (Trần Thanh Phong, 1997) Ở Châu Âu:
Trang 14Năm 1951 có luồng dịch phát sinh từ Tây Đức lan sang Hà Lan, Bỉ, Luxemburg, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Ba Lan và kéo dài đến năm 1953, 1954 Ở Châu Á: Bệnh phát ra ở Ấn Độ (1929, 1952…), Myanmar (1948), Thái Lan (1952), Indonesia (1952), Trung Quốc (1951), Campuchia (1931 - 1946, 1952) (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)
Diễn biến dịch LMLM trong những năm 60 thế kỉ 20 rất trầm trọng, trung bình mỗi năm có 4000 ổ dịch Đến những năm 70, bệnh có xu hướng giảm ở Châu Âu, Châu Mỹ, nhưng vẫn phổ biến ở Châu Phi (Mauritania, Senegal, Liberia, Tanzania, Nigeria…) và Châu Á (Indonesia, Malaysia, Thái Lan…)
1.2.2 Tình hình dịch bệnh LMLM trên thế giới
Vào những năm 80, dịch LMLM có mặt ở nhiều châu lục Theo thông báo của OIE và FAO trong 5 năm (1981 - 1985) dịch đã xuất hiện ở 80 nước
Ở Châu Âu có 804 ổ dịch tại 12 quốc gia do virus thuộc type O, A và C gây
ra Năm 1985, dịch LMLM do virus type Asia1 xảy ra ở Hi Lạp Ở Châu Á dịch đã có mặt ở 11 nước và hầu hết các ổ dịch cũng do virus type Asia1 Ở Châu Phi dịch gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là Kenia và Ethiopia (1984
- 1985) chủ yếu do type C gây ra
Năm 1989 dịch xảy ra ở 53 nước thuộc 4 châu lục: Á, Âu, Phi và Nam
Mỹ Theo OIE trong những năm 1990 bệnh LMLM đã được cải thiện rõ rệt ở một số khu vực trên thế giới, nổi bật là Châu Âu, một số nước Đông Nam Châu Á và Bắc Mỹ ít xảy ra dịch
Ở Châu Âu, bệnh LMLM gần như đã được thanh toán, chỉ có một số nước báo cáo có dịch trong những năm 1990 là Ý, Bulgari, Nga và Hy Lạp
Từ 1996 - 1998 một chủng mới thuộc type A của virus LMLM được phát hiện ở Iran sau đó lan sang Thổ Nhĩ Kỳ Theo báo cáo của WRLFMD ở Pirbright, trong năm 1998 và 6 tháng đầu năm 1999, nhiều nước thuộc khối cộng đồng Châu Âu đã thanh toán được bệnh
Trang 15Ở Châu Á, trong những năm 90 xuất hiện virus thuộc type O, Aisa 1 tại Pakistan, Myanmar; type O, A tại Neppal, Buhtan; type A tại Thái Lan… Tháng 03/1997 dịch đã bùng phát trên toàn bộ lãnh thổ Đài Loan nước này đã phải tiêu hủy hết lợn, gây tổn thất nghiêm trọng đến kinh tế
Ở Châu Phi, trong những năm của thập kỷ 90, type O tiếp tục gây bệnh ở Trung Cận Đông, Tây Phi, Gambia, Senegal, Uganda, Tanzania và Malawi Người ta cũng phân lập được virus type SAT2 từ bệnh phẩm của Uganda và Zambia; type O, SAT1, SAT2 từ Kenia
Năm 2000, dịch xảy ra ở Đài Loan (18/02/2000) trên dê được xác định
do virus tương tự O/Taiwan/99; Nhật Bản (08/03/2000) trên bò; Hàn Quốc (20/03/2000) trên bò do virus LMLM gây nên thuộc type O/TAW/99 và O/Kinmen/TAW/99; Liên Bang Nga (10/04/2000) trên lợn do virus type O gây ra; Mông Cổ (14/04/2000) trên cả bò, dê, cừu, lạc đà đều được xác định
do virus type O Cũng trong năm 2000, Hi Lạp thông báo có 14 ổ dịch xảy ra tại nước này, trong đó đáng chú ý là có 12/14 ổ dịch xảy ra ở các tỉnh giáp biên giới Thổ Nhĩ Kỳ (Bùi Quang Anh và Hoàng Văn Năm, 2001)
Năm 2001, dịch LMLM do type O tái bùng phát ở Châu Âu gây tổn thất nặng nề đặc biệt là ở Anh Tính đến cuối tháng 04/2001, Chính phủ Anh
đã chi phí cho việc tiêu hủy gia súc bệnh, dập dịch, cộng với những thiệt hại
do dịch gây ra lên đến 14 tỷ đô la Mỹ Sau đó, dịch xảy ra ở một loạt các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á Tính đến tháng 07/2001, có trên 20 nước xảy ra dịch LMLM (Đăng Văn Kỳ, 2002)
Trong năm 2002, phòng thí nghiệm tham chiếu thế giới về bệnh LMLM (WRLFMD) tại Pirbright, Vương Quốc Anh đã phân lập được virus virus type O từ Ả Rập Xêút, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran; type A được phân lập từ Thổ Nhĩ Kỳ, Irắc và Iran; type Asia 1 từ Iran Tháng 02/2002, 21 ổ dịch LMLM type O đã xuất hiện tại miền Tây Mông Cổ Tháng 05 - 06/2002 xuất hiện 16 ổ dịch LMLM lợn type O tại Hàn Quốc (Phan Quang Minh, 2003)
Trang 16Có 48 nước báo cáo dịch LMLM trong năm 2004 với các type virus gây bệnh khác nhau theo vùng địa lý
Từ 01 - 11/2005, bệnh LMLM đã xảy ra ở Brazil (type O), Colombia (type A), Nga (type Asia 1), Trung Quốc (type Asia 1), Hồng Kông (type Asia 1), Mông Cổ (type Asia 1), ở Botswana (type SAT 2), ở Congo (SAT 1, 2, 3 và A)
Trong năm 2005 và đầu năm 2006, các nước trước đây có các vùng được công nhận là sạch bệnh LMLM có hoặc không áp dụng biện pháp tiêm phòng như Brazil, Argentina và Bostwana thì nay lại báo cáo xuất hiện các ổ dịch mới (Tô Long Thành và cộng sự, 2006)
1.2.3 Tình hình dịch bệnh LMLM ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ổ dịch LMLM đầu tiên được phát hiện ở Nha Trang năm
1898, sau đó bệnh lan rộng ra cả 3 miền Bắc, Trung, Nam (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)
Trong 2 năm 1921 - 1922 có 690 ổ dịch nổ ra ở các tỉnh phía Bắc làm 13.018 trâu, bò và lợn mắc bệnh, trong đó 446 con chết
Ở Trung Bộ và Bắc Trung Bộ, dịch đã gây nhiều thiệt hại Năm 1921 -
Năm 1960, dịch phát ra ở 9 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), sau
đó trong nhiều năm không thấy xuất hiện lại ở các tỉnh phía Bắc
