Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các phòng ban thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT; Chi cục Thủy lợi; các Công ty, Trung tâm quản lý khai thác hệ thống thủy lợi trên địa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-*** -
NGÔ THỊ THU HOA
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ KHAI THÁC
HỆ THỐNG THỦY LỢI QUẢN LỘ - PHỤNG HIỆP KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Ngô Thị Thu Hoa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên và giúp đỡ rất lớn của nhiều cá nhân và tập thể
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Văn Viện, Khoa Kế toán
và Quản trị kinh doanh - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô trong Khoa Kế toán
và Quản trị kinh doanh đã tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các phòng ban thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT; Chi cục Thủy lợi; các Công ty, Trung tâm quản lý khai thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè đã động viên giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này./
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Ngô Thị Thu Hoa
Trang 42.1.4 Nội dung quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi 13 2.1.5 Nhiệm vụ chung của đơn vị thực hiện quản lý khai thác công trình
2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác hệ thống 15 2.1.7 Nguyên tắc quản lý khai thác công trình thủy lợi 23
Trang 52.2.1 Kinh nghiệm quản lý khai thác hệ thống thủy lợi của các nước trên
2.2.2 Quản lý khai thác công trình thủy lợi ở Việt Nam 31 2.2.3 Bài học kinh nghiệm trong quản lý khai thác hệ thống thủy lợi 38
3.1.1 Giới thiệu hệ thống thủy lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp 43 3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và phương thức vận hành của hệ thống thủy lợi
3.1.3 Tình hình hoạt động và kết quả hoạt động của hệ thống thủy lợi Quản
4.1 Thực trạng quản lý khai thác hệ thống thủy lợi Quản Lộ, Phụng Hiệp 62
4.2 Thực trạng quản lý, khai thác hệ thống qua số liệu điều tra 84
4.2.2 Ý kiến đánh giá tình hình quản lý khai thác hệ thống thủy lợi ở tỉnh
Trang 64.3 Đánh giá chung tình hình quản lý khai thác hệ thống thủy lợi Quản Lộ
4.4 Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý khai thác hệ thống Quản
4.4.1 Định hướng quản lý khai thác hệ thống Quản Lộ - Phụng Hiệp 91 4.4.2 Mục tiêu và yêu cầu đầu tư phát triển của hệ thống thủy lợi Quản Lộ -
Trang 7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Công ty TNHH MTV: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
KTCTTL: Khai thác công trình thủy lợi
NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TCHTDN: Tổ chức hợp tác dùng nước
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
2.2 Số lượng tổ chức Khai thác công trình thủy lợi trên phạm vi cả nước 7 2.3 Loại hình tổ chức hợp tác dùng nước theo các vùng, miền 12
3.1 Độ mặn Max (g/l) tháng II/1990 tuyến Mỹ Thanh Xẻo Chít - Cái Lớn 47 3.2 Độ mặn Max (g/l) tháng II/1990 tuyến Gành Hào - Hộ Phòng - Cái Lớn 48 3.3 Độ mặn Max (g/l) tháng II/1990 dọc tuyến kênh QL-PH 48 3.4 Độ mặn Max (g/l) hàng tháng 1983 và 1996 ở một số nơi 49
3.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống công trình thủy lợi Quản Lộ -
4.1 Tình hình thực hiện kế hoạch duy tu, bảo dưỡng của Công ty Cổ phần
4.2 Kết quả kiểm tra công trình của Công ty Cổ phần Thủy lợi Sóc Trăng 71 4.3 Tình hình thực hiện kế hoạch duy tu, bảo dưỡng của Trung tâm quản
4.4 Kết quả kiểm tra công trình của Trung tâm quản lý khai thác công
4.5 Tình hình thực hiện kế hoạch duy tu, bảo dưỡng của Trung tâm quản
4.6 Kết quả kiểm tra công trình của Trung tâm quản lý khai thác công
4.7 Kết quả kinh doanh dịch vụ của hệ thống thủy lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp 82 4.8 Ý kiến đánh giá của công nhân vận hành thuộc Công ty Sóc Trăng 84 4.9 Ý kiến đánh giá của người dân dùng nước tỉnh Sóc Trăng 85
Trang 94.10 Ý kiến đánh giá của công nhân vận hành thuộc Trung tâm Bạc Liêu 85 4.11 Ý kiến đánh giá của người dân dùng nước tỉnh Bạc Liêu 86 4.12 Ý kiến đánh giá của công nhân vận hành thuộc Trung tâm Cà Mau 86 4.13 Ý kiến đánh giá của người dân dùng nước tỉnh Cà Mau 87
Trang 10DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý Công ty Khai thác công trình thủy lợi 9
Hình 2.3 Số lượng cán bộ chi cục quản lý chuyên ngành thuỷ lợi 18 Hình 2.4 Trình độ cán bộ chuyên ngành thuỷ lợi ở Chi cục Thuỷ lợi 19 Hình 2.5 Số lượng cán bộ cấp huyện trực tiếp đảm nhiệm công tác thủy lợi 21
Sơ đồ 2.5 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về thủy lợi 36
Sơ đồ 2.6 Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi 38 Hình 3.1 Bản đồ vị trí vùng Quản Lộ - Phụng Hiệp ở ĐBSCL 43
Sơ đồ 3.2 Tổ chức quản lý vận hành cấp hệ thống QL - PH 53
Trang 111 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những mục tiêu ưu tiên cao của Chiến lược phát triển thủy lợi đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 1590/QĐ-TTg ngày 9/10/2009 là “nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các CTTL” Để đảm bảo thực hiện được mục tiêu này, việc nâng cao năng lực thể chế là hành động cấp thiết, bao gồm các hoạt động: rà soát, tái cơ cấu hoặc xây dựng các cơ quan quản lý thủy lợi, tăng cường đổi mới cơ chế, chính sách
Các mô hình quản lý thủy lợi của Việt Nam hiện nay là tương đối đa dạng, bao gồm: mô hình doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập quản lý khai thác hệ thống công trình liên tỉnh, cấp tỉnh, liên huyện, liên xã; mô hình tổ chức quản lý KTCTTL do người dân, tổ chức ngoài nhà nước quản lý
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, tính hàng hóa của nước thô đang bị coi nhẹ
và trong giai đoạn này, khi kinh tế của đại bộ phận nông dân còn phát triển thấp thì vấn đề xã hội hóa công tác quản lý vận hành hệ thống còn nhiều vướng mắc Hoạt động quản lý khai thác các CTTL đều đang là các hoạt động cung cấp dịch vụ công ích Nhà nước đang giữ vai trò chủ chốt trong việc đầu tư, tổ chức quản lý khai thác, điều hòa lợi ích giữa các vùng và giảm thiểu xung đột do nước
Các mô hình quản lý thủy lợi hiện nay ở vùng đồng bằng sông Hồng, miền núi phía Bắc và Trung Bộ đáp ứng tương đối tốt mục tiêu đề ra, phù hợp với tình hình thực tế phát triển kinh tế xã hội Nhưng với vùng ĐBSCL, hiện cũng đã được nhà nước tập trung đầu tư CTTL với đầy đủ các loại hình công trình như các hệ thống có quy mô tưới, tiêu thoát lũ từ cấp liên tỉnh, liên huyện, liên khu liên xã nhưng về mặt tổ chức để khai thác bền vững cho hệ thống cơ sở hạ tầng thủy lợi phục vụ phát triển kinh tế xã hội lại chưa hoàn chỉnh, vẫn xảy ra hiện tượng xung đột lợi ích giữa các địa phương được hưởng lợi về nguồn nước trong đó điển hình là xung đột về sử dụng nước ngọt, mặn tại hệ thống thủy lợi QL - PH
Vùng QL - PH (liên quan chủ yếu đến 3 tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau) nằm trong Bán đảo Cà Mau với các đặc điểm chung của khu vực ĐBSCL với
Trang 12hệ thống kênh rạch chằng chịt có lịch sử hình thành từ thời Pháp thuộc, trải qua các thời kỳ xây dựng và phát triển hiện nay đã hình thành hệ thống thủy lợi bao gồm: cống, kênh cấp I; hệ thống đê bao và thủy lợi nội đồng Hệ thống thủy lợi QL - PH vận hành phục vụ sản xuất nông nghiệp cho 03 tỉnh với khoảng 110.000 ha lúa và 80.000 ha nuôi trồng thủy sản Trước các yêu cầu đặt ra về đảm bảo an ninh lương thực, vùng bán đảo Cà Mau đã được quy hoạch nghiên cứu đề xuất các giải pháp ngọt hóa trong đó hệ thống thủy lợi QL - PH là trọng tâm đảm bảo công tác ngăn mặn, dẫn ngọt Thực tế cho thấy, chương trình ngọt hóa triển khai đã tăng diện tích
và năng suất lúa hàng năm Tuy nhiên, những năm vừa qua do diễn biến nhu cầu kinh tế thị trường, một số vùng người dân chuyển đổi nhiều diện tích sang nuôi trồng thủy sản mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn dẫn đến nhu cầu sử dụng nước thay đổi thậm chí một số người dân vùng ngọt hóa đã phá vỡ các công trình đập, cống ngăn mặn để lấy nước mặn nuôi tôm, quy hoạch ngọt hóa đứng trước nguy cơ bị phá vỡ Việc sản xuất đan xen tôm – lúa gây nhiều bất nhất trong công tác quản lý điều hành sản xuất ở các địa phương, cụ thể: thời gian khi Cà Mau đang cần lấy mặn để nuôi tôm thì Bạc Liêu hay Sóc Trăng lại đang nóng lên vấn đề xâm nhập mặn và lúa chết khát vì thiếu nước ngọt
Một trong những lý do dẫn tới việc điều hành sản xuất gặp nhiều khó khăn là bởi chưa có một cơ quan hay tổ chức thực sự được giao trách nhiệm điều hành tổng thể hệ thống thuỷ lợi liên tỉnh QL - PH
Hệ thống thủy lợi QL - PH được vận hành theo quy trình tạm thời do Bộ NN&PTNT ban hành tại Quyết định số 3092/QĐ-BNN-TL ngày 16/10/2007 Đồng thời, Bộ NN&PTNT đã thành lập Hội đồng quản lý hệ thống thủy lợi QL - PH theo Quyết định số 3335/QĐ-BNN-TCCB ngày 29/11/2005 và Ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động của Hội đồng Quyết định số 57/2006/QĐ-BNN-TL ngày 08/01/2006; Hội đồng có Văn phòng thường trực giúp việc có trụ sở tại thành phố
Hồ Chí Minh Tuy nhiên, Hội đồng này hoạt động dựa trên hình thức kiêm nhiệm, thiếu thốn cán bộ chuyên trách, thiếu quyền quản lý hành chính đối với công tác điều hành hệ thống và kinh phí hạn chế nên hiệu quả điều hành rất hạn chế
Trong tương lai gần, cần thiết phải hoàn thiện tổ chức quản lý hệ thống với
Trang 13đầy đủ các thẩm quyền về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, nhân lực và tài chính
để chỉ đạo điều hành việc vận hành các CTTL trong hệ thống
Để khắc phục những bất cập và quản lý khai thác tốt hệ thống tôi lựa chọn,
nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện quản lý khai thác hệ thống thủy lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý, khai thác
và quản lý khai thác hệ thống thủy lợi;
- Đánh giá thực trạng quản lý khai thác hệ thống thủy lợi QL - PH những năm gần đây;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác hệ thống;
- Định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý hệ thống thủy lợi QL -
PH những năm tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nội dung liên quan đến quản lý khai thác hệ thống thủy lợi QL - PH
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Đề tài nghiên cứu những nội dung về thực trạng quản lý khai thác tại hệ thống CTTL QL - PH, đánh giá các tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý khai thác tại hệ thống
1.3.2.2 Phạm vi không gian
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi hệ thống CTTL QL - PH nằm trong phạm vi 3 tỉnh: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
Trang 141.3.2.3 Phạm vi thời gian
- Đề tài thực hiện với số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố số liệu điều tra được thu thập năm 2013 trong thời gian 4 năm (từ năm 2009 đến 2013), số liệu điều tra năm 2014
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 8/2013 đến tháng 10/2014
Trang 152 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC HỆ THỐNG THỦY LỢI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản và Phân cấp công trình thủy lợi
2.1.1.1 Các khái niệm cơ bản
Công trình thủy lợi: là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt
lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn
nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại
Hệ thống công trình thủy lợi: bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan
trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định
Quản lý khai thác công trình thủy lợi: là công tác quản lý CTTL theo thẩm
quyền được giao theo quy định (phạm vi đất công trình, duy trì, bảo quản, duy tu và bảo dưỡng khi cần thiết) Đặc biệt ngăn chặn các hành vi xâm chiếm, phá hoại công trình, đồng thời khai thác, sử dụng tiềm năng, năng lực thiết kế của CTTL để phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội
Đây là định nghĩa mô tả các công việc đang quản lý theo các báo cáo của Tổng cục Thủy lợi Hiện nay, Tổng cục Thủy lợi đang xây dựng Luật Thủy lợi và nghiên cứu định nghĩa lại khái niệm trên
Hệ thống công trình thuỷ lợi liên tỉnh: là hệ thống công trình thuỷ lợi có liên
quan hoặc phục vụ tưới, tiêu, cấp nước cho tổ chức, cá nhân hưởng lợi thuộc 2 tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương trở lên
Tổ chức hợp tác dùng nước: là hình thức hợp tác của những người cùng
hưởng lợi từ công trình thuỷ lợi, làm nhiệm vụ khai thác và bảo vệ công trình, phục
vụ sản xuất, dân sinh
2.1.1.2 Phân cấp công trình thủy lợi
Cấp công trình là căn cứ để xác định các yêu cầu kỹ thuật bắt buộc phải tuân thủ theo các mức khác nhau phù hợp với quy mô và tầm quan trọng của công trình Cấp thiết kế công trình là cấp công trình
CTTL được phân thành 5 cấp (cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV) tùy
Trang 16thuộc vào quy mô công trình hoặc tầm quan trọng, mức độ ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng v.v Công trình ở các cấp khác nhau sẽ có yêu cầu kỹ thuật khác nhau Công trình cấp đặc biệt có yêu cầu kỹ thuật cao nhất và giảm dần ở các cấp thấp hơn
Bảng 2.1 Phân cấp Công trình Thủy lợi
Loại công trình và năng lực
phục vụ
Loại nền
Cấp công trình
1 Diện tích được tưới hoặc diện
tích tự nhiên khu tiêu, (10 3 ) - >50 >10 ÷ 50 >2 ÷10 ≤ 2
2 Hồ chứa nước có dung tích ứng
- Nhóm B: nền là đất cát, đất hòn thô, đất sét ở trạng thái cứng và nửa cứng;
- Nhóm C: nền là đất sét bão hòa nước ở trạng thái dẻo;
2, Chiều cao công trình dược tính như sau:
- Với đập vật liệu đất, đất – đá: chiều cao tính từmặt nền thấp nhất sau khi dọn móng (không kể phần chiều cao chân khay) đến đỉnh đập;
- Với đập bê tông các loại và các công trình xây đúc chịu áp khác: chiều cao
Trang 17tính từ đáy chân khay thấp nhất đến đỉnh công trình
2.1.2 Các loại hình quản lý khai thác hệ thống thủy lợi
Các loại hình tổ chức quản lý KTCTTL đang tồn tại ở nước ta hiện nay rất phong phú từ tên gọi tới phạm vi ngành nghề Tuy nhiên, có thể quy thành 4 loại hình chính như sau:
- Doanh nghiệp;
- Tổ chức hợp tác dùng nước;
- Đơn vị sự nghiệp;
- Cá nhân
2.1.2.1 Doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi
Việc quản lý khai thác các hệ thống CTTL được xây dựng từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước chủ yếu do các Doanh nghiệp làm nhiệm vụ KTCTTL (Công ty TNHH MTV KTCTTL)
Đến nay, cả nước có khoảng trên 100 Công ty TNHH MTV KTCTTL, trong
đó có 3 công ty trực thuộc Bộ NN&PTNT nông thôn, còn lại là công ty trực thuộc các tỉnh, thành phố Hiện có 13 tỉnh chưa thành lập công ty KTCTTL gồm: Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long
An, Đồng Tháp, Kiên Giang, Bến Tre, Hậu Giang, Cần Thơ, Cà Mau
Bảng 2.2 Số lượng tổ chức Khai thác công trình thủy lợi trên phạm vi cả nước
Tỉnh chưa thành lập công ty
Số lượng công ty, đơn vị sự nghiệp
QLKTCTTL Tỉnh/liên
tỉnh
Huyện, liên huyện
Đơn vị sự nghiệp
Trang 18Bảng tổng hợp này không bao gồm các Chi cục thuỷ lợi vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước, vừa tham gia quản lý khai thác như Bà Rịa Vũng Tàu, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Cà Mau, Bà Rịa Vũng Tàu
Trong số các doanh nghiệp này, Bộ NN&PTNT thành lập 03 doanh nghiệp trực thuộc để tham gia quản lý, KTCTTL liên tỉnh
- Công ty TNHH MTV KTCTTL Bắc Nam Hà chủ yếu quản lý các CTTL là
hệ thống các công trình trạm bơm điện đầu mối lớn, đập điều tiết, kênh trục chính liên tỉnh, phục vụ tưới, tiêu hoặc cấp nước (hệ thống công trình động lực)
- Hệ thống CTTL mà Công ty TNHH MTV KTCTTL Bắc Hưng Hải quản lý chủ yếu là các cống đầu mối, âu thuyền phục vụ liên tỉnh, 01 trạm bơm tiêu, hệ thống kênh trục chính phục vụ tưới, tiêu liên tỉnh (hệ thống chủ yếu là công trình trọng lực)
- Công ty TNHH MTV Khai thác thuỷ lợi Dầu Tiếng - Phước Hoà quản lý hệ thống công trình đầu mối hồ Dầu Tiếng, đập Phước Hoà và hệ thống kênh trục chính phục vụ tưới, tiêu liên tỉnh (hệ thống công trình trọng lực)
Ngoài 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ NN&PTNT nêu trên, các doanh nghiệp khác hiện nay chủ yếu quản lý hệ thống CTTL trong phạm vi tỉnh (tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và miền Nam), hoặc phạm vi huyện (tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc) Tuy nhiên, còn có một số ít doanh nghiệp trực thuộc tỉnh cũng tham gia quản lý hệ thống CTTL liên tỉnh: Công ty TNHH MTV khai thác dịch vụ thuỷ lợi Sông Nhuệ quản lý hệ thống CTTL phục vụ các tỉnh, thành phố Hà Nam,
Hà Nội; công ty An Hải quản lý hệ thống công trình phục vụ Hải Phòng, Hải Dương; công ty Sông Chu phục vụ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh; công ty TNHH MTV KTCTTL Bắc Đuống quản lý hệ thống công trình phục vụ Bắc Ninh, Bắc Giang…
Ở một số tỉnh, thành phố còn có các doanh nghiệp nhà nước khác cùng tham gia hoạt động trong lĩnh vực quản lý KTCTTL: tỉnh Hải Dương có Xí nghiệp KTCTTL Thành phố Hải Dương trực thuộc Công ty TNHH MTV quản lý công trình đô thị Hải Dương, Cổ phần Vinaconex 27 ở Đồng Tháp …
Trang 19Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý Công ty Khai thác công trình thủy lợi
Ngoài nhiệm vụ công ích, các công ty, xí nghiệp KTCTTL được thành lập các bộ phận tổ chức khác phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định hiện hành gồm: Ban quản lý dự án đầu tư và xây dựng, bộ phận tư vấn, khảo sát thiết kế, bộ phận xây lắp hoặc sửa chữa
Hiện nay, tổ chức của các công ty KTCTTL ở một số địa phương đang dần
đi vào ổn định
Bắt đầu bằng việc thực hiện quyết định số 58/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ (nay được thay thế bằng Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg ngày 24/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ “Về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại công ty nhà nước và công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc tổng công
ty nhà nước”), các tỉnh đã tiến hành đổi mới sắp xếp, củng cố lại doanh nghiệp bằng
Trang 20hình thức sáp nhập các công ty huyện thành công ty tỉnh hoặc ngược lại (Thanh Hoá, Hải Dương, Quảng Trị, Phú Thọ, Thừa Thiên Huế, Tây Ninh)
Tiếp theo, thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2005, đến nay toàn bộ các tỉnh, thành phố đã xây dựng đề án và thực hiện xong việc chuyển đổi các công ty KTCTTL thành công ty TNHH MTV Phương thức hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay được thực hiện theo quy định của Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và theo quy định khác của pháp luật hướng dẫn phương thức này Tuy nhiên ở một vài nơi có hình thức công ty cổ phần tham gia/được giao nhiệm vụ quản lý KTCTTL như: Công ty Cổ phần KTCTTL Sơn La; Công ty Cổ phần Khai thác thuỷ lợi Kon Tum; Công ty Cổ phần dịch vụ Thuỷ lợi Vĩnh Long (hiện đã không còn tham gia quản lý thuỷ nông); Công ty Cổ phần Thuỷ lợi Sóc Trăng Tuy nhiên việc thực hiện
cổ phần ở các công ty này chưa đúng bản chất của vấn đề cổ phần hoá nên các công
ty này hoạt động còn nhiều khó khăn Tỉnh Sơn La sẽ chuyển đổi công ty này sang loại hình Công ty TNHH MTV, 100% vốn thuộc sở hữu nhà nước và thực hiện từ năm 2013
Bộ máy tổ chức của doanh nghiệp thường được bố trí như sau:
- Chủ tịch Hội đồng thành viên;
- Tổng Giám đốc (hoặc do Chủ tịch HĐTV kiêm nhiệm);
- Các Phó Tổng giám đốc;
- Kiểm soát viên;
- Các Phòng chức năng: Tổ chức – Hành chính, Quản lý khai thác công trình,
Kế hoạch – Kỹ thuật, Tài vụ;
- Các Xí nghiệp hoặc Chi nhánh trực tiếp quản lý khai thác công trình
Như vậy, về mô hình tổ chức khai thác CTTL hiện nay tuỳ thuộc vào quan điểm của từng địa phương dẫn đến việc thành lập đa dạng các tổ chức KTCTTL khác nhau, nhưng đang dần ổn định
2.1.2.2 Tổ chức hợp tác dùng nước
Tham gia quản lý các CTTL còn có các TCHTDN TCHTDN là các tổ chức thuỷ nông cơ sở gồm nhiều loại hình khác nhau bao gồm các hợp tác xã nông
Trang 21nghiệp làm dịch vụ tổng hợp, hợp tác xã dùng nước, hội dùng nước, tổ đội thuỷ nông, ban quản lý thuỷ nông, cá nhân Các TCHTDN quản lý các CTTL có quy
mô vừa và nhỏ hoặc kênh mương nội đồng trong các hệ thống lớn Theo báo cáo tổng hợp, cả nước có khoảng 15.000 TCHTDN làm dịch vụ thuỷ nông
Theo tài liệu điều tra thì hiện nay có 91% số công trình do Doanh nghiệp Nhà nước quản lý, phục vụ tưới cho 80% tổng diện tích được tưới, 9% số công trình
do dân quản lý phục vụ tưới cho 20% diện tích được tưới Riêng các hệ thống thuỷ lợi lớn thì phần công trình kênh mương mặt ruộng phạm vi xã, thôn chủ yếu do dân quản lý Thực tế đã khẳng định hiệu quả phục vụ của công trình không chỉ công trình đầu mối, kênh trục chính mà phải có công trình mặt ruộng và không thể thiếu vai trò của dân trong quản lý vận hành
Đã có nhiều báo cáo tổng kết, đánh giá hiệu quả của các loại hình tổ chức hợp tác dùng nước với các quy mô khác nhau thuộc các dự án đầu tư, dự án trợ giúp
kỹ thuật do các tổ chức quản lý dự án, ngành ở cả địa phương và Trung ương thực hiện gồm các loại hình tiêu biểu có qui mô và tên gọi khác nhau:
Mô hình liên xã (từ 2 xã trở lên): Quản lý tuyến kênh thuộc các hệ thống thuỷ lợi loại vừa và lớn, phục vụ tưới cho 200 - 500 ha ở các tỉnh như Thanh hoá, Nghệ An, Thái Bình dưới các hình thức: Hợp tác xã Nông nghiệp (HTXNN), Hợp tác xã dùng nước, Hội dùng nước Loại hình này thực hiện việc quản lý công trình (chủ yếu là kênh) không theo địa giới hành chính, công khai tài chính, hoạt động khá hiệu quả
Một số mô hình quản lý kênh, công trình phục vụ tưới cho dưới 200 ha thuộc các tỉnh Tuyên quang, Thái Bình dưới hình thức Ban quản lý, Hợp tác xã Tính chất hoạt động của loại hình “Ban” không phù hợp với tên gọi làm dịch vụ tương tự tổ, đội thuỷ nông trong HTXNN, nhưng độc lập hơn vì có tài khoản riêng ở kho bạc
Mô hình 1 xã hoặc nhiều thôn trong 1 xã: Quản lý tuyến kênh, hoặc một phần tuyến kênh, trạm bơm phục vụ trong phạm vi xã thuộc các hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn, hoặc hệ thống CTTL nhỏ Loại hình này có ở hầu hết các vùng với các tên gọi khác nhau, nhưng phổ biến vẫn là loại hình HTXNN, HTX Thuỷ nông (Vùng đồng bằng sông Hồng có 96,7%, vùng Đông Nam bộ có 58,5 %, ĐBSCL
Trang 2272,99 %, Tây nguyên 62,8 % HTXNN) Số còn lại hoạt động dưới hình thức Hội dùng nước, Tổ hợp tác, Đội thuỷ nông, Ban quản lý
Phần lớn các HTX làm dịch vụ tưới, hoặc HTX làm dịch vụ tổng hợp trong
đó dịch vụ tưới được hạch toán riêng, hoặc Tổ Hợp tác chuyên khâu thì thuỷ lợi phí được chi đúng, đủ cho vận hành và bảo dưỡng, đảm bảo tài chính công khai và trong điều kiện thời tiết bình thường hoạt động đều có lãi (HTX Phú An - An Giang, HTX Thuận Hoà - Tân Phú, Đồng Tháp) Loại hình hạch toán riêng tập trung và phát triển mạnh ở Vùng Duyên hải miền trung (67,7%), ĐBSCL (60,7%), Tây nguyên (71,9 %), riêng Tiền Giang 82,6%
Bảng 2.3 Loại hình tổ chức hợp tác dùng nước theo các vùng, miền
- Bộ NN&PTNT quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp quản lý KTCTTL phục vụ từ hai tỉnh trở lên
- UBND cấp tỉnh quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp quản lý KTCTTL trong phạm vi tỉnh
Trang 232.1.2.4 Cá nhân quản lý khai thác công trình thủy lợi
- Người có đủ điều kiện, năng lực theo quy định của pháp luật, có thể được giao quản lý khai thác và bảo vệ CTTL do nhà nước đầu tư xây dựng
- CTTL do cá nhân đầu tư xây dựng, phải được tổ chức quản lý khai thác theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
2.1.3 Vai trò của quản lý khai thác hệ thống
Đơn vị quản lý khai thác hệ thống thuỷ lợi là đơn vị đảm nhận vai trò “Quản
lý, vận hành hệ thống thủy lợi an toàn, hiệu quả để cung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh kinh tế trong lực vực thiết kế”
Đồng thời, đơn vị này có trách nhiệm và nghĩa vụ phát huy hiệu quả nguồn lực hiện đang được nhà nước giao quản lý, sử dụng; Tăng cường công tác quản trị, điều hành doanh nghiệp; sử dụng hiệu quả vốn, tài sản, và mọi nguồn lực Nhà nước giao
2.1.4 Nội dung quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi
Theo Pháp lệnh Quản lý khai thác và bảo vệ CTTL, quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ CTTL bao gồm:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về khai thác và bảo vệ CTTL;
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn về khai thác và bảo vệ CTTL;
3 Quyết định việc điều chỉnh quy hoạch hệ thống CTTL, dự án đầu tư sửa chữa, nâng cấp CTTL và kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp nhà nước KTCTTL,
tổ chức hợp tác dùng nước; giám sát chất lượng thi công; tổ chức nghiệm thu, bàn giao công trình;
4 Cấp, thu hồi giấy phép đối với các hoạt động phải có phép trong phạm vi bảo vệ CTTL;
5 Phê duyệt phương án bảo vệ CTTL; quyết định biện pháp xử lý trong trường hợp CTTL có nguy cơ xảy ra sự cố; chỉ đạo việc điều hòa, phân phối nước của CTTL trong trường hợp xảy ra hạn hán, ưu tiên nước cho sinh hoạt;
6 Tổ chức việc nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào việc khai thác và bảo vệ CTTL; tổ chức bộ máy tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khai
Trang 24thác và bảo vệ CTTL; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác quản lý khai thác và bảo vệ CTTL;
7 Kiểm tra, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về khai thác và bảo vệ CTTL;
8 Tổ chức thực hiện việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ CTTL
2.1.5 Nhiệm vụ chung của đơn vị thực hiện quản lý khai thác công trình thủy lợi
và tổ chức hợp tác dùng nước
1 Điều hòa, phân phối nước công bằng, hợp lý phục vụ sản xuất và đời sống,
ưu tiên nước sinh hoạt; thực hiện hợp đồng với các tổ chức, cá nhân sử dụng nước, làm dịch vụ từ CTTL; bồi thường thiệt hại theo quy định;
2 Thực hiện quy hoạch, kế hoạch, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật,
dự án đầu tư của hệ thống CTTL đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
3 Theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố; duy tu, bảo dưỡng, vận hành bảo đảm an toàn công trình; kiểm tra, sửa chữa công trình trước và sau mùa mưa lũ;
4 Làm chủ đầu tư trong việc duy tu, sửa chữa, nâng cấp CTTL; duy trì, phát triển năng lực công trình, bảo đảm an toàn và sử dụng lâu dài;
5 Xây dựng hoặc tham gia xây dựng quy trình vận hành công trình, quy trình điều tiết nước của hồ chứa, quy trình vận hành hệ thống, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện;
6 Quan trắc, theo dõi thu thập các số liệu theo quy định; nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào việc khai thác và bảo vệ CTTL; lưu trữ hồ sơ KTCTTL;
7 Bảo vệ chất lượng nước; phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; phòng, chống lũ, lụt, xâm nhập mặn và các tác hại khác do nước gây ra;
8 Tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng kế hoạch khai thác và phương án bảo vệ công trình;
9 Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Trang 252.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác hệ thống
2.1.6.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Qua nhiều năm, nhà nước và nhân dân ta đã đầu tư xây dựng, tạo nên cơ sở vật chất về hạ tầng thuỷ lợi trị giá hàng trăm ngàn tỷ đồng Tuy nhiên, vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước cân đối cho Bộ NN&PTNT giảm dần qua các năm gần đây Nguồn vốn trong nước cho thuỷ lợi bị thiếu hụt quá lớn, nợ đọng nhiều Các hệ thống được đầu tư dàn trải dẫn tới nhiều hệ thống chưa khép kín, không đảm bảo để vận hành đúng thiết kế
Mức đầu tư ban đầu cho 1 đơn vị diện tích được đảm bảo tưới tiêu so với các khu vực còn thấp nên không có điều kiện để đưa những công nghệ hiện đại, vật liệu, thiết bị và trang thiết bị quản lý tiên tiến vào xây dựng và quản lý các CTTL Do vậy hiện nay cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác quản lý KTCTTL hiện nay rất lạc hậu, đầu tư cho trang thiết bị quản lý của các CTTL chưa được quan tâm Mặc dù
Bộ NN&PTNT đã ban hành tiêu chuẩn ngành về Trang thiết bị quản lý trong hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu (số 14TCN 131-2002 ngày 9/01/2003) nhưng trong nhiều dự án, tư vấn thiết kế vẫn chưa quan tâm tới những quy định trong tiêu chuẩn này Sự lạc hậu, thiếu thốn về cơ sở vật chất trang thiết bị quản lý cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng yếu kém về công tác quản
lý khai thác công trình thuỷ lợi hiện nay
2.1.6.2 Về tổ chức quản lý
Trong khoảng thời gian 10 năm gần đây, từ năm 2000-2012, cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi cấp trung ương thường xuyên có biến động Giai đoạn từ 2000-2004, nhiệm vụ này được giao cho Cục Quản lý nước và CTTL Từ năm 2004-2010, là Cục Thủy lợi Trong thời gian này, nhiệm vụ quản lý nhà nước về thuỷ lợi luôn được điều chỉnh, bổ sung Cụ thể: nhiệm vụ quản lý tài nguyên nước được chuyển sang Bộ Tài nguyên và Môi trường, tiếp theo Cục Thuỷ lợi trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Hiện nay, theo Quyết định số 03/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ NN&PTNT thì Tổng cục Thủy lợi là cơ quan trực thuộc Bộ NN&PTNT, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ
Trang 26NN&PTNT quản lý nhà nước và thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy lợi; quản lý, chỉ đạo các hoạt động dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Theo đó, Tổng cục Thuỷ lợi có chức năng quản lý nhà nước về CTTL, công trình đê điều và phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai và công trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn
Như vậy, ngay tại trung ương thì cơ quan quản lý nhà nước về thuỷ lợi luôn
có sự biến động về nhiệm vụ, chức năng được giao
Tổ chức trực tiếp quản lý nhà nước chuyên ngành thuỷ lợi ở địa phương là các Chi cục Thuỷ lợi, trước đây được thành lập theo thông tư số 07 LB/TT ngày 24/4/1996 của liên Bộ NN& PTNT - Ban tổ chức cán bộ Chính phủ và hướng dẫn
số 390 NN-TCCB/HD của Bộ NN&PTNT Do các quy định này chỉ mang tính hướng dẫn, không bắt buộc nên việc thành lập tổ chức quản lý nhà nước ở các địa phương rất khác nhau
Theo quy định này, đến năm 2004 mới có 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Chi cục thủy lợi, 22 tỉnh thành lập Phòng Thuỷ lợi Một số tỉnh thành lập chi cục thực hiện cả hai chức năng quản lý đê điều và quản lý KTCTTL, nhiều nơi thành lập Phòng Thuỷ lợi Có Chi cục được thành lập nhưng
bộ máy, chức năng nhiệm vụ được giao chưa đáp ứng yêu cầu công việc quản lý nhà nước chuyên ngành thuỷ lợi, chỉ làm việc mang tính hành chính sự vụ, chưa phát huy được vai trò của Chi cục
Để cải thiện thực trạng trên, Liên Bộ NN&PTNT – Bộ Nội vụ đã ban hành thông tư liên tịch số 11/2004/TTLT-BNN-BNV ngày 02/4/2004 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND quản lý nhà nước về NN&PTNT, các văn bản hướng dẫn thực hiện Thông tư của Bộ Nội vụ
và Bộ NN&PTNT, tổ chức Chi cục Thuỷ lợi làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thuỷ lợi ở các tỉnh trên toàn quốc là 49 tỉnh đã thành lập Chi cục, còn lại 15 tỉnh thành lập Phòng Thuỷ lợi hoặc Phòng Thuỷ nông trực thuộc Sở NN& PTNT Tiếp theo, ngày 15/5/2008, Liên Bộ Nội vụ và NN& PTNT ban hành thông
tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của UBND cấp xã về NN&PTNT thay thế Thông tư số
Trang 2711/2004/TTLT-BNN-BNV nói trên Quy định mới nêu rõ: Chi cục quản lý chuyên ngành giúp Giám đốc Sở NN&PTNT thực hiện chức năng quản lý nhà nước và triển khai các nhiệm vụ về chuyên ngành trong việc tổ chức thực thi pháp luật; thực hiện công việc tác nghiệp thường xuyên, đồng thời đề xuất về cơ chế, chính sách đối với lĩnh vực chuyên ngành được kế thừa hợp lý những chi cục hiện có đang hoạt động hiệu quả và thành lập chi cục mới nhưng không quá 09 tổ chức
Thông tư số 61/2008/TTLT-BNN-BNV cũng quy định rõ, mô hình tổ chức chuyên môn giúp Sở Nông nghiệp và PTNT về lĩnh vực thuỷ lợi là Chi cục Thuỷ lợi hoặc Chi cục Thuỷ lợi và Phòng chống lụt bão ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có hệ thống công trình thủy nông lớn và chiều dài đê ít; thực hiện cả nhiệm vụ cấp nước nông thôn, thuỷ lợi, đê điều và phòng, chống lụt, bão Đối với các tỉnh có hệ thống đê sông, đê biển lớn ngoài Chi cục Thủy lợi được thành lập thêm Chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão
Sau khi Thông tư 61/2008/TTLT-BNN-BNV quy định số lượng các chi cục chuyên ngành trực thuộc Sở NN&PTNT không quá 09, tạo điều kiện cho các tỉnh thành lập thêm các Chi cục, trong đó có Chi cục Thuỷ lợi Nhiều chi cục đã thực sự phát huy được vai trò tham mưu giúp Sở NN&PTNT trong việc quản lý nhà nước
về thuỷ lợi ở địa phương
Chi cục Thuỷ lợi và/hoặc Chi cục Quản lý đê điều và PCLB là cơ quan chuyên môn giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi, phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai Tuy nhiên, mô hình từng tỉnh có khác nhau cho dù có cùng điều kiện địa lý và đặc điểm công trình tương tự nhau
Trong thời gian qua, bộ máy tổ chức của các Chi cục Thuỷ lợi ở các địa phương cơ bản đã được kiện toàn, công tác tổ chức đã đi vào ổn định Bộ máy tổ chức của các chi cục thuỷ lợi thường bao gồm: 01 Chi cục trưởng, từ 1-2 chi cục phó Các bộ phận chuyên môn từ 2-4 phòng, mô hình chung chủ yếu như sau:
- Phòng Tổ chức - Hành chính/Tài vụ
- Phòng Kế hoạch - Tổng hợp
- Phòng kỹ thuật (Quản lý nước, Công trình thuỷ lợi, Đê điều)
Số lượng phòng, ban của Chi cục phụ thuộc vào chức năng nhiệm vụ được giao và tình hình thực tế ở địa phương
Trang 28Hình 2.2 Mô hình tổ chức chung của Chi cục
Nguồn nhân lực
Cán bộ quản lý công tác tại các Chi cục chuyên ngành thuỷ lợi đa số có trình
độ đại học và trên đại học, được bố trí đúng chuyên môn, phần lớn đáp ứng được yêu cầu về quản lý ngành trong giai đoạn hiện tại Tuy nhiên, việc bố trí phân tán ở các đơn vị khác nhau nên khó tập trung chỉ đạo, hạn chế vai trò tham mưu, hướng dẫn và tác nghiệp về kỹ thuật chuyên ngành cho Sở và UBND tỉnh Tuy vậy, số lượng cán bộ ở từng địa phương không đều, vùng Tây Bắc là khu vực có ít cấn bộ nhất trong cả nước (chiếm 2,2% cả nước) Vùng có nhiều cán bộ nhất chính là đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Đông Bắc
P Tổ chức - HC P KH - TH P Kỹ thuật Ban/P.Thanh tra
Sở NN và PTNT
Trang 29Hình 2.4 Trình độ cán bộ chuyên ngành thuỷ lợi ở Chi cục Thuỷ lợi
Tổ chức chuyên môn quản lý thuỷ lợi ở cấp huyện
Cấp huyện không có Phòng chuyên trách Thuỷ lợi Cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thuỷ lợi và phát triển nông thôn thống nhất gọi là Phòng Việc thành lập và tên gọi của Phòng do UBND tỉnh quyết định theo quy định của Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (thay thế Nghị định 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 trước đây)
Nghị định 14/2008/NĐ-CP đã quy định cụ thể chức năng quản lý nhà nước
về thuỷ lợi cấp huyện thuộc Phòng Kinh tế hoặc Phòng NN&PTNT nên đã hạn chế thực trạng chức năng thuỷ lợi được các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định
ở nhiều phòng khác nhau như là khi thực hiện Nghị định 172/2004/NĐ-CP
Theo báo cáo điều tra vào tại 53 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tại
528 quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh về tổ chức cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về thuỷ lợi, các phòng chuyên môn cấp huyện quản lý nhà nước
có chức năng quản lý thuỷ lợi gồm 5 loại hình phòng chủ yếu như sau: Phòng Kinh
tế (chiếm tỷ lệ cao nhất 54,9% và có nhiều ở các tỉnh thuộc vùng Miền núi phía Bắc), Phòng NN&PTNT (chiếm 26,5%, có nhiều ở Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ), Nông nghiệp, Nông – công – lâm - thuỷ sản, và loại hình khác (ba loại
Trang 30- Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với UBND cấp xã trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực thuỷ lợi
- Tổng hợp tình hình, báo cáo UBND huyện việc xây dựng, khai thác và sử dụng nước sạch nông thôn
- Quản lý KTCTTL theo phân cấp
- Thực hiện nhiệm vụ thường trực của Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão; tìm kiếm cứu nạn ở địa phương
Nguồn nhân lực: Theo kết quả điều tra, đánh giá năm 2012 của Tổng cục Thuỷ lợi, biên chế các phòng này chỉ có khoảng từ 7-10 cán bộ, lĩnh vực phụ trách nhiều, đa dạng nên việc bố trí cán bộ chuyên trách thuỷ lợi còn nhiều bất cập Hiện nay số cán bộ phụ trách thuỷ lợi cấp huyện có chuyên môn, nghiệp vụ thuỷ lợi rất ít,
có tỉnh chỉ có 1 cán bộ trình độ trung cấp thuỷ lợi ở Phòng NN&PTNT phụ trách lĩnh vực thuỷ lợi (Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu); có địa phương còn không có cán
bộ trình độ, chuyên ngành thuỷ lợi (Đà Nẵng, Đắc Nông) Vùng có tỷ lệ cán bộ cấp huyện có trình độ chuyên ngành thuỷ lợi thấp nhất là Tây Nguyên (3,8%), tiếp theo
là các tỉnh Đông Nam Bộ (4,9%) và các tỉnh Tây Bắc (8,4%)
Trang 31Đ?i h?c, trên đ?i h?c Cao đ?ng Trung c?p
Hình 2.5 Số lượng cán bộ cấp huyện trực tiếp đảm nhiệm công tác thủy lợi
Theo báo cáo của các địa phương, hiện hầu hết các xã trên toàn quốc đều bố trí 01 cán bộ phụ trách công tác quản lý thuỷ lợi kiêm nhiệm công tác giao thông, nông, lâm nghiệp trên địa bàn xã
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ đặc điểm cụ thể của địa phương, quyết định Chi cục Thuỷ lợi được hợp đồng nhân viên chuyên môn, kỹ thuật và cộng tác viên hoạt động trên địa bàn
xã Tuy nhiên, hầu hết địa phương chưa triển khai thực hiện được nội dung này
Tổ chức quản lý khai thác
Bên cạnh hệ thống tổ chức quản lý nhà nước nêu trên, còn có một hệ thống lớn các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia quản lý KTCTTL Cụ thể các loại hình như sau:
- Công ty TNHH MTV KTCTTL;
- Công ty cổ phần tham gia quản lý, KTCTTL
Ngoài loại hình doanh nghiệp KTCTTL, còn có một số tổ chức quản lý nhà nước (Chi cục Thuỷ lợi), đơn vị sự nghiệp (Trung tâm, Trạm, Ban) cũng tham gia quản lý KTCTTL như:
- Chi cục Thuỷ lợi: 4 tỉnh (Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Cà Mau);
- Trung tâm Quản lý KTCTTL: 4 đơn vị (Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Bạc Liêu);
Trang 32- Ban Quản lý KTCTTL cấp tỉnh: 2 đơn vị (Tuyên Quang, Kon Tum);
- Trạm, Ban quản lý, KTCTTL thuộc các huyện (chủ yếu ở các huyện miền núi ở một số địa phương)
Các tỉnh chưa có đơn vị quản lý khai thác cấp tỉnh là: Hà Giang, Lào Cai, Cà Mau, Đồng Tháp, Kiên Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang Một số hệ thống liên tỉnh thuộc vùng ĐBSCL (Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, QL - PH) chưa có tổ chức quản lý hệ thống Có tỉnh thành lập mô hình chưa phù hợp (Công ty
cổ phần) như ở Sơn La
Như vậy, về mô hình tổ chức KTCTTL hiện nay rất đa dạng, tuỳ thuộc vào quan điểm của từng địa phương dẫn đến việc thành lập tổ chức KTCTTL khác nhau, không thống nhất dẫn tới việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật khó đồng
bộ, các đơn vị quản lý khác nhau còn nhiều khó khăn trong hoạt động
2.1.6.3 Cơ chế tài chính đối với hoạt động của các Doanh nghiệp Khai thác Công trình Thuỷ lợi
Tính bền vững trong hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL phụ thuộc vào sự độc lập và tự chủ của Công ty Tuy nhiên, điều này đối với các doanh nghiệp KTCTTL hiện nay còn nhiều khó khăn Cấp bù Thủy lợi phí là nguồn thu chủ yếu của các doanh nghiệp Định mức về thuỷ lợi phí chưa cao dẫn tới kinh phí bố trí cho duy tu sửa chữa và bảo dưỡng không đáp ứng được yêu cầu, các Doanh nghiệp chỉ tập trung chi cho một số hoạt động chính Trong đó chi phí sửa chữa thường xuyên CTTL là rất cần thiết để duy trì năng lực hoạt động bình thường của các CTTL Theo quy định mức khung chi phí sửa chữa thường xuyên chiếm từ 20÷30% tổng chi phí hoạt động tưới tiêu Nhưng do nguồn vốn khó khăn nên nhiều doanh nghiệp không trích đủ kinh phí cho công tác sửa chữa thường xuyên Trong thực tế mức chi này của nhiều doanh nghiệp chỉ đạt từ 10÷15% tổng chi phí cho hoạt động tưới tiêu Đối với công ty KTCTTL quản lý hệ thống nhiều trạm bơm điện, ngoài chi phí sửa chữa thường xuyên thì chi phí tiền điện chiếm tỷ trọng khá lớn (chiếm 30÷50% tổng chi phí) Chi phí này không ổn định phụ thuộc vào tình hình thiên tai (úng hạn, lũ lụt ) những năm thiên tai khắc nghiệt, chi phí này lên tới 50÷60% Do nguồn hỗ trợ từ ngân sách thường không đủ và không kịp thời nên các doanh nghiệp
Trang 33không cân đối được thu chi Nhiều doanh nghiệp KTCTTL có số dư nợ tiền điện lớn, tập trung chủ yếu ở các tỉnh có nhiều trạm bơm lớn: Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây Với thực trạng tài chính hiện nay, đời sống của cán bộ, công nhân viên chức trong các doanh nghiệp KTCTTL gặp nhiều khó khăn Nhiều doanh nghiệp chưa được hưởng lương làm thêm giờ, chế độ ăn ca chủ yếu mới đủ chi cho lương, trả một phần tiền điện, không đáp ứng yêu cầu chi phí cho sửa chữa công trình, dẫn đến công trình ngày càng xuống cấp, hiệu quả phục vụ không cao, đời sống của cán bộ công nhân viên thuỷ nông gặp nhiều khó khăn
2.1.6.4 Về bảo vệ công trình thuỷ lợi
Tình trạng lấn chiếm lòng kênh, bờ kênh, đổ rác thải vào dòng chảy, thả bèo, trồng rau muống, nuôi cá bè, ngâm tre, gỗ dưới lòng kênh đang diễn ra ở hầu hết các địa phương Mặc dù Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ CTTL đã quy định hành lang bảo vệ, nhưng do nhận thức của người dân chưa cao quyền hạn của các cơ quan quản lý KTCTTL còn hạn chế, chính quyền địa phương chưa quan tâm, chưa
có chế tài để xử lý những hành vi vi phạm này Bên cạnh đó, hiện tượng ô nhiễm nguồn nước ở các hệ thống CTTL ngày càng gia tăng do tình trạng nước thải từ các khu công nghiệp, làng nghề, khu đô thị tập trung xả trực tiếp vào các hệ thống CTTL Hiện tượng nuôi cá bè, cá lồng trong hệ thống CTTL gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của công tác quản lý KTCTTL
2.1.6.5 Nhận thức của các tổ chức, cá nhân trong công tác khai thác, bảo vệ công trình
Nhiều nơi, kể cả cán bộ và người dân chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của công tác thuỷ lợi, chủ yếu quan tâm về xây dựng, ít quan tâm về công tác quản lý, đồng thời có xu hướng nặng về bao cấp, coi nhẹ sự tham gia của người dân, dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước của các tổ chức quản lý, KTCTTL và cả người dân Yêu cầu sử dụng nước tiết kiệm chưa quan tâm đúng
mức trong quản lý, KTCTTL
2.1.7 Nguyên tắc quản lý khai thác công trình thủy lợi
Bảo đảm quản lý vận hành thống nhất theo hệ thống, kết hợp theo địa giới hành chính, quản lý khép kín từ công trình đầu mối đến mặt ruộng hoặc đến công
Trang 34trình nhận nước của người sử dụng;
Bảo đảm các hệ thống công trình thuỷ lợi hoặc CTTL phải có tổ chức hoặc
cá nhân trực tiếp quản lý khai thác và bảo vệ;
Bảo đảm tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, KTCTTL phải đáp ứng điều kiện năng lực theo quy định;
Phát huy hiệu quả khai thác tổng hợp, phục vụ đa mục tiêu của CTTL, tạo nguồn tài chính bền vững cho tổ chức quản lý KTCTTL;
Huy động được nguồn lực của các thành phần kinh tế Phát huy được vai trò
và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hưởng lợi, đặc biệt là người dân tham gia quản
lý CTTL
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý khai thác hệ thống thủy lợi của các nước trên Thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Australia
Australia là một nước phát triển, là nước lớn thứ 6 thế giới, là nước duy nhất chiếm toàn bộ một lục địa với diện tích tự nhiên 7.686.850 km2, dân số năm 2005 là 20.406.000 người Australia thường xuyên phải đối mặt với hạn hán vì có lượng mưa thấp, nhiều vùng hầu như không mưa quanh năm lại chịu ảnh hưởng mạnh của hiện tượng Elnino Để phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường, đối phó với hạn hán
và giảm thiểu thiệt hại do hạn hán gây ra, Chính phủ và nhân dân Australia có nhiều kinh nghiệm tốt trong quản lý tài nguyên nước và KTCTTL Kinh nghiệm của lưu vực sông lớn nhất và cũng là hệ thống thuỷ lợi Murray - Darling là một điển hình
Sông Murray-Darling dài 3.780 km, diện tích lưu vực rộng 1.057.000
km2(bằng 1/7 diện tích lãnh thổ quốc gia) Diện tích lưu vực trải rộng trên 75% diện tích bang New South Wales, 65% diện tích bang Victoria, 15% diện tích bang Queensland, 8% diện tích bang South Australia
Khí hậu LVS Murray-Darling có các đặc điểm sau:
- Khí hậu biến đổi rất lớn tuỳ theo vùng: Vùng cao nguyên phía Đông lạnh
và ẩm ướt, phía Nam có khí hậu ôn đới, phía Bắc á nhiệt đới, phía Tây nóng và khô
- Lượng mưa năm biến đổi từ 1.200 mm dọc theo các dải núi phía Đông và
Trang 35giảm dần còn 150 mm ở vung khô hanh phía Tây
- Lượng mưa cũng biến đổi rõ nét theo mùa, thường tập trung từ tháng 8 đến tháng 11 đối với sông Murray
- Do lượng mưa thấp và phân bố không đều nên tổng lượng dòng chảy và lưu lượng bình quân năm của sông thấp so với các sông cùng diện tích lưu vực trên thế giới
Bảng 2.4 So sánh sông Murray-Darling và sông Mêkông
Tên sông Chiều dài
(km)
Diện tích lưu vực (km2)
Lưu lượng trung bình năm (m3/s)
Nguồn: Tổng cục Thủy lợi
Tài nguyên nước của lưu vực sông Murray-Darling rất có hạn, nhưng do có biện pháp quản lý sử dụng và phát triển đúng nên vẫn bảo đảm đáp ứng cho các yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đưa vùng này thành vùng trù phú
- Trong tổng diện tích tưới cả nước Australia 2,2 triệu ha, chiếm 4,5% diện tích đất nông nghiệp, thì diện tích tưới lưu vực sông Murray-Darling đạt 1,5 triệu
ha, chiếm 70% diện tích tưới cả nước Do lúa là lĩnh vực sử dụng nhiều nước, đã chuyển sang các loại cây trồng vật nuôi khác sử dụng ít nước mà cho hiệu quả kinh
- Động vật sử dụng ít nước, dễ kiếm thức ăn như cừu đã được triển mạnh
- Để đáp ứng yêu cầu tưới nước, cấp nước công nghiệp, sinh hoạt, duy trì dòng chảy sinh thái, đẩy mặn, vận tải thuỷ, trên các dòng chính và nhánh của sông Murray-Darling đã làm nhiều công trình hồ điều tiết nước: tổng dung tích các hồ là
Trang 365 tỷ m3 (1930), tăng lên 30 tỷ (1970) và 34,7 tỷ m3 (2000)
Tổ chức quản lý tài nguyên nước sông Murray-Darling là một mô hình tổ chức có hiệu quả cao: Tháng 1/1917 Australia ban hành nghị định đầu tiên về tổ chức quản lý lưu vực sông Murray Uỷ ban lưu vực sông Murray được thành lập gồm đại diện các bang NSW, SA, VIC và đại diện liên bang CommonWealth Nhiệm vụ
ưu tiên được để ra là xây dựng các công trình điều tiết và khai thác nguồn nước, phân chia và sử dụng hiệu quả nguồn nước, nâng mức đảm bảo cấp nước cho các đối tượng theo thứ tự ưu tiên Trải qua quá trình hoàn thiện dần, mô hình quản lý nước theo lưu vực sông ở Murray-Darling được thế giới đánh giá là mô hình có hiệu quả cao Cải cách liên tiếp: Từ những năm 1980 và nhất là từ 1995 trở lại đây, Australia đã có những cải cách lớn về lĩnh vực tài nguyên nước Những cải cách đó là:
- Quản lý nước được tăng cường tại các bang trên cơ sở tổng hợp lưu vực sông, gắn kết chặt chẽ các lĩnh vực nước, đất, CTTL, hạ tầng khác và đặc biệt chú ý đến dòng chảy môi trường
- Các hệ thống tưới được giao cho những người sử dụng nước quản lý
- Trợ cấp giá nước được bãi bỏ hoàn toàn
- Ngoài mục đích sử dụng nước cho sinh hoạt gia đình, mọi hoạt động khai thác Tài nguyên nước đều phải có giấy phép
- Lượng nước trong phạm vi được quyền sử dụng, nếu không dùng hết có quyền được nhượng, bán lại
- Một phần lượng nước đã được cấp phép trước đây cho các hộ dùng nước đã được nhà nước mua lại để duy trì dòng chảy môi trường
- Việc hình thành thị trường nước trong xã hội cũng như trong các hệ thống thuỷ nông đã giúp cho việc sử dụng nước đạt hiệu quả cao hơn
Tổ chức Lưu vực sông bao gồm một Hội đồng cấp Bộ trưởng các Bang, một
Uỷ ban và nhiều nhóm đại diện cộng đồng sử dụng nước Cơ cấu này tạo ra diễn đàn thảo luận dân chủ
Hội đồng Lưu vực sông Murray-Darling được thành lập năm 1985 với thành phần bao gồm các Bộ trưởng phụ trách tài nguyên đất, nước và môi trường của liên bang và các bang NSW, SA, VIC và Qld, với giới hạn mỗi bên không quá 3 thành
Trang 37viên Chức năng của Hội đồng là xem xét về chính sách liên quan đến lợi ích chung của các bang trong quy hoạch và quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả và bền vững các Tài nguyên nước, đất và môi trường Là một diễn đàn chính trị, Hội đồng đưa ra các quyết định liên quan đến toàn lưu vực thông qua nguyên tắc đồng thuận, ví dụ quyết định phân phối nước cho các bang Hội đồng dựa vào chính quyền các bang
để thi hành các quyết định đó
Uỷ ban Lưu vực sông Murray-Darling bao gồm một chủ tịch độc lập, mỗi bang có hai uỷ viên thường xuyên và hai uỷ viên thay thế (vùng thủ đô Australia có một uỷ viên thường xuyên và một uỷ viên thay thế) Các uỷ viên thường là trưởng các cơ quan chức năng về quản lý các Tài nguyên nước, đất và các tài nguyên khác
Uỷ ban là cơ quan thực thi quyết định của Hội đồng, chịu trách nhiệm trước Hội đồng và trước chính quyền các bang Uỷ ban hợp tác với chính quyền các bang liên quan, các ban, các nhóm cộng đồng để xây dựng và thực thi các chính sách và chương trình Uỷ ban có 4 chức năng chính :
- Tư vấn cho Hội đồng về các vấn đề quy hoạch, phát triển và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong lưu vực;
- Giúp Hội đồng đề ra các giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong lưu vực;
- Điều phối việc thực hiện hoặc, khi được Hội đồng giao, trực tiếp thực hiện các giải pháp đó;
- Triển khai các chính sách và quyết định của Hội đồng
Sứ mệnh ban đầu của Uỷ ban là quản lý chất lượng nước, sau đó mở rộng sang quản lý số lượng nước Từ cuối thập niên 1980, uỷ ban được giao nhiệm vụ khởi xướng, hỗ trợ và đánh giá công tác quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên thuộc lưu vực Murray-Darling
Theo nguyên tắc chung về quản lý nhà nước về Tài nguyên nước là phân cấp quyền hạn và trách nhiệm cho bang, các hệ thống thuỷ nông ở Australia cũng được chuyển giao cho những người được hưởng lợi quản lý Ở Australia có ít hệ thống thuỷ nông so với Việt Nam, nhưng hệ thống thuỷ nông Murray rộng tới 750.000 ha, khai thác nước sông Murray và hai hồ điều tiết lớn là hồ Hume (chứa 3 tỷ m3 nước)
Trang 38và hồ Darthmouth Ban đầu hệ thống thuỷ nông này do công ty nhà nước quản lý Đầu năm 1995 được chuyển giao cho người sử dụng nước quản lý dưới dạng công
ty trách nhiệm hữu hạn
Bộ máy công ty bao gồm:
- Hội đồng điều hành là cơ quan quyền lực quyết định nhiệm vụ và tổ chức hoạt động của công ty Thành viên Hội đồng khoảng 10 người, do người dùng nước bầu ra
- Giám đốc Điều hành được Hội đồng bổ nhiệm, chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động của Công ty theo các chủ trương và quyết định của Hội đồng
- Bộ phận Kỹ thuật phụ trách các công việc kỹ thuật trong xây dựng, sửa chữa, vận hành
- Bộ phận Tài chính - Chính sách phụ trách thu chi tài chính, nghiên cứu và thực hiện chính sách và kiêm công việc văn phòng
- Lực lượng Vận hành chịu trách nhiệm vận hành hệ thống công trình, đảm bảo phân phối nước theo các quy định về phân chia nguồn nước giữa các bang và theo các hợp đồng đã ký kết với các hộ dùng nước
Sau khi tổ chức lại quản lý thuỷ nông, hiệu quả phục vụ sản xuất tăng lên rõ rệt Trước đây hàng năm nhà nước phải trợ cấp cho Công ty quản lý thuỷ nông này
4 triệu đô la Úc Từ tháng 3/1995 thuộc bang New South Wale, công ty chuyển sang hình thức công ty tư nhân, có 130 nhân viên Hoạt động của Công ty theo hệ thống tiêu chuẩn ISO 9001 Kinh nghiệm quản lý tài nguyên nước của Australia được thực thi thành công nhất ở hệ thống thuỷ lợi Murray lớn nhất nước Sau khi tái lập và chuyển đổi hình thức sở hữu công ty Murray đã đạt được những thành công rất đáng nghiên cứu Công ty có các ngành nghề kinh doanh chính :
Cấp nước: lấy nước từ hệ thống sông Murray và các hồ chứa tưới cho diện tích 748.000 ha của 2.410 chủ đất Ngoài ra công ty còn thực hiện nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt, phát điện
Tiêu: tiêu thoát nước mưa trong khu vực 80.500 ha đảm bảo chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn về môi trường
Hệ thống kênh tưới bằng trọng lực với tổng chiều dài 2.956 km; Hệ thống
Trang 39kênh tiêu bằng trọng lực dài 1.421 km; với 20.000 công trình trên hệ thống kênh tưới, tiêu;
Tổng giá trị tài sản của hệ thống: trên 500 triệu đô la
Doanh thu chủ yếu của công ty là từ dịch vụ cung cấp nước và phụ thuộc vào nguồn nước để phân phối hàng năm Năm 2000/01 Doanh thu của công ty là 50.2 triệu đô, năm 2002/03 là 33.5 triệu đô
Mức giá nước của công ty thu gồm 2 phần: phần cố định và phần biến đổi Phần giá cố định được xác định dựa vào số lượng quyền sử dụng nước (cổ phiếu) Phần biến đổi căn cứ vào lượng nước dùng Giá nước dao động từ 45 đô/ML-200 đô/ML (megalit)
Việc sửa chữa, thay thế tài sản của công ty được thực hiện từ nguồn kinh phí của Liên bang, bang Trong 10 năm tổng giá trị được đầu tư từ chính phủ là 67.5 triệu đô Trong khi đóng góp của người hưởng lợi là 351 triệu đô
Nhiệm vụ chính của công ty là quản lý vận hành hệ thống CTTL để cấp nước tưới và tiêu thoát nước trong khu vực Ngoài ra công ty còn thực hiện một số dịch
vụ kinh doanh khác như thiết kế, chế tạo, lắp đặt các công trình, thiết bị quản lý nước tự động cho các trang trại, công ty cấp nước đô thị
Một số nhận xét :
+ Đây là Công ty tư nhân quản lý hệ thống tưới, tiêu, tuy nhiên hoạt động phi lợi nhuận Doanh thu chủ yếu là từ dịch vụ tưới, tiêu để trang trải cho các hoạt động quản lý vận hành, trước đây nhà nước hỗ trợ kinh phí sửa chữa lớn, thay thế tài sản
+ Thành công nhất của công ty Murray là việc thực hiện quản lý tưới theo nhu cầu Trên cơ sở khả năng nguồn nước của hệ thống và nhu cầu nước của các hộ dùng nước trong hệ thống, Công ty xác định lượng nước được sử dụng và kế hoạch dùng nước của các hộ dùng nước ổn định lâu dài Các hộ dùng nước căn cứ vào kế hoạch đó để bố trí sản xuất cho phù hợp và có hiệu quả nhất.Trường hợp hộ dùng nước không dùng hết lượng nước được phân bổ, được quyền bán phần nước đó cho
hộ dùng nước khác trong hệ thống có nhu cầu Giá bán do hai bên chủ thể thương thảo và quyết định, vào những năm hạn hán giá bán có thể cao gấp 2-3 lần giá phải trả công ty Viêc trao đổi, thương thảo được thực hiện công khai trên mạng Sau khi
Trang 40hợp đồng được ký, công ty Murray có trách nhiệm chuyển lượng nước đến địa chỉ mới Với cách quản lý nhu cầu như vậy đã thực hiện được tiết kiệm nước, hình thành thị trường nước, có sự cạnh tranh trong sử dụng, mang lại hiệu quả cao nhất cho kinh tế, xã hội và môi trường
2.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý khai thác nguồn nước tại Nhật Bản
Cho đến những năm 90, nguồn nước tại Nhật Bản chủ yếu sử dụng cho nông nghiệp Sau thế chiến thứ 2, nguồn nước được cân đối gia tăng phục vụ cho các hoạt động công nghiệp và dân sinh khác Một loạt các căn cứ pháp lý có dựa trên cân bằng nguồn nước ra đời: 1949- Luật cải tạo đất đai (để mở rộng sản xuất lương thực); 1950 - Luật Phát triển quốc gia toàn diện; 1952- Luật sản xuất điện; 1957- Luật cung cấp nước; 1957 - Luật về đập đa mục đích; 1958 - Luật Cung cấp nước cho công nghiệp Năm 1961, Luật Thúc đẩy phát triển tài nguyên nước ra đời với các đơn vị quản lý nhà nước và có sự tham gia chủ chốt từ yếu tố nhà nước như sau:
Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi
- nước sinh hoạt
Bộ Nông nghiệp Lâm nghiệp và Ngư nghiệp
- nước tưới tiêu
- bảo vệ rừng
Bộ Môi trường
- chất lượng nước
- bảo tồn sinh thái
Bộ Kinh tế, Thương mại
và Công Nghiệp
nước cho công nghiệp -sản xuất điện
Cục Nước và Đất đai,, MLIT
- công trình sông -quyền về nước
Vụ xử lý nước thải, MLIT
- nước thải
Dept of Water Resources, MLIT