Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến việc phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch tại Công ty TNHH một thành viên cấp thoát nước Bắc Ninh trê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-*** -
NGUYỄN ĐÌNH TÔN
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CUNG CẤP NƯỚC SẠCH
CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN CẤP THOÁT NƯỚC BẮC NINH CHO THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Tôn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình viết luận văn tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo Bộ môn Tài chính, Khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Ban Giám đốc, cán bộ Công ty TNHH một thành viên cấp thoát nước Bắc Ninh Đặc biệt là sự tận tình hướng dẫn của TS Đõ Quang Giám; sự ủng hộ, động viên của gia đình và bè bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các quý cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự giúp đỡ này đã cổ vũ và giúp tôi nhận thức, làm sáng tỏ thêm cả lý luận và thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn nghiên cứu
Luận văn là quá trình nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định
Tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
và những độc giả quan tâm đến đề tài này
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Tôn
Trang 42.1.2 Bản chất của phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch 7 2.1.3 Vai trò của dịch vụ cung cấp nước sạch đối với sự phát triển kinh
2.1.4 Nội dung và yêu cầu phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch 10 2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch 12
2.2.1 Tình hình phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch ở một số nước
2.2.2 Tình hình cung cấp nước sạch ở Việt Nam 27
Trang 53.1.1 Vị trí địa lý của thành phố Bắc Ninh 38 3.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội của thành phố Bắc Ninh 39 3.1.3 Khái quát về Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Bắc Ninh 44 3.1.4 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty 52
4.1 Tình hình cung cấp nước sạch của Công ty TNHH Một thành
viên cấp thoát nước Bắc Ninh tại thành phố Bắc Ninh 61 4.2 Thực trạng phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch của Công ty
TNHH một thành viên cấp thoát nước Bắc Ninh tại thành phố
4.2.1 Thực trạng sản xuất nước sạch của công ty 63
4.2.3 Thực trạng tiêu thụ nước sạch của công ty trên địa bàn thành phố 72 4.2.4 Đánh giá về thực trạng dịch vụ cung cấp nước sạch của Công ty
4.3 Phương hướng, giải pháp chủ yếu phát triển dịch vụ cung cấp
nước sạch tại công ty tại thành phố Bắc Ninh 91 4.3.1 Quan điểm phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch 91 4.3.2 Những căn cứ chủ yếu nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ nước
Trang 64.4.2 Mở rộng khách hàng, đối tượng sử dụng nước sạch 101
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.2 Lực lượng lao động phân theo thành thị/nông thôn và vùng kinh
2.3 Tình hình sử dụng nước sạch ở các vùng miền 28
3.1 Tình hình dân số các phường, xã trong thành phố Bắc Ninh năm
4.7 Lượng khách hàng đang sử dụng nước sạch của Công ty 74 4.8 Tỷ lệ sử dụng nước theo đối tượng từ 2011-2013 75 4.9 Sản lượng nước tiêu thụ bình quân theo thời điểm trong ngày
4.10 Giá tiêu thụ nước sạch cho từng đối tượng năm 2013 77
Trang 94.11 Bảng kết quả giám sát chất lượng nước hàng tháng của công ty
do Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bắc Ninh thực hiện 80 4.12 Bảng kết quả giám sát chất lượng nước của công ty do Viện Hóa
4.13 Tỷ lệ dùng nước khu vực thành phố Bắc Ninh 2011 – 2013 83 4.14 Ma trận SWOT phát triển SXKD của Công ty 87 4.15 Đánh giá về chất lượng dịch vụ cung cấp nước sạch 88 4.16 Đánh giá về phát triển khách hàng tiềm năng (khu vực chưa có
4.19 Dự kiến tăng dân số cho thành phố Bắc Ninh đến năm 2018 102
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.3 Bản đồ phân bố các nhà máy nước của Công ty tại TP Bắc Ninh 55 4.1 Biểu đồ sản lương nước thất thoát của công ty theo từng năm
Trang 11MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh Với vị trí như thế, xét tầm không gian lãnh thổ vĩ mô, tỉnh Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội, Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2013 ước tăng 11,8% so với năm trước đó (giá so sánh năm 2010) (Nguyễn Nhân Chiến
2014, Bắc Ninh hướng tới tỉnh công nghiệp hiện đại vào năm 2015) Cùng với môi trường đầu tư thông thoáng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, tỉnh Bắc Ninh có mức thu hút vốn đầu tư cao Sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế, xã hội và dân số đã làm tốc độ đô thị hoá tại Bắc Ninh diễn ra rất nhanh chóng Song song với sự phát triển kinh tế, xã hội thì đời sống người dân trong tỉnh ngày càng được đảm bảo và nâng cao hơn, góp phần không nhỏ trong việc an sinh
xã hội và phát triển của tỉnh trong thời gian qua
Nước sạch là nhu cầu rất cần thiết trong đời sống hàng ngày Con người, động, thực vật sẽ không tồn tại nếu thiếu nước Đặc biệt nước sạch cho dân cư là một trong những chỉ số quan trọng của Bộ tiêu chí Quốc gia Việc đưa nước sạch và đảm bảo vệ sinh môi trường sống không chỉ giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt, bảo vệ sức khỏe người dân, mà còn ổn định và từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
Trong những năm gần đây, thành phố Bắc Ninh đã phát triển không ngừng, nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp… đã được đầu tư xây dựng Đặc biệt theo Nghị quyết số 60/2006/NQ-HĐND 16 ngày 07/11/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã nhất trí thông qua mở rộng địa giới thành
Trang 12phố Bắc Ninh, theo đó mở rộng địa giới hành chính thành phố Bắc Ninh thêm
9 xã lên 19 đơn vị hành chính Theo bản điều chỉnh Quy hoạch phát triển chung thành phố Bắc Ninh tới năm 2020, dân số Bắc Ninh năm 2015 sẽ lên tới con số 174.040 người và năm 2020 sẽ là 183.713 người Sự đô thị hóa khu vực ngoại thành diễn ra rất nhanh, chủ yếu do chính sách của thành phố để cải thiện mức sống của các khu dân cư Trong thời gian gần đây, thành phố Bắc Ninh đã triển khai xây dựng nhiều khu đô thị mới, khu dân cư theo tiêu chuẩn hiện đại và các khu công nghiệp Tốc độ xây dựng là rất lớn, do đó vấn đề nước sạch trở thành sức ép ở Bắc Ninh Cho tới nay, nhu cầu nước sạch của thành phố chỉ đáp ứng được 70%-80% cho các phường trung tâm, tại một số phường như Hạp Lĩnh, Vạn An và Vân Dương chỉ đáp ứng 50%-60% Thiếu nước sinh hoạt ở khu vực ngoại thành còn nghiêm trọng hơn, chỉ từ 30%-50%
có nước sạch Tình trạng cấp nước ở thành phố Bắc Ninh rõ ràng đang là một vấn đề cấp thiết Theo quyết định của UBND tỉnh Bắc Ninh phê duyệt Quy hoạch chung thành phố Bắc Ninh giai đoạn tới năm 2020 và định hướng phát triển tới năm 2030, nguồn nước thô cấp cho Bắc Ninh bao gồm cả nước ngầm
và nước mặt Theo quy hoạch chung được phê duyệt, nhu cầu dùng nước của thành phố Bắc Ninh, năm 2015 là 35.000m3/ngày đêm, thiếu khoảng 5.000m3
so với khả năng cấp nước hiện tại và năm 2020 sẽ là 45.000m3/ngày đêm thiếu khoảng 15.000m3
Để đáp ứng nhu cầu dùng nước nói trên và để mở rộng phạm vi phục
vụ, góp phần đảm bảo một hệ thống cấp nước sinh hoạt bền vững, an toàn và
ổn định cho thành phố, chúng tôi lựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ cung
cấp nước sạch của Công ty TNHH Một thành viên Cấp thoát nước Bắc Ninh cho thành phố Bắc ninh, tỉnh Bắc Ninh” để làm luận văn thạc sỹ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về dịch vụ cung cấp nước sạch và phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch
Trang 13- Đánh giá thực trạng dịch vụ cung cấp nước sạch của công ty trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất các giải pháp cho việc phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
+ Thực trạng sản xuất và cung cấp sản phẩm nước sạch của Công ty đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hay chưa?
+ Sản lượng nước sản xuất ra có tương ứng với sản lượng nước tiêu thụ hay không? Nguyên nhân chính của việc thất thoát nước là gì và giải pháp nào cần có để khắc phục?
+ Giá tiêu thụ nước sinh hoạt có đủ bù đắp giá thành sản xuất hay không và có ở mức hợp lý để người tiêu dùng có thể chi trả không?
+ Các vấn đề liên quan đến phát triển dịch vụ cung cấp trong hiện tại và tương lai là gì?
+ Dây chuyền công nghệ sản xuất nước sạch của Công ty đã đạt tiêu chuẩn cấp nước hay chưa?
+ Sản phẩm nước sạch sản xuất ra có đạt chất lượng theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế về chất lượng nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt hay không?
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến việc phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch tại Công ty TNHH một thành viên cấp thoát nước Bắc Ninh trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
1.4 Phạm vi nghiên cứu
* Về nội dung:
Đề tài tập trung nghiên cứu về đánh giá thực trạng cung cấp nước sạch
và đề xuất các giải pháp cho việc phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch tại Công ty
Trang 15PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Nước sạch có thể được định nghĩa là nguồn nước: trong, không màu, không mùi, không vị, không chứa các độc chất và vi khuẩn gây bệnh Tỷ lệ các chất độc hại và vi khuẩn không quá mức độ cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh của mỗi quốc gia Tại Việt Nam Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 05/2009/TT-BYT Ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt” Ngày 17 tháng 6 năm 2009
Dịch vụ
Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau Đã
có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ nhưng để có hình dung về dịch vụ trong chuyên đề này, chúng tôi tham khảo một số khái niệm dịch vụ cơ bản
Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất [Từ điển Wikipedia] Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ…và mang lại lợi nhuận
Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển
Trang 16quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất
Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc
độ khác nhau nhưng tựu chung thì:
Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội
Dịch vụ cung cấp nước sạch
Dịch vụ cung cấp nước sạch có thể được hiểu là các hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực bán buôn nước sạch, bán lẻ nước sạch
Nếu xét dưới góc độ là một dịch vụ công, dịch vụ cung ứng nước sạch
là những hoạt động của bên cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của nhân dân, bảo đảm phục vụ cho lợi ích chung của toàn xă hội, do các
cơ quan công quyền hay các chủ thể được cơ quan công quyền uỷ nhiệm đứng
ra thực hiện Chính vRì vậy, dịch vụ cung cấp nước sạch có tính xă hội, phục
vụ lợi ích cộng đồng của toàn xă hội là chính, tính kinh tế - lợi nhuận không phải là mục tiêu chi phối hoạt động dịch vụ này
Nếu xét dưới góc độ thương mại, dịch vụ cung cấp nước sạch là một hoạt động thương mại, theo đó một bên (gọi là bên cung cấp dịch vụ) có nghĩa
vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch
vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung cấp dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thoả thuận VRì thế, dịch vụ cung cấp nước sạch phải nhằm mục tiêu lợi nhuận, giải quyết hài hoà mối quan hệ về lợi ích giữa khách hàng
và các nhà cung cấp
Phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch
Phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch là việc mở rộng không ngừng trên tất cả các mặt thuộc phạm vi của lĩnh vực cung cấp nước sạch Trong đó
Trang 17bao gồm cả sự tăng lên về quy mô cũng như chất lượng của hoạt động cung cấp dịch vụ, nhằm tối đa hóa tiêu thụ và hiệu quả thương mại cũng như tối đa hoá lợi ích của khách hàng khi sử dụng dịch vụ
2.1.2 Bản chất của phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch
Phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch có thể hiểu là việc kết hợp các hoạt động cải thiện hệ thống cung cấp nước sạch, nâng cao chất lượng nguồn nước và dịch vụ cung cấp nước sạch, đồng thời phát triển và mở rộng thị trường cung cấp nước sạch Như vậy, phát triển dịch vụ nói chung và dịch vụ cung cấp nước sạch nói riêng phải tập trung vào:
+ Phát triển quy mô, cơ cấu thương mại tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ Phát triển quy mô ở đây chính là sự gia tăng khả năng cung cấp của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ khi nhu cầu tiêu dùng dịch vụ tăng lên, sự đa dạng về chủng loại dịch vụ, sự đa dạng về người mua và người bán trên thị trường
+ Nâng cao chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ là nhân tố quan trọng nhất, là điều kiện để đánh giá sự phát triển của dịch vụ Nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp để gia tăng khả năng tiêu thụ, từ đó tạo ra các mối quan hệ lâu dài với khách hàng mục tiêu
+ Nâng cao hiệu quả thương mại: Trên phương diện vĩ mô, hiệu quả thương mại phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực phục vụ cho hoạt động cung cấp dịch vụ nói chung của cả nền kinh tế Trên phương diện vi mô, hiệu quả thương mại phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ với chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để đạt được kết quả đó Nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại tức là nâng cao trình độ sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, lao động, công nghệ… trong các doanh nghiệp
Trang 182.1.3 Vai trò của dịch vụ cung cấp nước sạch đối với sự phát triển kinh tế
xã hội
2.1.3.1 Vai trò của nước
Nước là nền tảng của sự sống, không một sinh vật nào có thể sống thiếu nước Nhà bác học Lê Quý Đôn cũng đã từng đánh giá: "Vạn vật không có nước không thể sống được, mọi việc không có nước không thể thành được" Bây giờ, mọi quốc gia trên thế giới cũng khẳng định nước là tài nguyên quan trọng thứ hai sau tài nguyên con người
- Đối với đời sống con người: Nước tham gia vận chuyển các chất dinh
dưỡng, các sản phẩm trung gian trong quá trình trao đổi chất, điều hoà nhiệt
độ cơ thể
- Đối với sản xuất:
+ Công nghiệp: Có một số ngành nghề không thể hoạt động được nếu thiếu nước như sản xuất (SX) điện, dệt may, chế biến thuỷ hải sản …
+ Nông - lâm - ngư nghiệp, cây trồng, vật nuôi: Trong cấu trúc động thực vật thì nước chiếm tới 95-99% trọng lượng các loại cây dưới nước, 70% các loại cây trên cạn, 80% trọng lượng các loại cá và 65-75% trọng lượng con người và các loại động vật Trong cây, nước tham gia cấu tạo nên tế bào đơn vị sống nhỏ nhất của cây Ngoài ra, nước còn làm môi trường lỏng hoà tan và vận chuyển các dưỡng chất từ rễ lên lá để nuôi cây Trong quá trình đó một lượng nước lớn bốc hơi khỏi cây, mang theo sức nóng bay đi Nhờ vậy, cây được làm mát không bị cháy khô và không khí xung quanh cũng dịu đi
dù nắng hè đang gay gắt
2.1.3.2 Vai trò của nước sạch đối với đời sống con người
Cũng như không khí và ánh sáng, nước không thể thiếu được trong cuộc sống của con người, nhất là nước sạch Trong quá trình hình thành sự sống trên trái đất thì nước và môi trường nước đóng vai trò rất quan trọng Nước tham gia vào quá trình tái sinh thế giới hữu cơ Trong quá trình trao đổi
Trang 19chất, nước có vai trò trung tâm Nước là dung môi của rất nhiều chất và đóng vai trò dẫn đường cho muối đi vào cơ thể Trong các khu dân cư, nước phục
vụ cho các mục đích sinh hoạt, nâng cao đời sống tinh thần cho người dân Nước là tài nguyên của thiên nhiên, là yếu tố cần thiết để duy trì sự sống Nước sạch là một hàng hóa đáp ứng nhu cầu cấp thiết của con người để tồn tại, là một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển của xã hội vì nó góp phần nâng cao sức khỏe, nâng cao chất lượng cho cuộc sống của cộng đồng con người Do vậy, Chính phủ các nước nói chung và chính phủ Việt Nam nói riêng đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ, duy trì, phát triển nguồn nước để phục vụ đời sống con người
Nước còn đóng một vai trò rất quan trọng trong sản xuất, phục vụ cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau Nếu mọi người trên trái đất đều được sử dụng nước sạch trong ăn uống, sinh hoạt thì sẽ giảm đáng kể các loại bệnh tật
do không được sử dụng nước sạch gây nên như bệnh: dịch tả, phụ khoa…Mục tiêu tiếp tục nâng cao tuổi thọ của người dân Việt Nam, hạ thấp
tỷ lệ tử vong ở trẻ nhỏ sẽ không đạt được khi chưa giải quyết được tình trạng người dân thiếu nước sạch để ăn uống, sinh hoạt và tình trạng ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường
Tóm lại: Nhờ diện bao phủ về cấp nước sạch trong giai đoạn 2011 –
2015 trên toàn quốc tăng cao, giảm bớt gánh nặng hàng ngày phải đi lấy nước rất xa khu dân cư, nhất là các hộ dân vùng ven biển, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi Hơn thế nữa, ở những vùng khan hiếm nước, cải thiện tình hình cấp nước sẽ giảm chi phí sử dụng nước và góp phần cải thiện điều kiện kinh tế xã hội Điều này đem lại hiệu quả tích cực cho phát triển kinh tế và xã hội
Việc sử dụng nước sạch, giữ gìn môi trường xanh-sạch-đẹp góp phần đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng dân cư, nâng cao chất lượng sống của người dân Nhân dân càng thêm tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước
Trang 20Ngoài ra, cải thiện việc cung cấp nước sạch góp phần nâng cao nếp sống văn hoá, văn minh, nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường ở tất
cả mọi nơi Hạn chế sự chênh lệch về điều kiện sinh hoạt giữa nông thôn và
đô thị, giữa các vùng nông thôn với nhau; hạn chế tình trạng mất vệ sinh nghiêm trọng đang diễn ra tại nhiều vùng Nhờ nâng cao sức khoẻ và giải phóng phụ nữ trong nhiều công việc nặng nhọc liên quan đến nước sạch, cải thiện điều kiện vật chất thực hiện bình đẳng giới ngay cả vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
2.1.4 Nội dung và yêu cầu phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch
2.1.4.1 Nội dung của việc phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch
* Phát triển dịch vụ theo chiều rộng
Hiện tại thành phố Bắc ninh với dân số trên 170.000 người sinh sống trong 19 phường xã và khoảng 80 nghìn người đang công tác ở các khu công nghiệp lân cận như khu công nghiệp Quế võ, Khu công nghiệp Yên phong Trong khi đó công ty mới chỉ đáp ứng được ½ số dân trên, đây là tiềm năng
mà công ty cần xem xét và thực hiện đầu tư các tuyến ống cấp nước đến các khu dân cư lân cận, cùng với đó tăng cường lắp đặt đồng hồ nước giảm bớt thủ tục rườm rà không cần thiết, khoan thêm các riếng mới để giảm thiểu thiếu nước sạch cục bộ, cần sàng lọc các khách hàng tiềm năng để có chủ trường đầu tư sớm
* Phát triển dịch vụ theo chiều sâu
- Chất lượng dịch vụ: Nhu cầu cung cấp nước sạch ngày càng cao Song song với đó là việc tiêu thụ nước sạch để nhằm sử dụng mục đích sinh hoạt con người Đây là nhu cầu ăn uống (sinh tồn) của con người do vậy chất nước nước thật sự là việc kiểm soát nghiêm ngặt Quá trình sản xuất nước sạch gắn liền với quá trình tiêu thụ nên yêu cầu về chất lượng dịch vụ phải rất cao, nó được đánh giá thông qua sự hài lòng của khách hàng sau khi đã tiêu dùng dịch
vụ Theo đà phát triển của nền kinh tế - xã hội và trình độ phát triển dân trí
Trang 21của mỗi quốc gia thì người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi khắt khe về chất lượng dịch vụ
- Thái độ phục vụ: Đây cũng là bước rất quan trong để công ty phát triển hay suy vong thì một trong yếu tố này quyết định Cho nên công ty đã thực hiện các bước công việc theo ISO 9001-2008 như trả lời khiếu nại khách hàng, công tác lắp đặt đồng hồ nước bao nhiêu thời gian là bàn giao, thái độ phục vụ khách hàng
- Gía cả: Trong thị trường nước sạch tại thành phố Bắc Ninh hiện nay chưa có sự cạnh tranh về giá cũng như các sản phẩm cùng loại Đây cũng là thuận lợi cho công ty nhưng việc mỗi năm đều tăng giá nước sạch cũng gây sáo chộn cho người dân sử dụng do chính sách của tỉnh Bắc Ninh chưa có một lộ trình cụ thể, từ đây cũng tạo cho nhân dân sử dụng ít đi để thay thế nguồn nước khác như giếng khoan
- Kỹ thuật công nghệ: Hiện tại dây chuyền công nghệ lọc nước của nhà máy nước Bắc Ninh do Autralia tài trợ từ năm 1997 đây là dây chuyền đã lạc hậu Việc sử dụng lao động để vân hành trong dây chuyền này là lớn Giá thành nhân công chiếm 1/3 trên tổng giá thành nước sạch Từ đây Công ty có định hướng để đầu tư cho phù hợp với sứ mệnh tầm nhìn và phương châm của doanh nghiệp
2.1.4.2 Yêu cầu phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch
- Doanh thu, lợi nhuận từ việc tiêu thụ nước sạch của các công ty ngày càng tăng lên qua các năm
Trang 22∗ Về mặt chất lượng:
- Chất lượng nguồn nước được cung cấp trên thị trường phải không ngừng được cải thiện, đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch, đảm bảo an toàn cho sức khoẻ của người sử dụng
- Chất lượng của dịch vụ cung cấp nước sạch: đảm bảo cung cấp nước sạch đều đặn, liên tục, ổn định cho khách hàng; giải quyết kịp thời các sự cố trong quá tŕnh cung cấp nước sạch, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
- Về hiệu quả kinh tế - xă hội: Phát triển cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả kinh tế và hiệu quả xă hội:
Đối với hiệu quả kinh tế, phát triển dịch vụ thể hiện ở mức đóng góp vào GDP, lợi nhuận, hiệu quả sử dụng các nguồn lực thương mại…
Đối với hiệu quả xă hội, phát triển dịch vụ sẽ giải quyết các vấn đề như việc làm, xoá đói giảm nghèo và ô nhiễm môi trường…
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch
2.1.5.1 Yếu tố bên ngoài
- Yếu tố chính sách:
Năm 2009, Chính phủ Việt Nam cũng đã cập nhật các định hướng phát triển cho lĩnh vực cấp nước đô thị Quyết định số 1929/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 đã mô tả các định hướng phát triển của ngành cấp nước Việt Nam tại các khu vực đô thị và khu công nghiệp tới năm 2025, tầm nhìn đến năm
2050 Quá trình phát triển cấp nước đô thị được nghiên cứu nhằm thỏa mãn 100% nhu cầu dùng nước sạch, với định mức sử dụng nước đạt nhu cầu là
120 lít/người/ngày, giảm thất thoát nước xuống còn 15% và dịch vụ cấp nước
sẽ hoạt động ổn định trong 24 giờ/ngày trong tất cả các đô thị Việt Nam tới năm 2025
Quy định về việc khai thác và sử dụng nguồn nước: Nước là cội nguồn của sự sống, là một trong những thành phần chủ yếu của môi trường Nhu cầu
Trang 23về phát triển xã hội ngày càng tăng thì nhu cầu sử dụng nước cũng ngày càng lớn Xét về nguồn nước, ngoài nguồn nước ngầm hiện có, thì chủ yếu lượng nước mặt của Việt Nam được chảy vào từ bên ngoài lãnh thổ, 70% diện tích lưu vực các sông của nước ta nằm ngoài lãnh thổ, nên vấn đề ô nhiễm nguồn nước, ngoài nguyên nhân chủ quan do chính Việt Nam gây ra còn có nguyên nhân chủ quan do các nước đầu nguồn mang tới Để giải quyết tình trạng quản
lý, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước bừa bãi, thiếu quy hoạch và không hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 487/TTg ngày 30/07/1996 “về tăng cường quản lý Nhà nước đối với tài nguyên nước” để phần nào hạn chế được tình trạng này
- Giá bán nước: Do sản phẩm nước là một loại hàng hoá đặc biệt nên
Nhà nước vẫn đang quản lý về nguồn nước, chất lượng và giá bán
Ngày 15/5/2012 Thông tư liên tịch Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số 75/2012/TTLT-BTC-BXD-BNN hướng dẫn nguyên tắc phương pháp xác định và thẩm quyền quyết định giá tiêu thụ nước sạch, và ngày 28/5/2012, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định khung giá nước sạch sinh hoạt tại Thông tư số 88/2012/TT- BTC, ban hành khung giá chung cho từng khu vực, trên cơ sở tính đúng tính đủ và đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Khung giá tiêu thụ nước sinh hoạt
Loại đô thị Giá tối thiểu
(đ/m 3 )
Giá tối đa (đ/m 3 )
Đô thị đặc biệt, đô thị loại 1 3.500 18.000
Đô thị loại 2, loại 3, loại 4, loại 5 3.000 15.000
Nước sạch khu vực nông thôn 2.000 11.000
Nguồn: Bộ Tài chính (2012)
- Chiến lược cấp nước sạch của Việt Nam: Nhận thức được tầm quan trọng của nước sạch đối với đời sống con người Chính phủ Việt Nam đã có
Trang 24định hướng, chiến lược cho việc cấp nước sạch cho khu vực đô thị và nông thôn nhằm đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước sạch của mọi người dân và có biện pháp đúng đắn trong việc khai thác, sử dụng nguồn nước
+ Định hướng của Chính phủ cho vấn đề phát triển cấp nước đô thị quốc gia: Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 63/1998/QĐ-TTg ngày
18 tháng 3 năm 1998 phê duyệt định hướng phát triển cấp nước đô thị quốc gia đến năm 2020, nhằm định hướng cho việc phát triển ngành cấp nước đô thị phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từ đó lập kế hoạch đầu tư phù hợp để phát triển hệ thống cấp nước các đô thị một cách ổn định và bền vững trong từng giai đoạn
+ Chiến lược cấp nước và vệ sinh nông thôn: Ở nước ta, Chính phủ đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề nước sạch và vệ sinh nông thôn cho các vùng, miền núi xa xôi, hẻo lánh, các vùng nông thôn trên cả nước Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 25 tháng 8 năm 2000 Mục tiêu: Tăng cường sức khỏe người dân do giảm các bệnh có liên quan đến nước
Nâng cao mức sống do sử dụng nước và vệ sinh tốt hơn Đến năm 2010: 85% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh với số lượng 60 lít/người ngày
- Yếu tố thị trường
Mỗi mặt hàng được SXKD đều có thị trường tiêu thụ riêng, nhất là các loại mặt hàng mang tính đặc biệt, ít có sự cạnh tranh như: nước sạch, điện… Tuy nhiên, không phải do có thị trường tiêu thụ riêng biệt mà các doanh nghiệp không quan tâm đến số lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ chăm sóc khách hàng
Trong một mặt hàng có rất nhiều doanh nghiệp, công ty cùng sản xuất dẫn đến sự cạnh tranh nhau trong vấn đề tiêu thụ và sản phẩm được khách hàng
Trang 25lựa chọn là sản phẩm phù hợp nhất với người sử dụng Các doanh nghiệp SXKD nước sạch cần phải nghiên cứu kỹ thị trường tiêu thụ, nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng trước khi quyết định sản xuất một loại mặt hàng nào đó, nếu không có thể sẽ không tiêu thụ được dẫn đến phá sản hay sản xuất trì trệ
- Điều kiện địa lý
Đây cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển dịch
vụ cung cấp nước sạch Tuỳ vào từng khu vực, từng địa hình cụ thể mà có quyết định đầu tư hợp lý Địa điểm khai thác nguồn nguyên liệu, cơ sở sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nếu không ổn định, hợp lý thì sẽ dẫn đến chi phí cao, không hiệu quả
Vì vậy các doanh nghiệp phải biết tận dụng những ưu điểm địa hình và hạn chế những nhược điểm của nó thì mới có thể biến nhược điểm thành ưu điểm và mang lại hiệu quả kinh tế cao
2.1.5.2 Yếu tố bên trong
- Nhân tố con người
Con người luôn luôn là yếu tố quan trọng và quyết định nhất đối với hoạt động của mọi doanh nghiệp, thể hiện qua khả năng, trình độ, ý thức của đội ngũ quản lý và người lao động Đội ngũ lao động tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố như trình độ nghiệp vụ chuyên môn của người lao động, năng suất lao động, thái độ phục vụ khách hàng, sự sáng tạo Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất ra sản phẩm hàng hoá
- Trình độ lao động
Trình độ lao động hay chất lượng của nguồn nhân lực là yếu tố quyết định nhất cho sự phát triển kinh tế xã hội Hiện nay, nguồn lao động ở Việt Nam khá dồi dào và trẻ Chất lượng lao động cũng đã được cải thiện so với những năm trước, tuy nhiên trình độ lao động Việt Nam vẫn còn quá cách biệt
so với thế giới Sử dụng người lao động có trình độ, có tay nghề phù hợp với
Trang 26yêu cầu công việc là mối quan tâm của các doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập Chính phủ đã rất quan tâm đến vấn đề về trình độ, chất lượng lao động
ở Việt Nam Chất lượng nguồn nhân lực thấp và không được đào tạo bài bản đang khiến người lao động nước ta chịu lép vế và phải nhường lại các vị trí có thu nhập cao cho người nước ngoài Ngành cấp nước cũng chịu sự ảnh hưởng chung đó, lao động làm việc trong ngành cấp nước hiện nay, ngoài một số ít được đào tạo đúng ngành nghề, còn lại thường là các ngành kinh tế, xã hội Khi tiếp nhận, doanh nghiệp thường có kế hoạch đào tạo lại cho phù hợp với yêu cầu công việc mà họ đảm nhận, khiến doanh nghiệp mất thêm chi phí đào tạo và không sử dụng được người có khả năng nhất cho từng vị trí công việc
- Độ tuổi của lao động
Theo báo cáo Tình hình Dân số Thế giới 2010 của Liên Hiệp Quốc, dân
số Việt Nam hiện là 89 triệu người và sẽ tăng lên 111,7 triệu người vào năm
2050 Ngày 1/11/2013, Việt Nam đón công dân thứ 90 triệu chào đời Trước
sự kiện này, TS Dương Quốc Trọng – Tổng cục trưởng Tổng cục KHHGĐ đã chia sẻ sự phấn khởi, niềm tự hào về những thành công mà chương trình DS-KHHGĐ đạt được; đồng thời, nhấn mạnh đến trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi người dân trước những cơ hội và thách thức vì sức khỏe, hạnh phúc của mỗi gia đình và sự phát triển bền vững của đất nước Với
DS-số dân DS-số trên Việt Nam hiện đang đứng thứ 14 trong DS-số những nước đông dân nhất trên thế giới (Thực hiện Hà Thư trên báo Gia đình.Net.VN 2013) Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động: nam từ 15-60 tuổi, nữ từ 15-55 tuổi Lực lượng lao động bao gồm những người đang có việc làm và những người thất nghiệp Tính đến thời điểm 1/7/2011, Việt Nam có 51.326 nghìn người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chiếm 58,4% tổng dân số, trong đó nữ 48,3% và nam chiếm 51,7% Lực lượng lao động chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (71,5%)
Lực lượng lao động nói chung: là lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên
Trang 27Bảng 2.2: Lực lượng lao động phân theo thành thị/nông thôn
Đồng Bằng Sông Cửu Long 10.32 20,1 21,2 19,0
Nguồn: Báo cáo Điều tra Lao động - Việc làm 6 tháng đầu năm 2011, Tổng
cục Thống kê
Lực lượng lao động tập trung chủ yếu ở 3 vùng là Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung và Đồng Bằng Sông Cửu Long Như vậy, khu vực nông thôn và ba vùng kinh tế - xã hội này là những nơi cần có các chương trình khai thác nguồn lực lao động, đào tạo nghề và tạo việc làm trong những năm tới
Trong bài phát biểu tại Hà Nội nhân ngày Dân số Thế giới 2010 bà Urmila Singh, Phó trưởng Đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) đánh giá: “Với sự thay đổi cơ cấu dân số, Việt Nam đang bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng Trong thời kỳ này, cứ một người trong độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 tuổi hoặc trên 60 tuổi) thì có hai người hoặc hơn trong độ tuổi lao động (từ 15-60 tuổi) Thời kỳ đặc biệt này chỉ xảy ra một lần trong lịch sử phát triển của bất kỳ một quốc gia nào”
Nguồn lao động để cung cấp cho ngành cấp nước cũng không hạn chế, vấn đề là lựa chọn được những lao động phù hợp với công việc sẽ đảm nhận
Trang 28- Khả năng thích ứng với vị trí công việc:
Nguồn cung cấp nhân lực dồi dào, đa dạng về ngành nghề, giúp cho các doanh nghiệp SXKD nước sạch có cơ hội lựa chọn được những lao động phù hợp với từng vị trí công việc Tuy nhiên, thực tế cho thấy số lượng lao động hiện có tại các công ty cấp nước chưa đáp ứng được những yêu cầu đó, một phần do quy chế tuyển dụng chưa rõ ràng, một phần do ngành nghề tiếp nhận với ngành nghề sẽ đảm nhận không tương ứng Một số lao động được tuyển dụng đúng ngành nghề nhưng lại không phát huy được khả năng của mình, không ứng dụng được những điều đã học vào thực tế công việc
- Về phía người sử dụng nước sạch
+ Nhận thức: Việc nhận thức của con người về nước sạch còn thấp, nhất là ở khu vực nông thôn Theo cách hiểu của đa số người dân là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô tận và do tự nhiên ban tặng nên được sử dụng miễn phí Cách hiểu này đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân và được củng cố qua nhiều thế hệ Lý do này càng được khẳng định khi họ có thể tự tìm cho mình nhiều nguồn nước khác nhau để sử dụng như ao, hồ, sông suối, giếng khoan… Với họ những nguồn nước này đã được cha ông họ sử dụng trong ăn uống từ bao đời nay mà không cần phải qua xử lý, không cần chịu sự quản lý của ai và vẫn khoẻ mạnh Với họ không có ai làm ra nước, vì thế không có sự mua và bán nước như các loại hàng hoá khác và họ có quyền khai thác, sử dụng nước một cách thoải mái, tự do Đây chính là một nguyên nhân làm ô nhiễm nguồn cung cấp nước và làm cạn kiệt, thay đổi nguồn cung cấp nước cho hiện tại và tương lai
+ Tập quán sinh hoạt: Người dân Việt Nam có tập quán sinh hoạt theo kiểu làng xã từ ngàn năm nay Vì thế tập quán sử dụng nước của người dân vẫn còn bị ảnh hưởng khá rõ nét Đa số người dân không có khái niệm đúng đắn về việc sử dụng nước sạch Cách đánh giá mức độ sạch của nước chủ yếu
là dựa theo kinh nghiệm và cảm quan chứ chưa dựa vào các xét nghiệm mang
Trang 29tính khoa học Chính vì thế, không ít người cho rằng cứ nước mưa, nước giếng, nước suối, … mà trong, không bị vẩn đục là sạch và có thể sử dụng Mặt khác theo truyền thống, việc sử dụng nước giếng, nước mưa, nước suối…
đã trở thành thói quen và hình thành nên những đặc trưng văn hoá riêng của người dân Việt Nam, nhất là khu vực nông thôn với biểu tượng cây đa - bến nước - sân đình Giếng làng, ao làng, … là những nơi mà người dân không chỉ đến để lấy nước mà còn là nơi để trò chuyện, giao lưu…
- Nhân tố về tài chính
Bất cứ một hoạt động đầu tư, sản xuất, phân phối nào cũng đều phải xét, tính toán trên tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Doanh nghiệp có tiềm năng lớn về tài chính sẽ có nhiều thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đầu
tư mua sắm trang thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, duy trì
và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, khuyến khích việc tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, lợi nhuận và củng cố vị thế trên thương trường Doanh nghiệp có tiềm lực tài chính cao có thể theo đuổi chiến lược dài hạn
- Về phía người cung cấp nước sạch
+ Khả năng về vốn: Nguồn vốn dùng để xây dựng một hệ thống cấp nước hoàn chỉnh, phù hợp với các tiêu chuẩn hiện đại là rất tốn kém Khả năng về vốn của các Công ty Cấp nước không thể đáp ứng để đầu tư các dây chuyền hiện đại như vậy Mặt khác, các dây chuyền công nghệ, đường ống cấp nước cũ vẫn có thể sử dụng được nên nhiều Công ty Cấp nước còn tận dụng để giảm chi phí đầu tư, chi phí khấu hao và để doanh nghiệp có lãi trong hiện tại Tuy nhiên, việc tận dụng các dây chuyền công nghệ và đường ống cũ nát dẫn đến tình trạng thất thoát nước ngày càng cao, có nơi tỷ lệ thất thoát cao đến 45% lượng nước sạch sản xuất ra
+ Khả năng cung cấp nước: Do không đầu tư, cải tạo và mở rộng hệ thống cung cấp nước, hoặc đầu tư không đồng bộ cho nên không thể cung cấp nước được cho nhiều đối tượng có nhu cầu, đặt các đối tượng có nhu cầu
Trang 30dùng nước phải tìm các biện pháp khác để có nước sử dụng như: khoan giếng,
bể chứa nước mưa…
Đây là một tổn thất rất lớn cho các Công ty Cấp nước, nếu không kịp thời đầu tư vào phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch thì trong một thời gian không xa lượng khách hàng sử dụng nước của Công ty sẽ sụt giảm và dù khi đó khả năng cung cấp nước của các Công ty Cấp nước có tăng thì số lượng khách hàng đã tìm nguồn nước sử dụng khác sẽ không ký hợp đồng với các Công ty này nữa vì họ đã bỏ một khoản chi phí đầu tư cho hệ thống nước đang dùng + Khả năng đầu tư mới hoặc cải tạo: Do mức đầu tư, nâng cấp, thay đổi các dây chuyền công nghệ trong lĩnh vực cấp nước rất cao, cho nên nếu để các Công ty bỏ hoàn toàn vốn ra thực hiện là không thể Nhưng cùng với sự phát triển của xã hội, việc Việt Nam mở rộng mối quan hệ với nhiều nước trên Thế giới, tiếp cận được nhiều nền khoa học công nghệ hiện đại của nước ngoài Các Công ty Cấp nước đều nhận thức được rằng để phát triển dịch vụ cung cấp nước sạch thì cần phải đầu tư mở rộng và hoàn thiện hệ thống cấp nước đạt chuẩn quốc tế Để có vốn thực hiện, các Công ty Cấp nước đều thông qua các nguồn vốn vay nước ngoài để thực hiện Đây là một điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành cấp nước, hệ thống cấp nước được hoàn thiện, khả năng cung cấp nước sẽ cao hơn, số lượng khách hàng cũng sẽ theo
đó mà tăng lên
- Nhân tố kỹ thuật, công nghệ
Tình trạng, trình độ máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm Đó là yếu tố vật chất quan trọng nhất thể hiện năng lực sản xuất, tác động trực tiếp đến chất lượng, năng suất sản xuất Ngoài ra, công nghệ sản xuất cũng ảnh hưởng tới giá thành và giá bán của sản phẩm Doanh nghiệp có công nghệ phù hợp sẽ có lợi thế cạnh tranh rất lớn do chi phí sản xuất thấp, chất lượng sản phẩm và dịch vụ cao Ngược lại, doanh nghiệp sẽ bất lợi trong cạnh tranh khi chỉ có công nghệ lạc hậu
Trang 31Trong giai đoạn hiện nay, nếu doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến thì sản phẩm làm ra chất lượng cao, tăng năng suất, giảm sức người, qua
đó làm giảm giá thành sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh vượt trội so với đối thủ hiện tại Tuy nhiên, việc thay đổi hay nâng cấp công nghệ yêu cầu doanh nghiệp phải giải quyết bài toán hiệu quả đầu tư
- Nhân tố về xã hội
Trong xã hội, nước chiếm vị trí hết sức quan trọng và cần thiết Trong
cơ thể con người khi không có nước khoảng 3 - 4 ngày, cơ thể sẽ gặp những rối loạn trầm trọng Sự quan trọng của nước cũng có thể trở thành một trong những nguyên nhân gây ra chiến tranh ở những vùng khan hiếm nước Các xung đột do khan hiếm nước đang là một vấn đề nghiêm trọng mà Sudan phải đối mặt, ở đất nước này chỉ có khoảng 25% dân số được sử dụng nước uống an toàn, cứ 4 trẻ em dưới 5 tuổi thì có một trẻ em bị chết và trong số trẻ
bị chết đó gần một nửa là do các bệnh có liên quan đến nước Tập quán sinh hoạt của con người cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước Việc khoan nước bừa bãi để lấy nước sử dụng làm ô nhiễm nguồn nước và phá vỡ hệ vận động tuần hoàn của nước Trước đây, con người coi nguồn cung cấp nước như một thứ trời cho và vô tận nên đã không có ý thức tiết kiệm và bảo vệ nó Ngày nay, loài người đã nhìn nhận lại Khi số lượng người trên trái đất còn ít, mức độ sử dụng nước còn nhỏ bé thì nguồn nước có khả năng làm dung hoà những tác động của con người và lấy lại được thế cân bằng tự nhiên của chu trình tuần hoàn Trong thời đại phát triển cao của của nền công nghiệp, quy mô khai thác nguồn nước hiện nay vượt quá khả năng cân bằng tự nhiên, vì vậy cần phải tính toán việc sử dụng nguồn nước một cách tối ưu để phục vụ cho trước mắt và lâu dài, đảm bảo sự phát triển bền vững của cả hành tinh Hiện nay, do ảnh hưởng của yếu tố cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, nên có tình trạng chỉ lo đến thu lợi trước mắt mà không lường trước những hậu quả lâu dài, mặt khác do khai thác rừng bừa
Trang 32bãi dẫn đến cạn kiệt nguồn nước, do tuỳ tiện tiện xả nước thải sinh hoạt, công nghiệp ra các nguồn sông, ngòi mà không được xử lý thích đáng….có thể sẽ dẫn đến tình trạng là ngành này sử dụng, ngành kia phải chịu hậu quả, và ảnh hưởng cho cả thế hệ sau
- Nhân tố về môi trường
Do dân số ngày càng gia tăng, tình trạng ô nhiễm và nhiệt độ trái đất ngày một nóng lên, tính hình cung ứng nước trên thế giới đang có nguy cơ giảm mạnh Trong vòng 20 năm tới, lượng nước sạch cung ứng cho mỗi người sẽ giảm 1/3 so với hiện nay Tình trạng chặt phá rừng đầu nguồn bừa bãi cũng là nguyên nhân gây lũ lụt, và ngày càng khan hiếm nguồn nước sạch sử dụng cho đời sống
con ngườiCác nhân tố về nguồn khai thác và khoa học công nghệ
- Nguồn khai thác chủ yếu của Việt Nam:
+ Nước mặt: Nguồn khai thác nước mặt của Việt Nam là các dòng sông, hồ lớn Khai thác nguồn nước mặt ở Việt Nam hiện nay gặp nhiều khó khăn do hệ thống sông ngòi, ao hồ của Việt Nam hầu như bị ô nhiễm nặng nề, không đảm bảo cho việc sử dụng cho sinh hoạt và ăn uống Một số dòng sông,
hồ có thể sử dụng được để khai thác sản xuất nước sạch phục vụ đời sống con người nhưng chi phí dùng để sản xuất loại nước này cao hơn nước ngầm
+ Nước ngầm: Thường có trữ lượng tốt hơn, ít bị ô nhiễm do tác động của các yếu tố tự nhiên và con người Giá thành sản xuất nước ngầm thường nhỏ hơn sản xuất nước mặt, quá trình xử lý nước trước khi cung cấp cũng đơn giản hơn, ít dùng đến hoá chất hơn khi sử dụng nguồn nước mặt Việc bảo vệ nguồn nước ngầm cũng thuận lợi hơn
Tuy nhiên nếu nguồn nước ngầm bị ô nhiễm thì biện pháp khắc phục sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nước mặt
- Điều kiện khoa học công nghệ của Việt Nam
+ Dây chuyền xử lý của các nhà máy sử dụng nguồn nước ngầm
+ Dây chuyền xử lý của các nhà máy sử dụng nguồn nước mặt
Trang 33ổn định cuộc sống cho người dân Năm 2009 Liên hợp quốc phát động là năm quốc tế về nước với thông điệp “chia sẻ nguồn nước, chia sẻ cơ hội “Theo Tạp chí cấp thoát nước của Hội cập thoát nước Việt Nam, 2009”
Theo thống kê của UNESCO hơn ¼ dân số thế giới tức khoảng hơn 2 tỷ người dân không được tiếp nhận với nước sinh hoạt an toàn
Tại các diễn đàn thế giới về nước sạch thì rõ ràng nguồn nước đang có
xu hướng cạn kiệt trong khi đó nhu cầu về nước lại tăng cao Theo kết quả đánh giá về chất lượng nước thì một số quốc gia có nguồn nước tốt nhất là Phần Lan; Canada; Newzealand; Anh; Đan Mạch; Nhật Bản; Bỉ; Australia Các quốc gia Châu Phi, vùng Trung - Nam Á, Ấn độ rất đáng lo ngài
Xu hướng đô thị hóa ngày càng tăng nhanh tại các nước đang phát triển
là nguyên nhân gây sức ép đối với dịch vụ cung cấp nước sạch ở các thành phố lớn và đô thị tập trung Năm 2010 ở Châu Phi có 70-250 triệu người thiếu nước sạch và trên thế giới có 700 triệu người dân phải di dời chỗ ở vì hạn hán
Trang 34cận Thứ hai là Cục Nước Liên tỉnh Thái Lan (PWA) có nhiệm vụ cấp nước cho 73 tỉnh thành còn lại
+ Hiện tại, số lượng khách hàng của PWA là 10 triệu người dân sống trong 220 thành phố Trong số đó, khoảng 76% là các đấu nối hộ gia đình và 24% còn lại là khách hàng của các lĩnh vực thương mại, chính phủ và công nghiệp Sản lượng nước tiêu thụ năm 2009 là 606 triệu m3 nước và tổng số nhân viên là 5.840 người PWA cũng đang rất tích cực trong việc giảm thất thoát nước, tăng nhanh số đấu nối, cải thiện hiệu suất vận hành nhằm đạt hiệu quả cung cấp nước cao nhất
Singapore:
Thiếu nước đang là vấn đề nóng toàn cầu, và cũng như lương thực hay dầu mỏ, nguồn cung cấp nước ngày càng được coi là một vấn đề an ninh quốc gia Singapore từng rất đau đầu trước vấn nạn không đủ nước dùng cho sinh hoạt lẫn sản xuất, nhưng nay đảo quốc sư tử đã tìm được lối ra
"Mặc dù nằm trên đường xích đạo và có mưa nhiều nhưng chúng tôi không có chỗ trữ nước tự nhiên cũng như không có mạch nước ngầm”, Khoo Teng Chye, giám đốc Ủy ban Dịch vụ công cộng Singapore, cho biết Nhiều năm qua, Singapore buộc phải chọn giải pháp bất khả kháng là nhập khẩu nước từ nước láng giềng Malaysia Giải quyết thực trạng thiếu nước càng trở nên cấp bách sau khi phía Malaysia đề nghị tăng giá nước lên gấp 15-20 lần Trước tình thế khó khăn đó, Singapore đặt mục tiêu bằng mọi cách phải tìm kiếm giải pháp thay thế để mỗi ngày có thể cung cấp đủ 1,36 tỉ lít nước sạch cho 4,4 triệu dân Đầu tiên là xây dựng một loạt hồ chứa lớn để “hứng nước mưa càng nhiều càng tốt”, nâng diện tích mặt đất dùng để trữ nước từ 50% lên 65% Bên cạnh đó, các nhà máy khử muối biến nước biển thành nước sinh hoạt cũng gia tăng công suất, đáp ứng 10% nhu cầu của người dân
Nước là một trong những yếu tố trọng yếu đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người Nguồn nước ngọt tự nhiên của Singapore được cho là ít
Trang 35nhất thế giới Nguồn nước mưa, nước ngầm và nước ở các sông suối nhỏ không đủ cho 5 triệu người dân sử dụng nhưng đảo quốc này vẫn có thể tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong gần 50 năm
Năm 1961, Singapore phải ký 2 hiệp ước nhập khẩu nước ngọt chưa qua xử lý từ Malaysia với số lượng khoảng 155 triệu lít mỗi ngày Tình trạng lệ thuộc vào nguồn nước ngọt nhập khẩu kéo dài trong nhiều năm đã gây những tổn thất nặng cho nền kinh tế Trước thực trạng đó, chính phủ Singapore xem chính sách tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước ngọt là quốc sách hàng đầu Chiến lược tiết kiệm, tái tạo nguồn nước ngọt và sạch được đặt ra và thực hiện bằng nhiều biện pháp gắn với lộ trình phát triển cụ thể của đất nước
Một là, nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng tiết kiệm nguồn nước,
xây dựng ý thức tự quản và thực hành tiết kiệm cho mỗi người dân Chính phủ thực hiện nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động mỗi người dân nâng cao ý thức về sự cần thiết phải thực hành tiết kiệm nước hàng ngày Việc tiết kiệm nước được thực hiện bằng các hành động cụ thể, diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi Từ năm 2003, cuộc vận động, tuyên truyền tiết kiệm nước luôn được tiến hành sâu rộng trên toàn quốc Khẩu hiệu “Mỗi người dân tiết kiệm 5% lượng nước sinh hoạt trong một tháng” đã thu hút 250.000 hộ dân trên 70 khu vực của toàn lãnh thổ cam kết thực hiện Một trong các nhóm giải pháp được hướng dẫn và đạt hiệu quả cao là “7 biện pháp tiết kiệm nước”, gồm: kiểm tra hóa đơn nước hàng tháng để có biện pháp tiết giảm; chỉ xối nước cần thiết khi tắm; mở lượng nước vừa đủ khi rửa rau, rửa bát; chỉ giặt máy giặt khi đủ công suất máy; dùng nước xả của máy giặt để rửa bồn cầu, sàn nhà vệ sinh; không để cho nước rò rỉ ở các van và mối nối dù chỉ một giọt; chỉ dùng ½ lượng nước trong bồn xả có thể làm sạch cầu sau khi đi vệ sinh Bằng cách đó, mỗi gia đình có thể tiết kiệm được 15-20 lít nước mỗi ngày Ông Yaacob Ibrahim, Bộ trưởng Môi trường và Nguồn nước Singapore
Trang 36từng đề nghị: mỗi người dân tắm bớt đi 1 phút là tiết kiệm được 10 lít nước một ngày Nếu thực hiện theo kiến nghị này thì 5 triệu người dân sẽ tích đủ nước cho 16 hồ bơi theo tiêu chuẩn Olympic Đó là một con số không hề nhỏ Cuộc vận động, tuyên truyền thực hành tiết kiệm nước trên toàn quốc nhanh chóng thu được kết quả khả quan Số liệu điều tra, thống kê hàng năm của chính phủ về thực trạng tiêu dùng nước cho thấy: vào cuối những 90 của thế
kỷ XX, mỗi người dân Singapore sử dụng hết 176 lít nước một ngày Đến năm 2003, con số này đã giảm xuống 165 lít/người/ngày, năm 2008 còn 162 lít/người/ngày, năm 2012 chỉ còn 155 lít/người/ngày Singapore đã giảm được
tỷ lệ thất thoát nước về mức thấp nhất (khoảng 4,6%, bằng với Nhật Bản) Bên cạnh đó, chính phủ Singapore áp dụng cách tính giá nước theo phương pháp lũy tiến và thu thêm các loại thuế, phí (thuế bảo vệ nguồn nước, phí sử dụng nước trên định mức tiêu thụ…), thu theo mục đích sử dụng… Hiện nay, Singapore tính giá nước theo 2 mức tiêu thụ, mức 1 dùng đến 40.000 lít/hộ và mức 2 dùng trên 40.000 lít/hộ Giá nước ở mức 1 là 1,17 SGD (đôla Singapore), mức 2 là 1,4 SGD, chưa kể thuế và phí
Hai là, phát triển mọi khả năng khai thác nước ngọt, đảm bảo phát triển bền vững Chính phủ Singapore thực hiện nhiều dự án phát triển nguồn nước ngọt quy mô lớn đầy quyết tâm và sáng tạo như: tiến hành làm sạch các dòng sông, đầu tư xây dựng hệ thống tích trữ, thu gom nước ngọt trên toàn quốc với một đập ngăn nước sông đổ ra biển (đập Marina trên sông Singapore) Hiện nay, Singapore có 15 hồ chứa nước ngọt (hồ rộng nhất là 10.000 ha) và hơn 7000 kênh dẫn Ngoài ra, quốc gia này còn tiến hành xây dựng các nhà máy lọc nước trọng điểm với công suất lớn Hai nhà máy lọc nước biển Singspring và Tuaspring đã đi vào hoạt động, đáp ứng được 10% nhu cầu nước ngọt của cả nước Trong tương lai gần, đảo quốc này dự kiến xây thêm 4 nhà máy lọc nước biển để có thể đáp ứng được 20% nhu cầu tiêu dùng nước ngọt cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, thành công
Trang 37lớn nhất của quốc gia này trong việc giải quyết bài toán về nước ngọt là thực hiện dự án “nước mới” Chính phủ đã hoàn thiện hệ thống kênh dẫn, hồ chứa
và cho xây dựng 5 nhà máy lọc nước thải có quy mô lớn Công nghệ hiện đại của các nhà máy này có thể lọc được mọi loại nước thải (kể cả nước thải từ nhà vệ sinh) thành nước sinh hoạt Sản lượng nước của 5 nhà máy đủ cung cấp cho 30% nhu cầu tiêu dùng nước sạch trên toàn quốc với giá rẻ hơn rất nhiều so với các nguồn cung nước trước đây Để tạo thêm nguồn thu cho đất nước, Singapore còn biến dây chuyền sản xuất “nước mới” thành một điểm đến du lịch để khách tham quan khám phá “sự tái sinh của nước” Với sự thành công của dự án “nước mới”, người Singapore đã biến giấc mơ hơn 20 năm của cựu thủ tướng Lý Quang Diệu thành hiện thực với kết quả lớn hơn mong đợi Theo thống kê của Bộ Môi trường và Nguồn nước Singapore, các
dự án phát triển nguồn nước ngọt của quốc gia này xấp xỉ đạt 1.500 triệu lít/ngày Nguồn cung nước vượt xa cầu đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Thứ ba, chính phủ có chính sách khuyến khích các nhà khoa học, các
tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc vào công cuộc bảo vệ, phát triển nguồn nước Hàng năm, Chính phủ Singapore tổ chức “Tuần lễ quốc tế về nước”, trao “Giải thưởng Lý Quang Diệu về nước” trị giá 300.000 SGD (khoảng 200.000 USD) cho cá nhân và tổ chức có đóng góp xuất sắc trong việc giải quyết vấn đề nước trên toàn cầu Giải thưởng được duy trì từ năm 2008 đến nay Chính sách này đã góp phần động viên những nỗ lực của toàn dân trong nhiều năm qua trong việc đồng hành cùng Chính phủ kiên trì thực hiện quốc
kế nước sạch
Nguồn: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, KT và KD, Tập 30, Số 1 (2014) 72-77
2.2.2 Tình hình cung cấp nước sạch ở Việt Nam
Theo thống kê của trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2005 Cả nước có 62% dân số nông thôn được dùng nước sạch,
Trang 38thành thị là 82% Trong đó miền đông Nam bộ có tỷ lệ dung nước sạch cao hơn 68% Tây nguyên là 52% là nơi có tỷ lệ dùng nước sạch thấp nhất
(Nguồn: Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 2005)
Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ dân vùng nông thôn sử dụng nước sạch là 85%, còn ở thành thị là 100% Mục tiêu chiến lược quốc gia phấn đấu đến năm 2020 đảm bảo 100% dân số được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia với số lượng 60 lít/người/ngày
Theo thống kê của Vụ Kế hoạch thống kê (Bộ Xây dựng năm 2006) các
đô thị Việt Nam có trên 300 hệ thống cấp nước với tổng công suất thiết kế 4,2 triệu m3/ngàyđêm công suất khai thác đạt 3.4 triệu m3 ngày đêm Mục tiêu phấn đấu đưa tỷ lệ cấp nước đô thị đạt tỷ lệ bao phủ đạt 85% với tiêu chuẩn
150 lít nước/người/ngày
Công suất khai thác đạt 6,3 triệu m3/ngày đêm trong vòng 10 năm qua nước ta đã đầu tư khoảng 1 tỷ USD để phát triển hệ thống cấp nước đô thị với hơn 200 dự án Hiện nay trên cả 63 tỉnh thành phố của đất nước với khoảng
240 nhà máy, tuy vậy hiện tượng thiếu nước sinh hoạt ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hay Đà Nẵng…Vẫn xảy ra ngoài ra phần lớn các
Trang 39đường ống dẫn nước đã cũ và xuống cấp nghiêm trọng, vừa gây thất thoát nước vừa khiến chất lượng nước sạch không đảm bảo Theo các số liệu thông
kê tỷ lệ thất thoát nước, thất thu ở các đô thị khoảng 30-50 % khiến tình trạng thiếu nước ở các đô thị này ngày càng trầm trọng Như vậy công tác cấp thoát nước ở các đô thị nước ta còn đang gặp rất nhiều thách thức và vì vậy nó ảnh hưởng rất lớn đến việc định giá nước
2.2.2.1 Nhận thức của Chính phủ
Nước sạch là một sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ của mọi tầng lớp dân cư Việc cung cấp để thoả mãn nhu cầu nước sạch cho xã hội, nhất là tại các đô thị, nhu cầu công nghiệp, cụm dân cư nông thôn rất cấp bách Hiện nay, nhu cầu thiết yếu về sử dụng nước sạch trong các
đô thị và khu công nghiệp chỉ mới đáp ứng một phần Từ nhiều năm nay Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến việc đầu tư phát triển ngành nước Nhiều
Dự án đầu tư cải tạo hệ thống cấp nước hiện có, và xây dựng công trình cấp nước mới ở đô thị, khu công nghiệp và cụm dân cư nông thôn hiện nay mỗi địa phương tính một cách khác nhau và còn chứa đựng nhiều yếu tố bao cấp, chưa khuyến khích việc giảm tỷ lệ thất thoát ở cả các khâu sản xuất và tiêu dùng nước sạch
Hệ thống văn bản pháp luật về tài nguyên nước đang từng bước hoàn thiện một cách đồng bộ nhằm tạo một hành lang pháp lý xuyên suốt, thống nhất với chế tài mạnh đủ để bảo vệ, giữ gìn nguồn nước vốn không phải là vô tận Năm 2012 được xem là một năm quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật về tài nguyên nước Theo đó, Quốc hội đã ban hành Luật số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc Hội về Luật Tài nguyên nước và Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 về quy định chi tiết một số điều về luật Tài nguyên nước
Trang 402.2.2.2 Những Thành tựu đạt được và mục tiêu của Chính phủ về phát triển cấp nước sạch đến 2020
Thành tựu về sự phát triển SXKD nước sạch trong thời gian qua và mục tiêu của Chính phủ trong định hướng phát triển cấp nước đến 2020 Các Công
ty Cấp nước ở Việt Nam trong những năm qua đã rất cố gắng và thường xuyên mở rộng phạm vi cấp nước trên địa bàn từng tỉnh Các Công ty luôn chủ động tìm nguồn vốn đầu tư để nâng cấp, mở rộng hệ thống đường ống cấp nước, nâng công suất SX nước với mong muốn ngày càng có nhiều khách hàng sử dụng sản phẩm nước sạch trong ăn uống và sinh hoạt Nhưng do điều kiện của mỗi tỉnh có sự khác nhau, do nhận thức của người dân ở mỗi địa phương cho nên tình hình SXKD nước sạch của các Công ty không đồng đều, lượng nước thất thoát trung bình toàn quốc còn cao khoảng trên 32% Mức giá bán nước bình quân cả nước năm 2012 vào khoảng 5.538đ/m3 do có sự định hướng của Nhà nước Hiện nay, do nhu cầu phát triển của xã hội, do nhận thức được tầm quan trọng của việc đẩy mạnh SXKD trong sản xuất nước sạch, nhiều Công ty Cấp nước đã liên tục đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cấp hệ thống đường ống nhằm phục vụ dịch vụ tốt nhất cho khách hàng Nhưng điều đó cũng dẫn đến việc các Công ty phải chịu những khoản nợ vay lớn, chỉ có thể hoàn trả bằng giá bán sản phẩm được như mong đợi
Giữ sạch nguồn nước: ý thức cộng đồng nhằm giữ sạch nguồn nước như không vứt rác bừa bãi, không phóng uế bậy, không thải trực tiếp vào nguồn nước sạch, không dùng phân tươi, và sử dụng thuốc trừ sâu đúng hướng dẫn
Tiết kiệm nước sạch: giảm lãng phí nước như nước dội vào nhà cầu, chống thất thoát nước từ đường ống, bể chứa, dùng lại nước bể bơi, nước tắm rửa vào những việc thích hợp như cọ nhà, rửa sân, tưới cây…
Nhờ diện bao phủ về cấp nước sạch trong giai đoạn 2011 –2015 trên toàn quốc tăng cao, giảm bớt gánh nặng hàng ngày phải đi lấy nước rất xa khu dân cư, nhất là các hộ dân vùng ven biển, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở các