1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội

147 748 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết những bất cập, tồn tại trên, qua đó góp phần đánh giá toàn diện về thực trạng Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội, phân tích các yế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

HUỲNH ĐỒNG

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA

HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN GIA LÂM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

HUỲNH ĐỒNG

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA

HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN GIA LÂM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

MÃ SỐ : 60.62.01.15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN TẤT THẮNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự cộng tác, giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Huỳnh Đồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp

đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể

Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS Nguyễn Tất Thắng

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Gia Lâm, Phòng Kinh tế huyện Gia Lâm, các HTX DVNN xã Đa Tốn, Cổ Bi, Dương Quang và các xã viên, nông dân tại 3 HTX thực hiện điều tra trên địa bàn huyện đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Huỳnh Đồng

Trang 5

2.1.3 Đặc điểm về các hoạt động dịch vụ nông nghiệp trong HTX DVNN 9

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của HTXDVNN 11

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

Trang 6

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37

3.1.4 Đánh giá thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

4.1 Một số nét cơ bản về các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp ở huyện Gia Lâm 55 4.1.1 Tình hình tài sản vốn quỹ các HTXDVNN trên địa bàn Huyện Gia Lâm 57

4.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ của các HTXDVNN huyện Gia Lâm 61 4.2.1 Nội dung các hoạt động dịch vụ của các HTXDVNN huyện Gia Lâm 61 4.3 Đánh giá chung về kết quả hoạt động của các HTXDVNN trên địa bàn Huyện

4.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của HTXDVNN huyện Gia Lâm 97

Trang 7

4.5 Định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của HTXDVNN

4.5.3 Giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của HTXDVNN Gia Lâm 111

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm qua các năm (2011-2013) 39

4.1 Tình hình cơ bản về các HTXDVNN huyện Gia Lâm năm 2013 56 4.2 Tình hình tài sản vốn quỹ các HTX DVNN huyện Gia Lâm qua các

4.5 Mức thu theo đầu sào/năm đối với xã viên nhiệm kỳ 2010 – 2015 62 4.6 Tình hình dịch vụ làm đất của các HTXDVNN trên địa bàn huyện

4.7 Nguồn lực của DV làm đất của HTX điều tra giai đoạn 2011- 2013 65 4.8 Tình hình hoạt động dịch vụ làm đất của các HTXDVNN điều tra 68 4.9 Kết quả hoạt động dịch vụ làm đất của các HTXDVNN điều tra 70 4.10 Hoạt động dịch vụ tưới tiêu của các HTXDVNN huyện Gia Lâm 72

4.12 Cơ sở hạ tầng của HTX phục vụ sản xuất tưới tiêu ở các xã năm 2013 73

4.14 Diện tích và đơn giá dịch vụ tưới tiêu của các HTX điều tra 76 4.15 Kết quả hoạt động dich vụ tưới tiêu của các HTXDVNN điều tra 77 4.16 Tình hình cung ứng vật tư của các HTXDVNN huyện Gia Lâm 78 4.17 Nguồn lực phục vụ hoạt động dịch vụ vật tư nông nghiệp 79

Trang 9

4.19 Kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ cung ứng vật tư của

4.20 Tình hình diệt chuột qua các năm của các HTX điều tra 88

4.22 Ý kiến đánh giá của hộ nông dân về chất lượng dịch vụ mà HTX

cung ứng phục vụ (tại các HTX điều tra- một số dịch vụ cơ bản) 93

4.25 Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HỘP

4.1 Mức thu theo đầu sào/năm đối với xã viên nhiệm kỳ 2010 – 2015 63

4.1: Ý kiến đánh giá trình độ chuyên môn và năng lực của cán bộ

Trang 11

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH : Công nghiệp hoá hiện đại hoá

Trang 12

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hợp tác xã (HTX) là một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, hướng theo lợi nhuận khi tham gia thị trường Nó đã, đang và tiếp tục tồn tại phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới HTX có vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá (CNH- HĐH) đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp

và khu vực nông thôn Hiện nay, hợp tác xã đã và đang tồn tại phổ biến, đóng vai trò tích cực trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới đó là các nước công nghiệp như Mỹ, Nhật, Anh, Đức

Ở Việt Nam, từ năm 1955, phong trào HTX đã không ngừng phát triển qua các thời kỳ từ kế hoạch hóa tập trung đến nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng và Nhà nước ta đã coi CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn là trọng tâm hàng đầu của quá trình CNH- HĐH đất nước Nông nghiệp nông thôn nước ta trong thời kỳ vừa qua đã đạt được thành tựu to lớn và có bước phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởng với tốc độ khá Đạt được thành tựu đó là do chính sách đổi mới trong nông nghiệp, trong đó có sự đóng góp của HTX- thành phần kinh tế cơ bản trong nông nghiệp Thực hiện đường lối đổi mới HTX nông nghiệp và thực hiện Luật HTX, việc chuyển đổi HTX đã diễn ra hết sức đa dạng và phong phú Sau chuyển đổi, bên cạnh một số mô hình HTX làm ăn có hiệu quả vẫn còn có những

mô hình hoạt động chưa hiệu quả

Gia Lâm là một huyện kinh tế trọng điểm của thành phố Hà Nội, là một trong các huyện thực hiện khá sớm công cuộc chuyển đổi HTX Sau khi chuyển đổi các HTX dịch vụ nông nghiệp đều chú trọng kiện toàn lại bộ máy quản lý HTX theo hướng tinh giảm về số lượng, nâng cao về chất lượng Qua 7 năm thực hiện Luật HTX, 10 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa IX, các HTX dịch vụ nông nghiệp huyện Gia Lâm dần khẳng định được vai trò và vị trí của mình trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn; là điểm tựa cho kinh tế hộ, góp phần ổn định được tình hình chính trị, kinh tế - xã hội

ở nông thôn Tuy nhiên, sự phát triển của các HTXDVNN ở huyện Gia Lâm còn

Trang 13

nhiều hạn chế, tồn tại cả về cơ cấu tổ chức và nội dung hoạt động; Nội lực các HTX nhìn chung còn yếu; Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, chưa đáp ứng đầy đủ nguyện vọng của xã viên và đòi hỏi của cơ chế thị trường, số HTX dịch vụ nông nghiệp hoạt động tốt còn hạn chế, năm 2011 số HTX hoạt động tốt chỉ chiếm 13,6%, số HTX hoạt động khá chiếm 68,2%, số HTX còn yếu kém chiếm 18,2%

HTX chưa thực sự trở thành chỗ dựa vững chắc cho kinh tế hộ phát triển (Phòng kinh tế huyện Gia Lâm,2012) Câu hỏi được đặt ra là: yếu tố nào ảnh hưởng đến kết

quả hoạt động trong những năm qua và cần có những giải pháp nào để nâng cao kết quả hoạt động của các HTXDVNN trên địa bàn Huyện Gia Lâm trong thời gian tới

Những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về kinh tế hợp tác, HTX trong nông nghiệp ở Việt Nam như: Kinh tế hợp tác trong nền kinh tế

thị trường ở Việt Nam (Luận án tiến sĩ kinh tế, Nguyễn Thanh Hà, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,1999); Sự hình thành và phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn Việt Nam (Luận

án tiến sĩ kinh tế, Lưu Hoài Chuẩn, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2002); Lý luận về HTX- Quá trình phát triển HTX nông nghiệp ở Việt Nam (Chu Thị Hảo và Naoto Imagawa, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 2003); Báo cáo tổng hợp đề tài KHXH

03-03: Về lý luận, chính sách và giải pháp đổi mới, phát triển kinh tế hợp tác do

PGS.PTS Nguyễn Văn Bích chủ nhiệm đề tài (Hà Nội tháng 8/1999); Kinh tế nông

hộ và kinh tế HTX trong sự phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ( Luận án tiến

sĩ kinh tế, Nguyễn Thanh Vẩn, Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 1993)

Tuy nhiên, việc nghiên cứu về lý luận phát triển, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp khả thi cho Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu

Để giải quyết những bất cập, tồn tại trên, qua đó góp phần đánh giá toàn diện

về thực trạng Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội, phân tích các yếu tố ảnh hưởng cũng như đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động của các HTXDVNN trên địa bàn huyện Gia Lâm, tôi lựa chọn đề

Trang 14

tài: “Nghiên cứu kết quả hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên

địa bàn huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích, đánh giá về thực trạng kết quả hoạt động của các HTXDV nông nghiệp của huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả hoạt động của các HTXDV nông nghiệp trên địa bàn trong thời gian tới

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá lý luận và làm rõ một số cơ sở lý luận và thực tiễn

về hoạt động của HTX dịch vụ nông nghiệp

- Phân tích, đánh giá thực trạng về kết quả hoạt động của các HTXDVNN tại huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội và chỉ rõ các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các HTXDVNN trên địa bàn

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao kết quả hoạt động các HTXDVNN ở huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội cho thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX DVNN

- Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh, dịch vụ cho hộ xã viên của các HTX DVNN

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Phạm vi nội dung

Kết quả hoạt động của HTXDVNN và những nội dung có liên quan đến kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXDVNN trong quá trình phát triển của nông nghiệp nông thôn của huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội

1.3.2.2 Phạm vi không gian:

Các HTXDVNN huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội

Trang 15

1.3.2.3 Phạm vi thời gian:

Từ tháng 4/2013 đến tháng 10/2014

Trang 16

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận về kết quả hoạt động của HTXDVNN

2.1.1 Hợp tác xã và hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp

Định nghĩa HTX ( Theo Điều 1 Luật HTX sửa đổi ngày 26/11/2003):

“ HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” Theo định nghĩa của Liên minh HTX quốc tế (ICA) năm 1995: “HTX là một tổ chức chính trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ” Định nghĩa này còn được hiểu như sau: “HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết, theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người

khác” (Liên minh HTX việt nam, 2004)

Định nghĩa hợp tác xã nông nghiệp: Theo điều 1 Nghị định số 43/CP ngày 29/04/1997, hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ, do nông dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế

hộ gia đình của các xã viên kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất chế biến, tiêu thụ nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và các ngành nghề ở nông thôn, phục vụ sản xuất nông nghiệp

HTXNN là tổ chức kinh tế do những người nông dân tự nguyện thành lập nhằm mục đích trợ giúp các hoạt động sản xuất nông nghiệp của họ thông qua việc cung cấp các dịch vụ giá rẻ do lợi thế về quy mô và chuyên môn hóa hoạt động

Trang 17

HTXNN ra đời dựa trên nền tảng kinh tế hộ (Nguyễn Anh Sơn, 2010)

Hợp tác xã nông nghiệp được phân loại dựa vào hình thức tổ chức và chức năng của hợp tác xã Vì vậy, hợp tác xã bao gồm hợp tác xã dịch vụ, hợp tác xã sản xuất và hợp tác xã sản xuất kết hợp với dịch vụ

Các HTX hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau đều có một số đặc điểm chung như sau: các xã viên liên kết với nhau vì họ có ít nhất một mục tiêu chung;

họ luôn theo đuổi mục tiêu cải thiện điều kiện kinh tế bằng phương pháp phối kết hợp trong sản xuất kinh doanh; xã viên cùng sở hữu, vận hành 1 đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ cho họ; mục đích của HTX là sử dụng tối đa các nguồn lực chung

để phát triển sản xuất, có đủ dịch vụ cung ứng cho xã viên

Ngoài ra, HTXNN còn có một số đặc điểm riêng như:

HTXNN là tổ chức kinh tế tập hợp đông đảo nông dân ở nông thôn- lực lượng lao động chiếm tỷ lệ lớn nhất trong xã hội ở các nước đang phát triển Khi lực lượng lao động này được bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo về khoa học, kỹ thuật, công nghệ sẽ

là yếu tố cơ bản cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn

HTXNN là tổ chức kinh tế của những người yếu thế nhất trong xã hội về trình độ, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật so với các loại hình doanh nghiệp khác Vai trò của Nhà nước đối với HTXNN là tất yếu trên các mặt: quản lý Nhà nước, giúp

đỡ hỗ trợ và tham gia quản lý HTX

Đối tượng sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sinh vật (cây trồng, vật nuôi) nên trong quá trình hoạt động kinh doanh, HTX chịu chi phối bởi cả quy luật kinh tế và quy luật tự nhiên Điều này làm cho các HTX chịu nhiều rủi ro, hiệu quả kinh tế thấp, tích lũy vốn ít Những HTX nào năng động, sáng tạo trong kinh doanh có lợi thế trong thị trường với những sản phẩm hàng hóa đặc sản có chất lượng cao, thực hiện

được chiến lược chuyên môn hóa và đa dạng hóa sản phẩm (Nguyễn Anh Sơn, 2010)

Định nghĩa Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTXDVNN): HTXDVNN là tổ chức kinh tế nông nghiệp được tách hẳn để làm chức năng dịch vụ nông nghiệp, nó hoạt động theo Luật HTX, là một hoại hình HTX kiểu mới Hoạt động của HTXDVNN bao gồm: Dịch vụ các yếu tố đầu vào, đầu ra, dịch vụ các khâu cho sản

Trang 18

xuất nông nghiệp, các HTXDVNN được tổ chức với mục đích phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân, nó không hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận Mô hình HTXDVNN ở nước ta chủ yếu được phân thành ba hình thức: Dịch vụ chuyên khâu, dịch vụ chuyên ngành và dịch vụ tổng hợp

HTXDVNN chuyên khâu có nội dung hoạt động tập trung ở từng khâu công việc trong quá trình sản xuất và phục vụ cho sản xuất hoặc từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất Ví dụ: HTX tín dụng, HTX mua bán, HTX dịch vụ đầu vào, HTX dịch vụ đầu ra, HTX chuyên dịch vụ về tưới tiêu

HTXDVNN tổng hợp đảm nhiệm dịch vụ nhiều khâu cho sản xuất nông nghiệp Tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện, trình độ sản xuất và tập quán ở từng vùng mà nhu cầu của nông hộ đối với từng loại hình dịch vụ có khác nhau Ở những vùng đồng bằng trồng lúa nước, HTX có thể thực hiện các khâu sau: Xây dựng, điều hành, kế hoạch, bố trí cơ cấu mùa vụ, lịch thời vụ sản xuất, cung ứng vật tư, tưới tiêu theo quy trình kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ sản phẩm ngoài đồng để tránh hao hụt Với những vùng có mức bình quân ruộng đất và mức

độ cơ giới hóa cao, nông hộ cần thêm khâu dịch vụ làm đất, thu hoạch và sửa chữa

cơ khí, vận chuyển sản phẩm đến nơi tiêu thụ

HTXDVNN chuyên ngành: HTX này được hình thành từ nhu cầu của các hộ

xã viên cùng sản xuất kinh doanh một loại hàng hóa tập trung, hoặc cùng làm một nghề giống nhau HTX thực hiện các khâu dịch vụ của kinh tế hộ như chọn giống, cung ứng vật tư, trao đổi hướng dẫn kỹ thuật, dịch vụ, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, đại diện

các hộ thành viên quan hệ với cơ sở chế biến nông sản (Nguyễn Anh Sơn, 2010)

2.1.2 Vai trò HTX dịch vụ nông nghiệp

2.1.2.1 Là cầu nối giữa nhà nước và nông dân

HTX là nơi tiếp nhận những trợ giúp của Nhà nước tới hộ nông dân vì vậy hoạt động của HTX có vai trò làm cầu nối giữa Nhà nước với hộ nông dân một cách hiệu quả Hỗ trợ của Nhà nước cho hộ nông dân như vốn, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng nếu trực tiếp đầu tư cho hộ nông dân thì sẽ không hiệu quả vì hộ là đơn vị kinh tế nhỏ lẻ khó tiếp nhận những trợ giúp chung của Nhà nước HTXNN như là

Trang 19

một tổ chức đại diện cho các hộ nông dân đứng ra tiếp nhận sự hỗ trợ của Nhà nước sao cho có hiệu quả nhất, đáp ứng mục tiêu mà Nhà nước đề ra Ngoài ra, trong một

số trường hợp, khi có nhiều tổ chức tham gia hoạt động dịch vụ cho hộ nông dân thì hoạt động của HTX là đối trọng buộc các đối tượng phải phục vụ tốt cho nông dân HTX có vai trò như một “bà đỡ”, tạo ra “ đòn bẩy” để phát triển kinh tế của các chủ thể kinh tế tự chủ, nâng cao đời sống xã viên Có thể nói HTX như là một công cụ quan trọng của Chính phủ để phát triển kinh tế-xã hội nông thôn

2.1.2.2 Giúp nâng cao hiệu quả kinh tế từ sản xuất nông nghiệp

Ở những nước nông nghiệp như nước ta thì HTX nông nghiệp là hình thức kinh tế tập thể nông dân, vì vậy hoạt động của HTX nông nghiệp có tác động to lớn, tích cực đến hoạt động sản xuất của hộ nông dân Nhờ có hoạt động của HTX mà các yếu tố đầu vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời và đầy đủ đảm bảo chất lượng, hiệu quả sản xuất của hộ nông dân được nâng lên

2.1.2.3 Giúp điều tiết và cung cấp các dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp

Thông qua hoạt động dịch vụ, vai trò điều tiết của HTX nông nghiệp được thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung, tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hóa Có như vậy các dịch

vụ của HTX mới thực hiện tốt, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của xã viên như: dịch vụ làm đất, dịch vụ thủy lợi, dịch vụ khuyến nông và chuyển giao KH-KT Mặt khác, sản xuất tập trung sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo, điều hành sản xuất của HTX, có điều kiện để thực hiện cơ giới hóa trên đồng ruộng, chuyên môn hóa sản xuất, phát triển cây trồng có lợi thế của địa phương, tạo được nhiều sản phẩm hàng hóa chất lượng cao

2.1.2.4 Giúp kinh tế hộ gia đình phát triển

Đối tượng dịch vụ của HTXNN là hộ gia đình xã viên, kinh tế hộ có phát triển thì vai trò của HTX mới được thực hiện Thông qua hoạt động của HTX mà những khó khăn của hộ được giải quyết phần nào HTX cung cấp các dịch vụ đầu vào và đầu ra cho bà con xã viên yên tâm sản xuất.Ngoài cung cấp đầu vào và các

Trang 20

dịch vụ đầy đủ, kịp thời đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý HTXDVNN còn chỉ đạo, hướng dẫn người dân sản xuất đúng kĩ thuật, thời gian gieo trồng dẫn đến nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông sản Khi sản xuất nông nghiệp phát triển, sản phẩm hàng hóa tiêu thụ dễ dàng, hiệu quả kinh tế từ nông nghiệp tăng lên đáng

kể giúp kinh tế hộ gia đình phát triển, cải thiện đời sống người nông dân

2.1.2.5 Góp phần giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng tích cực

Nhiều HTX đã phát huy được tinh thần tương thân tương ái trong việc hỗ trợ các hộ xã viên tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo ở khu vực nông thôn, góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động tại khu vực nông thôn, nâng cao thu thập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn, đa dạng hoá các dịch vụ phục vụ cộng đồng người dân nông thôn, phòng chống tệ nạn xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc Nâng cao tình làng, nghĩa xóm và tinh thần

tương trợ nhau những lúc khó khăn (Dương Anh Tiến ,2006)

2.1.3 Đặc điểm về các hoạt động dịch vụ nông nghiệp trong HTX DVNN

Dịch vụ nông nghiệp được hiểu là điều kiện, yếu tố cần thiết, cần có cho quá trình sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong nông nghiệp mà người sản xuất không sẵn có, không làm được hoặc làm không có hiệu quả và họ phải tiếp nhận các điều kiện, yếu tố đó từ bên ngoài bằng các cách thức khác nhau như: mua, bán, trao đổi, thuê, nhờ

Hoạt động dịch vụ nông nghiệp là hoạt động nhằm cung cấp, trao đổi, tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ giữa người sản xuất nông nghiệp và người cung cấp dịch vụ theo một phương thức nhất định nào đó

Dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp là loại hoạt động có tính chất bao cấp đối với người sản xuất nông nghiệp ở một chừng mực nhất định

Hoạt động dịch vụ nông nghiệp có những đặc điểm sau:

+ Tính thời vụ: do sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ nên các hoạt động dịch vụ nông nghiệp cũng sẽ mang tính thời vụ;

+ Được cung ứng từ nhiều nguồn khác nhau và mang tính cạnh tranh cao; + Tính có thể tự dịch vụ: Bản thân ngành nông nghiệp đã mang đặc điểm của

Trang 21

tính tự phục vụ, tức là sử dụng những gì mà ngành sẵn có để phục vụ cho các quá trình sản xuất tiếp theo;

+ Hoạt động nông nghiệp chỉ có hiệu quả cao khi được thực hiện đồng thời

và trên phạm vi rộng lớn;

+ Nhiều loại hình dịch vụ khó định lượng chính xác

(Nguyễn Anh Sơn, 2010)

2.1.4 Nội dung các hoạt động dịch vụ của HTXDVNN

Hiện nay, hầu hết các HTXDVNN đều làm dịch vụ cho xã viên, giúp xã viên giải quyết được khó khăn trong các khâu sản xuất kinh doanh của mình Trong những năm qua, dịch vụ nông nghiệp đã có những hỗ trợ thiết thức cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Các hoạt động dịch vụ nông nghiệp có bước phát triển đã tạo thêm việc làm mới cho người lao động, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân

Hiện nay, HTXDVNN có một số hoạt động chủ yếu sau:

a Dịch vụ Thủy nông

Là các hoạt động cung cấp nước tưới tiêu, các hợp tác xã thành lập các tổ, đội tiến hành tưới tiêu để đảm bảo việc cung cấp dịch vụ đạt hiệu quả tốt nhất, tiến hành ký hợp đồng giao khoán trách nhiệm để gắn trách nhiệm trong quá trình thực hiện

b Dịch vụ Bảo vệ thực vật

Là các hoạt động cung cấp thuốc bảo vệ thực vật, cách thức phòng trừ sâu bệnh và dự báo về tình hình sau bệnh qua đó giảm mức thiệt hại về sâu bệnh, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Đây là các hoạt động làm đất như cày, bừa, loạt, phơi đất Hoạt động dịch

vụ làm đất của các HTXDVNN bảo đảm tiến độ gieo trồng và chất lượng làm đất

Trang 22

cũng như tiết kiệm chi phí cho xã viên

e Dịch vụ cung ứng vật tư

Là hoạt động của HTXDVNN thực hiện dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp cho các xã viên và nhân dân trên địa bàn Các HTXDVNN thực hiện dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp cho hộ xã viên theo nhiều loại vật tư khác nhau, đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp của xã viên HTX, thực hiện bán vật tư nông nghiệp với cơ chế thông thoáng

g Dịch vụ bảo vệ đồng ruộng

Nội dung hoạt động chủ yếu là thực hiện việc bảo vệ hoa màu tránh gia súc, gia cầm hoặc con người phá hoại đảm bảo năng suất mùa vụ…

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của HTXDVNN

Sự hình thành và phát triển HTXDVNN là đòi hỏi khách quan trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hóa HTXDVNN một mặt chịu tác động chi phối bởi các yếu tố, điều kiện chung của cả nước: đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước Mặt khác nó còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố như yếu tố quản lý, lao động và trình độ cán bộ quản lý HTX Dưới tác động của nền kinh tế thị trường, điều kiện về vốn, cơ sở hạ tầng cũng tác động không nhỏ đến sự phát triển của HTX

Trang 23

hình thành từ chủ trương của Đảng và các văn bản chính sách về tập thể hóa nông nghiệp Sau này, khi mô hình HTX kiểu cũ không còn phù hợp với điều kiện mới, cũng từ các văn bản chính sách các HTX kiểu mới đã được hình thành thay thế các HTX kiểu cũ Đối với HTX chính sách có vai trò như “bà đỡ” cho sự hình thành và

tạo những môi trường pháp lý và kinh tế cho sự phát triển

Trang 24

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Luật HTX sửa đổi đã được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 4 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2004 Luật

đã có nhiều thay đổi tích cực so với Luật của năm 1996, tạo ra nhiều thuận lợi và thông thoáng hơn cho các HTX phát triển Theo Luật, HTX có được khung khổ pháp lý hoàn chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường và các chuẩn mực quốc tế Theo đó, phạm vi hoạt động của các HTX đã được mở rộng, không chỉ giới hạn trong ngành nông nghiệp mà đã lan rộng sang các ngành và các lĩnh vực khác trong nền kinh tế Nếu chỉ xét riêng lĩnh vực nông nghiệp, khu vực có nhiều HTX nhất đang hoạt động thì hầu hết các HTX đã đảm nhiệm nhiều dịch vụ khác trên cùng địa bàn Bên cạnh đó, các HTX đã không chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong nội bộ ngành mà đã mở rộng sang cung cấp dịch vụ tổng hợp cho các xã viên của mình và cho thị trường

Trong quá trình hoạt động của mình các HTX phải tuân thủ quy định của các luật, văn bản, chính sách có liên quan do nhà nước ban hành Trên thực tế, HTX ở nước ta đều được hình thành từ những văn bản chính sách và chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật Không chỉ có vai trò tạo những điều kiện cho

sự ra đời của HTX, chủ trương chính sách của Nhà nước thông qua việc xây dựng và ban hành khung pháp lý để một mặt tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho kinh tế HTX hoạt động; mặt khác giúp đỡ, hỗ trợ về vật chất để tăng cường năng lực của các HTX

Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước là nhân tố quan trọng tác động đến quá trình hình thành phát triển và hiệu quả kinh tế- xã hội của các HTX

Vì vậy cần phải có sự gắn kết mật thiết giữa đường lối, chủ trương chính sách với đời sống thực tiễn của nhân dân, với hoạt động của HTX để từ đó làm cho hoạt động của HTX ngày càng thiết thực và hiệu quả

2.1.5.2 Trình độ quản lý của cán bộ HTX:

Yếu tố con người là yếu tố quyết định trong mọi quá trình hoạt động của HTX, đặc biệt là trình độ của cán bộ quản lý Nếu cán bộ HTX có năng lực, phẩm chất tốt, trình độ chuyên môn cao, điều hành công việc tốt thì HTX hoạt động có hiệu quả Khi trình độ cán bộ quản lý yếu kém, lúng túng trong điều hành công việc

Trang 25

sẽ dẫn đến hiệu quả công việc thấp Vì vậy, trình độ quản lý của cán bộ HTX trước hết là chủ nhiệm HTX là hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của HTX Chủ nhiệm HTX phải là người có trình độ, năng lực thực sự, am hiểu lĩnh vực hoạt động của HTX mình cũng như luật HTX Bên cạnh đó các cán bộ quản lý HTX ngoài trình độ chuyên môn cũng phải có kinh nghiệm cần thiết để gánh vác trọng trách phát triển HTX một cách hiệu quả Thực tế cho thấy những HTX làm ăn có hiệu quả thì các chủ nhiệm HTX đều giỏi, có tài, có đức, có năng lực và được xã viên tín nhiệm Những người chủ nhiệm giỏi thường xác định được chiến lược sản xuất kinh doanh hợp lý, biết khắc phục khó khăn về vốn, thị trường, biết cách liên doanh liên kết Bên cạnh những HTX hoạt động tốt, có hiệu quả thì còn nhiều HTX yếu kém trong tổ chức nhân sự, lúng túng trong điều hành, triển khai các công việc

vì vậy sẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp

HTX thiếu cán bộ có năng lực quản lý và điều hành hoạt động dịch vụ Trong nền kinh tế thị trường, nguồn nhân lực cấp cao, nhất là những nhà quản lý điều hành giỏi không mong muốn làm việc cho các HTX vì chế độ đãi ngộ trong các HTX thấp Cán bộ quản lý cũ chưa được đào tạo lại cho phù hợp với yêu cầu phát triển mới của HTX, đã lúng túng trong điều hành quản lý và phát triển HTX kiểu mới Bên cạnh đó, các trường đào tạo cán bộ cho các HTX bị giới hạn về phạm vi, thiếu kinh phí hoạt động và đội ngũ giảng viên còn chưa đáp ứng được điều kiện mới Mặt khác, trong bố trí, sắp xếp cán bộ HTX còn mang tính áp đặt từ chính quyền

Trang 26

người lao động để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của HTX

bộ quản lý HTX, phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phương án sản xuất kinh doanh của HTX

Ngoài huy động vốn, HTX cũng phải biết huy động sử dụng vốn hợp lý Bởi

vì có huy động được nhiều vốn nhưng sử dụng không hợp lý sẽ gây ra lãng phí hiệu quả hoạt động thấp Việc sử dụng vốn sao cho hiệu quả phụ thuộc vào trình độ, năng lực quản lý của cán bộ HTX và ý thức của xã viên

Hầu hết các HTX có quy mô nhỏ, vốn nghèo, cơ sở vật chất – kỹ thuật còn nhiều yếu kém Tài sản cố định chủ yếu là các công trình thủy lợi nhưng đã xuống cấp rất nhiều, vốn lưu động thấp và tồn tại chủ yếu trên sổ sách giấy tờ, còn thực tế

là tồn tại ở các khoản nợ Với thực trạng đó, các HTX rất khó khăn trong hoạt động sản xuất – kinh doanh và hỗ trợ các hộ xã viên

2.1.5.5 Cơ sở hạ tầng

Hệ thống máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX Đó là nhà xưởng, văn phòng, đường xá, các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh, công trình thủy lợi, hệ thống kênh mương Mức độ cơ sở vật chất nhiều hay ít, chất lượng cao hay thấp đều ảnh hưởng

Trang 27

nhờ mua sắm, trang bị và đầu tư mới cho xây dựng cơ bản Cơ sở vật chất, kỹ thuật

đủ lớn và hiện đại tạo điều kiện hoạt động thuận lợi hơn, thực hiện công việc dễ dàng hơn, giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động Ngược lại, công việc sẽ không được thực hiện hay thực hiện khó khăn, hiệu quả thấp, lãng phí, năng suất chất lượng thấp Do đó, HTX thường xuyên nâng cấp, tu bổ, nếu có điều kiện thì mua sắm thêm máy móc thiết bị hiện đại nhằm nâng cao chất lượng công việc

2.1.5.6 Ý thức xã viên

Kết quả hoạt động của HTXDVNN bị ảnh hưởng rất lớn của xã viên trong HTX Vì HTX tồn tại được là do sự góp vốn, góp sức của mỗi xã viên trong HTX Nếu các xã viên đều có ý thức tốt trong việc thực hiện công việc của HTX thì HTX

sẽ đạt được những mục tiêu và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ, sản xuất kinh doanh Ngược lại nếu xã viên đều trông chờ ỷ lại vào người khác thì hoạt động của HTX không những không đạt được kết quả mà còn có thể dẫn đến giải thể HTX Đây phải là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà các HTX phải hết sức quan tâm Xã viên phải thực sự hiểu biết và nhận thức được HTX là của họ, ra đời vì nguyện vọng của họ và phục vụ lợi ích cho chính họ, họ phải có lý tưởng HTX, hiểu biết đầy đủ các nguyên tắc, giá trị HTX Có như vậy thì HTX mới phát triển nhanh và bền vững

2.1.5.7 Trình độ phát triển của kinh tế hộ, kinh tế trang trại

HTX ra đời và phát triển trên cơ sở sản xuất hàng hóa của hộ nông dân và kinh tế trang trại Thực tế cho thấy, khi hộ còn sản xuất tự cấp tự túc, không cần đến dịch vụ của HTX nên hoạt động của HTX rất hạn hẹp, khó phát triển Nhưng khi kinh tế hộ phát triển, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa, họ có nhu cầu trao đổi, buôn bán sản phẩm của mình làm ra Như vậy, sản xuất hàng hóa phát triển, nhu cầu về các yếu tố đầu vào tăng lên (như: giống, phân bón, thủy lợi, thuốc trừ sâu

…), đòi hỏi HTX phải mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nông dân Hiện nay, xu hướng của kinh tế hộ từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa, từ kinh tế hộ sang kinh tế trang trại gia đình Đa số trang trại hình thành

từ hộ gia đình nông dân, đây là xu hướng có tính quy luật Ở mỗi trình độ phát triển của kinh tế hộ đòi hỏi HTXNN có quy mô và hình thức phù hợp để đáp ứng nhu cầu phát triển

Trang 28

Kinh tế trang trại ra đời phá vỡ tình trạng lấy lương thực làm nền tảng, tạo điều kiện tích tụ ruộng đất, sản xuất hàng hóa khối lượng lớn (tỷ suất hàng hóa lớn thường đạt từ 70-80% trở lên), trang trại cung cấp hàng hóa thường xuyên cho thị trường Do vậy nhu cầu về đầu vào cho trang trại là rất lớn, hơn nhiều các hộ nông dân Đây cũng là điều kiện để HTXNN phát triển, mở rộng loại hình kinh doanh dịch vụ, cung cấp khối lượng lớn dịch vụ đầu vào, đầu ra cho trang trại Xu hướng của kinh tế trang trại hiện nay là phát triển từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn, từ trang trại đa dạng sang trang trại sản xuất chuyên canh, trang trại nông – công – thương nghiệp Trình độ của trang trại ngày càng phát triển thì HTXNN cũng phát triển và lớn theo đáp ứng nhu cầu phát triển của trang trại

Như vậy, trình độ phát triển của kinh tế hộ, kinh tế trang trại cao hay thấp sẽ quy định tính chất và quy mô hoạt động của HTXNN Kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển sản xuất hàng hóa, nhu cầu dịch vụ cũng như chất lượng dịch vụ đáp ứng sự phát triển này, có như thế HTXNN mới có thể tồn tại và phát triển

2.1.5.8 Mức thu nhập và đời sống dân cư trên địa bàn

Hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXNN lấy lãi chủ yếu từ thu phí dịch vụ của các hộ xã viên Mức thu đã thấp hơn so với bên ngoài lại bị xã viên nợ nần, nếu không thu đủ sẽ gây khó khăn về vốn của HTX Mức thu nhập và đời sống của dân

cư trên địa bàn cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi trả phí dịch vụ cho HTX Nếu như mức sống của người dân trên địa bàn xã nào cao thì HTX đó thu được phí nhanh và thuận tiện, có vốn để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật và

mở rộng loại hình kinh doanh dịch vụ Ngược lại, HTX nào đời sống dân cư còn nghèo, thu nhập thấp, đời sống khó khăn thì khả năng chi trả phí dịch vụ thấp, tình trạng nợ nần là phổ biến Nhìn chung xã viên HTXNN còn khó khăn, do vậy khả năng thanh toán phí dịch vụ thiếu vốn hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng thu

nợ từ hộ xã viên còn gặp nhiều khó khăn

2.2 Cở sở thực tiễn

2.2.1 Quá trình phát triển của HTXNN ở Việt Nam

2.2.1.1 HTXNN trước thời kỳ đổi mới (trước 1986)

Kể từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 phát triển mô hình kinh tế hợp tác mà

cụ thể là kinh tế HTX trong nông nghiệp được coi như một thử thách lớn Ở thời điểm

Trang 29

đó trong hoàn cảnh đất nước vô cùng khó khăn thì kinh tế HTX đã giúp nước ta thoát khỏi nạn đói năm 1945 đồng thời tạo ra hậu phương vững chắc phục vụ tiền tuyến

Giai đoạn từ năm 1959 đến 1960 phong trào hợp tác hóa trong thời kỳ này được thực hiện theo tư tưởng “còn chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lối làm ăn cá thể thì vẫn còn cơ sở vật chất và điều kiện cho khuynh hướng tư bản chủ nghĩa” Do tốc độ hợp tác hóa quá nhanh không chú ý đến đặc điểm riêng của từng địa phương nên dẫn đến một thực trạng là nhiều hộ nông dân bị bắt buộc vào HTX mặc dù họ không muốn như vậy Khi gia nhập HTX họ trở thành thành những thành viên không nhiệt tình với phong trào thi đua sản xuất, chống đối thậm chí mưu đồ phá hoại HTX

Đến năm 1975 nhiều HTX bậc thấp đã được đưa lên bậc cao hơn và đã trở thành một phong trào lớn lan rộng cả nước, từ việc mở rộng quy mô HTX theo mô hình tập thể hóa tới việc củng cố HTX về mọi mặt Phong trào hợp tác hóa đã bộc lộ nhiều nhược điểm đó là sự không phù hợp của mô hình HTX bậc cao, quy mô lớn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ cán bộ quản lý Nguyên nhân trên làm kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng trước hết là sản xuất nông nghiệp ngày càng sa sút Kinh tế hợp tác ngày càng biểu hiện tiêu cực như: mất dân chủ, tham ô, lãng phí, phân phối không đều, không rõ ràng Thu nhập của xã viên HTX vốn đã thấp lại càng giảm, mức lương bình quân đầu người giảm từ 17kg/người/tháng (1965) thì đến năm 1980 chỉ còn 10,4kg/người/tháng Nhìn rõ thực trạng trên nhiều xã viên HTX chán nản, ruộng đất bỏ hoang, số lượng người xin ra khỏi HTX ngày càng tăng, cuối năm 1973 toàn miền Bắc có 1098 HTX vỡ hoàn toàn, 27.036 hộ xã viên xin ra khỏi HTX

Trước tình hình đó 13/1/1981 Ban bí thư TW Đảng đã ra chỉ thị 100/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTXNN (gọi tắt là khoán sản phẩm ) Chỉ thị đã nêu rõ mục đích là: phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, lôi cuốn được người lao động hăng hái sản xuất, sử dụng tốt đất đai tư liệu sản xuất, củng cố quan hệ sản xuất XHCN, nâng cao đời sống

xã viên Chỉ thị 100 ra đời đã đáp ứng được nguyện vọng của nông dân, được các địa

Trang 30

phương, các ngành và nông dân phấn khởi đón nhận, nhanh chóng thực hiện ở hầu khắp các cơ sở Trong một thời gian ngắn đã khơi dậy sinh khí mới cho nông thôn, nông nghiệp, ngăn chặn sa sút, tạo đà đi lên gợi mở một hướng mới về đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp Tuy nhiên chỉ thị 100 còn nhiều hạn chế, nguyên tắc nêu ra còn cứng nhắc, cơ chế quản lý HTX về cơ bản còn là bao cấp, phân phối theo công điểm HTX còn bị ràng buộc trong tổng thể cơ chế quản lý tập trung bao cấp của Nhà nước, thu nhập từ kinh tế tập thể thấp, mức khoán không ổn định, tệ quan liêu, mệnh lệnh và tình trạng tham ô lãng phí trong HTX tiếp tục tăng, động lực vừa mới tạo ra đã

dần bị triệt tiêu, người lao động thiếu yên tâm trong sản xuất (Thạch Phú Thành,2010) 2.2.1.2 HTXNN Việt Nam khi có nghị quyết 10 bộ chính trị (1987-1996)

Trong bối cảnh chỉ thị 100 còn nhiều hạn chế, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị

đề ra ngày 5/4/1988 với nội dung chủ yếu là: “Tổ chức lại sản xuất trong các HTX; đặt rõ vai trò kinh tế hộ xã viên; khoán gọn đến hộ và nhóm hộ HTX là đơn vị tự chủ, tự quản, điều chỉnh và đổi mới một bước các quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý giữa HTX với hộ xã viên, đổi mới quan hệ phân phối, xóa bỏ chế độ phân phối theo công điểm, bảo đảm người lao động trực tiếp được hưởng trên dưới 40% sản lượng khoán, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nông thôn, nông nghiệp, từng bước xây dựng nông thôn mới”

Những quan điểm về tư tưởng và chủ trương đề ra ở nghị quyết 10 của Bộ chính trị và các Nghị quyết của Ban chấp hành TW khóa VI được các ngành, các cấp và đông đảo nông dân cả nước hưởng ứng thực hiện năng động sáng tạo Sản xuất nông nghiệp sau Đại hội VI lại có bước tiến mới: sản xuất lương thực tăng, hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa có quy mô tương đối lớn, kim ngạch xuất khẩu nhu cầu lương thực của xã hội được đảm bảo hơn Năng lực sản xuất được tăng cường, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của hộ nông dân được xác lập Kinh tế có bước phát triển, đời sống của nông dân một số vùng được cải thiện thêm một bước

2.2.1.3 HTXNN từ khi có luật HTX 1996 đến trước khi có Nghị quyết hội nghị trung ương 5 (khóa IX)

Sau khi luật HTX năm 1996 được ban hành thì một loạt các chính sách của

Trang 31

Đảng, Nhà nước về HTX cũng được ban hành đồng thời như: chỉ thị 68 của Bí thư

TW Đảng; Nghị quyết về chuyển đổi HTX cũ theo Luật, Nghị định 15 về các chính sách ưu tiên đối với HTX; Nghị định 02 về chức năng quản lý Nhà nước đối với HTX và các nghị định ban hành điều lệ mẫu của các HTX ngành khác

Có thể nói đây là lần đầu tiên chúng ta có được bộ luật HTX hoàn chỉnh và đầy

đủ nhằm phát huy vai trò quan trọng của kinh tế hợp tác, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Tính đến thời điểm

1996 cả nước có 13.782 HTXNN Sau hơn ba năm 1997-2000 thực hiện luật HTX các địa phương đã rà soát, phân loại, cho phép giải thể 6.222 HTX yếu kém, số HTX thực

sự chuyển đổi là 7.531 HTX Tới tháng 6/2000 cả nước chuyển đổi được 5.692 HTX chiếm 75% so với tổng số HTX hiện có, trong đó có 58% HTX được cấp giấy đăng ký kinh doanh, đồng thời đã có 1.319 HTX mới được thành lập

Phát triển kinh tế tập thể trong đó kinh tế HTX làm nòng cốt có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nông dân Qua một thời gian tồn tại và phát triển, HTXNN đã chứng minh vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, luật HTX 1996 ban hành đã kịp thời khắc phục tình trạng sa sút khủng hoảng của mô hình HTX kiểu cũ trước đây, tạo cơ sở cho HTX kiểu mới hình thành và phát triển

Với việc tiếp tục xây dựng và đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX, Nhà nước đã ban hành luật HTX ngày 26/11/2003 Hầu hết các xã, HTX đã

tổ chức triển khai nội dung của luật với đơn vị mình Các HTXNN từ đó nhận định được vai trò và trách nhiệm của mình đã có những bước đổi mới và phát triển hợp

lý hơn Thực hiện chuyển đổi theo tinh thần của luật HTX 2003 và Nghị định 177/2004/CP-NĐ của Chính phủ là nhằm làm cho các HTX năng động hơn, có quyền tự chủ và tự quyết trong nhiều hoạt động hơn và công khai tự quyết về tài chính Theo đó UBND các địa phương phải thực hiện chính sách giao đất không thu tiền và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các HTX làm trụ sở, nhà

Trang 32

kho, nhà xưởng mà không thu tiền Đây là chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước đối với loại hình kinh tế HTXNN Chính vì vậy hoạt động của HTXNN cần nâng cao hơn nữa hiệu quả, cần xóa bỏ tính quan liêu, bao cấp, bên cạnh đó hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ một cách khoa học và bắt kịp với xu thế chung

2.2.1.4 Giai đoạn từ sau khi có Nghị quyết 13 – NQ/TW năm 2001 đến nay

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 được triển khai thực hiện đã tạo điều kiện cho kinh tế hợp tác, HTX có bước phát triển thuận lợi và khí thế hơn Sau hơn một năm triển khai đã có hơn 100.000 tổ hợp tác và hơn 1.000 HTX mới được ra đời Theo thống kê chỉ riêng năm 2003 cả nước đã thành lập mới được 1.034 HTX Nhiều văn bản chính sách quy định, luật pháp về phát triển kinh tế hợp tác, HTX tiếp tục được ban hành và sửa đổi Luật HTX đã được Quốc hội thông qua kỳ họp cuối năm 2003 và có hiệu lực chính thức thi hành từ ngày 01/7/2004 các cơ quan Nhà nước đã và đang khẩn trương soạn thảo các văn bản dưới luật để ban hành chính sách theo hướng khuyến khích HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, đảm bảo luật HTX mới được thi hành một cách đồng bộ

2.2.2 Bài học kinh nghiệm của phát triển HTXDVNN Việt Nam

2.2.2.1 Tình hình các HTX trên quốc tế

*Thái Lan

Thái Lan là nước có phong trào HTXNN phát triển mạnh, năm 1916 được lấy làm năm kỷ niệm thành lập HTXNN đầu tiên được ra đời với 16 thành viên tại một vùng là để giúp đỡ những nông dân trang trải được món nợ đối với bọn cho vay nặng lãi và bảo vệ quyền canh tác của nông dân trên mảnh đất mà chủ đất cho thuê

Từ hiệu quả hoạt động của HTXNN này, với sự giúp đỡ của Nhà nước, hai năm sau

đã có trên 60 HTXNN được thành lập ở hầu hết các tỉnh trong cả nước Cùng với sự biến động về kinh tế, nhu cầu chính của cuộc sống, các loại hình HTXNN khác cũng xuất hiện và hoạt động trong cả nước Đến nay, các loại hình HTX vẫn tiếp tục tồn tại, phát triển và ngày càng vững mạnh, trong đó HTXNN là loại hình quan trọng nhất, giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống phong trào HTX ở Thái Lan

Trang 33

Các HTXNN ở Thái Lan được hình thành là do những nông dân tự nguyện liên kết lại với nhau có hoạt động rất đa dạng Một số hoạt động chính của HTX là:

- Cho xã viên vay vốn: Với sự hỗ trợ của chính phủ, ngân hàng nông nghiệp, HTXNN và các tổ chức tín dụng khác, các xã viên đã có thể tiếp cận với các khoản vay dễ dàng hơn với lãi suất thấp và thời hạn phù hợp Các khoản vay được phân loại dưới dạng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Với các khoản vay này giúp các xã viên có thể mua được hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc, mua mới hoặc cải tạo đất đai …

- Nhận tiền gửi tiết kiệm của xã viên: Đây là một trong những hoạt động của HTX bởi vì theo họ tích lũy tiết kiệm có thể giúp cải thiện đời sống của xã viên Các khoản tiền gửi có thể được sử dụng vào mục đích kinh doanh của HTX giúp đem lại lợi nhuận cho cả HTX lẫn xã viên Hiện nay các xã viên có thể gửi các khoản tiết kiệm ở tại HTX của họ

- Thu mua nông sản của xã viên để kinh doanh: cùng với hoạt động tín dụng, HTX cũng thu mua các sản phẩm chất lượng tốt để bán cho các xã viên và bên ngoài Người mua được đảm bảo về giá cả cạnh tranh và số lượng đầy đủ khi họ đặt hàng với số lượng lớn thông qua HTX

- Marketing: cung ứng vật tư, máy móc nông nghiệp, hạt giống cho xã viên: Thông qua hoạt động kinh doanh, các xã viên không chỉ được mua với giá cả tốt mà còn yên tâm về cân đo đong đếm, số lượng, trọng lượng sản phẩm Với sự hỗ trợ của chính phủ, HTX đã thiết lập các trung tâm phân phối sản phẩm không chỉ trong nước mà có cả ở nước ngoài Một trong những sản phẩm đạt được thành công và được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài là chuối Hom Thong không hóa chất

- Cung ứng các loại dịch vụ nông nghiệp cho xã viên: HTX cung cấp cho xã viên các dịch vụ mở rộng và phát triển nông nghiệp với chi phí hợp lý như cải tạo đất đai, tưới

tiêu … dựa trên nguyên tắc chia sẻ chi phí (Liên minh HTX Việt Nam, 2004)

* Nhật Bản

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tổ chức HTX Nhật Bản là nhân tố tích cực góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn định xã hội Nhật Bản có nền công

Trang 34

nghiệp và dịch vụ phát triển nhưng họ vẫn chú trọng vào phát triển nông nghiệp

HTXNN Nhật Bản được đặc trưng bởi hệ thống 3 cấp: các HTXNN cơ sở, các liên hiệp và các liên đoàn quốc gia Các tổ chức HTX cơ sở được tổ chức ở cấp làng, thị trấn và thành phố trực thuộc tỉnh, gồm những thành viên thường xuyên là nông dân

và các thành viên liên kết khác HTXNN có hai loại: HTXNN đa chức năng và HTXNN đơn chức năng HTXNN đa chức năng có nhiệm vụ hoạt động trong sản xuất

và các vật dụng thiết yếu hàng ngày; Cho vay và đầu tư vốn, cung cấp bảo hiểm … HTXNN đơn chức năng hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất cụ thể như chế biến sữa, nuôi gia cầm và các nghề truyền thống khác Ngoài ra còn có chức năng tiếp thị sản phẩm của các xã viên thành viên và cung cấp nguyên liệu sản xuất …

Các HTXDVNN ở Nhật Bản thường tập trung vào cung ứng một số dịch vụ chủ yếu sau:

+ Dịch vụ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp: các HTXNN Nhật Bản cung cấp các yếu tố đầu vào, nhu yếu phẩm cho xã viên với giá cả hợp lý và chất lượng cao + Dịch vụ tiếp thị và tiêu thụ nông sản: khâu tiếp thị và phân phối hàng nông sản thông qua HTXNN Nhật Bản được thực hiện qua các khâu phối hợp cùng vận chuyển, phối hợp lựa chọn sản phẩm, phối hợp tiêu thụ và phối hợp điều chỉnh cung cầu để ổn định giá cả

+ Hoạt động chế biến nông sản: các HTXNN thực hiện chế biến theo ba loại: chế biến và tiêu thụ nông sản; kết hợp sử dụng tập thể các phương tiện chế biến; mua hàng và chế biến

+ Hoạt động tín dụng: Nguyên tắc hoạt động của HTX tín dụng nông nghiệp

là hoạt động tương hỗ, HTXNN huy động vốn từ xã viên có tiền nhàn rỗi rồi cho xã viên có nhu cầu vay để sản xuất

+ Dịch vụ hướng dẫn nhà nông, hỗ trợ đào tạo (chuyển giao các tiến bộ KHKT trong HTX cho hộ xã viên nông dân)

Đội ngũ cố vấn nhà nông, là người hướng dẫn trực tiếp người dân áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như giống mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, quy trình chăm bón, giảm chi phí sản xuất bằng việc khuyến khích người dân tham gia sử dụng các

cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật sản xuất nông nghiệp mới, vật tư đầu vào và

Trang 35

thị trường đầu ra

Để giúp các tổ chức HTX hoạt động, Chính phủ Nhật Bản đã tăng cường xây dựng hệ thống phục vụ xã hội hóa nông nghiệp, coi HTXNN là một trong những hình thức phục vụ xã hội hóa tốt nhất và yêu cầu các cấp, các ngành phải giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho tổ chức này Đồng thời, Chính phủ còn yêu cầu các ngành tài chính, thương nghiệp giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, tư liệu sản xuất … Tuy

nhiên không ảnh hưởng đến tính tự chủ và độc lập của các HTX này (Liên minh HTX Việt Nam, 2000)

Bảng 2.1 Số liệu thống kê HTXNN đa chức năng

Năm HTX NN Số lượng

Số xã viên(1000) Số hộ nông

dân (1000 hộ)

Xã viên chính thức

Hộ xã viên chính thức

Xã viên không chính thức

- Dịch vụ tín dụng ngân hàng: NACF điều hành cả hệ thống ngân hàng nông

Trang 36

nghiệp và các quỹ tín dụng ở HTX Để giúp nông dân có thể vay tiền từ ngân hàng, NACF mở dịch vụ bảo hiểm tín dụng

- Chính sách của chính phủ Hàn Quốc đối với HTXNN:

+ Liên đoàn HTXNN sẽ được miễn tất cả các loại thuế do chính quyền đưa ra + Chính phủ có chính sách cho vay ưu đãi đối với các nhóm nông dân, các khoản hỗ trợ này thông qua hệ thống Ngân hàng nông nghiệp (ví dụ: Chính phủ cho nông dân vay với lãi suất từ 2-3% trong khi các tổ chức khác vay với lãi suất là 10%) và chính sách bảo hiểm xã hội nông nghiệp Ngoài ra, Chính phủ hỗ trợ người dân mua máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là 50% theo giá thị trường khi người nông dân mua xăng, dầu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp được miễn thuế

+ Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn Chính phủ hỗ trợ từ 30-40% tổng kinh phí đầu tư, sau đó bàn giao cho các HTX quản lý HTX mua đất thì Chính phủ ưu đãi thuế là 100%

+ Về bồi dưỡng, đào tạo cán bộ HTX, Chính phủ hỗ trợ theo từng mức thông qua các chương trình của khoa học, như các khóa học về quy trình chuyên môn hóa

về nông nghiệp thì mức hỗ trợ là 90% tổng kinh phí bồi dưỡng, đào tạo với thời

gian bồi dưỡng chuyên môn tối thiểu là 3 tuần và tối đa là 6 tháng … (Liên minh hợp tác xã Việt Nam, 2009)

2.2.2.2 Tình hình các HTX trong nước

* HTXDVNN Dân Chủ - Tỉnh Hòa Bình:

HTXNN Dân Chủ, tỉnh Hoà Bình là HTX toàn xã thành lập từ năm 1966 và được chuyển đổi hoạt động theo Luật HTX năm 1997 HTXDVNN Dân Chủ đã từng bước đi lên trong cơ chế thị trường HTX có một đội ngũ cán bộ trẻ, luôn nắm bắt các thông tin kinh tế trên thị trường để áp dụng vào hoạt động dịch vụ HTX, sản xuất nông nghiệp

Ban chủ nhiệm và các xã viên đã xác định rõ phương hướng tổng quát hoạt động sản xuất kinh doanh của mình là hoạt động đa ngành, trong đó chú trọng các ngành nghề kinh doanh dịch vụ nông nghiệp và kinh doanh tổng hợp Năm 2005,

Trang 37

HTX đã qui hoạch lại vùng sản xuất từ cây lúa không ăn chắc thành vùng có giá trị kinh tế cao như vùng chăn nuôi thuỷ sản 20 ha, khu trồng rau màu 17 ha, diện tích cây lúa 2 vụ 300 ha Nhờ đó kinh tế địa phương ngày càng ổn định và bền vững Để phát triển sản xuất, Ban quản trị HTX đã chỉ đạo kịp thời và đưa ra các giải pháp thích hợp cho sự phát triển HTX, nâng cao chất lượng các dịch vụ như dịch vụ cung ứng vật tư đạt 100% theo nhu cầu xã viên, dịch vụ thuỷ lợi đầu tư tu sửa nâng cấp sửa chữa kênh mương, nâng cấp trạm bơm và đầu tư thêm máy bơm dầu phục vụ cho công tác tưới tiêu; mở rộng thêm dịch vụ bảo vệ thực vật và dịch vụ tín dụng nội bộ nhỏ Các mặt hàng phân bón, giống các loại, thuốc bảo vệ thực vật thuốc thú

y phát triển theo hướng cung đủ cầu giữa HTX với xã viên Năm 2008, HTX đã mở thêm dịch vụ cộng đồng kinh doanh nhà hàng ăn uống theo hình thức góp vốn của

xã viên được 150 triệu đồng Dịch vụ này đã thu được lợi nhuận đáng kể

Xác định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của HTX đối với xã viên, hoạt động HTX phải đa dạng nhiều nội dung hoạt động, tìm ra được những giải pháp mới trong quản lý kinh doanh dịch vụ cho phù hợp với cơ chế thị trường, đảm bảo hài hòa ba lợi ích Nhà nước, HTX và xã viên HTXDVNN Dân Chủ là HTX kiểu mới Cán bộ làm công tác quản lý hợp tác phải năng động trong cơ chế thị trường, hiểu biết chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hiểu biết về mô hình hợp tác kiểu mới hoạt động theo Luật HTX, nắm bắt yêu cầu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, biết tiếp thu những tiến bộ khoa học – công nghệ, nghiên cứu nắm thị trường và khả năng phát triển của địa phương mình cho phù hợp với điều kiện

phát triển HTX (Dương Anh Tiến, 2006)

* HTXDVNN xã Nghĩa Hồng – thành phố Nam Định:

Được thành lập vào tháng 1/1997, HTX Nông nghiệp Nghĩa Hồng huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định, với hoạt động chính là hướng dẫn sản xuất, chuyển giao tiến bộ kĩ thuật mới, tổ chức sản xuất hàng nông sản xuất khẩu và sản xuất kinh doanh dịch vụ tổng hợp Trong những năm qua, HTX Nghĩa Hồng luôn luôn đổi mới tổ chức quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thích ứng với kinh tế thị trường Đã thực hiện thành công chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ

Trang 38

cấu cây trồng, thay đổi tập quán sản xuất lâu đời độc canh 2 vụ lúa, mở ra hướng sản xuất mới trên đồng đất thịt nặng, thường xuyên bị ảnh hưởng mặn, rất khó khăn cho trồng trọt, nay đã đạt năng suất, hiệu quả cao HTX đã đầu tư quy hoạch xác định vùng tập trung sản xuất hàng hóa, vụ chiêm xuân cấy lúa lai cao sản đủ lương thực ăn cho cả năm Vụ mùa và vụ đông phát triển sản xuất hàng hóa trên cơ sở liên

kết hợp đồng cung cấp sản phẩm làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến

Thực hiện chương trình kiên cố các công trình thủy lợi đầu mối, quy hoạch vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bê tông hóa đường bờ vùng HTX có tổ dịch vụ chuyên trách với 62 thủy nông viên được bố trí điều tiết nước đến từng thửa ruộng

Tổ dịch vụ sản xuất giống, gồm 45 hộ xã viên, được quy hoạch gọn vùng chuyên sản xuất giống lúa lai F1 và lúa thuần đảm bảo cung ứng đầy đủ giống tại chỗ cho

xã viên với giá thành hạ và tiêu thụ ra thị trường mỗi năm từ 30 đến 50 tấn giống các loại, mỗi năm thu lãi từ 20 đến 30 triệu đồng

Tổ dịch vụ chuyên làm đất với 54 máy kéo nhỏ được hình thành từ năm 1997 đảm bảo làm đất cho 100% diện tích bằng máy, chủ động cho sản xuất với giá thành làm đất luôn thấp hơn mặt bằng thị trường, tạo điều kiện ứng dụng thâm canh cao

và đổi mới sản xuất Ngoài ra HTX còn hợp đồng làm đất cho các địa bàn lân cận, mỗi năm thu lãi từ 30 đến 50 triệu đồng Mô hình dịch vụ vật tư của HTX hoạt động

có hiệu quả, làm chủ hoàn toàn thị trường khu vực Những năm gần đây thực hiện

QĐ 80 của Thủ tướng Chính phủ, dịch vụ đầu ra của HTX được tăng cường có tính bền vững và ổn định hơn, thông qua các hợp đồng được kí kết trên cơ sở liên kết 4 nhà góp phần mở rộng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao, tạo việc làm cho xã viên, nâng cao đời sống người lao động và tăng thu nhập cho

Hợp tác xã (Dương Anh Tiến, 2006)

*HTXNN tỉnh Đồng Nai

HTXNN tỉnh Đồng Nai lấy gốc là cơ sở ấp xã, phường nhằm dựa vào hình thái phát triển kinh tế xã hội, dân cư, phong tục tập quán để tuyên truyền hướng dẫn (cầm tay chỉ việc) nhằm phù hợp những điều kiện cần và đủ trên nhu cầu thực tế hiện có Đồng thời trên cơ sở vận động những chủ hộ, tiểu chủ, chủ trang trại,

Trang 39

doanh nghiệp đã và đang có tiềm lực về kinh tế, chuyên môn cũng như quản lý tham gia thành lập HTX Tuyên truyền để thành lập HTX và cũng cố HTX yếu kém HTX đi từ thấp đến cao trên cơ sở hợp tác đơn giản, tổ hợp tác, câu lạc bộ năng suất cao Hoạt động có hiệu quả, nông dân thấy nhu cầu phát triển để có pháp nhân, thương hiệu và thị trường, muốn tự nguyện thành lập HTX để sản phẩm của họ có lợi nhuận cao hơn nhằm cạnh tranh sản phẩm khu vực và thế giới

HTX Đồng nai đã phối hợp tốt Sở ban, ngành các tổ chức chính trị xã hội và chính quyền cơ sở nhất là cấp huyện, xã Tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của các ngành để lồng ghép các chương trình dự án phát triển kinh tế-xã hội vào việc xây dựng phát triển HTX như chuyển giao chợ cho HTX quản lý, thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, nước sạch nông thôn, vệ sinh môi trường, cũng như các chính sách hỗ trợ đất văn phòng, đất sản xuất kinh doanh, KH-KT, xây dựng hạ tầng nông thôn, Thực tế những việc được giao, HTX làm tốt như 10 HTX được giao quản lý, kinh doanh chợ đã và đang hoạt động có hiệu quả (các HTX quản lý chợ: HTX Tân Long; HTX TM-DV Lam Sơn; HTXNN tổng hợp Xuân Tân; HTX Thanh Niên; HTXDVNN Phước Khánh; HTX chợ Phúc Nhạc; HTX dịch vụ nông nghiệp Nhân Nghĩa; HTX 26/3; HTX TM-DV An Bình; HTXNN Xuân Đông) Tỉnh Đồng Nai chọn

mô hình thích hợp, xây dựng một hai nhân tố điển hình Từ đó rút kinh nghiệm và nhân rộng điển hình trong từng lĩnh vực như: Quỹ TDND Xuân Trường, HTX TMDV Tân Phú, HTX DVNN Xuân Hưng, HTX TTCN Hố Nai Chú trọng công tác tổ chức bộ máy, chọn cán bộ, xây dựng phương hướng hoạt động, giải quyết việc làm và công tác

xã hội Thường xuyên tổ chức học tập tham quan trong và ngoài nước cho từng lĩnh vực, hoặc từng huyện tạo sự gắn kết giữa chính quyền huyện và HTX đã có hoặc HTX sắp thành lập Rút tỉa những kinh nghiệm mô hình tốt tỉnh bạn, phù hợp hình thái huyện nhà, HTX nhà để xây dựng củng cố và phát triển (vấn đề này Liên minh HTX tỉnh là đầu mối cho các đơn vị) Ví dụ: mô hình rau sạch liên kết Liên minh HTX tỉnh Lâm Đồng cho các HTX chợ và cơ sở thương mại như HTX TM Tân Phú, TM Tân Long; chuyển mô hình HTX nuôi trồng thủy sản ở Liên minh HTX tỉnh Sóc Trăng đến các HTX thủy sản ở Long Thành, Nhơn Trạch…

Trang 40

Thực hiện phong trào thi đua do Liên minh HTX Việt Nam phát động, Liên minh HTX tỉnh Đồng Nai đã phát động thi đua với chuyên đề lồng ghép các ngày lễ lớn cũng như Đại hội nhiệm kỳ, hội nghị HTX điển hình tiên tiến vào ngày quốc tế HTX 1-7 hàng năm, luôn kết hợp chương trình xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và các chương trình xã hội khác Vì luôn xác định HTX ngoài lợi ích kinh tế là lợi ích

xã hội, Liên hiệp HTX DVNNTH Đồng Nai trong 10 tháng đầu năm 2007 đã ủng

hộ chương trình giúp người nghèo trên 2 tỷ đồng, HTX DVNN Long Hưng ủng hộ

200 triệu, quỹ TDND Xuân Trường trên 50 triệu đồng.v.v…

Với chức năng của Liên minh là hỗ trợ, do vậy không thể chờ báo cáo qua

điện thoại từ các HTX mà xác định “sự phát triển của Liên minh là gắn liền với sự phát triển của HTX.” Từ đó, với phương châm hãy đi và đến với HTX thường

xuyên, định kỳ bằng cách đi thực tế (không kể thời gian kể cả ngày nghỉ), hội nghị giao ban chuyên ngành, chuyên đề từng huyện, quý, 6 tháng, 9 tháng, Liên minh HTX luôn là cầu nối giữa HTX và các cơ quan Nhà nước, kịp thời phản ánh, tháo

gỡ, nhằm hỗ trợ những vướng mắc khó khăn kịp thời cho HTX như các chuyên đề đổi mới phương tiện vận chuyển, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu.v.v… Qua những kết quả trên, gần 3 năm qua đã thành lập được 50 HTX, Liên minh HTX củng cố 25 HTX, những HTX thành lập đều đủ chất và lượng như HTX đóng tàu Sà Lan xã viên góp vốn Điều lệ đạt 30 tỷ, HTX DVNN Long Hưng tăng vốn lên

30 tỷ, Liên hiệp HTX DVNNTH Đồng Nai vốn hiện tại 100 tỷ, nhiều HTX đã và đang đầu tư nhiều dự án lớn hàng trăm tỷ đồng Số HTX, Liên hiệp HTX khá giỏi đạt 55%, 35% HTX trung bình, còn 10% yếu kém đang tiến hành củng cố Đa số HTX khá giỏi đều hoạt động đa năng Mở rộng đầu tư sản xuất, thay đổi phương tiện vận chuyển, thiết bị sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường Ngoài ra đào tạo tập huấn cho trên 400 cán bộ quản lý HTX và đào tạo nghề cho 1000 lao động, tư vấn trên 200 lượt HTX như chuyển giao chợ, tư vấn về vốn các dự án phát triển nông thôn v.v…

(Thạch Phú Thành, 2010)

* HTXNN tỉnh Hải Dương

Trong những năm qua, nhất là sau khi có Nghị Quyết số 13 Hội nghị BCH

Ngày đăng: 24/11/2015, 16:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm qua các năm (2011-2013) - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm qua các năm (2011-2013) (Trang 50)
Bảng 3.3.  Kết quả sản xuất nông nghiệp của huyện Gia Lâm  Chỉ tiêu - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 3.3. Kết quả sản xuất nông nghiệp của huyện Gia Lâm Chỉ tiêu (Trang 55)
Bảng 3.4. Giá trị sản xuất các ngành trên địa bàn huyện Gia Lâm - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 3.4. Giá trị sản xuất các ngành trên địa bàn huyện Gia Lâm (Trang 57)
Bảng 4.2. Tình hình tài sản vốn quỹ các HTX DVNN huyện Gia Lâm qua các năm từ 2011 - 2013  T - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.2. Tình hình tài sản vốn quỹ các HTX DVNN huyện Gia Lâm qua các năm từ 2011 - 2013 T (Trang 69)
Bảng 4.5.  Mức thu theo đầu sào/năm đối với xã viên nhiệm kỳ 2010 – 2015  Chỉ tiêu - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.5. Mức thu theo đầu sào/năm đối với xã viên nhiệm kỳ 2010 – 2015 Chỉ tiêu (Trang 73)
Bảng 4.6. Tình hình dịch vụ làm đất của các HTXDVNN trên địa bàn huyện - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.6. Tình hình dịch vụ làm đất của các HTXDVNN trên địa bàn huyện (Trang 75)
Bảng 4.8. Tình hình hoạt động dịch vụ làm đất của các HTXDVNN điều tra - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.8. Tình hình hoạt động dịch vụ làm đất của các HTXDVNN điều tra (Trang 79)
Bảng 4.9.  Kết quả hoạt động dịch vụ làm đất của các HTXDVNN điều tra - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.9. Kết quả hoạt động dịch vụ làm đất của các HTXDVNN điều tra (Trang 81)
Bảng 4.14.  Diện tích và đơn giá dịch vụ tưới tiêu của các HTX điều tra - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.14. Diện tích và đơn giá dịch vụ tưới tiêu của các HTX điều tra (Trang 87)
Bảng 4.15.  Kết quả hoạt động dich vụ tưới tiêu của các HTXDVNN điều tra - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.15. Kết quả hoạt động dich vụ tưới tiêu của các HTXDVNN điều tra (Trang 88)
Bảng 4.16. Tình hình cung ứng vật tư của các HTXDVNN huyện Gia Lâm - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.16. Tình hình cung ứng vật tư của các HTXDVNN huyện Gia Lâm (Trang 89)
Bảng 4.18. Tình hình cung ứng các dịch vụ vật tư nông nghiệp - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.18. Tình hình cung ứng các dịch vụ vật tư nông nghiệp (Trang 93)
Bảng 4.21. Đánh giá của hộ về giá cả dịch  vụ HTX cung ứng - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.21. Đánh giá của hộ về giá cả dịch vụ HTX cung ứng (Trang 102)
Bảng 4.22. Ý kiến đánh giá của hộ nông dân về chất lượng dịch vụ mà HTX cung ứng phục vụ - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.22. Ý kiến đánh giá của hộ nông dân về chất lượng dịch vụ mà HTX cung ứng phục vụ (Trang 104)
Bảng 4.25. Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động - nghiên cứu kết quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện gia lâm – thành phố hà nội
Bảng 4.25. Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm