1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội

143 495 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền các cấp của Nhà nước ta; và là cấp trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối chính trị, chính sách của Đảng, Pháp l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LƯU THỊ NGỌC YẾN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP

XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LƯU THỊ NGỌC YẾN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP

XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

MÃ SỐ: 60.62.01.15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN PHÚC THỌ

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

- Tôi xin cam đoan rằng mọi sự cộng tác, giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2014

Tác giả luận văn

Lưu Thị Ngọc Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp

đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể

Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và chính sách đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Phúc Thọ đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Gia Lâm, Phòng Nội vụ huyện Gia Lâm, Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Gia Lâm đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2014

Tác giả luận văn

Lưu Thị Ngọc Yến

Trang 6

PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

4.1 Thực trạng đội ngũ công chức cấp xã, thị trấn ở huyện Gia Lâm

4.3 Các yếu tố ảnh hướng đến chất lượng cán bộ công chức xã 96

4.4 Định hướng giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã, thị

Trang 7

5.2.2 Đối với Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn 119

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TW Trung ương

HĐND Hội đồng nhân dân

UBND Ủy ban nhân dân

XHCN Xã hội chủ nghĩa

CNXH Chủ nghĩa xã hội

CNH Công nghiệp hóa

HĐH Hiện đại hóa

Trang 9

33 Tình hình dân số, lao động, việc làm trên địa bàn huyện Gia Lâm 52

4.4 Trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức cấp xã

4.8 Đánh giá của CBCC huyện và cán bộ xã về tiêu chuẩn chung của

4.9 Đánh giá của CBCC huyện và cán bộ xã về việc thực hiện nhiệm

4.10 Đánh giá CBCC huyện và cán bộ xã về thực hiện nhiệm vụ của

4.11 Đánh giá của CBCC huyện và cán bộ xã về thực hiện nhiệm vụ

Trang 10

4.12 Đánh giá CBCC huyện và cán bộ xã về việc thực hiện nhiệm vụ

4.13 Đánh giá CBCC huyện và cán bộ xã về việc thực hiện nhiệm vụ

4.14 Đánh giá của cán bộ quản lý huyện và lãnh đạo xã về việc thực

4.15 Đánh giá CBCC huyện và cán bộ xã về việc thực hiện nhiệm vụ

4.18 Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của chức danh Trưởng công an 89 4.19 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh Chỉ huy trưởng

4.20 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh VP-TK 91 4.21 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh ĐC-XD 92 4.22 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh Tài chính - Kế toán 93 4.23 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh TP-HT 94 4.24 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh VH-XH 95

4.26 Chế độ chính sách với công chức và chất lượng công việc 97

4.29 Đánh giá của hệ thống chính trị về kiểm tra, giám sát công chức 102

Trang 11

DANH MỤC ĐỒ THỊ

4.1 Cơ cấu độ tuổi cán bộ công chức cấp xã qua các năm 2011-2013 61 4.2 Tỷ lệ giới tính trong cán bộ công chức xã huyện Gia Lâm 62 4.3 Tỷ trọng cán bộ công chức xã phân theo trình độ chuyên môn

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết

Cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng, là nhân tố then chốt tạo nên một chính quyền vững mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém"

Chính quyền địa phương là nền tảng, cơ sở của chính quyền Trung ương, chính quyền địa phương có vững mạnh thì Trung ương mới vững mạnh Vì vậy muốn xây dựng một bộ máy chính quyền Nhà nước vững mạnh thì trước tiên phải xây dựng một hệ thống chính quyền vững mạnh từ các cấp xã, huyện đến tỉnh Trong đó chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền các cấp của Nhà nước ta; và là cấp trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối chính trị, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống,

là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là cấp gần gũi dân nhất, là nơi trực tiếp đáp ứng các yêu cầu chính đáng của dân Để chính quyền cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước một cách có hiệu lực và hiệu quả thì cần phải có đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) chính quyền cấp xã có năng lực quản lý nhà nước tốt Thực tế cho thấy ở đâu mà năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp xã tốt thì hiệu lực, hiệu quả quản lý cao Ngược lại, ở đâu mà năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp

xã không tốt thì hiệu lực, hiệu quả quản lý thấp, tiềm ẩn nguy cơ mất đoàn kết

nội bộ, mất dân chủ, tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài, tạo nên điểm nóng làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị ở cơ sở Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm và chú trọng đến công tác cán

bộ, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác cán bộ càng được chú trọng Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị

Trang 13

quyết, văn bản quy phạm pháp luật quy định về cán bộ như: Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Văn kiện đại hội Đảng X, đặc biệt là Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 khoá IX Ban Chấp hành Trung ương Đảng "về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ

sở xã, phường, thị trấn", trong đó nhấn mạnh: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ

sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ công chức xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, đề xuất một số giải pháp nâng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lâm

- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố hà Nội

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đội ngũ công chức cấp xã của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Phạm vi không gian

Luận văn tập trung phân tích thực trạng đội ngũ công chức trong Uỷ ban nhân dân được quy định tại khoản 3 Điều 61 – Luật Cán bộ công chức năm 2008 và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Gia Lâm

1.3.2.2 Phạm vi thời gian

- Số liệu thu thập trong giai đoạn 2011- 2013

- Luận văn được tiến hành từ tháng 5/2013 đến tháng 10/2014

1.3.2.3 Phạm vi nội dung

- Đánh giá số lượng, chất lượng công chức cấp xã

- Giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã

Trang 15

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng chất lượng công chức cấp xã của huyện như thế nào?

- Yêu cầu đối với chất lượng công chức, quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với công chức cấp xã trong thực hiện nhiệm vụ mới ?

- Giải pháp nâng cao chất lượng công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới hiệu quả ?

Trang 16

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

là gần dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi" Vị trí và vai trò của chính quyền cấp xã được thể hiện ở những nội dung sau đây:

- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống Thực tiễn cho thấy có hệ thống đường lối, chính sách pháp luật đúng đắn, khoa học nhưng ở đó chính quyền cấp xã hoạt động yếu kém thì đường lối, chính sách, pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa phát huy được sức mạnh của mình; ở đâu chính quyền cấp xã hoạt động có hiệu quả thì ở đó đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thực thi nghiêm minh, chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Chính quyền cấp xã là nơi thể nghiệm chính xác đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước

- Chính quyền cấp xã là cấp quản lý các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn cơ sở Hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong cả bộ máy nhà nước

- Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát dân nhất, là cấp chính quyền giải quyết và chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân

Trang 17

- Chính quyền cấp xã là cấp hướng dẫn, giám sát các hoạt động tự quản của nhân dân nhằm tạo điều kiện cho nhân dân phát huy mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội Đây là nét đặc thù của chính quyền cấp xã, so với các cấp chính quyền khác

- Chính quyền cấp xã là "cầu nối" giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho nhân dân hiểu và thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật đó và chính quyền cấp xã là cấp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân để phản ánh với cấp liên quan

- Cấp xã là nơi lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống, phong tục tập quán tiến bộ của dân tộc Việt Nam Chính quyền cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng đời sống văn hoá mới, đặc biệt là ở vùng nông thôn

Chính quyền cấp xã là bộ máy mang tính quyền lực Nhà nước điều hành, quản lý hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn cơ sở Chính quyền cấp xã chỉ bao gồm HĐND và UBND Trong đó "HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên"; "UBND do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan Nhà nước cấp trên"

Qua phân tích ở trên có thể khái niệm: chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất, cấp gần gũi dân nhất, bao gồm HĐND và UBND thực hiện quyền lực Nhà nước và đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân ở

cơ sở, quyết định và thực hiện những chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế

- xã hội, củng cố quốc phòng an ninh trên địa bàn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật là tổ chức phát huy tính tự quản của nhân dân

Trang 18

2.1.1.2 Đặc điểm của chính quyền cấp xã

Chính quyền cấp xã có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính

quyền các cấp của Nhà nước ta (Trung ương, tỉnh, huyện, xã); là cấp quản lý hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở

Thứ hai, chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức và thực hiện đường

lối chính trị, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là cấp gần gũi dân nhất, là nơi trực tiếp đáp ứng và giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân

Thứ ba, chính quyền cấp xã gồm HĐND và UBND, mà không có cơ

quan Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước và đại diện cho ý chí, nguyện vọng quyền làm chủ của nhân dân ở

cơ sở UBND là cơ quan chấp hành, cơ quan quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn cơ sở

Thứ tư, các đơn vị hành chính cấp xã, được hình thành trên nền tảng

những địa điểm quần cư, nó liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất Mọi vấn đề của địa phương đều liên quan chặt chẽ với nhau và cần phải được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nước, dân cư và giữa dân cư với nhau Chính quyền ở đây không chỉ là cơ quan cai trị - quản

lý mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư

Thứ năm, trong hoạt động của chính quyền cấp xã, giữa HĐND và

UBND khó tách biệt nhau về các lĩnh vực thẩm quyền và UBND có ưu thế vượt trội: Chính quyền cấp xã được coi là một cấp chính quyền hoàn chỉnh, bao quát toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở Nội dung các nghị quyết của HĐND và quyết định của UBND nhìn chung là giống nhau, chỉ khác ở chỗ: HĐND quyết định biện pháp, còn

Trang 19

UBND tổ chức thực hiện Trong khi đó, tổ chức bộ máy của HĐND không đủ sức hoạt động độc lập mà chủ yếu dựa vào bộ máy của UBND để soạn thảo các nghị quyết Theo Điều 5, Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi): "Hội đồng nhân dân cấp xã có Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân" Đối với cấp tỉnh và cấp huyện: "Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân" Với cơ cấu tổ chức như trên, các ban của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện có khả năng soạn thảo các nghị quyết, thức hiện chức năng quyết định các biện pháp, chủ trương về các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện Trong khi đó, ở cấp xã, do không có bộ máy giúp việc, đại biểu HĐND lại kiêm nhiệm, việc chuẩn bị các kỳ họp hoàn toàn dựa vào bộ máy của UBND

và mỗi năm chỉ họp từ 3 - 4 lần Trong điều kiện đó, hoạt động của UBND sẽ

có ưu thế vượt trội hơn, dễ lấn át HĐND, dễ lâm vào tình trạng "vừa đá bóng, vừa thổi còi"

2.1.2 Một số khái niệm

2.1.2.1 Công chức cấp xã

- Công chức: Ở nước ta, ngay từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành

công, Hiến pháp năm 1946 ra đời là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chế độ công chức mới Ngày 20 - 5 - 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/ SL về thực hiện quy chế công chức

Sắc lệnh đã chỉ rõ: “Công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ trường

hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.(Hồ Chí Minh, 1950)

Sau 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc Thời kỳ này tuy không có văn bản nào bãi

bỏ sắc lệnh 76/SL về quy chế công chức Việt Nam, nhưng thuật ngữ công chức được thay thế bằng thuật ngữ cán bộ, công nhân, viên chức

Trang 20

Ngày 25 - 5 - 1991, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT quy định về công chức Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và

bổ nhiệm một công vụ thường xuyên trong một công sở Nhà nước ở trung ương, địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch,

bậc, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp ”(Hồ Chí Minh, 2000)

Hiện nay, Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008, được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm

2010 quy định:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự

nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Luật cán bộ, công chức, 2008)

Cũng theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tại khoản 3 Điều 4 quy định:

Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và

hưởng lương từ ngân sách Nhà nước (Luật cán bộ, công chức, 2008)

Theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thì công chức chính quyền xã, thị trấn gồm các chức danh sau:

Trang 21

+ Văn hoá – xã hội

2.1.2.2 Vai trò của công chức cấp xã, phường

Đội ngũ cán bộ, công chức có vị trí, vai trò quan trọng đối với cơ quan,

tổ chức Trong đó công chức là thành viên, là phần tử cấu thành của tổ chức

bộ máy Cán bộ, công chức có quan hệ mật thiết với tổ chức và quyết định mọi sự hoạt động của tổ chức Hiệu quả hoạt động trong tổ chức và quyết định mọi sự hoạt động của tổ chức Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào cán bộ, công chức Cán bộ công chức có trình độ, có đạo đức nghề nghiệp, tâm huyết, có trách nhiệm với công việc được giao sẽ làm cho

cơ quan, đơn vị mình hoạt động tốt, dẫn đến bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng; cán bộ, công chức trình độ quản lý yếu kém, năng lực hạn chế, quan liêu, cửa quyền… sẽ làm cho bộ máy tê liệt: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn

bộ máy cũng tê liệt” (Hồ Chí Minh, 2000)

Cán bộ, công chức nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng, có vị trí nền tảng cơ sở Cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật một phần được quyết định bởi sự triển khai ở cơ sở Cấp xã là cấp trực tiếp gắn với quần chúng tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng Vì vậy, cơ sở xã, phường mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường

Trang 22

Những năm vừa qua cũng đã chỉ ra rằng sự thành công hay thất bại của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội ở cơ sở phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường (gọi chung là cán bộ, công chức cấp xã) Tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức này quyết định khả năng hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước vì cán bộ, công chức xã, phường vừa là người đại diện cho Đảng và Nhà nước trong việc quản lý, điều hành mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh ở cơ sở; là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, thực thi quyền hành pháp cũng như tiến hành

tổ chức, triển khai các chương trình kinh tế xã hội ở địa phương Mặt khác cán bộ, công chức xã, phường cũng là người thường xuyên chăm lo đến mọi mặt trong đời sống, cả vật chất và tinh thần tới mọi người dân; là người đại diện cho ý chí, quyền lợi của nhân dân địa phương, luôn đấu tranh và bảo vệ mọi quyền lợi chính đáng của người dân khi bị vi phạm Như Hồ Chủ tịch đã từng nói: Cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân Cán bộ, công chức xã là đội ngũ thể hiện cụ thể và trực tiếp nhất nội dung này

Thực tiễn cho thấy rằng chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương Ở xã, phường nào có đội ngũ công chức tốt thì ở đó các “phong trào” đều được triển khai và thực hiện rất rầm rộ, có hiệu quả; kinh tế, xã hội phát triển, tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội đảm bảo Thực tế đó ở nước ta đã chứng tỏ: Cán bộ nào thì phong trào đó

Cán bộ, công chức cấp xã có một vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý điều hành ở cơ sở, trong bộ máy nhà nước, trong hệ thống chính trị Cán bộ, công chức cấp xã là người đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở cơ sở; là những người hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính

Trang 23

sách, pháp luật của nhà nước đến với nhân dân Và cũng qua nhân dân, cán

bộ, công chức cấp xã nắm bắt tâm tư tình cảm của nhân dân, kiểm nghiệm những quy định, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đã hợp lòng dân, phù hợp với yêu cầu thực tiễn chưa, để báo cáo lên cấp trên tiếp tục chỉnh sửa, đề ra những quy định về chế độ, chính sách, pháp luật ngày càng phù hợp với thực tiễn, nhằm cho xã hội phát triển, người dân ngày càng được ấm no, hạnh phúc; đi đúng định hướng mà Đảng và Nhà nước ta đã

đề ra Như vậy, cán bộ, công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng

Ngoài những vị trí, vai trò trên cán bộ, công chức cấp xã còn có vị trí, vai trò thể hiện những phương diện sau đây:

- Cán bộ, công chức cấp xã là người am hiểu các phong tục tập quán truyền thống của địa phương, là nơi tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân

ở cơ sở, là nơi phát huy tính tự quản cộng đồng dân cư Như Nguyễn Trãi đã đúc kết: Người đẩy thuyền cũng là dân, người lật thuyền cũng là dân… Vì vậy, việc tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở là rất quan trọng, quyết định đến hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở

- Cán bộ, công chức cấp xã vừa là người đại diện cho Nhà nước, vừa là người đại diện cộng đồng, vừa là người cùng làng, cùng họ, vừa là người dân, là người gần dân nhất nên thực tế cho thấy, ở đâu cán bộ, công chức cấp xã hiểu dân, nắm bắt kịp thời tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân, giải quyết kịp thời những vướng mắc, đề nghị của nhân dân; cán bộ, công chức cấp xã gương mẫu, không quan liêu, hách dịch, cửa quyền thì ở

đó tình hình an ninh - chính trị, kinh tế - xã hội sẽ ổn định

- Cán bộ, công chức cấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu, những thắc mắc chính đáng của nhân dân

Trang 24

Tóm lại, cán bộ, công chức cấp xã là người có vị trí, vai trò quan trọng

trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội ở cấp cơ sở, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo điều kiện phát huy tính tự quản trong cộng đồng dân cư

2.1.2.3 Chất lượng công chức cấp xã

2.1.2.3.1 Khái niệm chất lượng công chức cấp xã

Theo từ điển tiếng Việt thì chất lượng hiểu ở nghĩa chung nhất là "cái

tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc"

Khi đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ công chức Chất lượng của đội ngũ công chức được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:

Chất lượng của đội ngũ công chức được thể hiện thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã

Chất lượng của đội ngũ công chức được đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu quả công tác của họ

Chất lượng của đội ngũ công chức là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng công chức cấp xã Đối với đội ngũ công chức cấp xã, muốn xác định chất lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải có hàng loạt chỉ tiêu đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương Chẳng hạn, các lớp đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học) về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý nhà nước, pháp luật,…; độ tuổi; thâm niên công tác,…Chất lượng của đội công chức còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán

bộ, công chức đối với công vụ được giao Công vụ là một hoạt động gắn liền với công chức, là một loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước; thi hành pháp luật - đưa pháp luật vào đời sống; quản lý và sử dụng

có hiệu quả công sản và ngân sách Nhà nước phục vụ nhiệm vụ chính trị

Trang 25

Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất lượng

đội ngũ công chức cấp xã như sau: Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao của họ

Để đánh giá đúng thực trạng và xác định các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã cần phải xác định rõ những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức, cũng như hiểu rõ những yếu tố tác động đến

chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã

2.1.2.3.2 Những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

Thứ nhất, về phẩm chất chính trị là tiêu chí là yêu cầu cơ bản nhất đối

với cán bộ, công chức Phẩm chất chính trị là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần tận tụy với công việc, hết lòng hết sức vì sự nghiệp của nhân dân; là bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu

và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã đề ra

Phẩm chất chính trị đòi hỏi người công chức phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có tinh thần cương quyết đầu tranh chống lại các quan điểm lệch lạc, sai trái hoặc chống đối những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng của nhân dân

Phẩm chất chính trị của công chức cấp xã được biểu hiện trước hết là

sự tin tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đó là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng ta đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn, thử thách, trước những cám dỗ Đồng thời phải có biện pháp để đường lối đó

đi vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân địa phương

Trang 26

Công chức cấp xã có phẩm chất chính trị tốt là người gương mẫu chấp hành tốt những chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tích cực tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân cùng thực hiện theo Là người luôn có trách nhiệm với công việc mà mình được giao; luôn tìm tòi cái mới, cái sáng tạo, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn ở cơ sở, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, một lòng phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân

Phẩm chất chính trị của công chức cấp xã còn biểu hiện thông qua thái

độ phục vụ nhân dân, tinh thần gương mẫu trong công tác, tinh thần trách nhiệm đối với đời sống của nhân dân tại địa phương

Thứ hai, về phẩm chất đạo đức: Công chức cấp xã là người trực tiếp

làm việc và sinh hoạt cùng với người dân Cho nên đạo đức của người công chức sẽ có tác động rất lớn đối với người dân, có ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền xã, thị trấn Nếu công chức có đầy

đủ các phẩm chất: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thì nhân dân sẽ tin tưởng họ, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, từ đó nhân dân tự giác thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước Ngược lại, nếu công chức không có đủ các phẩm chất trên thì sẽ bị mất niềm tin của nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, họ trở thành sâu

mọt của dân

Công chức cấp xã không chỉ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước mà còn phải là người gương mẫu, tiên phong trong việc chấp hành các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đó, họ phải nói đi đôi với làm, họ phải là tấm gương sáng để nhân dân noi theo như Bác Hồ đã dạy: Một tấm gương sáng còn giá trị hơn một triệu bài diễn văn tuyên truyền

Người công chức có đạo đức cách mạng là người phải tích cực đấu tranh chống lại các tiêu cực của xã hội như: tham nhũng, lãng phí, quan liêu,

Trang 27

tha hóa, sa sút về đạo đức, lối sống chạy theo địa vị danh lợi, tranh giành kèn cựa lẫn nhau mất đoàn kết nội bộ, dối trá, lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng

Công chức cấp xã muốn được dân tin yêu (nói dân nghe, làm dân tin) ngoài phải tu dưỡng về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì phải thường xuyên rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong mọi lúc, mọi nơi như Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã từng nói: “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống Nó đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc

càng mài càng sáng, càng luyện càng trong” (Hồ Chí Minh, 1995)

Đây là phẩm chất rất quan trọng đối với công chức cấp xã, nó là cái gốc của người cán bộ Người cán bộ, công chức phải có đầy đủ đạo đức cách mạng thì mới có đủ điều kiện để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ Đảng Nếu thiếu hoặc yếu kém đạo đức cách mạng sẽ không thể làm tốt công việc được giao và nó là nguyên nhân của tệ quan liêu, tham nhũng tạo nên nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, sự sống còn của chế độ Chính vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức cách mạng Người viết: Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.” Người cũng giải thích rõ “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã

hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì? (X.Y.Z, 2008)

Người cán bộ, công chức có tinh thần đạo đức cách mạng là người cán

bộ hội tụ đủ năm đức tính, đó là: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm Những đức tính tốt đẹp đó phải thể hiện ra bên ngoài trong công việc hàng ngày của người cán bộ, công chức, thể hiện qua công tác điều hành, quản lý, qua thái

độ tiếp xúc với dân, trong quan hệ đồng chí, đồng nghiệp, thể hiện trong năng lực, trách nhiệm đối với công việc mình được giao, trong công tác chuyên

Trang 28

môn, nghiệp vụ, không tham địa vị, tiền tài, và luôn trau dồi kiến thức, ham làm, ham tiến bộ…

Ngoài ra, công chức phải luôn có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần tập thể, khiêm tốn, giản dị, trung thực, không cơ hội, có nếp sống văn minh, nêu gương cho quần chúng Như vậy, mới tạo lòng tin cho nhân dân, thuyết phục được nhân dân tin tưởng đi theo đường lối mà Đảng ta đã đề ra

Thứ ba, về trình độ năng lực (năng lực lãnh đạo, quản lý, trình độ học

vấn, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ quản

lý hành chính nhà nước, trình độ tin học)

- Năng lực lãnh đạo, quản lý là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng

của đội ngũ cán bộ, công chức Năng lực đầu tiên mà Hồ Chủ tịch đòi hỏi ở người cán bộ cách mạng là năng lực lãnh đạo quản lý, là khả năng tổ chức động viên quần chúng thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Vì cán bộ là cầu nối, là người đem chính sách của Đảng, của Nhà nước đến với dân, nên đòi hỏi cán bộ phải có năng lực này, nếu không thì không xứng đáng là cán bộ cách mạng Và để tuyên truyền thực hiện tốt đường lối của Đảng và Nhà nước trong quần chúng, đòi hỏi cán

bộ phải có năng lực thực hành dân chủ, nghĩa là phải có mối quan hệ mật thiết với quần chúng, tin ở quần chúng và học hỏi ở chính quần chúng, “không học

hỏi thì không lãnh đạo được dân” (Hồ Chí Minh,2000), và phải cần có sự giúp

đỡ của dân, vì “dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được Dân chúng

không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên” (Hồ Chí Minh, 2000)

Theo Hồ Chí Minh, năng lực tổ chức thực hành của người cán bộ thể hiện ở những điểm là: quyết định vấn đề một cách cho đúng, tổ chức thi hành cho đúng và tổ chức kiểm soát cho đúng Để quyết định vấn đề một cách cho đúng cần phải có năng lực, trí tuệ, nắm được thông tin và xử lý thông tin, đưa

ra phương án để lựa chọn, quyết định

Trang 29

- Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định quan

điểm, lập trường giai cấp công nhân của cán bộ, công chức nói chung và cán

bộ, công chức chính cấp xã nói riêng Cán bộ, công chức có lập trường chính trị vững vàng, hoạt động vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng thì sẽ được nhân dân kính trọng, tin yêu và họ sẽ vận động được nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước,

đi đúng định hướng mà Đảng ta đã đề ra Ngược lại, nếu cán bộ, công chức nào lập trường chính trị không vững vàng, làm việc vì lợi ích cá nhân, thoái hóa, biến chất, sẽ gây mất lòng tin trong nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, hiệu quả quản lý nhà nước thấp

- Trình độ học vấn (trình độ văn hóa) là một trong những yếu tố quyết

định hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức cơ sở vì nó sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của đội ngũ cán bộ Trình độ học vấn là nền tảng cho việc nhận thức, là nền tảng cho việc đào tạo trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị… Hạn chế về trình độ học vấn sẽ hạn chế về khả năng nhận thức dẫn đến năng lực tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, các quy định của pháp luật hạn chế, việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức chính quyền xã, thị trấn cũng bị cản trở Do đó trình độ học vấn là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực quản lý nhà nước của cán

bộ, công chức cấp xã

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ

được hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sĩ Đây là những kiến thức mà cán bộ, công chức cấp xã cần được đào tạo để giải quyết công việc chuyên môn, có năng lực thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao Nếu không có trình độ chuyên môn việc thực thi chức trách, nhiệm

vụ sẽ bị hạn chế, hiệu quả quản lý nhà nước sẽ thấp

Trang 30

- Trình độ quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước là hệ thống tri thức

khoa học về quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước Đó là những kiến thức đòi hỏi các nhà quản lý phải có, để giải quyết các vụ việc cụ thể xảy ra trong quá trình quản lý, điều hành Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là hoạt động nghệ thuật, cho nên yêu cầu công chức phải am hiểu sâu sắc về kiến thức quản lý và phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào giải quyết những vụ việc cụ thể Quá trình quản lý nhà nước không những dựa trên kinh nghiệm mà cần được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng và phương pháp quản

lý nhà nước để qua đó nâng cao năng lực quản lý nhà nước

Kỹ năng quản lý nhà nước của công chức cấp xã là khả năng vận dụng khéo léo, thành thạo những kiến thức và kinh nghiệm vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực ở cơ sở Kỹ năng quản lý nhà nước bao gồm: Kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch; Kỹ năng tổ chức kỳ họp và ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn; Kỹ năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thi hành và áp dụng pháp luật trong quản lý nhà nước; kỹ năng lập và quản lý thực hiện dự án; kỹ năng tổ chức kiểm tra hành chính, xử phạt và cưỡng chế hành chính; kỹ năng phát hiện, xử lý tình hướng phát sinh trên địa bàn;

kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng nghiệp vụ văn phòng và thống kê; kỹ năng phối hợp và chỉ đạo trưởng thôn, bản trong việc thực hiện một số nhiệm vụ của chính quyền xã, thị trấn, kỹ năng ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý nhà nước ở cấp xã như về lĩnh vực nông nghiệp, hoặc tiểu thủ công nghiệp… Nếu kỹ năng quản lý nhà nước của công chức cấp xã tốt thì công việc sẽ được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả hơn, nếu không công việc sẽ bị trì trệ, hiệu quả thấp

Phương pháp quản lý nhà nước của công chức cấp xã là cách thức mà công chức cấp xã sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực ở cơ sở có hiệu quả cao Các phương pháp quản lý nhà nước

Trang 31

được chia làm 2 nhóm: Một là, các phương pháp chủ yếu của khoa học quản

lý bao gồm: Phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa; phương pháp tổ chức, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính; Hai là, các phương pháp của các môn khoa học khác được sử dụng trong quản lý nhà nước gồm: phương pháp kế hoạch hóa, phương pháp thống kê, phương pháp tâm lý – xã hội học, phương pháp toán học, phương pháp sinh lý học

Thứ tư, về hiệu quả hoạt động và uy tín đối với nhân dân

Chính quyền xã, thị trấn có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các mục tiêu kinh

tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương; thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn theo thẩm quyền được giao; hướng dẫn và giám sát các hoạt động tự quản của dân, tạo thuận lợi cho dân và doanh nghiệp làm ăn theo pháp luật

Hiệu quả là kết quả thực của việc làm mang lại đặt trong sự so sánh với mục tiêu đề ra và được xem xét dưới góc độ tác động kinh tế – xã hội Hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức chính quyền cơ sở là kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ, công chức, góp phần mang lại hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương Cụ thể là kết quả việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, các mục tiêu đã đề ra của địa phương, việc quản lý hành chính nhà nước ở địa bàn như thế nào

Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động của công chức cấp xã phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất, năng lực, trình độ của đội ngũ công chức

Thực tế cho thấy, địa phương nào cán bộ, công chức có bản lĩnh vững vàng, đoàn kết, có trình độ, có phẩm chất đạo đức, có năng lực, có kinh nghiệm thực tế, dám nghĩ, dám làm, quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền

và trong khuôn khổ pháp luật thì ở đó đời sống nhân dân phát triển, hiệu quả thực thi chức trách, nhiệm vụ cao, tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương sẽ

ổn định và phát triển, nhân dân tin tưởng vào chính quyền xã, thị trấn Ngược

Trang 32

lại, cán bộ, công chức không có chuyên môn nghiệp vụ, chỉ làm theo kinh nghiệm hoặc giải quyết theo cảm tính, tuỳ tiện chắc chắn hiệu quả sẽ không cao thậm chí còn mắc sai phạm nghiêm trọng

Ngoài hiệu quả hoạt động, cán bộ, công chức cần có uy tín với nhân dân Cán bộ, công chức xã, thị trấn hàng ngày tiếp xúc với nhân dân, thay mặt Đảng, Nhà nước tuyên truyền, phổ biến, thuyết phục nhân dân thực hiện theo đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; giải quyết các công việc liên quan đến người dân, do đó cán bộ, công chức cần phải có uy tín với dân Có uy tín, tín nhiệm với nhân dân thì nói dân mới tin, mới thực hiện

Hiện nay thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, ở các xã, thị trấn đã tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đã thực sự tác động tích cực đến cán bộ cấp

xã, giúp cán bộ thấy rõ ưu, khuyết điểm trên cơ sở đó tự điều chỉnh, sửa chữa khuyết điểm, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân để rèn luyện, phấn đấu vươn lên Theo quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ, trong trường hợp cần thiết, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã có thể kiến nghị Hội đồng nhân dân cùng cấp bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh nêu trên Khi Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm,

mà người được bỏ phiếu không được quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân tín nhiệm thì người đã giới thiệu để bầu người đó có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm Qua đó

ta thấy, mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm là nhằm phát huy tốt hình thức dân chủ đại diện; đánh giá phẩm chất, năng lực, uy tín của cán bộ, giúp cho người được lấy ý kiến gần dân, hiểu dân hơn

Vì vậy, tiêu chí về hiệu quả hoạt động và uy tín đối với nhân dân cũng

là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp xã

Trang 33

Tóm lại: một đội ngũ công chức chính quyền xã, thị trấn có chất lượng

là đội ngũ có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có trình độ năng lực,

có uy tín và có khả năng vận dụng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước một cách có hiệu quả nhất nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân tại địa phương góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

2.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công chức cấp xã, thị trấn

2.1.3.1 Tiêu chuẩn công chức cấp xã, thị trấn

Tiêu chuẩn cán bộ, công chức là vấn đề rất quan trọng trong công tác cán bộ Đó là cơ sở để tiến hành tổ chức, xem xét, đánh giá, lựa chọn, bố trí sắp xếp và sử dụng cán bộ; đó cũng là cơ sở để bản thân mỗi người cán bộ phấn đấu, tự rèn luyện, hoàn thiện mình

Trong bất kỳ một hệ thống công chức nào, tiêu chuẩn công chức theo ngạch hay theo vị trí việc làm đều có vai trò rất quan trọng Đó là cơ sở tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo bồi dưỡng Tiêu chuẩn cũng là căn cứ để mỗi công chức yên tâm làm việc theo chức trách được giao, xác định hướng phấn đấu, nâng cao trình độ và khả năng làm việc, các cấp quản lý cũng căn cứ vào

đó để tạo điều kiện cho cán bộ công chức có cơ hội được học tập bồi dưỡng, Thực hiện việc công chức hóa cán bộ, công chức cấp xã, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 hướng dẫn chức trách, tiêu chuẩn cụ thể , nhiệm cụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn

2.1.3.1.1 Đối với các công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng

- đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp -

hộ tịch, Văn hóa - xã hội:

+ Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;

+ Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện

có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;

Trang 34

+ Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao;

+ Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác

2.1.3.1.2 Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công

an xã:

Ngoài những tiêu chuẩn quy định trên còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước

2.1.3.2 Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, cán bộ, công chức cấp xã

Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý công chức, có tính quyết định cho sự phát triển một cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước Trong quá trình vận hành của nền công vụ, việc tuyển dụng được những công chức giỏi thì nhất định nền công vụ sẽ hoạt động đạt kết quả cao hơn vì công chức nhà nước là nhân tố quyết định đến sự vận hành của một nền công vụ

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã đổi mới căn bản việc quản lý công chức về nội dung tuyển dụng công chức, đó là việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế

và thông qua thi tuyển theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan

và đúng pháp luật, đảm bảo tính cạnh tranh Hình thức thi, nội dung thi tuyển công chức phải phù hợp với ngành, nghề, đảm bảo lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng Luật cũng quy định hình thức tuyển dụng thông qua xét tuyển với các trường hợp đặc biệt

Trang 35

Như vậy, việc tuyển dụng công chức trong giai đoạn hiện nay cũng như trong thời gian tới phải thực sự xuất phát từ nhu cầu công việc, vì việc tìm người thay vì người để sắp xếp, bố trí việc Để làm được điều này phải kết hợp đồng bộ cùng với các giải pháp khác như các cơ quan nhà nước phải xây dựng được hệ thống danh mục vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức của

cơ quan, tổ chức mình, từ đó mới có cơ sở để tuyển dụng đúng người, đúng việc, đúng số lượng, đảm bảo cơ cấu hợp lý

Đối với cán bộ, công chức cấp xã vẫn thực hiện cơ chế Đảng cử dân bầu; tuyển chọn bổ nhiệm chưa gắn với thi tuyển, lựa chọn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cùng với việc một số cấp ủy đảng; một số ngành, địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ về chính sách của Đảng đối với khu vực này Các cấp ủy đảng chưa quán triệt sâu sắc quan điểm về xây dựng cán bộ, công chức cấp xã ở vùng dân tộc và miền núi cho các ngành, các cấp, các đơn vị, cũng như cho cán

bộ, công chức trong điều kiện lịch sử cụ thể cho nên việc tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức, cán bộ đi học về chưa bố trí; sử dụng đúng năng lực, sở trường Số học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên chưa được tuyển chọn, bổ nhiệm bổ sung tăng cường về cấp xã; việc tuyển chọn, bổ nhiệm nhiều khi mang tính hình thức sắp đặt không theo những yêu cầu cụ thể

về phẩm chất và năng lực của mỗi chức danh Việc tuyển chọn bổ nhiệm chưa gắn với công tác đào tạo và quy hoạch Như vậy khó tránh khỏi hiện tượng tuyển dụng, bổ nhiệm những người kém về năng lực, phẩm chất làm ảnh hưởng đến chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã

2.1.3.3 Công tác quy hoạch cán bộ, công chức cấp xã

Quy hoạch cán bộ, bao gồm cả quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và quy hoạch cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, là nhiệm vụ, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, trực tiếp và tuyệt đối

về công tác cán bộ, trong đó có công tác quy hoạch cán bộ

Trang 36

Quy hoạch cán bộ phải tiến hành thật sự dân chủ, công khai, không khép kín trong phạm vi một cơ quan, đơn vị mà phải kết hợp giữa quy hoạch của cơ quan quản lý cấp trên và cấp dưới; đồng thời phải mở rộng ở phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương Quy hoạch cán bộ không chỉ quy hoạch một người cho một chức danh; thường xuyên nhận xét, đánh giá dân chủ, công khai cán bộ trong quy hoạch để kịp thời điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp, mạnh dạn dưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không bảo đảm theo tiêu chuẩn, khắc phục tình trạng nể nang, ngại va chạm

Cần làm rõ giữa quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và quy hoạch cán

bộ chuyên môn, nghiệp vụ Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý là chuẩn bị và tạo nguồn cán bộ làm căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị Còn cán bộ, công chức chuyên môn có tài năng nhưng không muốn hoặc không có sở trường lãnh đạo, quản lý thì cần quy hoạch, bồi dưỡng họ nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

2.1.3.4 Công tác Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức cấp xã

Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã hình thành chủ yếu thông qua hoạt động đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bồi dưỡng kỹ năng về quản lý nhà nước, về chuyên ngành với mục đích làm cho con người trở thành người có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp là làm cho đội ngũ này có được những năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, như bao gồm: trình độ, kiến thức về các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực hiểu biết, nhận thức sự việc, phân tích, tổng hợp tình hình; có năng lực điều hành, quản lý, thực thi tốt chức năng, nhiệm vụ của mình; có kinh nghiệm thực tế, có khả năng lý luận nhất định, nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, đề ra những phương hướng, kế hoạch và đưa ra các giải pháp đạt được những mục tiêu đã đề ra…

Từ quan niệm cán bộ là cái gốc của mọi công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng, nên trong suốt

Trang 37

cuộc đời mình, Người đã không ngừng chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng cho cách mạng Người căn dặn cán bộ đi học là để làm việc, làm người, làm cán bộ Như vậy, theo Người việc học tập là để hình thành năng lực của người cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của công việc thực tế Người còn khẳng

định: Chỉ có một thứ là ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ (X.Y.Z, 2008)

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập - thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong bối cảnh đó có những thời

cơ, thuận lợi mới nhưng cũng có không ít khó khăn, thách thức mới, nhiệm vụ chính trị rất nặng nề, phức tạp Vì vậy ở cấp cơ sở, đội ngũ cán bộ, công chức cũng phải có năng lực đáp ứng được yêu cầu mới đó Muốn vậy đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã đòi hỏi phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực thực tiễn… để góp phần thực hiện mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu sự đổi mới toàn diện trên các lĩnh vực của đất nước Đại hội VIII đã tiếp tục khẳng định:

“Đảng phải trực tiếp chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cho hệ thống chính trị, trên mọi lĩnh vực” Và một trong những nhiệm vụ chủ yếu là:

“Có kế hoạch tập trung đào tạo bồi dưỡng cán bộ xã, phường về văn hoá,

chính trị, pháp luật, quản lý kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng ” (Nghị quyết số 03-NQ/TW, 1997) Như vậy, phải chăm lo xây dựng thật tốt đội ngũ

cán bộ các cấp, các ngành và đổi mới quan niệm, phương pháp đánh giá, sử dụng cán bộ trong tình hình mới Và đặc biệt coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn - đây là chiến lược mục tiêu lâu dài, vì kinh tế có phát triển, tình hình chính trị - xã hội ở cơ sở có ổn định thì mới góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính quyền các cấp

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX

về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn đã xác định rõ một số nội dung nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay, trong đó có nhấn mạnh:

Trang 38

Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước; công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không

ức hiếp dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết

hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở (Nghị quyết số

17-NQ-TW, 2002)

Cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp tiếp xúc với người dân hàng ngày, là người triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tới người dân nên trước hết chính họ phải nắm rõ và hiểu sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật đó để giải thích cho nhân dân, đưa chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống; thực hiện và làm đúng các quy định của pháp luật,

Đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, năng lực của cán

bộ, công chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền xã, thị trấn, do đó việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là công việc cần thiết và cấp bách hiện nay

2.1.3.5 Công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ đối với công chức cấp xã

Kiểm tra, giám sát và quản lý là hoạt động nhằm nắm chắc thông tin, diễn biến về tư tưởng, hoạt động của cán bộ, công chức giúp cho cấp ủy và thủ trưởng phát hiện vấn đề nảy sinh, kịp thời điều chỉnh và tác động, làm cho cán bộ, công chức luôn hoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc Qua

đó để có thưởng phạt nghiêm minh, ngăn chặn cái xấu, cái tiêu cực, phát huy những nhân tố tích cực; đồng thời nắm vững thực trạng của cán bộ, công chức và là cơ sở để làm tốt công tác cán bộ từ quy hoạch cho đến đào tạo và sử dụng bố trí cán bộ

Thực tế cho thấy, đối với công chức cấp xã, một số công chức khi mới được tuyển dụng đều là những người tốt, có đạo đức, trung thành, tận tụy, liêm khiết, có uy tín đối với đồng bào nhân dân địa phương song trong quá

Trang 39

trình hoạt động vốn dĩ đã hạn chế về trình độ năng lực so với cán bộ các vùng khác nhưng lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện học tập, không được quản lý tốt dần dần thoái hóa, biến chất, sa ngã Trong điều kiện có nhiều đầu tư của Nhà nước, của các tổ chức kinh tế vào khu vực này nhưng vì lòng tham, do không

có một dây cương cần thiết nên đã biến chất, vi phạm vào lợi ích của Nhà nước và nhân dân Điều đó, có phần thiếu sót của công tác kiểm tra, giám sát

và quản lý công chức Mặt khác, một số công chức cấp xã hiện nay còn trẻ, năng lực có, phẩm chất có, tuy nhiên họ lại chưa tận tâm với công việc, họ ngại làm, ham chơi nên khi được cấp trên giao nhiệm vụ họ thường lơ là, không tập trung giải quyết công việc, lại không được giám sát, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên dẫn đến công việc không hoàn thành hoặc hoàn thành nhưng chất lượng không cao Điều này cũng do một phần thiếu sót trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ

Qua đây cho thấy công tác kiểm tra, giám sát, quản lý và bảo vệ công chức có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã

2.1.3.6 Công tác đánh giá cán bộ, công chức

Đánh giá cán bộ là khâu có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ, là

cơ sở để lựa chọn, bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm và thực hiện chính sách cán bộ Đánh giá đúng cán bộ sẽ phát huy được khả năng của từng cán bộ và đội ngũ cán bộ Ngược lại, đánh giá không đúng sẽ dẫn đến bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ sai, gây ảnh hưởng không tốt cho cơ quan, đơn vị

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; thực hiện hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế và đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại… Mặt khác, các thế lực thù địch luôn dùng mọi thủ đoạn để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vào cương lĩnh, đường lối, vào nguyên tắc tổ chức của Đảng, vào đội ngũ cán bộ, đảng viên… Do vậy, nhận xét, đánh giá

Trang 40

cán bộ chính xác là vấn đề cấp thiết, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ phát triển, xây dựng Đảng, Nhà nước Việt Nam vững mạnh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề đánh giá cán

bộ, Người cho rằng, để nhận xét được cán bộ tốt thì Đảng phải thường xuyên thực hành đánh giá cán bộ và phải có phương pháp đánh giá đúng Người viết: “Kinh nghiệm cho ta biết: mỗi lần xem xét lại nhân tài, một mặt thì tìm thấy những nhân tài mới, một mặt khác thì những người hủ hoá cũng lòi

ra’’(Nghị quyết số 03-NQ/TW, 1997) Để việc nhận xét, đánh giá cán bộ được

chính xác, từ đó phát hiện, sử dụng đúng người có đức, có tài, đồng thời ngăn ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng, đề bạt những phần tử cơ hội, bất tài cần phải có nguyên tắc, quy trình, quy chế chặt chẽ bảo đảm cho công tác đánh giá cán bộ đạt độ chính xác cao nên:

Trước hết, cần nắm vững quan điểm của Đảng về tiêu chuẩn cán bộ

Tiêu chuẩn cán bộ là sự cụ thể hoá những yêu cầu khách quan của đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng thành những tiêu chí đòi hỏi đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước cần phải có Về phẩm chất chính trị đó là lòng trung thành với Tổ quốc và CNXH, là sự nhất trí và quyết tâm thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, là sự vững vàng về lập trường, quan điểm chính trị trước những tình huống khó khăn, phức tạp, ở những bước ngoặt của cách mạng Năng lực của cán bộ là năng lực quán triệt tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, hoàn thành với hiệu quả cao nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó Người dám nghĩ, dám nói, dám làm thì tư duy độc lập, ý kiến sắc sảo

Đánh giá cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn hoá từng chức danh cán bộ chứ không chỉ qua lời nói, viết lách, sự nhanh nhẹn bề ngoài hoặc nhìn vào bằng cấp, học hàm, học vị Người đánh giá cán bộ cần nắm vững đường lối, quan điểm, nhiệm vụ chính trị của Đảng mới có thể nhận xét tư tưởng và hành động của cán bộ là đúng hay sai Đảng ta ngày càng hoàn thiện và cụ thể hoá đường

Ngày đăng: 24/11/2015, 16:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Diện tích các loại đất nông nghiệp của huyện Gia Lâm. - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 3.1. Diện tích các loại đất nông nghiệp của huyện Gia Lâm (Trang 57)
Bảng 3.2. Giá trị sản xuất các ngành của huyện Gia Lâm (2011-2013) - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 3.2. Giá trị sản xuất các ngành của huyện Gia Lâm (2011-2013) (Trang 59)
Bảng 3.3. Tình hình dân số, lao động, việc làm trên địa bàn huyện Gia Lâm. - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 3.3. Tình hình dân số, lao động, việc làm trên địa bàn huyện Gia Lâm (Trang 63)
Bảng 4.1 Số lượng công chức cấp xã phân theo chức danh - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.1 Số lượng công chức cấp xã phân theo chức danh (Trang 70)
Bảng 4.2.Số lượng công chức cấp xã phân theo độ tuổi - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.2. Số lượng công chức cấp xã phân theo độ tuổi (Trang 71)
Bảng 4.4. Trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức cấp xã năm 2011 – 2013 - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.4. Trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức cấp xã năm 2011 – 2013 (Trang 75)
Bảng 4.5 Trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ công chức cấp xã huyện Gia Lâm - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.5 Trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ công chức cấp xã huyện Gia Lâm (Trang 78)
Bảng 4.6 Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ công chức cấp xã - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.6 Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ công chức cấp xã (Trang 80)
Bảng 4.11 Đánh giá của CBCC huyện và cán bộ xã về thực hiện nhiệm vụ - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.11 Đánh giá của CBCC huyện và cán bộ xã về thực hiện nhiệm vụ (Trang 88)
Bảng 4.15 Đánh giá CBCC huyện và cán bộ xã về việc thực hiện nhiệm - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.15 Đánh giá CBCC huyện và cán bộ xã về việc thực hiện nhiệm (Trang 95)
Bảng 4.16 Tổng hợp thực hiện nhiệm vụ của các chức danh - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.16 Tổng hợp thực hiện nhiệm vụ của các chức danh (Trang 96)
Bảng 4.17 Đánh giá của người dân về công chức cấp xã - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.17 Đánh giá của người dân về công chức cấp xã (Trang 97)
Bảng 4.22  Đánh giá thực hiện nhiệm vụ   của chức danh Tài chính - Kế toán  Nội dung - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.22 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh Tài chính - Kế toán Nội dung (Trang 104)
Bảng 4.24 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh VH-XH - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.24 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh VH-XH (Trang 106)
Bảng 4.30 Điều kiện làm việc của đội ngũ công chức - giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội
Bảng 4.30 Điều kiện làm việc của đội ngũ công chức (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w