Trang 17Nhờ các biện pháp phòng chống dịch triệt để từ năm 1961 - 1992 ở các tỉnh phía Bắc không có dịch LMLM
Năm 1969 - 1970, ở miền Nam bệnh dịch xảy ra lại nghiêm trọng trên đàn trâu khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn, từ đó lây ra các tỉnh lân cận và tấn công vào 5 trại lợn công nghiệp ở Nam Bộ
Năm 1975, dịch LMLM xảy ra liên tiếp ở 17 tỉnh phía Nam từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào tới các vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Từ 1976 - 1983, theo số liệu thống kê của Cục Thú y, đã có 98 ổ dịch ở các tỉnh phía Nam làm 26.648 trâu, bò và 2.919 lợn bị bệnh Riêng năm 1983, các ổ dịch trâu, bò đã lan sang một trại lợn công nghiệp ở huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai làm hơn 2.200 lợn bị bệnh
Trong những năm cuối thập kỉ 80, một số tỉnh phía Nam như An Giang, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Tháp thường xuyên bị dịch LMLM do lây lan từ Campuchia sang Năm 1989, riêng tỉnh Đồng Nai có 3 huyện là Long An, Long Thành và Xuyên Lộc bị dịch kéo dài từ đầu tháng 05 đến giữa tháng 10 làm 3.514 trâu, bò bị bệnh
Năm 1990, dịch cũng xuất hiện ở 4 huyện thuộc tỉnh Thuận Hải làm hơn 7.500 trâu, bò bị bệnh Dịch cũng xảy ra ở huyện Lộc Ninh tỉnh Sông Bé làm 100 trâu, bò bị ốm, không cày kéo được
Năm 1992, dịch phát tại Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh và những năm sau đó, bệnh có mặt ở cả 3 miền đất nước
Theo Trần Hữu Cổn (1996) năm 1993, dịch đã lan rộng ra trên địa bàn
122 xã của 18 huyện thuộc 6 tỉnh bao gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu, với tổng số 32.260 trâu, bò và 1.612 lợn bị bệnh
Năm 1995, bệnh LMLM đã xảy ra liên tiếp trên địa bàn 107 huyện của
26 tỉnh làm cho 236.000 trâu, bò và 11.000 lợn bị bệnh (Lê Minh Chí, 2000)
Trang 18Năm 1999, trong lúc vẫn tồn tại một số ổ dịch cũ ở các tỉnh miền Trung
và miền Nam thì đợt dịch mới lây lan từ Trung Quốc đã tấn công các tỉnh giáp biên Cao Bằng là tỉnh đầu tiên bị dịch (tháng 06/1999) và sau đó dịch lây lan ra nhiều tỉnh khác ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam Tính đến ngày 10/03/2000, đã có
58 tỉnh có dịch, làm 297.808 trâu, bò và 36.530 lợn bị bệnh Đặc biệt lần này dịch phát ra ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng sau gần 40 năm an toàn dịch bệnh, gây ảnh hưởng lớn cho vùng nguyên liệu xuất khẩu (lê Minh Chí, 2000)
Năm 2001 bệnh LMLM chỉ xảy ra ở 16 tỉnh, thành phố với 3.976 trâu,
và lợn), với tổng số 20.303 trâu, bò, 1.178 dê và 3.533 lợn mắc bệnh Các tỉnh
có số trâu, bò mắc bệnh nhiều như: Quảng Trị, Phú Yên, Đắc Lắc, Khánh Hoà, Gia Lai, Hà Giang
Năm 2004 (đến tháng 08/2004) dịch xảy ra ở 577 xã phường, 169 huyện, thị của 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, (trong đó 32 tỉnh có dịch LMLM trâu, bò; 22 tỉnh có dịch ở lợn; 16 tỉnh dịch xảy ra ở cả trâu, bò
và lợn), với tổng số 25.658 trâu, bò, 1.555 lợn và 127 dê mắc bệnh Dịch xảy
ra ở cả 3 miền: Bắc, Trung, Nam
Năm 2005, dịch LMLM xảy ra ở 408 xã, phường của 160 quận, huyện thuộc 37 tỉnh, thành phố; với 28.241 trâu, bò, 3.976 lợn và 81 dê mắc bệnh Năm 2006, dịch LMLM đã xảy ra ở nhiều nơi trong cả nước, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi, Bộ NN & PTNT đã chỉ đạo các địa phương thực hiện các biện pháp đồng bộ và quyết liệt, nên số gia súc mắc bệnh giảm so với năm trước Năm 2007, do thực hiện tốt công tác phòng chống bệnh LMLM, nhất là Chương trình quốc gia khống chế và thanh toán bệnh LMLM, các tỉnh vùng
Trang 19khống chế và vùng đệm đã triển khai tiêm phòng vaxcin đúng chủng loại vaxcin, kết quả đạt tỷ lệ cao, nên từ cuối tháng 08/2007 - đầu tháng 11/2007,
cả nước không có dịch LMLM xảy ra, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc
Năm 2008: Dịch LMLM đã xảy ra tại 122 xã, phường của 43 huyện,
quận của 14 tỉnh thành làm 2.408 con trâu, bò và 67 con lợn mắc bệnh Tổng
số gia súc chết và tiêu hủy là 218 trâu, bò và 39 lợn
Dịch xảy ra chủ yếu trên đàn trâu, bò, tuy nhiên mức độ dịch đã giảm
rõ rệt về phạm vi (số tỉnh, huyện, xã) cũng như số lượng gia súc mắc bệnh và giết hủy so với năm 2007
Type virus gây bệnh: hầu hết các ổ dịch LMLM năm 2008 xảy ra là do type O Tháng 12/2008 virus type A đã xuất hiện tại Nghệ An
Năm 2009: Dịch đã xảy ra ở 229 xã, phường thuộc 87 huyện, quận của
27 tỉnh, thành phố với tổng số 7.861 con trâu, bò mắc bệnh, 432 con phải tiêu hủy; trên lợn, dịch xảy ra ở 35 xã, phường thuộc 23 huyện, quận của 16 tỉnh, thành phố làm 499 con lợn mắc bệnh LMLM, 429 con phải tiêu hủy
Tháng 09/2009, dịch xảy ra trên quy mô rộng, trong tháng xuất hiện trên 90 ổ dịch, sau đó số ổ dịch giảm dần
Về type virus gây bệnh: hầu hết các ổ dịch LMLM xảy ra trong năm
2009 là do type O; type A xuất hiện ở các tỉnh Hà Giang, Sơn La, Bắc Giang, Kon Tum và Long An (Bộ NN&PTNN, 2010)
Năm 2010, dịch đã xảy ra ở 290 xã thuộc 99 huyện của 26 tỉnh, thành phố là Bắc Ninh, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng với tổng số 16.161 con trâu, bò mắc bệnh, 401 con trâu bò tiêu hủy, trong đó có
39 xã thuộc 30 huyện của 14 tỉnh, thành phố có lợn bị mắc bệnh LMLM, với tổng số 1.670 con lợn mắc bệnh, 848 con phải tiêu hủy
Trang 20Hầu hết các ổ dịch LMLM năm 2010 là type O
Năm 2011 dịch xảy ra ở 1.809 xã, phường thuộc 239 huyện của 35
tỉnh là Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An,Tiền Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng Tổng số gia súc mắc bệnh 140.979 con trâu bò lợn, dê trong đó có 74.256 con trâu, 22.965 con bò và 42.134 con lợn; 1.624 con dê Tổng số gia súc bị chết và tiêu hủy là 39.228 con trong đó 6.217 con trâu, 805 con bò, 31.993 con lợn và 213 con dê phải tiêu hủy
Năm 2012: dịch lở mồm long móng đã xuất hiện ở 59 xã, phường,
thuộc 29 huyện của 12 tỉnh: Đắc Lắc, Đắc Nông, Hà Giang, Hà Nam, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Thái Bình và Thanh Hoá Tổng số gia súc mắc bệnh là 226 trâu, 112 bò và 2.979 lợn; số gia súc chết và tiêu huỷ là 12 trâu, bò và 1.222 lợn
Năm 2013 dịch LMLM xảy ra tại 54 xã, phường của 19 huyện, quận thuộc 6 tỉnh là Bắc Ninh, Hà Tĩnh, Sơn La, Thanh Hóa, Long An và Phú Yên làm 2.144 con gia súc mắc bệnh (trong đó trâu chiếm 5,78%, bò chiếm 23%
và lợn chiếm 71,22%) Số gia súc tiêu hủy là 606 con, gồm 28 con trâu, 106 con bò và 472 con lợn Một số tỉnh khác như Nghệ An Đắc Lắc, Lâm Đồng, Tiền Giang, Cà Mau cũng có phát sinh ổ dịch nhưng ở diện nhỏ lẻ, rải rác Đáng lưu ý là dịch LMLM týp A đã xảy ra tại 5 xã, phường thuộc 3 huyện, thị
xã (TX Hồng Lĩnh và, Can Lộc, Nghi Xuân) làm cho 377 con gia súc mắc
bệnh (129 trâu, 246 bò và 02 lợn); chết, tiêu hủy là 6 con (Cục Thú y, 2013)
Rất khó khăn trong công tác phòng, chống dịch Chương trình quốc gia của nước ta chi sử dụng type O Muốn chống dịch phải sử dụng vacxin đa giá với giá thành cao
Trang 21Trong 4 tháng đầu năm 2014 (Cục Thú y, 2014), cả nước đã xuất hiện
48 ổ dịch tại 48 xã thuộc 21 huyện, thị xã của 10 tỉnh gồm Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phú Yên, Kon Tum
và Yên Bái làm 2.350 con gia súc mắc bệnh (gồm 1.386 con trâu, 838 con bò,
102 con lợn và 24 con dê); số gia súc chết và tiêu hủy là 95 con (gồm 14 con
trâu, 10 con bò, 47 con lợn và 24 con dê) Các ổ dịch phát sinh chủ yếu là do
gia súc không rõ nguồn gốc xuất xứ, được đưa từ vùng có ổ dịch cũ (typ O, A) vào địa bàn (Hà Tĩnh, Nghệ An, Sơn La, ) hoặc được vận chuyển bất hợp pháp qua biên giới vào trong nước tiêu thụ (Cao Bằng); trong khi đó việc tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn gia súc trên địa bàn chưa đảm bảo (tiêm không đạt tỷ lệ) tạo thuận lợi cho dịch lây lan
1.3 Virus gây bệnh Lở mồm long móng
1.3.1 Hình thái và cấu trúc của virus LMLM
Virus LMLM thuộc họ Picornavirideae, giống Apthovirus (Nguyễn
Vĩnh Phước, 1978)
Virus LMLM là loại virus nhỏ nhất, có thể qua được các máy lọc Berkefeld, Chamberland và màng lọc Seitz (Nguyễn Như Thanh và cộng sự, 2001) Dưới kính hiển vi điện tử, virus thường có hình cầu, đường kính 20 –
28 nm, gồm 20 mặt đối xứng, 30 cạnh và 12 đỉnh
Hạt virus chứa 30% acid nucleic, đó là một đoạn ARN chuỗi đơn, hợp thành bởi 8000 bazơ có hệ số sa lắng là 35S, không có tính sinh kháng thể và đặc tính kháng nguyên nhưng có vai trò trong quá trình gây nhiễm (Hyattsville M.D, 1991) Vỏ capxit của virus có hơn 60 đơn vị (capsome) Mỗi capsome có 4 loại protein cấu trúc giống nhau là VP1, VP2, VP3 và VP4 VP1, VP2 và VP3 tạo nên một bề mặt của khối 20 mặt đối xứng còn VP4 là protein ở bên trong capxit, kết dính ARN virus với mặt trong của capxit VP1
ở ngoài cùng tham gia vào việc cố định virus trên những tế bào, đóng vai trò
Trang 22quan trọng nhất trong việc gây bệnh, đồng thời là loại kháng nguyên chính tạo
ra kháng thể chống lại bệnh LMLM
Virus LMLM thuộc loại không có vỏ bọc, lớp ngoài cùng cấu tạo bởi một lớp lipit do đó chúng có sức đề kháng cao với các dung môi hữu cơ (cồn, ete…)
1.3.2 Phân loại và phân bố của virus LMLM
Virus LMLM thuộc họ Picornavirideae, giống Apthovirus Virus LMLM có 2 đặc tính đặc biệt liên quan đến dịch tễ học đó là: tính có đa type
và tính dễ biến đổi kháng nguyên
Virus LMLM có 7 type khác nhau gồm: O, A, C, SAT1, SAT2, SAT3
và ASIA1 Các type này có tính kháng nguyên khác nhau, có độc lực khác nhau và không gây miễn dịch chéo cho nhau Những virus này luôn biến đổi tạo thành các subtype mới Hiện nay đã phát hiện hơn 70 subtype khác nhau
Virus LMLM type O được chia thành 11 subtype có tính kháng nguyên khác nhau Type A là type có tính kháng nguyên đa dạng nhất có đến
32 subtype đã được xác định từ đầu những năm 1970 Các virus type C phân lập ở Châu Âu, Nam Mỹ đầu tiên được chia thành 5 subtype dựa trên mối tương quan từ sự kết hợp bổ thể Type Asis1 xem là có tính kháng nguyên ít
đa dạng nhất so với các type O, A, C, chỉ có 3 subtype được xác định từ những năm 1960 (Hội Chăn nuôi Đài Loan, 1997) Các type SAT1, SAT2, SAT3 có các subtype lần lượt là 7, 3, 4
Theo tài liệu định loại năm 1962 (FAO) thì các type chính nói trên phổ biến trong vùng nhất định Ở Châu Âu chỉ có các type O, A, C (type O ở trâu,
bò, type C có nhiều ở lợn, type A tương đối phổ biến ở các loài) Các type SAT chỉ có ở Châu Phi (Nam, Trung, Đông Phi, Xu Đăng và Ai Cập), phổ biến nhất là SAT1, mới đây cũng thấy SAT1 ở Trung Cận Đông (Irắc, Israel, Xyri ) Type Asia1 gặp ở Cận Đông, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Hồng Kông Type O thấy phổ biến ở Đông Nam Á (OIE SEAFMD RCU, 2000), (Oudridge E.J, 1987)
Trang 23Tại Việt Nam căn cứ vào kết quả phân tích gen của một số virus LMLM được Cục Thú y gửi sang Phòng thí nghiệm tham chiếu LMLM tại Pirbright (Anh) cho thấy : Virus LMLM serotyp O hiện có 3 topotyp có nguồn gốc từ Đông Nam Á đang lưu hành trong đó : topotyp SEA gây bệnh cho nhiều loài có thể hiện diện ở Việt Nam từ nhiều năm nay ; topotyp Cathay
có nguồn gốc từ Hồng Kông chỉ gây bệnh cho lợn, lần đầu tiên phát hiện tại Đồng Tháp (1995); topotyp ME-SA có nguồn gốc từ Trung Đông và Nam Á gây bệnh cho nhiều loài, lần đầu tiên phát hiện tại Quảng Nam (1999) Virus LMLM serotyp A đang lưu hành ở phía Nam thuộc topotyp Asia, được phát hiện đầu tiên tại Ninh Thuận và Bình Định (09/2004) Serotyp Asia1 phát hiện đầu tiên vào 10/2005, có nguồn gốc từ Myanmar (Tô Long Thành và cộng sự, 2006)
1.3.3 Đặc tính nuôi cấy của virus
Virus LMLM có tính hướng thượng bì, do đó thường nuôi cấy virus trên :
- Tổ chức da sống (thượng bì), như tổ chức da của thai lợn, bò, chuột con
- Thượng bì lưỡi bò trưởng thành (tổ chức thích hợp nhất), sau nhiều lần tiếp đời, độc lực của virus vẫn giữ được đối với bò và với động vật thí nghiệm
- Môi trường tế bào tốt nhất là lấy từ tuyến yên của bò hoặc lợn, thận bê hoặc cừu non, hoặc dòng tế bào có độ mẫn cảm
Theo Geoffrey W., 1989, WRLFMD trong năm 1973 đã nuôi cấy 140 chủng virus LMLM, gần 120 chủng này đã sinh trưởng phù hợp trong môi trường BHK 21 (Baby Hamster Kidney) Hiện nay môi trường BHK 21 được
áp dụng thường xuyên nhất trong việc nuôi cấy phân lập virus LMLM
1.3.4 Sức đề kháng
Sức đề kháng của virus đối với ngoại cảnh tương đối mạnh, tùy thuộc vào chất chứa của nó, đặc biệt khi nó dính vào các chất khô và những chất protein
Trang 24Virus bị bất hoạt ở nhiệt độ >500C (Chinsangaram J., 2001), ở nhiệt độ
600C - 700C virus sẽ bị chết sau 5 - 15 phút, ở 1000C virus chết ngay Nhiệt độ lạnh virus tồn tại khá lâu: trong tủ lạnh virus có thể tồn tại 425 ngày
Virus bền vững trong khoảng pH = 7 - 7,7, nhanh chóng bị vô hoạt ở
pH cao (pH > 9) hoặc thấp (pH < 6) và hoàn toàn mất hoạt tính ở môi trường
Ngoài ra trong đất ẩm virus sống được hàng năm, lông súc vật tồn tại 4 tuần, cỏ khô sống được 8 - 15 tuần (Chinsangaram J., 2001)
1.4 Một số đặc điểm cơ bản của bệnh LMLM
1.4.1 Loài vật mắc bệnh
Theo các tác giả Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958), Nandy S, (1996) và nhiều tác giả khác thì bệnh LMLM là bệnh của loài động vật móng guốc chẵn bao gồm : trâu, bò, dê, cừu, lợn, hươu, nai
- Trong tự nhiên
Trâu, bò mắc bệnh nhiều nhất rồi đến lợn, cừu, dê Động vật non mẫn cảm hơn động vật trưởng thành
Loài ăn thịt và người ít mắc hơn và thường mắc ở thể nhẹ
Loài động vật một móng như: ngựa, la, lừa, gia cầm, chim không mắc bệnh, nhưng có thể gây bệnh cho vịt được
Voi, lạc đà, sơn dương, nhím, linh trưởng (khỉ) cũng mắc bệnh Các loài bò rừng (Bison bonasus), trâu rừng (yak), lợn rừng, lạc đà, nhiều loài sơn dương, nhiều loài nhai lại hoang dã (nai, hoẵng ) cảm thụ bệnh và có thể trở thành nguồn bệnh cho vật nuôi
Trang 25- Trong phòng thí nghiệm
Có thể gây bệnh cho bê, chuột nhắt trắng, chuột lang, thỏ
1.4.2 Đường xâm nhập
- Trong thiên nhiên: Có thể xâm nhập trực tiếp qua nước bọt hoặc gián
tiếp qua không khí, thức ăn, nước uống, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hóa Ngoài ra, có thể lây qua đường hô hấp, sinh dục, do động vật chân đốt truyền
- Trong thí nghiệm: Đường nội bì có hiệu quả nhất Ở bò và lợn thường
hay tiêm vào nội bì niêm mạc lưỡi, ở chuột lang tiêm vào nội bì gan bàn chân Ngoài ra còn có những đường tiêm khác như: tiêm bắp, dưới da, tĩnh mạch… nhưng lại cho kết quả không chắc chắn và đòi hỏi liều virus cao hơn
1.4.3 Chất chứa mầm bệnh
Virus có nhiều trong các bệnh tích đặc hiệu các mụn nước, dịch mụn nước, màng bọc mụn trên con vật mắc bệnh Độc lực của virus xuất hiện sớm nhất ở nước dãi (10 giờ sau khi nhiễm virus) Virus có nhiều nhất trong dịch mụn tiên phát và mới mọc (khoảng 2 ngày) và có độc lực mạnh Virus có ở trong máu (khi sốt), nội tạng có bệnh tích Virus tồn tại trong nước dãi, nước tiểu, phân, sữa, nước mắt, nước mũi, nhiều nhất khi mụn ở miệng vỡ và có thể kéo dài đến 11 - 13 ngày Tường, nền, máng ăn, chất độn chuồng, rơm cỏ, các
đồ vật, dụng cụ chăn nuôi và chuồng nuôi súc vật bệnh đều có thể chứa virus
1.4.4 Cơ chế sinh bệnh
Thời kì nung bệnh thường ngắn: từ 3 - 6 ngày khi bệnh gây thí nghiệm,
từ 2 - 7 ngày, thậm chí 11 ngày trong bệnh tự nhiên
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978), virus LMLM có tính hướng thượng
bì, sinh sản chủ yếu trong các tế bào thượng bì niêm mạc và da, phần lớn là ở
những tế bào thượng bì non
Sau khi xâm nhập vào cơ thể virus nhanh chóng xâm nhập vào các hạch lâm ba, vào máu và đến các tế bào đích thích hợp như lưỡi, lợi, miệng, kẽ
Trang 26móng, bầu vú Nếu động vật cảm nhiễm qua đường hô hấp, virus nhanh chóng phát triển tại các hạch lâm ba vùng họng (hầu) và từ đó vào máu, hạch lâm ba, đến các cơ quan nội tạng và phát triển tại kẽ móng, miệng, vú…
Virus nhân lên, hình thành các mụn nước sơ phát Virus vào máu gây sốt Cuối giai đoạn sốt, virus nhân lên gây mụn nước thứ phát ở xoang miệng, vành móng, kẽ móng, núm vú…
Một số trường hợp bị thoái hóa cơ tim, làm con vật bị trụy tim và chết Nếu kế phát vi khuẩn sinh mủ con vật nhiễm trùng và chết
1.4.5 Đường lây lan và nguồn bệnh
- Đường lây lan:
Trực tiếp từ gia súc mắc bệnh, khi mầm bệnh theo thức ăn nước uống xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa hoặc qua tổn thương ở da, gián tiếp qua không khí vào đường hô hấp gây bệnh cho gia súc
Từ các ổ dịch cũ không được khử trùng triệt để, virus còn tồn tại trong môi trường, trong những con mắc bệnh nhưng không được tiêu hủy sẽ gây bệnh cho gia súc
Trong ổ dịch, con đường truyền lây chủ yếu qua không khí vào đường
hô hấp, tiếp theo là qua thức ăn, nước uống, chất thải, dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi và cán bộ thú y mang mầm bệnh truyền đi Bệnh lây lan từ vùng này sang vùng khác qua con đường tiêu thụ, vận chuyển súc vật sống và sản phẩm động vật không được kiểm dịch chặt chẽ
Do mầm bệnh LMLM tồn tại ở địa phương và tái phát ở các ổ dịch cũ
Do động vật hoang dã mang mầm bệnh truyền cho gia súc
Trang 27ở trong má, mép, chân răng, lưỡi, môi, lợi Khi mụn vỡ con vật chảy nước dãi nhiều, dính, chảy thành dòng, trông như bọt xà phòng
- Ở chân cũng xuất hiện các mụn nước, đặc biệt là ở kẽ móng và vành móng Sau 1 - 2 ngày thì mụn vỡ, chỗ vỡ thường ở trước hay sau kẽ chân làm cho lớp da chân rách hay vỡ từng lỗ nhỏ Chỗ da sau gót cũng bị loét làm cho móng bị hở và nặng sẽ dẫn đến long móng
- Ở bò sữa thường thấy những biến đổi ở núm vú Ban đầu là mụn nhỏ sau đó lớn dần lên và ăn sâu vào lớp trong gây biến đổi sữa, con vật đau khi vắt
Ngoài ra mụn còn mọc ở vùng da không có lông như: âm hộ, bìu
Ở lợn: Thời gian nung bệnh khoảng 2 - 12 ngày Triệu chứng lâm sàng
gần giống như loài nhai lại Hình thành các mụn nước ở mõm Nặng có biểu hiện què, đi khập khiễng Ít khi hình thành các mụn nước ở miệng, do đó
không có hiện tượng chảy nước dãi
Ở dê, cừu: Triệu chứng nhẹ hơn, mụn ở miệng nhỏ khó nhìn thấy Mụn
ở chân giống như ở trâu, bò
Ở người: Có biểu hiện sốt, mụn nước mọc ở đầu ngón tay, bàn tay,
cánh tay, có khi ở lưỡi, ngứa
Trang 281.5.2 Bệnh tích
- Bệnh tích đầu tiên là mụn nước do virus gây ra, mụn vỡ tạo thành các vết loét Niêm mạc miệng, lợi, phía trong má, mép, chân răng, lưỡi, hầu, họng Có khi có những mảng xuất huyết, thối nát, tụ máu, mụn loét ở kẽ móng, long móng
- Viêm khí quản, cuống phổi, màng phổi và phổi Ở tim: Cơ tim biến chất, mềm, dễ nát, có vệt trắng nhạt hay vàng nhạt như vằn lông hổ
- Khi con vật chết do biến chứng, thường thấy các bệnh tích mưng mủ
và hoại tử, nhất là ở các ngón chân, thối xương, thối gân, sưng khớp xương Virus LMLM còn có thể làm thoái hóa cơ
1.6 Phương pháp chẩn đoán bệnh LMLM
1.6.1 Phản ứng ELISA
- Nguyên lý: Phản ứng ELISA dùng kháng thể hoặc kháng kháng thể
gắn enzym cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên, rồi cho
cơ chất vào Nếu kháng thể tương ứng với kháng nguyên thì kháng thể hoặc kháng kháng thể gắn enzym không bị rửa trôi, enzym sẽ phân giải cơ chất tạo nên màu, khi so màu trong quang phổ kế sẽ định lượng được mức
độ phản ứng
- Phân loại: Phản ứng ELISA được chia làm 3 loại chính
- Phản ứng ELISA trực tiếp (Direct ELISA): Dùng kháng thể gắn enzym để xác định kháng nguyên nghi cố định trên đĩa chuyên dụng
- Phản ứng ELISA gián tiếp (Indirect ELISA): Dùng kháng nguyên chuẩn và kháng kháng thể gắn enzym để phát hiện kháng thể nghi
- Phản ứng Sandwich ELISA gồm 2 loại:
+ Phản ứng Sandwich ELISA trực tiếp (Direct Sandwich ELISA): Kháng nguyên cần chẩn đoán được kẹp giữa kháng thể chuẩn và kháng thể gắn enzym
Trang 29+ Phản ứng Sandwich ELISA gián tiếp (Indirect Sandwich ELISA): Kháng nguyên chuẩn được kẹp giữa kháng thể chuẩn và kháng thể nghi, sau
đó kháng thể nghi được nhận diện bằng kháng kháng thể loài gắn enzym
- Ứng dụng phản ứng ELISA trong chẩn đoán bệnh LMLM
Trong thời gian gần đây cùng với việc phát triển kĩ thuật chẩn đoán ELISA thì phương pháp ELISA ngày càng được sử dụng phổ biến trong chẩn đoán phát hiện bệnh LMLM ở cả gia súc chưa tiêm phòng và đã tiêm phòng vacxin Đặc biệt, trong chẩn đoán sơ bộ nhằm xác định bệnh thì phương pháp ELISA có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp chẩn đoán khác Theo quy định của phòng thí nghiệm chuẩn của FAO/OIE về LMLM, phương pháp thích hợp nhất để phát hiện kháng nguyên của virus LMLM và giám định các serotype của virus LMLM là phương pháp ELISA (Cục Thú y, 2003) Sau đây là một số phương pháp ELISA hay được sử dụng tại các phòng thí nghiệm
Phương pháp ELISA phát hiện kháng nguyên (Enzyme Linked Immunosorbent Assay): Phản ứng dùng kháng thể thỏ kháng virus LMLM hấp phụ lên trên đĩa nhựa 96 lỗ để “bẫy” kháng nguyên virus trong mẫu bệnh phẩm Sau đó dùng kháng thể chuột lang kháng virus LMLM được dùng để định type kháng nguyên virus đã “bẫy” được Phương pháp này đang được áp dụng thường quy tại nhiều phòng thí nghiệm trên toàn thế giới
Phương pháp LPB-ELISA (Liquid Phase Blocking-ELISA) phát hiện kháng thể: Phản ứng LPB-ELISA là một phản ứng nhanh, nhạy và đặc hiệu có thể cho kết quả trong vòng 24 giờ Phản ứng này cũng có nguyên tắc như phản ứng ELISA phát hiện kháng nguyên, nhưng cách tiến hành khác một chút Phản ứng này có thể định tính và định lượng kháng thể của gia súc
bị nhiễm bệnh tự nhiên hay tiêm phòng vacxin LMLM So với phản ứng trung hòa thì phản ứng LPB-ELISA có nhiều ưu điểm hơn và được áp dụng nhiều hơn, thay thế cho phản ứng trung hòa
Trang 30Phương pháp 3ABC-ELISA: Là phương pháp chẩn đoán dựa vào việc xác định kháng nguyên không cấu trúc được sử dụng rộng rãi trên thế giới và đem lại hiệu quả cao Phương pháp chẩn đoán này nhằm xác định kháng nguyên không cấu trúc 3ABC của virus LMLM 3ABC là một trong những kháng nguyên có khả năng kích thích gia súc sinh đáp ứng miễn dịch cao nhất Phương pháp này được Bergmann cùng các cộng sự nghiên cứu, đưa ra lần đầu tiên vào năm 1993 đã thu được nhiều thành công khi ứng dụng rộng rãi ở Nam Mỹ
1.6.2 Kỹ thuật sinh học phân tử - kỹ thuật PCR
Để phát hiện gia súc nhiễm bệnh, đồng thời xác định type virus LMLM gây bệnh dai dẳng ở thực địa kỹ thuật PCR rất nhạy, nhanh, chính xác, hiệu quả sẽ cần thiết và được bổ sung hoặc thay thế cho các phương pháp huyết thanh học PCR có thể phát hiện được virus một cách trực tiếp từ mẫu bệnh hay từ dịch nuôi cấy tế bào phân lập virus
1.7 Khái quát các loại hình vận chuyển gia súc ở Việt Nam
Chi phí vận chuyển đường bộ thường thấp hơn tuy nhiên không chở được số lượng quá lớn, nếu vận chuyển gia súc đường dài dễ gặp rủi do như dịch bệnh, gia súc dễ bị stress, khiến cho dịch bệnh lây lan, phát tán trên đường vận chuyển… Các phương tiện chính dùng để vận chuyển: Xe tải, xe lôi, hoặc đuổi bộ
Trang 311.7.2 Vận chuyển đường sắt
Thời gian vận chuyển gia súc được quy định sẵn theo thời gian tàu chạy, không thay đổi được thời gian Vận chuyển được khối lượng lớn, với vận tốc nhanh ổn định giá thành lại thấp
Vận chuyển bằng đường sắt chỉ vận chuyển trên một tuyến đường cố định, không thể đưa gia súc về tới đích cuối cùng Cần phải chuyển phương tiện vận chuyển nữa
1.7.3 Vận chuyển đường thủy
Có thể vận chuyển hàng hóa với khối lượng lớn hơn các loại hình vận chuyển khác Tốc độ vận chuyển cũng chậm hơn so với các loại hình vận chuyển khác và phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết Do vậy chi phí vận chuyển cao hơn so với các loại hình vận chuyển khác
1.7.4 Vận chuyển hàng hóa đường hàng không
Đây là loại hình ít được sử dụng nhất Vì chi phí vận chuyển cao hơn gấp nhiều lần so với các loại hình vận chuyển khác Khối lượng vận chuyển bị hạn chế Không đưa gia súc về tới đích cuối cùng, phải thông qua các loại hình vận chuyển khác Tốc độ vận chuyển nhanh nhất và đảm bảo an toàn cho gia súc tốt hơn các loại hình vận chuyển khác
Trang 32CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Mô tả tình hình chăn nuôi và dịch bệnh LMLM tại các tỉnh nghiên cứu
- Mô tả sơ lược về tình hình chăn nuôi trâu, bò và lợn tại các tỉnh nghiên cứu
- Mô tả tình hình dịch bệnh LMLM tại các tỉnh nghiên cứu từ năm
2.1.3 Nghiên cứu xác định các loại hình vận chuyển gia súc
- Mô tả các loại hình vận chuyển gia súc trâu, bò, lợn tại các tỉnh
Trang 33- Máy móc trong phòng thí nghiệm bao gồm: Tủ lạnh âm sâu, tủ lạnh thường, buồng cấy vô trùng, nồi hấp vô trùng (autoclave), tủ ấm 37 οC, tủ sấy, bồn nước ấm (water bath), máy li tâm lạnh, máy lắc đĩa, máy lọc, máy cất nước, cân phân tích, máy đo pH, máy đọc ELISA, máy rửa đĩa ELISA
- Các loại dụng cụ thông thường trong phòng thí nghiệm bao gồm: Bình tam giác các loại, ống đong các loại, pipet thủy tinh các loại, micro pipet các cỡ (loại 1, 8, 12 kênh), đầu típ nhựa các cỡ dùng cho micro pipet, đĩa nhựa polystyren 96 lỗ đáy chữ U, bộ KIT ELISA phát hiện kháng thể kháng virus LMLM, hóa chất, dung dịch cần thiết khác trong phòng thí nghiệm, mẫu huyết thanh trâu, bò, lợn của các tỉnh nghiên cứu
- Hóa chất và sinh phẩm (bao gồm cả huyết thanh, kháng nguyên chuẩn virus LMLM)
- Bộ thu thập thông tin về mẫu (PHỤ LỤC
Phụ lục 1)
- Bộ câu hỏi thu thập thông tin về các yếu tố nguy cơ được cấp cho cán
bộ thú y cơ sở để sử dụng trong quá trình ghi chép thông tin về vận chuyển gia súc (Phụ lục 2)
- Số liệu về vận chuyển gia súc do các tỉnh nghiên cứu báo cáo
- Phần mềm vẽ bản đồ ArcGIS 9.3 và phần mềm phân tích thống kê R (R Development Core Team, 2012) và các gói phân tích tương ứng như epiR
(Stevenson, 2012), lme4 (Bates và cộng sự, 2012)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Mô tả tình hình chăn nuôi và dịch bệnh LMLM tại các tỉnh nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu hồi cứu được sử dụng để thu thập thông tin
về tổng đàn gia súc, số liệu dịch bệnh LMLM tại các tỉnh
- Các phương pháp thường quy về phân tích mô tả theo không gian, thời gian và theo đối tượng mắc bệnh được sử dụng để mô tả dịch bệnh LMLM tại các tỉnh nghiên cứu
- So sánh mức độ dịch bệnh dựa trên phân tích thống kê Chi-square test
Trang 342.3.2 Nghiên cứu xác định mức độ lưu hành virus LMLM trên gia súc được vận chuyển
Các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu cắt ngang (Cross-sectional study) đã được sử dụng để thiết kế và tiến hành xác định mức độ lưu hành virus LMLM ở gia súc được vận chuyển từ tháng 03 - 8/2014, cụ thể như sau:
2.3.2.1 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu
Các tỉnh nghiên cứu gồm: Quảng Bình, Quảng trị, Thừa thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk được lựa chọn có chủ đích để tiến hành nghiên cứu dựa trên những tiêu chí sau:
- Đây là các tỉnh trọng điểm về dịch bệnh LMLM từ năm 2006 – 2013
(Nguyễn Thu Thủy và cộng sự, 2013)
- Các tỉnh này nằm dọc trên tuyến đường Quốc lộ 1 do đó có tần suất vận chuyển gia súc lớn, nhất là vận chuyển gia súc từ biên giới vào Việt Nam
(Cocks và cộng sự, 2009)
- Các trạm kiểm dịch đầu mối giao thông giữa tỉnh này và tỉnh khác được lựa chọn để dừng xe vận chuyển gia súc và lấy mẫu máu, mẫu probang
2.3.2.2 Lựa chọn gia súc vận chuyển để lấy mẫu
Trâu, bò, lợn các loại, ở mọi lứa tuổi tại tất cả các huyện, thị, thành phố thuộc 11 tỉnh được lựa chọn để lấy mẫu, cụ thể:
- Trâu, bò, lợn các loại được vận chuyển từ huyện này sang huyện khác, vận chuyển đến lò mổ
- Trâu, bò, lợn các loại được vận chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác
- Trâu bò, lợn các loại được vận chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam
2.3.2.3 Loại mẫu và cách lấy mẫu
- Đối với trâu, bò: Lấy 01 mẫu máu/trâu, bò với thể tích từ 3 – 5ml và
01 mẫu probang
- Đối với lợn: Chỉ lấy 01 mẫu máu/lợn với thể tích 3 – 5ml
- Hình ảnh về quá trình chuẩn bị và lấy mẫu tại Phụ lục 5
Trang 352.3.2.4 Số lượng mẫu
- Đối với trâu, bò:
+ Mỗi tháng, mỗi tỉnh lấy mẫu máu và mẫu probang của 18 bò và 6 trâu được lựa chọn ngẫu nhiên từ số trâu, bò vận chuyển
+ Ngoài 24 mẫu/tháng/tỉnh nêu trên và vì lý do không lấy mẫu probang
ở lợn, nên mỗi tháng mỗi tỉnh lấy thêm 06 mẫu bệnh phẩm hoặc mẫu probang của những trâu, bò bị bệnh (nếu có ổ dịch LMLM xảy ra trong tháng tại các địa phương) hoặc lấy thêm 06 mẫu probang của trâu, bò được vận chuyển để đảm bảo mỗi tháng mỗi tỉnh lấy tổng số 30 mẫu probang
- Đối với lợn: Mỗi tháng, mỗi tỉnh lấy mẫu máu của 6 lợn được lựa chọn ngẫu nhiên từ số lợn được vận chuyển Lấy mẫu liên tục trong vòng 6 tháng Như vậy, mỗi tỉnh cần lấy mẫu máu của 36 lợn
2.3.2.5 Ghi nhãn mẫu
- Mẫu máu sau khi lấy xong, giữ tại xilanh, dán băng dính (loại cho phép viết chữ trên bề mặt) để ghi ký hiệu mẫu Sử dụng bút có mực không phai hoặc khó phai để ghi ký hiệu mẫu
- Nguyên tắc ghi ký hiệu mẫu:
+ Mẫu máu: Chữ viết tắt của tên tỉnh + chữ viết tắt của tên huyện + Tháng + số thứ tự của trâu, bò, lợn được lấy mẫu Ví dụ: TTH-HT-09-01 = Thừa Thiên - Huế - Huyện Hương Trà - Tháng 09 - Gia súc số 01
+ Mẫu Probang: Chữ viết tắt của tên tỉnh + chữ viết tắt của tên huyện + Tháng + số thứ tự của trâu, bò, lợn được lấy mẫu + pro Ví dụ: TTH-HT-02-01-Pro = Thừa Thiên – Huế - Huyện Hương Trà – Tháng 02 – Gia súc số 01– Mẫu probang
- Sau khi ghi chép mã số mẫu và mẫu máu đã đông, cho xilanh đựng mẫu vào túi nilon + Bảng thông tin về mẫu và buộc cẩn thận trước khi cho vào thùng đựng mẫu (có chứa đá lạnh)
Trang 362.3.2.6 Thời gian và số lần lấy mẫu
- Thời gian: Lấy mẫu liên tục trong vòng 06 (sáu) tháng, bắt đầu từ tháng 3/2014; bình quân mỗi tháng lấy mẫu một lần
- Thời điểm lấy mẫu: Lấy mẫu trong vòng hai tuần cuối cùng của mỗi tháng để đảm bảo các mẫu được lấy trong cùng khoảng thời gian ở tất cả các địa phương
2.3.2.7 Bảo quản và vận chuyển mẫu
Mẫu máu sau khi lấy xong, giữ tại xi lanh, dán băng dính ghi ký hiệu mẫu, khi mẫu máu đã đông, cho xilanh đựng mẫu vào túi nilon + Bảng thông tin về mẫu và buộc cẩn thận cho vào thùng đựng mẫu có chứa đá lạnh và vận chuyển đến Cơ quan Thú y vùng III và vùng VI, các mẫu máu cần bảo quản theo đúng quy định hiện hành và cất giữ ở nhiệt độ 4-8 οC (thùng bảo quản lạnh)
- Mẫu huyết thanh cần bảo quản ở nhiệt độ 4 οC trong vòng một tuần và sau đó cần bảo quản ở âm 70 οC cho đến khi xét nghiệm
2.3.2.7 Xét nghiệm mẫu
- Đối với mẫu máu: Xét nghiệm để xác định kháng thể kháng virus LMLM
có trong huyết thanh của gia súc bằng phương pháp 3 ABC ELISA (Phụ lục 3)
- Đối với mẫu probang: Xét nghiệm xác định kháng nguyên của virus LMLM bằng phương pháp PCR (Phụ lục 4)
- Một số hình ảnh xét nghiệm được trình bày tại Hình ảnh cán bộ đi lấy mẫu phối hợp với cán bộ kiểm dịch tại Trạm Kiểm dịch đầu mối của tỉnh Phú Yên lấy mẫu probang vào ngày 21/6/2014
2.3.2.8 Phương pháp quản lý và phân tích số liệu
- Dữ liệu từ phòng thí nghiệm và dữ liệu từ thực địa được nhập vào file MS.Excel sau đó được nhập vào cơ sở dữ liệu MS.Access để thuận tiện cho việc truy xuất và phân tích
Trang 37- Phân tích mô tả về tỷ lệ gia súc nhiễm virus LMLM (theo không gian, thời gian và theo đối tượng) của các địa phương được thực hiện bằng cách sử dụng các phương pháp dịch tễ, thống kê thường quy Tỷ lệ các mẫu dương tính (Số mẫu xét nghiệm dương tính chia cho tổng số mẫu xét nghiệm) sẽ được tính toán ở cấp cá thể ở độ tin cậy 95% theo cách tính của Fleiss Việc so sánh tỷ lệ giữa các loại lợn, giữa các địa phương sẽ được phân tích và dựa vào chỉ số thống
kê Chi - Square test
2.3.3 Nghiên cứu xác định các loại hình vận chuyển gia súc
- Thiết kế nghiên cứu được thực hiện như Mục 2.3.2
- Ghi chép thông tin về gia súc được vận chuyển từ địa phương này sang địa phương khác và qua kiểm dịch của trạm Thú y huyện và Chi cục Thú y tỉnh
- Dữ liệu từ phòng thí nghiệm và dữ liệu từ thực địa được nhập vào file MS.Excel sau đó được nhập vào cơ sở dữ liệu MS.Access để thuận tiện cho việc truy xuất và phân tích
- Dữ liệu về vận chuyển gia súc được phân tích mô tả và định lượng sử dụng phương pháp phân tích dịch tễ thường quy và phương pháp phân tích đa tầng nhiều biến (multilevel analysis)
2.3.4 Nghiên cứu xác định các yếu tố liên quan đến loại hình vận chuyển gia súc
- Thiết kế nghiên cứu được thực hiện như Mục 2.3.2
- Ghi chép thông thông tin về các yếu tố nguy cơ do cán bộ Trạm Thú y
và Chi cục Thú y thực hiện
- Dữ liệu từ phòng thí nghiệm và dữ liệu từ thực địa được nhập vào file MS.Excel sau đó được nhập vào cơ sở dữ liệu MS.Access để thuận tiện cho việc truy xuất và phân tích
- Phân tích đa tầng nhiều biến (multilevel analysis) được áp dụng để định lượng các yếu tố nguy cơ theo các phân tầng khác nhau (Dohoo, 2003;
Long, 2013; Dohoo và cộng sự, 2001), cụ thể theo các bước sau:
Trang 38+ Bước 1: Xác định “Đầu ra” là gia súc dương tính với virus LMLM
+ Bước 2: Phân tích sàng lọc (bivarriate analyses) để xác định mối liên
hệ giữa “Đầu ra” và từng yếu tố nguy cơ Phương pháp kiểm tra của Wald (Agresti, 2007) được sử dụng để xác định mối liên hệ giữa các biến nguy cơ với “Đầu ra” Tất cả các biến nguy cơ có mối liên hệ với “Đầu ra” về mặt thống kê, sinh học và có giá trị P < 0,2 được giữ lại để đưa vào phân tích đa biến (Bước 3) Những biến nguy cơ có mối liên hệ với với “Đầu ra” ở giá trị P
> 0,2 thì được loại bỏ, theo nguyên tắc, loại bỏ các biến có giá trị P cao nhất cho đến khi chỉ còn các biến có P < 0,2
+ Bước 3: Phân tích đa biến (multivariable analyses): Tất cả các biến
có P < 0,2 được xác định tại Bước 2 được đưa vào mô hình đa biến và chạy
mô hình phân tích Chỉ những biến nguy cơ nào có mối liên hệ về mặt thống
kê, sinh học với “Đầu ra” và có giá trị P < 0,05 thì giữ lại để tính ảnh hưởng của các biến đa cấp tại Bước 4 Yếu tố ảnh hưởng ngẫu nhiên cũng được đưa vào mô hình hồi quy logic hỗn hợp (mixed-effects logistic regression model)
để phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng không thể đo được của các yếu tố
ở cấp gia súc, cấp xã và cấp tỉnh lên khả năng một gia súc bị nhiễm virus LMLM Dựa trên cách tiếp cận này, chuyển dạng logic (logit transform) cơ sở
bị bệnh i ở xã j tại tỉnh k, p ijk, được mô hình hóa theo chức năng tuyến tính
của một loạt các yếu tố ảnh hưởng m là β 1 … β m và ảnh hưởng của các yếu tố
nguy cơ ở các cấp độ gia súc, cấp xã X j và tỉnh P k được tính theo công thức sau (Bước 4):
ijk k j mijk m
i
m ijk
ijk
P X x p
p
εβ
1
Kết quả của mô hình cuối cùng được thể hiện bởi tỷ số chênh đã được điều chỉnh cho mỗi biến nguy cơ Tỷ số chênh (odds ratio, OR) lớn hơn 1 cho thấy gia súc khi phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ có khả năng nhiễm virus LMLM tăng lên Ngược lại, nếu OR < 1 cho thấy nguy cơ gia súc nhiễm virus
Trang 39LMLM giảm đi OR = 1 cho thấy không có ảnh hưởng của các yếu tố lên nguy cơ gia súc nhiễm virus LMLM
Đường cong đặc trưng thể hiện hoạt động của bộ thu nhận (Receiver Operating Characteristic, ROC) được vẽ để biểu thị khả năng dự đoán của mô hình logic Vùng dưới đường cong ROC có giá trị giao động từ 0-1 để mô tả khả năng dự đoán của mô hình đối với một cơ sở bị bệnh hoặc không bị bệnh Giá trị dưới đường cong ROC càng lớn, cho thấy khả năng mô hình phỏng đoán chính xác càng cao (Hosmer and Lemeshow, 2000) Phân tích thống kê được tiến hành bằng cách sử dụng bộ phân tích thống kê lme4 package (Bates and Sarkar, 2007)
ở chương trình R 2.15.2 (R Development Core Team, 2012)
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Mô tả tình hình chăn nuôi và dịch bệnh LMLM tại các tỉnh nghiên cứu
3.1.1 Tình hình chăn nuôi gia súc của các tỉnh nghiên cứu
Bảng 3.1: Tổng đàn trâu, bò, lợn tại 11 tỉnh nghiên cứu