Khái niệm quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của người
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUỐC OÁNH
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Hộ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên từ các thầy cô giáo, các ban ngành cùng toàn thể cán bộ nơi tôi chọn làm địa bàn nghiên cứu, gia đình và bạn bè
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu nhà trường, toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Ban quản lý đào tạo sau đại học
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Quốc Oánh đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu đề tài này
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn Lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ các đội thuộc Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh, trong thời gian tôi thực tế nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Hộ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ VÀ CƯỠNG CHẾ THUẾ 4
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nợ và cưỡng chế thuế 4
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế 4
2.1.2 Những vấn đề cơ bản về cưỡng chế thuế 17
2.1.3 Mối quan hệ giữa quản lý nợ và cưỡng chế thuế 21
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế 22
2.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế 24
2.2.1 Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại Việt Nam nói chung 24
2.2.2 Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại một số tỉnh thành 26
2.2.3 Bài học kinh nghiệm 31
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1 Vị trí địa lý 32
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Bắc Ninh 33
3.1.3 Giới thiệu về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Chi cục thuế thành phố Bắc Ninh 35
3.1.4 Kết quả thực hiện thu ngân sách Nhà nước giai đoạn 2010 - 2013 41
3.2 Phương pháp nghiên cứu 41
Trang 63.2.1 Khung phân tích của đề tài 41
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 43
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích 44
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 Thực trạng công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh 47
4.1.1 Tình hình người nộp thuế trên địa bàn Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh quản lý 47
4.1.2 Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh 50
4.1.3 Tình hình xử lý nợ thuế tại Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh 63
4.1.4 Thực trạng công tác cưỡng chế thuế 66
4.1.5 Đánh giá công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế ở Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh 69
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế 72
4.2.1 Nhóm nhân tố về tình hình kinh tế và chính sách 72
4.2.2 Nhân tố xuất phát từ người nộp thuế 74
4.2.3 Nhóm nhân tố về hoạt động quản lý của cơ quan thuế 77
4.3 Quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế 78
4.3.1 Quan điểm 78
4.3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế ở Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh 79
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
5.1 Kết luận 87
5.2 Kiến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7DANH MỤC BẢNG STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 3.1 Tình hình nhân sự của Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh 39
Bảng 3.2 Tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2010 – 2013 40
Bảng 3.3 Bảng thu thập thông tin, tài liệu đã công bố 43
Bảng 3.4 Số phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng 44
Bảng 4.1 Số lượng người nộp thuế do Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh quản lý giai đoạn 2011-2013 47
Bảng 4.2 Kết quả nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp giai đoạn 2010 – 2013 49
Bảng 4.3 Tổng hợp nợ thuế qua ba năm 2011 - 2013 50
Bảng 4.4 Nợ thuế đối với công ty TNHH giai đoạn 2010 - 2013 51
Bảng 4.5 Nợ thuế đối với Công ty cổ phần giai đoạn 2010 - 2013 52
Bảng 4.6 Nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân giai đoạn 2010 - 2013 53
Bảng 4.7 Nợ thuế của hợp tác xã và hộ kinh doanh giai đoạn 2010 - 2013 54
Bảng 4.8 Nợ thuế GTGT giai đoạn 2010 - 2013 55
Bảng 4.9 Nợ thuế TNDN giai đoạn 2010 - 2013 55
Bảng 4.10 Nợ thuế thu nhập cá nhân giai đoạn 2010 - 2013 55
Bảng 4.11 Nợ thuế TTĐB qua ba năm 2010 - 2013 57
Bảng 4.12 Nợ đối với khoản thu từ tiền thuê đất giai đoạn 2010 - 2013 57
Bảng 4.13 Nợ thuế tiền phạt giai đoạn 2010 - 2013 57
Bảng 4.14 Nợ thuế đối với loại thuế khác giai đoạn 2010 - 2013 58
Bảng 4.15 Nợ thuế phân loại theo tính chất nợ giai đoạn 2010 - 2013 59
Bảng 4.16 Hoạt động hỗ trợ công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế của Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh qua ba năm 2011 - 2013 61
Bảng 4.17 Kết quả thu nợ đọng giai đoạn 2010 - 2013 63
Bảng 4.18 Kết quả thực hiện biện pháp đôn đốc thu nợ từ 2010 - 2013 65
Bảng 4.19 Kết quả thực hiện biện pháp cưỡng chế từ 2010 - 2013 68
Trang 8Bảng 4.20 Đánh giá của người nộp thuế về công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế 70
Bảng 4.21 Đánh giá của người nộp thuế về năng lực của cán bộ thuế trong công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế 70
Bảng 4.22 Tự đánh giá của cán bộ thuế trong công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế 71
Bảng 4.23 Số lượng doanh nghiệp và số thuế nợ khó thu từ 2011 - 2013 72
Bảng 4.24 Đánh giá của người nộp thuế về nhân tố chính sách thuế 76
Bảng 4.25 Nhận thức của người nộp thuế 77
Bảng 4.26 Ý kiến của người nộp thuế về hoạt động quản lý của cơ quan thuế 77
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
STT HÌNH VÀ SƠ ĐỒ TRANG
Biểu đồ 4.1 Đánh giá của người nộp thuế về nhân tố chính sách thuế 74
Biểu đồ 4.2 Nhận thức của người nộp thuế 75
Biểu đồ 4.3 Ý kiến của người nộp thuế về hoạt động quản lý của cơ quan thuế 78
Hình 3.1 Bản đồ thành phố Bắc Ninh 32
Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy Chi cục thuế thành phố Bắc Ninh 38
Sơ đồ 4.1 Quy trình quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế TP Bắc Ninh 50
Sơ đồ 4.2 Cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản 67
Sơ đồ 4.3 Cưỡng chế bằng biện pháp chỉ định sử dụng hóa đơn 68
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BB/CCNT Biên bản/cưỡng chế nợ thuế
GDP Tốc độ tăng trưởng kinh tế
GTGT Giá trị gia tăng
Trang 111 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một trong những chính sách kinh tế - xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, là công cụ điều tiết nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết các vấn
đề kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần vào tích luỹ ngân sách, tăng tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và hội nhập quốc tế
Thuế có đặc điểm là một khoản thu không hoàn trả trực tiếp và liên quan đến lợi ích trực tiếp của người nộp thuế nên trong thực tế có nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp… vẫn còn tâm lý chây ỳ nộp thuế, chiếm dụng tiền thuế, thậm chí còn
có hiện tượng trốn thuế làm cho số nợ đọng thuế cao, nhiều khoản nợ thuế tồn tại nhiều năm không có khả năng thu, nhiều đối tượng có nợ thuế đã không còn tồn tại
do bị giải thể, mất tích… gây thất thu lớn cho Ngân sách nhà nước Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 đã thay đổi hệ thống quản lý thu thuế từ quản lý theo sắc thuế chuyển sang quản lý theo chức năng, đó là: Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; thanh tra kiểm tra; kê khai kế toán thuế; quản lý nợ và cưỡng chế thuế Trong đó, quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế là khâu cuối cùng trong hệ thống quản lý thuế, là một chức năng chính của mô hình quản lý thuế trong cơ chế
tự khai tự nộp thuế Quản lý được nợ đọng và kết quả đem lại từ việc đôn đốc thu
nợ, cưỡng chế thuế là một trong những thước đo cơ bản để đánh giá chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý thuế Chức năng này có vai trò rất quan trọng, trước tiên để đảm bảo sự công bằng trong tuân thủ nghĩa vụ thuế; thứ hai là thể hiện vai trò của cơ quan thuế trong cộng đồng và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa cơ quan thuế và người nộp thuế; và thứ ba là tăng cường sự tuân thủ của người nộp thuế thông qua các tác động lên lợi ích kinh tế và tác động tâm lý của người nộp thuế Tuy nhiên, hiện nay nợ thuế đang trở thành vấn đề thời sự giữa yêu cầu thu đúng, thu đủ để đảm bảo Ngân sách nhà nước và xây dựng các biện pháp giảm áp lực tài chính cho người nộp thuế trong điều kiện kinh tế khó khăn Thống kê mới nhất của Tổng cục Thuế cho thấy, tính đến hết ngày 31-5-2014, nợ thuế của các doanh nghiệp đã lên tới 68.000 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cuối năm 2013 Trong số
Trang 12này, nợ khó thu chiếm tới 16,8%, nợ đến 90 ngày chiếm 22,9%, nợ hơn 90 ngày chiếm 54,9% và nợ chờ xử lý chiếm 5,4% Nợ thuế tăng cao là do những năm gần đây, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn khiến hoạt động sản xuất, kinh doanh không thuận lợi khiến không ít doanh nghiệp phải ngừng kinh doanh, giải thể Theo Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, 5 tháng đầu năm 2014, có tới 50.263 doanh nghiệp ngừng kinh doanh, 18.271 doanh nghiệp giải thể Thực trạng này đã khiến số nợ đọng thuế tăng nhanh chóng Nếu như năm 2011, tỷ trọng nợ thuế trên tổng số thuế thực thu là 6,3%, năm 2012 tăng lên 8,1% thì tới năm 2013, chỉ tính riêng tiền phạt chậm nộp thuế phát sinh nửa đầu năm, đã lên tới 15% tổng số nợ thuế, tương đương 9.746 tỷ đồng Trong đó, số tiền phạt chậm nộp từ nợ khó thu là 1.134 tỷ đồng, nợ dưới 90 ngày là 1.770 tỷ đồng, nợ hơn 90 ngày là 6.537 tỷ đồng (chiếm 67% tổng số nợ phạt chậm nộp) Có nhiều trường hợp tiền phạt chậm nộp còn lớn hơn tiền thuế phải nộp Nếu không có giải pháp và cơ chế xử lý phù hợp thì số tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp không thu được sẽ ngày càng tăng lên, gây áp lực cho người nộp thuế và
cả cơ quan thuế Hiện nay, Bộ Tài chính đang gấp rút xây dựng dự thảo trình Chính phủ một số biện pháp, trong đó có xóa nợ thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đồng thời giảm áp lực cho chính cơ quan quản lý thuế
Trong bối cảnh chung của cả nước, Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh cũng gặp phải những vấn đề tương tự Nợ thuế có xu hướng tăng nhanh (bình quân giai đoạn 2010-2013 tăng 14.44%/năm), đến năm 2013 tốc độ tăng nợ thuế tăng là 15,4% so với 2012, tỷ lệ nợ đọng thuế so với số thuế ghi thu là 3,8%, nợ khó thu chiếm đến 18,7% Giải thích cho tình trạng này là do nhiều đơn vị gặp khó khăn về tài chính phải ngừng hoạt động, giải thể, một số doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh không thông báo cho cơ quan thuế và một số doanh nghiệp hoạt động xây dựng cơ bản có nguồn vốn từ ngân sách chưa được thanh toán, bên cạnh đó là tâm lý chây ỳ hoặc cố tình chiếm dụng thuế của một số đơn vị
đã khiến số nợ đọng thuế tăng nhanh
Xuất phát từ lý do trên, thực hiện nghiên cứu: "Quản lý nợ thuế và cưỡng
chế thuế tại Chi cục thuế thành phố Bắc Ninh" có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn,
cung cấp cơ sở khoa học giúp cho cơ quan thuế xây dựng các phương án quản lý thuế đáp ứng yêu cầu thực tiễn đề ra
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế thành phố Bắc Ninh, để đề xuất giải pháp tăng cường nâng cao hiệu lực công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung đi sâu vào các vấn đề lý luận và thực trạng công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế đối với các đối tượng nộp thuế trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh và thuộc Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh quản lý
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế đối với các đối tượng nộp thuế trên địa bàn TP Bắc Nịnh thuộc Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh quản lý
- Phạm vi về không gian: địa bàn thành phố Bắc Ninh
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thứ cấp từ 2011- 2013 Số liệu sơ cấp điều tra năm 2014
Trang 142 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ
VÀ CƯỠNG CHẾ THUẾ
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nợ và cưỡng chế thuế
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế
2.1.1.1 Khái niệm nợ thuế và quản lý nợ thuế
Thuế ra đời là tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước Khi nhà nước xuất hiện, để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của mình, nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một phần của cải trong xã hội vào tay nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Việc huy động, tập trung của cải đó có thể được thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế
Giáo trình Lý thuyết thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: “Thuế là một khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước, do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và
sẽ trở thành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ chuyển giao cho nhà nước Tuy nhiên, trong thực tiễn do nhiều lý do khác nhau, người nộp thuế chưa nộp hoặc không nộp thuế cho nhà nước theo thời hạn quy định, từ đó hình thành nên khoản nợ thuế
- Khái niệm nợ thuế: là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các
khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đã tính, các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế Cơ quan thuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN (theo Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006)
Người nợ thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế còn nợ các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật
Trang 15Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nợ thuế tại một thời điểm, ở một ngưỡng nào đó khi phân loại nợ thuế
Như vậy, để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào ngân sách nhà nước (NSNN) thì công tác quản lý nợ thuế là công tác quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung
Khái niệm quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế
và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế (theo Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006)
Ngoài ra, để đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế, thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật về thuế, nhà nước quy định những hành vi nợ thuế phải nộp phạt một khoản tiền do chậm nộp thuế, gọi là tiền phạt chậm nộp thuế
Tiền phạt chậm nộp thuế là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ và
số ngày nợ thuế của một khoản nợ Số ngày nợ thuế của một khoản nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước
Để hiểu rõ hơn bản chất của nợ thuế, cần thiết phải nghiên cứu đặc điểm của
nợ thuế
2.1.1.2 Đặc điểm của nợ thuế (theo Giáo trình Quản lý thuế năm 2002)
Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến
Như chúng ta biết, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, tuy nhiên các sắc thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều đánh vào thu nhập của các thể nhân hay pháp nhân trong nền kinh tế Nói cách khác, thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế Vì vậy, ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, người nộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc nộp thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian
Trang 16lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế theo đúng pháp luật Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng xã hội Hay nói cách khác, những người nộp thuế luôn tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế mà họ phải nộp Một trong các cách
đó là nợ thuế
Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN
Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế
Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật thuế
Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế
Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN Còn nợ thuế mới chỉ
là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật Tất nhiên, trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể là một hành vi nằm trong chuỗi hành vi nhằm trốn thuế Chẳng hạn như, một số doanh nghiệp cố tình
nợ một số thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế
Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế Đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật Còn nợ thuế thì khác hoàn toàn về bản chất,
đó là nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa, chậm nộp
2.1.1.3 Phân loại nợ thuế (theo Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006)
Nhóm tiền thuế nợ khó thu
Bao gồm:
- Tiền thuế nợ của người nộp thuế được pháp luật cho là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự chưa có hồ sơ đề nghị xoá nợ
Trang 17- Tiền thuế nợ có liên quan đến trách nhiệm hình sự: là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự, đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế
- Tiền thuế nợ của người nộp thuế không còn hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa điểm đăng ký kinh doanh hoặc có văn bản gửi đến cơ quan thuế đề nghị chấm dứt hoạt động kinh doanh nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, cơ quan thuế đã kiểm tra xác định người nộp thuế không còn hoạt động kinh doanh Bao gồm cả trường hợp giải thể không theo trình tự của luật doanh nghiệp
- Tiền thuế nợ của người nộp thuế đã giải thể là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đã thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán đầy
đủ các khoản nợ thuế theo quy định của pháp luật
- Tiền thuế nợ của người nộp thuế lâm vào tình trạng phá sản là số tiền thuế
nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật
- Nợ khó thu khác là các khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày, không thuộc các nhóm nêu trên, cơ quan thuế đã áp dụng đến biện pháp cưỡng chế thuếcuối cùng là thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động,
giấy phép hành nghề (theo quy định tại Luật Quản lý thuế) nhưng vẫn không thu hồi Nhóm tiền thuế nợ đến 90 ngày
Là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 01 đến 90 ngày nhưng người nộp thuế chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ khó thu, tiền thuế nợ chờ
xử lý, tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh, tiền thuế nợ trên 90 ngày, bao gồm cả tiền thuế nợ đang có khiếu nại, khiếu kiện
Nhóm tiền thuế nợ trên 90 ngày
Là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp trên 90 ngày nhưng người nộp thuế chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ khó thu, tiền thuế nợ chờ xử lý, tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh, tiền thuế nợ đến 90 ngày bao gồm cả tiền thuế nợ đang có khiếu nại, khiếu kiện Cơ quan thuế thực hiện cưỡng chế thuế đối với nhóm tiền thuế nợ này
Trang 18Nhóm tiền thuế nợ chờ xử lý
- Xử lý miễn, giảm: là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang trong thời gian thực hiện các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm theo quy định của pháp luật về thuế
- Xử lý gia hạn nộp thuế: là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang được cơ quan thuế xử lý để gia hạn nộp thuế Các trường hợp được gia hạn nộp thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế
- Xử lý xoá nợ: là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang trong thời gian thực hiện các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý xoá nợ theo quy định của pháp luật về thuế
- Xử lý bù trừ các khoản nợ NSNN với số tiền thuế được hoàn trả là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đã gửi hồ sơ và cơ quan thuế đang làm thủ tục hoàn thuế tại cơ quan thuế hoặc đang được cơ quan thuế thực hiện thủ tục lập quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu NSNN
Nhóm tiền thuế đã nộp ngân sách nhà nước đang chờ điều chỉnh
Khái niệm: Nhóm tiền thuế đã nộp ngân sách nhà nước đang chờ điều chỉnh
là số tiền thuế đã nộp NSNN nhưng cơ quan thuế đang làm thủ tục điều chỉnh Bao gồm các trường hợp sau:
- Tiền thuế chờ điều chỉnh do sai sót
+ Người nộp thuế ghi sai, ghi thiếu các chỉ tiêu trên chứng từ thu NSNN + Các sai sót của KBNN, NHTM
+ Các sai sót của cơ quan thuế như:
o Nhập sai dữ liệu về số thuế phải nộp hoặc đã nộp vào NSNN
o Người nộp thuế kê khai thuế với cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính, đã tạm nộp tại cơ quan thuếquản lý các chi nhánh nhưng cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính chưa nhận được chứng từ nộp thuế
- Tiền thuế chờ điều chỉnh do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, chứng từ luân chuyển từ kho bạc nhà nước, ngân hàng thương mại sang cơ quan thuế không thực hiện đúng quy trình chứng từ thất lạc, cơ quan thuế đã nhận sau thời gian thất lạc do người nộp thuế hoặc kho bạc nhà nước, ngân hàng cung cấp
Trang 19Chứng từ do công chức thuế hoặc uỷ nhiệm thu đã thu nhưng chưa nộp kịp thời thực hiện các thủ tục thanh toán tiền thuế, nộp tiền vào NSNN
- Tiền thuế chờ ghi thu, ghi chi: là số tiền thuế người nộp thuế đã kê khai và thực hiện các thủ tục nộp NSNN nhưng đang chờ cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục ghi thu, ghi chi vào NSNN hoặc số tiền được cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục ghi thu, ghi chi theo định kỳ (tháng, quý, năm)
Căn cứ vào các nhóm tiền thuế nợ trên ta phân loại nợ thuế cụ thể như sau:
a Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ
Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuế theo mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuế được phân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không có khả năng thu
có khả năng thu
Tùy thuộc vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kỳ kinh tế xã hội thì
cơ quan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậm nộp 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 31 ngày đến 90 ngày và nợ thuế quá 90 ngày
- Nợ khó thu
Theo cách phân loại này, nợ khó thu bao gồm số tiền thuế nợ của người nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự hoặc đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật nên chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế hoặc nợ của người nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh; nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản
Khi người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì có thể có trường hợp cơ quan điều tra đã phong tỏa tài khoản, số sách kế toán nên người nộp thuế không thể thực hiện việc nộp thuế hoặc người nộp thuế đã nộp thuế nhưng phải nộp vào tài khoản
Trang 20của cơ quan điều tra nên trên sổ theo dõi thu nộp của cơ quan thuế vẫn báo nợ Khi người nộp thuế đang bị điều tra, khởi tố liên quan đến nghĩa vụ thuế hoặc không liên quan đến nghĩa vụ thuế thì cơ quan thuế phải tạm thời phân loại các khoản nợ của người nộp thuế này vào nhóm nợ khó thu để chờ kết luận cuối cùng của cơ quan
có thẩm quyền
Đối với người nộp thuế gặp khó khăn về tài chính, hoặc ngừng và tạm ngừng kinh doanh thì việc tiếp xúc với người nộp thuế để thu nợ là khó khăn nên phân loại vào nhóm này để có biện pháp quản lý theo dõi phù hợp Tương tự, đối với trường hợp
nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản thì số tiền thuế nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật thì cũng cần được phân vào nhóm này để cơ quan thuế có biện pháp quản lý thích hợp
- Nợ không có khả năng thu
Việc phân loại nợ vào nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tại của người nộp thuế Người nộp thuế hầu hết đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc không còn tồn tại trong thực tế, bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp như nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản nhưng không làm các thủ tục, trình tự giải thể phá sản đúng pháp luật nên chưa có đủ căn cứ pháp lý để xử
lý theo quy định của pháp luật Đặc điểm của trường hợp này là khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ dẫn đến không còn khả năng thanh toán Trường hợp người nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể phá sản nhưng đang được cơ quan có thẩm quyền thụ lý để giải quyết cho phép khoanh nợ thì cũng phải đưa vào nhóm này để sau khi có quyết định khoanh nợ thì sẽ chuyển sang nhóm nợ không có khả năng thu này
Ngoài ra, nợ thuế của một loại đối tượng khác cũng có thể coi là không có khả năng thu, đó là nợ thuế của các doanh nghiệp bỏ trốn Hầu hết đây là các doanh nghiệp ma, chỉ thành lập để mua bán hóa đơn, không thực tế kinh doanh
b Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế
Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, qua công tác thanh tra - kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được chia thành: nợ thuế, phí
Trang 21thông thường; nợ phạt thuế, phí; và nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra
- Nợ thuế, phí thông thường
Nợ trong nhóm này bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp
do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện Thông thường trong nhóm nợ thuế, phí này cũng bao gồm nhiều khoản nợ có tuổi nợ và mức nợ khác nhau do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế và các khoản nợ thuế này được theo dõi trên hồ sơ quản lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế
- Nợ phạt thuế, phí
Theo Luật Quản lý thuế hiện nay thì việc cơ quan thuế xử phạt thuế, phí đối với người nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều loại vi phạm tương ứng với từng nội dung vi phạm, tương ứng với đó là các khoản nợ phạt phát sinh cho từng lần vi phạm Do vậy, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn có thể chia ra thành các khoản mục nợ: nợ do phạt nộp chậm; nợ phạt thiếu thuế phải nộp; nợ phạt trốn thuế; nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế
Việc phân loại thành các nhóm nợ nhỏ theo từng loại vi phạm như trên vừa
có tác dụng phân loại nợ, vừa có ý nghĩa thống kê vi phạm của người nộp thuế để
cơ quan thuế có biện pháp quản lý hiệu quả
- Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra
Đây là khoản nợ thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã phát hiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ sót ngoài sổ sách, không kê khai hoặc khai không chính xác ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế Ở thời điểm cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy định số thuế này đã phải nộp vào NSNN nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc cố tình đã kê khai sai để trốn thuế Số thuế này thường được thể hiện trên các biên bản kiểm tra, thanh tra và được các đoàn kiểm tra, thanh tra chốt lại ở thời điểm 31/12 hàng năm để thể hiện tình hình thực hiện nghĩa vụ với NSNN của người nộp thuế
Việc thống kê, phân loại nhóm nợ này không phải là chính xác tuyệt đối bởi trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế hàng năm thì không phải
Trang 22tất cả các đối tượng nộp thuế đều được thanh tra, kiểm tra Do vậy, số nợ thuộc nhóm nợ này chỉ phản ánh được số thuế phát hiện thêm được coi là nợ thuế của những người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, việc phân loại này cũng
có ý nghĩa quan trọng giúp cơ quan thuế có những biện pháp quản lý thích hợp với nhóm nợ này đồng thời cũng giúp cơ quan thuế đánh giá được các mức độ vi phạm pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế trong từng thời kỳ cụ thể
c Căn cứ vào thời hạn nợ
- Nợ trong hạn
Nợ thuộc nhóm này bao gồm các khoản nợ thuế xuất, thuế nhập khẩu vẫn còn trong thời hạn nộp thuế Bên cạnh đó, còn có nợ thuế trong hạn do được gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật Ngoài ra nhằm thực hiện các biện pháp khuyến khích xuất khẩu thì thuế xuất khẩu hoặc nhập khẩu thường được cơ quan quản lý cho phép nộp chậm sau khi khai báo với cơ quan hải quan tại cửa khẩu, do
đó các khoản này thường chưa được tính phạt nộp chậm mà phải được theo dõi như
là các khoản nợ trong hạn nộp
- Nợ quá hạn
Nợ trong nhóm này được phân loại như các khoản nợ thông thường theo tiêu thức phân loại theo khả năng thu hồi nợ Có nghĩa là những khoản nợ đến hạn trả theo quy định của pháp luật hoặc theo thông báo, được ghi trên quyết định của cơ quan thuế đến hạn nộp mà chưa nộp thì được coi là nợ thuế, theo tiêu thức phân loại theo thời gian nợ thì sẽ được coi là nợ quá hạn Tùy theo từng thời kỳ kinh tế mà người ta chia thành các khoản nợ nhỏ theo mức nợ, nhóm nợ khác nhau để có biện pháp quản lý phù hợp theo các nhóm ở trên
d Căn cứ vào đối tượng nợ
Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
có nhiều thành phần kinh tế tham gia, góp phần đa dạng hóa nền kinh tế, thúc đẩy quá trình cạnh tranh và là động lực phát triển đất nước Tuy nhiên, về mặt quản lý của các cơ quan chức năng thì việc có nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh tế cũng tương ứng với việc quản lý sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp Việc quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng cũng không phải là ngoại lệ
Trang 23Vì vậy, căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành các nhóm
nợ khác nhau như sau:
- Nợ thuế của doanh nghiệp nhà nước
- Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh
- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể
- Nợ thuế thu nhập của cá nhân
- Nợ thuế của các đối tượng khác
Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ nợ thuế của từng loại hình người nộp thuế Từ đó có biện pháp, chính sách để khuyến khích các loại hình doanh nghiệp phát triển, đồng thời nghiên cứu những bất cập của nhóm nợ khác để có phương pháp quản lý hoặc xử lý phù hợp
e Căn cứ vào tính chất nợ
- Nợ chờ xử lý
Khác với việc phân loại nợ theo các nhóm trên thì nợ chờ xử lý căn cứ vào tính chất của khoản nợ và áp dụng đối với đối tượng nộp thuế đang tồn tại để phân loại Do vậy, các khoản nợ thuộc các trường hợp được đưa vào nhóm nợ chờ xử lý
để theo dõi thường bao gồm:
Thứ nhất, nợ đang chờ điều chỉnh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế
do người nợ thuế hoặc cơ quan thuế có sai sót khi kê khai thuế, tính thuế đang làm thủ tục để điều chỉnh lại hoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn số phát sinh Tức là, số tiền nợ do người nộp thuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theo quy định nhưng thực tế thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với số thuế đã
kê khai tạm nộp, đang làm thủ tục điều chỉnh lại Ngoài ra, trong nhóm này còn
có số tiền nợ do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc, tiền thuế đã nộp vào tài khoản thu NSNN nhưng do chứng từ luân chuyển chưa kịp thời hoặc thất lạc nên trên sổ thuế vẫn ghi nợ
Thứ hai, nợ đang xử lý miễn, giảm, xóa nợ: là số tiền nợ thuế của người
nợ thuế đang trong thời gian làm các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm, xóa nợ theo quy định của pháp luật về thuế; cá nhân được cơ quan
Trang 24pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ; nợ của người nợ thuế bị tuyên bố phá sản
đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của Luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt Khi người nộp thuế đang có nợ thuế do đến kỳ phải thực hiện kê khai thuế đúng hạn nhưng theo quy định của pháp luật về thuế
họ sẽ được miễn, giảm hoặc được xử lý cho ghi thu, ghi chi và đang làm thủ tục thì tạm thời đưa vào nhóm nợ chờ xử lý này để theo dõi chứ không áp dụng các biện pháp cưỡng chế thu nợ
Thứ ba, theo quy định của pháp luật về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo thì
trong quá trình khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định xử lý, người nộp thuế vẫn phải nộp các khoản thuế vào NSNN Do đó, phát sinh thêm khoản nợ chờ xử lý do khiếu nại của người nộp thuế, xử lý thoái trả tiền thuế khi có quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền thì nợ này được đưa vào một trong hai nhóm nợ có khả năng thu hoặc nợ không có khả năng thu
Thứ tư, nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ là số tiền thuế nợ của người nộp
thuế đã được xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làm các thủ tục tại cơ quan thuế đã được xử lý giãn nợ theo quy định
Đối với những người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì việc thu nợ sẽ gặp
Trang 25nhiều khó khăn, người nộp thuế thường không có tiền trả nợ thuế hoặc không tìm được chủ doanh nghiệp, khi đó cơ quan thuế sẽ phải phụ thuộc vào kết quả xử lý của cơ quan có thẩm quyền khác, do đó sẽ không chủ động trong việc đưa ra các biệp pháp thu nợ kịp thời Chính vì vậy, việc phân loại các nhóm nợ này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý nợ đối với những trường hợp người nộp thuế rơi vào tình trạng này
2.1.1.4 Vai trò của công tác quản lý nợ thuế (Lê Xuân Trường, Lê Minh Thắng, 2012)
Quản lý nợ thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế cũng như
có vai trò trong hoạt động kinh tế xã hội Cụ thể là:
Thứ nhất, quản lý nợ thuế để quản lý, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ
của đối tượng nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy đủ, kịp thời vào NSNN; đảm bảo công bằng xã hội khi các cơ sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộp vào NSNN đúng hạn
Thứ hai, quản lý nợ thuế để đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của Nhà
nước, chống thất thoát NSNN Quản lý nợ đảm bảo các chính sách thuế được thực hiện đúng và triệt để thông qua việc cơ quan thuế có các tác động, can thiệp kịp thời
và xử lý nghiêm các trường hợp có hành vi vi phạm thời hạn nộp thuế nhằm nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế
Thứ ba, việc quản lý nợ thuế để đảm bảo cơ quan thuế có biện pháp thu nợ
phù hợp, hiệu quả; mặt khác quản lý nợ là một thước đo để đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thu thuế, góp phần nâng cao hiệu quả của các chức năng khác như: thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế
2.1.1.5 Yêu cầu của công tác quản lý nợ thuế
Quản lý nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất, trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng thì yêu
cầu cơ bản và quan trọng nhất của công tác này là phải quản lý đầy đủ, không bỏ sót các khoản thu của NSNN, vì nếu quản lý không chặt chẽ, không bao quát hết các khoản thu sẽ gây thất thu cho NSNN, khi đó sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế
Trang 26Thứ hai, phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để cơ quan thuế có
các biện pháp quản lý phù hợp Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc phân loại
nợ theo các tiêu thức đã trình bày ở phần trên thì các tiêu thức phân loại phải được kết hợp với nhau một cách hợp lý; qua đó cơ quan thuế sẽ đánh giá, xem xét và đưa
ra các biện pháp thu nợ phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực, trong từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội
Thứ ba, phải đảm bảo thu nợ kịp thời, tránh thất thu NSNN Yêu cầu này
là yêu cầu xuyên suốt của công tác quản lý nợ thuế và là mục tiêu của công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế trong toàn ngành nói chung và của Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh nói riêng
2.1.1.6 Nội dung quy trình quản lý nợ (theo Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11)
* Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ
a Xác định số tiền thuế nợ năm thực hiện
b Lập chỉ tiêu thu tiền thuế nợ năm kế hoạch
c Báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế nợ đã xác định ở điểm 2 cho cơ quan thuế cấp trên
- Chi cục thuế báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế nợ về Cục Thuế
- Cục Thuế báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế nợ về Tổng cục Thuế
d Phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ
e Triển khai thực hiện chỉ tiêu thu tiền thuế nợ trên cơ sở phê duyệt tại điểm 4
* Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ
a Phân công quản lý nợ thuế
b Phân loại tiền thuế nợ
c Lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ
d Đối chiếu số liệu
f Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, hoàn kiêm bù trừ
g Xử lý tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh; khó thu (trừ trường hợp đã được xóa nợ tại điểm 6) và một số nguyên nhân gây chênh lệch tiền thuế nợ
h Đôn đốc tiền thuế nợ đối với đơn vị xây dựng cơ bản vãng lai, các chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc và đơn vị ủy nhiệm thu
Trang 27k Báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ
j Lưu trữ tài liệu về quản lý nợ
2.1.2 Những vấn đề cơ bản về cưỡng chế thuế
2.1.2.1 Khái niệm cưỡng chế thuế (theo Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11)
Nếu đến thời hạn quy định được ghi trong thông báo nợ thuế hoặc trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế nhưng cá nhân hoặc tổ chức vi phạm về thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quan thuế thì bị bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế bằng các biện pháp cưỡng chế thuế…
Cưỡng chế thuế là việc cơ quan thuế và các cơ quan bảo vệ pháp luật áp
dụng các biện pháp buộc người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ thuế
Để công tác cưỡng chế thuế đạt hiệu quả tối đa và chi phí cưỡng chế là tối thiểu thì thông thường việc cưỡng chế thuế chỉđược thực hiện sau khi cơ quan thuế
đã áp dụng đầy đủ các biện pháp quản lý đôn đốc thu nợ của mình nhưng vẫn không thu đủ tiền vào NSNN Chính vì vậy, để đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế thì cưỡng chế thuế được coi là công cụ bắt buộc để nâng cao hiệu lực của pháp luật thuế và để góp phần chống thất thu NSNN
2.1.2.2 Đặc điểm của cưỡng chế thuế
Cưỡng chế thuế là hành vi thi hành pháp luật về thuế
Cưỡng chế thuế là một trong các công tác quan trọng áp dụng đối với những người nợ thuế không tự nguyện chấp hành quyết định của cơ quan thuế nhằm mục đích đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế vào NSNN và góp phần thực hiện công bằng giữa những người nộp thuế
Cưỡng chế thuế là hành vi xuất hiện sau hành vi nợ thuế
Cưỡng chế thuế chỉ được thực hiện khi phát sinh các khoản nợ thuế mà cơ quan thuế đã triển khai các biện pháp đôn đốc thu nợ mà vẫn chưa thu hồi được số tiền nợ thuế từ những người nợ thuế Khi đó, công tác cưỡng chế thuế sẽ phát huy được vai trò thu hồi tiền nợ thuế về cho NSNN
Thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế đòi hỏi có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa
cơ quan thuế với các cơ quan thi hành pháp luật khác
Khi thực hiện công tác cưỡng chế thuế đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa cơ
Trang 28quan thuế với các cơ quan, ban, ngành chức năng như: kho bạc, công an, viện kiểm sát… Việc cưỡng chế thuế có liên quan đến lợi ích của người nộp thuế, do vậy, đòi hỏi những thủ tục pháp lý chặt chẽ liên quan đến chức trách của nhiều cơ quan khác nhau Bởi vậy, việc phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các cơ quan nhà nước khác là tất yếu, qua đó, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của cưỡng chế thuế
2.1.2.3 Vai trò của công tác cưỡng chế thuế
Cưỡng chế thuế căn cứ vào số liệu nợ từ công tác quản lý nợ để tác động vào tình hình tuân thủ của đối tượng nộp thuế một cách phù hợp và tiết kiệm chi phí tối
đa Chính vì vậy, cưỡng chế thuế có vai trò tích cực trong việc đảm bảo việc quản lý thuế nói chung và quản lý nợ nói riêng đạt hiệu quả, vai trò của công tác cưỡng chế thuế được thể hiện như sau:
Thứ nhất, cưỡng chế thuế là biện pháp nhằm đảm bảo người nộp thuế thực
hiện nghiêm luật thuế, đồng thời đảm bảo thu đủ, thu đúng, thu kịp thời tiền thuế cho Nhà nước
Thứ hai, cưỡng chế thuế đảm bảo công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế
Bên cạnh những người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế, thực hiện kê khai nộp thuếđúng thời hạn thì không ít người nộp thuế có hiện tượng chây ỳ, dây dưa, cố tình trốn hoặc tránh nghĩa vụ nộp thuế, nộp tiền phạt vào NSNN Tuy cơ quan thuế
đã thực hiện nhiều biện pháp quản lý nợ nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau như các biện pháp còn chưa thực sự phù hợp, chế tài chưa đủ mạnh nên chưa thu hồi đủ số tiền thuế còn nợ vào NSNN, gây ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế, giữa các thành phần kinh tế Chính vì vậy, việc thu nợ bằng các biện pháp cưỡng chế đóng vai trò quan trọng trong quá trình chống thất thu thuế của NSNN, đảm bảo sự công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng nộp thuế, góp phần thực hiện thu đủ, thu đúng, thu kịp thời số tiền thuế nộp vào NSNN
Thứ ba, cưỡng chế thuế góp phần nâng cao ý thức về nghĩa vụ thuế của
người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế, góp phần giảm thiểu số
nợ đọng và thực hiện công bằng về nghĩa vụ thuế giữa những người tham gia nộp thuế
Trang 292.1.2.4 Yêu cầu đối với công tác cưỡng chế thuế
Cũng như công tác quản lý nợ, công tác cưỡng chế thuế chỉ đạt được hiệu quả khi xác định đúng mục tiêu và phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể như sau:
Thứ nhất, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật nhà nước
Yêu cầu này đòi hỏi khi ban hành các quyết định cưỡng chế thuế phải đảm bảo được thực hiện thống nhất từ cấp trung ương đến cấp địa phương
Thứ hai, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính hiệu quả của cơ quan quản lý
thuế Có nghĩa là khi thực hiện một quyết định cưỡng chế thuế thì cơ quan thuế phải đảm bảo chi phí thực hiện cưỡng chế là tối thiểu Muốn thực hiện được yêu cầu này, đòi hỏi trước khi ban hành các quyết định về cưỡng chế thuế cần tính đến các yếu tố
có thể ảnh hưởng đến công tác thực hiện cưỡng chế như thời gian cưỡng chế, địa điểm thi hành, hình thức cưỡng chế… để công tác cưỡng chế đạt hiệu quả nhất Bên cạnh đó, cơ quan thuế cần cân nhắc kỹ lưỡng từng trường hợp nợ thuế và xác định trường hợp nào thực hiện biện pháp cưỡng chế nào là hợp lý
Thứ ba, cưỡng chế thuế phải đảm bảo tính tuân thủ pháp luật của người nộp
thuế, thông qua cưỡng chế thuế góp phần nâng cao tính hiệu quả của pháp luật đồng thời góp phần răn đe, nâng cao ý thức tuân thủ của đối tượng nộp thuế
2.1.2.5 Quy trình cưỡng chế thuế (theo Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11)
Quy định chung
a Phạm vi, đối tượng áp dụng
- Phạm vi áp dụng: nội dung, trình tự, thủ tục cưỡng chế thuế (sau đây viết tắt là CCNT) tại quy trình này do cơ quan thuế các cấp: Tổng cục thuế, Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục thuế các quận, huyện, thị xã; công chức thuế thực hiện
- Đối tượng áp dụng: quy trình này chỉáp dụng đối với các trường hợp là người nộp thuế còn nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế (sau đây gọi tắt
là người nợ thuế) quy định tại Điều 92 Luật Quản lý thuế
b Nguyên tắc thực hiện khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thuế
Các biện pháp cưỡng chế thuế được thực hiện theo quy định tại Điều 93 Luật Quản lý thuế Trong quá trình thực hiện các biện pháp cưỡng chế:
Trang 30- Nếu biện pháp cưỡng chế đang áp dụng hết thời hạn thi hành, nhưng việc
áp dụng biện pháp cưỡng chế này vẫn có thể thu hồi đủ số tiền nợ thuế và người nợ thuế vẫn còn đủ điều kiện để thực hiện biện pháp cưỡng chế đang áp dụng, thì cơ quan thuế tiếp tục áp dụng biện pháp cưỡng chế đó mà không cần chuyển sang biện pháp cưỡng chế kế tiếp
- Đang áp dụng biện pháp cưỡng chế sau, nhưng có đủ cơ sở xác định việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trước có hiệu quả hơn, có thể ban hành một (01) quyết định khác để áp dụng lại biện pháp cưỡng chế trước, đồng thời, chấm dứt hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế sau đang áp dụng
c Các bước thực hiện đối với 1 biện pháp cưỡng chế thuế
- Bước 1: Xác định người nợ thuế phải áp dụng biện pháp cưỡng chế
- Bước 2: Thu thập, xác minh và kiểm tra thông tin
- Bước 3: Tổ chức thực hiện cưỡng chế thuế
- Bước 4: Theo dõi quá trình thực hiện cưỡng chế thuế
d Trách nhiệm của cơ quan thuế
- Đối với Tổng cục thuế:
+ Hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các Cục thuế thực hiện quy trình cưỡng chế thuế
Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế trên địa bàn, từ đó đề ra các biện pháp xử lý thu nợ thuế có hiệu quả trên cả nước
+ Tổ chức tổng kết, đánh giá công tác cưỡng chế thuế để bổ sung, sửa đổi quy trình phù hợp với thực tiễn
+ Thiết kế phần mền ứng dụng nhằm triển khai thực hiện công tác cưỡng chế thuế trên toàn quốc khoa học, thuận lợi và hiệu quả
- Đối với Cục thuế:
+ Tổ chức, phân công công chức quản lý nợ và cưỡng chế thuế theo đúng chức năng nhiệm vụ
+ Chỉ đạo các bộ phận chức năng liên quan trong cơ quan thuế phối hợp thực hiện công việc cưỡng chế thuế theo đúng quy định tại quy trình này
+ Hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các Chi cục thuế thực hiện quy trình cưỡng
Trang 31chế thuế
+ Thực hiện báo cáo tình hình cưỡng chế thuế định kỳ theo quy định
+ Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế trên địa bàn, theo đó:
o Đề xuất các biện pháp xử lý thu nợ thuế có hiệu quả
o Hướng dẫn chi tiết, hoặc ban hành mẫu biểu thực hiện để xử lý kịp thời những tình huống cụ thể trong quá trình cưỡng chế thuế
o Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình cưỡng chế,
đề xuất những nội dung bổ sung, sửa đổi quy trình CCT về Tổng cục thuế
- Đối với Chi cục thuế:
+ Tổ chức phân công công chức QLN theo đúng chức năng, nhiệm vụ
+ Chỉđạo các bộ phận chức năng liên quan trong cơ quan thuế phối hợp thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế theo đúng quy định tại quy trình này
+ Thực hiện báo cáo tình hình cưỡng chế thuế định kỳ theo quy định
Quy định cụ thể
Được cụ thể hóa qua 8 sơ đồ trong phụ lục
+ Cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản
+ Cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập
+ Cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản,bán đấu giá tài sản kê biên
+ Cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do
tổ chức, cá nhân khác đang giữ
+ Cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu
+ Cưỡng chế bằng biện pháp chỉ định sử dụng hóa đơn
+ Biện pháp thu hồi mã số thuế
+ Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề
2.1.3 Mối quan hệ giữa quản lý nợ và cưỡng chế thuế
Quản lý nợ và cưỡng chế thuế là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt nhưng chúng
có mối quan hệ mật thiết, tương hộ và bổ sung cho nhau Công tác quản lý thuế chỉ đạt
Trang 32hiệu quả cao khi mà công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế thực hiện thống nhất và phù hợp bổ sung cho nhau đảm bảo thu đủ, thu đúng tiền thuế vào NSNN Mối quan
hệ này thể hiện qua một số khía cạnh sau:
Quản lý nợ là cơ sở để cơ quan thuế lựa chọn và thực hiện các biện pháp cưỡng chế hiệu quả Thông qua các phương pháp phân loại nợ thì cơ quan thuế có thể xác định được những khoản nợ cần tập trung để thu nợ Đồng thời, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp với từng đối tượng nợ thuế, chẳng hạn như
có những trường hợp qua phân loại nợ nhận thấy các khoản nợ thông thường chưa cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế, hoặc qua phân loại nợ xác định được những khoản nợ khó thu thì cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế như: trích tiền gửi ngân hàng, tổ chức tín dụng… nhằm mục đích thu đủ tiền thuế vào NSNN
Quản lý nợ thuế tốt sẽ dẫn đến việc đôn đốc thu nợ của cơ quan thuế đối với người nợ thuế phát huy hiệu quả sẽ làm cho số lượng các khoản nợ thông thường giảm, khi số lượng nợ chuyển sang khó thu giảm đi, nó sẽ tác động trực tiếp đến khối lượng công việc cưỡng chế thuế, từ đó chi phí cưỡng chế thuế giảm Đồng thời, đạt được yêu cầu đặt ra đối với công tác cưỡng chế thuế là tính hiệu quả khi chi phí cưỡng chế thuế của cơ quan thuế là thấp nhất và hiệu quả thu nợ là tối đa Ngược lại, công tác cưỡng chế thuế được thực hiện có hiệu quả sẽ trực tiếp làm cho số nợ tiền thuế giảm và số lượng các khoản nợ đang theo dõi ở cơ quan thuế cũng sẽ giảm Khi đó, cơ quan thuế có điều kiện để tập trung nguồn lực vào các công tác khác như: tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; tăng cường công tác thanh tra - kiểm tra…
Tóm lại, công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, bổ sung cho nhau cùng phát triển để đạt hiệu quả cao Do vậy, trên thực tế việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế cũng chính là để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của công tác cưỡng chế thuế, góp phần nâng cao năng lực quản lý thuế nói chung
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế
Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế trong quá trình thực hiện thường bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan nhất định
Trang 332.4.1.1 Nhóm yếu tố chủ quan
Thứ nhất, Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tuy đã có quy trình quản và
thông tư hướng dẫn thực hiện nhưng trình tự, thủ tục còn chưa thực sự phù hợp với thực tế, tạo khe hở để doanh nghiệp luồn lách, né tránh nghĩa vụ nộp thuế như: Việc cưỡng chế phải thực hiện trình tự từng biện pháp một theo quy trình, hay thời gian quy định cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền tài khoản được gửi cho đối tượng được cưỡng chế, kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng và các cơ quan có liên quan nơi đối tượng cưỡng chế có nở tài khoản trong thời gian 5 ngày làm việc trước khi tiến hành cưỡng chế, điều này làm ảnh hưởng đến kết quả cưỡng chế Vì trong thời gian chờ đợi 5 ngày, doanh nghiệp có thể đã chuyển hết số tiền cần giao dịch
Thứ hai, các công cụ hỗ trợ quản lý thuế như hệ thống phần mềm hỗ trợ về
kê khai kế toán thuế, quản lý nợ thuế cũng là yếu tố quan trọng tác động đến công tác quản lý nợ
Thứ ba, chính sách, pháp luật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác
quản lý nợ và cưỡng chế thuế Chính sách, pháp luật phải đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế Trong trường hợp người nộp thuế không có khả năng nộp thuế, nợ đọng kéo dài sẽ phải tính thêm khoản tiền nộp chậm lại càng làm cho số nợ đọng tăng lên, sẽ càng làm cho việc quản lý thu nợ gặp nhiều khó khăn
Thứ tư: Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế của cơ quan thuế còn chưa
triệt để, còn thiếu cương quyết trong việc ra thông báo và áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định
Thứ năm, trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác quản lý nợ và cưỡng
chế thuế còn hạn chế về ứng dụng tin học đã làm ảnh hưởng đến việc tra cứu số thuế nợ đọng và các số liệu liên quan để phục vụ cho công tác quản lý và đôn đốc thu nợ thuế và công tác cưỡng chế thuế
2.1.4.2 Nhóm yếu tố khách quan
Thứ nhất, tình hình kinh tế xã hội có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản
lý nợ và cưỡng chế thuế Giả sử khi tỷ lệ lạm phát tăng cao hoặc suy thoái kinh tế sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, khó khăn về tài chính, khó khăn về việc trao đổ hàng hóa, dịch vụ Nên dẫn đến để nợ đọng kéo dài
Trang 34Thứ hai, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan với cơ quan thuế trong công
tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế cũng rất quan trọng Thực tế hiện nay sự phối hợp của các cơ quan hữu quan với cơ quan thuế chưa được chặt chẽ và kịp thời Chẳng hạn như, trường hợp cung cấp số dư tài khoản tiền gửi ngân hàng của các doanh nghiệp còn chậm, làm cho công tác thu nợ gặp nhiều khó khăn
Thứ ba, ý thức chấp hành chính sách pháp luật về thuế của người nộp thuế
cũng là một yếu tố rất quan trọng tác động đến công tác quản lý nợ thuế Giả sử ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của đối tượng nộp thuế không tốt, cố tình dây dưa chây ỳ không nộp thuế sẽ dẫn đến số tiền nợ thuế tăng cao và kéo dài
2.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế
2.2.1 Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế tại Việt Nam nói chung
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến 31 tháng 5 năm 2014, số lượng DN ngưng kinh doanh là 50.263 trường hợp, giải thể là 18.271 trường hợp Thực tế này khiến tình trạng nợ đọng thuế từ năm 2011 đến nay có xu hướng gia tăng tại nhiều địa phương trên cả nước
Theo báo cáo của Tổng cục thuế (2013), tỷ trọng nợ thuế trên tổng số thuế thực thu của năm 2011 là 6,3% nhưng năm 2012 tỉ trọng này đã tăng lên 8,1% Nợ đọng thuế trong 6 tháng đầu năm 2013 đã tăng tới 32% so với thời điểm 31/12/2012, trong đó nhiều địa phương có số nợ thuế tăng hơn 100% Mặc dù trong
5 tháng đầu năm 2013, ngành thuế đã nỗ lực thu được khoảng 30% số nợ thuế tại thời điểm cuối năm 2012 chuyển sang, nhưng nợ đọng thuế trong 6 tháng năm 2013 lại có xu hướng tăng cao và hiện đang ở ngưỡng trên 64.600 tỷ đồng Con số này nếu so với cuối năm 2012 đã tăng gần 15.500 tỷ đồng, tương đương mức tăng khoảng 32% Có 30 địa phương có số nợ thuế tăng cao (trên 30%) so với năm 2012
Có 12 địa phương có số nợ thuế tăng trên 20% đến 30% Có 14 địa phương có số nợ thuế tăng dưới 20% so với năm 2012 Còn lại, có 7 địa phương có số nợ thuế giảm
so với năm 2012
Ngoài ra, từ năm 2009 đến nay, số tiền phạt chậm nộp liên tục tăng lên, bình quân mỗi năm tăng 2.000 tỉ đồng Khả năng trong thời gian tới, số tiền chậm nộp sẽ tăng nhanh hơn vì theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế,
Trang 35mức tính tiền chậm nộp của các khoản nợ thuế trên 90 ngày tăng thêm 0,02% mỗi ngày, từ 0,05% lên 0,07%/ngày (25,5%/năm)
Tính đến cuối năm 2013, tiền phạt chậm nộp tiền thuế phát sinh trước nửa đầu năm 2013 là 9.441 tỉ đồng Riêng số tiền phạt chậm nộp từ nợ khó thu là 1.134
tỉ đồng, nợ dưới 90 ngày là 1.770 tỉ đồng, nợ trên 90 ngày là 6.537 tỉ đồng, chiếm 67% tổng số nợ phạt chậm nộp Các địa phương có số tiền phạt chậm nộp nợ đọng lớn như Hà Nội 3.006 tỉ đồng, TP.HCM 3.147 tỉ đồng
* Những nỗ lực của ngành thuế
- Đôn đốc thu nộp, quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế
Trước thực trạng nợ đọng thuế trên, trong thời gian qua, Tổng cục thuế đã thường xuyên nghiên cứu để xây dựng và sửa đổi quy trình quản lý nợ thuế Cụ thể, Quyết định 1123, 477, sau đó 1395 về việc ban hành Quy trình quản lý nợ thuế và Quyết định 490/QĐ-TCT về việc ban hành Quy trình cưỡng chế thuế là cơ sở quan trọng để thống nhất nghiệp vụ quản lý nợ thuế Quy trình này cũng là cơ sở để Tổng cục Thuế tổ chức chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện công tác đôn đốc thu nộp, quản
lý nợ thuế của các cơ quan thuế địa phương Mặt khác, giao chỉ tiêu cụ thể cho các cục thuế địa phương về tỷ lệ nợ tối đa cho phép, số nợ thuế thu hồi; tổ chức kiểm tra đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu này của các cục thuế địa phương Việc theo dõi, quản lý số nợ thuế đã được thực hiện trên các ứng dụng tin học, trong đó, đáng chú ý là năm 2010 đã nghiên cứu, xây dựng và triển khai trên phạm vi cả nước ứng dụng quản lý nợ cấp chi cục thuế
Về công tác thu nợ, thông qua việc triển khai các biện pháp quản lý nợ và cưỡng chế thuế, tính đến 31/8/2012 toàn ngành đã thu hồi được 17.149 tỷ đồng (đạt 48,6%) tổng số nợ thuế của năm 2011 Đến ngày 30/11/2013, toàn ngành đã thu được 52%
số nợ thuế tại thời điểm 31/12/2012, trong đó tiền thuế nợ trên, dưới 90 ngày thu
Trang 36+ Đã thực hiện gia hạn khoảng 11.124 tỷ đồng tiền thuế giá trị gia tăng các
tháng 4, 5 và 6/2012 cho gần 190.000 doanh nghiệp
+ Giải quyết gia hạn 3.327 tỷ đồng nợ thuế thu nhập doanh nghiệp cho khoảng
Về miễn, giảm thuế theo Nghị quyết 29/2012/QH13 ngày 21/6/2012 của Quốc hội về ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức
Trang 37tác trọng tâm góp phần đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách hàng năm của địa phương
Năm 2012, công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế Cục Thuế Vĩnh Phúc tập trung thực hiện nhiệm vụ trọng tâm mà Tổng cục Thuế đã giao: Tăng cường các biện pháp quản lý thu nợ và cưỡng chế thuế theo Luật Quản lý thuế và theo các quy trình quản lý, đảm bảo thu trên 80% số nợ có khả năng thu của năm 2011 chuyển sang; giảm trên 50% số nợ chờ xử lý đến 31/12/2011; giảm 100% số nợ chờ điều chỉnh có đến 31/12/2011; Hạn chế số nợ mới phát sinh và không để tổng số nợ thuế đến 31/12/2012 vượt quá 5% so với tổng số thu ngân sách của năm 2012; góp phần phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách cấp trên giao
Xác định rõ chỉ tiêu, nhiệm vụ thu nợ do Tổng cục Thuế giao, trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình và kết quả thu nợ qua các năm của từng lĩnh vực, địa bàn, từng ngưòi nợ thuế lớn, đảm bảo góp phần phấn đấu hoàn thành nhiệm
vụ thu ngân sách năm 2012, ngay từ những ngày đầu năm Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc đã có văn bản chỉ đạo triển khai các biện pháp thu và giao chỉ tiêu, nhiệm
vụ thu nợ thuế năm 2012 cho các phòng và các Chi cục thuế; trong đó: Toàn Cục phấn đấu tổng số nợ đến 31/12/2012 so vói tổng số thu ngân sách năm 2012 không vượt quá 4%; Đối với Văn phòng Cục tỷ lệ này là không quá 1,5% và các Chi cục thuế là không vượt quá 10%
Để triển khai thực hiện nhiệm vụ này, trong tháng 5/2012 Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức hội nghị đánh giá công tác nợ năm 2011 và quý I/2012, đánh giá những kết quả đạt được, phân tích những tồn tại, những nguyên nhân tồn tại và triển khai các biện pháp quản lý nợ năm 2012 Đồng thời tập huấn các quy trình quản lý
nợ, quy trình cưỡng chế nợ và sử dụng ứng dụng cho các Chi cục thuế
Theo báo cáo của Chi cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc về công tác thuế tháng 7 năm
2012, tình hình nợ thuế tính đến 31/07/2012 tổng số nợ thuế trên địa bàn là 453 tỷ đồng (chưa kể nợ các khoản từ đất), trong đó nợ khó thu là 18,6 tỷ đồng; Nợ chờ xử lý: 41,3 tỷ; Nợ chờ điều chỉnh: 24,8 tỷ và Nợ có khả năng thu: 353 tỷ đồng (tăng 73% so với 31/12/2011)
Tình hình nợ thuế 7 tháng đầu năm tăng cao là do 2 nhóm nguyên nhân
Trang 38chính, đó là nhóm nguyên nhân khách quan (do kinh tế khó khăn, do ý thức người nộp thuế và do hiệu quả của các chính sách và biện pháp quản lý) và nhóm nguyên nhân chủ quan thuộc về phía cơ quan thuế:
Thứ nhất, là do khó khăn của người nộp thuế: Năm 2012 là năm mà nền kinh
tế nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn sau khủng hoảng kinh tế thế giới, Giá cả, lãi suất, chi phí đầu vào tăng cao, ngân hàng thắt chặt tín dụng hàng loạt doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh trước đây có ý thức chấp hành pháp luật thuế rất tốt, nay lâm vào tình trạng sản xuất kinh doanh đình đốn, hàng hoá sản xuất không tiêu thụ được, kinh doanh thua lỗ, nghỉ bỏ kinh doanh, giải thể, phá sản không có tiền để nộp thuế kịp thời dẫn đến số nợ thuế gia tăng Cục thể sô nợ thuế theo các ngành nghề như sau: Tính đến 31/07/2012 trên địa bàn tỉnh
có khoảng khoảng 2505 doanh nghiệp nợ thuế, trong đó: Nhóm ngành Xây dựng, Bất động sản: 875 doanh nghiệp với số nợ khoảng: 215 tỷ đồng (chiếm 47% tổng số nợ); Nhóm ngành sản xuất và chế biến: khoảng 150 doanh nghiệp với số nợ khoảng
120 tỷ (chiếm 26 % tổng số nợ) Nhóm các ngành nghề khác: 1480 DN với tổng số
nợ khoảng 113 tỷ (chiếm 24 % tổng số nợ)
Bên cạnh đó, ý thức chấp hành của ngưòi nộp thuế: trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, lĩnh vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có số nợ thuế chiếm 84% tổng số nợ thuế, chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiệu quả kinh doanh thấp, ý thức chấp hành pháp luật thuế không cao, luôn chây ỳ nợ thuế, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thu nợ thuế cũng gặp hết sức khó khăn
Trong khi đó, các biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ chưa thực sự hiệu quả, việc thực hiện cưỡng chế theo tuần tự các biện pháp, làm cho công tác cưỡng chế thuế thiếu đi tính linh hoạt và là rào cản lớn là biện pháp cưỡng chế bằng việc Kê biên Tài sản không có khả năng thực hiện, điều này dẫn đến chỉ có thể áp dụng được biện pháp cưỡng chế bằng việc trích tài khoản Ngân hàng Tuy vậy biện pháp này cũng rất khó thực hiện vì đa số các doanh nghiệp nợ đang gặp khó khăn, tài khoản không có tiền
Thứ hai, nguyên nhân từ công tác quản lý nợ thuế ở một số Chi cục thuế còn
chưa được lãnh đạo quan tâm sát sao, Công tác chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ phận
Trang 39chức năng để xử lý nợ ảo còn hạn chế, chưa chặt chẽ, kịp thời số liệu đầu vào từ
bộ phận kê khai thuế trên ứng dụng QLT vẫn còn nhiều sai lệch, nên số liệu nợ theo dõi trên ứng dụng quản lý nợ thường xuyên phát sinh nợ ảo Các biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ thuế chưa thực hiện quyết liệt
* Tại Hoà Bình
Năm 2012 là năm ngành thuế Hoà Bình triển khai thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn, do lạm phát và suy thoái, tốc độ tăng trưởng chậm, sức mua của thị trường giảm, doanh nghiệp không tiếp cận được nguồn vốn, hàng loạt các doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc giải thể Bên cạnh đó, Chính phủ ban hành tháo
gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, miễn, giảm, giãn một số khoản thuế để tháo gỡ khó khăn cho các DN, do vậy đã có tác động không nhỏ đến nguồn thu NSNN trên địa bàn tỉnh
Xác định được những khó khăn trên, ngay từ đầu năm Cục Thuế đã nỗ lực tập trung mọi nguồn lực, triển khai quyết liệt và đồng bộ nhiều biện pháp quản lý thuế nhằm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Một trong những biện pháp được lựa chọn đó là đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế
và giảm nợ đọng thuế; tăng cường công tác quản lý, giám sát địa bàn để phát hiện, khai thác nguồn thu từ các lĩnh vực, ngành nghề có điều kiện nhằm bù đắp cho các khoản hụt thu
Tính đến hết 11/2012 tổng số nợ đọng có khả năng thu của toàn tỉnh là 149 tỷ đang chiếm 9,4% dự toán thu ngân sách năm 2012 Nợ thuế chủ yếu là của khu vực kinh tế NQD chiếm khoảng 78% tổng số nợ, trong đó một số loại hình doanh nghiệp nợ đọng lớn tập trung chủ yếu vào các khoản thu liên quan đến đất đai, tài nguyên, khoáng sản, xây dựng cơ bản và kinh doanh nông sản (Chi cục thuế tỉnh Hòa Bình, 2012) Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nợ đọng thuế đó là do năm 2012 tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP về các giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, giá cả các mặt hàng tăng cao, lạm phát gia tăng; Chính sách tiền tệ được quản lý chặt chẽ; Một số chính sách Nhà nước thay đổi… đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, không tiếp cận được vốn
Trang 40tín dụng, không thu hồi được công nợ do các doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhau, sản xuất kinh doanh ngừng chệ, hàng hóa tồn kho nhiều từ đó các doanh nghiệp không có khả năng nộp Ngân sách Trước tình hình đó, ngành thuế đã triển khai các giải pháp thu hồi nợ thuế như: Đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ, tư vấn pháp luật về thuế cho người nộp thuế, tiến hành các bước đúng theo quy trình thu nợ thuế, đối với các trường hợp cố tình dây dưa nộp chậm tiền thuế thì ngành thuế tiến hành cưỡng chế theo các biện pháp như trích tiền từ tài khoản ngân hàng để nộp thuế và tiền phạt hoặc các hình thức khác như đình chỉ sử dụng hoá đơn
Đồng thời làm tốt công tác tham mưu cho UBND tỉnh cùng với các ngành chức năng trong tỉnh như: Tài chính, Kế hoạch & Đầu tư; Tài nguyên & Môi trường; Công thương, Công an tỉnh, Kho bạc Nhà nước; Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT tỉnh Hoà Bình triển khai các giải pháp thu hồi nợ đọng thuế Kiên quyết
xử lý dứt điểm các doanh nghiệp cố tình nợ thuế kéo dài bằng biện pháp cưỡng chế Đối với bộ phận Quản lý nợ & cưỡng chế nợ của thuế Cục Thuế và các Chi cục thuế huyện, thành phố: Thực hiện nghiêm túc chức năng, nhiệm vụ theo quy định và quy trình quản lý nợ, thường xuyên theo dõi chặt chẽ các khoản nợ mới phát sinh, kết hợp các phòng chức năng liên quan đôn đốc, nhắc nhở các doanh nghiệp nộp kịp thời vào NSNN, đồng thời tiến hành các thủ tục theo quy trình quản
lý nợ Phân tích rõ tuổi nợ của các khoản nợ, xem xét, đánh giá về khả năng tài chính của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có số nợ lớn để có kế hoạch cưỡng chế cụ thể Đối với khoản nợ thuế khó thu hồi của một số doanh nghiệp lâm vào tình trạng giải thể phá sản, doanh nghiệp bỏ trốn mất tích, bị khởi tố thì tiến hành củng cố hồ sơ đề nghị Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế xoá nợ theo quy định của pháp luật thuế Đối với khoản nợ thuế chờ xử lý: Gồm số nợ được gia hạn khoanh
nợ, giãn nợ, chờ xoá nợ, miễn giảm, chờ điều chỉnh tiến hành đi sâu phân tích chuyển sang khoản nợ khó thu hoặc nợ có khả năng thu để áp dụng biện pháp xử lý phù hợp Đối với khoản nợ có khả năng thu thì lập danh sách người nộp thuế nợ quá hạn 90 ngày trình Lãnh đạo Cục Thuế, Chi cục thuế phê duyệt, cương quyết thực hiện các bước biện pháp cưỡng chế thuế