c.1 Theo khoản 1 của điều luật tương ứng của BLHS, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 1 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu và theo BLHS 1985
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Lớp: Luật Tư Pháp-K31
Cần Thơ, Tháng 11/2008
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2#
/
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3#
/
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4#
/
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1 U
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Cơ cấu của luận văn 2
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 3
1.1 Khái quát chung về các tội xâm phạm sở hữu 3
1.2 Khái quát tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 5
1.2.1 Khái niệm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 5
1.2.2 Đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 6
1.3 Nguyên nhân của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 7
1.4 Hậu quả do hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây ra 9
1.5 Sơ lược lịch sử các quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 9
1.6 Quy định của một số nước trên thế giới về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 11 CHƯƠNG 2 TỘI PHẠM LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 13
2.1 Khái niệm về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành 13
2.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 14
2.2.1 Dấu hiệu về mặt khách thể của tội phạm 14
2.2.2 Dấu hiệu về mặt chủ thể của tội phạm 14
2.2.3 Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm 19
2.2.4 Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm 28
2.3 Hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành 30
2.3.1 Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự 30
2.3.1.1 Trường hợp thứ nhất, phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng trở lên bằng thủ đoạn gian dối 30
2.3.1.2 Trường hợp thứ hai, phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng bằng thủ đoạn gian dối nhưng gây hậu quả nghiêm trọng 32 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6sản của người khác có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng bằng thủ đoạn gian dối
nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm 33
2.3.1.4 Trường hợp thứ tư, phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm 33
2.3.2 Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự, bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm 34
2.3.2.1 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức 34
2.3.2.2 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp 35
2.3.2.3 Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm 35
2.3.2.4 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản 36
2.3.2.5 Dùng thủ đoạn xảo quyệt để lừa đảo chiếm đoạt tài sản 38
2.3.2.6 Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng 38
2.3.2.7 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây hậu quả nghiêm trọng 39
2.3.3 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự 41
2.3.3.1 Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng 41
2.3.3.2 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây hậu quả rất nghiêm trọng 42
2.3.4 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 139 Bộ luật luật hình sự 44
2.3.4.1 Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên 44
2.3.4.2 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng 44
2.3.5 Hình phạt bổ sung đối vơi người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 48
2.4 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội khác 49
2.4.1 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội trốn thuế 49
2.4.2 Phân biêt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội sản xuất, buôn bán hàng giả 49 2.4.3 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 50
2.4.4 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội Lừa dối khách hàng 51
2.4.5 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản 53
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG CHỐNG CÓ HIỆU QUẢ TỘI PHẠM NÀY 55
3.1 Thực trạng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam 55
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7nguyên nhân 57
3.2.1 Khó khăn trong việc xét xử 57
3.2.2 Những sai sót trong công tác xét xử vẫn còn xảy ra 61
3.2.3 Khó khăn trong việc điều tra, phát hiện tội phạm 61
3.2.4 Sự quản lý lõng lẽo của cơ quan Nhà nước trong việc cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp 62
3.2.5 Chính sách thuế còn nhiều kẻ hở 63
3.3 Giải pháp nhằm phòng chống có hiệu quả tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 64
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ Khi nhu cầu của con người càng tăng thì lợi ích càng có sức mạnh lớn lao trong việc hấp dẫn con người, do đó, động cơ tư tưởng thúc đẩy hành động của con người càng mạnh mẽ Sự kích thích mạnh mẽ của lợi ích có thể thúc đẩy hành động của con người theo những chiều hướng khác nhau Tất cả các lợi ích sẽ thúc đẩy và quyết định động cơ hành động của con người Bên cạnh những mặt tích cực là sự năng động do nền kinh tế thị trường mang lại thì bên cạnh đó mặt trái của cơ chế thị trường cũng tác động đến đời sống xã hội, do đó, tình hình vi phạm pháp luật cũng trở nên tinh vi, xảo quyệt và phức tạp hơn, xuất hiện nhiều hình thức, thủ đoạn phạm tội mới đặc biệt là các tội xâm phạm sở hữu mà cụ thể hơn nữa là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tội phạm này đang là điểm nóng của xã hội Để phù hợp với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, ngày 21 tháng 12 năm 1999 Quốc hội đã thông qua Bộ luật hình sự mới Các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 không chỉ góp phần vào việc bảo
vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam xã hội chủ nghĩa bảo vệ Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn góp phần duy trì trật tự xã hội.Với tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn ra như hiện nay thì pháp luật hình sự Việt Nam có những quy định như thế nào? Và những quy định
ấy có phù hợp hay chưa? Vì lý do dó mà tác giả lựa chọn đề tài “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” để làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trong luận văn này, người viết xin đi sâu nghiên cứu và phân tích rõ tội phạm xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XIV của Bộ luật hình sự năm 1999 Đồng thời đưa ra những vấn đề thực tiễn trong quá trình điều tra và xét xử, từ đó phân tích những nguyên nhân cơ bản nhằm đề ra hướng hoàn thiện cho công tác đấu
tranh phòng ngừa tội phạm
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này được xây dựng trên cơ sở những kiến thức đã học, thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan đến quyền sở hữu của công dân kết hợp với thực tiễn Bên cạnh đó người viết sử dụng các phương pháp:phương pháp thu thập tài liệu; phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp
5 Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 Chương:
Chương 1: Khái quát chung về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Chương 2: Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản và giải pháp nhằm phòng chống có hiệu quả tội phạm này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu và tiếp cận các quy định pháp luật và các tài liệu về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng do đây là lần nghiên cứu đầu tiên bên cạnh đó sự do hạn chế của bản thân và thời gian nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô
và các bạn đọc để đề tài này được hoàn thiện hơn Nhân đây, em cũng xin chân
thành cảm ơn thầy Phạm Văn Beo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành
luận văn tốt nghiệp này Em xin chân thành cảm ơn thầy
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT
TÀI SẢN 1.1 Khái quát chung về các tội xâm phạm sở hữu
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của cá nhân
Ở bất kì thời đại nào cũng vậy, tài sản là giá trị không thể thiếu trong cuộc sống của con người Có hai quan niệm khác nhau về thuật ngữ tài sản Theo quan niệm thứ nhất là về phương diện pháp lý: tài sản là của cải được con người sử dụng Theo quan niệm thứ hai, người ta hiểu theo cách nói thông thường được sử dụng hàng ngày thì tài sản là một vật cụ thể mà có thể nhận biết được bằng các giác quan và được con người sử dụng trong cuộc sống hằng ngày Tài sản là phương tiện thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, là đối tượng để con người phấn đấu đạt tới Quyền sở hữu về tài sản bao gồm các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản Quyền sở hữu đối với tài sản là quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ, Nhà nước ta tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của Nhà nước, của các tổ chức và mọi công dân và được quy định trong Hiến pháp 1992 Vì vậy, các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm đến cả quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản hoặc xâm phạm vào một trong ba quyền nói trên Chính vì thế, Nhà nước dùng pháp luật mà cụ thể là pháp luật Hình sự để điều chỉnh các hành vi này Tuỳ vào tính nguy hiểm của hành vi mà các ngành luật khác nhau với tính nghiêm khắc khác nhau điều chỉnh (dân sự, hình sự…)
Pháp luật hình sự là một công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để đấu tranh phòng và chống tội phạm Qua 15 năm thực hiện, Bộ luật hình sự 1985 đã góp phần không nhỏ vào những thành công chung của đất nước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Nhưng, trước sự chuyển biến không ngừng của tình hình kinh tế xã hội trong nước và trên thế giới, Bộ luật hình sự 1985 mặc dù đã qua bốn lần sửa đổi, bổ sung song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày
21 tháng 12 năm 1999 đã thay thế Bộ luật hình sự 1985 trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nước ta Bộ luật hình sự năm
1999 đã nhập hai Chương của Bộ luật hình sự năm 1985 ( Chương IV: các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và Chương VI: các tội xâm phạm sở hữu công dân) thành một Chương chung là các tội xâm phạm sở hữu Tuy nhiên, việc nhập hai Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11chương của Bộ luật hình sự năm 1985 không có nghĩa là đánh đồng các hình thức
sở hữu trong đấu tranh phòng chống tội phạm Yếu tố đối tượng tội phạm là tài sản của Nhà nước được bổ sung thành tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt (Điều 48); chỉ hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước mới cấu thành tội phạm (Điều 144) Hành vi tương ứng đối với tài sản thuộc các hình thức sở hữu khác không cấu thành tội phạm và chỉ bị
xử lý hành chính hoặc dân sự
Nhìn chung, đa số các tội xâm phạm sở hữu đều có tính chất chiếm đoạt Trong
số mười ba hành vi phạm tội thuộc nhóm này (Tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản)
đã có tới tám hành vi có tính chất chiếm đoạt Tuy nhiên, không phải hành vi phạm tội nào có tính chất chiếm đoạt đều là các tội xâm phạm sở hữu Đó là hành vi của người phạm tội cố ý chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền
sở hữu của chủ thể khác thành tài sản “của mình” Hành vi chiếm đoạt bao giờ cũng thực hiện bằng hành động tích cực, cụ thể và luôn là cố ý trực tiếp Mong muốn biến tài sản của người khác thành tài sản của mình Cách thức và hình thức chiếm đoạt rất đa dạng và được mô tả, khái quát thành những tội danh cụ thể của chương Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản: Một hình thức thấp hơn, cũng được biểu hiện bằng sự chuyển dịch tài sản từ chủ thể khác, chủ thể quản lý tài sản đã mất khả năng thực tế thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản Ở đây, chủ thể phạm tội khẳng định sự mong muốn chiếm hữu tài sản không phải của mình bằng cách tỏ những thái độ định đoạt với tài sản kể trên
Hành vi sử dụng trái phép: Đó là việc khai thác giá trị, giá trị sử dụng các tài sản
mà không được phép, không được sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc người có chức năng quản lý về nghiệp vụ đối với loại tài sản bị khai thác nói trên
Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng, làm mất mát, lãng phí tài sản: Đó là những hành
vi được thể hiện thông qua đối tượng tác động làm mất hoàn toàn giá trị, giá trị sử dụng của tài sản (hủy hoại), làm mất giá trị từng phần có thể khôi phục được (làm
hư hỏng), làm thất thoát gây thiệt hại cho chủ sở hữu…
Các hành vi xâm phạm sở hữu có thể được thể hiện bằng hành động hoặc được thể hiện bằng không hành động Riêng các tội phạm có tính chất chiếm đoạt chỉ có thể được thực hiện bằng hành động Mức giá trị về tài sản bị chiếm đoạt cũng được Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12quy định cụ thể và là một trong nhưng căn cứ chính để quy định khung hình phạt tăng nặng đối với các tội phạm sở hữu Hầu hết các tội xâm phạm sở hữu là chủ thể thường Những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định đều có khả năng trở thành chủ thể của nhiều tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu Trong các tội xâm phạm sở hữu có một tội đòi hỏi chủ thể ngoài những dấu hiệu của chủ thể thường phải có thêm đặc điểm đặc biệt khác (chủ thể đặc biệt) Đó là đặc điểm có trách nhiệm liên quan đến tài sản của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước Người thực hiện các tội xâm phạm sở hữu
có thể là lỗi cố ý như: ở tội trộm cắp tài sản; hoặc vô ý như: ở tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Hậu quả của những hành vi mà người phạm tội gây ra trước hết là nhưng thiệt hại gây ra cho quan hệ sở hữu, thể hiện dưới dạng thiệt hại vật chất cụ thể như: tài sản bị mất, tài sản bị hư hỏng, tài sản bị sử dụng… Cá biệt
có một vài hành vi tội phạm không những gây thiệt hại về tài sản mà còn gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của chủ sở hữu tài sản
1.2 Khái quát tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.1 Khái niệm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm mà giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản
Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách gian dối Như vậy, người
có tài sản đã tin và giao tài sản cho người phạm tội khi người phạm tội này sử dụng hành vi gian dối khiến cho người giao tài sản tin là thật Hành vi gian dối có thể được thực hiện thông qua các hành thức khác nhau có thể thông qua lời nói, hoặc sử dụng giấy tờ giả hoặc giả danh người có chức vụ, quyền hạn…, như vậy có thể nói, thủ đoạn gian dối rất đa dạng Hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo là hành vi chuyển tài sản của người khác thành tài sản của mình bằng thủ đoạn gian dối Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai dấu hiệu đặc trưng là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt, đủ hai yếu tố này mới cấu thành tội chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử đã có không ít trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã tuyệt đối hóa thủ đoạn gian dối của hành vi lừa đảo, nên đã bỏ qua một dấu hiệu quan trọng đó là hành vi chiếm đoạt tài sản, mà thiếu hành vi này thì chưa cấu thành tội phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong những trường hợp này chỉ tập trung chứng minh người phạm tội có thủ đoạn gian dối đã vội xác định đó là lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong đó, hành vi gian dối là điều kiện để thực hiện việc chiếm đoạt, còn hành vi chiếm đoạt là mục Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13đích và kết quả của hành vi gian dối Để chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội phải có sự gian dối, khi chiếm giữ được tài sản thì tội phạm đã hoàn thành, đó là kết quả của hành vi gian dối Thời điểm chiếm giữ được tài sản, thời điểm chiếm đoạt được tài sản, thời điểm hoàn thành của tội phạm là những thời điểm không đồng nhất với nhau Thời điểm hoàn thành của tội phạm là thời điểm mà người phạm tội chiếm đoạt được tài sản Nếu biểu diễn trên trục thời gian thì hành động phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn ra theo các bước sau:
Bước 1 là kẻ phạm tội thực hiện hành vi gian dối;
Bước 2 là kẻ phạm tội chiếm giữ được tài sản;
Bước 3 là kẻ phạm tội chiếm đoạt được tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự hiện hành
là tội được nhập từ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân được quy định tại Điều 157, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 134 và tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 134a Bộ luật hình sự năm 1985 So với Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 139 Bộ luật hình năm 1999 nói chung không nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 về tội phạm này, vì mức hình phạt cao nhất của tội phạm này vẫn
là tử hình, nhưng từng khung hình phạt cụ thể có sự khác biệt, có thể nhẹ hơn hoặc nặng hơn so với quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 Bộ luật hình sự năm 1999
có nhiều quy định mới hơn, đặc biệt trong cấu thành cơ bản, nhà làm luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt làm ranh giới giữa hành vi được coi là tội phạm với hành vi lừa đảo chỉ bị xử phạt hành chính, các tình tiết định khung hình phạt cũng được quy định cụ thể hơn trước, bỏ những tình tiết không phù hợp với lý luật và thực tiễn xét xử như: phạm tội có nhiều tình tiết quy định ở khoản 2 thì thuộc trường hợp ở khoản 3, có nhiều tình tiết ở khoản 3 thì thuộc trường hợp quy định ở
khoản 4 Bên cạnh đó, hình phạt bổ sung cũng được quy định ngay trong điều luật 1.2.2 Đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Đặc điểm nổi bật của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chính là sự gian dối của người phạm tội Hành vi chiếm đoạt tài sản mà người chủ tài sản không biết tài sản của mình đang bị chiếm đoạt
Người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt một cách rất tinh vi Đặc biệt là những trường hợp người phạm tội sử dụng các thành tựu khoa học tiên tiến của công nghệ thông tin và mạng Internet hoặc các công nghệ hiện đại khác…, để thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản: làm thẻ tín dụng giả, sử dụng thẻ tín dụng giả để rút tiền ở các máy trả tiền tự động của các ngân hàng hoặc mua hàng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14hóa, hoặc người phạm tội sử dụng công nghệ cao để tẩy xóa, sửa chữa mệnh giá của séc, của ngân phiếu…
Về địa điểm phạm tội rất khó xác định vì người phạm tội có thể ở bất cứ nơi nào, bất kỳ thời điểm nào cũng thực hiện được hành vi phạm tội
Công tác điều tra phát hiện cũng khó khăn khi người phạm tội có thể dễ dàng và nhanh chóng xóa bỏ dấu vết của tội phạm
Chủ thể của tội này là những chủ thể thỏa những quy định là chủ thể của luật hình sự, tuy nhiên chủ thể thực hiện tội phạm này phần lớn là người có trình độ nhất định
1.3 Nguyên nhân của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Theo góc độ tội phạm học thì tình hình tội phạm ở Việt Nam nói chung trong giai đoạn hiện nay do nhiều nguyên nhân và điều kiện khác nhau gây ra:
- Thiếu hệ thống pháp luật đồng bộ phù hợp với hoàn cảnh mới của đất nước
- Các cơ quan bảo vệ pháp luật còn thiếu đồng bộ kiên quyết và nghiêm khắc trong đấu tranh phòng chống tội phạm
- Công tác tuyên truyền giáo dục, ý thức pháp luật cho công dân còn nhiều hạn chế, phiến diện
Ở nước ta hiện nay, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn ra phổ biến, và theo xu hướng ngày càng gia tăng, thủ đoạn thực hiện ngày càng tinh vi là do quy định của pháp luật chưa chặt chẽ, do sự quản lý lỏng lẽo của cơ quan Nhà nước
Sự nhẹ dạ cả tin trước những mánh khóe của bọn tội phạm khiến chúng ta khó phát hiện được đó là sự giả dối, tin nhầm và giao tài sản cho chúng để rồi sau đó mới phát hiện là mình đã bị lừa
Ví dụ: Công an quận Cầu Giấy - Hà Nội vừa bắt Nguyễn Minh Phòng (sinh năm 1972) về hành vi lừa đảo xuất khẩu lao động Lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của một số người muốn đổi đời nhanh chóng, tên này đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá 42.000 USD Ngày 2/8, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức
vụ, Công an quận Cầu Giấy xác minh làm rõ một vụ lừa đảo xuất khẩu lao động đi nước ngoài, do Nguyễn Minh Phòng, ở 58 Thành Trung, Cửa Bắc, Nam Định chủ mưu Nguyễn Minh Phòng là cán bộ Công ty cổ phần thương mại và chuyển giao Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15công nghệ Việt Nam, có trụ sở ở 118 Nguyễn Phong Sắc, Hà Nội Công ty này không có chức năng xuất khẩu lao động đi nước ngoài, nhưng Phòng đã lừa thu tiền của nhiều người ở các tỉnh thành phố để lo xuất khẩu lao động, với tổng số tiền là
42.000 USD
Ngoài ra, khi nói đến các yếu tố để kích thích tội phạm lừa đảo tăng ngày một nhiều thì không thể không nói đến lòng tham của con người, đây là một yếu tố góp phần không nhỏ để kích thích tội phạm lừa đảo gia tăng như hiện nay, bọn tội phạm
đã lợi dụng vào lòng tham của con người mà đưa ra những khoản lợi nhuận cao, sau
đó chúng giở trò chiếm đoạt
Mặt khác, phần đông bọn tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là những người mưu mô, xảo huyệt, lợi dụng những chính sách ưu đãi của Nhà nước (như trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng) bọn chúng đã cấu kết với nhiều cơ quan, tổ chức khác để chiếm đoạt tiền hoàn thuế của Nhà nước (Lợi dụng chính sách của nhà nước cho các doanh nghiệp trong nước hoàn thuế giá trị gia tăng khi xuất khẩu hải sản Đầu tháng 11/2000, Trí cùng Nguyễn Tiến Dũng bàn bạc lập khống hồ sơ xuất khẩu hải sản để chiếm đoạt tiền hoàn thuế của Nhà nước Theo đó, Trí sẽ tìm đơn vị
cơ quan Nhà nước có chức năng xuất nhập khẩu hải sản tại Thành phố Hồ Chí Minh
để làm thủ tục ký kết hợp đồng và xuất hóa đơn bán hải sản cho khách hàng Trung Quốc Doanh nghiệp Kiều Phương sẽ làm các thủ tục để hợp thức hóa hàng hải sản đầu vào cho doanh nghiệp Nhà nước khi xuất khẩu Về phía mình, Dũng sẽ lo liên
hệ cơ quan chức năng và hải quan cửa khẩu Lạng Sơn để chứng thực hàng hóa xuất khẩu, từ đó lập hồ sơ xin hoàn thuế Bù lại, Dũng được hưởng từ 3,1 đến 4,1% trên giá trị hàng được hải quan chứng thực xuất.Thực hiện kế hoạch trên, doanh nghiệp Kiều Phương (nguyên phó giám đốc công ty) đã móc nối với cán bộ Công ty Xuất nhập khẩu nông lâm sản Thành phố Hồ Chí Minh (Agrimexco) để ký hợp đồng
"bán cá mực khô" khống Trí cùng Dũng tiếp tục thỏa thuận với Bế Hồng Cường (nhân viên bưu điện Đồng Đăng, Lạng Sơn) lập 6 hợp đồng mua bán với khách hàng Trung Quốc và thực hiện các thủ tục cần thiết để Hải quan cửa khẩu Tân Thanh, Hữu Nghị tiếp nhận hồ sơ xuất khẩu, xác nhận hàng thực xuất cho Agrimexco Từ đó, Lê Thái Đông cùng cấp dưới tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ, lập hồ
sơ xin hoàn thuế Với 6 hợp đồng mua bán khống, Dương Quang Trí cùng đồng phạm đã chiếm đoạt trên 6 tỷ đồng của Nhà nước)
Nguyên nhân lớn nhất có thể nói là bắt nguồn từ môi trường xã hội, giáo dục và gia đình, những đứa trẻ thiếu sự quan tâm của gia đình, thụ hưởng nền giáo dục mà
ở nền giáo dục đó không chú trọng tính nhân nghĩa, không chú trọng đạo lý, rồi khi Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16lớn lên chúng lại bước ra xã hội đang chuyển biến với nhiều tệ nạn, chú trọng vật chất, ích kỷ, thiếu tính kỷ luật
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng công nghệ cao phát triển
Công tác bảo mật, đảm bảo an ninh, an toàn mạng của nhiều trang web, báo điện
tử, cơ sở dữ liệu của một số lĩnh vực kinh tế quan trọng chưa được quan tâm đầu tư đúng mức nên bị tấn công hacker Năm vừa qua, virus đã làm hỏng hệ điều hành của rất nhiều máy tính, sự lây lan virus chủ yếu qua USB và email Virus gia tăng dẫn đến việc phòng chống khó khăn hơn, nhiều nạn nhân mất mát thông tin cá nhân
và bị thiệt hại về kinh tế Đó là chưa kể tình trạng sử dụng thư điện tử nặc danh hoặc dùng điện thoại nhắn tin đe dọa và làm xáo trộn cuộc sống của người dân cũng đang xảy ra khá phổ biến
1.4 Hậu quả do hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây ra
Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt Tài sản mất kéo theo gia đình ly tán, trật tự xã hội mất trạng ổn định Không những thế mà nó còn gây hoang mang cho nhân dân, trật tự quản lý kinh tế mất ổn định, và niềm tin của nhân dân vào sự quản lý của Nhà nước
bị giảm sút
1.5 Sơ lược lịch sử các quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Dân tộc ta trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã để lại cho thế hệ sau nhiều di sản quý báu Trong những di sản đó có những thành tựu và kinh nghiệm lập pháp hình sự, đó là một trong những di sản quý báu nhất đầy tính sáng tạo, mang tính đa dạng và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam
Đó cũng chính là cơ sở khách quan góp phần làm cho pháp luật hình sự Việt Nam không ngừng được hoàn thiện
Trải qua nhiều thời kỳ, pháp luật hình sự Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của pháp luật phong kiến Trung Hoa
Pháp luật hình sự thời kỳ nhà Ngô, nhà Đinh, tiền Lê không được ban hành nhiều Chủ yếu là tùy ý hay do các viên quan đứng đầu khu vực
Đến thời Lý, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ là một phần nhỏ trong pháp luật hình sự thời kỳ này Chủ yếu được quy định chung trong phần bảo vệ trật tự pháp luật, góp phần duy trì trật tự xã hội lúc bấy giờ
Đến thời vua Lê Thánh Tông, pháp luật hình sự đã bước thêm một bước phát triển mới với sự ra đời của Bộ luật Hồng Đức nhưng Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định chung chung không nêu cụ thể Như được quy định ở quyển IV Chương đạo tặc, như ở Điều 436: Những kẻ gian phi, giảo hoạt trong hương thân Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17đều bị đồ làm khao đinh Nếu chúng còn chiếm đoạt tiền của, đồ vật của người khác thì bị xử nặng thêm một bực, đền gấp hai
Ngoài ra, còn được quy định ở quyển V Chương trá ngụy, chủ yếu là các tội giả mạo Như ở Điều 523: Ai làm vàng bạc giả, là đồ dùng bằng vàng bạc giả để bán thì
xử tội đồ Sung công vật bán đó Điều 535: Người làm giả mạo giấy tờ công hay tư (như văn khế, khoán ước, sổ sách) thêm bớt dối trá để lấy tiền, lấy thưởng hay để tránh việc bị tịch thu và bồi thường thì xử theo tội ăn trộm, tội nhẹ thì được giảm Đến năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, lên ngôi vua Vua giao cho Tiền Quân Bắc thành tổng trấn Nguyễn Văn Thành biên soạn Hoàng Việt luật lệ đến năm
1811 thì hoàn thành Tại quyển 8: Hộ luật, phần Tiền trái (phí dụng thọ kí tài sản, hay còn gọi là đem tài sản người ta gửi tiêu xài): Phàm nhận cho người ta kí thác của cải, xéc sản mà tự tiện đem tiêu xài, nhưng còn có tâm đền bù lại thì chẳng phải
là người mất hết lương tâm; cho nên bị tội theo tang vật, giảm một bực Nếu nói láo
là súc vật chết, tiền của mất là lừa đảo mà giấu đi thì có tâm ăn trộm vậy Tội này
xử theo luật ăn trộm Mút tội là 100 trượng, đồ 3 năm, miễn xâm chữ và truy thu vật trả chủ
Đến thời Pháp thuộc, pháp luật hình sự Việt Nam lại chịu ảnh hưởng nặng nề của pháp luật hình sự Pháp Ở Nam Kỳ thì áp dụng Bộ luật hình sự Hình luật canh cải Ở Bắc Kỳ thì áp dụng luật hình An Nam Ở Trung Kỳ thì vẫn áp dụng Hoàng Việt hình luật
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, tại kỳ họp thứ 9, Quốc Hội khóa VII đã thông qua toàn văn Bộ luật hình sự 1985, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
1986, đây chính là Bộ luật hình sự đầu tiên kể từ khi đất nước thống nhất Thời kỳ này, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định trong hai chương Đó là tại Điều
134 Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và tại Điều 157 Chương VI: Các tội xâm phạm sở hữu của công dân
Qua 15 năm thực hiện, Bộ luật hình sự năm 1985 đã góp phần không nhỏ vào những thành công chung của đất nước, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 đã thay thế Bộ luật hình sự 1985 trên cơ sở
kế thừa và phát huy những nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nước ta Bộ luật hình sự năm 1999 đã nhập hai Chương của Bộ luật hình sự năm 1985 ( Chương IV: các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và Chương VI: các tội xâm phạm sở hữu công dân) thành một Chương chung là các tội xâm phạm sở hữu Theo đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Chương XIV: Các tội xâm phạm sở hữu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 181.6 Quy định của một số nước trên thế giới về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản a) Nhật Bản
Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định thành từng Chương riêng biệt để nói về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Cụ thể: Chương XXXVII nói về: “các tội lừa đảo và cưỡng đoạt”, Chương XXXVIII nói về: “các tội về chiếm đoạt tài sản”
Điều 248 Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định trường hợp được hiểu là lừa đảo:
“người nào bằng cách lợi dụng sự thiếu hiểu biết hoặc kinh nghiệm của trẻ em hoặc nhược điểm về tinh thần của người khác mà đạt được sự giao nộp tài sản của người đó hoặc kiếm được một cách bất hợp pháp một khoản lợi kinh tế hoặc buộc người thứ ba kiếm được một cách bất hợp pháp một khoản lợi kinh tế thì bị phạt tù
có lao động bắt buộc đến mười năm” Ở đây, không có xuất hiện cụm từ “thủ đoạn
gian dối” như trong Bộ luật hình sự Việt Nam mà thay vào đó là “lợi dụng sự thiếu hiểu biết” của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản để có được tài sản một cách bất hợp pháp Vậy, thế nào là “lợi dụng sự thiếu hiểu biết” ? Có thể hiểu “sự thiếu hiểu biết” ở đây là thiếu hiểu biết về thông tin hay thiếu hiểu biết về thủ đoạn gian dối chăng? Ở đây, giữa Bộ luật Hình sự Nhật Bản và Bộ luật hình sự Việt Nam có
sự tương đồng ở chỗ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tự nguyện giao nộp tài sản cho người thực hiện hành vi phạm tội mà họ không biết là mình đã bị lừa đảo
Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định “các tội về chiếm đoạt tài sản” thành một chương riêng
Điều 252 Chiếm đoạt tài sản của người khác
1 Người nào chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác đang thuộc sự trông nôm của mình thì bị phạt tù có lao động bắt buộc đến năm năm
2 Tương tự như vậy áp dụng đối với người chiếm giữ trái phép thậm chí là tài sản của mình nhưng khi đã có lệnh của công chức giao nộp tài sản để trông nôm
Trong trường hợp này, không có nói đến “lợi dụng sự thiếu hiểu biết” hay “thủ đoạn gian dối”
Như vậy, Bộ luật hình sự Nhật Bản có sự phân chia giữa hai tội danh là lừa đảo
và chiếm đoạt tài sản Vì giữa hai tội danh này được quy định ở hai chương khác biệt và khung hình phạt cũng có sự phân chia rõ ràng Sự phân biệt này làm cho Bộ luật hình sự Nhật Bản và Bộ luật hình sự Việt Nam không giống nhau, ở Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định trong chung trong Chương các tội xâm phạm sở hữu Sự khác biệt này cũng là do đặc
điểm kinh tế, chính trị, chính sách của từng Quốc gia trong từng thời kỳ
b) Thụy Điển
Bộ luật hình sự Thụy Điển thì quy định thành một chương cụ thể như sau:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19Chương IX: Tội lừa đảo và các tội gian dối khác
Điều 1 quy định:
Người nào bằng mánh khóe lừa gạt, khiến người khác làm hoặc không làm điều
gì có lợi cho người phạm tội và có hại cho người bị hại hoặc người mà người bị hại đại diện thì bị phạt tù đến hai năm về tội lừa đảo
Người nào đưa ra thông tin sai sự thật hoặc không đầy đủ, thay đổi nội dung của một chương trình, ghi lại hoặc bằng các thủ đoạn khác gây ảnh hưởng một cách bất hợp pháp đến kết quả của quy trình thông tin đã được tự động hóa hoặc bất kỳ quy trình tự động nào khác nhằm mang lại mối lợi cho người phạm tội và gây thiệt hại cho người khác, thì cũng bị kết án vô tội lừa đảo
Ở đây, có điểm tương đồng với quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam "Người nào bằng mánh khóe", "đưa ra thông tin sai sự thật" tức là đồng nghĩa với việc dùng thủ đoạn gian dối Bộ luật hình sự Thụy Điển còn quy định thêm ở Điều 2 và Điều
3 Điều 2 quy định: Nếu xét mức độ thiệt hại và các tình tiết khác mà tội phạm nói
tại Điều 1 được coi là ít nghiêm trọng thì bị phạt tù đến sáu tháng về tội có hành vi gian dối Điều 3 quy định: Phạm tội nói tại Điều 1 trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ sáu tháng đến sáu năm Để xác định tính chất nghiêm trọng của tội phạm cần đặc biệt xem xét liệu người phạm tội có lạm dụng tín nhiệm của người có chức vụ để trục lợi hoặc có sử dụng giấy tờ giả mạo hoặc sổ sách kế toán gian lận hoặc vì lý do khác mà tội phạm được coi là có tính chất đặc biệt nguy hiểm; trục lợi với giá trị lớn hoặc gây thiệt hại lớn hay không
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20CHƯƠNG 2 TỘI PHẠM LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.1 Khái niệm về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
Theo Điều 139 của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999:
1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị tài sản từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính
về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 212.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
2.2.1 Dấu hiệu về mặt khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị hành vi phạm tội xâm hại (gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại) Khách thể của tội phạm là cơ sở để đánh giá đúng đắn tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Khách thể càng quan trọng, ảnh hưởng càng lớn đến lợi ích chung cũng như lợi ích và sự tồn tại của Nhà nước thì tội phạm xâm hại khách thể đó càng nguy hiểm
Cũng như các tội xâm phạm sở hữu khác, khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại, gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu mà không xâm phạm đến quan hệ nhân thân, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản Bên cạnh đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn tác động xấu đến trật tự an toàn
xã hội Đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt
Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác thì tùy trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải
bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Cũng cần lưu ý rằng, cũng như khách thể của các tội xâm phạm sở hữu khác, khách thể của tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản, nhưng không có nghĩa là hành vi phạm tội phải xâm phạm đầy đủ ba quyền năng của quyền sở hữu đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt mới cấu thành tội xâm phạm sở hữu mà chỉ cần xâm phạm một trong những quyền năng đó thì cũng đủ cấu thành hành vi của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
2.2.2 Dấu hiệu về mặt chủ thể của tội phạm
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm cũng tương tự như đối với tội xâm phạm sở hữu khác Tuy nhiên, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự, vì khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự là tội phạm ít nghiêm trọng và khoản 2 Điều 139
Bộ luật hình sự là tội phạm nghiêm trọng, mà theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự thì người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần chú ý độ tuổi của người phạm tội và các tình tiết định khung hình phạt Nếu người phạm tội thuộc trường hợp quy đinh tại khoản 3 và khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự thì chỉ cần xác định người phạm tội đủ 14 tuổi là đã phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự
Ngoài ra, có một số chủ thể còn có thêm những đặc điểm nhất định về bản thân như có đặc điểm liên quan đến chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp, tính chất công việc…gọi là chủ thể đặc biệt
Trong trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội cùng loại (đều là trộm cắp tài sản; đều là lừa đảo chiếm đoạt tài sản ) nhưng tài sản bị xâm phạm là tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân, thì việc truy cứu trách nhiệm hình
sự được thực hiện như sau:
a) Nếu tất cả các hành vi phạm tội này đều được thực hiện từ ngày 1-7-2000 trở
đi (thời điểm có hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 1999), thì người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo quy định của BLHS
Ví dụ: Ngày 25-8-2000, A trộm cắp tài sản của B trị giá 10 triệu đồng Ngày 5-9-2000, A trộm cắp tài sản của Sở X trị giá 20 triệu đồng Trong trường hợp này nếu căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 30 triệu đồng, thì A phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 138 BLHS Nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là từ 50 triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng hoặc tổng giá trị tài sản
bị chiếm đoạt vẫn là 30 triệu đồng, nhưng có một trong những tình tiết khác định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS, thì A phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 138 BLHS
b) Nếu trong các hành vi phạm tội này, có hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 1-7-2000, có hành vi phạm tội được thực hiện từ ngày 1-7-2000 trở đi, thì người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo quy định của BLHS Tuy nhiên, khi xét xử các Toà án cần xem xét đến quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 (sau đây viết tắt là BLHS 1985) về tội phạm tương ứng để nếu theo quy định của Điều 7 BLHS mà BLHS 1985 có quy định khác có lợi hơn cho người phạm tội thì áp dụng tinh thần quy định đó khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội
c) Nếu tất cả các hành vi phạm tội này đều được thực hiện trước ngày 1-7-2000, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện như sau:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23c.1) Theo khoản 1 của điều luật tương ứng của BLHS, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 1 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu và theo BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân
Ví dụ: Tháng 6-1999 A phạm tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 5 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 132 BLHS 1985 Tháng 10-1999 A phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trị giá 10 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 155 BLHS 1985 Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 15 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS c.2) Theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân của BLHS 1985, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với từng tội cần chú ý để khi tổng hợp hình phạt thì hình phạt chung không được vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 của Điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu
Ví dụ: Tháng 10-1999 Cà phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 40 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 134 BLHS 1985 Tháng 2-2000, Cà phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân trị giá 40 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều
157 BLHS 1985 Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 80 triệu đồng, thuộc điểm e khoản 2 Điều 139 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều
7 BLHS, thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Cà theo khoản 1 Điều 134 và theo khoản 1 Điều 157 BLHS 1985
c.3) Theo khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu và theo BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân
Ví dụ: Tháng 5-1999 M phạm tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 80 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 132 BLHS 1985 Tháng 8-1999 M lại phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trị giá 100 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 155 BLHS 1985 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 180 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với M về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều
138 BLHS
c.4) Theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân của BLHS 1985, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với từng tội, cần chú ý để khi tổng hợp hình phạt thì hình phạt chung không vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu
Ví dụ: Tháng 3-1999, P phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 120 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 134 BLHS 1985 Tháng 7-1999, P lại phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân trị giá 100 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 157 BLHS 1985 Trong trường hợp này, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là
220 triệu đồng thuộc điểm a khoản 3 Điều 139 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 BLHS, thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P theo khoản 2 Điều 134 và theo khoản 2 Điều 157 BLHS 1985
c.5) Theo khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS, nếu tính tổng giá trị tài sản chiếm đoạt thuộc khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu và theo BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân hoặc ngược lại
Ví dụ : Tháng 1-1999, D trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 10 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 132 BLHS 1985 Tháng 9-1999, D lại trộm cắp tài sản của công dân trị giá 90 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 155 BLHS 1985 Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 100 triệu đồng thuộc điểm e khoản 2 Điều
138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS
c.6) Theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân của BLHS 1985 (hoặc ngược lại) nếu tổng giá trị tài sản chiếm đoạt thuộc khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với từng tội, cần chú ý để khi tổng hợp Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25hình phạt thì hình phạt chung không vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm
sở hữu
Ví dụ : Tháng 12- 1998 Cá phạm tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 30 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 132 BLHS 1985 Tháng 3-1999 Cá lại phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trị giá 220 triệu đồng Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 250 triệu đồng, thuộc vào điểm a khoản 3 Điều 138 BLHS; do
đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 BLHS thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Cá theo khoản 1 Điều 132 và khoản 2 Điều 155 BLHS 1985
c.7) Theo khoản 4 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm
sở hữu trong trường hợp các hành vi phạm tội theo quy định của BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 và khoản 3 hoặc khoản 1 và khoản 3 của hai điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu
xã hội chủ nghĩa và tội xâm phạm sở hữu của công dân, nếu không thuộc trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục c.8 Mục c này
Trong trường hợp này khi quyết định hình phạt cần chú ý:
Chỉ xử phạt người phạm tội mức án tù có thời hạn nếu truy cứu trách nhiệm hình
sự về hai tội của hai điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và tội xâm phạm sở hữu của công dân, thì theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt chỉ có thể xử phạt người phạm tội mức án cao nhất là tù có thời hạn, nhưng nếu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm sở hữu theo khoản 4 của điều luật tương ứng của BLHS, thì theo tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải xử phạt người phạm tội mức án tù chung thân
Chỉ xử phạt người phạm tội mức án tù chung thân nếu truy cứu trách nhiệm hình
sự về hai tội của hai điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và tội xâm phạm sở hữu của công dân, thì theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt chỉ có thể xử phạt người phạm tội mức án cao nhất là tù chung thân, nhưng nếu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm sở hữu theo khoản 4 của điều luật tương ứng của BLHS, thì theo tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải xử phạt người
phạm tội mức án tử hình
c.8) Trường hợp các hành vi phạm tội mà theo quy định của BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 và khoản 3 hoặc khoản 1 và khoản 3 của hai điều luật tương ứng quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội được thực hiện tương tự như hướng dẫn tại các tiểu mục c.5 và c.6 Mục c này Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 262.2.3 Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm
Tổng hợp tất cả những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan gọi là mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm bao gồm các biểu hiện: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả và các điều kiện bên ngoài của tội phạm như công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm….Bất cứ tội phạm nào khi được thực hiện cũng diễn ra và tồn tại các yếu tố ấy và tổng hợp các yếu tố đó tạo thành mặt khách quan của tội phạm Không có mặt khách quan thì không có tội phạm xảy ra dù các mặt khác của tội phạm đã hội đủ
Hành vi khách quan
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành tội khi thỏa mãn:
- Giá trị tài sản mà người có hành vi chiếm đoạt phải từ năm trăm nghìn đồng trở lên
- Trường hợp dưới năm trăm nghìn đồng thì phải thỏa mãn một trong các yếu tố sau:
- Gây hậu quả nghiêm trọng
- Đã bị xử phạt hành chính
- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
- Người phạm tội đã dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Thủ đoạn gian dối là mọi biện pháp thể hiện sai nội dung sự thật, khiến cho người chủ sở hữu hay người quản lý tài sản giao tài sản cho người phạm tội (hoặc một người nào khác có liên quan trong tội phạm) mà tin chắc rằng mình giao tài sản cho đúng người Theo quy định trên thì hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng sự chiếm đoạt được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối Giữa hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: hành vi gian dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi gian dối Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ nào của người phạm tội lại không được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi vì vậy không thể coi thủ đoạn phạm tội là một hành vi khách quan được mà thủ đoạn phạm tội chính là phương thức để đạt mục đích và biểu hiện của thủ đoạn gian dối lại bao gồm nhiều hành vi khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà người phạm tội thực hiện hành vi đó nhằm đánh lừa người khác
Ví dụ: K nói dối với H là về quê thăm mẹ bị ốm, H tin và đưa xe máy cho K về quê thăm mẹ, nhưng sau khi có xe, K đem ra tiệm cầm đồ đặt lấy 10.000.000 đồng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27rồi dùng số tiền này cá độ bóng đá thua hết Nhưng trong một hoàn cảnh khác, K không nói dối với H là về quê thăm mẹ bị ốm mà lại nói dối với H là mượn xe đi sinh nhật bạn rồi đem đặt lấy tiền cá độ bóng đá thua hết
Như vậy, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà người phạm tội có hành
vi cụ thể nào để đánh lừa được người khác, thủ đoạn là do người phạm tội lựa chọn sao cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin mà giao tài sản cho người phạm tội Để lừa được chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, người phạm tội có rất nhiều cách khác nhau, có thể bằng lời nói dối, có thể giả mạo giấy tờ hoặc giả danh người
có chức vụ quyền hạn, giả danh các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội để thông qua việc ký kết hợp đồng…
Trong thực tiễn xét xử còn nhiều trường hợp cũng có hành vi là thủ đoạn gian dối, cũng có hành vi chiếm đoạt, nhưng nếu hành vi này đã được Bộ luật hình sự quy định thành tội phạm độc lập thì cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà bị truy cứu về tội phạm tương ứng khác.Chẳng hạn, hành vi gian dối trong việc cân, đong, đo, điếm, tính gian, tính tráo loại hàng…để gây thiệt hại cho khách hàng là hành vi phạm tội lừa dối khách hàng quy định tại Điều 162 Bộ luật hình sự; hành vi làm giả, buôn bán hàng giả để đánh lừa người tiêu dùng là hành vi phạm tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả được quy định tại các Điều 156, 157 và 158 Bộ luật hình sự…
Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trong trường hợp thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà tùy trường hợp cụ thể, thủ đoạn gian dối là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc các tội phạm chiếm tương ứng khác
Ví dụ: M vay của E 20 lượng vàng 9999 có viết giấy biên nhận với lãi suất 1%/tháng, nhưng sau đó M đã tìm cách mượn lại giấy biên nhận và tẩy xóa sửa lại thành 20 chỉ vàng (2 lượng) để chiếm đoạt 18 lượng vàng của E
Về phía người bị hại (người bị lừa), là mất cảnh giác, nhẹ dạ cả tin, tuy nhiên cũng không ít người do tham lam nên mới tạo điều kiện cho người phạm tội lừa được
A là nhân viên nhà hàng đã đổi một chiếc xe cup 70 lấy một món đồ cổ và theo như lời A, thì việc trao đổi đó là làm cho A có lời vì chiếc xe cup 70 mà A đã mua chỉ có 3.000.000 đồng còn món đồ cổ có giá trị tới 5.000.000 đồng, nhưng khi đem
ra tiệm kiểm tra lại thì mới biết đó là đồ giả
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28Khi bị lừa, người bị hại tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội và họ cho rằng việc giao tài sản cho người phạm tội như vậy là hoàn toàn hợp pháp Đây chính
là đặc điểm nổi bật của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Thực tiễn xét xử có một số trường hợp bị lừa nhưng người bị hại nhận thức được rằng, việc giao tài sản đó lại
là bất hợp pháp, thì người bị lừa có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi giao tài sản, điển hình như người giao tài sản phạm vào tội đưa hối lộ
Ví dụ: Vì muốn con mình được nhẹ tội, nên ông A đã tìm gặp ông B cán bộ điều tra và nhờ B lo dùm Tuy là cán bộ điều tra, nhưng ông B không có quyền hạn trách nhiệm gì về hành vi phạm tội của con ông A, nhưng ông B vẫn hứa sẽ giúp được con của ông A với điều kiện ông A phải đưa cho ông B 5.000.000 đồng Hành vi giao tiền cho ông B của ông A là hành vi đưa hối lộ, còn hành vi nhận tiền của ông
B vẫn là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Hậu quả
Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt Mặc dù ở khoản 1 của điều luật quy định rằng giá trị của tài sản bị chiếm đoạt từ 500.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 500.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện là gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết
án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không vì thế mà cho rằng, phải có thiệt hại về tài sản (người phạm tội chiếm đoạt được tài sản) thì mới cấu thành tội phạm Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 500.000 đồng là để
áp dụng trong những trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có giá trị không lớn như xe đạp cũ, quần áo, giầy dép, con gà, con vịt…Đối với những trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc rất lớn như ôtô, xe máy, máy tính xách tay…hoặc tài sản khác có giá trị hàng chục triệu đồng trở lên, thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản vẫn bị coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng là trường hợp phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội thì tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể mới có thể xem xét được
Nếu người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 500.000 đồng, nhưng chưa chiếm đoạt được, thì chưa cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì
dù có chiếm đoạt được cũng chưa cấu thành tội phạm huống hồ chưa chiếm đoạt được tài sản Tuy nhiên, cũng như các trường hợp phạm tội mà điều luật quy định giá trị tài sản là dấu hiệu định tội thì trong trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 500.000 đồng và chưa chiếm đoạt được nhưng lại thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt nhưng chưa được xóa án tích, thì đã cấu thành tội phạm chưa? Về nguyên tắc (trừ trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, vì hậu quả nghiêm trọng là hậu quả của việc mất 500.000 đồng nhưng chưa mất thì không thể nói là gây hậu quả nghiêm trọng được), còn hai trường hợp đã bị
xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, mà chưa chiếm đoạt được tài sản thì hành vi của người phạm tội cũng đã cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản rồi, nhưng là cấu thành tội phạm ở giai đoạn phạm tội chưa đạt còn nếu mới chuẩn
bị phạm tội thì chưa cấu thành tội phạm Tuy nhiên, về đường lối xử lý thì tùy vào những trường hợp cụ thể mà quyết định việc có truy cứu trách nhiệm người phạm tội hay không
Giữa hành vi khách quan và hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc phải có
để cấu thành tội phạm mặc dù dấu hiệu này không được thể hiện trong cấu thành tội phạm Về nguyên tắc, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình nếu giữa hành vi đó và hậu quả của tội phạm có mối quan hệ nhân quả Chính vì vậy, khi xác định tội phạm ngoài việc xác định hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi khách quan, chúng ta còn phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa
chúng
Các hình thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản phổ biến ở nước ta
a) Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh tế
a1) Hình thức huy động vốn để chiếm đoạt tài sản
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và công nghệ thông tin thì lại xuất hiện một loại tội phạm mới Đó là loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng Internet Thông qua hình thức huy động vốn, bọn tội phạm lừa đảo thường đánh vào tâm lý hám lợi của nhiều người đưa ra một tỷ lệ lãi suất hấp dẫn hơn so với mức lãi suất của ngân hàng
Chiều ngày 8 tháng 11 năm 2007, Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản
lý kinh tế và chức vụ (C15, Bộ Công an) đã đồng loạt khởi tố, bắt tạm giam trong tập đoàn lừa tài chính đa cấp qua mạng tại các địa chỉ colonyinvest.net; callysinvest.com Trong một thời gian ngắn, tập đoàn này lừa đảo hơn 160 tỷ đồng của hơn 20.000 người Trong đó, chỉ tính riêng một mạng đã huy động được 25 tỷ đồng
Cơ quan điều tra C15 đã khởi tố 5 bị can về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
và bắt giữ 3 người trong đường dây này là Vũ Thị Thu Hằng (ở thành phố Hồ Chí Minh), Hoàng Thị Bây (42 tuổi, ở Trần Đăng Ninh, phường Hoàng Văn Thụ, thành Lạng Sơn), Nguyễn Văn Dân (34 tuổi, quê tại Hải Dương, hiện trú tại Đông Hưng Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30Thuận, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh) Các đối tượng này đã tham gia huy động vốn ảo qua trang web: www.callysinvest
Theo xác định ban đầu của cơ quan điều tra: Trong suốt thời gian qua, việc huy động vốn qua mạng ở một số địa chỉ website với lãi suất cực cao, tạo nên cơn sốt trong dư luận, nhiều người nghi hoặc về tính xác thực của hình thức huy động vốn khó tin này Những người trên đã tham gia huy động vốn tín dụng bằng ngoại tệ, theo hình thức đa cấp, hứa trả lãi suất rất cao Tuy nhiên, họ đã không xin phép của Ngân hàng nhà nước, không tuân thủ các quy định của Nhà nước về hoạt động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam
Hàng loạt website đã được tạo dựng để lừa đảo bằng cách huy động vốn tín dụng qua mạng, đó là các trang: www.colonyinvest.net ; www.callysinvest.com (đã bị sập)… Nhưng qua xác minh của Phòng chống tội phạm công nghệ cao, thuộc C15,
Bộ Công an, đó chỉ là những web ảo được dựng lên để lừa đảo người đầu tư Dù ngay sau khi nộp tiền vào tài khoản, trên mạng sẽ có tài khoản, điểm số đầu tư cho người tham gia Tuy nhiên, các số điện thoại ghi trên các trang này đều không thể liên lạc được Thủ đoạn của tập đoàn lừa này cũng rất tinh vi, bằng cách dựng lên các trang web có địa chỉ na ná với các web có thực, thuộc các tập đoàn tài chính lớn
có uy tín Chẳng hạn, www.colonyinvest.net thì trên thực tế có www.colonyinvest.com ; hoặc www.callysinvest.com thì trang website có trên thực
Theo thông tin quảng cáo trên một số website, Công ty C.I là một trong những nhà kinh doanh độc quyền của Forex và là Nhà quản lí quỹ đầu tư hàng đầu tại Mỹ
và có lượng giao dịch luôn vượt quá 300 triệu USD Nào là đây là tập đoàn kinh tế toàn cầu, chuyên đầu tư vào các lĩnh vực siêu lợi nhuận như sòng bạc ở Las Vegas, thế giới trò chơi Disney Land và thị trường tài chính ở các sàn London, New York, HongKong Do đầu tư vào những lĩnh vực siêu lợi nhuận nên việc huy động vốn
và trả lãi suất cao cho mọi người là đương nhiên Tuy nhiên, thực tế các thông tin trên đều không có căn cứ Một nhóm người ở TP Hồ Chí Minh tự xưng là “tập đoàn Colony” có trụ sở chính tại Mỹ cũng ra sức quảng cáo và không ít người đã tin lời đường mật, nộp tiền vào tài khoản của tập đoàn này
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 31Đứng đầu nhóm ở TP Hồ Chí Minh là Vũ Thị Thu Hằng, 31 tuổi, quê ở Thái Bình, hiện trú tại phường 17 quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, tự xưng là đại diện cao nhất của Công ty C.I từ Mỹ về để tổ chức mạng lưới công ty ở Việt Nam Hằng
đã tự bỏ kinh phí, cùng một số người khác tổ chức hẳn các cuộc hội thảo với quy
mô lớn tại Hà Nội, Bắc Ninh, Lạng Sơn để giới thiệu về chương trình huy động vốn theo kiểu đa cấp này Các cuộc hội thảo đó đã thu hút được rất nhiều người tham gia, tại Hà Nội có 1.500 người, tại Bắc Ninh cũng có đến 500 người tham gia Đến nay, 8 tỉnh thành trên cả Việt Nam có người tham gia đầu tư vào tập đoàn này Bằng thủ đoạn gửi tiền, quy ra điểm, 1 USD tương đương với một điểm và được ghi vào tài khoản Hằng là tổng đại lí, bán cho các đại lí tiếp theo đúng giá gốc, sau
đó các đại lí này phát triển và bán cho các đại lí cấp dưới (theo kiểu đa cấp) với giá tăng hơn (từ 16.000 đồng Việt Nam nâng thành 17.600 đồng cho mỗi điểm)
Các đại lý cấp dưới lại phát triển và bán tiếp cho đến cấp thứ 7 Điều mà những người tham gia đầu tư không nhận ra được chính là khi nộp tiền là nộp tiền mặt, nhưng khi quy ra điểm là điểm ảo trên mạng Lãi suất mà tập đoàn này đưa ra hấp dẫn đến mức khó từ chối, đó là từ 2,5 đến 3% mỗi ngày (tương đương với 80% đến 90% một tháng) Chính vì lãi suất cực kì hấp dẫn này nên dù đã được cảnh báo ngay trên chính trang web này rằng lãi suất cao thì rủi ro lớn, có thể không thu hồi được vốn hay giống như một canh bạc, nhưng người đầu tư vẫn ào ào nộp tiền Theo tính toán của rất nhiều nhà đầu tư, nếu đầu tư kiểu này, chỉ sau 1 tháng, họ lấy lại vốn và sau đó thì tiền lãi còn tăng lên hàng chục nghìn lần
Do vậy giao dịch trong mạng lưới dưới dạng tiền ảo ngày càng mở rộng và không rút tiền lãi hệ thống Công ty C.I Cho đến khi bị bắt, Vũ Thị Hằng khai nhận
đã thu được 25 tỷ đồng tiền huy động từ các đại lí Chị ta chẳng chuyển cho ai mà chỉ đút túi cá nhân Đấy là chưa kể một số đại lí cấp trên (nhưng sau Hằng) còn lợi dụng giữ lại cả tiền của người đầu tư để chiếm đoạt
Đối với Hoàng Thị Bây ở Lạng Sơn, khi cơ quan công an khám xét ôtô riêng, còn thu được hàng chục biên lai rút tiền qua thẻ ATM của ngân hàng Công thương Việt Nam Theo lời khai của Bây, toàn bộ số tiền trong tài khoản bị thu giữ là do những người đầu tư nộp vào, còn chị ta thì tha hồ rút ra chi tiêu
a2) Hình thức giả danh việt kiều
Ngày nay, việt kiều về nước đầu tư làm ăn, đầu tư sản xuất kính doanh góp phần xây dựng đất nước không còn là chuyện ít gặp Tuy nhiên, số người này rất ít Nhiều việt kiều lợi dụng chuyện này để kiếm tiền, lừa gạt đồng bào trong nước Dưới “mác” một thương gia giàu có ở nước ngoài về Việt Nam “làm ăn lớn”, ông Nguyễn Văn Trinh (42 tuổi, Việt kiều Pháp), Giám đốc Công ty TNHH Nguyễn Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32Nhân (đường Nguyễn Thái Bình, phường 4, quận Tân Bình, TP.HCM) đã lừa đảo nhiều người với số tiền lên đến hàng tỷ đồng
Công ty TNHH xuất nhập khẩu thương mại dịch vụ Nguyễn Nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mua bán, gia công, sửa chữa, chế tác nữ trang - vàng - bạc - đá quí, đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa Vốn điều lệ của công ty này là 1 tỷ đồng, trong đó ông Trần Văn Nhân góp 300 triệu (30%), bà Phan Thị Bích Thủy
700 triệu (70%) Trên giấy tờ là vậy nhưng thực tế mọi hoạt động của công ty này
do ông Trinh điều hành
Với cái mác Giám đốc Công ty vàng bạc, đá quí và Việt kiều, ông Trinh đã nhanh chóng tiếp cận, làm quen với nhiều người trong giới kinh doanh vàng bạc, đá quí ở TP.HCM và giở chiêu lừa bằng cách huy động vốn hoặc vay với lãi suất cao Khi chứng kiến cơ ngơi với nhiều tiện nghi sang trọng, bày biện bắt mắt và những hợp đồng béo bở do ông Trinh dàn dựng, nhiều người cả tin đã gom tiền bạc, thậm chí đi vay để đưa cho ông Trinh Hết tiền, nhiều người “nhiệt tình” đưa cả giấy tờ nhà cho ông Trinh mang đi thế chấp Đến thời điểm trả nợ, ông Trinh hẹn lần hẹn lữa rồi "xù" luôn
Trong số những nạn nhân của ông Trinh, bi đát nhất là anh Lê Văn D (ngụ ở đường Lê Văn Sỹ, phường 14, quận 3), cả tiền lẫn vợ đều về tay Giám đốc Trinh Đầu tháng 12/2005, ông Trinh tìm đến nhà anh D gạ bán hai chiếc nhẫn kim cương với giá 9.000USD Không bán được nhẫn, ông Trinh mượn anh D 6.000USD
và hào phóng… gửi lại hai chiếc nhẫn để làm tin Ông Trinh hẹn sáng hôm sau đi bán nhẫn để trả tiền cho D
Đúng hẹn, ông Trinh và một số người của công ty ông ta đến tiệm vàng Kim Loan (đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3) bán hai chiếc nhẫn và một đồng hồ hiệu Rolex với giá 13.000USD lấy tiền trả anh D nhưng 2 chiếc nhẫn và chiếc đồng hồ
mà ông Trinh bán 13.000USD chính là tài sản của một người khác (do ông ta lừa đảo chiếm đoạt trước đó), nên anh D tự dưng bị vạ lây, bị cơ quan điều tra Công an TP.HCM mời lên làm việc
Không chỉ có thế, trong những lần lui tới làm ăn, ông Trinh đã dụ dỗ vợ anh D theo ông ta, cùng toàn bộ tài sản mà anh D đã tích cóp được, gồm 48.100USD, 22 viên hột xoàn trị giá 35.000USD, một bộ hồ sơ giấy tờ nhà (mà sau đó ông Trinh đã đem đi thế chấp lấy 700 triệu đồng) Lấy hết tiền, cầm cố hết giấy tờ nhà, vợ anh D nghe theo lời xúi giục của ông Trinh một mực đòi ly dị để được chia tài sản, chia con
Nạn nhân của ông Trinh không chỉ có hàng chục người Việt cả tin mà còn cả người Pháp Bà Brigitte Ougier (Việt kiều Pháp), tố cáo ông Trinh đã lừa đảo chiếm Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 33đoạt của bà 1 đồng hồ Rolex và một số nữ trang trị giá hơn 21.000 euro Theo tố cáo của bà Ougier, khoảng đầu tháng 10/2005, người nhà của bà ở Việt Nam có căn nhà cần cho thuê Lúc đó, bà Brigitte Ougier đang ở Thụy Sĩ, được người nhà điện thoại cho biết ông Trinh đến hỏi thuê nhà
Ngày 25/10/2005, ngay sau khi bà Brigitte Ougier về Việt Nam, ông Trinh đã tìm gặp bà rồi cho địa chỉ Công ty TNHH Cát Vàng của ông tại phường 7, quận Tân Bình để bà liên hệ làm thủ tục cho thuê nhà
Ngày 26/10/2005, đến địa chỉ theo giới thiệu của ông Trinh, tại đây bà Brigitte Ougier được nghe ông ta ba hoa đủ thứ và được chứng kiến vàng bạc, nữ trang… trưng bày tại công ty nên cũng yên tâm Sau khi ông Trinh đồng ý thuê nhà, thấy trên tay bà Brigitte Ougier có đeo đồng hồ Rolex và một số nữ trang… ông Trinh gợi ý: “Có nhiều khách hàng muốn mua đồng hồ và nữ trang, nếu chị muốn bán thì
em giới thiệu”
Sẵn có đồng hồ và nữ trang, vì đang cần tiền, bà Brigitte Ougier tháo ra đưa cho ông Trinh nhờ bán Ông Trinh gói đồng hồ và toàn bộ nữ trang trị giá khoảng 21.000 euro rồi đưa cho bà một biên nhận mua hàng, đồng thời hẹn ba ngày sau sẽ thanh toán đủ tiền Tuy nhiên, đến hẹn thì ông Trinh… khất và liên tục khất hẹn hàng chục lần sau đó
Bà Brigitte Ougier ra công an phường hỏi mới té ngửa là ông Trinh cũng đang thiếu nợ nhiều người, công ty của ông hầu như không hoạt động gì và bóng dáng ông Giám đốc mác Việt kiều cũng "biệt tăm" Sau đó bà Brigitte Ougier đã tố cáo
vụ việc đến Công an TP.HCM Khi bị công an triệu tập thẩm vấn, ông Trinh đã trả cho bà Brigitte Ougier được 6.000 euro, còn 15.000 euro thì "xù" cho đến nay…
a3) Hình thức lừa đảo trong vay vốn ngân hàng
Ngày 25-9, Công an Hà Nội bắt Nguyễn Minh Tân, 51 tuổi, ở phố Trần Quang Khải, là Giám đốc Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Hồng Hà, về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tân là chủ mưu cùng ba đối tượng khác, trong đó có Trần Thị Oanh, 30 tuổi, quê ở Hưng Yên, làm giả các văn bản của các ngân hàng gửi các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn Cơ quan công an làm rõ, các đối tượng này đã hướng dẫn Doanh nghiệp tư nhân Hồng Hưng, đưa cho chúng 200 triệu đồng, sẽ được vay ngân hàng
200 tỷ đồng để xây dựng Dự án biệt thự ở Lâm Ðồng
Tương tự như vậy, một doanh nghiệp khác ở TP Hồ Chí Minh cũng đưa cho chúng 200 triệu đồng để được vay 60 tỷ đồng Ngoài ra còn nhiều doanh nghiệp khác cũng bị lừa như vậy
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34b) Trong các hợp đồng dân sự
Trong lĩnh vực này, bọn tội phạm thường lợi dụng vào sự quen biết, tin cậy sau
đó dùng thủ đoạn để lừa gạt nhằm chiếm đoạt tài sản
Ngày 27/2, Tòa sơ thẩm TAND TP Cần Thơ đã đưa ra xét xử vụ án "Lừa đảo, lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tải sản" đối với bị cáo Huỳnh Thị Phương Lan (41 tuổi, ngụ tại 75 Hai Bà Trưng, phường Tân An, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ) Tòa tuyên phạt bị cáo Phương Lan, 18 năm tù giam về tội lừa đảo, 12 năm tù giam về tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tổng hợp hình phạt là 30 tù giam
Theo cáo trạng của Viện KSND TP Cần Thơ, từ năm 1995, Huỳnh Thị Phương Lan đã dựa vào sự quen biết và tin tưởng của nhiều người để đứng ra tổ chức chơi hụi và làm chủ của nhiều dây hụi, như: hụi năm, hụi tháng, hụi tuần, hụi ngày… Mỗi dây hụi từ 100.000 đến 5.000.000 đồng
Đến đầu năm 2004, do Lan sử dụng tiền đóng hụi của các hụi viên để chi xài cá nhân, mua sắm, đi du lịch trong và ngoài nước nên không còn khả năng thanh toán cho các hụi viên khi họ đến kỳ hốt hụi
Từ đó, Lan nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tiền của họ, bằng cách Lan tự đặt ra dây hụi khống (không có thật) để huy động hụi viên tham gia
Đồng thời, Lan còn giả mạo tên của nhiều người gồm các hụi viên và cả những người không tham gia chơi hụi, không rõ địa chỉ để bán các phần hụi không có thật
để chiếm đoạt tiền của 15 người với số tiền gần 2 tỉ đồng Ngoài ra, Lan còn lợi dụng sự tin tưởng của nhiều người để vay và chiếm đoạt trên 1,3 tỉ đồng rồi bỏ trốn Đến ngày 2/12/2006, Huỳnh Thị Phương Lan bị bắt theo lệnh truy nã của Công
an TP Cần Thơ và thừa nhận hành vi phạm tội của mình
c) Trong lĩnh vực thuế
Trong hai năm qua, cơ quan công an đã phối hợp với cơ quan thuế khám phá và kết thúc điều tra 1.013 vụ trong tổng số 1.259 vụ phát hiện và đã xử lý 1.339 đối tượng trong tổng số 1.579 đối tượng vi phạm trong lĩnh vực thuế Riêng xử lý hình
sự là 133 vụ với 149 đối tượng, xử lý hành chính là 947 vụ với 1.141 đối tượng
Truy thu về cho Nhà nước số tiền trên 110,3 tỉ đồng (Trích báo cáo sơ kết của
Tổng cục Thuế và Tổng cục Cảnh sát tại hội nghị)
Hàng loạt vụ "doanh nghiệp mất tích" sau khi đã mua những hóa đơn "đỏ" của
cơ quan thuế và tham gia các giao dịch "ảo" để rút tiền Nhà nước thông qua đường
"hoàn thuế" Theo đại tá Lê Minh Hùng, Phó giám đốc Công an TP Cần Thơ thì mặc dù mới ra đời nhưng Cần Thơ hiện cũng có gần 200 doanh nghiệp "ma" trong tổng số gần 2.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 35Ví dụ: Công ty TNHH Sản xuất và chế biến tinh dầu của Nguyễn Viết Thìn (sinh 1952, quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh) lâu nay gần như đóng cửa, không hoạt động Khi Luật Thuế giá trị gia tăng được ban hành và kèm theo là chính sách hoàn thuế
để khuyến khích xuất khẩu, Thìn bỏ hẳn việc nghiên cứu sản xuất tinh dầu, chuyển sang tìm cách lách luật, rút tiền của nhà nước
Từ tháng 5 đến tháng 7/1999, Nguyễn Viết Thìn ký hợp đồng mua khống hơn
289 tấn tinh dầu quế và tinh dầu húng quế theo 5 hoá đơn VAT của Công ty Phát triển nông lâm ngư và dịch vụ huyện Sóc Sơn, Hà Nội, với tổng giá trị thanh toán tiền hàng là 79 tỷ đồng Sau đó, Thìn bàn bạc với Phó giám đốc Hoàng Minh Châu
và kế toán trưởng Trần Văn Đường, ký hợp đồng xuất khống số hàng trên, đổi lấy hơn 4.000 bộ linh kiện xe máy dạng CKD với các công ty của Lào
Sau khi khép kín việc “hàng đổi hàng”, hoá đơn VAT của Công ty Phát triển nông lâm ngư ghi thuế VAT là 7,2 tỷ đồng, trong khi xác nhận trên tờ khai hải quan của Hải quan cửa khẩu Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh, thì mặt hàng tinh dầu có thuế suất bằng
0 Nguyễn Viết Thìn làm công văn gửi Cục Thuế Hà Nội xin hoàn thuế VAT Nhận được số tiền trên, Thìn, Châu và Đường đã chi cho Công ty Phát triển nông lâm ngư 3,1 tỷ đồng
Để hợp thức hoá việc lập chứng từ khống bán số tinh dầu cho Thìn, Công ty Phát triển nông lâm ngư đã lập bảng kê mua khống tinh dầu thô của hàng trăm cá nhân ở 15 tỉnh mà tên tuổi, địa chỉ đều không cụ thể, thậm chí có nơi chưa hề trồng quế, húng quế Để có gần 100 tỷ đồng “mua” hàng, lãnh đạo Công ty Phát triển nông lâm ngư lại lập ra các hợp đồng “vay vốn” của 5 cá nhân là người nhà, chỗ thân quen Họ còn ký thay tên của người cho vay vốn Các biên bản khống về tinh chế, tái chế, xây lò, mua dụng cụ cũng được lập
Vụ việc lừa đảo bị vỡ lở, những người liên quan ở Công ty Phát triển nông lâm ngư gồm Giám đốc Nguyễn Văn Phương, Trưởng phòng Kế hoạch Nguyễn Thái Hoà, kế toán trưởng Đàm Quang Khánh đã ra tự thú, khai nhận toàn bộ sự việc và nộp lại toàn bộ số tiền đã nhận của Nguyễn Viết Thìn
2.2.4 Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm là sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan Mặt khách quan là những biểu hiện của hành vi nguy hiểm cho xã hội Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện là mặt bên trong của tội phạm thể hiện thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra
Nó bao gồm ba yếu tố: lỗi, động cơ và mục đích
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 36Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do cố ý Người phạm tội biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản
Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội phải có trước và bao giờ cũng
có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản Nếu sau khi
đã có tài sản một cách hợp pháp rồi mới có ý định chiếm đoạt tài sản thì không phải
là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà tùy trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng, như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Nếu ngay thời điểm ban đầu, người phạm tội đã có ý định chiếm đoạt tài sản nên
có những hành vi gian dối dẫn đến việc ký kết hợp đồng giả tạo để từ đó có được tài sản từ hợp đồng thì tài sản đó được xem như là tài sản do lừa đảo chiếm đoạt mà có được
Như vậy, thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đã có từ trước và việc ký kết hợp đồng là nhằm thực hiện ý định đó
Trong thực tế, người phạm tội luôn mong muốn che giấu ý định chiếm đoạt, vì vậy, việc xác định nội dung này rất khó khăn và phức tạp Nhất là thời điểm xuất hiện ý định chiếm đoạt tài sản Do đó, để xác định thái độ chủ quan của người phạm tội cần phải xem xét toàn diện diễn biến của vụ việc, các yếu tố khách quan khác khi các bên giao kết và thực hiện hợp đồng, trong đó, cần quan tâm trước hết các vấn đề sau:
Cần quan tâm đến những hành vi ở giai đoạn trước khi chuẩn bị cho việc ký kết hợp đồng
Cần phải xem xét ở thời điểm trước khi ký kết hợp đồng, những hành vi giao dịch, thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết có gian dối hay không
Ví dụ: giấy tờ cầm cố thuế chấp, bảo lãnh để vay vốn, hoặc các hành vi phô trương khuyếch đại về tài sản để tạo niềm tin với người khác hay không…
Về nội dung nghĩa vụ mà người ký kết hợp đồng phải thực hiện Trong nội dung hợp đồng cần xem xét những điều kiện về nghĩa vụ của người thuê, mượn, vay…tài sản
Ví dụ: vay vốn với lãy suất cao so với lãy suất thực tế tại ngân hàng, hoặc thuê tài sản với giá cao gấp nhiều lần giá thị trường như trường hợp thuê xe ôtô, xe máy…nhưng người thuê vẫn ký kết hợp đồng Điều này, phản ảnh một phần ý thức mong muốn chiếm đoạt tài sản Bởi lẽ, họ đã sẵn sang ký kết hợp đồng để có được tài sản mà không cần quan tâm đến nghĩa vụ phải thực hiện Điều đó, phần nào chứng tỏ ý thức chiếm đoạt đã có từ trước khi ký kết hợp đồng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 37Về điều kiện và khả năng thực tế để bảo đảm các nghĩa vụ trong hợp đồng
Xem xét yếu tố này giúp chúng ta làm rõ thái độ chủ quan của người phạm tội trước khi ký kết các hợp đồng đã có ý định chiếm đoạt tài sản hay chưa Bởi lẽ, một người biết rõ bản thân mình, doanh nghiệp không có điều kiện thực hiện hoàn trả tài sản hoặc các cam kết khác trong hợp đồng mà vẫn thực hiện việc ký kết các hợp đồng để từ đó có được tài sản của người khác thì điều này cũng phản ảnh thái độ chủ quan trước khi ký kết các hợp đồng đã có ý thức mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác
Ví dụ: biết rõ không còn khả năng hoàn trả tài sản, hoặc doanh nghiệp đã bị phá sản nhưng vẫn tiếp tục hợp đồng vay trên của người khác hoặc vay tài sản của người sau để trả cho người trước…thực tiễn xét xử đều coi là trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Vì vậy, có thể nói mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng chỉ bị trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
2.3 Hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
2.3.1 Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều
139 Bộ luật hình sự
Người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ năm trăm nghìn đồng trở lên hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng thuộc các trường hợp: gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết
án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Như vậy, về lý luận có bốn trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sau đây:
2.3.1.1 Trường hợp thứ nhất, phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng trở lên bằng thủ đoạn gian dối
Việc xác định giá trị tài sản bị lừa đảo chiếm đoạt thực hiện theo quy định tạiThông tư liên tịch số 02/2001/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công
an, Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương 14 "các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự Cụ thể:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 38Giá trị tài sản bị lừa đảo chiếm đoạt được xác định theo giá trị thị trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản bị chiếm đoạt Trong trường hợp có đầy
đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành vi lừa đảo chiếm đoạt có ý định xâm phạm đến tài sản có giá trị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ, thì lấy giá trị tài sản
đó để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Ví dụ: A thấy B đeo một chiếc nhẫn màu vàng Qua các nguồn tin, A tưởng đây
là vàng 9999, có trọng lượng 2 chỉ, nên đã dùng thủ đoạn gian dối và đã chiếm đoạt được chiếc nhẫn này
Trong trường hợp này, phải lấy giá trị của một chiếc nhẫn bằng vàng 9999 với trọng lượng 2 chỉ theo thời giá tại địa phương vào thời điểm chiếm đoạt để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý định xâm phạm đến tài sản, nhưng không quan tâm đến giá trị tài sản bị xâm phạm (giá trị bao nhiêu cũng được), thì lấy giá thị trường của tài sản bị xâm phạm tại địa phương vào thời điểm tài sản bị xâm phạm để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trong trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng mỗi lần giá trị tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng
và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết án nhưng chưa được xóa
án tích…), đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm từ năm trăm nghìn đồng trở lên, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm Nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian;
b) Việc thực hiện các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp, lấy tài sản do việc xâm phạm sở hữu mà có là nguồn sống chính;
c) Với mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng do điều kiện hoàn cảnh khách quan, nên việc chiếm đoạt tài sản phải được thực hiện nhiều lần cho nên giá trị tài sản bị lừa đảo chiếm đoạt mỗi lần dưới năm trăm nghìn đồng
Cần chú ý là trong các trường hợp trên đây nếu chỉ căn cứ vào các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì không áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội nhiều lần" Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu