1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“đông chu liệt quốc” từ góc nhìn kì ảo hoang đường phương đông

76 375 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 662,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần cuối, tác giả đã khái quát nền văn hoá Trung Quốc và mối quan hệ với các nước trong khu vực, từng phần lại nêu khá cụ thể và chi tiết về diện mạo văn hoá của Trung Quốc nói chung, v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

NGUYỄN VŨ ANH (6075474)

“ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC” - TỪ GÓC NHÌN KÌ ẢO

HOANG ĐƯỜNG PHƯƠNG ĐÔNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành Ngữ văn

Cán bộ hướng dẫn : PHẠM HOÀNG NGHĨA

Cần Thơ, tháng 5, năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1 Mục đích yêu cầu

1 Phạm vi nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu

PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH

Chương I: GIỚI THUYẾT VĂN HOÁ TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM

1 Khái niệm chung

2 Văn hoá tổ chức vật chất

3 Văn hoá tinh thần, tâm linh

Chương II: GIỚI THUYẾT PHẠM TRÙ KÌ ẢO TRONG VĂN HỌC

1 Khái niệm chung

2 Kì ảo - một phạm trù thẩm mỹ trong văn học thế giới

3 Quan niệm kì ảo hoang đường trong văn học phương đông nói chung, TQ nói riêng

CHƯƠNG III: TIẾP CẬN ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC TỪ KÌ GÓC NHÌN ẢO HOANG ƯỜNG PHƯƠNG ĐÔNG NÓI CHUNG, TRUNG QUỐC NÓI RIÊNG

1 Giới hiệu tác phẩm

1.1 Sơ lược cốt truyện

1.2 Nhận xét chung về Đông Chu Liệt Quốc

1.3 Vị trí Đông Chu Liệt Quốc trong dòng tiểu thuyết cổ điển TQ

2 Biểu hiện các yếu tố kì ảo trong tác phẩm

2.1 Kì ảo từ cốt truyện

2.2 Kì ảo từ tuyến nhân vật

2.3 Kì ảo trong một số thủ pháp thể hiện

2.4 Kì ảo từ nghệ thuật kể chuyện

3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu những biểu hiện kì ảo hoang đường trong Đông Chu Liệt Quốc

3.1 Về mặt nhận thức xã hội

Trang 3

3.2 Về giá trị văn học 3.3 Các phương diện khác

Trang 4

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, sự giao lưu văn hoá giữa các nước ngày một mạnh mẽ Hơn ai hết, Việt Nam và Trung Quốc có sự gần gũi nhau về địa lí, mà văn hoá Trung Quốc và văn hoá Việt Nam ngàn lâu có một số điểm tương đồng nhất định như việc cúng tế, lễ nghi hay các tập tục diễn ra hằng ngày trong cuộc sống, như là cội nguồn văn hoá bắt nguồn

từ một nguồn gốc Dù vậy, có một số điểm chung nhất định nhưng mỗi nước có một nền văn hoá riêng, đó là bản sắc văn hoá từng dân tộc Chúng tôi tự hỏi, Điểm tương đồng đó là gì? Sự khác biệt giữa hai nền văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc là như thế nào? Đó là mục đích chung nhất cũng là động lực mà chúng tôi xin chọn lĩnh vực văn học Trung Quốc để nghiên cứu, đồng thời tìm hiểu về bản sắc văn hoá Trung Quốc Chính vì thế, mà đề tài chúng tôi nghiên cứu ở một phạm vi nhỏ trong tổng thể của một nền văn hoá Trung Quốc

Những bộ tiểu thuyết lớn của Trung Quốc, bắt đầu từ các tác phẩm cổ điển cho đến hiện đại, đã gây nên tiếng vang lớn cho nền văn học thế giới nói chung và văn học Việt Nam nói riêng, vì thế có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến các nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ….của nước ta Tuy nhiên, không vì thế mà chúng tôi tìm đến văn học Trung Quốc, mà là văn học Trung Quốc và văn học Việt Nam có sự gần gũi nhau, còn gần nhau về mặt văn hoá và cuộc sống phong tục tập quán con người thật mật thiết

Chính vì thế, chúng tôi xin chọn đề tài: “Đông Chu Liệt Quốc” - từ góc nhìn kì ảo

hoang đường phương đông để nghiên cứu Đây là tác phẩm lấy bối cảnh xa xưa, câu

chuyện có nội dung phản ánh rất xa so với thời đại chúng ta đang sống nên việc nghiên cứu tìm hiểu là không dễ dàng gì, một phần nữa là rất ít đề tài tìm hiểu về Đông Chu Liệt Quốc Dẫu biết là rất khó nhưng muốn học hỏi, biết thêm nền văn chương nói chung, văn hoá Trung Quốc nói riêng thêm tốt hơn, để bổ sung cho kiến thức còn hạn hẹp, mong rằng được sự giúp đỡ đóng góp ý kiến chân thành, để người viết có thể điều chỉnh, hoàn thành đề tài một cách tốt nhất

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đề tài “Đông Chu Liệt Quốc” - từ góc nhìn kì ảo hoang đường phương đông

mang tính chất lý luận, do vậy đây là đề tài khá mới mẻ mà ít có tác giả nào đề cập tới.Vì vậy chúng tôi chỉ có những tài liệu nói về Đông Chu Liệt Quốc mà không có tài liệu nào đề cập tới đề tài của chúng tôi Tuy nhiên những tài liệu viết trực tiếp hay gián

Trang 5

tiếp về Đông Chu Liệt Quốc là vô cùng cần thiết và đây là tài liệu rất quý báo cho việc nghiên cứu của chúng tôi Vì vậy, chúng tôi rất trân trọng những công trình ấy và xin giới hiệu những tài liệu hiện giờ mà chúng tôi đang có trong tay:

- Quyển “Để hiểu tám bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc” của tác giả Lương Duy

Thứ - một học giả rất nổi tiếng, là một trong những người rất sớm nghiên cứu về Đông Chu Liệt Quốc

Tác giả Lương Duy Thứ tỏ ra khá công phu và rất tâm huyết với “Đông Chu Liệt Quốc” Tác giả đã dày công nghiên cứu và giới hiệu những nội dung cần thiết nhất, quan trọng nhất liên quan tới Đông Chu Liệt Quốc Quyển sách được tác giả chia

thành nhiều mục nhỏ và mỗi mục là một phần của sự nhận xét về “tám bộ tiểu thuyết

cổ điển Trung Quốc” Riêng nhận xét về tác phẩm “Đông Chu Liệt Quốc” được tác giả

viết rất tỉ mĩ và là công trình có sự đóng góp rất lớn cho việc nghiên cứu của chúng tôi Công trình đó viết rất chi tiết, chúng tôi chỉ xin tóm tắt cái cốt lõi mà tác giả đề cập đến trong quyển sách Do vậy khó mà có thể đảm bảo theo thứ tự mà tác giả đã chia ra theo từng ý nhỏ để trình bày, chúng tôi có thể nói đến những nội dung cơ bản sau:

- Tác giả đã nêu lên lịch sử ra đời của Đông Chu Liệt Quốc, vì đây là sự cải biên lại của nhiều cuốn sách trước đó về lịch sử thời Đông Chu

- Trình bài những sự kiện có tính chất lịch sử như nàng đẹp Bao Tự và một số điển cố văn chương, từ đó thể hiện tác phẩm mang tính đa chức năng

- Từ các sự kiện biến cố, tác giả Lương Duy Thứ đã trình bày và đã phân tích chế độ xã hội thời đó một cách rất sâu sắc, logic và đầy thuyết phục như phân tích xã hội hỗn loạn thời đó đã làm cho các nước chư hầu tranh giành quyền lực chém giết lẫn nhau rất quyết liệt

- Tác giả Lương Duy Thứ cũng đề cập đến các tư tưởng lớn đương thời - vì đây

là thời kỳ của các triết gia đua nhau phát biểu đường lối chính trị của mình với những thành tựu rực rỡ của nó như: sử học, luân lý học, triết học… đã tạo nên nền tảng cho học thuật Trung Hoa

- Tác giả đã phân tích các vấn đề một cách rạch ròi và nhận định tư tưởng thời

Đông Chu là tư tưởng dân bản của nhà nho lấy dân làm gốc, để từ đó khái quát lên

thành một nhận định có tính chất lý luận Vì vậy đã trở thành một nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu về Đông Chu Liệt Quốc của các công trình sau này

Trang 6

Nhìn lại, thì công lao của Lương Duy Thứ trong việc giới hiệu về “để hiểu tám

bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc” là một tài liệu có ý nghĩa rất to lớn Đó là một tài

liệu không thể thiếu khi muốn nghiên cứu về Đông Chu Liệt Quốc

- Quyển Để hiểu Đông Chu Liệt Quốc của Lê Ngọc Tú biên soạn - nhà xuất

bản Văn học, Hà Nội, 1999 Đã trình bày khá đầy đủ, chi tiết, được chia thành bốn phần cụ thể Mỗi phần là sự phân tích, tập hợp rất công phu của nhà biên soạn Lê Ngọc Tú Chúng tôi xin đi lần lược mỗi phần như sau nhưng chủ yếu là phần cốt lõi của vấn đề:

Phần I: Khái quát lên một xã hội Trung Hoa thời Chiến Quốc với bao sự biến động, tác giả đã cố làm rõ vấn đề để cho người đọc nắm được mấu chốt mà hình dung

nên diện mạo của một xã hội, đồng thời tác giả cũng đối chiếu giữa “địa danh xưa và

nay” [20; 63], ông làm công việc ghi lại một số nhân vật tiêu biểu điển hình trong tiểu

thuyết, chỉ vì đây là một bộ tiểu thuyết khá dài, nhiều chương hồi (108 hồi) Vì vậy tác giả gần như đã tổng kết toàn bộ các nhân vật một cách rõ ràng Không những thế tài

liệu còn ghi lại “Lịch sử niên đại của các triều vua” [20; 37] đối chiếu rõ ràng và cụ thể Tác giả còn lập bản để liệt kê đối chiếu “Niên biểu thời chiến quốc” [20; 66] rất

công phu

Phần II: Đưa ra 10 mẫu truyện nói về các nhân vật tiêu biểu trong Đông Chu Liệt Quốc, Lê Ngọc Tú đã dành 157/392 trang để nói về các mẫu truyện kể, có như vậy mới thấy được cái nhìn toàn diện về các nhân vật lịch sử Trung Hoa

Phần III: Trình bày một cách khá đầy đủ và trọn vẹn về “Bảy mưu lược gia thời

chiến quốc” [20; 243], mưu lược đã làm nên danh tiếng rạng ngời của các nhân vật

lịch sử mà cho đến tận ngày nay được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Lê Ngọc Tú đã rất công phu, tâm quyết về việc tập hợp, siêu tầm các mẫu chuyện thời Xuân Thu - Chiến Quốc, chép lại những câu chuyện để đời cho các thế hệ mai sau học tập Công việc đó qủa là việc làm mà công lao chỉ có thể ghi vào nền văn học, để lại nhiều cái tên gắn liền với lịch sử cho người đời nhớ mãi Thiết nghĩ, đó là tài liệu bổ ít cho chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này

Phần IV: Không chỉ hiểu về tác phẩm Đông Chu Liệt Quốc mà Tác giả còn giới hiệu thêm phim Đông Chu Liệt Quốc dài 62 tập do Trung Quốc sản xuất, để cho độc giả có thể hiểu thêm nhiều điều thú vị trong tác phẩm Đông Chu Liệt Quốc, thông qua phim ảnh để có thể giúp độc giả hiểu rõ hơn

Trang 7

Được giới hiệu khá tỉ mĩ chi tiết về bộ phim, nhưng quan trọng hơn là lời phân

tích rõ ràng của Giáo sư Nguyễn Khắc Phi về “Để hiểu phim Đông Chu Liệt

Quốc”[20; 326], đồng thời trong phần này cũng tóm tắt nội dung 62 tập phim chia

thành hai giai đoạn là “Xuân Thu và Chiến Quốc” [20; 373] Để từ đó khái quát lên

thành bộ phim hoàn chỉnh lấy nội dung từ tiểu thuyết Đông Chu Liệt Quốc Và đây là một trong những tài liệu vô cùng quý giá, cũng như là sự quảng bá văn học Trung Quốc được nhiều người biết đến Kết quả thu được là thành tựu rực rỡ của bộ phim về

bộ tiểu thuyết Vì vậy, việc làm của tác giả Lê Ngọc Tú là rất đáng ghi nhận

- Quyển “Cảm nhận mới về văn hoá và văn học Trung Quốc” của Lê Huy Tiêu,

ông biên soạn và trình bày phần lớn các tiểu thuyết thời Minh Thanh, ghi nhận tác động, ảnh hưởng của các tác phẩm đến các nước trong khu vực Trong đó có tiểu

thuyết Đông Chu Liệt Quốc, tác phẩm này được mệnh danh là Viên ngọc quý trong

kho tàng văn học cổ Trung Hoa Lê Huy Tiêu ghi chép khá đầy đủ về lịch sử ra đời

của tiểu thuyết, đồng thời tác giả còn chỉ ra “Ảnh hưởng của Đông Chu Liệt Quốc là

rất lớn” [19; 63], đồng thời chỉ ra mặt hạn chế về tư tưởng, nghệ thuật của tiểu thuyết

Tuy tác giả chỉ viết về Đông Chu Liệt Quốc chỉ có 5 trang [19; 59] nhưng là nguồn tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu của chúng tôi

Ngoài ra tác giả còn viết về các phần quan trọng khác như nền văn học hiện đại Trung Quốc đến nền văn học đương đại, Lê Huy Tiêu đã điểm qua một số đóng góp tiêu biểu của tác phẩm mà đã làm nên bộ mặt của nền văn học Trung Quốc Phần cuối, tác giả đã khái quát nền văn hoá Trung Quốc và mối quan hệ với các nước trong khu vực, từng phần lại nêu khá cụ thể và chi tiết về diện mạo văn hoá của Trung Quốc nói chung, văn học nghệ thuật nói riêng, ông đã góp công sức nhỏ bé của mình xây văn hoá bằng sức mạnh tinh thần để đưa con người, đất nước Trung Quốc đến với bao người, mà trong đó chắc chắn là có các độc giả Việt Nam

3 Mục đích yêu cầu

Chúng tôi sẽ cố gắng trình bài một cách khái quát, dễ hiểu nhất về “Đông Chu

Liệt Quốc” - từ góc nhìn kì ảo hoang đường phương đông Ai đã từng đọc Đông Chu

Liệt Quốc thì cũng không khỏi băn khoăn mà tự đặt ra câu hỏi, tại sao Đông Chu Liệt Quốc lại hấp dẫn trong giới nghiên cứu cũng như là độc giả trên khắp thế giới?

Tất nhiên, khi đi vào nghiên cứu chúng tôi sẽ khái quát thành những vấn đề một cách cụ thể, rõ ràng trong những luận điểm trong Đông Chu Liệt Quốc để có thể nắm

Trang 8

Đông Chu Liệt Quốc, sau đó sẽ rút ra những điều quan trọng cho việc nghiên cứu của chúng tôi Vì vậy, có được nền tảng đó chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về văn hoá Trung Quốc nói chung, văn học Trung Quốc nói riêng Do đây là một tác phẩm có dung lượng khá dài và kinh điển, cho nên việc nghiên cứu không dễ dàng gì, cũng như tìm hiểu mọi vấn đề một cách chính xác và cặn kẽ, cho nên cũng có một số lỗi không thể tránh được Tuy nhiên, một vấn đề nữa là do giới hạn của một luận văn, chúng tôi không thể khảo sát hết nền văn hoá, tiểu thuyết Trung Quốc, mà chỉ đưa ra góc nhìn từ một khía cạnh là kì ảo hoang đường (nhìn từ góc nhìn văn hoá) ở trong một tiểu thuyết

cổ điển như Đông Chu Liệt Quốc mà thôi Để từ đó người đọc có thể khái quát lên thành những lý luận chung nhất cho tiểu thuyết Trung Quốc

4 Phạm vi nghiên cứu

Một tác phẩm lớn như Đông Chu Liệt Quốc gần như đã thách thức mọi thời đại khi tìm hiểu và nghiên cứu tác phẩm, vì vậy chúng tôi không thể nào nghiên cứu mọi

vấn đề trong tác phẩm được Vì thế đề tài mà chúng tôi giới hạn là: “Đông Chu Liệt

Quốc” - từ góc nhìn kỳ ảo hoang đường phương đông Tuy nhiên, cũng cần nói thêm

để tránh sự chưa hiểu không cần thiết, vì khi khảo sát, nghiên cứu thì chủ yếu chúng tôi mổ xẻ ở một khía cạnh hẹp mà thôi Không những thế, chúng tôi còn khảo sát trên

bình diện văn hoá Trung Quốc nói chung, để từ đó làm nổi bậc lên từ góc nhìn kỳ ảo

hoang đường phương đông Có như vậy, chúng ta mới thấy những cống hiến lớn lao

của tác giả, đã làm nên bộ tiểu thuyết để đời Thiết nghĩ, chúng tôi sẽ cố gắng làm những gì để có để đềnh ơn cho những người đã cống hiến lớn lao cho nền văn học nói chung và văn hoá dân tộc nói riêng

Chúng tôi sẽ kế thừa và chọn lọc những công trình nghiên cứu trước mà chúng tôi sẽ viết ra để làm văn liệu cho việc nghiên cứu sau này….Sự thật mà nói, khi nghiên cứu khảo sát một cách tỉ mĩ về Đông Chu Liệt Quốc, quả là một công việc không hề đơn giản, cần phải có một khoảng thời gian dài nhất định Mà có lẽ, đây là một công việc rất khó khăn và rất có ý nghĩa

Về văn bản Đông Chu Liệt Quốc, chúng tôi biết rất hạn chế về bản nguyên tác của Đông Chu Liệt Quốc - tiếng Trung Quốc cho dù vẫn biết ít Hán Nôm Cho nên chúng tôi dựa hẳn vào bản dịch của các tác giả Việt Nam Căn cứ vào bản dịch thì có rất nhiều nhưng chúng tôi xin chọn bản dịch của của Mộng Bình Sơn - Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, số 43 Lò Đúc - Hà Nội - 2009, vì đây được xem là bản dịch được

Trang 9

xem là tốt nhất (bám sát về mặt nội dung và ý nghĩa của tác phẩm), thông dụng nhất và được mọi người biết đến

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành, thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng một số phương pháp, cách giải quyết vấn đề mà theo chúng tôi là rất quan trọng và vô cùng cần thiết Nếu thiếu một trong các phương pháp này thì khó có thể giải quyết vấn đề một cách khoa học, trọn vẹn Chúng tôi xin lần lược trình bày sau đây:

Phương pháp logic lịch sử: Theo quan điểm triết học Mácxít khi muốn xem xét một vấn đề nào đó thì đòi hỏi phải đặt nó trong hoàn cảnh lịch sử mà nó phát sinh, tồn tại Nghiên cứu văn chương cũng không nằm ngoài quy luật lịch sử này Có như vậy mới hợp với quy luật khách quan nội tại Phải đặt Đông Chu Liệt Quốc trong hoàn cảnh lịch sử Trung Quốc mà nó ra đời thì mới thấy hết được cái hay, cái đẹp của nó, mới thấy sự xuất hiện của nó là tất yếu Vì sao Đông Chu Liệt Quốc vẫn còn sống mãi trong lòng người đọc cho đến bây giờ, và sẽ còn lâu hơn nữa Phương pháp này sẽ góp phần giải đáp cho thắc mắc đó

Phương pháp phân tích đối chiếu: Đề tài này mang tính chất lý luận Vì vậy, muốn làm sáng tỏ được vấn đề thì không thể không sử dụng phương pháp này Chỉ có phân tích kĩ càng rồi so sánh đối chiếu thì việc nghiên cứu mới tiến hành dễ dàng Và chỉ có việc phân tích, đối chiếu các sự vật, hiện tượng với nhau thì mới có thể biết được bản chất thực của từng vấn đề Sử dụng phương pháp phân tích là thao tác không thể thiếu được, đây là phương pháp xuyên suốt quyết định khi người viết giải quyết đề tài

Trang 10

PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: GIỚI THUYẾT VĂN HOÁ TRUNG QUỐC Ở

VIỆT NAM

1 Khái niệm chung

Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày một quan niệm về văn hoá: "Vì lẽ sinh tồn cũng

như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [21] Vì vậy, Văn hoá tồn tại khắp mọi

nơi mà ai cũng có thể thấy những nét văn hoá hiển hiện trước mặt mình, nói một cách

ngắn gọn hơn, Lương Khấu Minh (Trung Quốc) định nghĩa về văn hoá như sao: “Văn

hoá chẳng qua là sự sinh hoạt của một dân tộc về tất cả các phương diện” [24] Như

vậy mỗi nước có một nền văn hoá riêng theo từng dân tộc Vì thế, đất nước - con người Trung Quốc kết tinh lại thành một nền văn hoá lớn, trải qua lịch sử hình thành

đã tạo nên bản sắc văn hoá riêng biệt không thể nào lẫn lộn với một nền văn hoá khác Nói đến văn hoá Trung Quốc là gắn liền với con người Trung Quốc từ tất cả các mặt (vật chất đến tinh thần) của đất nước

Văn hoá nói chung là điều kiện tồn tại của xã hội, là nền tảng tinh thần của xã hội Đối với người dân Trung Quốc nói chung, văn hoá là sức mạnh tinh thần, là ở sự thuyết phục, ở tác động âm thầm, thường trực và kiên định của nó đối với mọi ứng xử của cá nhân và cộng đồng Vì sức mạnh của văn hoá là sức mạnh truyền thống, của lẽ phải và niềm tin, của phong tục tập quán, lắm khi không giải thích được nhưng con người vẫn chấp nhận và tuân theo một cách hồn nhiên, hoặc tự nguyện có ý thức

Văn hoá Trung Quốc thể hiện ở bản sắc bản lĩnh trình độ và phát triển của một chủ thể cá nhân hoặc cộng đồng mà làm nên bản sắc văn hoá của dân tộc Khái niệm văn hoá nói chung, văn hoá Trung Quốc nói riêng không chỉ để xác định một lĩnh vực hoạt động cụ thể của con người, mà còn để biểu thị một cách nhìn, một tầm nhìn về giá trị và hạnh phúc của con người, vì ý nghĩa của cuộc sống

Trang 11

Văn hoá là từ bản chất, từ lẽ tồn tại sâu xa của nó đã mang tính chất nhân bản, nhân văn Văn hoá Trung Quốc là kết tinh phẩm giá, năng lực, sức sáng tạo của con người

2 Văn hoá tổ chức vật chất

Ngày nay, hình ảnh đất nước Trung Quốc được mọi người biết đến trên khắp năm châu bốn biển, và đây cũng được xem là cái noi văn hoá lâu đời của nhân loại Trung Quốc có nhiều di sản văn hoá thế giới được công nhận và được bảo tồn, trong

đó có di sản văn hoá vật chất và di sản văn hoá tinh thần Ai đã từng đến đất nước Trung Quốc thân yêu thì chắc rằng cũng có cảm giác muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đất nước với vẻ đẹp kì diệu: vẻ đẹp tự nhiên và vẻ đẹp do con người tạo ra Vẻ đẹp là nét hài hoà của văn hoá bản sắc văn hoá Trung Quốc Nét văn hoá đặc thù đã làm cho nền văn hoá Trung Quốc và ngày càng phổ biến rộng rãi là biểu tượng không thể tách rời của hình ảnh Trung Quốc không xa lạ gì trong mắt mọi người Việt Nam

Trước tiên, khi nghiên cứu về văn hoá vật chất (Trung Quốc), vì đây được xem

là một nền văn hoá lớn, cho nên chúng tôi không thể nào khảo sát tất cả các khía cạnh, của văn hoá mà chủ yếu chúng tôi đi vào cái cốt lõi, những đặc trưng nổi bậc của văn hoá của một dân tộc

Đất nước Trung Quốc gắn liền với lịch sử hình thành, mà bao diễn biến đã thay đổi ít nhiều trong cuộc sống của người dân Nhưng ở đây, lúc nào người dân Trung

Quốc cũng khẳng định một điều: Bản sắc văn hoá của người Trung Quốc luôn là niềm

tự hào của người dân Tất nhiên, đó là một phần thưởng cho một dân tộc Đến với

Trung Quốc, có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử gắn liền với nền văn hoá

đặc thù có một không hai trên thế giới Cuộc sống của người dân Trung Quốc là nét

văn hoá, là biểu tượng của một nên văn hoá của một dân tộc nói chung Xét về mặt lịch sử, từ lâu Trung Quốc là một nước đã trãi qua nhiều cuộc binh biến của các triều đại thống trị khác nhau Nếu tính từ nhà Tần là Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ,

đã trãi qua các triều đại theo móc lịch sử: Tần - Hán - Tuỳ - Đường - Tống - Nguyên - Minh - Thanh, tính cho đến hiện nay là cộng hoà nhân dân Trung Hoa Từng giai đoạn

mà Văn hoá vật Trung Quốc có sự du nhập đến Việt Nam mà tạo thành văn hoá bản sắc của người Việt Nam, nhưng lúc nào của vậy văn hoá Trung Quốc luôn ngự trị trong trái tim của người Việt Nam, vì đó là cái noi văn hoá lớn của phương đông Văn hoá cũng gắn liền với tiến trình lịch sử Vì thế, văn hoá vật chất là không thể thiếu của

Trang 12

tiếng thời cổ và hiện nay Địa điểm này gắn liền với một di tích lịch sử, Lạc Dương là

điểm khởi đầu của con đường tơ lụa, nó chứa đựng biết bao nhiêu văn hoá nước ngoài

du nhập vào Trung Quốc như: Đạo phật, tôn giáo, tín ngưỡng, vũ đạo, âm nhạc, hàng

hoá các loại…, của các nước phương tây Ngoài ra, con đường tơ lụa cũng làm nhiệm

vụ quảng bá văn hoá tinh tuý của người dân bản địa như: gốm sứ, tơ lụa…., đến với các nước phương tây và các nền văn minh khác Vì thế Lạc Dương là một trong những văn hoá không thể thiếu trong tổng thể nền văn hoá Trung Quốc Đó là nền văn hoá cổ xưa, còn ngày nay Lạc Dương thu hút khách du lịch với những lễ hội cổ truyền như: Hội hoa mẫu đơn, hội chùa Cốc thuỷ… Không chỉ thế, Lạc Dương còn đi vào trong văn thơ và trở thành bất tử trong tâm trí người dân và các nước khác trong khu vực (trong đó có Việt Nam), khi Nguỵ Văn Tế Tào Tháo ca tụng rượu Lạc Dương:

“ Hà dĩ giải ưu

Duy hữu Đổ khang!” [12; 348]

( Lấy gì để giải buồn,

Chỉ có rượu Đổ Khang!)

Thiên nhiên luôn là đề tài bất tử cho các thi sĩ khi miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên, miêu tả không chút cầu kì mà đã lột tả được cái thần thái vẻ đẹp, vì nói ít gợi nhiều Nhà thơ Vương Kiện đời Đường đã viết:

“Tảo xuất ngũ môn tây vọng.” [12; 349]

(Liễu bên sông in lồng bóng nước.) Câu thơ nói về vẻ đẹp của cây liễu ở bên hai bờ sông Vị, nhưng khái quát toàn cảnh lên là một vùng đất Trường An sừng sửng đang ngự trị trong văn hoá người dân Trung Quốc, trãi qua các triều đại từ nhà Hán - Tuỳ - Đường Trường An là thủ phủ của trung tâm quân sự, kinh tế của các triều đại cầm quyền Tương truyền, vào năm

743 Đường Minh Hoàng cùng Dương Quý Phi ngồi trên đình Trầm Hương ngắm hoa, cho triệu Lý Bạch tới làm ba bài ca theo điệu Thanh bình để ghi lại thú vui, cảnh đẹp Như thế, Trường An không chỉ là nét đẹp tự nhiên mà còn là nét đẹp văn hoá đã đi vào đời sống văn học, tâm linh của tất cả mọi người Cho dù trong xã hội phong kiến có sự phân biệt giai cấp nhưng ai nấy cũng có một thứ chung nhất là tận hưởng vẻ đẹp kiêu hãnh của thành cổ Trường An, từ vẻ đẹp cổ kín cho đến hiện đại

Trung Quốc còn có nhiều thành phố khác như Khai Phong (Đông Kinh), Thẩm Dương, Nam Kinh, Bắc Kinh,…làm nên nhiều chiến tích của thời đại, đã lập nên một

Trang 13

nhất của một đế chế, quy tụ tạo thành một nét đặc trưng riêng biệt của một thời đại mà bao cái tên của kinh đô đã đi vào văn hoá vật chất lẫn tinh thần của người dân

Không chỉ có những kinh đô gắn liền với lịch sử, cuộc sống người dân đã xây dựng nên cơ sở mà giá trị tinh thần làm nên động lực nền tảng truyền thống cho nhiều thế hệ Trung Quốc, luôn luôn giữ gìn và bảo tồn, phát huy truyền thống từ đời này sang đời khác Vì thế nhiều công trình xây dựng đã trở thành kiêu hãnh cho một nền

văn hoá Người ta thường nói bảy kì quan thế giới, thì trong đó phải kể đến Vạn Lí

Trường Thành ở Trung Quốc Văn chương Việt Nam đã có lần nhắc đến công trình vĩ đại này:

“Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt, Khói cam Tuyền mờ mịt thước mây”

(Chinh Phụ Ngâm)

Bằng lối miêu tả văn chương, người dân Việt Nam ở cách xa đất nước Trung Quốc nhưng cũng biết đến địa điểm, hình ảnh của vạn Lí Trường Thành qua hình tượng trong thơ, có phải chăng văn hoá Trung Quốc gắn liền trong tâm thức của người dân Việt Nam mà đây là sự kết tinh của những thành quả xây đắp một công trình vĩ đại mang tầm nhân loại với biết bao xương máu đã ngã xuống, để cho đến ngày nay để lại một giá trị vật chất vô giá mà không có một công trình thế giới có thể sánh bằng, vì đó

là sự hi sinh to lớn của người dân Trung Quốc Qua đây ta cũng thấy rất nhiều truyền thuyết trong văn chương khi nói về Vạn Lí Trường Thành Như truyền thuyết về nàng Mạnh Khương và Phạm Kỉ Lương… Điều đó cho thấy, Vạn Lí Trường Thành không chỉ là sự kết tinh sức lực của vạn người mà là sự vửng trãi của thời gian mà truyền thuyết văn chương ghi chép lại sẽ trường tồn cùng lịch sử, hoà vào cùng văn hoá của người dân Trung Quốc

Tô đậm thêm nét văn hoá của những công trình vĩ đại là những kiểu kiến trúc, kết hợp hài hoà giữa lầu gác của Trung Quốc và kiểu thức tháp thờ (Stupa) của Ấn Độ,

đã sản sinh ra những toà tháp uy nga trán lệ độc đáo cho những người khách đến đây tham quan và cho cả cư dân bản địa Văn hoá Việt Nam cũng đã ghi nhận văn hoá Trung Quốc khi Nguyển Du cũng đã viết những câu thơ bất hữu trong Truyện Kiều mà

đó là địa danh nằm bên cạnh toà tháp, đó là quê hương đất nước Trung Quốc:

“Triều đâu nổi song đùng đùng Hỏi ra mới biết là sông Tiền Đường.”

Trang 14

Bên cạnh con sông lịch sử, tháp Lục Hoà đứng sừng sửng bên cạnh bờ sông, Tháp lục Hoà như là minh chứng tiêu biểu cho lịch sử Trung Quốc của các vị anh hùng trong lịch sử mà một số nhân vật trong tiểu thuyết đã từng đề cập tới Chẳng hạn như

câu truyện Thuỷ hử, miêu tả vị anh hùng Lương Sơn Bạc là Lỗ Trí Thâm đã qua đời ở

đây, Cảnh Dương Cương cũng đã từng tu ở chùa Lạc Hoà và viên tịch ở đây lúc 80 tuổi Ngoài ra còn có một số tháp khá nổi tiếng như tháp chùa Báo Ân, tháp Sắt chùa Quang Hiếu, Tháp Gang chùa Ngọc Tuyền, Tháp Đồng chùa Báo Quốc, tháp Vàng….mỗi tháp gắn liền với di tích lịch sử của một trình độ - kĩ thuật của một thời kì hay một triều đại nhất định như công cụ bằng Sắt, Gang, Đồng, Vàng…Vì đây là những ngôi chùa, đềnh, tháp là nơi diễn ra sự sùng bái, tín ngưỡng của mình Vì thế đã ghi đậm dấu ấn của văn hoá nhân gian, mà hiện lên là những toà tháp uy nga, trán lệ, luôn là sản phẩm văn hoá vật chất để đời cho con cháu, và là những lễ nghi là cái thước đo tâm linh của người dân Trung Quốc

Ngoài ra, còn có một số tháp được mọi người tạc tượng, xây dựng để tưởng nhớ đến các nhân vật lịch sử nằm trong truyền thuyết hay thần thoại, như tháp Thích - ca Không chỉ đề cao tinh thần hướng đạo, mà tháp còn được xây dựng để tưởng nhớ đến

công ơn của một người như tháp chùa Từ Ân, tháp có ghi hai tấm bia lớn “Đại Đường

Tam Tạng thánh giáo tự” [12; 376] văn bia do Đường Thái Tông Lí Thái Dân soạn

Không chỉ có tháp, Trung Quốc còn có những ngôi chùa nổi tiếng, hình ảnh của ngôi chùa đã đi vào văn thơ, những bài thơ sáng tác trong chùa tô đậm triết lí nhân sinh cao, chẳng hạn như bài thơ của Trương Kế thời Đường:

“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hoả đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự,

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.” [12; 384]

Trang 15

xây dựng luôn luôn là văn hoá của người dân Trung Quốc Chẳng hạn như việc xây dựng Cô Tô đài mà Đông Chu Liệt Quốc đã từng đề cập tới Trong Đông Chu Liệt Quốc còn có các công trình xây dựng khác cũng đề cập tới văn hoá vật chất con người như Tấn Bình Công xây dựng Tư Kỳ Cung [6; 178] là tiêu biểu Cho nên các công trình xây dựng cũng là biểu tượng của nền văn hoá Trung Quốc, trong đó có một số công trình xây dựng trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc mà tác phẩm Đông Chu Liệt Quốc đã phản ánh.

3 Văn hoá tinh thần

3.1 Tư tưởng - Tôn giáo

3.1.1 Nho giáo

Nho giáo là một trong những tôn giáo có mặt lâu đời nhất ở Trung Quốc Nho giáo manh nha từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc Đời sống tư tưởng của người dân Trung Quốc hiện nay và Việt Nam thì đa phần lại chịu ảnh hưởng của Nho giáo, cũng chính lẽ đó mà Nho giáo có ảnh hưởng rộng rãi đến mọi người (phục vụ cho giai cấp thống trị thực hiện sự cai trị bằng tư tưởng) Nhưng đồng thời Nho giáo cũng đem đến

tổ chức cuộc sống con người ngày một ổn định có nề nếp Nho giáo dạy người ta cách học làm người, mà cốt lõi của Nho giáo là học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội, Khổng Tử được xem là người thành lập ra Nho giáo, đã đặt ra hàng loạt vấn đề con người như: Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức…, để làm chuẩn mực cho sinh hoạt con người và tổ chức xã hội Đó là luồn tư tưởng chính thống được nhiều triều đại phong kiến áp dụng và cai trị đất nước Trung Quốc với một nền văn hoá độc đáo và duy trì nền thống trị về mặt tinh thần, Nho giáo là tôn giáo của sản phẩm tinh thần, nhưng mặt khác Nho giáo là tư tưởng của con người biết cách sống sau cho phải “đạo” cho hợp với hoàn cảnh chính trị, đất nước Nhưng càng về sau như là triều đại Minh -Thanh tư tưởng Nho giáo không còn hợp nữa, thay vào đó là sự giao lưu văn hoá giữa phương tây và văn hoá phương đông có sự kết hợp một cách hài hoà Cho dù thế nào

đi chăng nữa, từ ngàn xưa cho đến tận ngày nay thì tư tưởng Nho giáo đã ăn sâu vào tâm trí của người dân Trung Quốc Bên cạnh đó Nho giáo ảnh hưởng đến tư tưởng người Việt Nam là rất lớn đã trở thành văn hoá của Việt Nam, nhưng đó cũng là điểm chung văn hoá tư tưởng Nho giáo của hai dân tộc Mặc khác, Nho giáo cũng có mặt hạn chế, cho nên không phải một sớm một chiều có thể loại bỏ được (mặt tiêu cực), chẳng hạn như việc hôn lể của con cái (Cha mẹ đặt đâu thì con ngồi đó, môn đăng hộ

Trang 16

đối ) Cho nên ở thời đại ngày nay chúng ta phải biết chắc lọc sao cho để làm cho Nho

giáo vẫn được duy trì với nhịp độ với cuộc sống hiện đại và sự phát triển của nền văn hoá Trung Quốc nói chung, sự tín ngưỡng tôn giáo nói riêng, sẽ đi vào vĩ đạo trong cuộc sống xã hội đương thời

3.1.2 Đạo giáo

Đạo giáo là tôn giáo bản địa của Trung Quốc, xuất hiện thời Đông Hán, với tư cách là một trường phái tôn giáo lớn, Đạo giáo có những đặc trưng nhất định của một tôn giáo do dân tộc Trung Quốc sáng lập, vì thế đó là văn hoá cội nguồn có những đặc tính dân tộc rất rõ nét, như hấp thu tư tưởng của các trường phái triết học như Đạo gia, Nho gia…, Đạo gia thì chú trọng thuật dưỡng sinh, chữa trị bệnh tật để khéo dài tuổi thọ nhằm mục đích trường sinh, nghiên cứu tìm hiểu thuật luyện kim đan, Đạo giáo

quan tâm nhất là làm thế nào để con người không chết Đây chính là thể hiện đặc tính

dân tộc Trung Hoa là coi trọng thế giới hiện thực

Nguyên tắc cơ bản của Đạo giáo là đúng như Đạo Đức Kinh nói: trước tiên, là người nhân từ; thứ hai, là người trong sạnh; thứ ba, không hành động trước người người khác Là người nhân từ có nghĩa là có lòng nhân ái đối với mỗi vật trong vũ trụ

và giữ được hài hoà vũ trụ Trở thành người trong sạch có nghĩa là vứt bỏ những ước mong thái quá và giữ ngay thẳng trong tâm hồn và thể xác

Nghệ thuật và âm nhạc của Đạo giáo có vị trí quan trọng trong lịch sử văn hoá Trung Quốc Ví dụ, tranh vẻ tường của Đạo giáo đời Tống ở Lâm phong và Hồng Động tỉnh Sơn Tây, những bức tranh tường khổng lồ trong đền Đãi Miếu ở núi Thái Sơn…đã làm phong phú thêm nền văn hoá của Trung Quốc

3.1.3 Phật giáo

Tư liệu sớm nhất trong các sách lịch sử Trung Quốc về sự du nhập của Phật giáo là từ năm thứ hai trước Công nguyên khi Y Bồn một sứ thần của vua nước Đại Nguyệt Chi tới Kinh đô Trường An của Trung Quốc để giảng kinh Phật cho đồ đệ là Cảnh Lư Cũng có ý kiến cho rằng Phật giáo có thể đã được du nhập vào Trung Quốc

từ triều vua Vũ đế nhà Hán, 120 năm trước nhà truyền giáo của Đại Nguyệt Chi Cho

dù du nhập bằng cách nào thì Phật giáo là một tôn giáo lớn của Trung Quốc và là nét văn hoá không thể thiếu gấn liền với đời sống tâm linh của người dân

Trang 17

Phật giáo cũng có thể được chia ra làm hai loại chính: Đại thừa và Tiểu thừa (Đại thừa coi trọng lòng vị tha, Tiểu thừa nhấn mạnh sự giải thoát bản thân khỏi mọi đau khổ)

Ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc cũng thể hiện trong hàng ngàn tác phẩm kinh điển về Phật giáo, nhiều tác phẩm trong đó có giá trị văn học cao, như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Kinh Hoa Sen), và Kinh Thủ Lăng Nghiêm luôn được các học giả đặc biệt yêu thích Phật giáo đã mang lại cho văn học Trung Quốc những khái niệm, văn phong và thủ thuật ngôn từ mới Một số sách kinh điển Phật giáo thậm chí đã là nguồn cảm hứng sáng tạo cho các tiểu thuyết phát triển trong các triều đại Tấn và Đường Ngoài ra, Kinh sách Phật giáo có ảnh hưởng nhất định tới thơ Đường và văn học đại chúng và văn học dân gian Trung Quốc

Nghệ thuật Phật giáo như hội hoạ và điêu khắc cũng để lại nguồn tài liệu phong phú cho việc nghiên cứu nghệ thuật và lịch sử Trung Quốc Dù là bức hoạ ở Đôn Hoàng hay khắc đá trong các hang động ở Long Môn, Vân Cương…, những tác phẩm

đó là tinh hoa của nghệ thuật Phật giáo và làm nổi bậc một chương sáng chói lọi trong lịch sử văn hoá Trung Quốc

Ngoài ra ở Trung Quốc còn có các tôn giáo lớn khác như Hồi giáo, Tin lành v.v., đó là niềm tín ngưỡng của một số người dân Trung Quốc, cuộc sống của con người trong yếu tố tâm linh Vì vậy các tôn giáo đã góp phần vào xây dựng nên nền văn hoá bản sắc Trung Quốc Tóm lại, khi xét về văn hoá Trung Quốc ta không thể nào khảo sát hết mà chỉ đi vào cái bộ phận, mà các tôn giáo ở Trung Quốc đem đến giá trị văn hoá tinh thần được người dân luôn luôn gìn giữ và phát huy

Bất cứ tôn giáo nào cũng có nguồn gốc, như chúng ta đã biết, Đức Khổng Tử là người sản sinh ra Nho giáo, và đây là tôn giáo chính thống của người dân Trung Quốc gắn liền với lịch sử ra đời của nó, Nho giáo ra đời trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc

mà nhân vật Khổng Tử là tiêu biểu cho Nho giáo, tác phẩm Đông Chu Liệt Quốc đã nhắc tới [6; 355] Khổng Tử đi du thuyết khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình về cuộc sống con người và cách sống để làm người, Nho giáo cũng phản ánh vấn đề Trung - Hiếu - Tiết - Nghĩa mà Đông Chu Liệt Quốc đã phản ánh trong tác phẩm, ngoài ra còn có các vấn đề khác cũng đề cập tới Nho giáo Vì vậy Nho giáo và các tôn giáo lớn khác của Trung Quốc có mối liên quan chặt chẽ đến cuộc sống con người mà tác phẩm Đông Chu Liệt Quốc đã phản ánh vấn đề về tôn giáo

Trang 18

3.2 Lễ nghi - Tập tục

Lễ nghi - Tập tục là một trong những văn hoá quan trọng trong đời sống của người dân Trung Quốc Vì vậy chúng tôi xin khảo sát một số lễ nghi - Tập tục mà người dân Trung Quốc đã duy trì bấy lâu nay, đó cũng là món ăn tinh thần của dân tộc

3.2.1 Lễ nghi

Những lễ nghi của Trung Quốc cổ đại hay ở hiện nay là rất phong phú, lễ nghi

có nguồn gốc từ thời xa xưa, nhằm mục đích phản ánh các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng và những mối quan hệ kinh tế chính trị xã hội nhất định và là văn hoá không thể thiếu của người dân Trung Quốc

Các lễ nghi thời xưa ở Trung Quốc đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh Người xưa thường nói về các lễ lớn thường tóm lại có bốn chữ: Quan, Hôn, Tang, Tế Tuy có bốn chữ nhưng các lễ gần như đã bao quát cuộc sống của một đời người Vì lễ Quan là Gia quan (lễ đội mũ) ở tuổi trưởng thành; Hôn là lễ nghi về ma chay; Tế là việc tế tự, cúng tế thần linh và tổ tiên Còn ngày nay lễ nghi của người Trung Quốc rất phong phú và đa đạng vì có sự giáo lưu văn hoá giữa các nước lẫn nhau, như lễ tình nhân (14 -2 - Valentine), ngày quốc tế phụ nữ (8-3)….Xong, cũng không vì thế mà người dân Trung Quốc lại phủ nhận đi những lễ nghi truyền thống xa xưa, một số lễ nghi vẫn được gìn giữ Vì thế lễ nghi là văn hoá tinh thần rất quan trọng trong đời sống người Trung Quốc

3.2.2 Tục tục truyền thống

3.2.2.1 Ăn uống, trang phục, ma chay truyền thống

- Ăn uống: Ăn uống để duy trì sự sống, đó là bản năng tự nhiên của con người,

mỗi nơi khác nhau thì tập tục ăn uống cũng khác Như vậy cách ăn uống của người Trung Quốc ra sau? Theo sách Lễ kí, có thể tìm hiểu bốn mục sau: Thực, Thiện, Tu,

Ẩm Thực là các thức ăn do các loại ngũ cốc cung ứng, nấu thành cơm, cháu; thiện là thức ăn động vật (thịt bò, gà, lợn, cá, tôm…); tu là loại bánh; ẩm là các thứ đồ uống (rượu, các loại nước uống nấu bằng các loại lá, hạt )

Trung Quốc cổ đại vốn là một nước “dĩ nông vi bản” [12; 237] cho nên nguồn

lương thực chủ lực là các loại lúa (lúa mì, lúa mạch, lúa nếp, cao lương) Tập tục ăn uống mỗi triều đại cũng khác nhau, thời Ân Thương - Tây Chu, mỗi ngày thường có hai bữa (sáng và chiều) Vì điều kiện chiếu sáng còn gặp hạn chế, người dân quen với

một thời gian biểu cổ truyền: “Mặt trời mọc thì bắt đầu làm lụng, mặt trời lặn thì nghỉ

Trang 19

ngơi (Trang Tử)” [12; 238] Nhưng khoảng vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc, tập tục

này đã ăn ba bữa (sáng sớm, giữa trưa, buổi chiều) Theo thời gian, các món ăn và cách thức nấu nướng, ăn uống đã có nhiều thay đổi Từ thời Đường Tống đến Minh Thanh, tập tục ăn uống của người Trung Quốc có khác đi, tầng lớp thị dân và các nhà giàu sang ăn uống vươn tới ba chuẩn mực: mĩ thực, mĩ khí, mĩ vị Đến đời Minh Thanh đã từng bước hình thành những món ăn đặc sản chia theo vùng miền mang đậm màu sắc địa phương, làm nên ẩm thực mỗi nơi một vẻ, chung quy lại là văn hoá chung của người dân Trung Quốc

- Trang phục: Việc trang phục của Trung Quốc chủ yếu gắn bó với hai mục

đích: Che thân và làm đẹp, nhưng bên cạnh đó, trang phục cũng bao gồm hai nội dung của câu hỏi là mặc gì? Và mặc như thế nào? Theo tập tục thời xưa thì trang phục cũng

có những quy định như: Địa vị, chức tước (như quy định về y phục của vua quan, kẻ

sĩ, thứ dân…) là rất phức tạp Ở Việt Nam, các triều đại phong kiến nước ta cũng bị ảnh hưởng trang phục Trung Quốc rất đậm nét, lịch sử ghi lại đó là giai đoạn ngàn năm bắc thuộc và sự giao lưu văn hoá lẫn nhau Đa phần người dân Trung Quốc ở Việt Nam vẫn duy trì tập tục này một cách phổ biến

Có thể nhận xét khi các nhà nghiên cứu về các trang phục của người dân Trung Quốc như sau: Có nhiều lần thay đổi cách trang phục của từng thời kì do ảnh hưởng giao lưu văn hoá bên ngoài Trang phục của người Trung Quốc chủ yếu bao gồm hai

bộ phận che thân thể ở phía trên, được gọi là “y”; bộ phận che thân thể phía dưới được gọi là “thường” Cả nam và nữ điều mặc “y” và “thường” Như vậy, ở một thời kì của một triều đại thì trang phục có khác nhau Như triều đại Tần - Hán là trang phục sắc tộc ở tây bắc rất được người dân ưa chuộng Triều đại Đường - Tống thì có khác hơn một chút, chẳng hạn như nam mặc áo dài và quần, còn nữ thì mặc áo dài và váy Thời Minh thì có sự cãi tiến của các loại triều phục, phẩm phục ở giai đoạn trước đó Đến đời Thanh, trang phục người đàn ông có kiểu cách hơn, có thêm áo “mã qua” ngắn ở bên ngoài Còn các loại triều phục, lễ phục thì có nhiều nét mới lạ hơn như có sự thiêu thùa, đính ngọc như trang phục thời Minh Đến hiện nay thì trang phục sường sám (theo tiếng Quảng Đông) là trang phục cổ truyền của phụ nữ Trung Quốc, nó giống như trang phục áo dài của người phụ nữ Việt Nam, Sường sám cũng được cãi biến qua từng giai đoạn Vì cũng do ảnh hưởng của trang phục phương tây mà làm cho sường sám có sự cách tân, mạng lại vẻ đẹp triều mến cho người phụ nữ Trung Quốc

Trang 20

- Ma chay: Khi có người hấp hối, thân nhân đặt vài sợi bông lên mũi người đó

để xem đã tắt thở hẳn chưa, đó cũng là một nghi thức gọi là Chúc khoáng (chúc: đặt,

để; khoáng: sợi bông, chúc khoáng về sau có nghĩa là “hấp hối”) Sau khi biết đã tắt thở rồi, thân nhân người chết bèn trèo lên mái nhà, ngoảnh mặt về phương bắc, gọi hồn người chết quay về nhập vào thể xác, mong người chết được hồi sinh Đó là lễ Phục Qua lễ Phục, người chết không sống lại, bắt đầu phải lo đến việc khâu liệm Trước tiên phải làm lễ Mộc dục, lau rửa thân thể người chết bằng nước thơm, rồi đến lễ Liệm Liệm gồm Tiểu liệm, là lễ mặc quần áo cho người chết Sau đó là Đại liệm, quấn vải bọc chặt thi thể, rồi Nhập quan Trong lễ Liệm còn có một nghi thức nữa là Phạm hàm (bỏ gạo, có khi là bỏ ngọc, vàng vào miệng người chết) Nhập quan rồi, theo lễ cổ, chưa đi chôn ngay mà còn để tạm (Quàn) tại một chổ (gọi là thấn) để tổ chức tế lễ được linh đình, để chờ con cháu họ hàng về đông đủ, hoặc để tìm nơi đất tốt mới đưa

đi chôn v.v Lệ này có lẽ đã có từ lâu đời Sách Luận ngữ có đoạn ghi: “Bạn bè chết,

chưa có nơi an táng Khổng Tử nói: Cứ đưa về quàn tạm tại nhà thôi” [12; 225], như

vậy, quàn tạm chưa chôn ở thời Xuân Thu là một lệ phổ biến Sau đó là lễ đưa quan

tài đi chôn (gọi là Xuấn thấn) thường được tổ chức rất trọng thể Cùng với tục tuẫn

táng là tục chôn theo người chết, như Tần Thuỷ Hoàng sau khi chết, theo Sử kí các phi tần cung nữ không có con đều bị chôn sống theo Đồng thời còn chôn cả những đồ tuỳ táng như xe ngựa, dụng cụ binh khí, vàng bạc, ngọc châu báo v.v., nhiều thứ được chế tạo rất tinh xảo mà chỉ nhằm mục đích là chôn theo người chết, gọi là minh khí hao phí rất nhiều của cải sức lực và tài trí của nhân dân

Văn hoá cũng được các tác phẩm ghi lại một cách cụ thể và sống động Trong Đông Chu Liệt Quốc cũng đã khắc hoạ, là cảnh tượng, mà văn hoá Trung Quốc đã đôi lần nói tới, như việc mai táng người chết, của cải được chôn theo v.v., trong tác phẩm

Đông Chu Liệt Quốc như việc “Tần Khang Công an táng Tần Mục Công theo tục lệ

nước quân Tần, cùng một trăm bảy mươi bảy người đem chôn sống Trong số người chôn theo có cả ba con Tử xa Thị Người nước Tần ai cũng mến tiếc” [6; 621] Đó

cũng là theo tập tục truyền thống của người dân Trung Quốc, hiện nay vẫn còn được duy trì như việc chôn người sống trong mộ người chết là không còn nữa, mà việc chôn của cải theo người chết là vẫn có, như việc bỏ vàng, bạc, ngọc , vào miệng người chết Tục này cũng được duy trì tại Việt Nam và các nước khác trong khu vực Đông Nam Á

Trang 21

Tập tục ăn uống cũng được người dân Trung Quốc rất xem trọng và là thứ văn hoá không thể thiếu của người dân, văn hoá ăn uống cũng bắt nguồn từ xa xưa mà tác phẩm Đông Chu Liệt Quốc cũng đã phản ánh Việc tướng quốc nước Tề là Án Anh dùng quả Đào để giết Tam kiệt (Công Tôn Nghiệp, Cổ Giải Tử, Điền Khai Cương - hữu dũng vô mưu) nước tề [6; 219] Chỉ vì không ăn được quả đào mà vua tôi ban tặng Án Anh đã am tường văn hoá ăn uống của ba người nên đã đánh trúng vào nhược điểm của họ mà ba người phải tự sát Tóm lại, Văn hoá luôn tồn tại xung quanh ta và

có từ rất lâu mà nhiều sách vỡ ghi chép lại, trong đó có tác phẩm Đông Chu Liệt Quốc

3.2.2.2 Một số tập tục kiêng kị trong cuộc sống ngày thường

Kiêng kị là tập tục khá phổ biến của người dân Trung Quốc, kiêng kị né tránh ngày tháng xấu là một tập tục khá phổ biến từ xa xưa Trước hết, người Trung Quốc rất kị ngày cuối tháng (âm lịch), vì ngày này là ngày tâm tối nên những việc lớn lao hay nhỏ nhặt người ta thường tránh làm Ngoài ra tháng của đầu năm mới, ngày đầu của tháng cũng nhiều điều kiêng kị, tiêu biểu như ngày mùng một tháng giêng: không nên đánh vỡ các loại bát đĩa cốc chén (sợ mất ăn, không được yên ổn), kiên quét nhà quét sân (sợ của bay đi), kiêng động đến dao kéo, kim chỉ (sợ tai nạn), kiêng mở kho xuất tiền…v.v Nhưng bên cạnh đó, kiêng kị cũng gây ảnh hưởng tốt như: tránh cãi nhau, đánh chửi con cái, cáu gắt, tránh thô tục (sợ xui rủi đầu năm)

Trong một năm, tháng 5 được xem là xấu nhất vì người xưa có quan niệm rằng tháng 5 là tháng bệnh tật dễ phát sinh vì con trùng có hại xuất hiện, khí độc tràng lang, đáng nói hơn nữa là không nên sinh con đẻ cái trong tháng 5, nhưng đó chỉ là quan niệm của người xưa mà thôi Đâu phải sinh vào tháng 5 là xấu cả “Theo sử kí của Tư

Mã Thiên chép lại thì Điền Văn thường gọi là Mạnh Thường Quân (một nhân vật nổi tiếng trong Đông Chu Liệt Quốc), sinh đúng vào ngày mùng 5 tháng 5, bố là Điền Anh định bỏ không nuôi Mẹ Điền Văn tìm cách gởi Điền Văn nhờ họ hàng nuôi giúp, không bao lâu trở thành một nhân vật nổi tiếng đi vào sách sử” [12; 246]

Tập tục né tránh tên tục của ông bà tổ tiên, các bậc tiền nhân (người Trung Quốc thường tránh đi mà chủ yếu gọi tên hiệu hoặc kêu tên tự mà thôi Ngoài ra, cũng còn có một số kiêng kị khác mà nhân dân Trung Quốc kiêng kị, vì đó là truyền thống bao lâu nay truyền từ đời này sang đời khác Cho dù thế nào thì người dân Trung Quốc vẫn di trì tập tục đó, vì đó là tâm linh, văn hoá của người dân

Trang 22

3.2.2.3 Tập tục những ngày lễ tết

Vǎn hoá Trung Quốc có lịch sử lâu đời, phong phú và sâu sắc Qua bao thế hệ

phong tục tập quán, lễ tết luôn được giữ gìn Nhiều tập tục đã trở thành thuần phong

mỹ tục thành tiêu chuẩn giá trị trong đời sống vǎn hoá của người dân Trung Quốc Là

một quốc gia đa dân tộc lại phân bố trên một diện tích rộng lớn nên phong tục tấp quán, lễ tết người dân Trung Quốc không chỉ nhiều về số lượng mà còn nhiều về thể loại hình thức Về thời gian, trong một nǎm không có tháng nào là không có lễ tết, tập tục, đặc biệt vào tháng giêng gần như ngày nào cũng có Về không gian, không có vùng nào là không có lễ hội, mỗi vùng lại có đặc trưng riêng

Mỗi dịp lễ tết, người Trung Quốc dùng màu đỏ cho ngày lễ này, như đồ trang sức màu đỏ, đồ mỹ nghệ cũng dùng giấy bọc màu đỏ, thể hiện tình cảm sâu sắc và sắc thái văn hoá lấy hoà làm quý đặc biệt của người Trung Quốc Người dân có tập tục sùng bái màu đỏ cũng có nguyên nhân của nó Người động Sơn Đỉnh cách đây 1800 năm đã phát hiện ra quan hệ giữa máu có màu đỏ chảy trong cơ thể người với sự sống của con người, do vậy họ muốn dùng loại vật chất có màu hồng mang theo trên mình lúc chết Trong cuộc sống đời thường người ta dùng phong bì màu hồng đỏ để biểu đạt niềm vui sướng, ý nguyện hữu hảo của mình, vì vậy người ta thường gọi kẻ đắc ý là người có vận đỏ

Trung Quốc cổ xưa vốn là lấy nghề nông làm gốc, do đó có rất nhiều ngày lễ,

hội hè trong năm họp với chu kì canh tác nông nghiệp lấy “nông lịch” (âm dương hợp

lịch) làm chuẩn Vì vậy, trong năm có rất nhiều ngày lễ, có rất nhiều phong tục tập quán đáng chú ý, nó phản ánh một cách rất sinh động trong đời sống văn hoá - xã hội cộng đồng cư trú dựa vào đời sống canh nông của người dân Trung Quốc Và đây là một số ngày lễ quan trọng của người dân Trung Quốc

3.2.2.3.1 Tết Nguyên Đán

Tết nguyên đáng còn gọi là ngày tết đầu năm, ngoài ra nó còn gọi với một tên khác hấp dẫn hơn là tết Tam Nguyên (ba mở đầu): đầu năm, đầu mùa (mùa xuân), đầu tháng (tháng giêng) Các ngày tết đầu xuân lần lược diễn ra theo đúng ý nghĩa của nó Như ngày mùng một tết, theo quan niệm cổ xưa thì văn võ vào triều chúc mừng Hoàng

đế, Hoàng gia; thứ dân cũng đi chúc tết nhau Nhưng đặc biệt khác với quan niệm Việt Nam là người ta đi chúc nhau ngay trong đêm giao thừa Ngày mùng 2 tết là ngày nghênh tiếp thần tài, mọi người điều có thói quen hàng năm là đến ngày này mọi người

Trang 23

đến miếu thần tài về nhà mình để gặp mai mắn, tiền tài đến nhà Còn những người buôn bán thì đến ngày mùng 5 thì các cửa hiệu điều treo đèn, kết hoa, căng băng vải

đỏ, dán mấy chữ vàng Khai thị đại cát và nó có ý nghĩa rất lớn lao: Mở hàng thì rất

may mắn và phát tài Không chỉ thế, rất nhiều gia đình ăn một bữa bằng giao tử vào

chiều tối, sau đó thu dọn các lễ vật trên bàn thờ và mọi người quan niệm xem như là lễ mừng xuân của năm đó đã hết

Ngày “nhân thắng” [12; 251] được diễn ra vào ngày mùng 7 tháng giêng, đây là

ngày lễ có từ thời xa xưa, theo sánh Chiêm thư của Đông Phương Sóc đời Hán thì: Mùng 1 tháng giêng xem gà, mùng hai xem chó, mùng ba xem lợn, mùng bốn xem dê, mùng 5 xem bò, mùng 6 xem ngựa, mùng 7 xem người - có nghĩa là nếu quan sát thấy khí trời êm ả, người người tươi tỉnh hoạt bát thì có thể dự đoán là năm ấy mùa màng tốt tươi, người khoẻ mạnh yên vui

Ngày mùng 8 tháng giêng là ngày tế sao, có tục cúng sao giải hạn, cầu phúc lộc Ngày mùng 9 tháng giêng là ngày cúng tế Ngọc Hoàng thượng đế, Vì đây là ngày lễ của Đạo giáo Tính từ ngày này đến ngày mười bốn tháng giêng, mọi người lại bận rộn chuẩn bị tết Nguyên tiêu

3.2.2.3.2 Tết Nguyên tiêu

Tết Thượng nguyên cũng là tết Nguyên tiêu (ngày rằm đầu tiên của năm), cũng được gọi cái tên khác là lễ Hoa Đăng, vì ngoài việc cúng tế ra còn có các trò giải trí vui chơi, trong đó nổi bậc nhất là đi ngắm cảnh đèn hoa rực rỡ khắp mọi nơi Ngày tết Nguyên tiêu có thể bắt nguồn từ tục lệ sùng bái thiên thể vốn có từ rất lâu Truyền thuyết nói rằng, đêm rằm tháng giêng là đêm đầu tiên có trăng tròn trong năm, mà theo lịch pháp sơ khởi được là tính theo tuần trăng dể cho việc canh tác nông nghiệp, dó đó người dân Trung Quốc thường lấy ngày ngày để cúng lễ, tổ chức vui chơi đón mừng ngày rằm đầu tiên trong năm

3.2.2.3.3 Thanh minh và Hàn thực

Trong Truyện Kiều lúc chị em Thuý Kiều đi chơi xuân, Nguyễn Du có viết:

“Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến oanh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.”

Trang 24

Thanh minh gắn liền với hai hiện tượng mà một số tài liệu cổ còn lưu lại được Tuyên truyền trong ngày có hai cảnh tượng trái ngược nhau: lúc sáng sớm, mộ địa ngoài thành thấy toàn một màu khăn trắng áo tang, khói hương nghi ngút, đôi khi còn

có tiếng văng vẳng tiếng khóc bi ai Nhưng đến gần trưa, cảnh tượng lại khác đi, nhiều người ngồi tụ họp trên nệm cỏ, vừa ăn uống vừa truyện trò vui vẻ Như thế Thanh minh vừa có lễ lại vừa có hội và gần với ngày Tết Hàn thực (diễn ra vào khoảng trước hoặc sau ngày mùng 5 tháng 4 dương lịch, còn tết Hàn thực diễn ra trước một hoặc hai ngày), vì vậy người dân Trung Quốc thường nhập chung hai ngày lễ thành một

Tết Hàn thực cũng bắt nguồn trong giai đoạn Xuân Thu - Chiến Quốc mà tác phẩm Đông Chu Liệt Quốc đã phản ánh, nó gắn liền với một giai thoại là Giới Tử Thôi dưới thời Tấn Văn Công (xem truyện kể về Giới Tử Thôi trong Đông Chu Liệt Quốc)

Vì thế, tết Hàn thực không được nấu nướng, chỉ ăn thức ăn nguội đã làm sẵn từ trước

mà thôi Cho dù thế nào thì người dân Trung Quốc vẫn tín ngưỡng và xem đó là một trong những ngày lễ quan trọng của đất nước

3.2.2.3.4 Tết Đoan ngọ

Tết đoan ngọ còn gọi là Tết giữa năm (theo quan niệm của người Trung Quốc

và Việt Nam), là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm, quan niệm của người xưa ngày tết này bắt đầu từ triều đại nhà Hán, phong tục này vẫn duy trì cho đến tận ngày nay Nguồn gốc của nó người ta vẫn quan niệm rằng lấy ngày kỉ niệm nhà thơ yêu nước Khuất Nguyên gieo mình xuống sông Mịch La, người dân Trung Quốc lấy ngày đó làm để kỉ niệm Ngày này diễn ra hội đua thuyền trên sông Mịch La, nhưng theo quan niệm khác của một số nhà nghiên cứu hội đua thuyền có nguồn gốc từ tập quán làm ăn sinh sống trên sông nước và tục xăm mình để tránh loài thuỷ quái đe hoạ đến đời sống người dân Tuy nhiên, lễ hội đua thuyền, việc tế thuỷ thần gắn bó chặt chẽ với việc cầu mưa thờ nước cho cộng đồng người dân canh tác nông nghiệp

3.2.2.3.5 Tết Trung thu (còn gọi là rằm tháng giêng)

Tết Trung thu của người Trung Quốc cũng không khác gì lắm so với ngày rằm tháng tám của Việt Nam ta Tết này, người ta treo đèn kết hoa, bày tiệc bánh trái hoa quả…, để cả nhà sum họp, ăn uống quây quầng bên nhau, cùng tận hưởng một đêm răng tròn Nguồn gốc ra đời của ngày tết Trung Thu là theo một số nhà nghiên cứu là

theo tập tục thờ lục tông (thờ sáu đối tượng: Mặt trời, Mặt trăng, Sao, Sông, Biển,

Núi), vốn đã có từ xa xưa Theo Chu lễ thời Chu, việc tế Mặt trăng vào ngày thu phân,

Trang 25

có thể xuất hiện vào thượng tuần tháng tám, mà ngày đó là ngày trăng tròn, về sau lễ tế mặt trăng được quy định là ngày rằm tháng tám

Văn hoá có ở khắp mọi nơi, đôi khi là một câu chuyện kể hay một nét sinh hoạt đời thường của con người, hay làm lễ thờ cúng tổ tiên…hay là trong một tác phẩm văn chương đã đề cập Trong Đông Chu Liệt Quốc ta cũng bắt gặp các ngày lễ tết được nêu lên nằm để tô đậm thêm các ngày lễ tết quan trọng trong năm, nguồn gốc của nó

đã có hàng ngàn năm trước, như trong Đông Chu Liệt Quốc đã có đoạn viết “Hôm nay

là ngày trung thu, trăng vừa tròn bóng, có thể dùng làm ngày đoàn viên được Tần Mục Công dạy Tiêu Sử tắm gội; thay đổi y quang rồi đưa đến Phượng lầu, để cùng công chúa giao phẫu” [6; 619] Xa xưa phong tục này đã được duy trì, vì đó là truyền

thống và là bản sắc văn hoá dân tộc luôn được gìn giữ Hay một đoạn khác trong Đông

Chu Liệt Quốc đã đề cập đến ngày Tết nguyên đáng “Tề Ý Công lại nghe nói quan Đại

phu Diêm Chức có vợ đẹp, bèn nhân dịp Tết nguyên đáng, ra lệnh cho các quan Đại phu phải đưa vợ vào cung ra mắt Chánh hậu” [6; 655] Vì vậy, các ngày lễ Tết là một

trong những văn hoá truyền thống bao đời nay mà người dân Trung Quốc không thể thiếu được, vì tập tục này đã có từ xưa, được mọi người truyền từ đời này sang đời khác mà tác phẩm cổ điển Đông Chu Liệt Quốc đã đề cập Tóm lại, đây chỉ là một số tập tục của các ngày lễ quan trọng của người dân Trung Quốc, bao nhiêu thôi cũng đã nói lên phần nào những sinh hoạt, văn hoá của người dân Trung Quốc Nhưng không dừng lại ở đó, các ngày lễ này dường như đã tô dậm thêm đời sống tâm linh của con người, làm giàu thêm cho cuộc sống tinh thần của dân tộc Dĩ nhiên đó là một nét văn hoá trong tổng thể của nền văn hoá Trung Quốc mà bao người dân luôn gìn giữ, bảo tồn và phát huy Xét cho cùng thì đa phần các ngày lễ lớn của Trung Quốc và các ngày

lễ của Việt Nam là giống nhau, như: Tết Nguyên Đán, Thanh minh, Trung thu…Vì vậy, người dân Trung Quốc trên đất nước Việt Nam luôn luôn gìn giữ cũng như là bảo tồn văn hoá người Việt Nam

Ngoài ra, văn thơ cũng là một phần trong tổng thể của một nền văn hoá Có lẽ

đó mà Lí Bạch, Thôi Hiệu đã sáng tác hai bài thơ để đời, đã gắn liền với một địa điểm Hoàng Hạc Lâu - Thôi Hiệu và Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng - Lí Bạch Hai bài thơ đã tô đậm thêm nền văn hoá dân tộc lên những trang văn trang thơ Các nhà thơ của Việt Nam như Ngô Tất Tố, Tản Đà đã dịch hai bài thơ này

để làm tư liệu quý giá cho học sinh Việt Nam tìm hiểu cũng như làm tư liệu cho các

Trang 26

Nhà thơ Vương Bột đã làm bài thơ Đằng Vương Các tự, là những câu thơ hay

nhất in đậm dấu ấn của một Đằng Vương Các mà trong tâm thức của con người dân Trung Quốc là hình ảnh Đằng Vương Các hiện lên trên trang giấy:

“Hoạ đống triêu phi Nam Phố vân Châu liêm mộ quyển Tây Sơn vũ.” [12; 392]

(Cột vẽ sớm đón mâyNam Phố Rèm châu chiều cuốn mưa Tây Sơn.) Nguyễn Du cũng đã đưa hình ảnh Đằng Vương Các vào trong trang thơ của mình:

“Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày.”

Tóm lại, văn hoá Trung Quốc có khắp ở mọi nơi trên đất nước ta như: văn hoá kiến trúc chùa chiềng, văn hoá từ lời ăn tiếng nói, trang phục…v.v , các tôn giáo lớn như Nho giáo, Đạo giáo luôn luôn là văn hoá truyền thống, đó là các tư tưởng lớn được người đời tôn kính Tập tục những ngày lễ tết là món ăn tinh thần không thể thiếu cho tất cả mọi người Đứng trên phương diện văn hoá mà nói thì đây là sự giao thoa giữa hai nền văn hoá Việt Nam - Trung Quốc Lúc nào người dân Trung Quốc sinh sống trên các nước khác, trong đó có Việt Nam thì họ luôn phát huy truyền thống văn hoá tinh thần của dân tộc trên đất nước ta, họ luôn gìn giữ nét văn hoá đặc trưng như: Trang phục, món ăn, tập tục các ngày lễ tết…mà chúng tôi đã khảo sát ở trên Văn hoá đó luôn luôn là niềm tự hào của người Trung Quốc trên khắp thế giới Và chỉ khi chúng ta nhận ra được đâu là nét văn hoá Trung Quốc thì ở đó ta đã chiêm ngưỡng được một nền văn hoá độc đáo, mà mọi người dân Trung Quốc chung vai, chung lòng xây đắp nên một nền văn hoá rất đáng tự hào, đó là nền văn hoá Trung Quốc

Trang 27

CHƯƠNG II: GIỚI THUYẾT PHẠM TRÙ KÌ ẢO

TRONG VĂN HỌC

1 Khái niệm chung

Khi một tác phẩm ra đời đã tạo nên một dấu ấn trong văn chương, xuất phát từ nội hàm của tác phẩm, và chỉ khi người đọc càng đi sâu vào tác phẩm càng nhận ra những ý nghĩa to lớn mà tác giả muốn gởi gắm Nhưng đôi khi người đọc cũng trăn trở trước những sự việc kì ảo (lạ mà rất huyền bí), và chỉ khi người đọc tìm ra ý nghĩa đích thực của vấn đề thì sự việc trở nên sáng tỏ, nhưng không phải yếu tố kì ảo nào

cũng lí giải một cách thấu đáo và đầy thuyết thục, như vậy kì ảo là gì? Có bao nhiêu

cách hiểu về kì ảo và bao nhiêu định nghĩa về nó? Để trả lời cho câu hỏi này thì có nhiều cách lí giải, định nghĩa khác nhau nhưng chung qui lại để nhằm mục đích để giải thích cho việc kì ảo có tác dụng như thế nào trong văn chương? Và đây là một vài định nghĩa về kì ảo:

Theo Tz.Todorov- trong công trình Dẫn nhập văn học kì ảo: “Trong một thế

giới chính là thế giới của chúng ta này, thế giới như chúng ta vẫn biết là chẳng có quỷ

dữ, thiên thần hay ma cà rồng, xảy ra một sự kiện không thể giải thích được bằng các quy luật của thế giới thân thuộc Người chứng kiến sự kiện này phải chọn lựa một trong hai giải pháp có thể xảy ra: hoặc anh ta là nạn nhân của một ảo giác trong nhận thức, một sản phẩm của trí tưởng tượng, và những quy luật của thế giới do vậy vẫn tiếp tục tồn tại, hoặc sự kiện này thực sự đã xảy ra, nó là một bộ phận trọn vẹn của hiện thực - nhưng thế thì hiện thực này bị kiểm soát bởi những quy luật mà chúng ta không biết (…) Cái kì ảo diễn ra trong khoảnh khắc của sự không xác định được này Một khi chúng ta chọn giải pháp này hoặc kia thì chúng ta đã rời bỏ cái kì ảo để sang một thể loại lân cận: cái lạ lùng (uncanny) hoặc cái huyền diệu (marvellous) Cái kì

ảo là sự do dự được cảm nhận bởi một người đang đối mặt với một sự kiện có vẻ siêu nhiên, mà anh ta lại chỉ biết các quy luật tự nhiên” [22] Đâu phải tác phẩm nào cũng

đưa đến cho người đọc sự phân vân giữa cái thực và cái tưởng tượng, mà ở đó là một thế giới được tác giả khắc họa nên tính li kì hấp dẫn, một thế giới hoàn toàn riêng biệt phân biệt với cái thực bên ngoài, đem đến cho người đọc có sự hứng thú bởi đó là cái

lạ và sự huyền bí của tác phẩm như cứ thôi thúc con người tìm hiểu và khám phá

Có nhiều tác phẩm văn chương ở phương đông lẫn phương tây điều xem yếu tố

kì ảo là một nhân tố quan trọng trong sự thành công của tác phẩm (Dĩ nhiên xét ở mặt

Trang 28

tác phẩm ra đời và sự tồn tại của nó ở một giai đoạn nhất định) Chẳng hạn như tác

phẩm miến da lừa của Balzac là một minh chứng, ở phương đông thì có Tây du ký,

Đông Chu Liệt Quốc…, làm nên sự thành công của tác phẩm Do vậy, trong giới nghiên cứu văn chương thì yếu tố kì ảo là một vấn đề được nhiều người quan tâm, do

đó có nhiều người đưa ra sự định nghĩa về cái kì ảo, cũng đồng nghĩa với câu trả lời

yếu tố kì ảo là gì? Có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng đây là một số định nghĩa

được người cũng như được các nhà nghiên cứu quan tâm:

Định nghĩa thứ hai mà chúng tôi đưa ra là: “Cái kì ảo…được đặc trưng

bởi…một sự xâm nhập đường đột của cái bí ẩn và khuôn khổ của cuộc sống thực.”

[10; 35] Như vậy tác giả đã làm rõ hơn về cái kì ảo về cách hiểu vì cái kì ảo luôn là sự

bí ẩn của một sự xâm nhập vào trong cuộc sống đang tồn tại mà văn chương đề cập tới Qua định nghĩa của Castex chúng ta có thể hiểu thêm phần nào về cái kì ảo trong văn chương mà ít nhà nghiên cứu nào phân tích hoặc lí giải

Một tác giả khác cũng đề cập tới cái kì ảo, trong cuốn “Nghệ thuật và văn

chương kì ảo”, Louis Vax viết: “Truyện kì ảo…thích giới hiệu cho ta những con người giống như chúng ta, sống trong thế giới thực mà ta đang sống, họ đột nhiên bị đối diện với cái không thể giải thích được” [10; 36] Và như vậy truyện kì ảo mà Louis Vax

định nghĩa thì gần giống với định nghĩa của Castex, chỉ có khác chăng là cái kì ảo không thể giải thích được, mọi sự việc xãy ra điều có nguyên nhân, có cách lí giải nhưng đôi lúc cách lí giải đó là phản khoa học, mà trong tác phẩm lại được chấp nhận,

yếu tố kì ảo thực mà lại hư để phản ánh cuộc sống con người tốt hơn, bởi đó là nghệ thuật trong văn chương Xin trở lại với định nghĩa của Louis Vax thì đây là sự việc bất

ngờ đưa đến, khác với định nghĩa của Castex “Đó là sự xâm nhập đường đột của cái bí

ẩn và khuôn khổ của cuộc sống thực”[10; 36], vậy là cái bí ẩn phải tự thân vận động

để xâm nhập vào câu chuyện làm cho tác phẩm trở nên huyền bí hơn Cho dù chúng ta xét ở khía cạnh nào đi chăng nữa thì cái kì ảo luôn là cái sâu kín trong tác phẩm mà khiến cho mọi người luôn luôn đi khám phá và tìm hiểu

Trong định nghĩa của Roger Caillois cuốn “Giữa trung tâm của cái kì ảo” định

nghĩa về cái kì ảo cũng thật rõ ràng: “Mọi sự kì ảo là sự cắt đứt với trật tự đã được

thừa nhận, là sự đột nhập của cái không thể chấp nhận vào trong lòng tính hợp pháp không thể phân huỷ của cái thường nhật” [10; 36] Như vậy, cái định nghĩa này so với

định nghĩa thứ hai và định nghĩa thứ ba vừa đề cập phía trên thì cũng chẳng khác nhau

Trang 29

cuộc sống, mà văn chương góp phần tạo ra hình hài muôn màu muôn vẻ, làm cho cái

kì ảo đã bí ẩn nay trở thành sâu kín hơn, nhưng không vì thế mà làm phức tạp thêm

vấn đề Tóm lại, cho dù chúng ta có rất nhiều định nghĩa về cái kì ảo, xét ở phương

diện nào đi chăng nữa thì chung quy nhất vẫn là sự huyền bí ít khi nào giải thích được, nhưng cũng phải chấp nhận và lí giải theo cách của chúng ta Cho dù thế nào thì tác

phẩm là sản phẩm của tác giả đã mang nặng đẻ đau, một tác phẩm văn chương thực

thụ mà bao ý nghĩa làm nên thành công của tác phẩm, trong đó nhiều tác phẩm có yếu

tố kì ảo

2 Kì ảo - một phạm trù thẩm mỹ của văn học thế giới

Trên cơ sở nguồn gốc lịch sử nghiên cứu về cái kì ảo Vì Cái kì ảo là sự tưởng tượng và là sản phẩm của yếu tố siêu nhiên, cái không thể xảy ra Do vậy cái kì ảo đã

có nguồn gốc từ xa xưa trong những sáng tác dân gian (cái không có thật) Như vậy ta

đã đồng nhất cái kì ảo với cái siêu nhiên, cái không thể xảy ra, cứ đề cập đến cái siêu nhiên cái không thể xảy ra thì đó là văn học kì ảo, khi đó văn học kì ảo sẽ bao trùm cả những sáng tác cổ tích, bởi rõ ràng trong các truyện cổ tích, đặc biệt là truyện cổ tích

thần kì thì cái siêu nhiên tồn tại với một sự áp đảo

Để làm rõ, “Kì ảo - là một phạm trù thẩm mỹ của văn học thế giới” thì chúng

tôi xin đi tìm hiểu lịch sử ra đời của chúng, từ đó đối sánh với các loại hình văn học khác thì chúng ta sẽ dể dàng nhận thấy được tầm quan trọng của yếu tố kì ảo và ý

nghĩa đóng góp của chúng đối với nền văn học thế giới là vô cùng to lớn, vì kì ảo là

một phạm trù của thẩm mỹ

Trước hết, có thể khẳng định rằng, cái kì ảo phải diễn ra trong một môi trường

có tính hiện thực, ở đó sự tưởng tượng được phép phát triển ồ ạt và đi cùng với điều đó thì tính chất mơ hồ là đặc trưng cơ bản của thể loại Cái kì ảo chỉ tồn tại khi đối diện với nó, người ta luôn có ý thức về một sự đối lập giữa những cái siêu nhiên hư thực với thế giới thực tại Đứng từ góc độ này, ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân

là rất xác đáng khi ông cho rằng trên bình diện thế giới, loại truyện kiểu Nghìn lẻ một

đêm là nguồn gốc cho cái kì ảo và văn học kì ảo hơn là truyện thần thoại kiểu thần

thoại Hi Lạp, bởi về bản chất, thần thoại là khoa học về thế giới của người nguyên thuỷ, và do vậy những người sáng tạo ra thần thoại thì tin tưởng vào tính hiện thực của

sự tồn tại của các vị thần cũng như các hiện tượng siêu nhiên Trong khi đó, với những câu chuyện cổ tích dân gian, đặc biệt là chuyện cổ tích thần kì, thì tác giả của những

Trang 30

xây dựng những câu chuyện như là phương tiện để giải trí, trong đó họ đề cập đến những hư cấu, những tưởng tượng hoặc ít nhiều có tính chất đối lập với thực tại Ta xét

tác phẩm Người hiệu đánh cờ của Charles Dickens (người Anh), đây là một tác phẩm

có cốt truyện đơn giản nhưng xen vào đó là những chuyện lạ thường kì quái Đó là yếu

tố con người và hồn ma Nhân vật chính là người đàn ông giữ trạm ga xe lửa khi làm nhiệm vụ để xe lửa chui qua đường hầm, mấu chốt gây nên mọi chuyện là tình tiết khi ông gặp ma giữa đêm trăng, thậm chí là ban ngày ở quanh trạm gác đó Kết cục một cái chết đau thương khi ông bị đầu xe lửa cán phải Thế nhưng ta xét ở nội hàm tác phẩm thì hoàn toàn có ý nghĩa, tạo sao người đàn ông luôn đặt ra câu hỏi và luôn

khẳng định Ông đã thấy ma Đó cũng là vấn đề tác giả đặt ra trong suốt tác phẩm Bằng sự nhạy bén và tinh tế, ông đã biến yếu tố không có thực trở thành cái sâu kín

mà mọi người phải lí giải thấu đáo Dĩ nhiên, qua yếu tố này đã bộc lộ nên ý nghĩa sâu

xa của tác phẩm, chính cuộc sống tâm tối, lối suy nghĩ và cuộc sống tách rời với bên

ngoài đã tạo ra tâm lí con người trở thành hoang tưởng Vì thế Cái kì ảo làm nên sự

thành công của tác phẩm, bằng sự tưởng tượng của con người, việc trên đời vẫn có thế lực siêu nhiên tồn tại (mượn yếu tố kì ảo) Đồng thời cũng lí giải tâm lí con người một cách khá cụ thể, để làm tiền đề cho sự lí giải cho lối tâm lí phức tạp của con người

Đây là sự nhận xét rất đúng của Freud: “Thời trung cổ đã đã gán tất cả những biểu

hiện bệnh hoạn ấy cho ảnh hưởng của ma quỷ, một cách rất logic, và gần như đúng đắn theo quan điểm tâm lí học Có lẻ tôi cũng chẳng ngạc nhiên khi biết rằng phân tâm học, mà công việc là phát hiện những sức mạnh âm thầm nọ, bản thân nó vì thế trở nên đáng sợ một cách lạ lùng trước mắt nhiều người” [10; 195] Dưới sự phát biểu

của Freud lại càng chứng tỏ, không riêng lĩnh vực văn chương mà yếu tố kì ảo lại góp phần làm tư liệu quan trọng trong nghiên cứu của các ngành khoa học khác (như phân tâm học, tâm lí học ) về con người, mà mọi ngành khoa học khác điều khám phá, trong đó điển hình nhất là ngành khoa học văn chương

Trong truyện (như truyện Người hiệu đánh cờ), tác giả cố tình xen vào một tình tiết hấp dẫn li kì, mà tác dụng của nó là vô cùng to lớn mà không một thủ pháp nghệ thuật nào có thể đạt tới Thủ pháp đưa cái yếu tố siêu nhiên (yếu tố kì ảo) vào trong tác phẩm Để từ đó làm cho câu chuyện càng trở nên hấp dẫn, rút ngắn được sự giải thích dài dòng đôi khi là dư thừa, không thuyết phục, làm cho người đọc có sự mơ hồ Hơn

thế, Cái kì ảo tạo nên một điểm nhấn gây ấn tượng mạnh cho người đọc Một ưu điểm

Trang 31

nữa là làm cho các sự kiện, tâm lí nhân vật ở một trạng thái cân bằng tức là phá vở đi thế ổn định, lập nên một sự tình khác biệt hấp dẫn

Tác phẩm thiên tình sử của Camaralzama, trong Ngàn lẻ một đêm nhân vật

chính là Camaralzama là người đẹp trai nhất nước, nét đẹp của anh vượt ra ngoài một nước, anh là hoàng tử của nước Ba Tư, bổng dưng chàng trở nên câm ghét đàn bà khi Vua cha sắp cưới vợ cho chàng Trái lệnh vua, chàng bị giam trong một toà tháp có thể khéo dài suốt mười năm, đúng lúc ấy yếu tố kì ảo can thiệp vào Một nàng tiên tên là Maimoune cùng gặp vị thần Danhash, chính hai vị thần này đã sắp đặt tình huống để cho cô công chúa bướm bỉnh Trung Hoa không chịu lấy chồng Sự tình bất ngờ xuất hiện (cũng là cái kì ảo thể hiện vai trò của mình), họ nằm cạnh nhau khi đang ngủ (dẫn đến việc nảy sinh tình cảm) Đây là yếu tố kì ảo xuất hiện - từ cái bất bình thường đã làm cho câu truyện trở nên bình thường (thế cân bằng đã trở lại) Tiếp sau đó câu chuyện diễn theo mạch diễn biến chính câu chuyện một cách logic, Công chúa và Hoàng tử nảy sinh tình cảm, họ tìm cách gặp lại hau, cố giữ trong nhau một tình cảm

để rồi tình cảm gia đình sẽ đến với họ

Do vậy, nói một cách sơ bộ, chúng ta có thể kết luận rằng, yếu tố kì ảo là cái không thể cắt nghĩa được bằng lí tính từ điểm nhìn của chúng ta với tầm nhận thức

hiện tại Chính cái không thể cắt nghĩa được bằng lí tính ấy đã tạo nên một sự đứt gãy

trong chuỗi liên kết vũ trụ gây ra tâm trạng hoang mang cho những người nào đối diện

với nó Cái kì ảo không chỉ đơn thuần là cái siêu nhiên, cái không thể xảy ra, cái siêu nhiên cái không thể xảy ra ấy muốn trở thành cái kì ảo thì phải có tác dụng tạo ra hiệu

ứng hoang mang cho những người nào đối diện với nó Theo Vax, “khi con người

không còn xem những mê tín của mình là điều nghiêm túc nữa thì họ sử dụng chúng để sáng tạo nên nghệ thuật” [22] Như vậy, có thể khẳng định rằng, ngay khi thoát khỏi

tư duy thần thoại, sáng tác nên những câu chuyện cổ tích, thì con người đã có ý thức

về tính hiện thực và ít nhiều đối lập tính hiện thực với những cái được cho là không thể

xảy ra Tuy nhiên, không thể đồng nhất truyện cổ tích với các sáng tác kì ảo Vậy sự

khác nhau làm nên bản chất của chúng ở đây là gì? Đây chính là chỗ chúng tôi muốn xuất phát từ lập trường để phân biệt truyện kì ảo với truyện cổ tích và các sáng tác tương tự Theo đó, trong bất cứ một sáng tác hư cấu nào cũng luôn tồn tại ý tưởng của

sự sáng tạo

Trong loại hình sáng tác kì ảo (đề cập yếu tố siêu nhiên), chủ thể sáng tạo khi

Trang 32

tính hiện thực, với cái tự nhiên, cái có thể xảy ra theo quy luật thông thường làm cho độc giả luôn có ý thức tự động liên hệ, đối sánh cái không thể xảy ra với cái có thể xảy

ra Từ phía người đọc, khi bước vào thế giới nghệ thuật của truyện kì ảo, tâm thế của

họ cũng là tâm thế của những người đã thôi tin vào những truyện kì ảo hoang đường

và theo dõi câu chuyện bằng sự tỉnh táo, khách quan khoa học của lí trí Trong khi đó,

ở truyện cổ tích, cả truyện cổ tích đích thực và truyện cổ tích hiện đại, thì cả người kể

chuyện lẫn độc giả đều tự đồng loã với nhau rằng tất cả những điều được kể chỉ là thế

giới hoang đường của trí tưởng tượng thuần tuý Người đọc khi theo dõi câu chuyện không cần có bất cứ một sự liên hệ nào giữa những sự kiện diễn ra trong câu chuyện với thế giới thực tại, hay nói chính xác hơn, sự liên hệ với thực tại không nhằm cắt nghĩa cho tính hiện thực của những sự kiện siêu nhiên Chính V.Propp trong các công trình nghiên cứu về truyện cổ tích thần kì cũng đã khẳng định rằng truyện cổ tích là sự

nói dối hoàn toàn từ đầu đến cuối người kể cũng như người nghe không ai coi câu

chuyện đó có dính dáng gì đến hiện thực, và ông dẫn ra ở truyện cổ tích thần kì Nga

thì kết lại câu chuyện thường là câu nói của người kể chuyện: thế là hết, không thể nói

dóc hơn được nữa Một vấn đề được đặt ra ở đây là, cơ chế nào đã tạo ra tính ý tưởng

ấy cả từ phía tác giả và độc giả? Đấy chính là những yếu tố nằm trong cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm, cơ cấu này đã tạo nên giọng điệu của tác phẩm giúp độc giả khi

theo dõi câu chuyện nhận thức rằng đây là sự nói dối hoàn toàn đối với truyện cổ tích,

hay là phải thường xuyên liên hệ với tính hiện thực để cố gắng cắt nghĩa các hiện tượng siêu nhiên như trong sáng tác kì ảo Cũng chính giọng điệu chứ không phải yếu

tố nào khác đã biến cùng một nội dung thông báo thành một tác phẩm kì ảo hay là một bản điều tra khoa học Không phải ngẫu nhiên, các câu chuyện cổ tích, kể cả cổ tích

hiện đại, thường được mở đầu bằng mô hình có tính ước lệ ngày xửa ngày xưa, đã lâu

lắm rồi, tại… có một… Bên cạnh câu mở đầu có tính ước lệ đó là các chi tiết chìa khoá khác như sự xuất hiện thường xuyên của các motip điều ước, motip thử thách trí

thông minh, lòng dũng cảm… Những sự lặp lại đó dường như đã trở thành những mô thức đọng lại trong vô thức của mỗi người tạo nên tâm thế tiếp nhận đặc thù của chúng

ta khi tiến vào thế giới riêng biệt ấy (không phải không có lí khi Caillois phân biệt truyện thần tiên với truyện kì ảo ở tính chất kết thúc có hậu của truyện thần tiên cổ tích, còn ở truyện kì ảo thường kết thúc bằng sự chết chóc, mất tích…) Chính các yếu

tố này đã tạo nên trường cổ tích có tác dụng dẫn dắt người đọc đi vào thế giới thuần

Trang 33

độc giả lại bước ra khỏi thế giới thần tiên, trở về với thực tại và tự nhủ rằng ta vừa

được thoát tục, được phiêu lưu vào thế giới thần kì trong chốc lát Trong khi đó, ở

truyện kì ảo (hay yếu tố kì ảo trong truyện), khi khép sách lại độc giả không khỏi băn khoăn hoang mang, chính bởi trong quá trình đọc, độc giả luôn bị ràng buộc và liên hệ thường xuyên các sự kiện siêu nhiên với tính hiện thực

Từ góc độ này, ta có thể kết luận rằng, cái kì ảo có mầm mống xa xưa từ trong văn học dân gian cùng với những truyện cổ tích, bởi như trên đã nói, khi thoát khỏi tư duy thần thoại, sáng tác nên những câu chuyện này thì cũng là lúc con người bắt đầu

có ý thức về tính hiện thực và ít nhiều đối lập những hư cấu trong truyện với tính hiện thực Tuy vậy, quan sát lịch sử phát triển của loại hình này thì rõ ràng, phải đến cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy lí (rationalism), xã hội mới có đủ điều kiện để tạo ra một lớp nhà văn có ý thức rõ ràng trong việc tạo ra một hình thái ý thức thẩm mĩ mới là cái kì ảo và đi cùng với nó là một loại hình văn học mới là văn học kì ảo ở đó luôn có sự đối lập giữa cái siêu nhiên với cái hiện thực trong thế giới nghệ thuật Một lớp độc giả đã thôi tin vào những truyện kì

ảo hoang đường kì diệu, theo dõi câu chuyện bằng con mắt lí tính, có thể chỉ đơn thuần tìm lại cảm xúc sợ hãi hoang mang trước những hiện tượng siêu nhiên chỉ có được ở thuở ấu thơ Do vậy, sự ra đời của cái kì ảo và văn học kì ảo như là một cảnh báo đối với sự toàn trị của lí trí cứng nhắc, vừa như một sự điều hoà giúp thế giới tâm linh con người giữ được cân bằng trong thế phản kháng lại sự toàn trị của lí trí làm máy móc hoá con người, đồng thời như một sự khắc phục các khiếm khuyết của tư tưởng duy lí trước các hiện tượng không thể dùng qui luật thông thường để giải thích Ở phương diện này, cái kì ảo và văn học kì ảo rõ ràng đã mở rộng biên độ của hiện thực, bổ khuyết cho con người trong cái nhìn về hiện thực

Tóm lại, khi nghiên cứu về cái kì ảo văn học kì ảo, thống nhất quan điểm cho

rằng mầm mống của cái kì ảo là từ văn học dân gian với các thể loại truyện cổ tích, truyền thuyết bình dân sự tích các thánh…, tuy nhiên, chúng tôi nghĩ cần có sự đối lập giữa kiểu truyện kì ảo và văn học huyễn tưởng nói chung với kiểu truyện cổ tích bởi sự khác nhau về bản chất trong hướng sáng tạo của chúng Tương tự, một cực kia của sự đối lập giữa văn học kì ảo và văn học huyễn tưởng là kiểu truyện khoa học viễn tưởng (science fiction), bởi truyện khoa học viễn tưởng cũng đưa người đọc vào một thế giới hoàn toàn hư cấu mà chẳng cần bất cứ một sự quy chiếu nào những sự kiện không thể

Trang 34

hoang mang trong sự cố gắng cắt nghĩa như là cứu cánh - đặc trưng làm nên bản chất của cái kì ảo Tiền thân, đồng thời là ở một phạm vi rộng hơn, bao trùm lên cái kì ảo

và văn học kì ảo là cái huyễn tưởng và văn học huyễn tưởng nói chung Ở cái kì ảo và văn học kì ảo, cứu cánh là tạo ra một sự rạn nứt của hiện thực quen thuộc, từ đó gây nên hiệu ứng hoang mang trong sự cắt nghĩa khi luôn hướng đến một sự quy chiếu giữa tính chất siêu nhiên với tính thực tại

Đến cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, khi điều kiện xã hội với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy lí cho phép con người thôi tin vào phép màu nhiệm, và trong tác phẩm, sự đối lập giữa cái siêu nhiên và cái hiện thực tồn tại như là cứu cánh,

ấy là thời điểm của sự ra đời cái kì ảo và văn học kì ảo Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

là thời điểm ra đời của văn học viễn tưởng, cơ sở của nó là văn học kì ảo và văn học huyễn tưởng nói chung, kết hợp với thành tựu của khoa học kĩ thuật; bản chất của nó

là tính giả thuyết, tính dự báo của thế giới mà nó đưa ra, cho phép trí tưởng tượng của con người có thể đi trước thời gian hiện tại, quên đi hiện tại để sống với tương lai trong tưởng tượng Thực tế, các loại hình văn học này (cổ tích, huyễn tưởng, kì ảo, khoa học viễn tưởng) có thể song song tồn tại, bởi các nhà văn có thể sáng tác các truyện cổ tích ngay trong thời hiện đại này, và lúc đó, sự phân biệt đặc trưng loại hình của chúng là tuỳ thuộc vào tính ý hướng của sự sáng tạo, thể hiện qua giọng điệu cụ thể của từng tác phẩm

Liệu sau này người ta có thể đặt ra câu hỏi, khi khoa học cho phép cái cây biết

nói, người ta có còn cho rằng tác phẩm này là văn học kì ảo nữa không? Có thể khẳng

định, nó vẫn thuộc văn học kì ảo, bởi thực tế văn học có quy luật riêng của nó, khi tham gia vào thế giới ấy là chúng ta đã mặc nhiên chấp nhận những luật chơi riêng của

nó Còn đối với những nhà nghiên cứu có nhiệm vụ khái quát lí luận thì vẫn xem nó là văn học kì ảo bởi họ có hệ quy chiếu là tính lịch sử loại hình mà tác phẩm đó thuộc vào và một thực tế chắc chắn sẽ xảy ra là sự tiến triển của loại hình, khi đó chẳng ai lại viết một tác phẩm kì ảo, cũng với cứu cánh là hiệu ứng hoang mang trước sự rạn nứt của hiện thực, những tác phẩm của Balzac, Gogol,…cho ta thấy rõ điều đó, bởi hiện thực lúc đó không còn trong phạm vi hiện thực của thế kỉ XIX, và với sự cho phép của khoa học, con người ta chẳng còn phải băn khoăn với những ma hiện, sự phân thân nữa Bởi ngay trong thế kỉ XX vừa qua, người ta đã chuyển sự băn khoăn và hoang mang từ những việc như ma hiện, sự phân thân đó sang sự phi lí trong cái hiện sinh

Trang 35

3 Quan niệm kì ảo hoang đường trong văn học phương đông nói chung, Trung Quốc nói riêng

Xét về mặt tác dụng của yếu tố kì ảo đến tác phẩm văn học là rất lớn và có một

ý nghĩa nhất định Nhưng không phải sáng tác nào khi sử dụng yếu tố kì ảo trong tác phẩm cũng chung mục đích Mà đó là sự nhìn nhận của tác giả sử dụng yếu tố kì ảo hoang đường trong tác phẩm điều có dụng ý riêng của mình Ta hãy xét hai tác phẩm ở phương đông, cụ thể là Đông Chu Liệt Quốc - Phùng Mộng Long (Trung Quốc) và Bóng Đè - Đỗ Hoàng Diệu (Việt Nam) Hai tác phẩm này chắc hẳn sẽ có điểm tương đồng nào về quan niệm yếu tố kì ảo (cùng ở phương đông và có một số điểm tương đồng về văn học) Bên cạnh đó cái riêng biệt vẫn sẽ có khi một số quan niệm nhà văn, nhà thơ Trung Quốc vẫn có một cái nhìn khác biệt về yếu tố kì ảo hoang đường khác với quan niệm của Việt Nam

Tác phẩm Bóng Đè - Đỗ Hoàng Diệu, gây nên sự chú ý dư luận trong xã hội

cũng như trong văn chương Việt Nam đương đại Bởi nó đề cập tới các vấn đề nóng

hổi mà ít tác phẩm nào trước đó đề cập Câu chuyện xoay quanh nhân vật Tôi về làm

giỗ ở gia đình chồng, 17 cái giỗ của gia đình chồng trong năm là 17 lần cô con dâu dòng dõi đế vương Trung Hoa sống với điều bí mật riêng tư và ám ảnh vì những chiếc bóng từ bàn thờ hiện về làm chuyện ân ái Từ chỗ miễn cưỡng, hoảng sợ, nổi loạn cho

đến chấp nhận chờ đợi, thoả mãn thách thức những bí mật ấy và Tôi băn khoăn thắc

mắc vì sau Thụ (chồng cô) lại đổi giọng mỗi khi có sự hiện diện của cái bàn thờ?

Người chồng thờ ơ và làm ra vẻ gia giáo Người mẹ chồng rình rập cứ như cũng đã từng mang nỗi ám ảnh riêng tư kia và bà cô em chồng tên Thắm chẳng biết vô tư hay đồng loã với thế lực bóng tối Những chiếc bóng bay về tìm thú vui và giành giật lạc thú với người cõi trần, người hậu duệ, chung huyết thống Lần đầu tiên, bàn thờ được

truất xuống sống với cõi người ái ố, để cùng con người nghi vấn trước bao nhiêu phi

lý mà đời sống này không trả lời hết!

Không khí ma quái trộn lẫn sự toả hơi của nhục cảm có sức ám ảnh và hấp dẫn

người đọc từ đầu đến cuối truyện ngắn Bóng đè: Vú tôi là đời sống, là hơi thở, là khí

quyển Mồ mả là quá khứ! Tôi múa điệu múa da thịt tươi tốt thách thức thần linh, thách thức âm hồn dòng dõi Trung Hoa nhà Thụ, hình ảnh người phụ nữ rướn tấm

thân cong như hình chữ S, một chữ S cố phản kháng , khiến người đọc như lướt trên

những xác chữ nhấp nhổm nhục cảm Yếu tố kì ảo xét ở tác phẩm văn học Việt Nam,

Trang 36

chung qui là mượn hình tượng hồn ma để nói lên cốt lõi của vấn đề Khẳng định cái tôi của bản thân, thể hiện khát khao và nhu cầu của con người trong vấn đề tình cảm Vậy

là, yếu tố kì ảo đi sâu vào trong tác phẩm để nhằm mục đích làm vai trò cho sự phát triển tâm lí của nhân vật, gây nên hoang mang, hồi hộp và lôi cuốn người đọc Đồng thời nhấn mạnh vào cuộc sống đời thường của trần tục mà cuộc sống muôn màu muôn

vẻ đã mang đến

Tác phẩm Đông Chu Liệt Quốc - Phùng Mộng Long, đã cho ta thấy một số quan niệm về yếu tố kì ảo có phần tương đồng với quan niệm yếu tố kì ảo ở Việt Nam, cũng sử dụng yếu tố hồn ma (Quản Trọng đón biết thần Du Nhi; Hồi 21), Tề Hoàn Công trông thấy ma quỉ [6; 278]….(Ý Nghĩa của yếu tố kì ảo về hồn ma sẽ phân tích

rõ ở chương III) Như vậy cái chung nhất mà ta bắt gặp là tác giả mượn yếu tố thần ma (thế giới bên kia) mà mô tả, đối sánh với cái trần tục, mà ý nghĩa của nó là tô đậm thêm cuộc sống về các vấn đề mà nhà văn đã chiêm nghiệm được

Quan niệm về yếu tố kì ảo của người Trung Quốc (Tác phẩm Đông Chu Liệt Quốc - Phùng Mộng Long là tiêu biểu), quả thực có một số điểm tương đồng về việc

sử dụng yếu tố kì ảo hoang đường với quan niệm của Việt Nam Nhưng bên cạnh đó còn có một số điểm riêng nhất định Trước hết, quan niệm về yếu tố kì ảo như là một chức năng, khi vai trò yếu tố kì ảo hoang đường phát huy cũng là lúc mọi việc trở nên căng thẳng hay đã được mở nút, ví dụ như Tấn Bình công thích nghe âm nhạc [6; 117], nghe được tiếng gãy đàn của Sư Khoáng đến nổi chim phải nhảy múa, cát đá bay mù mịt ; hay việc kì lạ là Ngũ Viên bạc đầu chỉ một đêm suy nghĩ [6; 238], một đêm mà tóc đen chuyển thành tóc trắng (điều này có ý nghĩa sâu xa mà chương sau ta sẽ phân tích rõ) Chính

vì vậy, yếu tố kì ảo hoang đường gắn liền với những sự kiện mà chưa đi sâu vào phân tích tâm

lí nhân vật, hình như chỉ có vai trò chức năng mà thôi

Một điểm nữa, theo một số quan niệm của tác giả Trung Quốc, sử dụng yếu tố kì ảo hoang đường trong tác phẩm gây nên hiệu ứng rất cao cho người đọc Giống như mở đầu câu chuyện Đông Chu Liệt Quốc, hàng loạt chuyện lạ (yếu tố kì ảo) xuất hiện cũng để nhằm mục đích gây nên sự hứng thú, hấp dẫn của câu chuyện ngay từ những trang đầu Càng đi sâu vào tác phẩm thì ta mới ngạc nhiên, sự kiện lịch sử được lồng ghép vào nhau một cách chặt chẽ, bên cạnh yếu tố kì ảo hoang đường đã làm cho câu chuyện diễn biến theo một hướng nhất định và không tách rời, đứt khúc, như theo ý

Trang 37

nghĩ của tác giả Do đó Phùng Mộng Long đã sử dụng yếu tố kì ảo hoang đường trong Đông Chu Liệt Quốc đem lại hiệu quả nghệ thuật cao, cũng như là sự thành công trong tác phẩm Qua đó ta cũng thấy được phần nào quan niệm của người Trung Quốc đối với yếu tố kì ảo hoang đường trong văn học

Trang 38

CHƯƠNG III: TIẾP CẬN ĐÔNG CHU LIỆT QUỐC TỪ GÓC NHÌN KÌ ẢO HOANG ĐƯỜNG PHƯƠNG ĐÔNG NÓI CHUNG,

TRUNG QUỐC NÓI RIÊNG

1 Giới hiệu tác phẩm

Đông Chu Liệt Quốc tác giả Phùng Mộng Long thời Minh là tiểu thuyết lịch sử gồm 108 hồi được Sái Nguyên Phóng thời Thanh cải biên lại Bản thân Tân Liệt Quốc lại được cải biên và viết thêm từ bộ Liệt quốc chí truyện khoảng 280.000 chữ do Dư Thiệu Ngư viết ra khoảng niên hiệu Gia Tĩnh

Phùng Mông Long căn cứ chủ yếu vào các sách Tả truyện và Quốc ngữ của Tả Khâu Minh và sách Sử ký của Tư Mã Thiên và có tham khảo các sách Công dương

truyện, Chiến quốc sách và hơn mười bộ sử khác nữa, để biên soạn Ðông Chu Liệt

Quốc chí

Đông Chu Liệt Quốc đề cập đến thời kỳ lịch sử rất dài khoảng hơn 400 năm (thế kỷ III, IV, V, VI trước Công Nguyên) của Trung Quốc, bắt đầu từ đời Tuyên vương nhà Chu cho đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc Sử sách cũng gọi thời kỳ ấy là giai đoạn Đông Chu, được chia làm hai giai đoạn là Xuân Thu và Chiến Quốc Trong lịch sử Trung Quốc đây là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế độ phong kiến tập quyền Đông Chu Liệt Quốc là bộ sách rất hay, trong truyện không những đề cập đến các mốc lịch sử rất dài đồng thời cũng đề cập,

mô tả rất nhiều nhân vật nổi tiếng đã quen thuộc với chúng ta, từ các bậc anh hùng như Tín Lăng Quân, Lạn Tương Như, Ngô Khởi, Ngũ Tử Tư… đến các nhà quân sự lỗi lạc như Tôn Tử, Phạm Lãi, Tôn Tẫn… và các nhà chính trị - tư tưởng lớn như Khổng Tử, Quản Trọng Tất cả đều được tác giả ca ngợi và đề cao

Còn vấn đề dịch giả của Đông Chu Liệt Quốc, ở Việt Nam có rất nhiều dịch giả như đã dịch tác phẩm này như: Nguyễn Đỗ Mục, Cao Xuân Huy, NXB Lao Động - 2009; dịch giả Võ Minh Trí, NXB Tín Đức Thư Xã - 1957; dịch giả Mộng Bình Sơn, NXB Văn hoá Thông Tin, Số 43 Lò Đúc - Hà Nội, ngoài ra còn có nhiều dịch giả khác

nữa Trong đó dịch giả Mộng Bình Sơn dịch Đông Chu Liệt Quốc là tốt nhất, nếu đem

so sánh các bản dịch khác thì bản dịch của Mộng Bình Sơn là rất dể hiểu và ngôn ngữ gần gũi với người dân Việt Nam, quan trọng hơn là nội dung là rất gần với nguyên tác, được nhiều nhà nghiên cứu công nhân và độc giả chọn đọc Vì vậy chúng tôi xin chọn bản dịch của Mộng Bình Sơn để làm tư liệu cho việc nghiên cứu đề tài của chúng tôi

Ngày đăng: 24/11/2015, 14:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dư Quan Anh, Tiền Chung Thư, Phạm Ninh (Chủ biên), Lê Huy Tiêu (Người dịch). Lịch sử văn học Trung Quốc; Tập 3 - NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc; Tập 3
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Đường Khắc Dương - Cội nguồn văn hoá Trung Hoa - NXB Hội nhà văn, Tp. HCM, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn văn hoá Trung Hoa
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
3. Trần Xuân Đề - Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc - NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Bùi Hữu Hồng (Dịch giả) - Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc - NXB Thế giới, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc
Nhà XB: NXB Thế giới
5. Nhiều tác giả - Trung Quốc văn học sử Lịch sử văn học Trung Quốc; T2- NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc văn học sử Lịch sử văn học Trung Quốc
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Phùng Mộng Long - Đông Chu Liệt Quốc - NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Chu Liệt Quốc
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
7. Nguyễn Khắc Phi - Văn học Trung Quốc - NXB Tp. HCM, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Nhà XB: NXB Tp. HCM
8. Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ, Lê Huy Tiêu, Lê Đức Niệm (Dịch giả) - Lịch sử văn học Trung Quốc; T2 Văn học đời Đường - Tống - NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc; T2 Văn học đời Đường - Tống
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Lê Văn Quán - Đại cương lịch sử tư tưởng Trung Quốc - NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử tư tưởng Trung Quốc
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào (dịch giả) - Dẫn luận văn chương kì ảo - NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận văn chương kì ảo -
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
11. Đường Nhạn Sinh, Bạo Thúc Diễm, Chu Chính Thư - Mưu trí thời Xuân Thu - NXB Văn nghệ Tp. HCM, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mưu trí thời Xuân Thu
Nhà XB: NXB Văn nghệ Tp. HCM
12. Đặng Đức Siêu - Văn hoá cổ truyền Phương Đông - NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá cổ truyền Phương Đông
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Trần Đình Sử (Dịch giả) - Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa - Trường Đại học Sư Phạm, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa
14. Dịch Quang Tả - Văn học Trung Quốc ; T1 - NXB Trẻ, Tp. HCM, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Nhà XB: NXB Trẻ
15. Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi - Lịch sử văn hóa Trung Quốc - NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa Trung Quốc
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
16. Lê Huy Tiêu - Cảm nhận mới về văn hoá và văn học Trung Quốc - NXB Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nhận mới về văn hoá và văn học Trung Quốc - NXB
Nhà XB: NXB "Đại
17. Lương Duy Thứ, Đỗ Vạn Hỷ - Giáo trình văn học Trung Quốc - NXB Đại học Quốc gia Tp. HCM, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học Trung Quốc -
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Tp. HCM
18. Lương Duy Thứ - Để hiểu tám bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc - NXB Văn học, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu tám bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc
Nhà XB: NXB Văn học
19. Lê Huy Tiêu - Cảm nhận mới về văn hóa và văn học Trung Quốc - NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nhận mới về văn hóa và văn học Trung Quốc
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội
20. Lê Ngọc Tú (biên soạn) - Để hiểu Đông Chu Liệt Quốc - NXB Văn học, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu Đông Chu Liệt Quốc
Nhà XB: NXB Văn học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w