Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của các dự án đầu tư tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng .... Trên con đường công nghiệp hóa, hiệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN NGỌC QUYẾT
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VIỆC THU HỒI ĐẤT XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP TẰNG LOỎNG,
HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.HỒ THỊ LAM TRÀ
HÀ NỘI, NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng … năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Ngọc Quyết
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đến nay khóa học sắp kết thúc Để vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn và công tác nghiên cứu khoa học, được phép của Học viện, khoa Quản lý đất đai tôi
tiến hành thực hiện đề tài: Đánh giá thực trạng việc thu hồi đất xây dựng Khu công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc Học viện, Ban Quản lý đào tạo, khoa Quản lý Đất đai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hồ Thị Lam Trà đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Vụ Quản lý các khu kinh tế thuộc Bộ
Kế hoạch và Đầu tư; Ban Quản lý khu kinh tế Lào Cai; UBND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai và các tổ chức, cá nhân đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn đến gia đình, người thân, cán bộ đồng nghiệp và bạn bè
đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục viết tắt vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Yêu cầu 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Một số vấn đề lý luận liên quan 4
1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 4
1.1.2 Khái quát về khu công nghiệp 8
1.2 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp 13
1.2.1 Kinh nghiệm các nước trên thế giới về việc thu hồi đất 13
1.2.2 Khả năng áp dụng kinh nghiệm của các nước trên thế giới để hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Việt Nam 20
1.2.3 Tình hình xây dựng các KCN trên thế giới 22
1.3 Tình hình thu hồi đất phục vụ phát triển và xây dựng khu công nghiệp của Việt Nam 24
1.3.1 Tình hình thu hồi đất phục vụ phát triển của Việt Nam 24
1.3.2 Tình hình xây dựng các khu công nghiệp tỉnh Lào Cai 26
1.4 Những tác động của việc xây dựng các khu công nghiệp 32
1.4.1 Tác động về kinh tế 32
1.4.2 Tác động về xã hội 35
1.4.3 Tác động đến việc làm của người dân 36
Trang 6CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 38
2.1 Đối tượng nghiên cứu 38
2.2 Phạm vi nghiên cứu: 38
2.3 Nội dung nghiên cứu 38
2.3.1 Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Bảo Thắng 38
2.3.2 Điều tra việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng khu công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; 38
2.3.3 Nghiên cứu một số tác động của việc thu hồi đất của dự án xây dựng khu công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đến người dân 38
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện các chính sách sau thu hồi đất 39
2.4 Phương pháp nghiên cứu 39
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 39
2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp 39
2.4.3 Phương pháp thống kê 40
2.4.4 Phương pháp chuyên gia 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bảo Thắng 41
3.1.1 Vị trí địa lý 41
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 43
3.1.3 Điều kiện kinh tế - Xã hội 47
3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai 53
3.2 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trơ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của các dự án đầu tư tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng 54
3.2.1 Khái quát về KCN Tằng Loỏng 54
3.2.2 Việc tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tài định cư khi nhà nước thu hồi đất 59
Trang 73.2.3 Khái quát việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất tại các dự án đầu tư tại Khu công
nghiệp Tằng Loỏng 61
3.2.4 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của các dự án đầu tư tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng 64
3.2.5 Kết quả điều tra hộ dân 75
3.2.6 Đánh giá chung 76
3.3 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến đời sống người dân 78
3.3.1 Kết quả điều tra, phỏng vấn các hộ về tình hình thu hồi đất, thu nhập, việc làm 78
3.3.2 Tác động đến tài sản sở hữu của hộ 81
3.3.3 Tác động đến tình hình ổn định cuộc sống của hộ so với trước khi thu hồi đất thành lập KCN 82
3.4 Giải pháp và cơ chế thực hiện 92
3.4.1 Về thông tin tuyên truyền 92
3.4.2 Về cơ chế, chính sách 92
3.4.3 Giải pháp về thông tin thị trường lao động và tư vấn việc làm 94
3.4.4 Giải pháp thực hiện đồng bộ giữa tiến độ xây dựng cơ sở vật chất khu tái định cư với việc bồi thường hỗ trợ di chuyển và sắp xếp ổn định dân cư 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Kiến nghị đề xuất 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 8DANH MỤC BẢNG STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 1.1: Diện tích đất nông nghiệp thu hồi giai đoạn 2006 - 2010 24
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Bảo Thắng 44
Bảng 3.2: Phát triển dân số huyện từ năm 2009 - 2013 46
Bảng 3.3: Phát triển nguồn lao động giai đoạn 2009 - 2013 46
Bảng 3.4: Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2009 - 2013 48
Bảng 3.5: Một số chỉ tiêu tổng hợp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và huyện Bảo Thắng trên địa bàn tỉnh năm 2013 49
Bảng 3.6: Thu chi ngân sách giai đoạn 2009 - 2013 50
Bảng 3.7: Tăng trưởng GTSX ngành CN – TTCN của huyện Bảo Thắng giai đoạn 2009 - 2013 51
Bảng 3.8: Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của huyện 52
Bảng 3.9: Quy mô sử dụng đất các khu chức năng 58
Bảng 3.10: Chỉ tiêu sử dụng đất và quy mô sử dụng đất 58
Bảng 3.11: Tổng hợp công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại khu công nghiệp Tằng Loỏng 62
Bảng 3.12: Hỗ trợ di chuyển 73
Bảng 3.13: Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các hộ điều tra 75
Bảng 3.14: Diện tích đất còn lại của các hộ sau khi thu hồi đất 79
Bảng 3.15: Nguồn thu nhập của các hộ điều tra 79
Bảng 3.16: Tình trạng việc làm trước và sau khi thu hồi đất của người lao động 80
Bảng 3.17: Tài sản được sắm bởi tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ điều tra 81
Bảng 3.18: Tình hình thu nhập sau khi thu hồi đất của các hộ điều tra 83
Bảng 3.19: Đời sống văn hóa tinh thần khi chuyển ra nơi ở mới so với nơi ở cũ của các hộ điều tra 85
Bảng 3.20: Tình hình sử dụng tiền bồi thường của các hộ điều tra 88
Trang 9DANH MỤC HÌNH STT TÊN HÌNH TRANG
Hình 1.1: Một số hình ảnh nhà máy tại khu công nghiệp Tằng Loỏng 28 Hình 3.1: Sơ đồ hành chính huyện Bảo Thắng 42 Hình 3.2: Sơ đồ quy hoạch chi tiết điều chỉnh và mở rộng Khu công
nghiệp Tằng Loỏng 57 Hình 3.3: Sơ đồ quy trình các bước tiến hành 67 Hình 3.4: Một số hình ảnh tại khu tái định cư 87
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG CHỮ VIẾT TẮT
ATXH An toàn xã hội CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
GPMB Giải phóng mặt bằng GCNQSD Giấy chứng nhận quyền sử dụng NSNN Ngân sách nhà nước
TĐC Tái định cư
TT Thị trấn KCN Khu công nghiệp KKT Khu kinh tế KCNC Khu công nghệ cao TTCN Tiểu thủ công nghiệp UBND Ủy ban nhân dân
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quốc tế hoá nền kinh tế các nước đang là một xu hướng nổi bật trong đời sống kinh tế của khu vực và thế giới Việt Nam cũng đang tiến hành hội nhập vào nền kinh tế thế giới Để đạt được các chỉ tiêu kinh tế chung của các nước trong khu vực và thế giới, Việt Nam cần mở cửa hơn nữa, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hướng về xuất khẩu Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đưa đất đai thực sự trở thành nguồn vốn, nguồn thu hút cho đầu tư phát triển thì việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị tập trung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, xây dựng
cơ cấu đất đai hợp lý là con đường hết sức cần thiết, then chốt và duy nhất của quá trình phát triển Nhu cầu chuyển đổi đất đai đang tạo nên một áp lực ngày càng tăng, trong 10 năm qua, từ 2001-2010 đã có 725 nghìn ha đất nông nghiệp chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp như xây dựng đường giao thông, thủy lợi, khu đô thị, khu công nghiệp ; dự báo trong 10 năm tới (2011-2020), diện tích đất chuyển từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp sẽ là 907 nghìn ha Trong tình trạng chuyển đổi đất đai mạnh như vậy, vấn đề phát triển bền vững cần đặt
ra thành một ưu tiên hàng đầu, giải quyết quỹ đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đồng thời với giải quyết các vấn đề liên quan đến việc làm, thu nhập, giảm khiếu kiện của người bị thu hồi đất, giữ ổn định và công bằng xã hội Các KCN, KKT đóng góp ngày càng lớn vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2014, tổng doanh thu của các doanh nghiệp KCN, KKT đạt trên 47.408 triệu USD và 76.634 tỷ đồng (tăng 34% so với cùng ký năm 2013 và đạt 62% so với kế hoạch năm 2014); đóng góp vào NSNN hơn 37.599 tỷ đồng (tăng 27% so với cùng kỳ năm 2013, đạt 60% kế hoạch đề ra năm 2014; các KCN, KKT đã giải quyết việc làm cho hơn 2,1 triệu
lao động… (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2014) Tuy nhiên việc quy hoạch, sử dụng
đất của các KCN, KCX, KKT thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập Quy hoạch KCN, KCX, KKT do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thường xuyên phải điều
Trang 12chỉnh, bổ sung; diện tích đất đã thu hồi để giao và cho các chủ đầu tư thuê để đầu
tư phát triển các KCN, KKT chủ yếu lấy vào đất nông nghiệp, nhưng sử dụng chưa hiệu quả, tỷ lệ lấp đầy không cao; việc giải quyết các vấn đề xã hội (đời sống, việc làm…) khi thu hồi đất chưa thật tốt Việc bồi thường, giải phóng mặt bằng trong các KCN, KCX, KKT diễn ra còn chậm Nhiều dự án đã đấu thầu xong nhưng chưa có phương án bồi thường hoặc chưa chuẩn bị đầy đủ quỹ đất cho việc tái định cư, một số dự án đã có chủ đầu tư nhưng chưa giải phóng được mặt bằng Việc bồi thường, giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn là do một số chính sách thay đổi; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chưa được quan tâm đúng mức; nguồn vốn bố trí cho công tác này còn hạn chế (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)
Để hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015, tỉnh Lào Cai đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để phát triển các ngành, lĩnh vực; trong đó đối với công nghiệp: Chú trọng phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với các khu, cụm công nghiệp; hoàn thành thực hiện đầu tư và khai thác có hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có; trong đó có Khu công nghiệp Tằng Loỏng, là một khu công nghiệp trọng điểm, quan trọng của tỉnh; theo Quy hoạch được duyệt, Khu công nghiệp có diện tích đất: 1.100 ha, nằm trên địa bàn thị trấn Tằng Lỏng, 3 xã (Xuân Giao, Gia Phú, Phú Nhuận); với chủ trương của tỉnh chỉ lập và quản lý quy hoạch còn lại do nhà đầu tư tự bỏ vốn để trển khai Dự án, tự giải phóng mặt bằng, tái định cư, san lấp mặt bằng, đầu tư hạ tầng đồng bộ nên trong quá trình thực hiện quy hoạch từ 2004 đến nay, mặc dù đã được sự quan tâm của UBND tỉnh Lào Cai, các Sở, ban, ngành, các cấp và UBND huyện Bảo Thắng nhưng công tác thu hồi đất, GPMB và việc giải quyết các vấn đề xã hội (đời sống, việc làm…) vẫn gặp một số khó khăn nhất định
Để nhìn nhận về vấn đề nêu trên với đặc điểm của tỉnh Lào Cai và nhằm nghiên cứu làm rõ việc thu hồi đất xây dựng Khu công nghiệp Tằng Loỏng, đồng thời đề xuất các giải pháp hợp lý cho khu vực và có thể áp dụng rộng rãi, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng việc thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai”
Trang 132 Mục đích, yêu cầu
2.1 Mục đích
Thông qua việc đánh giá thực trạng thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; đánh giá được các tác động của việc thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp Tằng Loỏng, để đề xuất các giải pháp
và chính sách hỗ trợ mới và hợp lý cho địa bàn nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề lý luận liên quan
1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.1.1.1 Thu hồi đất
Thu hồi là việc lấy lại cái đã đưa ra, đã cấp phát ra hoặc cái bị người khác
lấy Đối với đất đai, do quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân, do Nhà nước là
đại diện, vì vậy, khái niệm thu hồi đất gắn liền với sự tồn tại của quyền sở hữu toàn dân về đất đai Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu
lại quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức,
Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý (Luật Đất đai, 2003)
Về bản chất, thu hồi đất chính là việc chuyển quyền sử dụng đất theo một
cơ chế bắt buộc thông qua biện pháp hành chính Việc thu hồi đất có những đặc điểm sau đây:
- Xảy ra theo một yêu cầu cụ thể (thu hồi đất do nhu cầu vì lợi ích chung) hoặc trong một hoàn cảnh cụ thể (do vi phạm pháp luật về đất đai, do không còn nhu cầu sử dụng đất)
- Việc thu hồi đất phải bằng một quyết định hành chính cụ thể, trong đó phải thể hiện rõ vị trí, diện tích, loại đất bị thu hồi; tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi
- Được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ và được quy định riêng đối với từng trường hợp
Mỗi trường hợp thu hồi đất có sự khác nhau về căn cứ để thu hồi, về trình
tự, thủ tục thu hồi, về chính sách bồi thường khi thu hồi đất:
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng được căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và dự án đầu tư đã được chấp thuận, cấp phép đầu tư, quyết định đầu tư Thu hồi đất trong trường hợp người được trao quyền sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai phải trên cơ sở kết luận thanh tra; Thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu
sử dụng đất phải trên cơ sở quyết định giải thể của cơ quan có thẩm quyền, giấy chứng tử, đơn trả lại đất,
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
Trang 15gia, lợi ích công cộng được thực hiện theo một trình tự, thủ tục với thời gian tương đối dài Thu hồi đất trong trường hợp người được trao quyền sử dụng đất
vi phạm pháp luật về đất đai gắn liền với thủ tục thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu sử dụng đất có trình tự thủ tục đơn giản hơn
- Tùy từng trường hợp cụ thể và căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất mà người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc không được bồi thường thiệt hại về đất, về tài sản gắn liền với đất
1.1.1.2 Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Luật Đất đai năm 2003 thì “bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” Trong các điều khoản quy định cụ thể, Luật cũng quy định những thiệt hại về nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi trên đất do việc thu hồi đất gây ra cũng được xem xét bồi thường (Luật Đất đai, 2003) Thực
tế quá trình triển khai thi hành Luật, việc xác định loại thiệt hại, mức độ thiệt hại, đối tượng được bồi thường cần được xem xét một cách toàn diện, cụ thể hơn:
- Về xác định thiệt hại: Ngoài thiệt hại về đất, nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất thì còn có những thiệt hại khác mà người sử dụng đất cần phải được bồi thường như: thiệt hại do chi phí đã đầu tư vào việc san lấp mặt bằng, thiệt hại
do mất địa thế kinh doanh, các thiệt hại về sức khỏe do việc thực hiện dự án gây ra như: khói bụi, tiếng ồn, nước thải
- Về xác định đối tượng được bồi thường: Đối tượng bị ảnh hưởng từ việc thu hồi đất không chỉ là tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi mà còn bao gồm cả người đang sử dụng đất thuê, người sử dụng đất lân cận, người có lợi ích liên quan Khái niệm “đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất” được sử dụng trong Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993 Bắt đầu từ thời điểm thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, cụm từ “bồi thường” đã được sử dụng thay cho cụm từ “đền bù thiệt hại” thể hiện tư tưởng chỉ đạo đổi mới công tác giải phóng mặt bằng, đó là không chỉ trả lại những thiệt hại
“hữu hình” có thể kiểm đếm được mà còn phải tính toán bù đắp lại cả những giá trị không thể đo đếm được như là môi trường sống của cả cộng đồng, điều kiện học tập, các dịch vụ, tiện ích sinh hoạt, v.v ; kèm theo đó là một cơ chế giải quyết
Trang 16những bất đồng giữa bên gây ra thiệt hại (Nhà nước) với bên bị thiệt hại (người bị thu hồi đất) hướng tới sự khách quan, công bằng hơn thông qua cơ chế giải quyết khiếu nại, khắc phục tình trạng các cơ quan nhà nước giành quyền áp đặt mức đền
bù thiệt hại, không chú ý đến lợi ích chính đáng của người dân
Theo Bộ luật Dân sự thì bồi thường là việc đền bù những thiệt hại về vật
chất, về tinh thần mà mình gây ra cho người khác, thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời; các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần; khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan
nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường (Bộ Luật dân sự, 2005)
Như vậy, có thể đưa ra nhận xét là khi chuyển từ thuật ngữ “đền bù thiệt hại” sang thuật ngữ “bồi thường” khi Nhà nước thu hồi đất đã thể hiện tư tưởng chỉ đạo trong xây dựng Luật đó là việc bồi thường cần phải đổi mới để việc tính toán mức độ thiệt hại một cách khách quan, tôn trọng ý kiến của người bị thiệt hại và bồi thường một cách sòng phẳng như khi thực hiện bồi thường thiệt hại theo pháp luật dân sự, tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn còn một khoảng cách khá
xa so với tư tưởng chỉ đạo này mà một trong những nguyên nhân của nó nằm ở ngay chính sự khác biệt giữa cơ chế bồi thường theo pháp luật đất đai với bồi thường theo pháp luật dân sự, cụ thể như sau:
- Trong Luật đất đai, việc thương thảo về mức độ thiệt hại và giá trị bồi thường diễn ra một chiều theo hướng áp đặt ý kiến chủ quan của Nhà nước đối với người bị thiệt hại, dễ dẫn đến sự thiếu bình đẳng trong mối quan hệ này, trong khi
đó, bồi thường theo pháp luật dân sự, mối quan hệ giữa bên gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại là quan hệ bình đẳng, dựa trên sự đồng thuận của cả hai bên
- Trong Luật đất đai, Nhà nước tham gia quan hệ bồi thường với tư cách là bên gây ra thiệt hại, đồng thời Nhà nước lại đóng vai trò là trung gian hòa giải thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại của tổ chức, cá nhân, do đó tính khách quan trong quá trình giải quyết khiếu nại rất dễ bị vi phạm Điều này khác với bồi thường trong pháp luật dân sự, khi đó Nhà nước chỉ đóng vai trò trung gian hòa giải giữa bên gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại nên các phán quyết của Nhà nước đưa ra có tính khách quan hơn
Trang 171.1.1.3 Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua các khoản hỗ trợ bao gồm: Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở; hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp; hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vườn, ao không được công nhận là đất ở;
hỗ trợ khác Các khoản hỗ trợ này được hiểu là phần cho thêm của Nhà nước sau khi
đã bồi thường sòng phẳng và là khoản điều tiết từ phần giá trị gia tăng từ đất đai mà không phải là do đầu tư của người sử dụng đất mang lại (Luật Đất đai, 2003; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3 tháng 12 năm 2004; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009)
Như vậy, khác với bồi thường là việc trả lại một cách tương xứng những giá trị bị thiệt hại, thì hỗ trợ mang tính chính sách, trợ giúp thêm của Nhà nước, thể
hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với sự hi sinh, mất mát của người bị thu hồi đất cho những lợi ích chung của đất nước, của cộng đồng
1.1.1.4 Tái định cư
Tái định cư là việc Nhà nước bố trí đất ở, nhà ở tại nơi mới cho những người
bị Nhà nước thu hồi đất ở mà họ không còn chỗ ở nào khác Việc thu hồi đất ở thông qua một quyết định hành chính là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế
và đòi hỏi có sự “hy sinh” của người sử dụng đất; do đó, không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật chất (có đất ở, nhà ở) mà còn phải đảm bảo lợi ích của người bị thu hồi đất, họ phải có được chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở
cũ (Luật Đất đai, 2003; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009)
Như vậy, nếu việc bồi thường thiên về mức độ tương xứng thì tái định cư thiên về chính sách tạo lập chỗ ở Trong quy định của Luật đất đai năm 2003 có sự giao thoa giữa hai khái niệm này, theo đó các khu tái định cư được xây dựng để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở
Trang 181.1.2 Khái quát về khu công nghiệp
1.1.2.1 Định nghĩa về khu công nghiệp
Trong luận văn này thống nhất định nghĩa KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập (Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về Qui chế KCN, KCX, KCNC) Hoặc KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự
và thủ tục quy định tại Nghị định này (Nghị định số 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/3/2008 quy định về KCN, KCX và KKT)
1.1.2.2 Mô hình và phân loại khu công nghiệp
Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới trong xu thế toàn cầu hoá cùng với các điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia và với sức ép của thời đại, thế giới ngày nay đã định hình ra các mô hình KCN khác nhau, các mô hình KCN này có những điểm chung và các điểm riêng, song ranh giới giữa chúng rất mỏng manh, dễ sử dụng lẫn Tuy nhiên, xét về quy mô và tính chất hoạt động, KCN có thể phân ra theo các nhóm sau:
- Phân theo quy mô có 2 loại:
+ KCN tập trung: Có quy mô từ 50 ha trở lên như Khu công nghiệp Tằng Loỏng
+ KCN vừa và nhỏ: Có quy mô nhỏ hơn 50 ha
- Phân theo mục đích phát triển KCN, có các hình thức sau:
+ KCN nhằm thu hút đầu tư nước ngoài: Thường tập trung ở các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế lớn của đất nước; quy mô thường lớn hơn 100 ha + KCN nhằm di dời các cơ sở công nghiệp trong các thành phố, đô thị lớn Thường tập trung ở các thành phố lớn, có quy mô nhỏ hơn 100 ha; như KCN Đông Phố Mới (Lào Cai), KCN Phú Thị (Hà Nội), KCN Thanh Trì (Hà Nội)
+ KCN gắn với ưu thế của địa phương Thường có quy mô nhỏ hơn 100
ha, gắn với lợi thế của địa phương và chế biến các nông sản, thực phẩm do địa
Trang 19phương đó sản xuất ra Điển hình ở Việt Nam có các khu: KCN Tiền Hải (Thái Bình), KCN Tâm Thắng (Đắc Lắc)
- Phân theo đặc điểm ngành công nghiệp:
+ KCN tập trung các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp chế tạo: Như KCN Tằng Loỏng (Lào Cai) tập trung dự án về chế biến sâu khoáng sản, hóa chất, phân bón; KCN Phú Mỹ 1 (Bà Rịa-Vũng Tàu) tập trung các dự án về thép, phân bón, điện, khí
+ KCN tập trung các ngành công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng: Sản xuất các sản phẩm: may mặc, điện tử, da-giầy, xe máy, Như KCN Biên Hoà II (Đồng Nai), KCN Đồng An (Bình Dương)
+ KCN tập trung các ngành công nghiệp dịch vụ: Chuyên sản xuất các sản phẩm phục vụ cho các ngành công nghiệp như: bao bì, đóng gói, Như KCN Bình Đường (Bình Dương)
+ KCN gắn với nông nghiệp, nông thôn: Gồm các ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp, sản xuất các sản phẩm hỗ trợ cho nông nghiệp và nông thôn Như KCN Phúc Khánh (Thái Bình), Tâm Thắng (Đắc Lắc) (Lê
Tuyển Cử, 2012)
1.1.2.3 Nguyên tắc và vai trò của xây dựng khu công nghiệp
a) Nguyên tắc xây dựng khu công nghiệp
- Có khả năng tạo ra kết cấu hạ tầng, thuận lợi về giao thông vận tải, cung cấp điện, cấp nước và thải nước Xử lý môi trường bảo đảm có hiệu quả và phát triển bền vững lâu dài, có đủ dư địa để mở rộng và phù hợp với những tiến bộ khoa học và công nghệ của nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp của thế giới
- Có khả năng cung cấp nguyên liệu tương đối thuận tiện, hoặc tốt hơn là trực tiếp với nguồn nguyên liệu Đôi khi do cự ly vận tải và yêu cầu bảo quản nguyên liệu, quy mô xí nghiệp công nghiệp phải thích hợp để đảm bảo hiệu quả
- Có nguồn lao động cả số lượng và chất lượng đáp ứng được yêu cầu sản xuất với chi phí tiền lương thích hợp
- Có khả năng giải quyết thị trường tiêu thụ sản phẩm cả nội tiêu và ngoại tiêu
Trang 20- Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp đặc biệt là trồng trọt trong việc sử dụng đất để xây dựng khu công nghiệp
- Chú ý kết hợp với yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng trong những
điều kiện cụ thể ở từng khu vực và từng giai đoạn (Lê Tuyển Cử, 2012)
b) Vai trò của khu công nghiệp
Vai trò của KCN đối với nền kinh tế quốc dân được thể hiện qua việc làm
thoả mãn hài hoà các mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài và của cả nước chủ nhà
- Mục tiêu của nhà đầu tư:
+ Giảm chi phí sản xuất:
Đối với nhà đầu tư, mục tiêu cao nhất là thu được lợi nhuận tối đa, chi phí đầu tư thấp nhất, do vậy đầu tư vào KCN với cơ sở hạ tầng sẵn có và với những
ưu đãi của Nhà nước được các nhà đầu tư quan tâm So với đầu tư ngoài KCN, các nhà đầu tư trong KCN được hưởng lợi ích từ việc có các công trình hạ tầng
kỹ thuật sẵn có sẽ thuận lợi hơn trong việc thực hiện dự án đầu tư
Đối với nhà đầu tư nước ngoài, đầu tư vào các nước đang phát triển để tận dụng các yếu tố sản xuất như: nguồn lao động dồi dào, giá rẻ và gần thị trường tiêu thụ sản phẩm đã thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia nhanh chóng quyết định chuyển các ngành công nghiệp có hàm lượng lao động sống cao sang các nước đang phát triển Thêm vào đó, do giá đất ngày càng cao, sự phát triển của các ngành dùng nhiều nguyên liệu, công nghệ tiêu chuẩn hoá như cơ khí chế tạo, sản xuất cấu kiện vv không đòi hỏi trình độ công nghệ cao tại các nước tư bản phát triển tỏ ra không còn hiệu quả do các khoản chi phí vận chuyển nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài ngày càng tăng, làm giảm cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới
Một điểm đặc biệt nữa là các KCN được đặt ở những vị trí đặc biệt, nằm gần các tuyến giao thông quốc tế, do vậy hàng hoá sản xuất tại đây sẽ nhanh chóng được đưa vào lưu thông, giảm thiểu chi phí vận chuyển và bảo quản + Việc sản xuất hàng hoá ở KCN có thể đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh của thị trường thế giới tại khu vực vào những thời điểm cần thiết
Trang 21+ Tạo địa bàn hoạt động và thực hiện chiến lược phát triển lâu dài:
Khi xây dựng KCN, nước chủ nhà đã quy hoạch phát triển tổng thể về kinh tế xã hội KCN được xây dựng tại những địa điểm thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá xuất khẩu cũng như thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc là những nơi quy hoạch phát triển thành các khu vực phát triển đô thị, dân cư sau này Do vậy, nhà đầu tư nước ngoài một mặt tạo cơ sở để xâm nhập thị trường, đặc biệt là thị trường rộng lớn chưa được khai thác của các nước đang phát triển Mặt khác,
sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư xây dựng chiến lược phát triển lâu dài Đầu tư của các nước phương tây, Nhật Bản vào Trung Quốc là điển hình của xu hướng đó
+ Cuối cùng, các chủ đầu tư có điều kiện thay đổi được công nghệ mới, chuyển các công nghệ cũ sang các nước đang phát triển, tránh được áp lực về bảo
vệ môi trường tại các nước chủ đầu tư Tại các nước phát triển cao có yêu cầu rất nghiêm ngặt về chống ô nhiễm môi trường, không ít nhà máy đã phải đóng cửa vì không đổi mới được công nghệ Còn các nước đang phát triển thì có thể vì lợi ích trước mắt mà trong thời gian đầu của quá trình CNH, HĐH vẫn có thể chấp nhận những công nghệ này
- Mục tiêu của các nước tiếp nhận:
+ Thu hút vốn đầu tư, tạo nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển
KT-XH của đất nước, đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng, góp phần hấp dẫn trong việc thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước
+ Góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm năng lực sản xuất mới, tạo nguồn hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH Tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh tự phát, phân tán, tiết kiệm đất đai, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, tiết kiệm chi phí sản xuất
+ Tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động Trong khi các nước đang phát triển dư thừa sức lao động thì tình trạng khan hiếm nguồn lao động và giá nhân công cao ở các nước tư bản phát triển đặt các nước này trước sự lựa chọn sử
Trang 22dụng lao động dồi dào ở các nước đang phát triển Thực tiễn cho thấy, KCN là công cụ hữu hiệu thực hiện chiến lược lâu dài về toàn dụng lao động ở các nước đang phát triển
+ Du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản lý các công ty tư bản nước ngoài Để tránh bị tụt hậu về kinh tế, đặc biệt trong sản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới, các nước đang phát triển muốn nhanh chóng phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia mình, nâng cao trình độ quản lý kinh tế đất nước Xây dựng KCN để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từ đó tạo điều kiện nhập khẩu kỹ thuật, công nghệ của các công ty tư bản nước ngoài, học tập kinh nghiệm quản lý kinh tế của họ là biện pháp hữu hiệu mà nhiều nước từng áp dụng như Đài Loan, Trung Quốc vv + Là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, đẩy nhanh tốc độ
đô thị hoá Phát triển KCN là nhân tố thúc đẩy tốc độ đô thị hoá và tác động lan toả tích cực trong việc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
+ Tập trung xử lý chất thải, bảo vệ môi trường
Do tập trung các cơ sở sản xuất nên có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường KCN là địa điểm tốt nhất để di dời các
cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ các đô thị, thành phố lớn, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững
+ KCN còn có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của các quốc gia: + KCN là nơi thử nghiệm các chính sách kinh tế mới, đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại KCN luôn đi đầu trong việc phát triển chính sách kinh tế đối ngoại và thường thể hiện xu hướng của chính sách đối ngoại của toàn bộ nền kinh tế
+ KCN đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển nền kinh tế quốc dân KCN sẽ là các đầu tàu tăng trưởng kinh tế, kéo theo sự phát triển của các vùng lân cận và các vùng khác của đất nước (Lê Tuyển Cử, 2012)
Trang 231.2 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp
1.2.1 Kinh nghiệm các nước trên thế giới về việc thu hồi đất
1.2.1.1 Đài Loan
Theo quy định của Luật Đất đai Đài Loan (Điều 236) thì đất đai bị thu hồi được bồi thường giá trị đất và tiền di chuyển Các khoản bồi thường giá trị đất và tiền di chuyển do cơ quan Chính phủ thành phố, huyện địa phương đó quy định Khoản tiền bồi thường đất do người cần dùng đất trả và nộp vào cơ quan địa chính huyện địa phương nơi có đất để chuyển trả Đối với đất chưa qua chuyển đổi quyền sở hữu thì việc bồi thường giá trị đất căn cứ vào giá trị đất được pháp luật quy định tại thời điểm công bố trưng thu đất Đối với đất đai đã qua chuyển đổi quyền sở hữu thì bồi thường theo giá đất căn cứ vào giá đất được pháp luật quy định tại thời điểm công bố trưng thu đất Đối với đất đai đã qua chuyển đổi quyền sở hữu thì bồi thường theo giá đất đai của lần chuyển đổi sau cùng Tiền bồi thường tài sản trên đất do cơ quan địa chính huyện, thành phố phối hợp với các cơ quan có liên quan đánh giá, quyết định
Trong quá trình thực hiện trưng thu đất đai, Đài Loan vẫn thường gặp phải
sự phản kháng của chủ sở hữu đất, một trong những nguyên nhân đó là giá đất công bố để làm căn cứ bồi thường thấp hơn giá trị hiện tại của đất Hiện nay, Đài Loan vẫn luôn trưng tập ý kiến của cơ quan có liên quan để nhằm cải tiến trình
tự, thủ tục trưng thu đất đai (Nguyễn Thị Mai Hoa, 2010)
Việc lập khu tái định cư với những nguyên tắc chính:
- Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để triển vọng kinh
tế, xã hội của họ nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợp không có
dự án
Trang 24- Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di dân bắt buộc, nếu không thể tránh được khi triển khai dự án
Các dự án về tái định cư phải đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt
Người bị ảnh hưởng được thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiến chi tiết về các phương án bồi thường, tài định cư
Các chủ đầu tư đặc biệt chú ý đến tầng lớp những người nghèo nhất, trong
đó có những người không hoặc chưa có quyền lợi hợp pháp về đất đai, tài sản, những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ (Nguyễn Thị Mai Hoa, 2010)
1.2.1.3 Trung Quốc
Trung Quốc tập trung phát triển theo các dự án lớn có hạ tầng chung Mô hình ở Trung Quốc có khá nhiều điểm giống mô hình đang triển khai trong xây dựng các khu công nghiệp ở Việt Nam Bước thứ nhất là xác định khu vực đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất để chuẩn bị trưng thu (thu hồi) Bước thứ hai là trưng thu đất bằng quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền Bước thứ ba là nhà đầu tư nhận giao đất hoặc cho thuê đất từ Nhà nước để đầu tư hạ tầng, sau đó chuyển nhượng hoặc cho thuê đối với các nhà đầu tư sản xuất, kinh doanh
Việc trưng thu đất sử dụng vào các mục đích đều phải tuân thủ theo quy hoạch sử dụng đất đã được Quốc vụ viện (Chính phủ) phê duyệt; khi trưng thu từ
35 ha trở lên đối với đất nông ngiệp hoặc từ 70 ha trở lên đối với các loại đất khác thì UBND cấp tỉnh phải báo cáo lên Quốc vụ viện để xem xét phê chuẩn rồi mới được ra quyết định trưng thu; dưới mức diện tích này thì chính quyền cấp tỉnh được tự phê chuẩn và sau đó báo cáo lên Quốc vụ viện Để thực hiện trưng thu đất, cơ quan nhà nước phải xác định được các nội dung chính sau:
- Các loại đất và đối tượng đang sử dụng đất bị trưng thu
- Mục đích sử dụng đất và đối tượng được sử dụng đất sau khi trưng thu
- Những hành vi áp dụng cưỡng chế cần có khi trưng thu
- Mức bồi thường hợp lý cho tập thể, tổ chức, cá nhân có đất bị trưng thu
Về chế độ bồi thường đất và tài sản trên đất: UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định hoặc quyết định chế độ bồi thường cụ thể áp dụng trong phạm vi địa bàn của tỉnh, thành phố hoặc đối với các trường hợp thu
Trang 25hồi đất (giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định hoặc quyết định chế độ bồi thường cụ thể có sự khác nhau) Trong một số trường hợp thu hồi đất
để thực hiện xây dựng các công trình lớn phục vụ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, cần tiến độ thực hiện nhanh… xét thấy cần thiết thì Quốc vụ viện có thể quyết định chế độ bồi thường để thực hiện với chế độ bồi thường cao hơn của địa phương đã quy định
Giá trị bồi thường đối với đất nông nghiệp được xác định theo giá trị sản lượng cây trồng trên đất, tính theo phương pháp thu nhập (lấy thu nhập ròng bình quân của 3 năm gần nhất, chia cho lợi tức tín dụng, sau đó nhân với số năm tương ứng được giao đất); đối với đất xây dựng được xác định theo giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường tại thời điểm tính bồi thường Giá trị đất hoặc giá đất đã xác định được dùng làm cơ sở để cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện bồi thường thỏa thuận mức bồi thường đất với người có đất bị trưng thu khi lập phương án thực hiện bồi thường
Trình tự để thực hiện công tác trưng thu đất và bồi thường: Do cơ quan QLĐĐ ở địa phương thực hiện Đầu tiên xác định diện tích, địa điểm đất bị trưng thu và chế độ tài chính trong việc bồi thường; sau đó đưa thông báo tới từng người dân và tổ chức báo cáo trước toàn thể những người dân Tiếp theo là nghe ý kiến phản hồi của nhân dân và giải quyết các ý kiến đó công khai; nếu có khiếu nại thì tiếp tục thoả thuận với dân hoặc báo cáo lên cấp trên nếu chưa giải quyết được thoả đáng Phương án trưng thu đất và bồi thường sau khi được người dân chấp thuận thì cơ quan quản lý đất đai ở địa phương báo cáo cấp trên xin phê chuẩn và tổ chức thực hiện trong vòng 03 tháng
Trong công tác trưng thu đất và bồi thường ở Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp sáng tạo sau:
- Nghiên cứu giá trị sản lượng cây trồng để tính giá trị bồi thường
- Giữ lại một tỷ lệ nhất định quỹ đất của các dự án để tổ chức tái định cư
- Sử dụng tiền bồi thường để mua bảo hiểm cho người bị trưng thu đất
- Tăng cường giao lưu, trao đổi giữa cơ quan thực hiện trưng thu đất với người bị trưng thu đất
Trang 26- Bồi thường theo giá thị trường
Nhìn chung, trong công tác trưng thu đất và bồi thường ở Trung Quốc có 2 nguyên tắc cơ bản nhất:
- Xuất phát từ quyền lợi lâu dài của người dân (dĩ nhân vi bản)
- Vấn đề chính trong bồi thường là kinh tế: Luôn phải đảm bảo cuộc sống của người dân sau khi bị trưng thu đất bằng hoặc cao hơn trước Khi trưng thu đất và tái định cư xong sẽ tính toán lại các lợi ích của người dân, nếu thấy chưa đáp ứng được thì tăng thêm giá trị bồi thường (Tổng cục Quản lý đất đai, 2011b)
1.2.1.4 Hàn Quốc
Nhà nước quyết định trưng mua đất đai của người đang có quyền sở hữu Diện tích đất Nhà nước Quyết định trưng mua thực hiện theo quy hoạch sử dụng đất Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường thực hiện hiệp thương với người sở hữu đất và tài sản gắn với đất trên cơ sở giá đất và giá tài sản do tổ chức hoặc cá nhân hành nghề định giá xác định Trường hợp chỉ hiệp thương được với đại bộ phận chủ sở hữu đất (trên 85%) trên thì phần diện tích đất còn lại Nhà nước thực hiện cưỡng chế thu hồi
Luật phát triển đô thị của Hàn Quốc quy định các dự án phát triển đô thị
do tư nhân là chủ đầu tư sẽ thực hiện bằng cách tái cơ cấu đất (tự chuyển đổi mục đích sử dụng đất), thu hồi quyền sở hữu hoặc kết hợp cả hai hình thức này Theo
đó, nếu dự án này phục vụ lợi ích cộng đồng, chủ dự án sở hữu hơn 2/3 diện tích mảnh đất hoặc được sự đồng ý của 2/3 các chủ đất khác thì có thể được cho quyền thu hồi quyền sở hữu phần diện tích còn lại, đối với các loại dự án còn lại thì chủ dự án phải là chủ sở hữu của 95% diện tích hoặc phải được sự đồng ý của 95% các chủ sở hữu khác mới được phép thu hồi phần diện tích còn lại để thực hiện dự án
Luật thu hồi đất và bồi thường của Hàn Quốc là bộ luật chung quy định các nguyên tắc và thủ tục thu hồi đất, bồi thường và tái định cư Nó được áp dụng cho mọi trường hợp, trừ khi có điều khoản đặc biệt nào nằm trong đạo luật khác Việc thực hiện cụ thể sẽ được quy định chi tiết hơn trong Quyết định của Tổng thống
Trang 27Toàn bộ chi phí thu hồi đất và tái định cư, bao gồm bồi thường, di dời, phục hồi sinh kế (nếu có) sẽ thuộc chi phí của dự án Chủ dự án phải trả trước những khoản trên
Để tính toán mức bồi thường Hàn Quốc sử dụng hệ thống chính thức giá bất động sản, theo đó giá trị gần đúng với giá thị trường Giá trị đất và tòa nhà được định giá bởi 2 thẩm định viên tư nhân Người bị thu hồi có thể khuyến nghị thêm một thẩm định viên nữa Giá trung bình do các thẩm định viên đưa ra là giá
để quyết định mức bồi thường
Đối với trường hợp tái định cư, ngoài khoản bồi thường, người bị di dời có thể chọn khu vực nhà, nhà ở hoặc khoản trợ cấp di dời Một khu vực tái định cư phải có đầy đủ dịch vụ, do chủ dự án chi trả, kể cả chi phí di chuyển Đất cấp cho người tái định cư có mức giá bằng 80% chi phí phát triển (Mức này thấp hơn rất nhiều so với giá thị trường Kết quả là phần lớn đất cho người tái định cư được bán lại ngay)
Phục hồi kế sinh nhai không phải là bắt buộc theo Luật thu hồi đất và bồi thường Phục hồi kế sinh nhai có thể bao gồm: Đào tạo nghề, ưu tiên tuyển dụng trong các dự án phát triển đô thị, và các khu vực dành cho hoạt động thương mại Người thuê nhà trong khu vực thu hồi được bồi thường để di dời và chi phí di chuyển cũng như được tiếp cận với quỹ nhà công cho thuê (Tổng cục Quản
lý đất đai, 2010a)
1.2.2.5 Ôxtrâylia
Ôxtrâylia có các quy định pháp luật về thu hồi, cưỡng chế đất cho mục đích công cộng của Chính phủ liên Bang (thuộc khối thịnh vượng Anh), của Chính phủ mỗi Bang, của các cơ quan có thẩm quyền khác theo Luật định, bao gồm: những tổ chức đáp ứng các dịch vụ công cộng như cấp, thoát nước, cấp điện, giao thông, nhà ở và các dịch vụ khác liên quan đến nhu cầu của cộng đồng Quyền cưỡng chế thu hồi đất được Chính phủ giao cho một cơ quan có thẩm quyền thực hiện bằng cách mua trên cơ sở thỏa thuận, hoặc trong trường hợp không đạt được thỏa thuận giữa các bên thì áp dụng biện pháp cưỡng chế
Về đền bù cho các chủ có đất bị thu hồi thực hiện theo quy định pháp luật
Trang 28do Chính phủ Ôxtrâylia ban hành Nguyên tắc chủ đạo của việc bồi thường là phải đảm bảo cho người có đất bị thu hồi điều kiện về tài chính ngang bằng với trạng thái cũ khi đất chưa bị thu hồi Giá bồi thường được quy định riêng cho từng chủ nhà /đất và giá này không bao gồm phần tăng giá do đã có hoặc sẽ có các công trình công cộng; tuy nhiên, trong thực tế thường khó áp dụng được nguyên tắc này, vì có bất động sản thuộc dạng không thể định giá được như nhà thờ, trường học, bệnh viện …và cũng không có số liệu bán các tài sản như vậy trên thị trường Trong trường hợp này giải pháp phù hợp nhất là đáp ứng đủ kinh phí tái tạo lại công trình thay thế công trình kiến trúc cũ ở một địa điểm khác, thậm chí cả trong trường hợp công trình cũ đã bị hư hỏng Có một số các quy định về đền bù thiệt hại trong các tình huống cụ thể như sau:
- Đền bù thiệt hại do quy hoạch đô thị: Có một số trường hợp sẽ được đền
bù thiệt hại khi giá trị đất bị giảm đi do tác động của quy hoạch chi tiết Ví dụ, đối với đất đang có lợi thế về kinh doanh, do tác động của quy hoạch sử dụng đất hoặc trường hợp khu đất đã được quy hoạch bố trí công trình công cộng trong tương lai dẫn tới có thể bị giảm giá
- Đền bù thiệt hại do bị áp đặt quyền địa dịch theo luật định: Đó là các quyền hạn chế trên đất do các chủ khác ở khu đất liền kề có nhu cầu sử dụng điện, nước, thoát nước, lối đi… qua khu đất Khi dành quyền này cho chủ khác
có thể gây phương hại trực tiếp đến bất động sản trong việc sử dụng đất ở mức cao nhất và tốt nhất nên phải định giá những thiệt hại đó để tính đền bù cho đương sự bị ảnh hưởng (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012d)
1.2.1.6 Đức
Đức là ví dụ của một nước phát triển tiến bộ với quy định pháp luật mạnh mẽ, quản trị tốt và nhiều kinh nghiệm trong việc thu hồi đất gắn với tái phát triển đô thị
Hiến Pháp của Đức chỉ cho phép thu hồi quyền sở hữu nếu có đủ các điều kiện: (1) việc thu hồi là vì lợi ích cộng đồng, (2) phù hợp với quy định của pháp luật Liên bang về tính chất dự án và mức độ bồi thường, (3) không còn giải pháp nào khác với mức độ can thiệp thấp hơn và buộc phải thu hồi và Chính phủ phải
cố gắng có thiện chí trong việc mua lại đất trước khi thu hồi quyền sở hữu
Trang 29Từng bang trong 16 bang ở Đức lại có một Đạo luật thu hồi quyền sở hữu riêng quy định các thủ tục và yêu cầu bồi thường Bộ Luật Xây dựng Liên bang quy định một hệ thống quy hoạch tổng thể không ràng buộc pháp lý và quy hoạch chi tiết có ràng buộc pháp lý Chính quyền thành phố chỉ thông qua quy hoạch chi tiết có ràng buộc pháp lý sau khi đã thực hiện quy trình đánh giá tác động và lấy ý kiến công khai từ công chúng và người sở hữu về kế hoạch đó Việc thu hồi quyền sở hữu dựa trên cơ sở quy hoạch chi tiết (quy hoạch có ràng buộc pháp lý) và bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo luật định Quyết định này có thể bị kháng cáo tại tòa
Việc bồi thường phải được áp dụng cho người chủ sở hữu bị thu hồi đất hoặc
kể cả khi không có sự thu hồi đất nhưng gây ra những tổn thất cho chủ sở hữu Nguyên tắc là bồi thường sẽ đem lại cho chủ sở hữu cơ hội có được tài sản tương tự Bồi thường sẽ bằng tiền mặt theo giá thị trường, trừ phí kế sinh nhai của người chủ
sở hữu phụ thuộc vào tài sản, khi đó tài sản thay thế sẽ phải được cung cấp Tiêu chuẩn bồi thường ở Đức quy định ưu ái đặc biệt cho những người dễ bị tổn thương
và phải bao gồm cả kế hoạch di dời nhà, tìm việc khác hoặc chuyển vị trí kinh doanh Trợ cấp khó khăn được trao cho những người thuê nhà nhằm ngăn ngừa hoặc giảm thiểu những bất lợi về kinh tế cho những đối tượng này (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012e)
1.2.1.7 Canađa
Tại Canađa, Quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết và tái phân vùng sử dụng đất là căn cứ để chính quyền các bang có thể thu hồi quyền sở hữu đất nhưng quyền này chỉ áp dụng với những mảnh đất thể hiện trong bản quy hoạch
là sử dụng cho mục đích công cộng ví dụ như đường giao thông và cơ sở hạ tầng Quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết và tái phân vùng sử dụng đất được công khai lấy ý kiến cộng đồng trong suốt quá trình chuẩn bị và trước khi phê duyệt Chính quyền sẽ không hỗ trợ trực tiếp phát triển tư nhân trong việc thu hồi đất Ví dụ, một thành phố không thể thu hồi quyền sở hữu một mảnh đất để hoàn thiện quy hoạch xây dựng trung tâm mua sắm hay nhà ở tư nhân
Trang 30Việc thực hiện thu hồi quyền sở hữu được xem như là biện pháp cuối cùng
để có đất thực hiện dự án Mọi nỗ lực đều nhằm đạt được thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản, do đó, rất nhiều thời gian và cố gắng được dành cho việc đàm phán với từng chủ sở hữu Nhà đầu tư tư nhân không có vai trò trong quá trình thu hồi quyền sở hữu, ngoại trừ một số công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp được quy định như đường sắt, các loại đường ống dẫn, viễn thông
Quyền được bồi thường dựa trên nguyên tắc chung là sau khi nhận bồi thường người chủ sở hữu vẫn phải có tiềm lực kinh tế tương tự như trước khi bị thu hồi đoạt quyền sở hữu Các khoản bồi thường bao gồm:
- Giá thị trường của đất, của tòa nhà hoặc của các công trình khác
- Mất giá trị đối với mảnh đất còn lại
- Mất các tiện ích như cây cối và cảnh quan
- Tổn thất về kinh doanh (áp dụng đối với người thuê đất cũng như chủ sở hữu)
- Thiệt hại về việc di dời, ví dụ chi phí di chuyển và tái định cư (cũng áp dụng đối với người thuê đất)
Bồi thường phần lớn là bằng tiền, trừ khi người chủ sở hữu và Chính phủ
có thỏa thuận khác Điều này là phù hợp bởi vì Canađa luôn có một thị trường nhà đất tích cực giúp người bị ảnh hưởng mua các nhà đất thay thế
Một yếu tố quan trọng trong việc đối xử công bằng với người bị ảnh hưởng đó
là họ được thuê luật sư, thẩm định viên và các nhà tư vấn để giúp họ miễn phí, Chính phủ sẽ phải trả chi phí này (Tổng cục Quản lý đất đai, 2012c)
1.2.2 Khả năng áp dụng kinh nghiệm của các nước trên thế giới để hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Việt Nam
Từ những mô hình, kinh nghiệm của các nước, có thể rút ra một số bài học ban đầu cho công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Việt Nam để phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường, như sau:
1.2.2.1 Xác định các trường hợp áp dụng biện pháp Nhà nước thu hồi đất
Các nước, vùng lãnh thổ xác định việc áp dụng biện pháp hành chính để
có đất một cách rất hạn chế, ví dụ Hàn Quốc áp dụng cho các dự án kinh tế như khu đô thị, khu công nghiệp nhưng cũng xác định rõ là các công trình dự án này
Trang 31phải do Nhà nước đầu tư; Trung Quốc áp dụng cho các dự án lớn có hạ tầng chung; Canađa quy định chính quyền các bang có thể thu hồi quyền sở hữu đất nhưng quyền này chỉ áp dụng với những mảnh đất thể hiện trong bản quy hoạch
là sử dụng cho mục đích công cộng ví dụ như đường giao thông và cơ sở hạ tầng Trong khi đó, các quy định của Luật đất đai 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật quy định về trường hợp được áp dụng biện pháp Nhà nước thu hồi đất vẫn còn khá rộng rãi, bao gồm cả dự án phát triển kinh tế lớn, đầu tư xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp (không phân biệt nguồn vốn đầu tư là của Nhà nước hay của tư nhân), các dự án 100% vốn nước ngoài Đây là một vấn đề rất khó thuyết phục người có đất bị thu hồi nhanh chóng chấp nhận phương án bồi thường để bàn giao mặt bằng, những người này cho rằng nếu lấy đất của họ
để sử dụng vào các mục đích như xây dựng đường giao thông, công trình công cộng thì họ sẵn sàng chấp nhận hi sinh vì cộng đồng, nhưng nếu lấy đất của họ cho các dự án kinh tế thì phải thỏa thuận sòng phẳng và trong nhiều trường hợp những người dân này cho rằng họ cũng có thể tự đầu tư trên mảnh đất của họ được như các nhà đầu tư khác, việc Nhà nước thu hồi đất của họ để giao cho các nhà đầu tư khác là không công bằng, không bình đẳng
1.2.2.2 Đảm bảo quyền lợi của người có đất bị thu hồi
Kinh nghiệm củaÔxtrâylia trong việc ban hành nguyên tắc chủ đạo của việc bồi thường là phải đảm bảo cho người có đất bị thu hồi điều kiện về tài chính ngang bằng với trạng thái cũ khi đất chưa bị thu hồi; của Đức với nguyên tắc là bồi thường
sẽ đem lại cho chủ sở hữu cơ hội có được tài sản tương tự và phải bao gồm cả kế hoạch di dời nhà, tìm việc khác hoặc chuyển vị trí kinh doanh; Kinh nghiệm của Canada trong việc xác định đầy đủ các loại thiệt hại mà người bị thu hồi đất phải gánh chịu bao gồm: đất, nhà, các công trình khác; mất giá trị đối với mảnh đất còn lại; mất các tiện ích như cây cối và cảnh quan; tổn thất về kinh doanh; thiệt hại về việc di dời, ví dụ chi phí di chuyển và tái định cư (áp dụng đối với chủ sở hữu và người thuê đất) cần được nghiên cứu để nâng mức bồi thường cho người bị thu hồi đất, đảm bảo sinh kế của hộ sau khi đã mất đi tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai (Đào Trung
Trang 32từ Hàn Quốc, sau khi đã thỏa thuận được với đa số người dân (Hàn Quốc quy định là 85%) thì đối với những trường hợp còn lại sẽ bị cưỡng chế thu hồi đất và
áp dụng giá bồi thường đã thỏa thuận được với đa số (Đào Trung Chính, 2014)
1.2.2.4 Nghiên cứu, áp dụng cơ chế chia sẻ lợi ích
Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế trong việc áp dụng cơ chế chia sẻ lợi ích đối với các dự án trong lĩnh vực thủy điện, chỉnh trang đô thị cần được nghiên cứu (đặc biệt, ở Việt Nam đã nghiên cứu vận dụng trong dự án Thủy điện Sơn La, chỉnh trang đô thị của Đà Nẵng, dự án trồng cây cao su tại Sơn La, Lai Châu), trên cơ sở đó có quy định cụ thể về quy trình thực hiện chuyển đổi đất đai trong trường hợp thực hiện các dự án có tác động lớn, trên diện rộng đến cộng đồng dân cư như các dự án thủy điện lớn, dự án khai thác khoáng sản, dự án xây dựng hồ thủy lợi lớn, các dự án thực hiện chỉnh trang nâng cấp hạ tầng đô thị, khu dân cư nông thôn, xây dựng lại các khu dân cư cũ trên nguyên tắc chia sẻ quyền lợi giữa các bên tham gia, các bên có quyền lợi liên quan (Đào Trung Chính, 2014)
1.2.3 Tình hình xây dựng các KCN trên thế giới
Việc hình thành và phát triển KCN đã và đang trở thành một trong những
mô hình phát triển kinh tế quan trọng ở các nước đang phát triển và cả những nước phát triển Mô hình kinh tế này ra đời nhằm thúc đẩy nhanh quá trình hình
Trang 33thành và phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp và phát triển công nghiệp, thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và đổi mới cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia KCN đầu tiên trên thế giới được thành lập năm 1896 ở Tradford Park, Manchester (Anh), Vùng công nghiệp Clearing Chicago, bang Ilinois được coi là KCN đầu tiên của Mỹ Năm 1940, Italia cũng thành lập một KCN ở Napoli, đến thập kỷ 1950-1960, ở Mỹ có 452 vùng công nghiệp và gần 1000 KCN, sau đó tăng lên 2400 khu vào năm 1970, ở Pháp có 230 KCN (năm 1963) và Canada có
21 vùng công nghiệp (năm 1965) Ở các nước đang phát triển bắt đầu vào cuối thập kỷ 60 mới có 9 KCN ở 9 nước thì đến đầu thập kỷ 70 có 34 khu, đến giữa thập kỷ 80 có 35 nước thành lập 79 KCN, sau 2 năm (1987) theo số liệu thống kê
đã đạt 111 KCN ở 40 nước Nhìn chung, mô hình KCN đã trở thành làn sóng phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới, nó trở thành mô hình tiến bộ đối với chương trình phát triển công nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển vào những năm 1960-1970 như: Đài Loan, Hàn Quốc, Malaixia, Philipin, Trung Quốc, Thái Lan Hiện nay, trên thế giới có hàng nghìn KCN được thành lập Riêng các nước đang phát triển có khoảng 700 KCN Sự phát triển KCN ở các nước không đều, thậm chí ở một số nước không thành công, nhưng số lượng loại hình này vẫn không ngừng tăng lên
Đến nay, việc xây dựng phát triển KCN có nhiều thay đổi Các nước tập trung đi sâu vào quản lý chất lượng hiệu quả, tạo môi trường thuận lợi, dịch vụ, chính sách và đặc biệt là cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện, nhằm hướng tới lợi nhuận cao hơn cho các nhà sản xuất, kinh doanh đến đầu tư, nhờ giảm chi phí sản xuất về: nhân công, thuế, giao thông vận tải, dịch vụ phục vụ nhanh chóng trên cơ sở khuyến khích từ các chính sách của nước chủ nhà giành cho các nhà đầu tư ở trong KCN, làm cho sản phẩm, hàng hoá ở đây giá rẻ, chất lượng cao, lại có khả năng cạnh tranh với các nơi khác trên thị trường thế giới và khu vực Đối với các nhà đầu
tư nước ngoài vào KCN của nước sở tại còn có điều kiện thuận lợi để thâm nhập vào thị trường nước đó, có điều kiện được cung cấp nguyên liệu tại chỗ, tạo sự ổn định
về nguyên liệu và thị trường mở rộng hơn (Lê Tuyển Cử, 2012)
Trang 341.3 Tình hình thu hồi đất phục vụ phát triển và xây dựng khu công nghiệp của Việt Nam
1.3.1 Tình hình thu hồi đất phục vụ phát triển của Việt Nam
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều tất yếu Phát triển đồng bộ với quá trình trên là sự xuất hiện nhiều đô thị mới, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu du lịch, cơ sở hạ tầng cũng cần mở rộng để đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn Thực tế cho thấy quỹ đất dành cho các hạng mục trên hiện có không thể đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển, vì vậy việc thu hồi những đất đang sử dụng vào các mục đích như đất nông nghiệp, đất ở… sang đất chuyên dùng là điều không thể tránh khỏi
1.3.1.1 Diện tích đất thu hồi chủ yếu là đất nông nghiệp
- Giai đoạn 2000 - 2005: tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366.440
ha (mỗi năm thu hồi hơn 73 nghìn ha) Trong đó: thu hồi để phát triển công nghiệp, dịch vụ là 39.556 ha; phát triển đô thị là 70.322 ha; xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội
là 136.175 ha (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005a)
- Giai đoạn 2006 - 2010: tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 220.921 ha (mỗi năm thu hồi khoảng 44 nghìn ha) Trong đó: thu hồi đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ là 94.190 ha; phát triển đô thị là 22.517 ha; xây dựng
hạ tầng kinh tế - xã hội là 104.214 ha, cụ thể như sau (thể hiện trong Bảng 3.4):
Bảng 1.1: Diện tích đất nông nghiệp thu hồi giai đoạn 2006 - 2010
Đơn vị tính: Diện tích (ha); Tỷ lệ (%)
Mục tiêu thu hồi đất Tổng số Năm
Tổng Diện tích đất
+ Thu hồi đất để phát
triển CN,DV 94.190 42,64 15.627 31.805 28.511 11.841 6.406 + Thu hồi đất để phát
triển các khu đô thị 22.517 10,19 3.071 8.272 6.482 1.551 3.141 + Thu hồi đất để phát
triển hạ tầng KT-XH 104.214 47,17 16.730 27.457 28.546 12.458 19.023
(Nguồn: Tổng cục Quản lý đất đai, 2010)
Trang 35Trong vòng 5 năm, từ năm 2006 đến 2010 đã có 220.921 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi qua các năm là không đồng đều Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn nhất là vào năm 2007 (67.534 ha), tiếp đó là năm 2008 (63.539 ha), điều này cho thấy vào những năm này tốc độ phát triển kinh tế - xã hội tương đối cao, đòi hỏi cần nhiều diện tích đất cho các mục tiêu phát triển Năm 2009, 2010 diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chỉ bằng gần một nửa so với năm 2007 do tác động của khủng hoảng kinh tế nên nguồn vốn đầu tư cho các dự án kinh tế không còn được như những năm trước đây Nhận định này cũng được thể hiện rõ trong cơ cấu sử dụng diện tích đất thu hồi năm 2010, cụ thể là: trong 28.570 ha đất nông nghiệp bị thu hồi để phát triển hạ tầng KT-XH chiếm đến 66,60% tổng diện tích đất Điều này cho thấy nhu cầu của xã hội trong giai đoạn này bắt đầu chuyển sang mục tiêu xây dựng phát triển hạ tầng cơ sở và chỉnh trang lại đô thị
1.3.1.2 Diện tích đất phi nông nghiệp thu hồi
Đất ở; đất có các công trình kiến trúc, xây dựng; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; trong đó, chủ yếu là thu hồi đất ở (khoảng 30 nghìn ha đất ở) để sắp xếp, chỉnh trang khu đô thị, khu dân cư, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
1.3.1.3 Tồn tại, bất cập trong việc thu hồi đất
Thông qua việc thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng, đã tạo điều kiện để xây dựng nhiều khu, cụm công nghiệp; mở rộng và xây dựng mới các khu đô thị; từng bước phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, việc thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập:
- Việc quy hoạch và phát triển các khu đô thị, khu, cụm công nghiệp ở một
số địa phương còn dàn trải, thiếu sự thống nhất trên quy mô liên vùng, liên tỉnh; chưa xem xét đồng bộ với quy hoạch phát triển khu dân cư nông thôn, không phù hợp với điều kiện hạ tầng kinh tế - xã hội, khả năng và nhu cầu phát triển thực tế Nhiều khu đã tiến hành thu hồi san lấp mặt bằng nhiều năm nhưng tiến độ thực hiện còn chậm, khả năng thu hút đầu tư kém, tỷ lệ lấp đầy thấp, đất đai bị bỏ hoang hoá, lãng phí
Trang 36- Việc bố trí đất đai cho các khu, cụm công nghiệp nhiều nơi còn chưa hợp
lý và tiết kiệm Một số tỉnh có điều kiện thành lập và xây dựng các khu, cụm công nghiệp ở những khu vực đồi núi, đất nông nghiệp kém hiệu quả nhưng vẫn tiến hành quy hoạch và xin phép thành lập trên những vùng đất thuận tiện về vị trí, hạ tầng, địa hình bằng phẳng (chủ yếu là đất trồng lúa) để hạn chế phải đầu tư
hạ tầng Nhiều khu, cụm công nghiệp được xây dựng bám theo các trục giao thông lớn và nằm sát các khu dân cư, gây nên tình trạng ách tắc giao thông
- Việc phát triển nhanh các khu đô thị, khu, cụm công nghiệp trong thời gian qua đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường Trong số các khu, cụm công nghiệp đã thành lập và đi vào hoạt động còn nhiều khu, cụm công nghiệp xả thẳng nước thải từ các nguồn tiếp nhận không qua xử lý đã gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt, ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống cộng đồng xung quanh và tác động xấu đến hệ sinh thái nông nghiệp và thủy sinh
- Việc phát triển nhanh các khu đô thị, khu, cụm công nghiệp trong thời gian qua đã tạo sức ép không nhỏ đến tình hình khiếu kiện của những người bị thu hồi đất Tình hình giải quyết khiếu kiện về đất đai, trong đó có khiếu kiện liên quan đến giải phóng mặt bằng của Tòa án cấp sơ thẩm là 6.382 vụ việc/năm
2004, 9.755 vụ việc/năm 2005, 11.441 vụ việc/năm 2007, 10.817 vụ việc/năm
2009, 5.828 vụ việc/8 tháng đầu năm 2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận 6.694 lượt đơn thư về đất đai Ủy ban nhân dân các cấp đã thụ lý và giải quyết được 62.706 vụ
- Việc bồi thường khi thu hồi đất thường thấp hơn giá trị thị trường và không giải quyết có hiệu quả cơ chế hỗ trợ về gián đoạn sinh kế, chuyển đổi nghề nghiệp nên làm cho người nông dân bị thu hồi đất có xu hướng nghèo đi, khoảng cách giầu nghèo giữa đô thị và nông thôn, vùng đồng bằng và miền núi ngày càng xa hơn Theo Báo cáo đánh giá nghèo tại Việt Nam do Ngân hàng thế giới thực hiện thì tỷ lệ nghèo năm 2010 của Việt Nam là 20,7%, trong đó tỷ lệ nghèo
ở khu vực đô thị là 6,0%, tỷ lệ nghèo ở khu vực nông thôn là 27,0%
1.3.2 Tình hình xây dựng các khu công nghiệp tỉnh Lào Cai
Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Lào Cai có 02 khu công nghiệp
Trang 37bao gồm: Đông Phố Mới, diện tích 100 ha và Tằng Loỏng, diện tích 1100 ha và
01 cụm công nghiệp Bắc Duyên Hải, diện tích 85 ha
Khu công nghiệp đã được quy hoạch: Căn cứ Quyết định số: TTg ngày 21 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh Lào Cai chỉ có 01 khu công nghiệp là Khu công nghiệp Đông Phố Mới Khu công nghiệp Tằng Loỏng được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận tại Văn bản số 1835/TTg-KTN ngày 05/10/2009 của Thủ tướng Chính Phủ về việc bổ sung KCN Tằng Loỏng vào Quy hoạch phát triển các KCN
1107/QĐ-ở Việt Nam (Ban Quản lý khu kinh tế Lào Cai, 2014)
1.3.2.1 Phát triển các khu công nghiệp đã thành lập
a) Khu công nghiệp Đông Phố Mới:
Đến 30/6/2014 KCN Đông Phố Mới hiện đã thu hút được 38 dự án đăng
ký đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 80 tỷ đồng, trong đó 36 dự án trong nước 02
dự án đầu tư nước ngoài; có 23 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh có 08
dự án đang triển khai xây dựng và 07 dự án đang hoàn thiện thủ tục đầu tư; Doanh thu 2013 đạt trên 5.023 tỷ đồng; số lao động sử dụng là 337 người trong
đó lao động có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Lào Cai là 304 người chiếm 90,2 %, lao động nước ngoài 4 người, thu nhập bình quân 3.300.000 đồng /người/ tháng
(Ban Quản lý khu kinh tế Lào Cai, 2014)
b) Khu công nghiệp Tằng Loỏng
Đến 30/6/2014 KCN Tằng Loỏng hiện đã thu hút được 27 dự án đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký trên 16,844 tỷ đồng, trong đó 25 dự án trong nước
02 dự án đầu tư nước ngoài Có 18 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh;
có 05 dự án đang triển khai xây dựng và 04 dự án đang hoàn thiện thủ tục đầu tư; Doanh thu năm 2013 đạt 7.180,55 tỷ đồng; số lao động sử dụng là 2.570 người, trong đó lao động có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Lào Cai là 2.034 người chiếm 79,1 %, lao động nước ngoài 27 người, thu nhập bình quân 7.100.000 đồng
/người/ tháng (Ban Quản lý khu kinh tế Lào Cai, 2014)
Trang 38Hình 1.1: Một số hình ảnh nhà máy tại khu công nghiệp Tằng Loỏng
Trang 391.3.2.2 Quy hoạch phát triển khu công nghiệp trên địa bàn
- Chuyển đổi Cụm công nghiệp Bắc Duyên Hải thành khu công nghiệp: Quy hoạch khu đã được UBND tỉnh Lào cai phê duyệt tại Quyết định số: 1023/QĐ-UBND ngày 11/5/2012 với tổng diện tích đất quy hoạch 85 ha Vị trí Quy hoạch KCN nằm liền kề trung tâm thành phố Lào Cai và hành chính lớn của tỉnh; cơ sở hạ tầng kỹ thuật như điện, thông tin, viễn thông tốt có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư khi KCN đi vào hoạt động Đến nay Cụm công nghiệp Bắc Duyên Hải đã lấp đầy 100%, với 66 dự án (đã đi vào sản xuất kinh doanh, đang xây dựng, đang hoàn thiện hồ sơ cấp GCNĐT
- Quy hoạch mới 02 khu công nghiệp với tổng diện tích: 1.400 ha
Khu công nghiệp Tân An, Tân Thượng - huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai với diện tích khoảng 1000 ha
Khu công nghiệp phía Tây thành phố (Bắc Nhạc Sơn) xã Đồng Tuyển –
thành phố Lào Cai với diện tích khoảng 400 ha (Ban Quản lý khu kinh tế Lào Cai, 2014)
1.3.2.3 Đánh giá chung về hiện trạng xây dựng và phát triển các khu (cụm) công nghiệp như sau
a) Mặt được:
Các khu công nghiệp, đã đáp ứng được mặt bằng cũng như hạ tầng kỹ thuật phục vụ các dự án sản xuất công nghiệp, tạo ra môi trường thuận lợi để khuyến khích và thu hút các cơ sở trong và ngoài nước đến đầu tư trên địa bàn tỉnh Lào Cai, tạo sự chủ động trong việc bố trí các nhà máy, xí nghiệp theo hướng quy hoạch phát triển và bảo vệ môi trường, khắc phục tình trạng phát triển manh mún, tự phát và khó khăn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện nay
Hình thành nên những khu công nghiệp tập trung mang tính chất đặc thù cho từng lĩnh vực công nghiệp đồng thời tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa các
cơ sở sản xuất công nghiệp, sản phẩm của cơ sở này là nguyên liệu phục vụ cho sản xuất của cơ sở khác
Trang 40Các KCN có đóng góp lớn vào tăng trưởng ngành sản xuất công nghiệp Chúng tôi xin nêu lên một vài con số về giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh từ năm 2001 chưa có quy hoạch KCN đến nay (năm 2002 UBND tỉnh Lào Cai mới cho quy hoạch 02 KCN Bắc Duyên Hải và Đông Phố Mới) với giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm như sau: 350 tỷ đồng (2001); 565 tỷ đồng (2005); 1.487 tỷ đồng (2009); 3.150 tỷ đồng (2012) và 3.946 tỷ đồng (2013)
Giá trị sản xuất công nghiệp trong các KCN năm 2013: 1448 tỷ đồng, đạt gần 36,7% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh Đến năm 2014, một số dự án mới đi vào hoạt động như: Dự án Gang thép, Dự án Photpho Vàng số 5, dự án của Công ty Cổ phần phân bón hóa chất Đức Giang Lào Cai, giá trị sản xuất công nghiệp trong các KCN sẽ chiếm trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh Tốc độ phát triển nhanh, ốn định, năm sau cao hơn năm trước đã góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu GDP của tỉnh: 26,55% (2005); 29,54% (2006); 42,55% (2010); 42,18% (2012)
Nếu tính bình quân 1ha đất công nghiệp (đất chỉ giành cho sản xuất công nghiệp) tạo ra doanh số 16 tỷ đồng /ha Ngoài ra các KCN đã tác động rất tích cực thúc đẩy phát triển các loại dịch vụ, nâng cao hiệu quả tổng hợp của các ngành sản xuất, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân và diện mạo nông thôn ven KCN nâng cao rõ rệt
Sự hình thành và phát triển các KCN đã góp phần quan trọng giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, hình thành một nguồn nhân lực mới có trình
độ tay nghề được đào tạo, làm việc trong các cơ sở công nghiệp với tác phong công nghiệp, nâng cao đời sống thu nhập của người lao động
Lực lượng lao động ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng của các dự án trong các KCN Đến 31/12/2013 các KCN đã giải quyết việc làm ổn định thường xuyên cho người lao động được đào tạo: 2.570 người, trong đó có trên 80% là lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh
Lực lượng lao động này hình thành đội ngũ lao động của nền công nghiệp hiện đại Trong tương lai một số nhà máy đi vào hoạt động như: Nhà máy gang thép Việt Trung, nhà máy DAP số 2, các nhà máy của Khu Liên hợp Đức Giang