1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sự kế thừa và phát triển về nghệ thuật ở tiểu thuyết hồ biểu chánh

92 354 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 806,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng, tác giả đã đề cập đến Hồ Biểu Chánh với những đóng góp về đề tài, cách xây dựng truyện và văn cách cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

HUỲNH NGỌC ÚT

MSSV: 6075469

SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN VỀ NGHỆ THUẬT

Ở TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH

Luận văn tốt nghiệp đại học

Trang 2

PHẦN MỘT

MỞ ĐẦU

Trang 3

số nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ấy là nhà văn – nhà tiểu thuyết – Hồ Biểu Chánh với lượng tác phẩm khá lớn Những tác phẩm của ông đã đi vào lòng người đọc với nghệ thuật viết tiểu thuyết mới lạ, hấp dẫn so với những cây bút cùng thời Tiểu thuyết của

Hồ Biểu Chánh được xem là mới hơn cả về lối hành văn, cách xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm, nhất là về ngôn từ được sử dụng trong tác phẩm Để có những cuốn tiểu thuyết đoạt giải hôm nay thì thể loại tiểu thuyết buổi sơ khai phải trải qua những bước thâm trầm Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có sự kế thừa và đổi mới, tức là ông có kế thừa

và phát huy, xây dựng trên nền tảng của quá khứ kết hợp chọn lọc để hoàn thiện hơn cho tiểu thuyết Chính sự mới lạ về nghệ thuật tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh ở giai

đoạn đầu thế kỉ đã thu hút người viết Cho nên, người viết đã chọn đề tài “Sự kế thừa

và đổi mới về nghệ thuật ở tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh phần nào đó tìm hiểu khía cạnh

lịch sử văn học dân tộc

II Lịch sử vấn đề

Nếu trước năm 1930, Hoàng Ngọc Phách nổi tiếng ở miền Bắc với tác phẩm

Tố tâm thì ở Nam bộ Hồ Biểu Chánh là tác giả được nhiều người yêu thích, kể cả hai

miền Nam - Bắc Về số lượng cũng như chất lượng mà nói, Hồ Biểu Chánh là nhà văn đáng chú ý nhất của văn học vào giai đoạn này

Trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng, tác giả đã đề cập đến

Hồ Biểu Chánh với những đóng góp về đề tài, cách xây dựng truyện và văn cách cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Thiếu Sơn trong bài viết đăng trên báo Phụ nữ Tân Văn số 106 ngày 19 tháng 10

năm 1931 có nói, Hồ Biểu Chánh là đại diện cho lối viết kiểu phê bình nhân vật Ông

Trang 4

không ngần ngại ca ngợi Hồ Biểu Chánh: “Ông Hồ Biểu Chánh chẳng những đã biết

do sự quan sát mà sáng tạo ra được những nhân vật đúng với cái khuôn mẫu với người đời, biết cho nhân vật đó sống theo tánh cách riêng, cái thái độ riêng, trong mỗi hoàn cảnh riêng của họ, mà ông khéo léo cho những nhân vật đó hiệp thành cái xã hội gần giống như xã hội ta…” Thiếu Sơn có nhận xét khá tinh nhạy về tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh, nhưng chỉ có cái nhìn về một phương diện nghệ thuật xây dựng “nhân

vật”

Trong Tiến trình văn nghệ miền Nam, Nguyễn Q Thắng đã phân tích một số tác

phẩm tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh Ông đánh giá về mặt đổi mới của nhân vật từ tính cách đa dạng, tình cảm, tâm lí của nhân vật trong tác phẩm và phong phú về mặt nghệ thuật ngôn từ Nhưng nhìn chung, ông cũng chỉ đánh giá khái quát những đóng góp của Hồ Biểu Chánh trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đầu thế kỉ XX, chứ chưa

đi sâu vào phân tích nội dung hay một phương diện nghệ thuật cụ thể của tác phẩm

Ngoài ra, Hồ Biểu Chánh là nhà tiểu thuyết Nam bộ duy nhất được Vũ Ngọc Phan

giới thiệu trong bộ sách phê bình văn học Nhà văn hiện đại Việt Nam (1942) tâp 1

Ông khẳng định tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh giai đoạn đầu thế kỉ đã có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam hiện đại, nó mang tính bình dân từ nhân vật đến lời văn, lối kết cấu, dựng việc, sự quan sát của Hồ Biểu Chánh rất tinh sảo Đó là bước đi đầu tiên để

có những bước đi vững vàng của tiểu thuyết sau này Nhìn chung, Vũ Ngọc Phan đánh giá cao ở Hồ Biểu Chánh về nghệ thuật xây dựng nhân vật và miêu tả cảnh, ông có đưa một vài dẫn chứng để phân tích, tuy nhiên chưa đi sâu vào khám phá nghệ thuật của tác phẩm, chỉ nhìn nhận ở bình diện bao quát

Khi viết Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974) Phan Cự Đệ tập trung vào một số tác

phẩm tiêu biểu được sáng từ năm 1900 đến 1930 một số tác phẩm của Hồ Biểu Chánh

ở miền Nam Phân tích chủ yếu những mặt tích cực và hạn chế về nội dung tác phẩm Ông nhận định, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh vẫn còn những ảnh hưởng của tiểu thuyết truyền thống về hình thức kết cấu và nội dung luân lí, nhưng nội dung có những điểm đổi mới đáng ghi nhận là đã phản ánh được hiện thực xã hội Nam bộ trong giai đoạn đầu thế kỉ đầy rối ren phức tạp

Từ sau 1975 đến nay, đất nước thống nhất đã tạo điều kiện thuận lợi để khắc phục những hạn chế ở giai đoạn trước trong việc nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh Các công trình nghiên cứu có liên quan đến Hồ Biểu Chánh và trực tiếp nghiên cứu về những

Trang 5

khía cạnh khác tiểu thuyết của ông như: Những áng văn chương Quốc ngữ đầu tiên, truyện Thầy Lazaro phiền của Nguyễn Văn Trung (1987); Tiến trình Văn nghệ miền Nam hiện đại (1998), Bình minh của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1990) của Nguyễn Q Thắng; Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945 của

Mã Giang Lân chủ biên (2000); Tiểu thuyết Nam bộ cuối thế kỉ XIX của Nguyễn Kim Anh chủ biên (2004) Những công trình này đã có những nhận xét về vị trí của Hồ Biểu Chánh trong quá trình vận động và phát triển của văn học Nam bộ cũng như trong lòng độc giả những năm đầu thế kỉ XX

Bên cạnh đó, những công trình trực tiếp nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh

cũng góp phần làm phong phú hơn về quá trình tìm hiểu Hồ Biểu Chánh: Trong Thi

pháp nhân vật tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh trước 1945 của Nguyễn Thị Phương Thảo đã

đi vào phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội: giàu – nghèo, chính diện – phản diện từ ngoại hình, ngôn ngữ đến tính cách nhân vật Người viết đã đưa ra quan điểm của bản thân về tài tăng nghệ thuật Hồ Biểu Chánh, đó là sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức, mang màu sắc thẩm

mĩ của người phương Đông Đồng thời nêu lên quan niệm của tác giả khi xây dựng nhân vật trong xã hội đầy biến động

Cái nhìn của Hồ Biểu Chánh về người dân Nam bộ của Huỳnh Thị Lan Phương

(2006) Người viết cho rằng, Hồ Biểu chánh đã phản ánh được cuộc sống nghèo khó

và tính cách của người nông dân: hiền lành, bộc trực, thẳng thắng, sống nghĩa tình,

cam chịu, nhẫn nhục Đôi khi có phản kháng nhưng yếu ớt và mang tính“tức nước vỡ

bờ”, bên canh đó thì “cái nhìn” của Hồ Biểu Chánh còn lệch lạc về người nông dân,

chưa nhận ra ở họ sức mạnh vùng lên Nhà văn cũng đưa ra những biện pháp giúp cho người nông dân thoát cảnh lầm thang, bằng sự hỗ trợ của những địa chủ giàu sang, tâm

đức, tuy nhiên đó chỉ là cách giải quyết giàu màu sắc “cải lương” Nhưng dù sao thì

Hồ Biểu Chánh vẫn có “cái nhìn” nhân đạo đối với người nông dân

Vài nét về phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của Huỳnh Thị Lan

Phương và Nguyễn Văn Nở, nhận xét Hồ Biểu Chánh có phong cách rất đời thường, nhà văn đã vận dụng những lớp ngôn ngữ như: khẩu ngữ, phương ngữ, từ biến thể, từ địa phương … trong sáng tác của mình, chính phong cách ngôn ngữ này đã đưa tiểu thuyết ông đến gần với đông đảo công chúng bình dân

Trang 6

Công trình ngiên cứu Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh của

Trà Thị Lâm Vân, chia kết cấu tiểu thuyết thành hai cấp độ: kết cấu trần thuật và kết cấu hình tượng Hồ Biểu Chánh đã học tập và vận dụng nghệ thuật kết cấu của tiểu thuyết phương Tây vào trong tác phẩm của mình và đã có những thử nghiệm khá ấn tượng Dù vậy, tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh ba mươi năm đầu thế kỉ vẫn có tính chất quá độ giao thời, chưa thoát khỏi kết cấu chương hồi truyền thống

Qua quá trình tìm tư liệu, người viết nhận thấy tất cả công trình nghiên cứu nói về cuộc đời cũng như tác phẩm Hồ Biểu chánh, chỉ nhận xét sơ lược về nội dung và nghệ thuật Có chăng một số công trình đi vào nghiên cứu vài phương diện nghệ thuật riêng

lẻ của tác phẩm Hồ Biểu Chánh như: ngôn ngữ, kết cấu, nhân vật, lối hành văn… chứ chưa có công trình nghiên cứu mang tính tổng quát về nghệ thuật của tác phẩm

Hồ Biểu Chánh

Đề tài của người viết Sự kế thừa và đổi mới về nghệ thuật ở tiểu thuyết Hồ Biểu

Chánh sẽ đi vào nghiên cứu nghệ thuật, cụ thể hơn là yếu tố truyền thống và cách tân

về nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông Thông qua thủ pháp nghệ thuật, người viết sẽ nhận rõ hơn các giá trị tư tưởng của tác phẩm Hồ Biểu Chánh

III Mục đích nghiên cứu

Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại có cách tân về nội dung, nghệ thuật là điều đáng ghi

nhận Tuy nhiên trên cơ sở “hiện đại hóa” văn học Việt Nam, các nhà văn của chúng

ta vẫn có sự kế thừa và phát huy truyền thống văn học Hiện đại không có nghĩa là từ

bỏ, tuyệt giao truyền thống, cần phải có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại về cả nội dung và nghệ thuật Tác phẩm của Hồ Biểu Chánh không nằm ngoài sự kết hợp đó

Đề tài đòi hỏi công trình nghiên cứu của chúng ta phải nhìn nhận và khẳng định đóng góp của Hồ Biểu Chánh trên con đường hình thành tiểu thuyết Việt Nam và chỉ ra được sự kế thừa và đổi mới về nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Từ đó nhận rõ các giá trị của tác phẩm cũng như quan niệm của nhà văn thông qua những thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu Đồng thời đề tài nghiên cứu giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về nghệ thuật văn chương, đặc biệt là nghệ thuật viết tiểu thuyết hiện đại Bản thân chúng tôi nhận thấy đề tài có thể góp một phần nhỏ vào lĩnh vực nghiên cứu và là dữ liệu tham khảo về nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh sau này

IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Đối tượng khảo sát của luận văn là một số tiểu thuyết tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh

Luận văn tập trung vào hai vấn đề chính: sự kế thừa và đổi mới về nghệ thuật ở tiểu

thuyết Hồ Biểu Chánh Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết của nhà văn Nam bộ,

thông qua đó thấy được quan niệm nghệ thuật chi phối trong sáng tác truyện của ông

V Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành khảo sát, giải quyết vấn đề đưa ra, trong luận văn chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất là phương pháp thống kê, phân loại nhằm tìm hiểu thủ pháp nghệ thuật

mà Hồ Biểu Chánh sử dụng trong tác phẩm của ông Trên cơ sở đó thấy được những yếu tố truyền thống và cách tân của nhà văn

Thứ hai là phương pháp tổng hợp, khái quát nhằm xác định những đóng góp tích cực của ông trong quá trình hình thành tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Thứ ba là phương pháp phân tích lịch sử giúp cho việc tiếp cận các thủ pháp nghệ thuật mang tính đặc thù thời đại của ông và các tư tưởng, quan niệm được thể hiện qua thủ pháp ấy, như chứng minh, so sánh

Trang 8

PHẦN HAI

NỘI DUNG CHÍNH

Trang 9

Chương 1: Vài nét về thể loại tiểu thuyết

1.1 Khái niệm về tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một thuật ngữ Hán việt Hiểu một cách đơn giản, tiểu là nhỏ nhặt, thuyết là nói, là bàn Thực tế cho thấy, hiện nay, tiểu thuyết là tác phẩm chứa đựng dung lượng cuộc sống rộng lớn, nhiều trang so với các thể loại khác Vậy chúng ta nên

hiểu “tiểu thuyết” như thế nào cho đúng và hợp lí

Trước khi định nghĩa tiểu thuyết, chúng ta dành ít thời gian ngược dòng lịch sử tìm

hiểu sự ra đời của “tiểu thuyết” Theo quan niệm về tiểu thuyết của Trung hoa, nguồn

gốc của tiểu thuyết là những câu chuyện vặt vãnh nơi thôn xóm, phố phường được quan lại thu thập nhằm khảo sát tư tưởng chính trị và tập quán của người dân Theo quan niệm thời bấy giờ, nhất là tầng lớp thượng lưu, thì tiểu thuyết không được coi là chính thư, không được dùng để dạy và học Nghệ thuật tiểu thuyết không thể so sánh với nghệ thuật lớn của thơ ca, nó chỉ là loại văn xuôi kể chuyện đời thường, chuyện nhỏ nhặt, những thuật kể của của bọn văn gia tẹp nhẹp khác với bậc thánh hiền, học

giả Chữ “tiểu” cũng có nghĩa là “tiểu sự tình”, ý nói những việc nhỏ nhặt, lượm lặt ở

những nơi góc phố, chợ búa, hay câu chuyện kể ở tửu trà, thuộc về dân gian tầm thường Phương Lựu đã khái quát lại hàm nghĩa tiểu thuyết qua các thời đại ở Trung

Hoa: chữ tiểu thuyết xuất hiện sớm nhất trong Ngoại thiên sách Trang Tử nhưng mang

hàm nghĩa gần như học thuyết chứ không phải là sáng tác văn học Đến đời Hán trong sách “Hán Thư”, thiên “Nghệ văn chí”, Ban Cố cho rằng tiểu thuyết gia thuộc một

trong mười loại nhà văn và nói tiếp: “Loại tiểu gia xuất thân từ hạng quan nhỏ, nghe

các lời nói trong thôn cùng ngõ hẻm khắp các nẻo đường mà viết nên Khổng Tử có nói: Tuy là con đường nhỏ, nhưng tất yếu cũng có cái có thể xem được… cho nên quân

tử không làm ra nó, song cũng không tiêu diệt nó” Đến nhà Minh, Tiêu Hoa chủ nhân

thì cho rằng: “tiểu thuyết là sách của bọn tài tử” [46:135] Nhà tiểu thuyết Phùng Mộng Long có nói: “Ngoài Lục Kinh Quốc sử ra, phàm những trước thuật khác đều

gọi là tiểu thuyết” (Tựa cảnh thế hằng ngôn)

Manh nha từ thời Hán Vũ đế, thế kỉ thứ 2 trước công Nguyên, nhưng phải trải qua hàng chục thế kỉ, thể loại tiểu thuyết của Trung Quốc mới thật sự hình thành và dần dần phát triển Nhất là vào thời thịnh Đường, loại tiểu thuyết truyền kì rất được ưa

Trang 10

chuộng, thể hiện vấn đề số phận và phẩm chất cá nhân trong cuộc sống Thời Minh trở

đi tiểu thuyết vào giai đoạn phát triển rực rỡ theo dạng chương hồi như Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du ký của Ngô Thừa Ân… Sang đời Thanh, xã hội trở nên thối nát, xuất hiện các tiểu thuyết xuất sắc kể về đời tư

và đạo đức thế sự như Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần

Qua đó, ta thấy tiểu thuyết Trung Hoa ra đời từ lớp bình dân trong dân gian, sáng tác từ những chuyện nhỏ nhặt đơn giản đến chuyện lớn hơn, phức tạp hơn để phản ánh

mọi phương diện của cuộc sống Nếu lấy Tam Quốc Diễn Nghĩa làm ví dụ ắt hẳn trước

khi tiểu thuyết bằng giấy mực ra đời đã có nhiều câu chuyện nhỏ nhặt được kể và lưu

truyền như Tam cố thảo lư, La Quán Trung như người tổng hợp lại để viết nên

Tam quốc diễn nghĩa hoàn chỉnh với dung lượng đồ sộ Quan niệm tiểu thuyết

Trung Hoa có đặc điểm chung là tiểu thuyết không mang tính quy phạm như các thể loại văn học khác như: thơ, phú, từ…

Chia loại tiểu thuyết ở Trung Hoa, có nhiều quan niệm khác nhau về cách chia tiểu thuyết Qua khảo sát thì tiểu thuyết chia thành 3 loại: Đoản thiên tiểu thuyết, trung thiên tiểu thuyết, trường thiên tiểu thuyết Hay: Giản thiên tiểu thuyết, truyền kì tiểu thuyết, chương hồi tiểu thuyết (Dịch Quân Tả) Đây là những loại tiểu thuyết phát triển qua nhiều giai đoạn văn học, trải qua bao thâm trầm trước biến thiên của hoàn cảnh xã hội rồi phát triển rực rỡ ở đỉnh cao nhất vào thời Minh – Thanh và sau này thể loại tiểu thuyết được thừa nhận là một thể loại văn học Thể loại tiểu thuyết đã được các nhà văn sử dụng để sáng tác phẩm phản ánh cuộc sống Điều đáng nói hơn là từ nghệ thuật

kể truyện vặt vãnh, vãn trà, túc tửu bị xem thường không bằng những câu thơ, câu phú, bài từ thì nay thể loại tiểu thuyết được công nhận và đưa vào giảng dạy trong nhà trường Bởi nó chứa đựng dung lượng lớn, đáp ứng được nhu cầu của người đọc và của thời đại Trong những quan niệm phân chia tiểu thuyết ở Trung Hoa thì chúng tôi nhận thấy cách chia của Dịch Quân Tả (giản thể tiểu thuyết, truyền kì tiểu thuyết, chương hồi tiểu thuyết) là gần gũi với tiểu thuyết Việt Nam hơn cả

Ở Việt Nam, các loại truyện kể dân gian như loại truyện cổ tích, truyền kì, truyền thuyết, dã sử… đã có từ xa xưa và lưu lại cho đời sau bằng hình thức truyền miệng Từ

khoảng thế kỉ XIII – XIV trở đi nhiều tác phẩm văn xuôi ra đời: Lĩnh nam chích quái của Trần Thế Pháp, Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ Đầu thế kỉ XIX thì tác phẩm Hoàng lê nhất thống chí của Ngô gia văn

Trang 11

phái ra đời Đây là tác phẩm dài bằng văn xuôi có phạm vi phản ánh cuộc sống các sự kiện lịch sử rộng lớn, nhân vật đông đảo, tính cách sinh động và quan hệ với nhau trong một hệ thống tình tiết phong phú, kết cấu chặt chẽ Chính quy mô của dung

lượng phản ánh cuộc sống đã làm cho tác phẩm Hoàng lê nhất thống chí bước vào một

vị trí tiểu thuyết đích thực Đây là cuốn tiểu thuyết chữ Hán gần gũi nhất với tiểu thuyết hiện đại của chúng ta hiện nay

Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, cũng xếp các loại truyện Nôm: Trê

cóc, trinh thử vào thể loại tiểu thuyết viết bằng văn vần Loại truyện thơ Nôm này đặc biệt phát triển vào cuối đời nhà Trần và đầu nhà Nguyễn như: Hoa Tiên, Song Tinh, Phạm Công Cúc Hoa, Phan Trần, Truyện Kiều, Lục Vân Tiên Các truyện Nôm này ảnh hưởng từ tiểu thuyết Trung Hoa thời trung đại Các nhà thơ, nhà văn đã mượn đề tài, tích xưa trong sử Trung Hoa mà dựng nên câu chuyện riêng, thường có cấu trúc

quen thuộc “Hội ngộ - lưu lạc - đoàn viên” Nhân vật là những tài tử giai nhân, anh

hùng liệt nữ, tài hoa bạc mệnh… Cuối câu truyện thường là những bài học giáo huấn

về luân lí, đạo đức, nhân cách, chí làm trai hay thiện ác ở đời theo thuyết “nhân quả”

của đạo giáo

Bước sang giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX danh từ “tiểu thuyết” mới bắt

đầu xuất hiện

Cuộc xâm lược của thực dân Pháp chính là yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc hình thành tiểu thuyết hiện đại ở Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX Để thực hiện bộ máy cai trị ở Việt Nam, thực dân Pháp đã đào tạo ra những tay chân đắc lực, sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, mở trường dạy học để đào tạo những người biết tiếng Pháp phục vụ lại chúng Nhờ đó các tầng lớp trí thức có được điều kiện tiếp xúc với nền văn hóa mới, trong khung cảnh giao lưu văn hóa phương Tây Trước hết là văn học Pháp, các nhà văn được tiếp xúc với thể loại tiểu thuyết, những tác phẩm nổi tiếng của: Banzăc, Lev Tolstoy, Huygô… và trong điều kiện các phương diện in ấn máy móc có ở Việt Nam, tiểu thuyết được viết theo cách mới lần lượt ra đời Đặc biệt là được viết bằng khuôn chữ mới, chữ Quốc ngữ

Giai đoạn sơ khai của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, các nhà văn của chúng ta đã nói nhiều, viết nhiều về tiểu thuyết, nhưng mỗi người có quan niệm riêng Tác phẩm

Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quảng tuy là một truyện ngắn nhưng nội

dung có thể xem như là một tác phẩm tiểu thuyết Vì thế những nhà ngiên cứu thường

Trang 12

lấy tác phẩm làm mốc cho sự ra đời đầu tiên của văn học viết chữ Quốc ngữ ở Việt

Nam Hay tác phẩm Hoàng Tố Anh hàm oan (1910) của Trần Chánh Chiếu, sau này có tác phẩm Tố tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách được xem là một cuốn tiểu thuyết

được nhiều đọc giả đón nhận với tư tưởng tiến bộ ở thời kì đầu của tiểu thuyết hiện

đại Thầy Lazaro Phiền là tác phẩm chính thức cấm mốc cho sự ra đời của tiểu thuyết

văn xuôi Việt Nam Song chưa được hoàn chỉnh Tác phẩm chỉ mang hơi, giọng và kết cấu của tiểu thuyết hiện đại chứ chưa sắc sảo Phải đến những năm 30 của thế kỉ XX văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại Cùng phong trào thơ mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam từ năm 1930 – 1945 có những bước tiến vượt bậc và thành tựu lớn với hai khuynh hướng sáng tác: Những khuynh hướng lãng mạn với cây bút nổi tiếng của Tự Lực Văn Đoàn và khuynh hướng hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng… Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc, chống Mĩ và chống Pháp, đội ngũ sáng tác tiểu thuyết ngày càng đông đảo và đi dần đến sự hoàn thiện: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc… Với lực lượng nhà văn như thế ít nhiều tiểu thuyết Việt Nam đạt được những thành tựu đáng nói Sau 1986, lịch sử Việt Nam bước sang giai đoạn mới, lịch sử tiểu thuyết Việt Nam cũng sang trang mới, thời kì đổi mới văn học với những tên tuổi như:

Lê Lựu, Bảo Ninh, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp… có nội dung sâu sắc hơn về thân phận con người và hình thức có dấu hiệu manh nha của văn chương thời hiện đại

Nhìn chung tiểu thuyết giai đoạn đầu còn non trẻ, yếu ớt chỉ là “Bước đầu làm quen

với thể loại mới mẻ này trong hoàn cảnh tác giả chưa phải đã có được nội lực sung mãn về nhiều phương diện, tác phẩm của họ chưa đầy đặn, dài hơi, kể cũng là điều dễ hiểu” [61:11]

Giai đoạn “bình minh của tiểu thuyết” đã có quan niệm mới về tiểu thuyết so với

quan niệm thời trung đại Tiểu thuyết không còn là câu truyện nhỏ nhặt ở đầu đường

xó chợ, ở quán trà tán gẫu nữa Tiểu thuyết hiện đại có số lượng lớn hơn, nhân vật cũng nhiều hơn, đặc biệt là đưa cuộc sống riêng tư vào trong sáng tác, không còn những tích xưa mà là hiện thực, con người của đời sống, nhất là tiểu thuyết mang tính chất lãng mạn của văn học Pháp

Giai đoạn đầu có rất nhiều quan niệm khác nhau về viểu thuyết, nhưng rất tiếc chưa

có khái niệm tiểu thuyết hoàn chỉnh và chính xác Ở giai đoạn đầu, cách hiểu tiểu

Trang 13

thuyết còn mang tính khái quát để chỉ chung cho tác phẩm văn xuôi dù đó là truyện

ngắn, truyện dài hay truyện vừa Sau này các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan

niệm và đi đến kết luận cho khái niệm tiểu thuyết như: Tô Hoài, Phan Cự Đệ, Nguyễn Trọng Quảng, Ngô Đức kế, Nguyễn Thi Song, cho đến hiện nay, khái niệm

“tiểu thuyết” vẫn chưa được thống nhất vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Nhất là giai

đoạn tiểu thuyết sau 1945 đến 1975 Sự phân định về mặt thể loại tiểu thuyết ngày

càng cụ thể hơn, khái niệm về tiểu thuyết cũng được các nhà lí luận phê bình văn học

miền Nam hiểu rõ ràng, sát với đặc trưng thể loại Trong chuyên luận “Xây dựng tác

phẩm tiểu thuyết” Nguyễn Văn Trung cho rằng: “Yếu tính của tiểu thuyết là cái tưởng

tượng, không thể kiểm chứng được” Nguyễn Duy Anh thì quan niệm“tiểu thuyết mà

thiếu tưởng tượng không phải là tiểu thuyết Và bắt buộc, nó khó lòng thoát lên cao”

Còn với Võ Phiến: “Tiểu thuyết là công trình giả tưởng Màu sắc, cây lá, gió trăng

mọi hoạt động đều là bịa đặt”… Cách diễn giải về khái niệm tiểu thuyết của các nhà

văn tuy khác nhau nhưng có điểm thống nhất trong quan niệm: tiểu thuyết là hư cấu,

tưởng tượng Tuy nhiên, tiểu thuyết không phải luôn là tưởng tượng, hư cấu mà còn

phải gắn kết với hiện thực cuộc sống, cần phải tôn trọng sự thực đó Bởi vì “với sự có

mặt của mình trong cuộc đời, tiểu thuyết là một hình thái của nghệ thuật, một lối diễn

đạt của con người gần với cuộc đời nhất” Nó chỉ là “vẽ thực” tiểu thuyết không phải

là tấm gương phản ánh đời sống mà là cái phần được che giấu của đời sống, cái phần

không thuộc về đời sống” (Nguyễn Đình Toàn) Nó không phải là bản sao mà chỉ là

phản ánh qua lăng kính của tác giả một cách chủ quan mà thôi Không chỉ phản ánh

cuộc đời, tiểu thuyết còn phải phản ánh thế giới sâu bên trong tâm hồn con người Nếu

chúng ta chỉ quan tâm tiểu thuyết có phản ánh đúng sự thật của đời sống, tất cả nguyên

bản, thì vô hình dung làm nghèo giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết và làm vơi đi sự

tưởng tượng của người tiếp nhận

Tiểu thuyết là một thể loại văn học gần gũi nhất với cuộc sống Đây là đặc trưng

thẩm mĩ của tiểu thuyết Trong thể loại này cuộc sống được thể hiện một cách chọn

vẹn với tất cả tính chất sinh động, phức tạp, nhiều màu, nhiều vẻ của nó Đặc điểm này

cũng là đặc điểm chung của các ngành nghệ thuật khác Nhưng đối với tiểu thuyết nó

được bộc lộ một cách sâu sắc nhất, rõ rệt nhất Cuộc sống trong tiểu thuyết bao giờ

cũng là một cuộc sống phong phú, toàn diện về nhiều mặt từ ngoại cảnh đến tâm cảnh,

từ tình hình kinh tế, văn học, chính trị, tư tưởng…của thời đại đến những biến động

Trang 14

trong từng số phận con người Tất cả hiện lên như một cuốn phim, được xây dựng

bằng chất liệu ngôn ngữ giàu hình ảnh “Cái khuynh hướng của tiểu thuyết bây giờ là

hết sức gần sự sống, được linh động và thật như cuộc sống” (Thạch Lam)

Nguyễn Thi cho rằng “Mỗi cuốn tiểu thuyết đều phần nào mang tính chất bách

khoa ấy, vì đời sống tự nó là bách khoa Tiểu thuyết có thể đi sâu vào mọi ngỏ ngách của tâm hồn, của đời sống với những phát hiện hết sức tinh vi”

Tiểu thuyết là một thể loại dân chủ nhất cho phép người trần thuật có thể có thái độ thân mật hoặc ngược lại đối với nhân vật của mình Có sự đan chéo giữa cái xấu và cái tốt, cái đẹp và cái cao thượng Đó là màu sắc thẫm mĩ của tiểu thuyết được pha trộn, màu sắc này được thể hiện trong từng nhân vật, từng sự kiện, từng chi tiết, mọi thứ đều

có khả năng quay ra một mặt khác, thậm chí là đối lập nhau

Ở phương Tây, tiểu thuyết có mầm móng ban đầu từ các tác phẩm tự sự viết bằng tiếng Roman, thường là thể loại anh hùng đó là những tiểu thuyết kị sĩ với những biến

cố và tình huống phi thường Tuy nhiên, về nguồn gốc của thể loại, các nhà nghiên cứu

có thể truy nguyên nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại, bên cạnh những tác phẩm cổ đại với cảm hứng về cái chung và cái anh hùng là chủ đạo, vẫn có những tác phẩm lấy cảm

hứng từ con người riêng lẻ và Belinski rất có lí khi cho rằng “Tiểu thuyết hình thành

khi vận mệnh con người, mọi mối quan hệ của nó với đời sống nhân dân được ý thức”

và “đời sống cá nhân bất luận thế nào cũng không thể là nội dung của anh hùng ca

Hy Lạp, nhưng có thể là nội dung tiểu thuyết”

Tóm lại, cho đến bây giờ khái niệm “tiểu thuyết” vẫn chưa được thống nhất vẫn

còn nhiều ý kiến khác nhau Nhưng dù là góc độ nào đi chăng thì tiểu thuyết cũng có những nét chung và khái quát:

Tiểu thuyết là hình thức kể chuyện với quy mô lớn có khả năng phản ánh hiện thực

ở mọi giới hạn không gian và thời gian… Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, tập quán, đạo đức xã hội, miêu tả cuộc sống sinh

hoạt nhiều tính cách, đa dạng và điển hình Số phận nhân vật, sự kiện chồng chéo vào

Trang 15

Năm 1961, Tô Hoài đưa ra nhận định của mình về tiểu thuyết: “Không thể cho tiểu

thuyết một định nghĩa cố định tiểu thuyết lúc nào cũng phát triển và biến đổi Tiểu thuyết có khả năng tung hoành không bờ bến”

Phan Cự Đệ đã nhận xét: “Đúng như anh Tô Hoài nói tiểu thuyết rất khó định

nghĩa, nhưng không lẽ chúng ta đành khoanh tay như những kẻ bất tri” Vì tiểu thuyết

không phải “một vật tự có” của chủ nghĩa bất khả tri và vẫn có thể xác định được bản

chất của tiểu thuyết Mặc khác, định nghĩa tiểu thuyết cần phải căn cứ vào dòng chủ lưu của thể loại tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa Đây là những tiểu thuyết phát triển vào loại sớm trong lịch sử tiểu thuyết và sẽ có một tương lai lâu dài nhất so với những dòng tiểu thuyết khác

Tự điển học sinh, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1971: “Tiểu thuyết là truyện có

cốt truyện và nhân vật mà nhà văn dựa vào cuộc sống xây dựng nên theo một phương pháp điển hình hóa và theo một tư tưởng tình cảm”

Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988: “Tiểu thuyết là

truyện dài bằng văn xuôi có dung lượng lớn với nhiều nhân vật hoạt động trong phạm

là chất liệu sống cho tiểu thuyết tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay”

1.2 Một số đặc điểm của tiểu thuyết trung đại

Tiểu thuyết trung đại phản ánh bức tranh xã hội thật sinh động với nhiều tầng nghĩa, nhiều khía cạnh khác nhau nhưng chung quy lại thì đó là vấn đề con người, nhất

là thân phận người phụ nữ, ngoại trừ tiểu thuyết chương hồi là tiểu thuyết lịch sử ít nói đến

Vấn đề về người phụ nữ đó là biểu hiện trực tiếp quan niệm về tình yêu, hạnh phúc của các nhà văn, nhà thơ nhưng cho đến nay nó chưa được lí giải một cách hợp lí và

thuyết phục Trong Truyện Kiều, nhân vật Thúy Kiều phải chịu cảnh mười lăm năm

lưu lạc thật oan ức, nàng phải xa gia đình, xa người mà mình đã nặng lời hẹn ước

Trang 16

Kiều hết ở nhà chứa này đến nhà chứa khác, làm vợ khắp thiên hạ nhưng cô không được quyền lên tiếng đòi công lí cho mình Cô chẳng khác nào một thứ trò chơi dai dẳng của người và của đời, mà đến hồi cuối vẫn không được hưởng hạnh phúc một cách trọn vẹn Mâu thuẫn giữa khát vọng hạnh phúc và các thế lực tàn bạo của xã hội phong kiến chính là hạt nhân nghệ thuật của tiểu thuyết trung đại như một số truyện

trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ chẳng hạn, người phụ nữ luôn gánh chịu

những thiệt thòi, khổ sở do chiến tranh gây ra (Truyện Lệ Nương) Hoặc vì kẻ ác ỷ thế

lộng quyền mà phải chịu cảnh “rẽ thúy chia uyên” (Truyện Túy Tiêu), hoặc vì chế độ nam quyền phong kiến nên vợ chồng, con cái phải xa cách tiêu biểu là truyện Người

con gái Nam Xương Niềm khao khát hạnh phúc của người phụ nữ thường đi vào ngõ

cụt dẫn đến cái chết thương tâm Trong Truyện Kiều, đáng lí ra Kiều đã được sống êm

đềm hạnh phúc bên cạnh Từ Hải nhưng hạnh phúc ấy lại một lần nữa tuột khỏi tầm tay Bởi những kẻ chuyên quyền, xảo trá, độc ác như Hồ Tôn Hiến đã âm mưu chia cắt, khuyên dụ Thúy Kiều, giết Từ Hải hòng lập công với triều đình và chiếm đoạt mỹ nhân cho thỏa lòng dâm dục Bước ngoặc cuối cùng của cuộc đời Kiều là khi nàng nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn chấm dứt những năm tháng đoạn trường đầy cay đắng, tủi nhục Thiết nghĩ, đó là hành động tất yếu sẽ xảy ra, Thúy Kiều đã rơi vào tình trạng vô cùng tuyệt vọng Từ Hải là vị anh hùng cái thế, người ân nhân cao cả của Thúy Kiều đã chết vì sự lừa gạt, giả dối của Hồ Tôn Hiến Ước mơ có một mái ấm gia đình nương tựa và gặp lại cha mẹ sau mười lăm năm lưu lạc thế là bị tan vỡ Trước

mắt Kiều là một màn đen tối, nàng bị tên “Tổng đốc đại thần” đẩy vào cảnh éo le,

nhục nhã không thể chấp nhận được:

“Giết chồng mà lại lấy chồng

Mặt nào mà lại đứng trong cõi đời?

Thôi thì một thác cho rồi, Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông!”

Đặc biệt là nhân vật Đào Hàn Than trong truyện Nghiệp oan của Đào Thị, nàng

chính là biểu hiện của lòng khát khao mãnh liệt vươn tới cuộc sống hạnh phúc mà

nàng hằng mong muốn Hơn mọi đau khổ của những người phụ nữ trong Truyền kì

mạn lục, Đào Thị là hiện thân mỗi nỗi đau của một kiếp người bé nhỏ không phương

tự vệ, trong xã hội đầy rẫy những oan trái, bất công mà Nguyễn Dữ thấy được Truyện

Cây gạo nói về cô gái chết trẻ tên là Nhị Khanh biến thành ma, quyến rũ một chàng lái

Trang 17

buôn tên là Trung Ngộ, hai người yêu nhau say đắm Đến khi biết nàng là ma và tung tích lúc sống rõ ràng, chàng thoát khỏi sự ngăn trở của người thân để tìm đến với người yêu và ôm lấy quan tài của nàng mà chết Người ta chôn chàng bên cạnh nàng

Từ đó về sau phàm những đêm tối trời, người ta thường thấy họ dắt nhau đi đôi, khi thì hát, khi thì khóc Ý nghĩa câu truyện đọng lại ở đó, gợi cho đọc giả nhiều suy nghĩ, tình yêu là tình cảm thủy chung, sâu sắc, mãnh liệt và nghĩa tình, đồng thời đó cũng là niềm khao khát một hạnh phúc trong sáng, chân thật của con người theo quy luật tự nhiên Cuộc đời cô gái bị cắt ngang, cô chết nhưng luôn tìm kiếm tình yêu cho mình, khao khát được hạnh phúc Tiếng kêu dấu kín trong câu truyện của con người cá nhân thật tội nghiệp, bao nhiêu chi tiết tiếp theo là dành cho xã hội gia giáo đáng lên án, phỉ nhổ

Hay trong Chinh phụ ngâm, nội dung ý nghĩa chính của khúc ngâm là lên án chiến

tranh, lên án mọi thứ danh lợi phù hoa, để có được nó người phụ nữ phải đánh đổi bằng hạnh phúc, bằng cả tuổi thanh xuân mơ mộng Đồng thời cũng bày tỏ nỗi xót xa sâu sắc, niềm ước mơ thầm kín về hạnh phúc lứa đôi, vợ chồng sum hợp, nỗi cô đơn trong cảnh phòng khuê lạnh lẽo Họ đang vui sung sướng với hạnh phúc thực tại bên gia đình, thế mà bỗng chốc người phụ nữ phải sống lẻ loi đơn độc, một mình, một bóng trông ngóng tin chồng Thử xem nỗi niềm ấy sâu đến độ nào:

“Gác nguyệt nọ mơ màng vẻ mặt Lầu hoa kia phản phất mùi hương.”

Nhớ cảnh bên nhau ngày nọ, hạnh phúc ấm êm còn vươn vấn mà hai người phải chia lìa hai ngã, vẻ mặt còn đây, hơi thở còn đây nhưng người xưa không còn kề bên nữa

Ngoài ra tiểu thuyết thời trung đại cũng đề cập đến những mâu thuẫn trong xã hội,

xã hội nào cũng có những mâu thuẫn nhưng chỉ là mức độ mà thôi Vào thời trung đại

thì sự mâu thuẫn thể hiện rõ, như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du bọn quan lại mặc

dù rất giàu có nhưng vì muốn nâng cao quyền lực và danh vọng của mình nên đã bốc lột người dân, tham ô mà hại gia đình Kiều Vì vậy sự mâu thuẫn trong xã hội ngày càng gây gắt, kẻ giàu thì lại giàu thêm, người nghèo càng trở nên xơ xát và dần dần đi vào ngõ cụt Bọn quan lại, cường hào ỷ thế ỷ quyền đàn áp những con người thấp cổ

bé miệng có địa vị nhỏ nhoi trong xã hội Đây là những hình ảnh của bọn quyền cao

chức trọng: “Quyền vị đã cao Lý Bền làm những việc trái phép, dựa vào kẻ trộm cướp

Trang 18

như lòng ruột, coi người nho sĩ như cừu thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, lại tậu lắm ruộng vườn, dựng nhiều nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao…” [32:345] Một tên quan công nhiên tuyên bố “Ta làm quan đến quan ngôi Thượng Công, quyền cao lộc hậu, việc khoản đãi khách mỗi ngày tốn phí đến hàng ngàn trung tước” [31:322] Trong khi đó người nông dân sống trong cảnh “Người nằm trong dòng phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em đi, chồng về thì vợ hỏi, ai nấy đều vai sưng, tay rách, rất khổ sở nhưng hắn vẫn điềm nhiên không chút từ tâm” [31:347]

Qua một số truyện, chúng ta thấy trong xã hội lúc bấy giờ lớp người buôn bán giàu

có thường dựa vào thế lực đồng tiền để mưu cầu khoái lạc vật chất không hiếm gì Trọng Quỳ vì chơi bời và ham tiền trong một canh bạc đã đẩy vợ rơi vào tay lái buôn nhà giàu là Đỗ Tam (Người Nghĩa Phụ Khoái Châu) Điều đó cho ta thấy được sức mạnh của đồng tiền cũng là một nội dung quan trọng của tiểu thuyết trung đại mà các

nhà văn muốn đề cập đến Ở đây không còn vị trí nào cho lòng nhân nghĩa nữa mà chỉ

có chỗ đứng của bọn cường quyền với quan niệm “kẻ mạnh là kẻ phải biết đứng trên

vai của kẻ khác” Nguyễn Du đã thể hiện điều đó qua Truyện Kiều Trong Truyện Kiều hầu như đồng tiền có sức mạnh vạn năng, vì tiền mà gia đình Kiều tan nát và

nàng phải chịu sống cuộc đời lưu lạc suốt mười lăm năm trời Vì tiền mà bọn Tú Bà,

Mã Giám Sinh, Sở Khanh không kể nhân tính, bất chấp đạo đức để hành nghề buôn thịt bán người, giết chết cuộc đời của biết cô gái son trẻ vào chốn tanh hôi, bùn nhơ, nhục nhã Trong chế độ phong kiến công lí trở thành màn sương mỏng manh trước ánh hào quang của đồng tiền, quyền thế, không phân biệt đúng sai, hậu quả ra sao

Tiểu thuyết trung đại thường được viết theo kiểu chương hồi, tiểu thuyết Việt Nam trong văn học truyền thống sang thế kỉ XVIII mới xuất hiện hoàn chỉnh hơn, có giá trị

lịch sử và xã hội “Văn học Việt Nam trung đại có ba bộ tiểu thuyết chương hồi viết

bằng chữ Hán Đó là Nam triều công nghiệp diễn chí, còn gọi là Việt Nam khai quốc chí truyện của Nguyễn Khoa Chiêm, Tây Dương Gia Tố sĩ lục do tác giả Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hòa Đường, Nguyễn Bá Ân, Trần Trình Hiến soạn và Hoàng lê thống nhất chí của Ngô Gia Văn Phái…” [53:37]

Tiểu thuyết chương hồi viết bằng văn xuôi chữ Hán là một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam trong bối cảnh các nền văn học chịu ảnh hưởng từ văn học chữ Hán Khác với truyện truyền kì, tiểu thuyết chương hồi Việt Nam trung đại hầu như không

đề cập đến đề tài tình yêu, mà chủ yếu liên quan đến đề tài lịch sử Đề tài lịch sử này

Trang 19

theo nhận xét của Rytin về Hoàng lê nhất thống chí thì không phải là lịch sử quá khứ,

mà lịch sử đương đại của tác giả Ghi chép lịch sử đương đại của các sử gia Nó có nét độc đáo so với tiểu thuyết lịch sử hiện đại Tính thời sự, chính trị của các bộ tiểu thuyết chương hồi đều rất cao Tiểu thuyết gần với kí sự lịch sử Do là tiểu thuyết lịch

sử nên hầu như ít có việc hư cấu nhân vật và sự kiện Về hình thức Trừ Nam triều

công nghiệp diễn chí, Tây Dương Gia Tô bí lục là chia quyển, còn Hoàng lê nhất thống chí hoàn toàn theo mô hình chương hồi Trung Quốc Mỗi hồi chứa đựng một sự

kiện chính, có một câu đối ở đầu hồi tóm gọn nội dung sự kiện Cách trần thuật mở đầu bằng niên hiệu lịch sử Tả người, chủ yếu bằng phương pháp tương phản, miêu tả tâm lí nhân vật chỉ bằng vài đường nét phát họa

Tiểu thuyết lịch sử miêu tả chiến trận, thuật dùng binh, tuy nhiên cũng miêu tả

nhiều trạng thái xã hội và nhiều bi kịch, chẳng hạn: Nam triều công nghiệp diễn chí,

Tây Dương Gia Tô bí lục lại mang tính chất tố cáo Tác giả vạch ra rằng đạo Giesu là

lừa phỉnh con người, là các phép nhằm khiến con người trở nên ngu độn, mất hết tình cảm, mất hết chí khôn, để dễ bề sai bảo Tính chất lật tẩy và đối thoại, chế giễu là đặt trưng của bút pháp

Tóm lại, tiểu thuyết chương hồi Việt Nam trung đại là thể loại gắn liền với lịch sử, trực tiếp lấy lịch sử làm đề tài Nó thể hiện nổi bật tính chất văn sử bất phản, đồng thời cũng thể hiện rõ chất văn học do chú trọng vào tính cách, chi tiết biểu hiện và hình thức tổ chức tác phẩm Mặc khác do gắn với lịch sử, số phận nhân vật ít khi kết thúc

có hậu, mà thường là bi kịch Đây là đặc điểm quan trọng làm cho các văn học viết khác hẳn văn học truyền miệng dân gian

Công việc sáng tạo của nhà văn là họ không chú ý đến xây dựng cốt truyện riêng

biệt nào mà họ viết ra: “trung thành với nguyên mẫu” càng ít hư cấu bịa đặt càng tốt,

hợp nguyên tắt thông báo Do kết cấu chương hồi nên tác phẩm không có nhiều bình diện, nhiều tuyến nhân vật và nội dung xuyên suốt trải dài theo một xâu chuỗi không đan chéo vào nhau như tiểu thuyết hiện đại Trong tiểu thuyết trung đại, nhà văn kể theo lối văn biền ngẫu, nhiều điển cố điển tích và ước lệ tượng trưng Hiện thực cuộc sống trong tiểu thuyết trung đại Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng và chi phối bởi giáo

huấn “Văn dĩ tải đạo”, tính uyên bác, tính sùng cổ, chủ nghĩa quy phạm và tính phi

ngã rất phổ biến trong nền văn học phong kiến Điều này làm hạn chế việc bộc lộ cái

Trang 20

tôi cá nhân cũng như tính độc đáo của người sáng tác, nhân vật là những người anh hùng, mỹ nhân tài hoa, cang cường khí tiết

Ngoài ra tiểu thuyết trung đại có nguồn gốc từ những câu chuyện kể dân gian, vì thế ít nhiều còn mang lối kể, mô tiếp dân gian quen thuộc Quá trình sưu tầm chỉnh lí truyện dân gian, hay khai thác đề tài văn học dân gian của tác giả văn học viết, là một quá trình kế thừa nâng cao liên tục, người sau nối gót và rút kinh nghiệm của người đi trước Từ đó, vai trò người dẫn chuyện, phương thức dẫn chuyện như: theo trật tự thời gian, sử dụng yếu tố thần linh, bố trí nhân vật thành hai tuyến thiện ác, tốt xấu, kết thúc có hậu… đều những kết cấu đặc trưng mà tiểu thuyết trung đại thường sử dụng

1.3 Một số đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại

Tiểu thuyết vốn là một thể loại sinh sau đẻ muộn, nhưng ngày nay, tiểu thuyết hiện đại ở Việt Nam cũng như trên thế giới có vị trí quan trọng trong văn học Quan niệm hiện đại bao gồm cả hai yếu tố nội dung và hình thức Tiểu thuyết hiện đại phản ánh được tư tưởng tình cảm của những giai cấp, những tầng lớp trong xã hội hiện đại, đặt

ra những vấn đề có ý nghĩa thời đại Nó soi rọi ánh sáng vào thời kì quá khứ xa xưa nhưng với quan điểm lịch sử, với cái nhìn đánh giá của con người hiện đại Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam được xây dựng theo kiểu kết cấu mới, phương pháp điển hình hóa (khác với những truyện Nôm và tiểu thuyết chương hồi trong thế kỉ XVIII – XIX), ngôn ngữ mới – không phải thứ văn chương biền ngẫu đầy điển tích nặng nề, và quan điểm thẩm mĩ mới

Tiểu thuyết hiện đại có xu hướng tả thực, chủ trương phủ định cái huyền ảo, li kì trong tiểu thuyết truyền thống, đề cao vai trò tả thực trong tiểu thuyết Nếu như những tiểu thuyết truyền thống thường khai thác những truyện xưa, chuyện thần tiên huyền ảo thì tiểu thuyết hiện đại chọn những đề tài có ý nghĩa thực tế, gần gũi với đời sống Tác phẩm nêu ra những vấn đề thiết thực đối với đời sống xã hội, khác với những câu chuyện mang tính răn dạy luân lí cho người đọc trong tiểu thuyết trung đại Tả thực tức là cần thể hiện cái nguyên sơ, bề bộn, ngổn ngang của cuộc sống, cái tự nhiên của cuộc đời với tất cả tính chất sinh động, nhiều màu nhiều vẻ của nó Thạch Lam từng

nhận xét: “Cái khuynh hướng của tiểu thuyết bây giờ là hết sức gần sự sống để được

linh hoạt và thật như cuộc đời” [47:119] Trong tiểu thuyết ta có thể bắt gặp mọi thứ

xảy ra ở cuộc đời thực: những vấn đề triết học, văn nghệ, chính trị quân sự, kinh tế, đạo đức mà nhân loại hằng quan tâm, sự hình thành tính cách của một con người,

Trang 21

những nét tinh tế, phức tạp trong tâm hồn… đó là một xã hội thu nhỏ mà tiểu thuyết hiện đại thể hiện Ở đây tác giả đã khám phá nhiều lĩnh vực của cuộc sống, không chỉ phản ánh hiện thực trong mâu thuẫn dữ dội, quyết liệt mà còn đi sâu vào cuộc sống bình thường với tất cả những phong tục, lễ nghi, sinh hoạt lao động Tiểu thuyết còn đưa ta đến cuộc sống đời tư mà tiểu thuyết trung đại ít nói đến Văn học là tác phẩm nghệ thuật thể hiện dấu ấn hư cấu sáng tạo của người nghệ sĩ Tác phẩm phải có cấu trúc riêng trở thành một chỉnh thể nghệ thuật, có quy luật sinh tồn của mình Cho nên ngoài yếu tố tả thực, tiểu thuyết hiện đại còn có những sáng tạo, xây dựng nhân vật theo hướng hiện đại hóa

Nhân vật là yếu tố nghệ thuật quan trọng bậc nhất của một tiểu thuyết Tiểu thuyết hiện đại có những cách tân về nghệ thuật xây dựng nhân vật Có thể nhận thấy, tính hiện đại của nhân vật tiểu thuyết là vấn đề trung tâm mà các nhà phê bình thường chú

ý, bàn luận và đánh giá

Quan niệm nghệ thuật về con người giai đoạn này phủ nhận quan niệm con người siêu phàm hoặc con người tính cách đơn nhất thời trung đại, khẳng định quan niệm con người là một thực thể tính cách phức tạp và nhiều sắc thái của tiểu thuyết hiện đại Tính cách nhân vật có sự phát triển “tự thân” như là trong cuộc đời thật Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Trung Thành, Chu Văn… hiện ra như cái gì đó tương

tự với cuộc sống phức tạp và sinh động Sự phát triển “tự thân” của các nhân vật chứng minh rằng những hình tượng trong tiểu thuyết có tính chất tạo hình, có thể có cuộc sống độc lập, khách quan đối với tác giả Điều này chỉ xuất hiện ở tiểu thuyết hiện đại, nhất là khi chủ nghĩa hiện thực xuất hiện Tiểu thuyết trung đại thường can

thiệp một cách lộ liễu vào cuộc đời của các nhân vật hoặc dẫn dắt các nhân vật “một

cách khéo léo”, một số tác giả truyện thơ Nôm thường chọn những sườn truyện đã có

sẵn Trong trường hợp này, nhân vật dường như không gây ra một sự bất ngờ nào đối với kế hoạch định sẵn của tác giả Mặt khác nhân vật của tiểu thuyết hiện đại phát triển

theo nguyên lí “vận động” Tác giả và nhân vật trung đại cũng vậy, họ không phải

luôn luôn hướng về phía trước, về thế giới đang mở ra mà hướng về phía sau, về phía khởi điểm, nơi mà tất cả cần quay lại vì thế kết cấu câu truyện theo một vòng khép kín Tiểu thuyết hiện đại kết thúc nhưng không chấm hết câu chuyện mà mở ra dường như thời gian đang tiếp diễn và nhân vật vẫn đang vận động về phía trước Tiểu thuyết

Trước giờ nổ sung của Lê Khâm, kết thúc tác phẩm là cảnh một chiến sĩ đã hi sinh

Trang 22

nhưng cuộc sống không dừng lại ở đó, bởi “sóng người ào ạt đổ về hướng nam theo

con đường đã mở….sông núi lào đang hát khúc anh hùng ca đời đời không tắt”

Chưa bao giờ văn học lại gần với cuộc sống như trong tiểu thuyết hiện đại Nhà văn tái tạo lại hiện thực chứ không phải chụp nguyên sơ bản thể cuộc sống Cuộc sống trong tiểu thuyết trở nên đậm nét hơn, xúc động hơn Ta nhận ra một cách nhìn, cách nghĩ sâu sắc hơn, tinh tế lạ thường và nhìn cuộc đời khác hơn, độc đáo với nhiều gốc

độ từ thế giới hiện thực của đời thường

Tiểu thuyết hiện đại sử dụng hình thức thể hiện là văn xuôi Quốc ngữ Tính văn xuôi được thể hiện ngay trong ngôn ngữ nghệ thuật Trong tiểu thuyết ngôn ngữ trần thuật mang tính chính xác, khách quan, nó gần với ngôn ngữ đời thường hay ngôn ngữ của thể loại bút kí, nhật kí… thứ ngôn ngữ này đã tạo ra được sức hấp dẫn của tiểu

thuyết Ngôn ngữ của tiểu thuyết lãng mạn mang rõ dấu ấn cái “Tôi” khách quan của

tác giả, ngôn ngữ chải chuốt và mòn sáo, nhưng lại giàu cảm xúc, giàu chất thơ, chất trữ tình và các biện pháp tu từ Ngôn ngữ trong tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa thì mang tính trào phúng, cường điệu, phóng đại rất cao và tác giả bộc lộ rất rõ những

tư tưởng, khuynh hướng của mình trong cách nhìn sự vật, sự việc, hiện tượng, nhân vật

nào đó, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng đã thể hiện rõ những tính chất trên

Tiểu thuyết hiện đại mang tính chất tổng hợp, nhiều phong cách và thanh điệu để

kể chuyện, pha trộn cái cao cả và cái thấp hèn, cái nghiêm chỉnh với cái buồn cười, thu hút được hầu hết các thể loại văn học khác: kí, thư từ, đối thoại, kịch… Tiểu thuyết có thể dung nạp những yếu tố chính luận Tuy nhiên không nên xem tính tổng hợp là đặc trưng riêng của tiểu thuyết, tất cả các loại hình nghệ thuật đều có đặc trưng tổng hợp như vậy Bản chất này còn có khả năng vận dụng các thủ pháp nghệ thuật điện ảnh và

âm nhạc Thủ pháp lắp ghép được sử dụng phổ biến trong nghệ thuật điện ảnh và ảnh hưởng nhiều đến tiểu thuyết hiện đại Sự cách tân về hình thức này nhằm đáp ứng những nhu cầu mới của thời hiện đại trong thế kỉ XX, mối liên hệ giữa cá nhân và xã hội, nó trở nên khắn khít hơn bao giờ hết Nguyễn Tuân đã cho vào tác phẩm của mình

hình thức lắp ghép theo nghệ thuật điện ảnh “nghĩ thấm thía, tôi cảm thấy khoảnh trại

đây là một chốn lãnh cung mà tôi chỉ là một tên yếm hoạn cầm một chiếc đèn lồng phát lượt sa xanh chiếu rọi mãi để tìm những người cung nữ đã chết mòn từ bao giờ”

(Chiếc lư đồng mất cua)

Trang 23

Trong một số tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa như: Vỡ bờ, Miền tây, chúng

ta có thể thấy rõ hơn ảnh hưởng của điện ảnh vào văn xuôi hiện đại Các nhà văn xuôi hiện thực xã hội chủ nghĩa có khuynh hướng sử dụng biện pháp này để mở rộng khuôn khổ hành động và dung lượng tiểu thuyết làm cho bối cảnh trở nên phong phú thêm

Đặc điểm tiếp theo mà chúng tôi thật sự quan tâm là sự xuất hiện cái “Tôi” cá nhân một cách công khai Lần đầu tiên cái Tôi xuất hiện trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Tác phẩm Thầy Lazara Phiền (1887) được

xem như cái mốc đầu tiên đánh dấu sự hình thành tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, với

hình thức và nội dung mới Tiểu thuyết Tố tâm (1925) của nhà văn Hoàng Ngọc Phách

là tác phẩm phát triển tiếp cái mới đó, tác phẩm đã chiếm lĩnh văn đàn và độc giả đương thời trong vòng gần mười năm, từ khi được xuất bản đến khi tiểu thuyết của

Tự lực văn đoàn ra đời Chưa có tác phẩm nào thời đó lại chinh phục được cả một thế

hệ độc giả đông đảo và rộng khắp như vậy Thạch lam đã khẳng định: “Từ Bắc chí

Nam không ai không biết đến Tố Tâm Có nhiều bạn gái thuộc lòng cả quyển”

Tác phẩm của ông làm đảo lộn các quan niệm văn chương trước đó, vì nó đã đưa

vào văn học luồng gió mới Tố tâm được xem như tác phẩm mở đầu cho văn học lãng

mạn, tác phẩm đã khắc phục lối kết cấu chương hồi bằng kết cấu theo quy luật tâm lí của nhân vật: sự xung đột nội tâm giữa lí trí và tình cảm của Đạm Thủy và Tố Tâm Kết thúc câu truyện là bi kịch về tình yêu Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam

hiện đại đánh giá rất cao tác phẩm “Tố tâm khẳng định vị trí của cá nhân, quyền sống

của con người trước uy quyền còn khá kiên cố của lễ giáo phong kiến khắc ngiệt…

Tố Tâm chết để bảo vệ tình yêu, chung thủy Cái chết của Tố Tâm tố cáo lễ giáo phong kiến, gia đình phong kiến… Ở đây cái Tôi cá nhân bắt đầu lấp ló trên sân khấu văn học” [38:25-26]

Chất liệu cuộc sống của tác phẩm lấy từ cuộc sống đời thường Nói đến chất liệu cuộc sống đời thường trong sáng tác văn học giai đoạn này thì Hồ Biểu Chánh, nhà văn Nam bộ, là người phát huy chúng rực rỡ một thời với số lượng tác phẩm đồ sộ Nhân vật của ông tập hợp đủ mọi tầng lớp chứ không là những viên quan, công chức, tri thức con nhà giàu Họ còn là những con người đời thường, là những người nông dân chân lắm tay bùn, là thị dân nghèo khổ với tính cách hiền lành, chất phát, bộc trực, thẳng thắng, được nhà văn xây dựng đầy đủ cốt cách đặc trưng của người dân đất phương Nam

Trang 24

Học tập câu văn trong tiểu thuyết phương Tây, ngôn ngữ được cách tân, xuất phát

từ tinh thần tự tôn dân tộc và ý thức giữ gìn tiếng Việt, từng bước thoát li lối văn biền ngẫu Tác giả Trúc Hà, với bài viết in trên tập chí Nam Phong năm 1932 – Lược khảo

về sự tiến hóa quốc văn trong lối viết tiểu thuyết – phê phán lối văn biền ngẫu, ủng hộ

lối văn tự do Theo tác giả “văn biền ngẫu lúc nào cũng bó buộc trong sự đối chọi,

thành thử kém vẻ tự nhiên không tiêu biểu được “thể tài” riêng của từng người và cũng không thể hiện hết cái tình cảm xúc trong lòng, hay tả cho đúng những cảnh vật bên ngoài…” Sau năm 1930 câu văn xuôi tiếng Việt đã gọn gàng hơn, lời lẽ uyển

chuyển hơn, trong sáng khúc triết hơn và có những đỉnh cao thật sự Nam Cao với sự phối hợp nhịp nhàng giữa lời kể, lời nhân vật, lời trực tiếp, lời nửa trực tiếp, mang tính đối thoại Trong một tác phẩm, có thể dùng ngôn ngữ ngôi thứ nhưng cũng có thể kết hợp ngôn ngữ khi ngôi thứ này, khi ngôi thứ khác… Có thể nói, tiểu thuyết là thể loại dung nạp được nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc của riêng mình

Tư tưởng chủ đạo của văn học hiện đại là muốn khẳng định cái Tôi của con người thời đại, các nhà văn hiện thực coi nghệ thuật là “Bức tranh hiện thực nghiệt ngã lạnh

lùng” còn người nghệ sĩ là “thư kí trung thành của thời đại”, xem nghệ thuật như một

phương tiện để vạch trần cái xã hội nhố nhăng, những thế lực đen tối áp chế con

người Các nhà văn hiện thực phê phán của ta chủ trương “nghệ thuật là khách quan”

như: Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao, …

đã sử dụng rất nhiều phương pháp trong sáng tác phân tích dữ kiện, đưa cả tính

“phóng sự” vào tiểu thuyết Tác phẩm của họ phản ánh mặt trái của xã hội đưa vào tác

phẩm những cảnh “Sống mòn”, hay những cảnh “Người ngựa, ngựa người” để mọi

người thấy được bản chất của xã hội, đầy rẫy những xấu xa, bất công

Sự phát triển nhanh chóng của văn học và thành tựu cụ thể của nó thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ của xã hội thời hiện đại khác xa xã hội Việt Nam từ thế kỉ XIX trở về trước Đội ngũ nhà văn mới mang hồn dân tộc, thay thế cho các nhà nho, với tư tưởng sáng tạo độc đáo đã tạo ra những thành tựu đáng kể trong khám phá nhân vật thời đại mới

Trang 25

Chương 2: Yếu tố truyền thống trong nghệ thuật tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh

2.1 Nhân vật

Với mục đích chấn chỉnh phong hóa và về lâu dài nhằm gìn giữ chính đạo trong cái buổi giao thời đạo đức xã hội đang trên đà xuống thấp, Hồ Biểu Chánh xây dựng nhân vật với cảm hứng đạo lí chịu ảnh hưởng của nho học Nhân vật đặt vấn đề quyền lợi cá nhân nhẹ hơn vấn đề của cộng đồng với quan niệm “Trung – trinh – tiết – nghĩa”, vì bổn phận, danh dự, trách nhiệm, lí trí trong hành động, ứng xử Chí Đại trong tác phẩm

Ai làm được, Thiên Hương trong Một đời tài sắc, Thủ Nghĩa trong Chúa tàu Kim

Quy… là những nhân vật mang đậm tính chất lí tưởng Nho giáo trong suy nghĩ và

hành xử Ngoài ra còn có những nhân vật là vị cứu tinh như Mạc Tiển, Ba Thời, hòa

thượng Chánh Tâm, Hương sư Thiện… họ hành sự theo “kiến nghĩa bất vi vô dõng

dã…” của một Từ Hải, một Lục Vân Tiên, một ngư ông, lão tiều phu Qua kiểu nhân

vật trên Hồ Biểu Chánh khẳng định vai trò không thể thiếu của đạo lí truyền thống dân tộc

Trước tiên Hồ Biểu Chánh xây dựng ngoại hình nhân vật theo nhân vật lí tưởng tuyền thống với dung nhan tuấn tú khôi ngô, diễm lệ, đài các Nhất là trong nghệ thuật

miêu tả, Hồ Biểu Chánh hay so sánh nhân vật với thực thể của vũ trụ, thiên nhiên “Cô

nắm chùm bông Huệ rồi cúi xuống, kê mặt vô mà hửi, bàn tay cô dịu nhiễu, da mặt cô trắng ngần Bông kề mặt cô bông lúc lắc oặc è, còn cô hửi bông rồi, cô vừa lòng nên

cô cười chúm chím” [12:7] Ông miêu tả Thu Hà có nhan sắc đẹp đến nỗi hoa phải

“lúc lắc oặc è”, như dè dặt trước vẻ đẹp của cô, cách miêu tả này rất quen thuộc trong

thơ ca truyền thống Chẳng phải Nguyễn Du từng miêu tả vẻ đẹp Thúy Kiều và Thúy Vân đó hay sao? Thúy Vân được nhà thơ miêu tả:

“Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

Và nàng Kiều có phần sắc sảo hơn:

“Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Qua cách thể hiện nhan sắc của người phụ nữ ta thấy, dường như có sụ tương đồng

về việc thể hiện số phận của nhân vật Người phụ nữ có nét đẹp thiên nhiên phải

“hờn” hay “oặt è” số mệnh của họ thường trắc trở Tuy sự trắc trở của hai người phụ

nữ thuộc hai thời kì khác nhau nhưng có chung sự truân chuyên đau khổ Kiều phải xa

Trang 26

người thân yêu, trở thành gái lầu xanh lưu lạc 15 năm trời, còn nàng Thu Hà những tưởng lấy được chồng hiền đức nhưng chua xót thay hắn là kẻ có tâm địa độc ác, vô liêm sĩ hại người Nhân vật tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh còn được so sánh với tinh hoa của vũ trụ, đó là vẻ đẹp trong trong sáng, dịu dàng, thanh khiết, ông ví gương mặt

của các nàng như “trăng rằm; sáng như hoa nở” Nàng Thu Thủy trong Chúa tàu

Kim Quy có “mái tóc phất phơ hai gò má dường như guộn mây vướng vít mặt trăng rằm” [2:145] Hay cô Xuân Hương “cầm bông hường da người mà hưởi, bông kề vô mặt, coi nước da của cô còn đẹp hơn màu bông Cô nắm bông huệ mà nhìn, mấy ngón tay của cô coi cũng đẹp như mấy búp huệ gần nở” [20:32] Vẻ đẹp của Yến Tuyết

cũng vậy “Cô qua khỏi cửa ngõ thấy một bụi huệ trổ bông bay mùi thơm tho, khoe

màu trắng nõn, cô đứng lại cúi mặt xuống rồi cầm một cộng, kề ngang lỗ mũi mà hưởi Nhánh bông huệ kề gần gò má, mấy ngón tay của cô coi cũng như bông búp, còn nước

da mặt của cô coi cũng không kém màu mấy bông đã nở chút nào” [4:6] Các cô có

tướng đi yểu điệu, nhẹ nhàng, chân mày vòng nguyệt, bàn tay ngón dài dịu nhiễu, da trắng ngần trong sáng, mắt long lanh, nói chuyện thanh tao… Tuy Hồ Biểu Chánh không miêu tả nhân vật bằng những nét phát họa tượng trưng, ước lệ như nhân vật trung đại nhưng vẫn mang dáng dấp của những nàng tiểu thư đài các hay thôn nữ hiền

thục, nhu mì Hoặc những chàng trai “trí dũng song toàn”, tướng mạo khôi ngô và

cường tráng Nhân vật Chí Đại là một thanh niên con nhà nghèo mà ngoại hình

phương phi “Miệng rộng môi dày, vai ngang, trán cụt, tóc hớt cụt, mắt rạng ngời, tư

cách nghiêm trang, mặt mày sáng rỡ, tuy âu phục tầm thường mà hình dung không phải là người thường” [1:10] Trần Mừng thì dáng vẻ ra người trung hậu “người tuổi ước chừng 45, hình vóc cao lớn, bộ tướng mạnh mẽ, mặt ngang môi dày… tánh tình cứng cỏi mà trung hậu” [2:82] Hai Cường “ở trần mặc quần vắn, tuổi lối 45 tới 50, râu lún phún, da đen, sức mạnh” [27:17] Hồ Biểu Chánh tạo nên nhân vật với vẻ đẹp

của nhân vật trung đại, đó là sự hài hòa giữa hình thức và tâm hồn, toát lên khí chất trung cang, nghĩa hiệp

Tính cách nhân vật cũng là một trong yếu tố mà Hồ Biểu Chánh quan tâm thể hiện

Do ảnh hưởng quan niệm “văn dĩ tải đạo” của nho giáo nên tính cách nhân vật kiểu

Khổng – Mạnh được thể hiện xuyên suốt trong tác phẩm Đặc biệt là ông đã xây dựng

nên những nhân vật mang tính cách đặc thù bản tính “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái

thời tiết hạnh làm câu trau mình” Hay Những con người “trọng nghĩa khinh tài” nửa

Trang 27

đường “gặp chuyện bất bình chẳng tha”, Hồ Biểu Chánh chịu ảnh hưởng mạnh tư

tưởng đạo nho từ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu Đọc tác phẩm ta thấy từ

giọng điệu “sặc mùi” Nam bộ “trơn tru” về ngôn ngữ thể hiện quan niệm nhân nghĩa,

đạo lí đến cách xây dựng nhân vật cũng thế Hệ thống nhân vật được Hồ Biểu Chánh chia theo hai tuyến chính – tà rõ rệt kiểu văn chương truyền thống với quan niệm:

“ác lai ác báo; ở hiền gặp lành” Trong truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu

phân nhân vật ra thành hai tuyến chánh – tà và mỗi tuyến ông tạo ngoại hình, tính cách rất điển hình:

Tuyến nhân vật phản diện “Trịnh Hâm: nhỏ nhen hay thù vặt, tiểu nhân; Bùi Kiệm: dâm dục, tầm thường, đê tiện; Thể Loan: ham phú phụ bần, lừa gạt phản trắc; Thái sư:

nham hiểm…” tất cả nhân vật này được bao bọc bởi lớp vỏ “bất nghĩa”

Tuyến nhân vật chính diện “Kiều Nguyệt Nga: trung hiếu trọn vẹn, thủy chung son sắc; Lục Vân Tiên: nghĩa hiệp, trọng nghĩa trọng tình, trung quân ái quốc; Hớn Minh: bộc trực, thẳng thắng, nóng nảy; Tử Trực: quý trọng tình nghĩa, ghét kẻ tiểu nhân; lão tiều phu, ngư ông: người giàu lòng nhân nghĩa, cứu giúp người hoạn nạn; tiểu đồng: trung thành hết mực…”

Nhân vật của Hồ Biểu Chánh kế thừa tính cách của nhân vật trung đại Là đứa con miền Nam cương trực, thẳng thắng, vì thế Ba Cam đã ra mặt cho em gái mình đòi công

lí “Nghĩa, nảy giờ tao lấy lời phải tao nói cho mầy nghe Mầy đã không biết ăn năn về

cái tội của mầy mà lại kiếm chuyện nói nhục em tao nữa Nó lấy thiên hạ ai đâu mầy

kể cho tao nghe thử coi Mày thiệt là đứa khốn nạn, đã không có lương tâm và chẳng

có nhân nghĩa chi hết Tao phải trị cho mầy một trận cho mầy chừa cái thói phá hư danh tiết của con nhà nghèo…” [15:127] Có người cho rằng Ba Cam đã dùng lí lẽ

phải quấy nói với cậu Hai Nghĩa nhưng cậu không nghe nên đã dùng “luật giang hồ”

mà xử sự Thật ra ở nhân vật này chỉ dùng đạo lí nho gia của bậc anh hùng xa xưa mà

thôi “thay trời hành đạo” Đối với những kẻ chuyên tráo trở, lừa gạt phụ nữ, ức hiếp con nhà nghèo, thì có dùng đạo lí, nhân nghĩa nói phải quấy chẳng khác gì “nước chảy

lá môn” mà còn bị họ cho là vu khống và sĩ nhục ngược lại mình Chi tiết trên ta gặp

trong văn học trung đại qua nhân vật Hớn Minh (Lục vân tiên), ra tay nghĩa hiệp đánh Đặng Sinh gãy một chân để bên vực người con gái yếu đuối:

“Ỷ mình quyền thế giàu sang, Gặp người gái đẹp làm ngang không vì

Trang 28

Tôi bèn ra sức nam nhi, Vật chàng té xuống, bẻ đi một giò”

(Lục Vân Tiên)

Hớn minh “thấy chuyện bất bình ra tay tương trợ”, còn Ba Cam “thay trời hành đạo”

chém lên mặt cậu Hai Nghĩa vài nhát để ghi dấu cho người đời thấy đó mà làm gương

và con gái nhà lành thấy mà tránh xa Hay một Lê Thủ Nghĩa đánh Tấn Thân bị

thương nặng vì ỷ thế, ỷ quyền “Nài hoa ép liễu” Kỳ Xuân trong Tỉnh mộng vì danh

tiết của Yến Tuyết mà đứng ra nhận lãnh đứa con cho nàng tránh miệng đời chê bai,

khinh bỉ Hay một anh Tư Cu trong Con nhà nghèo dang tay che chở cho cuộc đời cô

Tư Lựu Ông sáu Thời, Lê Văn Đó trong Ngọn cỏ gió đùa, bà Ba Thời trong Cay đắng

mùi đời… đều là những con người làm việc nghĩa một cách tự nguyện, không màng

lợi lộc không đòi hỏi sự đền đáp “làm ơn há để mong người trả ơn” (Lục vân tiên)

Bởi người dân Nam bộ vốn xuất thân từ nơi nghèo khổ, di cư tìm đất sống Cho nên với tinh thần đoàn kết truyền thống, họ càng yêu thương đùm bộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau trong việc tạo dựng cuộc sống, nhất là trong hoàn cảnh mới lạ, đầy khó khăn Họ thường kết nghĩa, sống chết có nhau Cũng vì họ sống trong khó khăn bế tắc, sống trong nguy hiểm, cho nên họ rất chuộng nghĩa khí, quý trọng tình bạn, tình huynh đệ, giang hồ hiệp nghĩa, coi khinh tiền tài, sẵn sàng xả thân vì nghĩa Lê Văn Đó một mình bơi xuồng ra dòng nước nguy hiểm để cứu một ông lão thoát nạn; bên vực và nuôi con gái của Lý Ánh Nguyệt, một cô gái yếu đuối bị kẻ xấu ám hại…

Nhân vật hiệp nghĩa nói trên được Hồ Biểu Chánh hết lòng ca ngợi và xây dựng thật hoàn hảo về tính cách Bởi chính họ là phương tiện mà ông dùng để giáo hóa con người, sữa đổi con người quay về đường ngay nẻo chính Ngoài ra, Hồ Biểu Chánh còn xây dựng nên lớp nhân vật trọng tình trọng nghĩa, biết thủy chung trong tình yêu

và tình bạn Thầy Đằng chán ngán cuộc sống giàu sang lọc lừa, gạt gẫm, vì đồng tiền

mà hãm hại lẫn nhau Cho nên, thầy đồng ý li dị vợ và ra đi phiêu bạc đây đó mà ngẫm nghĩ thế thái nhân tình Chí Đại là người con trai có chí lớn, luôn ý thức trách nhiệm, bổn phận của mình, của người làm trai, không chịu sự giúp đỡ của Bạch Khiếu Nhàn, phải tự tay mình gây dựng nên sự nghiệp Thủ Nghĩa giàu sang không quên lúc bần hàn, giúp đỡ Kỉnh Chi được vợ, làm ăn sung sướng, kết nghĩa trăm năm với người yêu một lòng chung thủy chờ đợi mình mười mấy năm trời và sẵn lòng nhân tha thứ cho kẻ thù

Trang 29

Thời trung đại con người luôn quan niệm: trung – hiếu làm đầu, sau đó mới là tiết – nghĩa Kế thừa quan niệm truyền thống, Hồ Biểu Chánh xây dựng nhân vật của mình với những tính cách như vậy, làm cho nhân vật sáng ngời trên trang truyện Bởi chúng chính là nhân vật trung tâm, nhân vật chính diện theo lí tưởng truyền thống Thu

Hương trong Một đời tài sắc vì chữ hiếu đối vơi cha mẹ, chữ nghĩa đối với em và gia

đình người yêu, nàng sẵn sàng hi sinh hạnh phúc của mình đi lấy chồng cứu hai gia đình thoát nạn Sau khi chồng chết, người yêu cũ hiểu rõ nỗi lòng của cô muốn hàn gắn lại tình xưa nghĩa cũ nhưng nàng vì chữ nghĩa với chồng con mà từ chối Vì chữ

“tiết hạnh” nàng đem thân vào chốn thiền môn để tu hành, cho chọn nghĩa với chồng

con và cả người yêu Hay Phi Phụng trong Nhơn tình ấm lạnh chán ngán sự đời, cám

nghĩa Duy Linh mà kết tình chồng vợ, cái tình của Duy Linh thật quý Đối với người phụ nữ quan trọng nhất là trinh tiết sau đó là: công – dung – ngôn – hạnh và người phụ

nữ trung đại rất quan trọng vấn đề này, họ thà chết để giữ gìn phẩm giá của mình còn

hơn bị “ô danh xủ tiết” Lý Ánh Nguyệt trong Ngọn cỏ gió đùa là cô gái đức hạnh

đoan trang, là người mẹ yêu con hết mực nhưng không vì thế cô bán rẻ trinh tiết của

mình Khi bị Trinh Tường toan cưỡng bức nàng đã van xin “Phận em là đàn bà con

gái xin cậu thương dùm danh tiết của em, đừng có làm như vậy tội nghiệp thân em lắm” [8:23] Cô đã đánh kẻ dâm ô và bị hắn xô xuống sông còn bị vu oan mang bệnh

mà chết Ta thấy, Lý Ánh Nguyệt tuy thân phận nghèo hèn nhưng biết quý trọng phẩm giá chẳng khác nào nàng Kiều Nguyệt Nga bị cha con Thái Sư hãm hại cống sang Phiên Quốc và đã trầm mình để giữ lòng son sắc với Lục Vân Tiên Hay hình ảnh của

nàng Hạnh Nguyên trong Nhị độ mai bị gian thần tâu vua đem đi cống Hồ nhưng nửa

đường trầm mình xuống sông Hắc Thủy để giữ tròn danh tiết cùng chàng họ Mai

Bên cạnh việc miêu tả ngoại hình, tính cách nhân vật, Hồ Biểu Chánh còn miêu tả tâm lí nhân vật, tuy không được thành công cho lắm nhưng vẫn thể hiện được tâm trạng ngổn ngang, u uất của nhân vật Tâm trạng của nàng Túy Nga được ông thể hiện qua bài thơ:

Đêm vắng hoa khô dạ não lòng;

Bởi trước hững hờ trong lộn đục, Nên giờ tỏ rõ sắc là không;

Cầm thi vui tạm qua ngày tháng,

Trang 30

Son phấn nghĩ càng thẹn núi sông;

Này bạn chi âm ai có biết, Theo gương bạc mạng chốn lầu hồng”

[21:81]

Bài thơ là lời than thân, trách phận của một cô gái nửa đường đứt gánh tơ duyên, phiền trách cuộc đời đen bạc Tâm trạng của Túy Nga được Hồ Biểu Chánh thể hiện qua hình thức thơ thất ngôn, cảm xúc nhân vật như bị dồn nén, nghe uất nghẹn, đau thương, chua xót Cách thể hiện tâm lí nhân vật như trên ta đã gặp ở nàng Kiều của

Nguyễn Du: “Phận sao phận bạc như vôi?

Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng”

(Truyện Kiều) Hoặc tâm trạng của nàng ở lầu Ngưng Bích, cuộc đời trôi nổi không biết ra sao và về đâu Chúng ta còn nhận thấy ở nhân vật Hồ Biểu Chánh có nét tương đồng về hành tính cách Họ thường có thú vui thi ca, ngâm vịnh, tính chất của người nghệ sĩ, Chí Đại

“viết ít chữ rồi ngó sững phía ngoài đường, ngó rồi day vô viết, rồi lại ngâm nho nhỏ:

“Ty hộ sương dầm gió hắt hiu, Ðau lòng lưu lạc biết bao nhiêu

Trong quê dã dượi vừng trăng tối,

Lạ cảnh cay co chén rượu chiều

Cao thấp nát gan con sóng lượn, Ngạt ngào đứt ruột tiếng chim kêu

Có khi ra ngóng miền giang chữ, Nước mắt tuôn theo giọt thủy triều.” [1:5-6]

Do ảnh hưởng của đạo lí Khổng – Mạnh và tư tưởng, quan niệm “mệnh trời”, thuyết “nhân quả”, những bài học kinh nghiệm từ cuộc sống của ông cha ta Cho nên

tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh thường kết thúc có hậu, thuận theo luật nhân quả của số

phận nhân vật là nghệ thuật mà ông lựa chọn ngay từ ban đầu Tác phẩm Ai làm được:

Chí Đại sau này sống cuộc đời sung sướng đầy đủ vật chất và hạnh phúc Nhân vật lúc đầu gặp gỡ rồi chia li nhưng cuối cùng được đoàn tụ với người yêu, gia đình Hạnh Nguyên – Lương Ngọc sau bao năm xa cách được trùng phùng (Độ nhị mai); Lục vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga (Lục Vân Tiên) trải qua gian truân, vất vả, sinh li tử biệt cuối cùng được hạnh phúc bên nhau…Phi Phụng, Duy Linh; Túy Nga, Hải Đường

Trang 31

đến với nhau qua bao vằn vặt, đau khổ và thử thách; Ba Thời, Lê Văn Đó, Hương Sư

Cu, Vợ chồng Cai tuần Bưởi, bà Sáu… được đền đáp xứng đáng, họ được cuộc sống giàu sang hạnh phúc bên gia đình Những kẻ gây ác thì gặp quả báo: Cậu Hai Nghĩa không có con trai nối dòng, đứa con gái út thì chết; Vĩnh Thái, Thị lựu dâm loàn nên chết rất thảm thiết, Tú Cẩm trở lại cuộc sống bần hàn trước đây, Tấn Thân nghèo xơ xát

Những điều nói trên là chủ đích về quan điểm nghệ thuật của nhà văn, thiện ác bao giờ cũng đối nghịch nhau và cái thiện luôn chiến thắng cái ác: người lương thiện sau gian truân khổ ải đều được đền bồi, người hàm oan được thoát tội, kẻ ác phải sống nhục, chết thảm

Quan điểm truyền thống của Hồ Biểu Chánh còn thể hiện ở nghệ thuật dặt tên nhân vật Thật thú vị khi đọc tiểu thuyết Hồ Biểu chánh ta thấy tên gọi của các nhân vật chứa đựng những nét tâm lí, tính cách đạo đức và dự báo cả số phận của nhân vật Từ

đó, khi nói tới cái đạo lí nhân nghĩa truyền thống, nào là:

Lê Thủ Nghĩa (Chúa tàu Kim Quy): Làm trai phải luôn luôn trọng chữ nghĩa tình, đạo lí, luân thường

Cô Tư Chuyên (Chúa tàu Kim Quy): con gái chính chuyên

Chí Đại (Ai làm được): người con trai có trí lớn

Chánh Tâm (Kẻ làm người chịu): người có tâm địa chân chính

Cao Minh Chiếu – Đại Quan Nhơn (Nhơn tình ấm lạnh): là người có tên gọi sáng chói nhưng lại dùng ngòi bút của mình làm chuyên ti tiện

Như Hoa (Thầy thông ngôn): người con gái tên thật đẹp nhưng là cô gái trắc nết Cậu Hai Nghĩa (con nhà nghèo): tên nghĩa nhưng nhân phẩm lại là kẻ bất nhân bất nghĩa

Hay: Băng Tâm, Bác Ái, Quảng Giao, Kỳ Tâm… những tên gọi mang nhiều ý nghĩa cao đẹp mà các bậc nho gia hay dùng để đặt tên cho con cháu mình Qua tên gọi

họ còn đặt cả niềm tin, kì vọng cho đứa con lớn lên sẽ làm rạng danh tong tổ

Hay những tên người dân thường: Thằng Được, thằng Sung, thằng Bỉ, thằng Đàng, con Quyên, thằng Sửu, ba Thời…cũng đều nói lên đạo làm người Đó là những chi tiết nhỏ nhưng từ cái nhỏ dù sao cũng nói được ý niệm đạo lí truyền thống của dân tộc Văn học giai đoạn đầu thế kỉ XX có bước phát triển tiến bộ , sự mới mẻ trong văn học được nhiều nhà văn khai thác và chú trọng, Hồ Biểu Chánh được xem là người

Trang 32

tiên phong cho nền văn học mới này ở miền Nam Thế nhưng trong truyện của ông

cũng có sự kế thừa từ nền văn học truyền thống Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh mang

phong thái những truyện kể nhân gian và một số mô típ quen thuộc của tiểu thuyết cổ

điển: Đoạn Lý Ánh Nguyệt trong Ngọn cỏ gió đùa đánh đàn cho Hải Yến nghe giống

như Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng, hoặc đoạn Túy Nga đánh đàn cho Hải Đường

nghe trong Đóa hoa tàn Lệ Bích quyết giữ tiết, chung thủy với Thanh Tòng và nàng

tráo đổi cô dâu khi Ngô Sĩ Liêm, cha nuôi của nàng định gả nàng cho Võ Sơn Tòng

(Thanh Tòng) giống như Nguyệt Nga quyết thủy chung cùng Lục Vân Tiên mà bày

mưu trốn khỏi gia đình Bùi Kiệm… Nhưng điều đáng nói ở đây là ông kế thừa và phát

huy văn học truyền thống, ông nhận thấy xã hội đang chìm trong lối sống thực dụng

của phương Tây, chạy theo đồng tiền, nó thao túng tất cả Cho nên, ông chủ trương

dùng đạo đức để giáo huấn con người thông qua nghệ thuật xây dựng nhân vật

Hồ Biểu Chánh đã bố trí một kết thúc truyện thật có hậu, tuy có phần mang tính cải

lương nhưng điều đó xuất phát từ tấm lòng yêu thương con người sâu sắc của nhà văn

và phù hợp với tâm lí chung của người dân Á Đông chúng ta

2.2 Ngôn ngữ

Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Chung, hiệu là Thứ Tiên, tự là Biểu Chánh Ông

sinh ngày 1/10/1885 (năm Ất Dậu) tại làng Bình Thạnh, tỉnh Gò Công (nay là Tiền

Giang) Năm lên chín, ông bắt đầu học chữ nho tại trường làng Do ngay từ lúc nhỏ

tiếp thu từ nền Hán học và sau này ông có dịch những tác phẩm của Trung Hoa sang

tiếng Việt, cho nên văn phong của ông còn mang phong cách của văn học truyền

thống Đặc biệt là về ngôn ngữ Sự du nhập của nền văn học Pháp vào nước ta đã ảnh

hưởng đến nhiều nhà văn, nhà tiểu thuyết, và là điều kiện để họ học tập kĩ thuật tiểu

thuyết phương Tây viết nên tác phẩm riêng cho mình Hồ Biểu Chánh thuộc một trong

số họ và là “người mở đường cho văn học Việt Nam hiện đại” Tuy nhiên bên cạnh

những đổi mới thì Hồ Biểu Chánh cũng có những kế thừa từ tiểu thuyết truyền thống

Tiểu thuyết của ông không lấy từ những từ cốt truyện Tàu xa xưa hay điển tích, điển

cố như các cụ Tiên Điền, hoặc lời nói bóng bẩy trau chuốt Ngôn ngữ tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh mang tính bình dân của lời nói đời thường, đó là sự mới mẻ trong văn

học, nhưng ngôn ngữ truyện cũng như cách hành văn đôi khi vẫn còn nhịp nhàng đăng

đối của lối văn biền ngẫu trung đại Những tác phẩm thuộc giai đoạn đầu sáng tác, nhà

văn sử dụng cách viết của lối văn biền ngẫu như Ai làm được (1912), Nam cực tinh

Trang 33

huy (1923), Nhơn tình ấm lạnh (1925), Thầy thông ngôn (1926)… tìm hiểu tác phẩm

ta sẽ thấy được điều đó Hồ Biểu Chánh không chỉ sử dụng lối văn biền ngẫu khi miêu

tả khung cảnh mà còn miêu tả vẻ đẹp của con người Trong đối thoại thỉnh thoảng mới

phát hiện lời hiệp vần cân đối Chẳng hạn khi miêu tả bức tranh làng quê “Rồi một

buổi chiều sớm mơi, bầu trời thanh bạch, mặt trời ló ra chói nắng sáng lòa, cây cối bị ướt loi ngoi mấy bữa, nay gặp nắng lại, giũ lá phơi nghành, trổ bông đâm tược, từ ngoài ruộng vô tới trong vườn, khoe một màu xanh lặc lìa, coi thiệt khỏe mắt” [20:5]

Hay miêu tả khung cảnh nhà ông Tú Phan: “Trước có một cái sân rộng lớn, chánh

giữa đã xây hòn non trên hồ nước, trên đỉnh ông tiều lum khum gánh củi, dưới khe ngư ông thông thả ngồi câu, bên kia thằng mục cởi trâu ăn, bên nọ chú cày đi ra ruộng” [7:5] Đoạn văn miêu tả với giọng điệu rất du dương bằng những từ song

thanh và điệp vận, khi đọc lên giống như là khúc nhạc, như một bài thơ, bài vịnh, cách ngắt nhịp, phối âm đúng niêm luật, chẳng hạn đoạn miêu tả nhà của ông Tú Phan,

những từ “trước, giữa, trên, dưới” phối với nhau hay “cái sân” phối với “hòn non”

hoặc “gánh củi” phối với “ngồi câu” và từ “cởi trâu”, “cày”… cách gieo vần “c” rất

ăn khớp tạo ra tính nhạc cho đoạn văn, đó là những từ giàu sức gợi hình Nhất là hình

ảnh “ông tiều, ngư ông, mục đồng, hòn non” là những hình ảnh ước lệ tượng trưng mà

các văn sĩ trung đại hay dùng để tả cảnh điền viên, sơn dã Một buổi chiều khi cơn mưa vừa dứt, hạt còn bám trên lá được ông miêu tả với lời văn nhịp nhàng, đăng đối:

“Một buổi chiều, trời mưa mới dứt hột, nào trong rào cây cỏ loi ngoi, trước sân nước ứa động thành vũng Mấy đám ruộng lúa cấy đã bén thì phơi màu xanh lét, còn mấy đám ruộng mới cấy vài bữa, thì màu vàng khe” hay “Đêm canh khuya, trời lạnh người đều ngơi nghĩ, nhà nhà đều im lìm, tưởng là bóng âm che khuất lòng trần, nào

dè cách một hòi nghe tiếng chuông chùa cúng phật, mới hay đêm tuy yên, nhưng mà đời người chưa rảnh được nợ trần, hoặc còn mưu sinh kế sanh tồn, hoặc đương tính về đường siêu độ” [6:35] Hay “Lửa tình muốn cất ngọn, bóng ái muốn bủa vòi” [2:26]

Từ các ví dụ trên ta thấy được tài năng nghệ thuật của nhà văn khi kết hợp yếu tố truyền thống để tả cảnh thật sắc sảo Cảnh đẹp thường gắn liền với những hình ảnh đẹp

và chỉ có ngôn từ Hán Việt mới lột tả hết ý nghĩa của nó Lời văn biền ngẫu sẽ làm tăng vẻ đẹp của khung cảnh thiên nhiên, như họa thêm vài nốt nhạc cho cảnh vật trở nên thơ mộng, huyền ảo và chứa chan cảm xúc Mặt khác Hồ Biểu Chánh muốn khuấy động nguồn cảm xúc của con người khi đứng trước cảnh hữu tình như thế, nhằm thể

Trang 34

hiện tâm lí nhân vật, có thể là hạnh phúc, vui sướng, cũng có thể là tâm trạng u buồn, bồi hồi nhớ đến việc xưa hay nghĩ đến việc hiện tại và tương lai Hoặc từ việc miêu tả cảnh như vậy sẽ bắt đầu tình huống truyện khác và nhà văn sử dụng lối văn biền ngẫu như một cách tạo nguồn cảm hứng cho bạn đọc và yêu thích tác phẩm

Như đã nói văn phong của Hồ Biểu Chánh có những câu văn cân đối trong đối thoại, và đây là lời tâm sự của cô gái Bạch Tuyết và Chí Đại lâu ngày gặp lại nhau:

“Con gái người ta có cha yêu, mẹ mến, từ mới đi, biết nói cho đến chừng khi lớn nên người, trong nhà sẵn có mẹ dạy dỗ, cha răn nghiêm tự nhiên, quen với thói tục cao sang, tự nhiên nhiễm gia phong thuần hậu…” [2:25] Tuy tiểu thuyết sử dụng ngôn

ngữ đời thường nhưng văn phong thì cổ điển, điều đó được Hồ Biểu Chánh kế thừa từ truyện thơ Nôm, vè bình dân như: nói Lục Vân Tiên, thơ thầy Thông Chánh, thơ Cậu Hai Miêng… với những lời văn nôm na, bình dân trái với văn phong Hán học của ông cha

“Tiên rằng bớ chú cõng con,

Việc chi nên nỗi bon bon chạy hoài”

Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây”

(Lục Vân Tiên)

Qua lời đối thoại của Bạch Khiếu Nhàn và Chí Đại trong tác phẩm Ai làm được ta

sẽ thấy rõ đặc điểm ấy:

“- Thưa bác, lời bác nói rất phải, tuy vậy cháu là kẻ hèn hạ, lại tuổi đáng con cháu, nên cháu đâu dám đồng bàn với bác

- Ối! Còn luận tuổi tác mà làm gì! Tôi mời thì trò em cứ việc ngồi, cung kính bất như phụng mạng” [1:6]

Đó là những lời văn nói được người dân sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày và được trình diễn ở đám đông, căn bản là cách nói đặc thù của người dân Nam bộ Đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, ta thường bắt gặp những đoạn văn có vần điệu giống như những bài vè, bài đồng dao rất dễ thuộc Với ý đồ chuyên chở đạo lí thì hình thức diễn đạt bằng ngôn ngữ như thế sẽ thuận lợi hơn nhiều, có thể phổ biến rộng rãi và mang tính thông báo cao trong tầng lớp nhân dân Ngoài ra, Hồ Biểu Chánh còn kế thừa ngôn ngữ văn chương của Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Trần Thiên Trung

với thứ ngôn ngữ ngoài đời Nói như Thanh Lãng thì các nhà văn miền Nam này chủ

Trang 35

chương “chống đối văn đài – các miền Bắc” Văn của họ vào giai đoạn đầu chưa được

sự ủng hộ đông đảo từ bạn đọc cũng như các nhà văn lúc bấy giờ, vì họ cho rằng đó là thứ ngôn “thấp kém”, không chuẩn và sai nhiều về chính tả do phát âm không đúng Đến Hồ Biểu Chánh thì ông nhìn nhận lại khác, tiến bộ hơn và thấy được ưu điểm của

ngôn ngữ bình dân này: dễ hiểu, gần gũi, dễ cảm hóa con người Trong Đời của tôi về

văn nghệ ông đã thừa nhận sự ảnh hưởng “tiếng thường mọi người hằng nói” của các

nhà văn nói trên và đã thành công khi biến thứ chữ “tầm thường” đó trở thành chữ của

văn hóa, văn học qua sáng tác, báo chí, biên khảo

Tính truyền thống trong ngôn ngữ tiểu thyết Hồ Biểu Chánh còn thể hiện ở cách dùng chữ đặt tên cho nhân vật Bên cạnh những tên bình dân: thằng Được, thằng Cu, con Lựu, Lê Văn Đó, thằng Bỉ, Hai Liền…thì tác giả còn đặt tên Hán Việt cho nhân vật: Chánh Tâm, Thủ Nghĩa, Chí Cao, Trọng Quý, Tự Cường, Hiếu Liêm, Bá Vạn… Qua cách đặt tên bằng chữ Hán Việt như thế Hồ Biểu Chánh muốn giữ bản sắc dân tộc

và truyền tải đạo lí, phẩm chất, đạo đức truyền thống, ta còn nhận thấy được ý nghĩa, khí tiết của nhân vật Ngoài ra có một số tác phẩm vẫn sử dụng ngôn từ rất cổ điển, gắn liền với tên gọi, chức vụ: công tử, tiểu thư, nô tì, công chúa, phò mã, thượng thư, thái úy, ngự sử… những từ chỉ quân tử hay kẻ cướp: tráng sĩ, cường khẩu Hay những

từ rất trau chuốt, bóng bẩy “Năm Mậu tuất (năm 938) đêm rằm tháng giêng, lúc gần

hết canh ba, mảnh nguyệt treo giữa trời, soi sơn thủy, giọt nước sương chan mặt đất rưới cỏ cây, nẻo lợi danh vắng vẻ bước con người, mùi cam khổ tạm bay xa trần thế”

Theo Trà Thị Lâm Vân “kết cấu là cách tổ chức, sắp xếp liên kết các nhân vật, sự

kiện, các cảm xúc, các yếu tố trong tác phẩm thành một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất theo ý đồ nghệ thuật và đặc trưng nghệ thuật nhằm làm cho tác phẩm đạt giá trị nghệ thuật cao nhất” [60:5]

Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có kết cấu hiện đại so với những tiểu thuyết cùng thời nhưng không phải hiện đại hoàn toàn Bên cạnh của những cách tân, đổi mới,

Hồ Biểu Chánh có sự kế thừa nghệ thuật kết cấu tiểu thuyết trung đại, nhất là tiểu

Trang 36

thuyết Hồ Biểu Chánh chịu ảnh hưởng mạnh bởi lối kết cấu tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ Nôm truyền thống

Hầu hết tác phẩm Hồ Biểu Chánh kết cấu theo kiểu chương hồi, tuy nhiên trong quá trình sáng tác tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cũng có những điểm khác so với nguyên mẫu Mỗi tác phẩm, nhà văn có thể chia thành các chương khác nhau Ở mỗi chương, nhà văn thường đặt những câu thơ đề dẫn cho người đọc dễ hiểu, như tác phẩm:

Ai làm được (1912), Nhơn tình ấm lạnh (1925), Nam cực tinh huy (1924) Đi vào kết

cấu từng tác phẩm cụ thể, ta thấy kết cấu tác phẩm Nhơn tình ấm lạnh nhà văn đã chia

ra làm 16 hồi, mỗi hồi là một nội dung, tình huống truyện khác nhau Tác phẩm này

Hồ Biểu Chánh không có dẫn hai câu thơ để giới thiệu nội dung chương Còn tác phẩm

Nam cực tinh huylà tác phẩm được Hồ Biểu Chánh viết theo hình thức kết cấu chương hồi hoàn toàn, giống như tiểu thuyết Trung Quốc: Tam quốc chí, Tây du ký, Hồng lâu

mộng Ví dụ tác phẩm Tam quốc chí:

Hồi thứ 35 có hai câu thơ: “Huyền đức qua Nam chương gặp người ẩn dật;

Đan Phúc đến Tân Giã tiếp chúa anh minh” [33:5]

Hồi thứ 36 có hai câu thơ: “Dùng mẹo lạ, Huyền Đức đánh phàn thành

Quay gió ngựa, Nguyên Trực tiến Gia Cát” [33:16]

Hồi thứ 39 có hai câu thơ: “Thành Kinh Châu, Công tử ba lần cầu kế;

Gò Bác vọng, quân sư mới thoạt dùng binh” [33:62]

Hay tác phẩm Hoàng lê nhất thống chí của Việt Nam, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ

tiểu thuyết Tàu, có kết cấu chương hồi với hai câu dẫn nhập

Hồi thứ nhất: “Đặng Tuyên Phi được yêu dấu, đứng đầu hậu cung

Vương thế tử bị truất ngôi ra ở nhà kín” [32:14]

Hồi thứ hai: “Lập điện đô bảy quan nhận di chúc

Giết Huy Quận, ba quân phò Trịnh Vương” [32:23]

……

Hồi thứ 15: “Dẹp yên cõi Bắc, Nguyễn Huệ được phong

Đánh phá Cao Bằng, Duy Chi bị hại” [32:125]

Hình thức chia hồi với hai câu thơ dẫn nhập như thế đã trở thành đặc trưng riêng của tiểu thuyết chương hồi Việt Nam trung đại Hai câu thơ đề dẫn như một hình thức tóm

Trang 37

tắt, thông báo nội dung truyện của từng chương nhằm cho người đọc nắm bắt diễn biến

câu chuyện nhanh chóng và dễ hiểu Tác phẩm Nam cực tinh huy:

Hồi thứ nhất: “Trong màng loan Dương phu nhơn mộng quái,

Dưới cột lý Ngô Thứ - sử trần tình” [6:5]

Hồi thứ hai: “Nghe tin dữ anh hùng sái lụy

Hưng nghĩa binh dõng sĩ báo thù” [6:15]

Hồi thứ ba: “Nước nguy biến Đinh Công rầu vong mạng,

Chú đuổi xô, Bộ Lãnh quyết lập thân.” [6:24]

Hồi thứ tư: “Đinh tráng sĩ nơi Vân sơn được gươm báu

Trần tướng quân dưới cổ thọ gặp người tài” [6:36]

………

Hồi thứ ba mươi hai:

“Sợ bất nghĩa, Nam Tấn vương phế vị Cảm thâm tình, Ngô Xương Cấp hồi triều” [6:132]

Hồ Biểu Chánh nhận thấy được đặc điểm của hình thức này, nên ông áp dụng trong sáng tác của mình và dùng nó như phương tiện chuyên chở những bài học đạo lí, giáo dục nhân nghĩa mà ông quan niệm Tuy ông không giữ lại cách chia nguyên mẫu: chương – hồi nhưng tác phẩm của ông vẫn kết cấu theo hình thức hai câu thơ để nói

lên nội dung chương, phần, đoạn tác phẩm Ví như tác phẩm Chút phận linh đinh:

Phần I có hai câu thơ thất ngôn giới thiệu:

“Lỡ bước thương người không dám ngó Nhớ người cám nghĩa phải làm khuây” [10:5]

Phần II cũng có hai câu thơ:

“Nặng chữ thuyền tình, thuyền quyên thất tiết Nghiêm gia phong, nghịch tử ly hương” [10:17]

Đến hai câu thất ngôn, mặc dù chưa đọc nội dung nhưng độc giả có thể hiểu sơ lược về câu truyện: Thu vân vì yêu Hiển Vinh mà thất tiết nhưng do gia đình nghiêm khắc nên phải trở thành đứa con bất hiếu bỏ nhà ra đi Nếu ai đã đọc phần I và đến phần II thì khi đọc hai câu thơ trên sẽ thấy thời gian của truyện đã thay đổi Nhà văn hoặc nhân vật sẽ kể nguyên nhân vì sao có cuộc chia tay đó Tại sao hai vợ chồng Thu Vân và Hiển Vinh phải xa nhau trong khung cảnh đau buồn như thế? Thời gian lúc này đã quay trở về với những việc xảy ra trong quá khứ, để làm rõ nguyên nhân

Trang 38

dẫn đến buổi đưa tiễn ấy của gia đình Thu Vân Và đến phần XV người đọc có cảm giác thỏa nguyện, chia sẽ niềm hạnh phúc với nhân vật Trong quá trình hồi hợp, chờ đợi không biết rồi Thu Vân và Thu Cúc có được ông Lê Hiển Đạt chấp nhận hay không, vợ chồng, cha con có được trùng phùng, thì qua hai câu thơ đầu phần đã giúp

họ tháo gỡ nút truyện mà họ bị lôi cuốn:

“Cha con sum hiệp hết ưu phiền

Vợ chồng trùng phùng quên đau khổ” [10:214]

Hình thức câu thơ thất ngôn đã nói lên tất cả cảm xúc, sự việc, nội dung tác phẩm

Bởi thơ có tính “hàm xúc”, tính “khái quát” cao, cho nên Hồ Biểu Chánh tận dụng mà

làm nên kết cấu truyện chặt chẽ, có sức thuyết phục đối với người đọc

Và tác phẩm Nặng gánh cang thường có kết cấu nhan đề giống như vậy, tác phẩm

gồm 14 phần, mỗi phần có hai câu thơ:

Phần I: Hai câu thơ bát cú: “Vua thánh Tôn triều phong tướng Quốc

Ông Lê Niệm đón cửa đánh thông gia” [16:5]

Phần II: Hai câu thơ lục bát:

“Bị nhục cha mong báo oán Nặng tình con ngại tranh hùng” [16:14]

Phần III: Hai câu thất ngôn:

“Tánh táo bạo, Lê Niệm thọ thương Tình yêu Lệ Nương quăng kiếm” [16:27]

Phần IV: Hai câu bát cú:

“Tiếng dõng dạc, Nhơn Trung xin thế tử Nhớ ân tình Lệ Bích bất kinh tâm” [16:40]

Phần V: Hai câu thất ngôn:

“Dùng phi kiếm, một trận thành công Tức vị thánh ngôn ban thưởng” [16:54]

…………

Phần XIV: Hai câu lục bát:

“Cử binh, hổ tướng thành công Tức vị, thánh quân ban thưởng” [16:183]

Kết cấu chẳng khác chi tác phẩm Chút phận linh đinh, vẫn chia phần và có hai câu

đề dẫn, nhưng tùy mỗi phần mà tác giả sử dụng thể thơ khác nhau cho phù hợp diễn

Trang 39

biến câu truyện Phần có nội dung phức tạp thì ông sử dụng thể thơ tám chữ, bảy chữ, phần đơn giản thì sử dụng thể thơ sáu chữ:

“Cử binh, hổ tướng thành công Tức vị, thánh quân ban thưởng”

Nội dung phần này chỉ nói đến việc thắng trận của Thanh Tòng cứu vua, phò chúa thoát khỏi cảnh gian thần lộng quyền và được vua ban thưởng tước lộc, công hầu

Sự kế thừa nghệ thuật tiểu thuyết truyền thống trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh còn thể hiện ở việc kết thúc truyện Khảo sát tác phẩm, người viết nhận thấy nhà văn thường dùng hai câu thơ để kết thúc tác phẩm Kết thúc như vậy ta hay gặp trong tiểu thuyết chương hồi, phần chính văn, ngoài ra câu chuyện còn dùng thơ, từ, phú để tả

cảnh, tả vật nối các đoạn hoặc nói lên sự tán thưởng của tác giả Truyện Hoàng lê

nhất thống chí là kiểu kết cấu như vậy:

Hồi thứ hai:

“Thiệt là: Sống nổi đất bằng ai chẳng sợ,

Nắng thiêu núi tuyết khó nương nhờ” [32:36]

Hồi thứ 14:

“Thực là: Bờ cõi chưa xong bề tính lựu

Nước non buồn nỗi lúc chia li” [32:124]

Một số tác phẩm được ông viết dưới hình thức như thế: Chúa tàu Kim Quy; Một đời tài sắc; Nợ tình; Hai vợ Kết thúc tác phẩm ông viết như sau:

“Thiệt là: Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, Chi tranh lai tảo dữ lai trì” [2:125]

“Thiệt là: Dở chơn giọt lụy chứa chan

Nỗi tình, nỗi hiếu ngổn ngang trong lòng” [16:88]

Hay: “Cang thường nặng gánh hai vai,

Nghĩa sâu hơn biển, tình dài hơn sông” [16:197]

“Xóm Tre nặng lòng quân tử,

Truông cóc chưa khờn chí nghĩa binh” [26:155]

“Trai biết trọng ái tình,

Gái giữ bên chánh tiết” [20:126]

Trang 40

Hồ Biểu Chánh sử dựng hình thức hai câu thơ để kết thúc tác phẩm nhằm mục đích thay cho lời kết luận hay lời bình của nhà văn Ta thấy hai câu thơ mang nặng ý nghĩa, đạo lí luân thường, bài học của cuộc sống Vì thế khi đọc tác phẩm, ta không chỉ nhận

thấy ở nội dung tiểu thuyết mới “sặc mùi’ đạo lí mà ngay cả hình thức kết cấu, ông sử

dụng cho mục đích giáo huấn, răn dạy con người trong hoàn cảnh xã hội bắt đầu tha hóa Hồ Biểu Chánh kế thừa quan niệm nghệ thuật này từ nhà thơ rất nổi tiếng ở Nam

bộ giai đoạn cuối thế kỉ XIX, Nguyễn Đình Chiểu:

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẩm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”

(Lục Vân Tiên) Văn của ông chỉ khác là không dùng để đánh vào chế độ thực dân như văn của

Nguyễn Đình Chiểu, mà dùng để đánh những điều xấu xa, những điều “luân thương

bại lí”, những kẻ độc ác hủy hoại đạo đức con người Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh còn

kế thừa quan niệm trung đại “Văn dĩ tải đạo”, dùng quan niệm đạo đức để răn dạy,

giáo dục nhân phẩm con người

“Cang thường nặng gánh hai vai, Nghĩa sâu hơn biển, tình dài hơn sông”

Ý muốn nói làm trai cần phải trung thành với vua, yêu quê hương đất nước và hoàn thành trọng trách của mình, khi đất nước lâm nguy, phải đem tài năng ra giữ nước và xây dựng đất nước, làm trai phải biết trọng nghĩa khinh tài, thủy chung, đền đáp nghĩa

tình cho xứng đáng Hay “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo”, tức ông muốn nói: đừng

nên làm việc ác, lúc đầu làm chuyện ác sau này hậu quả tự mình gánh chịu, ở đời nhân quả là tuần hoàn kẻ gây ác sẽ gặp ác và người hiền lương sẽ được báo đáp xứng đáng Không gian truyện được nhà văn lấy từ những thời đại trước thế kỉ XX, thời kì

phong kiến, kết hợp với thời gian lịch sử cụ thể Qua lời kể của tác giả “Bộ truyện này

thuộc nhà Lê, nhằm vua Thánh Tôn, trong khoảng hai ba năm trước khi vua thăng hà” Hay “Năm Hồng Đức thứ 26 (1945), mùa xuân, vua Thánh Tôn lâm triều, cho bá quan văn võ vào chầu” [16:5-6] Đó là những triều đại cụ thể xa xưa, được ông lấy

làm bối cảnh khác với bối cảnh thế kỉ XX để nói đến những cuộc bạo loạn của bọn hoạn quan hay giặc cướp nước, cuộc đấu tranh của những vị anh hùng, người yêu nước như: Thanh Tòng, Lệ Bích, Quan ngự sử, Quan chánh sứ, Tả tướng quốc Thân Nhơn

Trung, Lê Niệm hay Đinh Long, Đinh Hổ… Truyện Chúa tàu Kim Quy lấy bối cảnh,

Ngày đăng: 24/11/2015, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w