1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội

81 498 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 6,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu về quan trắc môi trường và đánh giá chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam .... Hiện trạng chất lượng nước tại nguồn nước cấp cho vùng nuôi trồng thủy sản

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ THỊ DUNG

HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC TẠI VÙNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẬP TRUNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC

Ở HUYỆN ỨNG HÒA, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ THỊ DUNG

HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC TẠI VÙNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẬP TRUNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC

Ở HUYỆN ỨNG HÒA, HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

MÃ SỐ: 60.62.03.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHAN THỊ VÂN

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, do tôi tiến hành và thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Lê Thị Dung

Trang 4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii

Lời cảm ơn

Với tấm lòng chân thành nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Cô hướng dẫn TS Phan Thị Vân, người đã định hướng tôi, tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến cán bộ và thầy cô Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Viện sau đại học Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tham gia giảng dạy

và giúp đỡ tôi trong suốt những năm tháng học tập và nghiên cứu Tôi cũng xin cảm

ơn tới KSC Nguyễn Hưng Dũng và các anh chị em phòng Phân tích Ứng dụng Viện Hóa Học đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực tập tại Viện

Nhân đây tôi xin bày tỏ lời cám ơn tới những hộ dân nuôi cá đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu mẫu và nắm bắt hiện trạng vùng nuôi

Sự động viện, giúp đỡ của bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ tôi rất nhiều, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Cuối cùng con xin ghi nhớ ơn dưỡng dục, sinh thành của bố mẹ và sự ủng

hộ của người thân trong gia đình để con có ngày hôm nay

Tác giả luận văn

Lê Thị Dung

Trang 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Mục tiêu nghiên cứu 1

2 Nội dung nghiên cứu 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam 3

1.2 Tiềm năng và hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản của Thành phố Hà Nội 4

1.3 Tình hình ô nhiễm nguồn nước bề mặt dùng trong nuôi trồng thủy sản 7

1.4 Hiện trạng nguồn nước cấp cho các vùng nuôi trồng thủy sản trên địa bàn Hà Nội 8

1.5 Đặc điểm môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản 9

1.5.1 pH 10

1.5.2 Oxy hòa tan (DO) 11

1.5.3 Tiêu hao oxy hóa học (COD) 11

1.5.4 Nitrite (NO2-) 12

1.5.5 Đạm nitrate (NO3-) 12

1.5.6 Nhu cầu oxy sinh hóa – BOD 13

1.5.7 Hàm lượng đạm amoni (NH4+) 13

1.5.8 Tổng đạm amôn (TAN) 13

1.5.9 Photpho tổng số hòa tan 14

1.5.10 Thủy ngân (Hg) 15

1.5.11 Chì (Pb) 15

1.5.12 Thuốc trừ sâu gốc clo hữu cơ 16

Trang 6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv

1.5 Các nghiên cứu về quan trắc môi trường và đánh giá chất lượng

nước trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam 18

1.6 Vài nét về địa điểm nghiên cứu 19

1.6.1 Vị trí địa lý 19

1.6.2 Đặc điểm địa hình 19

1.6.3 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại Ứng Hòa, Hà Nội 20

1.6.4 Tình hình nuôi trồng thủy sản tại khu vực nghiên cứu 20

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu 24

2.2 Nội dung nghiên cứu 24

2.3 Địa điểm nghiên cứu 24

2.4 Cách chọn mẫu và lấy mẫu 24

2.5 Vật liệu, phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu 27

2.5.1 Dụng cụ đựng mẫu và bảo quản mẫu: 27

2.5.2 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu 27

2.5.3 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 27

2.5.4 Phân tích mẫu 28

2.6 Phương pháp so sánh đánh giá 31

2.7 Phương pháp xử lí số liệu 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Tình hình quản lý môi trường trong nuôi trồng thủy sản tại khu vực nghiên cứu 32

3.2 Hiện trạng chất lượng nước tại nguồn nước cấp cho vùng nuôi trồng thủy sản tập trung của khu vực nghiên cứu 32

3.3 Hiện trạng chất lượng nước ao nuôi công nghiệp và ao nuôi kết hợp 36

3.3.1 Giá trị pH 36

3.3.2 Oxy hòa tan 37

3.3.3 Hàm lượng oxy tiêu hao hóa học (COD) 39

3.3.4 Hàm lượng oxy sinh hóa (BOD) 40

Trang 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

3.3.5 Hàm lượng Nitrite (NO2-) 41

3.3.6 Hàm lượng Nitrate (NO3-) 42

3.3.7 Hàm lượng amoni (NH4+) 43

3.3.8 Hàm lượng photpho tổng số hòa tan 44

3.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước 45

3.4.1 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nước cấp 45

3.4.2 Giải pháp quản lý chất lượng môi trường nước trong ao nuôi 46

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

1 Thực trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung xã Phương Tú, Ứng Hòa, Hà Nội 50

2 Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước tai vùng nuôi trồng thủy sản tập trung 50

3 Kiến nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 8

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi

DANH MỤC BẢNG

STT TÊN BẢNG Trang

Bảng 1.1 Sản lượng nuôi trồng thủy sản của VN 3

Bảng 1.2 Diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản thành phố Hà Nội 5

Bảng 1.3: Diện tích nuôi chia theo đối tượng giai đoạn 2005 – 2011 6

Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 28

Bảng 3.1: Chất lượng nguồn nước cấp của khu vực nghiên cứu 33

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

STT TÊN HÌNH Trang

Hình 1.1: Sản lượng nuôi trồng thủy sản của thế giới và Việt Nam 4

Hình 1.2 Bản đồ quy hoạch nuôi trồng thủy sản huyện Ứng Hòa 23

Hình 2.1 Sơ đồ chọn điểm thu mẫu 25

Hình 2.2 Vùng NTTS xã Phương Tú 26

Hình 3.1 Biến động pH qua các tháng nuôi 37

Hình 3.2 Biến động oxy hòa tan qua các tháng nuôi 38

Hình 3.3 Biến động hàm lượng COD qua các tháng nuôi 39

Hình 3.4 Biến động hàm lượng BOD qua các tháng nuôi 40

Hình 3.5 Biến động hàm lượng NO2- qua các tháng nuôi 41

Hình 3.6 Biến động hàm lượng NO3- qua các tháng nuôi 41

Hình 3.7 Biến động hàm lượng NH4+ qua các tháng nuôi 43

Hình 3.8 Biến động hàm lượng P tổng số qua các tháng nuôi 44

Trang 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BTC: Bán thâm canh

BOD: Nhu cầu oxy sinh hóa

COD: Nhu cầu oxy hóa học

DO: Oxy hòa tan

TCCLN: tiêu chuẩn chất lượng nước

TTBQ: tăng trưởng bình quân

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

MỞ ĐẦU

Nuôi trồng thủy sản Hà Nội những năm gần đây phát triển nhanh chóng, tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống cho nhiều người lao động ở các huyện ngoại thành Cụ thể diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2103 đạt 20.800 ha, tăng 4,5% so với năm 2012; Sản lượng cá đạt 75.000 tấn, tăng 4,9% so với năm 2012 Tuy nhiên sự phát triển nuôi trồng thủy sản một cách tự phát, ồ ạt đã dẫn đến nhiều vấn đề bất cập mà đáng quan tâm nhất là vấn đề về môi trường, dịch bệnh Theo những điều tra gần đây cho thấy hầu như tất cả những ao nuôi của các hộ nuôi trồng thủy sản ở các huyện ngoại thành Hà Nội chỉ sơ sài là vấn đề đắp đất, đào ao, lấy nước từ hệ thống thủy lợi vào ao, chỉ dùng vôi bột trong quá trình xử

lý nước chứ chưa nghĩ đến chất lượng nước có cho phép để nuôi Mà theo Lê Văn Cát (2005) thì chất lượng nước nuôi là yếu tố rất quan trọng, nó quyết định đến sự phát triển của nghề nuôi thủy sản và nó bị ảnh hưởng do: nguồn nước cấp,

do sản xuất hàng ngày, do nước thải của vùng xung quanh và hóa chất sử dụng Trong đó ô nhiễm nguồn nước do sản xuất hàng ngày là nặng nề nhất vì lượng thức ăn đưa vào chỉ được thủy sản hấp thu được khoảng 25 – 30%, phần dư lại tồn tại trong môi trường nuôi làm ảnh hưởng đến chất lượng nước Với tính cấp thiết của vấn đề và nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi, góp phần

phát triển nghề nuôi trồng thủy sản bền vững nên tôi tiến hành đề tài “Hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện Ứng Hòa, Hà Nội”

1 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Thu mẫu và phân tích một số yếu tố môi trường nước ở nguồn nước cấp cho vùng nuôi trồng thủy sản tập trung tại huyện Ứng Hòa;

2.2 Thu mẫu phân tích một số yếu tố môi trường nước ở các hình thức nuôi trồng thủy sản chính tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung;

2.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước trong ao nuôi ở vùng nghiên cứu

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam

Trong những năm qua, nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, thu được những thành tựu to lớn, góp phần giảm nghèo, tạo thu nhập và công ăn việc làm cho một bộ phận lực lượng lao động ở nông thôn, đóng góp tích cực cho kinh tế nông nghiệp nói riêng và kinh tế đất nước nói chung NTTS được đánh giá là một trong những ngành sản xuất có tốc độ tăng trưởng rất nhanh (bảng 1.1) Hoạt động nuôi trồng thủy sản ở nước ta thực sự khởi sắc từ năm 1990 và đến năm 2000 – 2002 thì bùng phát cả về diện tích lẫn đối tượng nuôi [1] Việc mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản được tiến hành chủ yếu trên các vùng đất ngập nước ven biển, trong các thủy vực nước mặn ven

bờ, trên các vùng cát trũng thấp ven biển miền Trung và một phần diện tích từ canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản Theo thống kê của Tổng cục thủy sản, năm 1994, sản lượng thuỷ sản nuôi trồng

và khai thác nội địa mới chỉ đạt 397,168 tấn, chiếm 30.86% tổng sản lượng thủy sản Đến năm 2006, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1,69 triệu tấn; năm 2007 đạt 2,12 triệu tấn, chiếm trên 50% tổng sản lượng thuỷ sản Đến năm 2011, tổng sản lượng sản phẩm thủy sản đã đạt xấp xỉ 5.3 triệu tấn với giá trị kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt 6.18 tỷ USD trong đó sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt 3.052 triệu tấn chiếm 58% tổng sản lượng Hiện nay, NTTS đang đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với kinh tế - xã hội với kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm thủy sản đạt 4% GDP, tạo công ăn việc làm cho khoảng trên 4 triệu lao động Sản lượng nuôi trồng thủy sản đã tăng hơn 70 lần trong vòng 50 năm qua

Bảng 1.1 Sản lượng nuôi trồng thủy sản của VN

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4

Bên cạnh những thành tựu quan trọng, NTTS nước ta cũng đang phải đối mặt với một số vấn đề tồn tại về môi trường, dịch bệnh Biểu hiện rõ nét là tình hình bệnh thủy sản và môi trường suy thoái có chiều hướng gia tăng Việc tăng diện tích và sản lượng NTTS cũng tỷ lệ thuận với việc suy giảm chất lượng môi trường nuôi và diện tích thủy sản bị bệnh

Hình 1.1: Sản lượng nuôi trồng thủy sản của thế giới và Việt Nam

(Nguồn FishstatJ – FAO fishery and Aquaculture Global Statistics, 2013)

1.2 Tiềm năng và hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản của Thành phố Hà Nội

Trong thời gian gần đây, phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) tại Hà Nội ngày càng được chú trọng và đầu tư mạnh nhằm mục tiêu hướng tới phát triển bền vững, mang lại hiệu quả cho nông dân Với tổng diện tích mặt nước có khả năng NTTS là 30.840 ha, năm 2013 diện tích NTTS của Thành phố đạt 20.800 ha (tăng 15,8 % so với năm 2008), sản lượng đạt 75.000 tấn (tăng 23,2 % so với năm 2009) Bên cạnh đó NTTS còn có nhiều thuận lợi về thị trường tiêu thụ sản phẩm do hiện nay sản lượng thủy sản mới đáp ứng được 25-30 % nhu cầu tiêu thụ của Thành phố

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

Bảng 1.2 Diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản thành phố Hà Nội

Nguồn: Báo cáo Chi cục Thủy sản Hà Nội (2008-2013)

Việc tăng diện tích nuôi trồng thuỷ sản phản ánh quá trình chuyển đổi từ một ngành sản xuất nhỏ lẻ hướng tới mở rộng quy mô phát triển sản xuất sản phẩm hàng hoá trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Phần lớn diện tích mở rộng nuôi trồng thuỷ sản trong những năm qua được chuyển đổi từ những vùng úng trũng cấy lúa kém hiệu quả hình thành vùng NTTS tập trung hoặc nuôi kết hợp 1 lúa – 1 cá Kết quả này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất gắn liền với thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá gia tăng thu nhập cho người dân

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản được phân bố ở hầu hết các huyện của thành phố Trong đó, đã hình thành nên các huyện trọng điểm về phát triển thủy sản của thành phố với các vùng NTTS tập trung Diện tích NTTS năm 2011 của một số huyện trọng điểm: Ứng Hòa (2.013 ha), Mỹ Đức (2.369,36 ha), Chương Mỹ (1.852,6 ha), Ba Vì (1.877 ha), Phú Xuyên (1.366,4 ha), Thường Tín (1.022,85 ha), Thanh Oai (1.005,6 ha), Thanh Trì (823,08 ha),

Diện tích nuôi trong giai đoạn 2005 – 2011 của các huyện hầu hết đều tăng, chỉ có một số huyện có diện tích nuôi giảm do quá trình đô thị hóa Tuy nhiên các huyện này có diện tích nuôi nhỏ nên không ảnh hưởng đến diện tích nuôi của toàn thành phố Các huyện có tốc độ tăng bình quân về diện tích cao như: Thanh Oai (12,2%/năm), Thường Tín (12%/năm), Ứng Hòa (9,7%/năm), Gia Lâm (9,95%/năm), Chương Mỹ (7,6%/năm), Quốc Oai (7,6%/năm),

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6

Bảng 1.3: Diện tích nuôi chia theo đối tượng giai đoạn 2005 – 2011

Nguồn: Cục thống kê Hà Nội (2005 – 2011)

Trong giai đoạn 2005 – 2011, diện tích nuôi cá vẫn chiếm đa số diện tích NTTS (99% diện tích nuôi), diện tích còn lại dành cho ương giống, nuôi tôm (tôm

càng xanh) và nuôi các đối tượng thủy sản khác Trong các đối tượng cá nuôi thì các

đối tượng chủ yếu vẫn là cá truyền thống (trắm cỏ, chép, trôi, mè, rô phi, )

Mùa vụ nuôi:

Mùa vụ nuôi thường căn cứ vào đặc điểm thời tiết và đặc điểm sinh học của các đối tượng nuôi Nhìn chung mùa vụ nuôi thủy sản nước ngọt thường

được bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4 và kéo dài đến hết năm Thời điểm thu

hoạch cá vào các tháng 12 hay tháng 1 hoặc tháng 2 (năm sau) Tuy nhiên, để

tránh việc thu hoạch cá vào một thời điểm dẫn đến giảm giá thành sản phẩm vì

vậy nhiều vùng nuôi áp dụng phương pháp đánh tỉa, thả bù nên thực tế thu hoạch

cá được diễn ra quanh năm Nhiều hộ nuôi sử dụng cỡ giống lớn hoặc sử dụng

một số ao ương, khi cá đạt cỡ giống lớn sẽ chuyển sang ao nuôi thương phẩm

như vậy một năm có thể thu hoạch 3 – 4 lần Nhiều trang trại và hộ nuôi cá theo

mô hình nuôi kết hợp nên mùa vụ nuôi thực tế không rõ ràng

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7

1.3 Tình hình ô nhiễm nguồn nước bề mặt dùng trong nuôi trồng thủy sản

Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật và làm giảm tính đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất [17]

Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hóa chất độc hại, các loại vi khuẩn gây bệnh, virut, ký sinh trùng từ các nguồn chất thải khác nhau như chất thải từ các nhà máy sản xuất công nghiệp, các loại chất thải bệnh viện, rác thải từ hoạt động sống của con người hay hóa chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ sử dụng trong sản xuất nông nghiệp thải ra các ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống nước ngầm không qua xử lí với số lượng quá lớn vượt quá khả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao, hồ, sông, suối

Ô nhiễm kim loại ở môi trường đã gia tăng trong những năm gần đây do dân số toàn cầu gia tăng và sự phát triển của công nghiệp [39] Ô nhiễm kim loại nặng ở nhiều vùng cửa sông, vùng ven biển trên thế giới đã được biết từ lâu bởi tính độc hại đe dọa đến sự sống của sinh vật thủy sinh, gây nguy cơ cho sức khỏe con người Ô nhiễm Pb và Zn là một điều đáng quan tâm do ảnh hưởng độc hại của chúng lên hệ sinh thái tại các cửa sông của Úc, với hàm lượng rất cao 1000 µg/g Pb, 2000 µg/g Zn có thể tìm thấy trong các trầm tích bị ô nhiễm Bryan (1982) đã xác định hàm lượng chì vô cơ trong trầm tích cửa sông Anh biến động

từ 25 µg/g trong khu vực không bị ô nhiễm, đến hơn 2700 µg/g trong cửa sông Gannel nơi nhận chất thải từ việc khai thác mỏ chì

Việt Nam là nước đang phát triển, các thành phố lớn tập trung nhiều khu công nghiệp, tình trạng ô nhiễm nguồn nước bề mặt bởi các chất thải chưa được

xử lý triệt để đang là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước và của toàn xã hội Hiện tại với tổng lượng nước thải công nghiệp lên khoảng 100.000 m3/ngày đêm Theo Cục Bảo vệ Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), hệ thống các ao,

hồ, kênh, rạch ở các thành phố lớn đều ở tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng vượt

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8

quá tiêu chuẩn cho phép 5 – 10 lần; các hồ trong nội thành tại các thành phố lớn hiện nay (Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế) phần lớn ở trạng thái phú dưỡng, nhiều hồ bị phú dưỡng hóa đột biến và tái nhiễm bẩn hữu cơ [2]

Ở Hà Nội, tổng lượng nước thải thành phố lên tới 300.000 – 400.000

m3/ngày, hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải, lượng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom khoảng 1.200 m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hòa tan, NH4+, NO2-,

NO3- ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép [17]

Các số liệu thống kê cho thấy các nguồn thải ở Hà Nội rất đa dạng và số lượng chất thải không ngừng tăng lên theo tốc độ phát triển công, nông nghiệp cũng như tốc độ tăng dân số Theo số liệu thống kê, Hà Nội có 178 nguồn thải Mật độ nguồn thải ở Hà Nội là 0,195 nguồn/km, gấp 20 lần mức trung bình toàn quốc [10.1] Khảo sát của Cục Bảo vệ môi trường cho thấy: Nguồn nước mặt ở các sông nội thành Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đặc biệt là các con sông thoát nước thải như sông Nhuệ và sông Tô Lịch Hàm lượng amonia tại các điểm đo được trên các sông nội thành vượt trên 20mg/l, hàm lượng NO2- đo được từ 0,7 – 1,5 mg/l vượt quá tiêu chuẩn cho phép 15 – 30 lần, mật độ coliform cao gấp hàng chục lần

Bên cạnh nước thải y tế, nước thải sinh hoạt cũng là nguồn ô nhiễm cho môi trường nước Trong sinh hoạt hàng ngày, con người cũng thải vào môi trường một lượng chất thải đáng kể và đấy cũng là một trong những nguy cơ gây

ô nhiemx nguồn nước bè mặt Tập quán sử dụng phân chuồng trong nuôi cá vẫn còn phổ biến ở nhiều nơi cũng là nguồn ô nhiễm môi trường nước

1.4 Hiện trạng nguồn nước cấp cho các vùng nuôi trồng thủy sản trên địa bàn Hà Nội

Hiện nay, nguồn nước cấp để sử dụng trong NTTS trên địa bàn Hà Nội chủ yếu được lấy từ sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ; tại một số vùng NTTS, được lấy từ sông Đà và các hồ chứa lớn.Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9

và quá trình đô thị hóa, nước thải sinh hoạt, các chất thải, nước thải từ các nhà máy, bệnh viện ở Hà Nội đều đổ ra các con sông làm cho nguồn nước từ các con sông này, đặc biệt là sông Đáy, sông Nhuệ đã và đang bị ô nhiễm rất nghiêm trọng Hàng ngày sông Nhuệ tiếp nhận 800.000m3 nước thải Kết quả giám định của Viện Quy hoạch thủy lợi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, tại cầu Tó, nơi nhận nước thải lớn nhất tại sông Tô Lịch, hàm lượng các chất hóa học đều vượt giới hạn B (giới hạn độc hại của tiêu chuẩn 5942 - tiêu chuẩn dùng

để đánh giá mức độ ô nhiễm của một nguồn nước mặt) nhiều lần Lượng NO2 có lúc đạt 0,508 mg/lít (vượt giới hạn B 10 lần); lượng NH4+ là 2,005 mg/l (gấp đôi giới hạn B); lượng Coliform, loại vi khuẩn có trong phân từ 110.000 - đến 330.000 mpn/100 ml (vượt quá giới hạn B 33 lần) Như vậy, nước sông Nhuệ, sông Đáy bị ô nhiễm và có khả năng kéo dài

Với chất lượng nước sông ô nhiễm như vậy thì người nuôi trên địa bàn Hà Nội gặp rất nhiều khó khăn về nguồn nước để phục vụ cho NTTS Bên cạnh đó, hầu hết các vùng NTTS chưa có hệ thống cấp thoát nước riêng biệt, thậm chí nước thải từ ao nhiễm bệnh thải ra mương cấp, thoát chung lại là nguồn nước cấp vào các ao khác làm phát tán mầm bệnh Việc sử dụng thức ăn là các phế phẩm nông nghiệp, phế phẩm chăn nuôi (bã sắn, bã bia, phân gà, phân lợn…) không đúng cách đã làm tăng lượng chất thải hữu cơ trong ao nuôi, tạo môi trường thuận lợi cho mầm bệnh phát triển Trong khi đó, người nuôi thủy sản còn thiếu kiến thức về nuôi thủy sản bền vững, chưa thường xuyên cập nhật các thông tin

về các quy định mới của nhà nước về sử dụng thuốc trong nuôi trồng thủy sản nên dẫn đến việc sử dụng không đúng cách, không đúng liều lượng; dẫn đến tồn tại các mối nguy trong sản phẩm thủy sản và làm cho chất lượng thủy sản khó kiểm soát

1.5 Đặc điểm môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản

Trong thiên nhiên, những loài sinh vật sống trong nước, coi nước như là nơi cư trú, di chuyển, tìm kiếm thức ăn Nước là một tấm vỏ bọc bảo vệ rất an toàn cho thủy sinh vật [5] Giống như con người cần không khí trong lành để

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

được sống lâu, cá và các sinh vật khác sống dưới nước cần có nước chất lượng tốt để sống khỏe mạnh Đã từ lâu, người ta đều biết rằng chất lượng nước, mầm bệnh và sức khỏe của các loại thủy sản có mối liên hệ mật thiết với nhau Khi nước có chất lượng tốt, các tác nhân gây bệnh không có điều kiện thuận lợi để phát triển và gây bệnh cho vật nuôi Ngược lại, khi nguồn nước bị ô nhiễm sẽ tạo điều kiện cho các mầm bệnh phát triển mạnh, gây bệnh cho các loại thủy sản làm cho chúng dễ bị mắc bệnh và chết [5]

Môi trường nước trong ao nuôi bao gồm tổng thể các mối quan hệ của các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học Các yếu tố này tác động và có mối quan hệ hữu cơ với nhau Sự biến động của yếu tố này sẽ kéo theo sự biến động của các

yếu tố khác Arnold et al (1992) đã phân loại đặc điểm môi trường ao nuôi ra

thành nhiều nhóm Trong đó đặc tính vật lý và kết hợp của vật chất bao gồm các yếu tố độ trong, độ đục, vật chất lơ lửng và hòa tan; thành phần vô cơ phi kim loại như là CO2, TAN, NO2-, PO43-, …; thành phần hữu cơ kết hợp bao gồm COD, BOD, tannin …; và các thông số đánh giá sinh học như vi khuẩn, chlorophyll-a, phytoplankton, zooplankton …

Tuy nhiên, dù các thông số trên được phân chia thế nào thì chất lượng môi trường ao nuôi cũng đều do các yếu tố trên quyết định, từ đó sẽ có những ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống của đối tượng nuôi Mỗi đối tượng đòi hỏi một điều kiện môi trường có chất lượng khác nhau để thích nghi Các yếu tố này luôn luôn biến đổi và chịu sự chi phối bởi sự tác động bên ngoài

1.5.1 pH

Theo Lê Văn Cát và ctv (2006), Boyd (1990) thì khoảng tối ưu cho tôm

cá nước ngọt phát triển và sinh sản là từ 6,5 – 9,0 Điểm chết đối với chúng là pH

< 4 và pH > 11 Huỳnh Trường Giang và ctv (2007) thì nhận định rằng sự thâm canh hóa càng cao, mật độ thả nuôi cao, thức ăn cung cấp tăng dần theo năng suất dẫn đến sự tích tụ về chất dinh dưỡng làm cho tảo phát triển mạnh và làm

pH của nước tăng cao vào giữa trưa

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11

Theo QCVN 38:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh, chỉ số pH đảm bảo cho đời sống thủy sinh nằm trong khoảng 6,5 – 8,5

1.5.2 Oxy hòa tan (DO)

Nồng độ oxy hòa tan tự do trong nước khoảng 8 – 10 ppm và sẽ dao động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ và các quá trình phân hủy các hợp chất và sự quang hợp của thực vật thủy sinh (Lê Văn Khoa, 2001) Trong ao hồ nuôi thâm canh, lượng oxy trong nước được quyết định chủ yếu bởi các hoạt động sinh hóa, lượng oxy khuếch tán từ không khí chỉ có vai trò thứ yếu Khi oxy hòa tan thấp làm giảm hoạt động hoặc gây chết thủy sinh vật, do đó ooxxy hòa tan là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của thủy vực (Lê Văn Cát và ctv., 2006) Theo Smith (1982), hàm lượng DO cần thiết cho quá trình trao đổi chất là 3,0 – 7,0 mg/L Rogers và Fast (1988) cho rằng tôm cá sẽ bị sốc nếu hàm lượng

DO < 2,0 mg/L trong thời gian dài Lawson (1995), Boyd (1998) và Timmons et

al (2002) cho rằng hàm lượng oxy hòa tan lý tưởng phải lớn hơn 5,0 mg/L đến bão hòa

Theo QCVN 38:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh, hàm lượng oxy hòa tan phải ≥ 4 mg/L

1.5.3 Tiêu hao oxy hóa học (COD)

Giá trị của COD của nước phụ thuộc vào nhiệt độ và hàm lượng chất hữu

cơ trong thủy vực COD quan hệ tỷ lệ thuận với các hợp chất hữu cơ, các hợp chất hydrocarbon trong nước Các hợp chất này có thể bị oxy hóa 95 – 100% và khả năng oxy hóa phụ thuộc rất lớn vào hàm lượng ion Cl- trong nước Khi hàm lượng ion Cl- hiện diện cao thì hầu như quá trình oxy hóa này ít được xảy ra

(Aronol et al., 1992)

Theo Lê Như Xuân và ctv (1994) thì COD thích hợp cho các ao nuôi cá là

15 – 30 ppm, giới hạn cho phép là 15 – 40 ppm

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12

1.5.4 Nitrite (NO 2 - )

Nitrite là dạng đạm độc, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hô hấp của cá khi nồng độ trong nước cao Độ độc nitrite phụ thuộc rất nhiều vào nồng độ oxy hòa tan, pH, mức độ nhiễm bẩn, … (Nguyễn Đình Trung, 2004) Nitrite (NO2-) trong nước có thể do các nguồn ô nhiễm xâm nhập vào hoặc là hợp chất trung gian của quá trình phân hủy sinh ra từ ammoniac thành nitrat Nó cũng là tác

nhân gây độc đối với động vật thủy sinh (Lê Văn Cát và ctv., 2006)

Hàm lượng nitrite (NO2-) thích hợp cho ao nuôi cá < 0,3 mg/l và nirat (NO3-) là một trong những dạng đạm được thực vật hấp thu dễ dàng, không độc hại đối với thủy sinh vật là 0,2 – 10 mg/l (Boyd, 1998) Theo Boy, 1998 thì trong

ao nuôi cá nheo có thay nước hàm lượng nito tổng và COD tăng theo thời gian nuôi, trong đó nito ở dạng nitrite và nitrate không vượt quá 0,05 mg/l và ammonia tổng không vượt quá 0,75 mg/l Trong thủy vực tự nhiên độc tính của nitrite trong ao sẽ giảm xuống nếu có mặt ion Cloride (Boy, 1998)

Hàm lượng Nitrite (NO2-) được hình thành chủ yếu bởi quá trình nitrite hóa

từ tổng đạm amôn (TAN) NO2- sinh ra từ quá trình oxy hóa NH4+ dưới tác động của

vi khuẩn Nitrosomonas, như vậy NO2- chỉ tăng lên khi có NH4+ và vi khuẩn nitrite hóa phát triển trong ao Do đó khi hàm lượng NH4+ trong ao thấp thì hàm lượng

NO2-sẽ thấp Mặt khác, theo Chapman (1997), hàm lượng NO2- trong nước ngọt thường rất thấp và luôn nhỏ hơn 1,0 mg/l Ngay cả trong ao nuôi cá trê lai thâm canh

có chất dinh dưỡng cao nhưng hàm lượng NO2- cũng chỉ dao động từ 0,003 – 0,68

mg/l (Lam Mỹ Lan, 2004) Timmons et al (2002) và Boyd et al (2000) đã chỉ ra

rằng hàm lượng NO2- trong ao nuôi thủy sản phải nhỏ hơn 1,0 mg/l

1.5.5 Đạm nitrate (NO 3

-)

Theo Boyd (1998) nitrate là dạng đạm không độc nhưng với hàm lượng quá cao cũng không có lợi cho tôm cá, khi hàm lượng nitrate trong nước cao sẽ làm tảo phát triển quá mức Theo nhận định của ông thì hàm lượng NO3- thích hợp trong ao nuôi thủy sản từ 0,2 – 3,0 mg/l Riêng Lawson (1995) đã nhận xét hàm lượng NO3- thích hợp cho ao nuôi thủy sản là nhỏ hơn 3,0 mg/l

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13

Ion NO2- không bền dưới tác dụng của vi khuẩn nitrobacter với sự có mặt của oxy, chúng bị oxy hóa tạo thành NO3- Ion NO3- là sản phẩm cuối cùng của

sự vô cơ hóa các hợp chất hữu cơ có chứa nitơ

1.5.6 Nhu cầu oxy sinh hóa – BOD

BOD là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật tiêu thụ trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong nước trong điều kiện hiếu khí

Chỉ số BOD chỉ ra lượng oxy mà vi sinh vật tiêu thụ trong phản ứng oxy hóa các chất hữu cơ trong nước , chỉ số BOD càng cao chứng tỏ lượng chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học trong nước càng lớn (Nguyễn Đình Trung, 2004)

1.5.7 Hàm lượng đạm amoni (NH 4 +

)

Amonia trong nước được cung cấp từ quá trình amôn hóa các protein của thức ăn dư thừa, xác bã động thực vật thối rữa, sản phẩm thải của cá và nguồn phân vô cơ và hữu cơ trong nước Tất cả các chất này đều phải trải qua quá trình amôn hóa để chuyển thành NH3 và NH4+ nhờ nhiều vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí NH3 có độc tính cao hơn NH4+ từ 300 – 400 lần Nồng độ gây chết đối với cá của NH3 là 0,5 – 1,0 mg/l (Nguyễn Đình Trung, 2004)

Theo Colt và Amstrong (1979) thì tác động độc hại của NH3 đối với vật nuôi là: Khi NH3 trong nước quá cao làm cho NH3 trong dịch máu khó tiết ra môi trường ngoài, làm lượng NH3 trong máu và các mô gia tăng, dẫn đến làm tăng pH máu Từ đó, làm rối loạn chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu của màng tế bào, phá hủy lớp nhớt ở mang, giảm khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin Thông thường thì NH4+ sẽ được tảo sử dụng, khi ao có ít tảo ammonia sẽ được tích lũy lại Nồng độ NH4+ cao là đặc trưng cho những ao có lượng chất hữu cơ lớn, mật độ thả cao và tảo hoạt động không bình thường (Nguyễn Đình Trung, 2004)

1.5.8 Tổng đạm amôn (TAN)

Tổng đạm amôn bao gồm NH3 và NH4+ trong đó NH4+ là dạng phân đạm cần thiết cho sự phát triển của thực vật, nó thúc đẩy sự phát triển mạnh của tảo trong các ao nuôi Khi cơ thể động vật đồng hóa protein trong thức ăn thì một

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14

phần chuyển thành ammoniac và được bài tiết vào trong nước Nồng độ NH3

trong ao nuôi tỷ lệ thuận với lượng thức ăn sử dụng (Lê Văn Cát và ctv., 2006)

Đạm amôn còn được sinh ra trong nước do quá trình phân hủy hợp chất hữu cơ

có chứa nito

1.5.9 Photpho tổng số hòa tan

Photpho là nguyên tố giới hạn cho sự phát triển phiêu sinh thực vật trong

hệ thống ao nuôi thủy sản (Boyd, 1990) và nếu trong thủy vực tự nhiên có nhiều photpho thì thực vật phiêu sinh càng phát triển (Lee, 1970) Thật vậy, Mortimer (1954) và Hicking (1962) đã thí nghiệm trên ao bón phân thì hàm lượng photpho tăng đồng thời năng suất cá cũng tăng Ở thực vật phiêu sinh có thể hấp thu photpho vô cơ hòa tan (PO43-), đối với động vật photpho có trong photphoprotein, nucleic acid và photpholipid đóng vai trò rất quan trọng trong việc trao đổi năng lượng Khi nghiên cứu chu trình photpho trong ao nuôi cá nheo có thể nhận thấy photpho cũng có chiều hướng tăng với COD và tổng đạm theo thời gian nuôi, trong đó PO43- chiếm 10-20% tổng lân (Boyd, 1990)

Tuy nhiên, lân hòa tan trong nước cũng dễ bị lớp bùn đáy hấp thu, từ đó làm giảm lượng lân hòa tan trong nước, mặt khác chúng còn bị kết tủa dưới dạng

Ca3(PO4)2 Thông thường, đối với môi trường ao nuôi giải dinh dưỡng, TAN và lân hòa tan rất cao, nhưng đối với ao có lớp bùn đáy dày, độ cứng cao thì sự biến động lân hòa tan không cùng quy luật với TAN

Theo kết quả nghiên cứu của Pekar (1997), hàm lượng lân hòa tan trong

ao dao động khoảng 0,02 – 0,4 mg/l là thể hiện chất lượng nước ao nuôi có hàm lượng dinh dưỡng khá phong phú, là điều kiện để tảo phát triển tốt trong ao Thông thường, trong nước mặt tự nhiên hàm lượng lân hòa tan tồn tại từ 0,005 – 0,02 mg/l và trong nước ngầm giá trị này đạt khoảng 0,02 mg/l (Chapman, 1997) Riêng đối với nuôi thủy sản, để quản lý tốt sự phát triển của tảo trong ao thì lượng lân hòa tan phải giao động khoảng 0,005 – 0,2 mg/l Tảo không phát triển khi hàm lượng lân hòa tan nhỏ hơn 0,005 mg/l và nở hoa khi hàm lượng lân hòa tan vượt quá 0,2 mg/l (Boyd, 1998)

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15

1.5.10 Thủy ngân (Hg)

Thủy ngân ở dạng vô cơ, dạng oxide, dạng ion được sử dụng khá nghiều trong đời sống, chẳng hạn các loại pin thủy ngân, nhiệt kế, bình thủy, đèn neon (dạng hơi), thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm, … Nguồn gây ô nhiễm Hg ra môi trường đến từ các nhà máy điện đốt than; các lò đốt rác thải; những nơi khai thác thủy ngân, vàng, đồng, kẽm, bạc; các hoạt động luyện kim; thải bỏ các nhiệt kế

và từ đốt rác thải y tế Riêng chất thải từ các thiết bị y tế có thể giải phóng khoảng 5% tổng lượng thủy ngân được thải ra trong nước thải [36]

Trong môi trường nước biển, các loài vi khuẩn ưa mặn sẽ biến đổi thủy ngân vô cơ (ít độc) thành thủy ngân hữu cơ (methyl mercury) có độc tính cao Các loài thủy sinh có thể hấp thu thủy ngân hữu cơ và tích tụ trong cơ thịt của chúng với nồng độ lớn hơn hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong môi trường nước chúng đang sống [8] Hơn 95% hàm lượng thủy ngân trong cơ thịt thủy sản ở dạng methyl thủy ngân Con người là chuỗi mắt xích cuối cùng nhiễm thủy ngân, sau khi ăn các loài cá nhiễm chất này

Khi xâm nhập vào cơ thể, thủy ngân có thể liên kết với những phân tử như nucleic acid, protein … làm biến đổi cấu trúc và ức chế hoạt tính sinh học của tế bào Sự nhiễm độc thủy ngân gây nên những thương tổn trung tâm thần kinh với triệu chứng run rẩy, khó khăn trong diễn đạt, giảm sút trí nhớ … và nặng hơn nữa

có thể gây tê liệt, nghễnh ngãng, nói lắp Nếu nhiễm độc thủy ngân qua đường ăn uống với liều cao, một thời gian sau (có thể từ 10 – 20 năm) sẽ gây tử vong Liều gây chết của Hg là 1 gram, liều gây ngộ độc cấp tính, thường dẫn đến tử vong là

150 – 200 mg, gây ngộ độc mãn tính sau vài tuần là 0,4 – 0,5 mg/24 giờ và liều

có thể gây nhiễm độc mãn tính là 0,007mg/24 giờ [8]

1.5.11 Chì (Pb)

Chì ở dạng muối như axetat chì, cacbonat chì … rất nguy hiểm bởi độc tính của chúng rất cao Chất thải công nghiệp sản xuất chì đã làm ô nhiễm đất, nước và không khí, rồi gây nhiễm độc cho người qua dây truyền lương thực và thực phẩm Chì có mặt trong tất cả các đại dương trên thế giới với hàm lượng cao, do hoạt

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16

động của công nghiệp, giao thông vận tải của con người, gây ô nhiễm cho hệ động – thực vật, hàm lượng chì cao nhất ở tôm, cua, cá và vẹm là các loài thủy hải sản chiếm vị trí quan trọng trong món ăn hàng ngày của con người

Ngày nay, ô nhiễm chì chủ yếu do nguồn khí thải của ô tô, xe máy Ở các thành phố lớn, hàm lượng chì trong môi trường khá cao Do vậy, xăng pha chì đã

bị cấm sử dụng hoàn toàn tại nhiều nước đã góp phần cải thiện môi trường không khí Thực phẩm thủy sản bị nhiễm chì từ môi trường nuôi bị ô nhiễm

Liều tối đa có thể chấp nhận cho một người trong một ngày là 0,005 mg/kg thể trọng, liều bắt đầu có triệu chứng ngộ độc là 0,5 mg/ngày, với liều 10mg/ngày có thể gây ngộ độc nặng sau 2 tuần Liều gây chết là 1gram hấp thụ vào cơ thể một lần Liều gây độc của axetat chì là 1 mg và của cacbonat chì là 2 – 4 gram đối với người lớn [23] Việc điều trị nhiễm độc chì rất phức tạp, tỷ lệ khỏi bệnh rất thấp

1.5.12 Thuốc trừ sâu gốc clo hữu cơ

Các hợp chất clo hữu cơ là những thuốc trừ sâu có phổ tác động rộng Diệt côn trùng bằng con đường tiếp xúc và vị độc Một số thuốc trong nhóm còn có tác dụng xông hơi Dễ gây hiện tượng chống thuốc của sâu hại Thuốc ít tan trong nước nhưng dễ tan trong các dung môi hữu cơ, rất bền trong môi trường và hiệu lực tồn tại lâu dài

Thuốc có tính hóa học bền vững, tồn tại lâu trong môi trường sống, gây ô nhiễm môi trường Một số thuốc còn có khả năng tích lũy trong cơ thể sinh vật, gây hiện tượng trúng độc mãn tính hoặc tích lũy sinh học trong chuỗi thức ăn tự nhiên

Ở Việt Nam thường sử dụng 11 loại thuốc trừ sâu gốc cho hữu cơ là: 2,4

D Methylester; Silvex; Lindane; Heptachlor; Aldrin; Chlodane; Dieldrin, p,p’DDE; Endrin; p,p’-DDT; Methoxychlor

-Ở nước ta nền nông nghiệp còn lạc hậu, người nông dân vẫn chưa ý thức cao trong việc sử dụng thuốc trừ sâu nên đã sử dụng một cách tùy tiện, không tuân theo quy định dùng thuốc và ngưng dùng thuốc trong trồng trọt nên đã dẫn đến sự tồn dư các thuốc trừ sâu trong nguồn nước và ảnh hưởng đến vấn đề nuôi

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17

trồng thủy sản và xuất khẩu thủy sản Sự tồn dư thuốc trừ sâu trong môi trường nước và việc sử dụng thủy hải sản có phơi nhiễm thuốc trừ sâu có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe con người

Sử dụng thuốc trừ sâu liên tục và không theo một giới hạn nghiêm ngặt trong quá trình trồng trọt và chăn nuôi đã đặt một nghi vấn cho người tiêu dùng thực phẩm về nguy cơ tồn dư thuốc trừ sâu có thể vượt quá quy định cho phép

Do đó việc kiểm tra hàm lượng thuốc trừ sâu trong các sản phẩm thủy sản và trong nguồn nước là hết sức cần thiết

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18

1.5 Các nghiên cứu về quan trắc môi trường và đánh giá chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam

Năm 2001, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Thuỷ Sản tổ chức khởi đầu hoạt động “Quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh thủy sản” cho ngành Thuỷ sản nhằm tìm ra hình thức hoạt động quan trắc môi trường phù hợp với đặc thù hoạt động của ngành Thủy sản Bộ Thuỷ sản đã phân công các cơ quan chức năng trong Ngành tham gia thực hiện đề tài nghiên cứu về

“Quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh phục vụ ngành thuỷ sản” Theo đó

4 Trung tâm quan trắc mới về dự báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh phục

vụ nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản được thiết lập Đây là cơ sở để tiến tới hình thành mạng lưới quan trắc cảnh báo môi trường và dịch bệnh phục vụ nuôi trồng thuỷ sản cho ngành thủy sản Từ năm 2004, các trung tâm quan trắc ngành thủy sản từng bước hoà nhập với mạng lưới quan trắc môi trường chung của quốc gia

Năm 2005, Nguyễn Chu Hồi, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Thọ đã có nghiên cứu về “Bước đầu đánh giá môi trường trong nuôi trồng thủy sản ven biển Việt Nam” Nghiên cứu đã xác định một số chỉ tiêu về chất lượng nước như: hàm lượng oxy hòa tan, BOD, các giá trị nitrit, nitrat, amonia, photphats tại các vùng nuôi trồng thủy sản ven biển Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy khu vực ven biển đồng bằng Sông Cửu Long, có sự ô nhiễm nhẹ bởi chỉ số BOD và photphats Khu vực ven biển và nội đồng của Việt Nam hầu như không bị ô nhiễm nặng bởi chất hữu cơ

Năm 2011, Nguyễn Đình Vượng, Nguyễn Văn Lân, Đinh Quang Toàn và

Võ Xuân Cường đã thực hiện “Đánh giá chất lượng môi trường nước vùng nuôi trồng thủy sản huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu”

Năm 2012, Nguyễn Thị Quỳnh Anh và Phạm Văn Hùng đã nghiên cứu “ Giải pháp quản lý môi trường nuôi trồng thủy sản các huyện phía Nam thành phố

Hà Nội” đăng trên tạp trí Khoa học và phát triển năm 2012, tập 10, số 7 Tuy nhiên nghiên cứu này sử dụng đồng thời các số liệu, thông tin thứ cấp và sơ cấp

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19

Các số liệu, thông tin thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau Số liệu sơ cấp được thu thập từ việc phỏng vấn trực tiếp 225 hộ nông dân nuôi trồng thủy sản ở 4 huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên và Chương Mỹ Kết quả của

việc thu thập thôn tin từ 225 hộ nuôi trồng thủy sản cho thấy có 48% số hộ cho

rằng nước nuôi trồng thủy sản bị ô nhiễm, 18,22% đánh giá ở mức độ rất ô nhiễm, mức bình thường chiếm 30,67% số hộ, chỉ có 3,11% số hộ cho rằng là nước nuôi trồng thủy sản khá tốt

Qua đó cho thấy đã có các nghiên cứu về đánh giá chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở các vùng biển hoặc các vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn và vùng đồng bằng sông Cửu Long Nghiên cứu của (Nguyễn Thị Quỳnh Anh và Phạm Văn Hùng, 2012) chỉ mang tính chất điều tra khảo sát

1.6 Vài nét về địa điểm nghiên cứu

1.6.1 Vị trí địa lý

Ứng Hòa là một huyện phía nam của Hà Nội, phía bắc giáp huyện Chương

Mỹ và Thanh Oai, phía nam giáp huyện Duy Tiên (Hà Nam) và Kim Bảng (Hà Nam), phía tây giáp huyện Mỹ Đức, phía đông giáp huyện Phú Xuyên

1.6.2 Đặc điểm địa hình

Nhìn chung, địa hình của Ứng Hòa tương đối bằng phẳng Sông Đáy là phân giới tự nhiên phía tây của huyện, đồng thời cũng là giao tuyến phân chia địa hình núi đá vôi với đồng bằng chiêm trũng

Ứng Hòa có hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh tưới tiêu cho hầu hết diện tích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản của huyện Nguồn nước được lấy từ 2 con sông chảy qua huyện là sông Đáy và sông Nhuệ Tuy nhiên, mấy năm gần đây 2 sông này đã bị ô nhiễm nguồn nước do các công trình công nghiệp thải trực tiếp ra sông, đặc biệt là sông Nhuệ

Trang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20

1.6.3 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại Ứng Hòa, Hà Nội

Ứng Hòa (Hà Nội) là một trong những huyện tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp Nhiều vùng trồng lúa kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi trồng thủy sản (NTTS) mang lại lợi nhuận cao Mặc dù NTTS lãi gấp 3 lần so với cấy lúa, nhưng khó khăn lớn nhất của người NTTS Ứng Hòa là nguồn nước nên sự phát triển chưa xứng với tiềm năng

Từ năm 2005 đến nay, trên địa bàn huyện đã chuyển đổi được 1.945 ha ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả sang NTTS và bước đầu đã hình thành nên các vùng NTTS tập trung như: xã Liên Bạt (73 ha), Phương Tú (200 ha), Trung Tú (250 ha), Trầm Lộng (161 ha), Hòa Lâm (250 ha), Tảo Dương Văn (93 ha), Đồng Tân (87 ha), Minh Đức (80 ha), Vạn Thái (45 ha): hình thành hơn 100 trang trại, vườn trại nuôi trồng thủy sản, sản xuất đa canh lúa - cá - vịt Trong đó, có 44 dự

án với diện tích khoảng 1.100ha chuyển đổi được ngân sách nhà nước hỗ trợ 13

tỷ đồng Nhiều mô hình phát huy hiệu quả tốt như dự án nuôi thủy sản bán công nghiệp tại các xã Phương Tú, Trung Tú… Ngoài thả cá, các hộ dân ở đây còn tận dụng mặt nước nuôi vịt và lợn… cho giá trị thu nhập cao, nhiều hộ đạt thu nhập 100-120 triệu đồng/ha; năng suất bình quân đạt 6,2 – 6,5 tấn/ha

1.6.4 Tình hình nuôi trồng thủy sản tại khu vực nghiên cứu

Ứng Hòa (Hà Nội) là một huyện có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất của

Hà Nội (2.400 ha), có 9 vùng nuôi trồng thủy sản tập trung thuộc các xã Phương Tú, Liên Bạt, Trung Tú, Trầm Lộng, Hòa Lâm, Tảo Dương Văn, Đồng Tân, Minh Đức

và Vạn Thái Trong đó Phương Tú là xã hình thành vùng nuôi trồng thủy sản tập trung sớm nhất và phát triển nuôi trồng thủy sản ở xã này mạnh nhất

Phương Tú có 60% diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi sang diện tích nuôi trồng thủy sản Hiện nay trên toàn xã có 1 vùng nuôi trồng thủy sản tập trung với diện tích khoảng 200 ha, gồm 121 hộ nuôi thủy sản Đối tượng nuôi chính tại đây là nuôi ghép các loại cá truyền thống như: mè, trôi, chép, trắm… với nhau trong đó đối tượng ghép chính là cá chép và một số ít hộ nuôi ếch, ba

ba, cá sấu, cá rô phi đơn tính Năng suất thủy sản bình quân đạt 6,2 đến 10,5 tấn

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21

cá/ha/năm, cho thu nhập từ 85 đến 100 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 3 đến 5 lần so với cấy lúa Vùng nuôi trồng thủy sản tập trung tại xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa mỗi năm cung cấp cho thị trường Hà Nội và các huyện lân cận khoảng 230 tấn cá các loại Nhiều hộ đầu tư vốn lớn xây dựng khu chăn nuôi thuỷ sản qui mô cho thu nhập hơn 100 triệu đồng/ha

Mặc dù cho giá trị kinh tế cao nhưng nuôi trồng thủy sản ở đây không phải không còn những khó khăn Khó khăn lớn nhất trong nuôi trồng thủy sản ở vùng này là cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản, chưa đáp ứng yêu cầu Hệ thống cấp nước riêng rẽ phục vụ cho nuôi trồng thủy sản của vùng nuôi trồng thủy sản tập trung thuộc xã Phương Tú cũng chưa có,

mà sử dụng chung với hệ thống nước tưới tiêu trong nông nghiệp, do đó nguồn nước phục vụ cho nuôi trồng thủy sản tại đây chưa được chủ động Hầu hết diện tích ao nuôi thủy sản của vùng đều dựa vào nguồn nước tự nhiên (chủ yếu từ sông Nhuệ) trong khi đó môi trường nước ngày càng ô nhiễm, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh sản, phát triển của cá Không chỉ khó khăn về nguồn nước

mà việc đưa khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng thủy sản ở đây vẫn rất thiếu, rất nhiều người nuôi trồng thủy sản ở đây chủ yếu làm dựa vào kinh nghiệm Các kiến thức về chăm sóc cá, quản lý môi trường nước để phòng trừ dịch bệnh hầu như chưa có Vì vậy, mà năng suất và sản lượng thấp và không ổn định, dịch bệnh thường xuyên xảy ra Bên cạnh đó, nguồn vốn của nông dân đầu tư vào NTTS còn hạn hẹp, các nguồn vay hỗ trợ khó tiếp cận, nên bà con rất khó khăn cho việc đầu tư lớn để mở rộng sản xuất

Tại xã Phương Tú có 2 hình thức nuôi phổ biến mà người nuôi đang áp dụng là hình thức nuôi bán thâm canh có sử dụng thức ăn công nghiệp và hình thức nuôi theo kiểu kết hợp giữa nuôi vịt - cá

* Hình thức nuôi công nghiệp và hình thức nuôi kết hợp cá – vịt:

- Hình thức nuôi công nghiệp: Nghiên cứu được tiến hành tại 5 hộ nuôi với đối tượng nuôi (chép, trắm, trôi, mè, ) với đối tượng nuôi chính là cá chép; Thức ăn các hộ nuôi sử dụng là cám cargill; mật độ và diện tích nuôi như sau:

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22

- Hình thức nuôi kết hợp cá – vịt: nghiên cứu được tiến hành tại 5 hộ nuôi

cá (chép, trắm, roophi, mè, trôi) kết hợp với nuôi vịt, với mật độ nuôi cá và vịt như sau:

(m 2 )

Mật độ (con/m 2 )

Số lượng vịt (con)

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23

Hình 1.2 Bản đồ quy hoạch nuôi trồng thủy sản huyện Ứng Hòa

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng đồng thời cả thông tin thứ cấp và sơ cấp Các tài liệu

và thông tin thứ cấp được thu thập từ nguồn của Chi cục Thủy sản và báo cáo của UBND xã Phương Tú

Số liệu sơ cấp được nghiên cứu từ kết quả phân tích mẫu nước của nguồn nước cấp cho vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và 10 hộ nuôi trồng thủy sản của xã Phương Tú, cụ thể như sau:

2.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: một số yếu tố môi trường trong nước nuôi trồng thủy sản

- Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm:

+ Đối với nguồn nước cấp cho vùng nuôi trồng thủy sản phân tích các chỉ tiêu: pH, oxy hòa tan, COD, BOD5, nitrit, nitrat, amoni, chì, thủy ngân, thuốc trừ sâu Clo hữu cơ, Photpho tổng số hòa tan

+ Đối với các hình thức nuôi tại vùng nuôi trồng thủy sản phân tích các chỉ tiêu: pH, oxy hòa tan, COD, BOD5, nitrit, nitrat, amoni và Photpho tổng số hòa tan

- Thời gian nghiên cứu: Từ 6 - 11/2013

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Thu mẫu và phân tích các yếu tố môi trường nước ở nguồn nước cấp cho vùng nuôi trồng thủy sản tập trung tại huyện Ứng Hòa;

- Thu mẫu phân tích các yếu tố môi trường nước ở các hình thức nuôi trồng thủy sản chính tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung;

- Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước trong ao nuôi ở vùng nghiên cứu

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung thuộc xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, Hà Nội

2.4 Cách chọn mẫu và lấy mẫu

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25

Theo phương pháp lấy mẫu có chủ đích

- Thu mẫu tại nguồn nước cấp cho vùng nuôi trồng thủy sản tập trung thuộc

huyện Ứng Hòa (xã Phương Tú): thu tại nguồn nước cấp trực tiếp cho 5 ao nuôi theo

hình thức thâm canh và 5 ao nuôi theo hình thức nuôi kết hợp cá – vịt

- Thu mẫu tại các ao nuôi (các hộ đều nuôi ghép các đối tượng trắm, chép,

mè, trôi với đối tượng chính là cá chép):

+ Tại các ao nuôi theo hình thức thâm canh (có sử dụng thức ăn công

nghiệp): thu mẫu tại 5 hộ nuôi trồng thủy sản

+ Tại các ao nuôi theo hình thức kết hợp cá – vịt (gọi tắt là hình thức nuôi

kết hợp): thu mẫu tại 5 hộ nuôi trồng thủy sản

Hình 2.1 Sơ đồ chọn điểm thu mẫu

Huyện Ứng Hòa

Vùng NTTS tập trung

Nhóm các hộ NTTS

sử dụng thức ăn công nghiệp

Nhóm các hộ NTTS theo mô hình nuôi kết hợp

Chọn 5 hộ NTTS thu mẫu

(Mỗi hộ NTTS thu 3 mẫu theo chiều ngang và 2 mẫu theo chiều sâu)

Nguồn nước cấp

cho vùng NTTS

tập trung

Chọn 10 điểm thu mẫu

(Tại mỗi điểm thu 3 mẫu)

Chọn 5 hộ NTTS thu mẫu

(Mỗi hộ NTTS thu 3 mẫu theo chiều ngang và 2 mẫu theo chiều sâu)

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26

Hình 2.2 Vùng NTTS xã Phương Tú

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27

2.5 Vật liệu, phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu

2.5.1 Dụng cụ đựng mẫu và bảo quản mẫu:

Trước khi thu mẫu, các dụng cụ thu, đựng mẫu đã được rửa sạch

2.5.2 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu

- Phương pháp thu mẫu: theo TCVN 5994: 1995 – Chất lượng nước – Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu ở ao hồ tự nhiên và nhân tạo cụ thể như sau:

+ Thu mẫu ở nguồn nước cấp: Mỗi điểm cấp nước cho ao nuôi thu tại 3 vị trí: đầu nguồn cấp, giữa nguồn cấp và cuối nguồn cấp sau đó trộn lẫn mẫu nước tại 3 vị trí với nhau được mẫu nước tổ hợp

+ Thu mẫu ở các ao nuôi:

* Thu mẫu theo chiều ngang: mỗi ao nuôi (hộ nuôi) thu tại 3 vị trí: đầu ao, giữa ao và cuối ao sau đó lấy mẫu tổ hợp (trộn mẫu nước tại 3 vị trí với nhau)

* Thu mẫu theo chiều sâu: mỗi vị trí trong ao thu 2 mẫu (1 mẫu ở tầng mặt

và 1 mẫu ở tầng đáy) sau đó lấy mẫu tổ hợp (trộn mẫu nước ở tầng mặt và tầng đáy với nhau)

* Mẫu tổ hợp trong 1 ao nuôi: là tổ hợp mẫu nước lấy theo chiều ngang và chiều sâu

- Tần suất thu mẫu: thu định kỳ 1 tháng/lần

- Số mẫu thu/lần: 20 mẫu

2.5.3 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Tổng cộng có 120 mẫu (60 mẫu tại nguồn nước cấp, 30 mẫu tại hình thức nuôi công nghiệp và 30 mẫu tại hình thức nuôi kết hợp cá – vịt) được lấy

đi phân tích

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28

Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu Thời gian Số mẫu nguồn nước cấp Số mẫu hình thức nuôi công nghiệp

Số mẫu hình thức nuôi kết hợp cá – vịt

- Chỉ tiêu pH đo bằng máy đo hiệu JENWAY tại hiện trường, oxy hòa tan

đo tại hiện trường bằng máy đo nhãn hiệu TOA-DK

Hình 2.3: Máy đo pH Hình 2.4: Máy đo oxy hòa tan

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29

Các chỉ tiêu khác phân tích tại phòng Hóa môi trường, Viện Hóa Học Việt Nam

2.5.4.1 Xác định nhu cầu oxy hóa học (COD): phương pháp nhiệt pha loãng

(Boyd, 1979)

Hóa chất: K2Cr2O7, H2SO4 đặc, AgNO3, HgSO4, Kaliphtalat

Phương pháp xác định COD: lấy vào ống 2,5 ml mẫu (nếu mẫu có COD >

1000 thì phải pha loãng) thêm 1,5ml dung dịch K2Cr2O7 0,25N, 3,5 ml dung dịch AgSO4/H2SO4 Đậy chặt nắp, đun ở 1500C trong 2 tiếng đồng hồ (tính từ lúc đạt

1500C) Bỏ các ống ra để nguội, so màu với mẫu trắng ở bước sóng 600 nm

2.5.4.2 Xác định nhu cầu oxy sinh hóa (BOD 5 )

Nguyên tắc: Được xác định bằng phương pháp pha loãng, sau đó xác định

DO ban đầu (DO1), ủ mẫu ở chỗ tối trong điều kiện nhiệt độ 20oC Sau 5 ngày, tiến hành xác định DO5 BOD5 được tính theo công thức:

(DO1 - DO5) x a (trong đó: a là hệ số pha loãng)

2.5.4.3 Xác định Nitrit (NO 2

-): Phương pháp so màu Hóa chất: Dung dịch EDTA, dung dịch axit sulfanilic, dung dịch α-naphthylamin, dung dịch đệm natri axetat, dung dịch chuẩn NaNO2 10 mgN/l Cách làm:

- Lập đường chuẩn: từ dung dịch nồng độ 10 mgN/l pha ra các nồng độ từ: 0: 0,5; 1; 1,2; 1,4; 1,8; 2 mgN/l trong thể tích 25ml Thêm 0,5 ml EDTA và 0,5

ml axit sulfanilic (pH = 1,4) để 3 – 10 phút sau đó thêm 0,5 ml α –naphthylamin

và 0,5ml dung dịch đệm natri axetat, lúc này dung dịch có pH = 2 – 2,5 Để 10 –

30 phút rồi so màu ở bước sóng 520 nm (Nếu mẫu có nitrit sẽ lên màu hồng)

- Xác định nitrit trong mẫu thực: lấy 25 ml mẫu sau đó xác định như cách lập đường chuẩn

2.5.4.4 Xác định Nitrat (NO 3 - ): Phương pháp quang phổ dùng axit salicilic Cách làm: lấy 25 ml mẫu đã lọc cho thêm 0,1 ml NaOH 1N đem cô cạn sau đó để nguội rồi cho thêm 0,5 ml axit salicilic rồi cô cạn sau đó để nguội rồi

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30

cho thêm 1ml H2SO4 đặc rồi thêm nước cất và 5ml NaOH 10N rồi định mức đến 25ml Đo quang ở bước sóng 410 nm (mẫu có nitrat sẽ có màu vàng chanh)

2.5.4.5 Xác định hàm lượng thuốc trừ sâu clo hữu cơ: theo TCVN 7876:2008

Tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định hàm lượng từng loại thuốc trừ sâu clo hữu cơ trong nước bằng phương pháp sắc ký khí chiết lỏng – lỏng

Trong quy trình này, thuốc trừ sâu được chiết bằng dung môi hỗn hợp, dietyl ete/hexan hoặc metylen clorua/hexan Phần chiết được cô đặc bằng cách bay hơi và nếu cần, được làm sạch bằng sắc ký cột Sau đó từng loại thuốc trừ sâu được xác định bằng sắc ký khí

2.5.4.7 Xác định chì (Pb): xác định bằng so màu theo phương pháp dithizone

Cách làm: lấy 50ml nước mẫu, thêm 5ml dung dịch đệm amon xitrat, điều chỉnh đến pH = 2,5 bằng NH4OH dùng chỉ thị màu Bromthymol xanh

- Thêm 5ml dithizone và lắc 5 phút, để yên cho tách pha và loại bỏ CCl4 Tiếp tục chiết một lần nữa bằng 5ml dithizone và loại bỏ CCl4 Sau đó đo quang

ở bước sóng 520 nm

2.5.4.8 Xác định thủy ngân (Hg): theo phương pháp dithizon

Nguyên lý: Phương pháp này dựa trên nguyên lý chiết chọn lọc Hg vào CHCl3 và tại đó thủy ngân có phản ứng đặc trưng tạo màu với Dithyzon Sử dụng phương pháp so màu để xác định hàm lượng thủy ngân

Cách làm: cho vào phễu chiết 100ml mẫu nước, thêm 10ml CHCl3 Lắc kỹ

và để phân lớp Tách bỏ lớp CHCl3 này Thêm 10ml dung dịch đệm axetat, 10ml complexon III, 10 ml KCNS và 25 ml dithizon để chiết, lắc đều 2 phút rồi để lắng phân lớp Chuyển sang bình chiết khác có sẵn 10ml dung dịch đệm axetat, 10ml complexon III, 10 ml KCNS, 10ml nước cất, lắc đều 1 phút để phân lớp

Ngày đăng: 24/11/2015, 16:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Bản đồ quy hoạch nuôi trồng thủy sản huyện Ứng Hòa - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 1.2. Bản đồ quy hoạch nuôi trồng thủy sản huyện Ứng Hòa (Trang 33)
Hình thức thâm canh và 5 ao nuôi theo hình thức nuôi kết hợp cá – vịt. - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình th ức thâm canh và 5 ao nuôi theo hình thức nuôi kết hợp cá – vịt (Trang 35)
Hình 2.2. Vùng NTTS xã Phương Tú - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 2.2. Vùng NTTS xã Phương Tú (Trang 36)
Bảng 2.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Bảng 2.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu (Trang 38)
Hình 3.1. Biến động pH qua các tháng nuôi - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 3.1. Biến động pH qua các tháng nuôi (Trang 47)
Hình 3.2. Biến động oxy hòa tan qua các tháng nuôi - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 3.2. Biến động oxy hòa tan qua các tháng nuôi (Trang 48)
Hình 3.4. Biến động hàm lượng BOD qua các tháng nuôi - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 3.4. Biến động hàm lượng BOD qua các tháng nuôi (Trang 50)
Hình 3.5. Biến động hàm lượng NO 2 -  qua các tháng nuôi - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 3.5. Biến động hàm lượng NO 2 - qua các tháng nuôi (Trang 51)
Hình 3.7. Biến động hàm lượng NH 4 +  qua các tháng nuôi - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 3.7. Biến động hàm lượng NH 4 + qua các tháng nuôi (Trang 53)
Hình 3.8. Biến động hàm lượng P tổng số qua các tháng nuôi - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 3.8. Biến động hàm lượng P tổng số qua các tháng nuôi (Trang 54)
Hình 1: Ao nuôi thâm canh - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 1 Ao nuôi thâm canh (Trang 65)
Hình 4: Nung mẫu - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 4 Nung mẫu (Trang 66)
Hình 3: Lọc mẫu - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 3 Lọc mẫu (Trang 66)
Hình 5: Phân tích mẫu - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 5 Phân tích mẫu (Trang 67)
Hình 6: Đo quang - hiện trạng chất lượng nước tại vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nước ở huyện ứng hòa, hà nội
Hình 6 Đo quang (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w