ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42 3.1 Giới thiệu về huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 42 3.1.3 Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 4.1 Thực trạng cho hộ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ ĐỨC CÔNG
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY PHÙ HỢP VỚI HỘ NÔNG DÂN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HUYỆN LƯƠNG TÀI - TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ ĐỨC CÔNG
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY PHÙ HỢP VỚI HỘ NÔNG DÂN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HUYỆN LƯƠNG TÀI - TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THỊ TÂM
HÀ NỘI, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các nguồn số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa hề được dùng để bảo vệ một học vị khoa học nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lê Đức Công
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
và sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành bản luận văn này
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Tâm là cô giáo trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Kế toán & Quản trị kinh doanh, Bộ môn Kế toán tài chính đã giúp tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lương Tài đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn
Cảm ơn gia đình cùng toàn thể bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lê Đức Công
Trang 5PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC PHƯƠNG
THỨC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG VỚI HỘ NÔNG DÂN 6 2.1 Tín dụng và các phương thức cho vay vốn của Ngân hàng 6 2.1.1 Tín dụng, bản chất và chức năng của tín dụng 6 2.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng với phát triển kinh tế nông nghiệp,
Trang 62.2.1 Phương thức cho vay hộ nông dân của các ngân hàng nước ngoài
2.2.2 Phương thức cho nông dân vay của các ngân hàng Việt Nam 37 2.2.3 Bài học kinh nghiệm về các phương thức cho vay của Ngân hàng
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42 3.1 Giới thiệu về huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh 42
3.1.3 Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
4.1 Thực trạng cho hộ nông dân vay theo các phương thức tại Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lương Tài tỉnh
4.1.1 Khái quát chung về doanh số cho vay theo các phương thức tại
4.1.2 Thực trạng cho hộ nông dân vay theo các phương thức tại
4.1.3 Thực trạng cho hộ nông dân vay theo thời hạn tín dụng của các
phương thức tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Lương Tài 60 4.1.4 Thực trạng cho vay hộ nông dân theo khu vực địa lý của các
phương thức tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Lương Tài 61 4.1.5 Thực trạng cho vay hộ nông dân theo mục đích kinh tế của các
phương thức tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Lương Tài 63
Trang 74.1.6 Khảo sát thực tế sử dụng vốn vay theo các phương thức của hộ
nông dân vay vốn tại NHNo&PTNT Lương Tài 65 4.1.7 Nhận xét chung về sự phù hợp của các phương thức cho hộ nông
4.2 Định hướng - giải pháp nhằm đáp ứng các phương thức cho vay phù
hợp với hộ nông dân tại Ngân hàng NN&PTNN huyện Lương Tài 85 4.2.1 Định hướng của Ngân hàng NN&PTNN huyện Lương Tài 85 4.2.2 Mục tiêu cho vay hộ nông dân của Ngân hàng NN&PTNN huyện
4.2.3 Một số giải pháp nhằm đáp ứng các phương thức vay phù hợp với
hộ nông dân tại Ngân hàng NN&PTNN huyện Lương Tài 86
Trang 9DANH MỤC BẢNG
2.1 Các phương thức cho vay nông nghiệp, nông thôn - tiêu chí
2.2 Ưu nhược điểm của các phương thức vay vốn Ngân hàng 31
3.3 Nguồn vốn huy động tại Ngân hàng NN& PTNT huyện
4.1 Doanh số cho vay theo các phương thức tại NHNo&PTNT
4.10 Kết quả điều tra hộ nông dân về sử dụng vốn theo các phương
4.11 Dòng tiền thu chi của hộ theo các tháng năm 2013 69 4.12 Kết quả thu - chi của hộ vay vốn từng lần cả năm 2013 70 4.13 Dòng tiền thu - chi của hộ khá theo các tháng năm 2013 72
Trang 104.14 Kết quả thu chi của hộ khá năm 2013 73 4.15 Toàn bộ dòng tiền theo quý của hộ gia đình ông Nam năm 2013 74 4.16 Gíá trị tương lai của khoản vay giả định theo phương thức vay
4.17 Ý kiến hộ nông dân về điều kiện vay của các phương thức 77 4.18 Đánh giá của hộ nông dân về sự tiện ích theo từng phương thức
cho vay của Ngân hàng NN& PTNT huyện Lương Tài 78 4.19 Dự kiến cơ cấu giá trị cho vay hộ nông dân theo các phương
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH VÀ HỘP
4.1 Doanh số cho vay theo từng phương thức qua 3 năm 56 4.2 Doanh số hộ nông dân vay theo các phương thức vay 59 4.3 Cơ cấu giá trị cho vay hộ nông dân theo các phương thức vay 59
2.1 Sự hình thành và quá trình vận động của vốn tín dụng 7 3.1 Bộ máy tổ chức của Ngân hàng NN& PTNT Lương Tài 48 4.1 Phương thức tiếp cận khách hàng của Ngân hàng 92
3.1 Vị trí huyện Lương Tài trong tỉnh Băc Ninh 42
1 Tôi chỉ hiểu được cách vay theo món nợ từng lần 79
Trang 12PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Cùng với sự nghiệp đổi mới, nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội không đồng đều đến tất cả các vùng, các nhóm dân cư ở nông thôn Việt Nam đã xây dựng chiến lược quốc gia cho tăng trưởng và phát triển nông thôn cho đến nay đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, tạo được sự đồng thuận trong xã hội, góp phần ổn định chính trị, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế của đất nước Rất nhiều nỗ lực của Chính Phủ, các địa phương, các tổ chức quốc tế đang được tập trung cho nông nghiệp nông thôn, trong đó tín dụng được coi là một trong những giải pháp cơ bản không những ở Việt Nam mà còn nhiều quốc gia đang phát triển khác thực hiện Trong những năm vừa qua, chính sách tín dụng đã có tác dụng
to lớn trong việc phát triển nông thôn, xoá đói giảm nghèo, hơn một nửa số hộ nông dân được vay vốn cho rằng vốn vay có tác dụng tích cực tới thu nhập và nâng cao đời sống
Theo cam kết gia nhập WTO, năm 2010 Việt Nam thực hiện mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ Ngân hàng Điều đó đã căn bản loại được các rào cản tiếp cận thị trường dịch vụ Ngân hàng trong nước cũng như các giới hạn hoạt động Ngân hàng đối với các tổ chức tín dụng nước ngoài Các Ngân hàng thương mại Việt Nam phải trực tiếp đương đầu với sự cạnh tranh của các Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có công nghệ hiện đại, tiềm lực vốn mạnh, cơ chế hoạt động linh hoạt và năng lực của đội ngũ nhân viên cao Trong xu thế hội nhập kinh tế Quốc tế, việc nâng cao chất lượng và tăng cường tiếp cận đối tượng khách hàng là một giải pháp cần thiết mang tính chiến lược Hoạt động Ngân hàng phải cạnh tranh không chỉ diễn ra
Trang 13giữa các Ngân hàng trong nước mà cũng phải cạnh tranh với Ngân hàng nước ngoài
Được coi là lĩnh vực nhạy cảm, là trung tâm tài chính cực kỳ quan trọng, ngành ngân hàng đã có những bước đi thận trọng, đảm bảo nâng cao trình độ, năng lực quản lý, điều hành của ngành đồng thời giữa được vai trò điều tiết, ổn định cho nền kinh tế Có thể nói chưa khi nào ngành ngân hàng Việt Nam đứng trước cơ hội phát triển và thách thức lớn như hiện nay
Trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc rất nhiều vào chính sách đầu tư và dịch
vụ, trong đó các dịch vụ tài chính - tín dụng có ý nghĩa trực tiếp và quan trọng Dịch vụ tín dụng của Ngân hàng đã chú trọng nhiều tới đối tượng khách hàng là các hộ nông dân Dưới con mắt của các nhà ngân hàng, cho vay các hộ nông dân thường có độ rủi ro tương đối cao Tuy nhiên, các hộ nông dân lại được đánh giá là đối tượng khách hàng có tiềm năng lớn hiện nay Trong những năm gần đây Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lương Tài – Bắc Ninh đã không ngừng hoàn thiện và cung ứng nhiều sản phẩm dịch vụ dành riêng cho đối tượng khách hàng này Việc hướng các sản phẩm dịch vụ vào hộ nông dân, đặc biệt là các sản phẩm cho vay hộ nông dân đã đem lại cho các ngân hàng doanh số hoạt động không nhỏ, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại trên thị trường tài chính Trong bất kỳ thời kỳ nào thì hoạt động cho vay vẫn chiếm vị trí quan trọng đối với hệ thống các ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lương Tài – Bắc Ninh nói riêng Do vậy Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lương Tài – Bắc Ninh đã chú trọng đầu tư cả về thị trường sản phẩm và chất lượng kinh doanh
Với xu hướng phát triển mở rộng đối tượng khách hàng, cung cấp các sản phẩm dịch vụ phục vụ nhu cầu các hộ nông dân thì tín dụng ngày càng được sử dụng phổ biến trong nông thôn Trên phương diện vĩ mô, tín dụng tạo
Trang 14ra dòng chuyển vốn vào nông thôn, mặt khác thúc đẩy tăng tốc độ luân chuyển của những nguồn vốn hiện có trong nông thôn theo hướng đạt hiệu quả cao Dưới tác động của các chính sách hiện hành ở nước ta, trong nông thôn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh đã xuất hiện nhiều hộ có nhu cầu vay vốn lớn như các hộ trang trại, các hộ sản xuất hàng hoá, các hộ có ngành nghề dịch vụ,… Các hộ trên không chỉ sử dụng vốn vay từ ngân hàng thương mại
mà có xu hướng sử dụng nhiều nguồn vốn tín dụng trên địa bàn [2]
Trong phạm vi chính sách và thị trường, các hộ nông dân là đối tượng vay vốn được tiếp cận với nhiều tổ chức cho vay và nhiều phương thức cho vay khác nhau Đây là cơ sở để khai thác có hiệu quả các phương thức tín dụng trong nông thôn cũng như tăng tính cạnh tranh trong thị trường tín dụng Điều đó góp phần tạo lãi suất đi vay phù hợp, tiết kiệm chi phí tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong hộ nông dân Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Lương Tài Bắc Ninh đã chú trọng mở rộng đối tượng khách hàng nông dân, mở rộng các phương thức cho vay phù hợp để phục vụ nhu cầu các hộ nông dân vay vốn được thuận lợi, tiết kiệm và hiệu quả
Theo các quy định hiện hành, các đối tượng vay vốn trong nông thôn có thể tiếp cận với nhiều phương thức cho vay: cho vay từng lần; cho vay theo hạn mức tín dụng; cho vay theo dự án đầu tư; cho vay hợp vốn; cho vay trả góp; cho vay theo hạn mức dự phòng; cho vay qua nghiệp vụ thẻ tín dụng; cho vay hạn mức thấu chi; cho vay lưu vụ;…) Trên thực tế trong nông nghiệp, nông thôn mỗi phương thức khác nhau phù hợp cho từng đối tượng vay khác nhau Vì vậy cần nghiên cứu tìm ra những phương thức cho vay phù hợp với hộ nông dân là cần thiết
Đó là các lý do chính chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các phương thức cho vay phù hợp với hộ nông dân tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh”
Trang 15Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:
- Các hộ nông dân có nhu cầu vay vốn trong nông thôn đã thực sự biết khai thác và sử dụng lựa chọn phương thức vay vốn phù hợp trong bối cảnh
có nhiều phương thức vay vốn trên địa bàn hay chưa?
- Các hạn chế trong vay vốn ở mỗi phương thức vay vốn là gì?
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện cho hộ nông dân tiếp cận các phương thức vay sao cho phù hợp với từng loại hộ nông dân chưa?
- Giải pháp nào để phát huy khả năng tiếp cận và sử dụng nhiều phương thức vay vốn đến hộ nông dân một cách phù hợp?
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng các phương thức cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) Lương Tài với hộ nông dân trong thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đáp ứng các
phương thức cho vay phù hợp đến hộ nông dân huyện Lương Tài – Bắc Ninh 1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về các phương thức vay vốn đối với hộ nông dân
- Đánh giá thực trạng và sự phù hợp của các phương thức cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) Lương Tài với hộ nông dân
- Đề xuất giải pháp nhằm đáp ứng các phương thức cho vay phù hợp
đến hộ nông dân huyện Lương Tài – Bắc Ninh
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu về nội dung
- Nghiên cứu các phương thức cho vay đến hộ nông dân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lương Tài – Bắc Ninh
Trang 16- Tập trung xem xét các hộ nông dân tiếp cận được với các phương thức vay vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lương Tài – Bắc Ninh
- Nghiên cứu các phương thức cho vay có ưu thế từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lương Tài – Bắc Ninh phù hợp với các đối tượng đi vay trong hộ nông dân
1.3.2 Phạm vi không gian nghiên cứu
- Trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh
1.3.3 Phạm vi thời gian nghiên cứu
Các nội dung đánh giá chủ yếu nghiên cứu từ 2011 - 2014 Các đề xuất chủ yếu cho những năm 2015- 2020
1.4 Đối tượng nghiên cứu
-Các phương thức vay vốn của các hộ nông dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Trang 17PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG VỚI HỘ NÔNG DÂN 2.1 Tín dụng và các phương thức cho vay vốn của Ngân hàng
Mặc dù có thể diễn giải tín dụng bằng những từ ngữ khác nhau, song chúng ta
có thể hiểu một cách đơn giản nhất, tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi giữa người đi vay và người cho vay
Có thể định nghĩa tín dụng như sau :
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung, các khái niệm đều thể hiện được hai nội dung chủ yếu (Hình 2.1):
- Thứ nhất, người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định
- Thứ hai, người sử dụng cam kết hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá đó cho người sở hữu với một giá trị lớn hơn, phần chênh lệch lớn hơn đó gọi là lợi tức hay tiền lãi [Phan Thị Thu Hà- 2007]
Trang 18Sơ đồ 2.1 Sự hình thành và quá trình vận động của vốn tín dụng
Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay (người sở hữu) và người đi vay (người sử dụng) thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá
Hiện nay, ngân hàng thương mại là người cho vay lớn nhất đối với các tổ chức kinh tế, và dân cư Với tư cách là tổ chức huy động để cho vay, ngân hàng đã góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế, các thương nhân giúp họ có thêm vốn để bổ sung vào hạt động sản xuất kinh doanh, tận dụng được cơ hội làm
ăn tăng lợi nhuận cho chính mình
Là người huy động vốn, ngân hàng sẽ thực hiện việc tìm kiếm, và thu hồi vốn từ các tổ chức kinh tế trên phạm vi toàn xã hội, là người cho vay, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Với vai trò này, tín dụng ngân hàng đó thực hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng yêu cầu của sản xuất xã hội - cơ sở khách quan để hình thành chức năng phân phối lại vốn tiền tệ cuả tín dụng ngân hàng là do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội đó thường xuyên xuất hiện hiện tượng tạm thời thừa vốn ở các tổ chức cá nhân này, trong khi các tổ chức cá nhân khác lại có nhu cầu vốn Hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh do có sự chênh lệch về thời gian, số lượng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả các tổ chức cá nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến hành liên tục Tín dụng thương mại đó không giải quyết được vấn đề này, chỉ có ngân hàng là tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó khi ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay [Nguyễn Đăn Dờn- 2005]
dụng
Người đi vay Người cho vay
Hoàn trả
Trang 19Có ba loại quan hệ chủ yếu trong quan hệ tín dụng ngân hàng, bao gồm:
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với dân cư
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các ngân hàng khác trong, ngoài nước Ngày nay, tín dụng ngân hàng đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, điều tiết và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả của vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường
Tín dụng là một hiện tượng kinh tế nảy sinh trong điều kiện nền sản xuất hàng hoá Sự ra đời và phát triển của tín dụng không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu điều hoà vốn trong xã hội mà còn là một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Có thể thấy thực chất của tín dụng qua một số điểm sau:
Thứ nhất, có sự thoả thuận: sự thoả thuận thể hiện qua lượng vốn vay,
lãi suất hay điều kiện kèm theo, thời hạn vay, mức độ tín nhiệm (sự tin tưởng, chỗ quen biết - xa lạ, lượng thông tin thu thập được) của người cho vay đối với người đi vay sẽ quyết định đến nội dung thoả thuận giữa hai bên
Thứ hai, yếu tố thời gian: khái niệm tín dụng luôn gắn liền với yếu tố
thời gian Sau một khoảng thời gian nhất định người đi vay phải trả cho người cho vay lượng vay ban đầu cùng với thực thi các điều kiện đã thoả thuận Như vậy, yếu tố thời gian gắn với các điều kiện mà bên đi vay có nghĩa vụ phải thực hiện với bên cho vay
Thứ ba, giá trị của khoản vay thay đổi: giá trị của khoản vay sẽ thay
đổi do phụ thuộc vào diễn biến nền kinh tế, phụ thuộc vào điều kiện thoả thuận của hai bên đi vay và cho vay [8]
2.1.1.2 Bản chất của tín dụng
Tín dụng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau, nhưng ở bất
cứ phương thức nào tín dụng cũng biểu hiện ra bên ngoài như là sự vay mượn tạm thời một vật hoặc một số vốn tiền tệ, nhờ vậy mà người ta có thể sử dụng được giá trị của hàng hoá hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trao đổi Để vạch rõ bản
Trang 20chất của tín dụng cần thiết phải nghiên cứu liên hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó với quá trình tái sản xuất
* Sự vận động của tín dụng Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá Quá trình vận động đó được thể hiện qua các giai đoạn sau:+ Thứ nhất: Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hoá được chuyển từ người cho vay sang người đi vay Như vậy khi cho vay, giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, đây là một đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán hàng hoá thôn thường Mác viết “… Trong việc cho vay, chỉ có một bên nhận được giá trị, vì cũng chỉ có một bên nhượng đi giá trị mà thôi”
+ Thứ hai: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để thoả mãn một mục đích nhất định Tuy nhiên người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị
đó, mà chỉ tạm thời sử dụng trong một thời gian nhất định
+ Thứ ba: Sự hoàn trả của tín dụng Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở
về hình thái tiền tệ, thì người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay Như vậy sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu
ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác
* Hoạt động của tín dụng trong phạm vi vĩ mô
Sau năm 1930 lý thuyết cho vay đã được thừa nhận và sử dụng để phân tích hoạt động của tín dụng và lãi suất trong nền kinh tế thị trường Quỹ cho vay được hình thành và vận động giữa các chủ thể tham gia quá trình tái sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông; các tổ chức tài chính - tín dụng; Nhà nước và công dân [Dương Thị Bình Minh-1999]
2.1.1.3 Chức năng của tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thực hiện các chức năng sau:
Trang 21- Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả: Tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và
phân phối lại chúng dưới hình thức cho vay để bổ sung cho các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức có nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng
- Chức năng tiết kiệm tiền mặt: Hoạt động tín dụng phát triển thúc đẩy
việc thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toàn bù trừ giữa các đơn vị kinh
tế Điều này làm giảm đáng kể lượng giấy bạc trong lưu thông, giảm chi phí lưu thông, cho phép Nhà nước điều tiết một cách linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển
- Chức năng kiểm soát các hoạt động kinh tế: Trong quá trình thực hiện
hai chức năng trên, tín dụng có khả năng phản ánh tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế, do đó tín dụng được coi là công cụ quan trọng của Nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược hoạch định phát triển kinh tế Đồng thời tín dụng có thể phản ánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế trong khi thực hiện chức năng tiết kiệm tiền mặt
- Chức năng phân phối lại tài nguyên
Tín dụng là sự vận động của vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác Chính nhờ sự vận động của tín dụng mà các chủ thể vay vốn nhận được một phần tài nguyên của xã hội phục vụ cho sản xuất hoặc tiêu dùng Phân phối tín dụng được thực hiện bằng hai cách:
+ Phân phối trực tiếp: là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa
sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó là kinh doanh và tiêu dùng Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái phiếu của Nhà nước và các công ty
+ Phân phối gián tiếp: Là việc phân phối được thực hiện thông qua các tổ chức trung gian, như ngân hàng, HTX tín dụng, Công ty Tài chính
Trang 22Trong nền kinh tế hiện đại, phân phối vốn tín dụng qua các tổ chức trung gian chiếm vị trí quan trọng nhất Một mặt các tổ chức trung gian tập trung vốn tiền tệ của các doanh nghiệp và cá nhân để làm nguồn vốn cho vay, mặt khác chúng phân phối nguồn vốn đó dưới hình thức cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân và một phần cho kho bạc Nhà nước Giữa phân phối qua tín dụng và phân phối qua Ngân sách có những điểm khác nhau: Đối với tín dụng phân phối trên cơ sở hoàn trả, phân phối vốn liên quan đến thu nhập quốc dân, và tổng sản phẩm xã hội, phân phối chủ yếu cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh Trong khi ngân sách phân phối vốn mang tính chất cấp phát, phân phối chủ yếu liên quan đến thu nhập quốc dân và phân phối chủ yếu cho lĩnh vực phi sản xuất
- Tạo cơ sở để lưu thông dấu hiệu trị giá (tiền không đủ giá)
Trong thời kỳ đầu lưu thông là hoá tệ, nhưng khi các quan hệ tín dụng phát triển, các giấy nợ đó thay thế cho một bộ phận tiền trong lưu thông Lợi dụng đặc điểm này, các ngân hàng đó bắt đầu phát hành tiền giấy vào lưu thông Lúc đầu tiền giấy phát hành trên cơ sở có dự trữ quí kim (vàng), nhưng dần dần tiền giấy phát hành vào lưu thông tách rời với dự trữ vàng của ngân hàng
Như vậy, nhờ hoạt động của tín dụng mà ngân hàng tạo ra tiền phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hoá Tiền tệ do ngân hàng tạo ra gồm:
+ Tiền tệ: Tiền giấy và tiền kim loại không đủ giá trị
+ Bút tệ :
Nhờ vào công cụ nói trên mà tốc độ lưu thông hàng hoá nhanh hơn và do vậy, hàng hoá đi từ hình thức tiền tệ vào sản xuất và ngược lại được thúc đẩy mạnh mẽ hơn Nói cách khác, tín dụng thúc đẩy lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế [10]
2.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Ở nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển đều có tình trạng chung là thiếu vốn, đặc biệt là khu vực nông nghiệp nông thôn Thực tế cho thấy đại bộ phận
số hộ ở khu vực nông thôn có nhu cầu vay vốn cho sản xuất - kinh doanh Chính vì vậy, tín dụng luôn giữ một vị trí đặc biệt trong sự phát triển nông nghiệp và trợ giúp
Trang 23đối với phát triển kinh tế hộ Vai trò tín dụng đối với hộ nông dân được thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, Đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, thúc đẩy kinh tế
nông thôn phát triển Tín dụng cung cấp vốn cho đầu tư thâm canh (mua các yếu tố đầu vào như phân bón, giống, bảo vệ thực vật…) làm tăng sản lượng nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, từ đó làm tăng thu nhập cho
hộ nông dân Tín dụng còn góp phần tạo ra trang thiết bị máy móc, tài sản cố định, năng lực sản xuất cho các hộ Ngoài ra, vốn tín dụng còn là điều kiện để
mở rộng ngành nghề nông thôn, đa dạng hoá nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho những lao động nông thôn
Thứ hai, tín dụng góp phần tác động đến hạch toán kinh tế trong các hộ
sản xuất Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và
có lợi tức Nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng vốn có hiệu quả Sản xuất nông nghiệp vốn thường xem nhẹ công tác hạch toán kinh
tế, vấn đề này xuất phát từ đặc thù của sản xuất nông nghiệp là khó hạch toán
cụ thể từng khoản thu, chi Trong nhiều trường hợp vốn sản xuất là vốn tự có, nhân lực tự có (lao động gia đình) nên vấn đề hạch toán thường bỏ qua các loại chi phí đó, các hộ ít ý thức được rằng phải hạch toán đầy đủ các loại chi phí Tuy nhiên, trong khi sử dụng vốn vay, các hộ sản xuất phải tôn trọng hợp đồng tín dụng, tức là phải đảm bảo hoàn trả nợ vay đúng hạn cùng với các khoản lãi phải trả theo quy định
Bằng các tác động như vậy đòi hỏi các hộ sản xuất phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện để nâng cao thu nhập
Thứ ba, tín dụng thúc đẩy phát triển thị trường tài chính - tín dụng
trong nông thôn Các quan hệ tín dụng phát triển kéo theo sự phát triển của giao lưu hàng hoá, từ đó phát triển các quan hệ giao dịch, mua bán, thuê, góp vốn, tạo ra dòng chuyển vốn từ bên ngoài vào khu vực nông nghiệp, nông
Trang 24thôn và quan trọng hơn là tạo ra sự luân chuyển vốn trong nội bộ vùng nông nghiệp nông thôn Điều đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính nói chung, thị trường vốn tín dụng nói riêng [Lê Hữu Ảnh- 1997]
Trong cơ chế thị trường, TD đã thể hiện rõ các vai trò:
√ Tín dụng ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong tất
cả các thành phần kinh tế để cho các doanh nghiệp, cá nhân vay, góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Vốn là yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động của mỗi tổ chức kinh tế, Khi có đủ vốn ho có thể dễ dàng hơn trong việc thực hiện các kế hoạch đầu
tư sản xuất hay xây dựng cơ bản của mình, ngược lại khi thiếu vốn họ sẽ luôn gặp khó khăn trong các quyết định kinh tế, khi có vốn tạm thời nhàn rỗi ho cũng mất chi phí cơ hội của vốn, trước tình hình đó các doanh nghiệp cần vốn phải tìm kiếm nguồn vốn để bù đắp, những doanh nghiệp có vốn nhàn rỗi lại muốn cho vay Tuy nhiên việc các tổ chức thiếu vốn tìm được chủ thể khác thừa vốn tạm thời trong nền kinh tế là hết sức khó khăn và tốn kém Sự có mặt của tín dụng ngân hàng được coi như là một công cụ để kết nối nhu cầu của người có vốn tạm thời nhàn rỗi và người thiếu vốn Lợi tức đi vay và cho vay của ngân hàng luôn là công cụ điều chỉnh các quan hệ cung cầu vốn tín dụng Nhờ có ngân hàng mà vốn tiền tệ được vận động một cách liên tục, điều đó vừa làm tăng khả năng tích luỹ tư bản của các ngân hàng, vừa thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế nhờ vào nguồn thu từ việc cấp tín dụng của ngân hàng
√ Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển, đặc biệt với các ngành kinh tế mũi nhọn ở nông thôn
Trong nền kinh tế thường tồn tại các ngành có trạng thái phát triển đối lập nhau, một số ngành do có điều kiện thuận lợi và có lịch sử lâu dài có thể phát triển tốt với nhiều thế mạnh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngược lại một số ngành do nhiều nguyên nhân khác nhau nên kém phát triển Trong chiến lược phát triển kinh tế lâu dài của quốc gia, nhiều quốc gia đã thực hiện phân loại những ngành kinh tế mũi nhọn và những ngành kinh tế kếm phát triển để có kế hoạch
Trang 25đầu tư nhằm cân đối lại cơ cấu kinh tế công nghiệp -nông nghiệp - dịch vụ Muốn thực hiện được kế hoạch đó cần phải có vốn Tín dụng ngân hàng góp phần đáp ứng điều đó Ngân hàng cung cấp cho các ngành thực hiện đầu tư theo cả chiều rộng và chiều sâu, hình thành các ngành sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ cấu kinh
tế hợp lý và khai thác triệt để các nguồn lực, điều này thể hiện qua việc cấp tín dụng cho các dự án, chương trình phát triển để khuyến khích đẩy nhanh tốc độ dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn
√ Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả tới sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ, doanh nghiệp cần vốn đầu tư máy móc thiết bị và luôn phải đổi mới công nghệ tín dụng ngân hàng đáp ứng được yêu cầu đó với điều kiện phải hoàn trả cả vốn vay và lãi; nếu vi phạm hợp đồng tín dụng, doanh nghiệp phải chịu phạt như chịu lãi suất nợ quá hạn cao, mất quyền sử dụng tài sản thế chấp do vậy, doanh nghiệp luôn phải nâng cao hiệu quả sản xuất, cạnh tranh trên thị trường để kinh doanh có lãi, thu hồi vốn đầu tư trả
nợ cho ngân hàng [Nguyễn Thị Mùi- 2001]
2.1.3 Đặc điểm chủ yếu của thị trường tín dụng nông thôn
a) Đặc điểm về cung - cầu tín dụng: Do đặc điểm sản xuất nông
nghiệp nông thôn có những đặc thù riêng nên vấn đề về cung, cầu tín dụng khu vực này cũng có những đặc điểm riêng
Cung tín dụng trong khu vực nông thôn được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng được tập trung chủ yếu từ nguồn cung bên ngoài và nguồn cung bên trong khu vực nông nghiệp nông thôn Lượng cung chủ yếu
là nguồn cung bên ngoài nhưng với nguồn này lại gặp phải một vấn đề là hầu hết các tổ chức tín dụng không muốn cung cho nông nghiệp Các lý do là:
Thứ nhất bản chất của sản xuất nông nghiệp thường có thời gian thu hồi vốn
chậm, thị trường đầu ra nhiều biến động làm giảm hiệu qủa đầu tư, dễ bị thâm hụt vốn
Trang 26Thứ hai lĩnh vực cho vay đối với hộ nông dân thường dùng vào sản xuất nông
nghiệp, nuôi trồng, chế biến Các đối tượng này dễ bị ảnh hưởng mạnh của tính thời vụ, thời tiết, dịch bệnh nên rủi ro cao
Nguồn cung bên trong lại bị ảnh hưởng trực tiếp từ đặc thù của sản xuất manh mún, nguồn vốn khó tập trung nên không tạo ra sức mạnh tín dụng
Về cầu: Đối tượng vay vốn của tín dụng nông thôn chủ yếu là các hộ nông dân, không phải là doanh nghiệp Tính chất đặc thù của hộ biểu hiện đầy
đủ tính chất của cầu cho phát triển kinh tế hộ
b) Đặc điểm về chủ thể: Chủ thể trong tín dụng nông nghiệp nông thôn
cũng rất đa dạng Về tổ chức, các chủ thể tín dụng trong hệ thống gồm tổ chức chính thống và không chính thống, bao gồm các đối tượng sau:
* Các ngân hàng nông nghiệp: Đây là các tổ chức thương mại được chuyên môn hoá trong việc cung cấp tín dụng cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn Các ngân hàng này là tổ chức tín dụng chủ yếu trong nông thôn, với tư cách là trung gian tài chính giữa những người tiết kiệm và những người vay vốn [7]
* Hợp tác xã tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân: Đây là tổ chức tín dụng trên địa bàn nông thôn, mang tính chất kinh tế hợp tác Với chức năng là trung gian tài chính, các tổ chức này tham gia vào cả cung và cầu vốn tín dụng trên thị trường nông thôn
* Các tổ chức đa mục tiêu như tổ chức phát triển nông thôn, chương trình dự án hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn của các tổ chức quốc tế như FAO, WB… Trong các chương trình phát triển, các tổ chức này cung vốn tín dụng trong các dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn
* Hợp tác xã nông nghiệp, các tổ chức đoàn thể và các hiệp hội trong nông thôn: Các tổ chức này là người cho vay cuối cùng tới người nông dân trong cơ chế phân phát tín dụng, là người bảo lãnh, tín chấp cho các hộ nghèo vay vốn ở các tổ chức tín dụng chính thống
Trang 27* Các tổ chức tín dụng dân gian: Bao gồm các hoạt động cho vay cá nhân, chủ kinh doanh, chủ tiệm cầm đồ trên địa bàn nông thôn, các hình thức tín dụng anh em, họ hàng, hụi họ… Các chủ thể này hoạt động mang tính chất phi chính thống, tham gia vào thị trường vốn tín dụng nông thôn trên phương diện vừa là người cung, vừa là ngươi cầu
* Các loại khác như các loại cho vay từ các nguồn vốn có nguồn từ ngân sách thông qua các đoàn thể chính trị xã hội trong nông thôn…
Như vậy, tín dụng nông thôn luôn gắn liền với sự tồn tại nhiều tổ chức, nhiều chủ thể tín dụng Mặt khác, lại rất phong phú về phương thức cho vay, nhất là các phương thức truyền thống của tín dụng phi chính thống [5]
c) Đặc điểm về đối tượng tín dụng: Người sử dụng vốn vay trong nông
thôn chủ yếu là các hộ sản xuất kinh doanh, trong đó phần lớn là các hộ nông dân Hoạt động của kinh tế hộ có những đặc điểm khác với kinh tế doanh nghiệp Chính vì vậy, quan hệ tín dụng xác định đối tượng tín dụng nông nghiệp nông thôn là tín dụng cho sản xuất và tín dụng cho tiêu dùng Sản xuất nông nghiệp thường mang tính thời vụ, không liên tục, do vậy nhu cầu về vốn cho sản xuất nông nghiệp cũng không mang tính liên tục, có lúc cần tập trung rất nhiều vốn trong thời gian ngắn, khi lại không cần đến sự hỗ trợ của vốn vay trong thời gian dài Còn tín dụng cho tiêu dùng lại chỉ có thể phát huy vai trò trong những trường hợp thật khẩn cấp như: ốm, thiếu đói, các phát sinh bất thường, nặng lãi…
d) Đặc điểm về tác động của chủ thể tín dụng: Tín dụng nông thôn
thường gắn với các chính sách xã hội và các tác động phi thị trường Có nhiều
tổ chức tín dụng nông thôn được thành lập như: Ngân hàng nông dân, Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn, Ngân hàng chính sách, và các quỹ tín dụng… Các tổ chức này cung cấp các khoản vay cho nông dân, cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn nông thôn với nhiều chế độ, chính sách
ưu đãi như hỗ trợ giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu và các thiết bị phù hợp
để thâm canh, đặc biệt là vấn đề trợ giúp tín dụng lãi suất thấp
Trang 28Ngoài ra, do sản xuất nông nghiệp mang tính chất bấp bênh, một số khoản vay được sử dụng không có hiệu quả, hoặc một số đối tượng quá khó khăn trong việc chi trả dẫn đến một số khoản nợ trong tín dụng nông nghiệp, nông thôn được khoanh nợ, xoá nợ Những vấn đề đó tạo ra ảnh hưởng xấu tới môi trường tín dụng [Kim Thị Dung-1999]
2.1.4 Lãi suất tín dụng
2.1.4.1 Lãi suất tín dụng
Lãi suất tín dụng là nội dung cốt lõi của tín dụng nói chung và chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn nói riêng Trên cơ sở cung, cầu của vốn tín dụng mà lãi suất được hình thành
Lãi suất tín dụng được coi là giá cả của vốn tín dụng - một loại giá đặc biệt đối với hàng hoá đặc biệt Cũng như bất kỳ hình thức giá cả nào trong kinh tế thị trường, lãi suất tín dụng có nhiều hình thức biểu hiện theo yêu cầu giao dịch và theo các điều kiện khác nhau Các biểu hiện về giá cũng phát triển theo các mức độ giao dịch Có thể quy về 2 dạng giao dịch cơ bản:
Loại thông thường: đối với mỗi loại giao dịch, cung - cầu tín dụng
được xác lập và quyết định căn cứ theo đối tượng của giao dịch, khối lượng giao dịch, chủ thể giao dịch và vai trò của tác nhân trong hệ thống giao dịch
Ở đây, món nợ tín dụng có “giá cả” giống như giá cả hàng hoá thông thường:
có giá bán buôn - bán lẻ; giá bán cho đối tượng quen biết - không quen biết; giá cho loại hàng (ngoại tệ - nội tệ); giá trả ngay - trả góp…
Loại đặc biệt: là những loại mà thị trường hàng hoá thông thường
không có hoặc không phổ biến: do vốn tín dụng đưa vào giao dịch là hàng hoá
“quyền sử dụng vốn” nên ở đây không có sự chuyển đổi sở hữu như hàng hoá thông thường Do vậy các loại giao dịch có tính đặc biệt về giá của cung - cầu
tín dụng thể hiện ở “giá tín dụng” (lãi suất) theo thời hạn tín dụng; “giá” theo mức độ an toàn của tín dụng (tín chấp - thế chấp); “giá” theo mức chấp nhận rủi ro của tín dụng; “giá” theo trả trước - trả sau; “giá” cố định hay thay đổi
Trang 29theo thời gian; “giá” danh nghĩa hay theo giá trị thực; “giá” theo cách tính đơn hay tính kép; “giá” tỷ lệ hay tương đương…[Lê Hữu Ảnh -1997]
Việc hình thành nhiều dạng giao dịch của công cụ hàng hoá đặc biệt dẫn đến hình thành nhiều “giá cả” lãi suất khác nhau Chính vì thế, tín dụng xuất hiện nhiều loại giá hơn giá của hàng hoá thông thường Sự đa dạng của lãi suất tín dụng làm cho tín dụng nói chung, tín dụng nông nghiệp, nông thôn nói riêng có sự phức tạp về loại hình, phong phú đa dạng về phương thức Bên cạnh tín dụng thương mại, tín dụng truyền thống cũng phát triển mạnh càng làm cho các phương thức tín dụng đồng thời tồn tại tính châấ địa phương, bản địa rất phức tạp Vì thế, nghiên cứu tín dụng nông nghiệp, nông thôn thường gắn liền với các nội dung đặc thù mang bản sắc địa phương rõ rệt (dân tộc, thống văn hoá, nét riêng biệt về giữ và kế thừa của cải và tài sản…)
2.1.4.2 Các loại lãi suất tín dụng
Trong thực tế, để hiểu về tín dụng một cách đầy đủ, chỉ cần hiểu các nguyên tắc cơ bản của lãi suất tín dụng Từ đó có thể nhận dạng hoặc xác định các giá trị về lãi suất để so sánh giữa chúng và để tìm ra các quyết định tốt nhất cho mình
Khi phân loại tổng quát lãi suất phải căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau Trong thực tế, do các mục tiêu khác nhau nên lãi suất được phân biệt theo nhiều cách khác nhau Sau đây là ba cách phân loại thể hiện biến thái của lãi suất thường dùng trong thực tế
Lãi suất tính đơn và lãi suất tính kép (tính ghép hay tính gộp)
Việc tính lãi suất theo lãi đơn hay lãi kép làm thay đổi số tiền tích luỹ theo thời gian hay nói cách khách là thay đổi độ “giãn nở” của số tiền theo thời gian so với số tiền ban đầu
Số tiền thay đổi thông qua cách tính lãi suất theo phương pháp tính đơn
là một hàm tuyến tính (đường thẳng), còn sự thay đổi số tiền trong lãi suất tính kép là một hàm luỹ thừa (phi tuyến) Tuỳ theo các phương thức cụ thể mà
Trang 30trong tín dụng có thể áp dụng các cách tính lãi suất khác nhau Đây là kiểu phân loại theo cách tính của lãi suất [1]
- Lãi suất tính đơn (simple interest rate) là lãi suất tính trên cơ sở tiền lãi của các chu kỳ tính lãi trước không nhập vào vốn để tính cho chu kỳ sau
Vốn C0 trong n chu kỳ (Cn) tính vào lãi suất đơn id: Cn= C0 (1+id x n)
- Lãi suất tính kép (compund interest rate) là lãi suất tính trên cơ sở tiền lãi các chu kỳ trước được nhập vào vốn để tính tích luỹ cho chu kỳ sau
Vốn Co trong n chu kỳ (Cn) tính lãi với lãi suất ik: Cn = C0 (1 + ik)n
Lãi suất tỷ lệ và lãi suất tương đương
Đây là cách so sánh lãi suất giữa các chu kỳ với thời gian tính lãi khác nhau
- Hai lãi suất ứng với hai chu kỳ thời gian tính lãi khác nhau được gọi
là tỷ lệ khi tỷ số của chúng bằng tỷ số 2 chu kỳ thời gian tương ứng
- Hai lãi suất ứng với các chu kỳ tính lãi khác nhau được gọi là tương đương với nhau khi với cùng thời gian cùng số tiền ban đầu và tính theo lãi kép thì sẽ có giá trị tương lai như nhau
Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa
- Lãi suất danh nghĩa là lãi suất thể hiện trên quy ước giấy tờ chưa loại trừ biến động giá trị do lạm phát
- Lãi suất thực tế là lãi suất thực hưởng đã loại trừ lạm phát
Như vậy, các cách tính trên trong thực tế nhằm phân biệt lãi suất theo các phạm vi nghiên cứu và tính toán tuỳ theo mục đích của chúng Tuỳ mục đích nghiên cứu để có các cách tính toán phù hợp
Khi thực hiện các giao dịch tín dụng, người ta có các cách khác nhau
Sự khác nhau đó thông qua cách thức tính toán, quy định sử dụng lãi suất và tính chuyển nhượng của các công cụ giao dịch tín dụng Để tạo ra sự linh hoạt trong tín dụng, người ta làm cho các công cụ trở nên phong phú và tiện lợi trong sử dụng
Trang 31Thứ hai, các loại lãi suất trong thực tiễn rất phong phú và đa dạng Tuy
nhiên, có thể quy về một số dạng cơ bản trong đo lường để dễ nhận biết hoặc vận dụng trong các trường hợp cụ thể Từ dạng cơ bản này, các công cụ tín dụng có sự biểu hiện khác nhau tuỳ theo các phương thức khác nhau Sau đây
là 4 thước đo cơ bản của các công cụ tín dụng [Nguyễn Đăng Dờn- 2005]
Vay đơn (simple loan): người vay nhận được một khoản tiền vốn (vốn
gốc) và phải trả vào ngày mãn hạn một khoản tiền gọi là tiền lãi Các khoản vay thương mại thường áp dụng loại này
Vay trả cố định (fixed payment loan): người vay nhận được tiền vay và
phải hoàn trả bằng những khoản tiền bằng nhau mỗi lần trả (chẳng hạn mỗi tháng, mỗi năm ), bao gồm một phần tiền vốn gốc và tiền lãi
Vay trả cố định trong dân gian thường gọi là trả góp được áp dụng rộng rãi cho nhiều loại tín dụng cũng như cho nhiều cách thức mua bán hàng, chúng có tác dụng rất to lớn trong các loại giao dịch ở nông thôn
Vay kiểu trái phiếu coupon (coupon bonds): trái phiếu coupon thanh
toán cho người sở hữu trái phiếu đó một khoản tiền lãi cố định gọi là tiền lãi coupon (CI: coupon interst) đều đặn mỗi kỳ (chẳng hạn mỗi tháng, mỗi năm, ) trong n kỳ Khoản tiền được thanh toán khi mãn hạn gọi là mệnh giá coupon (VF: face value) Trái phiếu coupon thường quy định trước mức lãi suất cố định (rC: coupon rate) để tính CI thanh toán mỗi kỳ Trên thị trường, trái phiếu coupon có giá thay đổi theo giá thị trường (VM: market value)
Vay kiểu trái phiếu chiết khấu (discount bonds): trái phiếu chiết khấu
được bán với giá trị thường (VM) thấp hơn mệnh giá (VF: face value) tuỳ theo mức chiết khấu VF được thanh toán khi mãn hạn Trái phiếu chiết khấu không phải thanh toán tiền lãi
Bốn thước đo trên về cơ bản đã thể hiện được nội dung cơ bản của lãi suất tín dụng được thanh toán theo nhiều cách thức khác nhau và từ đó có thể
có rất nhiều biến thể trên nền của 4 thước đo cơ bản đó Điều đó làm cho lãi suất tín dụng trên thực tế vốn đã phức tạp lại càng thêm đa dạng phong phú và luôn được vận dụng theo cách hiểu cũng như các đặc điểm địa phương
Trang 322.1.5 Các phương thức cho vay tại ngân hàng hiện nay
2.1.5.1 Khái quát các phương thức cho vay của Ngân hàng
Phương thức cho vay thường được gọi trong thực tế thực chất là phương pháp và cách tính cụ thể của việc cho vay theo các cách trả nợ và tính lãi khác nhau Mỗi phương thức được xem như một cách vay - trả với lãi suất thoả thuận trong vay trả tương ứng Do sự phức tạp của lãi suất tín dụng mà trong thực tế phương thức cho vay rất phù hợp Đó là nguyên nhân của sự hình thành đa dạng các phương thức và cũng chính là "sự bản địa hoá" các loại phương thức theo tập quán của địa phương của mỗi vùng miền [16] Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (ban hành kèm theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 31/12/2001), Quyết định số 28/2002/QĐ-NHNN ngày 11/01/2002; Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/03/2005 và Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/05/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam về sửa đổi bổ sung một số điều của QĐ số 1627/2001QĐ-NHNN Tại Quy định cho vay đối với khách hàng, theo Trên cơ sở đó, NHNo&PTNT Việt Nam ban hành Quyết định 72/QĐ-HĐQT-TD ngày 31/3/2002 [2] về 9 phương thức cho vay thống nhất trong toàn hệ thống Quyết định số 666/QĐ-HĐQT-TDHo, ngày 15/06/2010, của Hội đồng quản trị NHNo & PTNT Việt Nam V/v Ban hành Quy định cho vay đối với khách hàng trong hệ thồng Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam gồm:
1 Phương thức cho vay từng lần
2 Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng
3 Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
4 Phương thức cho vay theo dự án đầu tư
5 Phương thức cho vay trả góp
6 Phương thức cho vay hợp vốn
7 Phương thức cho vay thấu chi
8 Phương thức cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
9 Phương thức cho vay lưu vụ
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
Bảng 2.1 Các phương thức cho vay nông nghiệp, nông thôn - tiêu chí phân biệt Phương
Mỗi lần vay khách hàng và NH phải vay lập thủ tục vay vốn theo quy định và kí hợp đồng tín dụng (HĐTD)
Lãi suất theo thoả thuận Trả lãi theo tháng hoặc quý Trả vốn một lần khi đáo hạn
Áp dụng tại các tổ chức tín dụng
NH tiến hành thẩm định và xác định HMTD và thời gian hiệu lực của hợp đồng tín dụng Mỗi lần rút vốn sau khách hàng chỉ cần lập giấy nhận nợ kèm theo các chứng từ về mục đích sử dụng vốn
Thời hạn phù hợp với chu kì SXKD
Được rút vốn nhiều lần, được bảo lãnh thanh toán, mở L/C trong phạm vi HMTD và trong thời gian hiệu lực của hạn mức Vốn được hoàn trả một hoặc nhiều lần, lãi trả hàng tháng, hàng quý
Áp dụng tại các tổ chức tín dụng
3 Vay theo
dự án đầu tư
Trung hạn và dài hạn
NH cùng khách hàng ký HĐTD và thoả thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian của dự án Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng lập giấy nhận nợ trong phạm vi mức vốn thoả thuận, kèm chứng từ hợp pháp
NH thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án Phân định các kỳ hạn trả nợ
Áp dụng tại các tổ chức tín dụng
4 Vay theo
phòng
Ngắn hạn
NH và khách hàng thoả thuận vay theo HMTD dự phòng, thời hạn hiệu lực của HMTD dự phòng,
NH đảm bảo sẽ cho vay trong những trường hợp khẩn cấp
Mức phí cam kết cho HMTD dự phòng thường rất cao Nếu không sử dụng hoặc
sử dụng không hết hạn mức thì khách hàng vẫn phải trả phí cam kết
Áp dụng tại các tổ chức tín dụng
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23
Khách hàng phải xin cấp thẻ tại các đại lý thẻ tín dụng Khách hàng sẽ được sử dụng số vốn vay trong phạm vi HMTD Số tiền thanh toán sẽ được ghi vào tài khoản cho vay và được tính lãi
Lãi suất sử dụng thẻ tín dụng khá cao
Cuối mỗi kỳ theo thoả thuận khách hàng phải nộp tiền thanh toán cho khản vay
đó
Áp dụng tại các chi nhánh cấp I hoặc các ngân hàng ở các đô thị phát triển
6 Vay theo
hạn mức thấu
chi
Ngắn hạn
Khách hàng phải làm đơn xin thấu chi NH sẽ xem xét nếu đủ điều kiện sẽ cho khách hàng một thời gian thấu chi và một hạn mức thấu chi
Khách hàng sẽ được sử dụng vượt số tiền trong TK nhưng không quá hạn mức thấu chi Cuối kì phải nộp đủ vào
TK và trả lãi suất cho số chi vượt Lãi suất thấu chi khá cao
Áp dụng tại các chi nhánh cấp I hoặc các ngân hàng ở các đô thị phát triển
7 Vay hợp
vốn
Trung hạn và dài hạn
Một nhóm tổ chức tín dụng (TCTD) cùng cho vay đối với một dự án vay vốn của khách hàng (trong
đó có một TCTD làm đầu mối phối hợp với các TCTD khác)
Lãi suất theo thoả thuận Áp dụng tại các ngân
hàng lớn
8 Vay trả
góp
Ngắn hạn, trung hạn
Khách hàng và ngân hàng thoả thuận về điều kiện vay vốn và số vốn được vay Doanh số vay thường
là nhỏ
Lãi tiền vay phải trả và số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kì hạn trong thời hạn cho vay
Áp dụng tại tất cả các TCTD (thường qua các hội đoàn thể trong nông thôn)
9 Vay lưu vụ Phải có 2 vụ liền kề, dự án đang phát huy hiệu quả
và trả đủ số lãi của HDTD trước
Lãi suất như lãi suất vụ trước Áp dụng tại các vùng
chuyên canh cây ngắn ngày có 2 vụ liền kề
(Nguồn: Tổng hợp từ các nội dung của QĐ 72/HĐQT-TD [2])
Trang 352.1.5.2 Nội dung của các phương thức cho vay nông nghiệp, nông thôn
a)Phương thức cho vay từng lần (cho vay theo món nợ)
Phương thức cho vay từng lần là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và NHNo&PTNT đều làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
Đối tượng áp dụng
- Khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên
- Cho vay vốn lưu động, cho vay bù đắp thiếu hụt tài chính tạm thời, cho vay bắc cầu, vay hỗ trợ triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học, công nghệ, cho vay tiêu dùng trong dân cư (thời gian cho vay dưới 12 tháng)
Xác định số tiền cho vay
Số tiền cho vay = Tổng nhu cầu vốn của dự án - vốn chủ sở hữu (hoặc vốn tự có) - vốn khác (nếu có)
Lập Giấy nhận nợ
Mỗi hợp đồng tín dụng có thể phát tiền vay một hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng Mỗi lần nhận tiền
vay khách hàng phải lập Giấy nhận nợ trên đó phải ghi thời hạn cho vay cụ thể,
đảm bảo không vượt so với thời hạn cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng Tổng
số tiền cho vay trên các giấy nhận nợ không được vượt quá số tiền đã ký trong hợp đồng tín dụng
b)Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng là phương thức cho vay mà NHNo&PTNT Việt Nam và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
Đối tượng áp dụng
- Khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên
- Khách hàng vay có đặc điểm sản xuất kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần
Trang 36Xác định thời hạn cho vay
- Căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng để xác định thời hạn cho vay và ghi vào hợp đồng tín dụng và từng giấy nhận nợ
- Trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng được rút vốn phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế nhưng phải đảm bảo không được vượt quá hạn mức tín dụng đã ký kết Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng phai lập giấy nhận nợ với ngân hàng, kèm theo: bảng kê các chứng từ sử dụng tiền vay
và các giấy tờ liên quan đến sử dụng tiền vay NHNo&PTNT Việt Nam kiểm tra các tài liệu trên đảm bảo phù hợp với nội dung sử dụng vốn vay theo các điều khoản đã ghi trong hợp đồng tín dụng và ký vào giấy nhận nợ của khách hàng
Tăng hạn mức tín dụng
Trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng có nhu cầu điều chỉnh tăng hạn mức tín dụng để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh dịch vụ, khi đó khách hàng phải có văn bản đề nghị và NHNo&PTNT xem xét, nếu thấy hợp lý thì chấp thuận điều chỉnh hạn mức tín dụng và cùng khách hàng ký phụ lục bổ sung hợp đồng tín dụng
Ký kết hợp đồng tín dụng mới
- Trước 10 ngày khi hạn mức tín dụng cũ hết hiệu lực, khách hàng vay vốn gửi đến NHNo&PTNT các giấy tờ sau:
2 Giấy đề nghị vay vốn
3 Báo cáo về tình hình sản xuất, kinh doanh, khả năng tài chính
4 Phương án sản xuất, kinh doanh kỳ tiếp theo
- Căn cứ vào hồ sơ vay vốn của khách hàng, NHNo&PTNT Việt Nam thẩm định để quyết định cho vay tiếp và ký kết hợp đồng tín dụng theo hạn mức tín dụng mới khi kết thúc thời hạn duy trì hạn mức tín dụng cũ
- Hạn mức tín dụng mới bao gồm cả dư nợ thực tế của hợp đồng tín dụng
cũ chuyển sang (nếu có) Trong trường hợp hạn mức tín dụng mới thấp hơn số
dư nợ thực tế của hợp đồng tín dụng cũ chuyển sang thì khách hàng và ngân hàng phải xác định thời hạn giảm thấp dư nợ cũ theo hạn mức tín dụng mới và
Trang 37ghi vào hợp đồng tín dụng Thời hạn giảm thấp dư nợ cũ không được vượt quá một chu kỳ sản xuất kinh doanh của đối tượng vay vốn Khi khách hàng giảm dư
nợ thấp hơn hạn mức tín dụng hiện tại thì mới được vay tiếp theo Hợp đồng tín dụng mới [14]
c) Phương thức cho vay theo dự án đầu tư
Xác định số tiền cho vay
Số tiền cho vay - Tổng mức đầu tư của dự án - Vốn chủ sở hữu (hoặc vốn
tự có) - Nguồn vốn huy động khác
Căn cứ để phát tiền vay
- Hợp đồng tín dụng
- Hợp đồng và chứng từ cung ứng vật tư, thiết bị, công nghệ, dịch vụ,…
- Biên bản xác nhận giá trị khối lượng công trình hoàn thành (đã được nghiệm thu từng hạng mục hoặc toàn bộ công trình) hoặc các văn bản xác nhận tiến độ thực hiện dự án
Mỗi lần nhận tiền vay khách hàng phải ký giấy nhận nợ
Trong trường hợp thời gian chưa vay được vốn ngân hàng, khách hàng đã dùng nguồn vốn huy động tạm thời khác để chi phí theo dự án được duyệt thì NHNo&PTNT có thể xem xét cho vay bù đắp nguồn vốn đó trên cơ sở phải có chứng từ pháp lý chứng minh rõ nguồn vốn đã sử dụng trước
Trường hợp hết thời gian giải ngân theo lịch đã thoả thuận ban đầu mà
khách hàng chưa sử dụng hết mức vốn vay ghi trong hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng đề nghị thì NHNo&PTNT xem xét có thể thoả thuận và ký kết bổ sung hợp đồng tín dụng tiếp tục phát tiền vay phù hợp với tiến độ thi công cụ thể
Trang 38NHNo&PTNT và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng mức phí cam kết sử dụng tiền vay trong trường hợp khách hàng không sử dụng hết mức vốn vay đã thoả thuận
Xác định thời gian ân hạn và định kỳ hạn trả nợ
Thời gian ân hạn: NHNo&PTNT có thể thoả thuận với khách hàng về
thời gian ân hạn của dự án đầu tư Trường hợp trong quá trình thực hiện XDCB của dự án vì nguyên nhân khách quan khách hàng không thể thực hiện đúng thời gian ân hạn đã thoả thuận, NHNo&PTNT Việt Nam có thể xem xét và điều chỉnh thời gian ân hạn phù hợp với tình hình thực tế
Định kỳ hạn trả nợ
Khách hàng rút hết vốn trong thời gian ân hạn:
Căn cứ vào số tiền khách hàng đã nhận nợ, ngày bắt đầu nhận nợ và các điều khoản đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng, NHNo&PTNT ký phụ lục hợp đồng tín dụng xác định lịch trả nợ chi tiết cho số tiền vay đã rút, cụ thể: thời gian của 1 kỳ hạn trả nợ, số kỳ hạn trả nợ, số tiền phải trả của từng kỳ hạn nợ
Thời gian ân hạn hết nhưng khách hàng chưa rút hết vốn:
Ngay sau khi hết thời gian ân hạn, căn cứ vào số tiền khách hàng đã nhận
nợ, ngày bắt đầu nhận nợ, tiến độ thực hiện dự án và các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, NHNo&PTNT ký phục lục hợp đồng tín dụng xác định lịch trả nợ chi tiết cho số tiền vay đã rút, cụ thể: thời gian của 1 kỳ hạn trả nợ, số kỳ hạn trả nợ, số tiền phải trả của từng kỳ hạn nợ
Khi khách hàng tiếp tục rút hết vốn, căn cứ vào số tiền nhận nợ tiếp theo, NHNo&PTNT phân bổ cho các kỳ hạn trả nợ còn lại và ký phục lục hợp đồng tín dụng sửa đổi lịch trả nợ chi tiết cho phần dư nợ hiện có và các kỳ hạn còn phải trả nợ
d)Phương thức cho vay trả góp
Phương thức cho vay trả góp là phương thức mà NHNo&PTNT và khách hàng xác định và thoả thuận số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia
Trang 39ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay Hợp đồng tín dụng phải ghi rõ: các kỳ hạn trả nợ, số tiền trả nợ ở mỗi kỳ hạn gồm cả gốc và lãi
Đối tượng áp dụng: Khách hàng vay có phương án trả nợ gốc và lãi vay
khả thi bằng các khoản thu nhập chắc chắn, ổn định
Cách tính số tiền gốc và lãi phải trả cho mỗi kỳ hạn
Phương pháp 1:
i) Cách tính số tiền phải trả nợ của một kỳ hạn:
Với số tiền vay là K, lãi suất i, số kỳ hạn trả nợ là n, a là mức phải trả từng kỳ hạn, khi đó
1 (1 ) n
Ki a
i −
=
ii) Cách tính lãi phải trả của một kỳ hạn nợ:
Lãi phải trả của một kỳ hạn nợ (b) = Dư nợ đầu kỳ * LS tháng * Số ngày
1 kỳ/30
iii) Tính gốc phải trả của một kỳ hạn nợ:
Lãi phải trả trong kỳ = a - b
Phương pháp 2:
(i) Cách tính số tiền gốc phải trả từng kỳ hạn:
Với số tiền vay ban đầu K, i là lãi suất cho vay theo tháng, số kỳ hạn trả
nợ là n, a là số tiền gốc phải trả từng kỳ hạn, khi đó a K
n
=
(ii) Cách tính lãi phải trả của từng thời kỳ hạn nợ:
Số lãi phải trả kỳ = Dư nợ đầu kỳ (Kn) * Lãi suất tháng * Số ngày từng kỳ/30, trong đó: Số dư đầu kỳ của kỳ tính lãi Kn - a(n-1)
e)Phương thức cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
NHNo&PTNT chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt đại lý của NHNo&PTNT
Trang 40NHNo&PTNT sẽ có quy định và hướng dẫn cụ thể việc phát hành thẻ tín dụng, quy định sử dụng thẻ tín dụng, thanh toán nợ và lãi khi thẻ tín dụng đến hạn, xử lý vi phạm về sử dụng thẻ tín dụng về thanh toán nợ và lãi không đúng hạn đối với khách hàng [21]
g) Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
- NHNo&PTNT cam kết bảo đảm sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dự án
- Ngoài việc thực hiện các quy định như phương thức cho vay theo dự án đầu tư, NHNo&PTNT và khách hàng thoả thuận những nội dung sau:
+ Thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng
+ Phí cam kết rút vốn vay cho hạn mức tín dụng dự phòng: trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, nếu khách hàng không sử dụng hoặc sử dụng không hết hạn mức tín dụng dự phòng, khách hàng vẫn phải trả phí cam kết tính cho hạn mức tín dụng dự phòng đó Mức phí cam kết nằm trong biểu phí do Tổng Giám đốc NHNo&PTNT quy định từng thời kỳ
- Hạn mức tín dụng, thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng và mức phí cho hạn mức tín dụng dự phòng được ghi trong hợp đồng tín dụng Căn
cứ vào đó, NHNo&PTNT thông báo với khách hàng hạn mức tín dụng dự phòng được mở Mỗi lần rút tiền vay trong hạn mức tín dụng dự phòng, khách hàng lập giấy nhận nợ kèm theo các chứng từ cần thiết gửi NHNo&PTNT
- Chi nhánh có nhu cầu mở hạn mức tín dụng dự phòng cho khách hàng phải trình Tổng Giám đốc NHNo&PTNT xem xét quyết định
h)Phương thức cho vay hợp vốn (đồng tài trợ)
Phương thức cho vay đồng tài trợ là phương thức cho vay mà NHNo&PTNT cùng cho vay trong một nhóm các Tổ chức tín dụng (TCTD) đối với một dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó NHNo&PTNT hoặc một TCTD đứng ra làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác