1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)

66 343 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 5,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN VĂN TOÀN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN Ở GIAI ĐOẠN SỚM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI CÁC LOẠI THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN VĂN TOÀN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN Ở GIAI ĐOẠN SỚM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI CÁC LOẠI THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG

CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TRẦN VĂN TOÀN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN Ở GIAI ĐOẠN SỚM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM CHUYỂN ĐỔI CÁC LOẠI THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG

CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)

Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản

Mã số: 60 62 03 01

LUẬN VĂN THẠC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LẠI VĂN HÙNG

Nha Trang - 2014

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại Học Nha Trang, cùng quý thầy, cô trong khoa Nuôi trồng Thủy sản đã tạo cơ hội và mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn tất chương trình cao học

Trong quá trình, tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Ngoài sự cố gắng

nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Lại Văn Hùng Tôi thực lòng biết ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin cám ơn toàn thể anh em kỹ sư ở Trại thực nghiệm sản xuất giống cá biển Đường Đệ, Nha Trang Đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian tiến hành làm

đề tài

Sau cùng, tự đáy lòng mình Tôi vô cùng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ trong suôt thời gian qua để tôi có thể hoàn thiện chương trình học cao học của mình

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa có ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Nha Trang, tháng 10 năm 2014

Học viên Trần Văn Toàn

Trang 5

1.3 Một số nghiên cứu về đặc điểm phát triển và nhu cầu dinh dưỡng ở giai đoạn ấu

Trang 6

1.3.4 Sự biến đổi pH đường ruột và hoạt động của enzyme tiêu hóa ở ấu trùng cá

1.3.5 Sự biến đổi kích thước miệng và thời điểm cho ăn các loại thức ăn thích hợp 13

2.3.3 Xác định một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm của ấu trùng cá chim vây

2.3.3.1 Theo dõi các giai đoạn biến đổi hình thái và sự phát triển đường tiêu hóa 19

2.3.4 Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn đầu tiên đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu

2.3.5 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên tỷ lệ sống của ấu

2.3.5.1 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn sống lên tỷ lệ sống

2.3.5.2 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi từ thức ăn sống sang thức ăn công

Trang 7

2.4 Phương pháp xác định các thông số 22

2.4.2 Xác định kích thước noãn hoàng, giọt dầu, cỡ miệng và chiều dài thân ấu trùng

22

3.1.3 Sự biến đổi kích thước miệng và thời gian chuyển đổi thức ăn của ấu trùng cá

3.2 Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn lần đầu tiên đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu

3.2.2 Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn lần đầu tiên đến sinh trưởng và tỷ lệ phân đàn

3.2.3 Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn lần đầu tiên tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim

3.3 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống

3.3.1 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn sống lên tỷ lệ sống của ấu

Trang 8

3.3.1.2 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn sống lên sinh trưởng

3.3.1.3 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn sống lên tỷ lệ sống

3.3.2 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi từ thức ăn sống sang thức ăn công nghiệp

3.3.2.1 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi từ thức ăn sống sang thức ăn công

3.3.2.2 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi từ thức ăn sống sang thức ăn công

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn sống lên sinh trưởng và

Bảng 3.4: Sinh trưởng về chiều dài, khối lượng, hệ số phân đàn của cá chim vây vàng ở

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.3 Quá trình biệt hóa thành các bộ phận đường tiêu hóa theo giai đoạn phát triển ở

Hình 3.1 Các giai đoạn phát triển từ khi nở đến khi hoàn chỉnh về mặt hình thái 26

Hình 3.3 Biến đổi độ mở rộng miệng của ấu trùng cá chim theo ngày tuổi và thời điểm

Hình 3.4 Tương quan giữa chiều dài ấu trùng và độ rộng miệng cho đến 23 ngày tuổi 31

Hình 3.6 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn sống lên sinh tỷ lệ sống

Hình 3.7: Tỷ lệ sống của cá chim vây vàng khi tập chuyển đổi thức ăn ở thời điểm khác

Trang 11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DO: hàm lượng oxy hòa tan

L: lít

NT: nghiệm thức

SL: chiều dài chuẩn

SGRsl: tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài chuẩn

SGRw: tốc độ tăng trưởng đặc trưng về khối lượng

Trang 12

MỞ ĐẦU

Ở Việt Nam, nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi hải sản, đang được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Sau 10 năm, thủy sản Việt Nam đã có những bước tăng trưởng vượt bậc với doanh số xuất khẩu tăng gấp 3 lần, từ 2 tỷ USD năm 2002 lên 6 tỷ USD trong năm 2011 [5] Hiện nay, đối tượng nuôi chủ lực, chiếm tỉ lệ lớn nhất về sản lượng cũng như giá trị xuất khẩu vẫn là tôm he Nghề nuôi cá biển, sản xuất giống cá biển vẫn đang ở thời kỳ bắt đầu phát triển Nghề nuôi cá biển ở Việt Nam bắt đầu vào những năm 1990, khi những nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi thương phẩm bước đầu thành công trên một số loài cá biển như: cá chẽm, cá đù đỏ, cá giò, cá mú, cá chẽm mọn nhọn [4,7,8,9,10] Nhằm thúc đẩy sự phát triển của nghề nuôi cá biển, nước ta đã và đang tiếp tục đầu tư, nghiên cứu sản xuất giống các loài cá biển mới, có giá trị kinh tế cao, một trong số đó là cá chim vây vàng

Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) là một loài cá nổi, ưa hoạt

động, dễ nuôi, có khả năng nuôi với mật độ cao trong lồng hoặc ao ở các thủy vực nước

lợ và nước mặn Đây là một đối tượng có tốc độ sinh trưởng khá nhanh và có giá trị kinh

tế cao Cá chim vây vàng bắt đầu được nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo tại Đài Loan vào năm 1986 và thành công năm 1989 Ngay sau đó nó đã nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi phổ biển ở nước này Tính đến năm 1997 Đài Loan đã có 20 trại sản xuất giống cá chim vây vàng với sản lượng giống đạt 38 triệu con cỡ 2 – 3 cm để phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu [33] Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào nuôi cá chim ở Đài Loan đã lan sang các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Indonesia, Ấn

Độ, Việt Nam, Malaysia, Singapore …

Ở Việt Nam cá chim vây vàng được nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm muộn hơn rất nhiều Một số công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, Trường Cao đẳng thủy sản Bắc Ninh và Trường Đại học Nha Trang được thực hiện vào những năm 2005 – 2011 đã cơ bản hình thành lên quy trình sản xuất giống nhân tạo [3, 6, 11] Tuy nhiên, tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi vẫn còn khá thấp, ấu trùng hao hụt rất nhiều trong giai đoạn khi hết noãn hoàng bắt đầu tập sử dụng thức ăn bên ngoài, và trong quá trình chuyển đổi các loại thức ăn [3] Hiện tượng trên xảy ra là do

Trang 13

việc thiếu các thông tin cần thiết về các đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và tập tính dinh dưỡng của ấu trùng cá chim vây vàng Dẫn tới không xác định được thời điểm cho

ăn cũng như chế độ chuyển đổi thức ăn hợp lý

Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự phân công và cho phép của Bộ môn nuôi thủy sản nước mặn, Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường ĐH Nha Trang, tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim

vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)” với mục tiêu: Đánh giá sự tiêu biến

noãn hoàng , giọt dầu, sự biến đổi kích thước miệng và sự hình thành dạ dày Từ đó tạo

cơ sở để bố trí các thí nghiệm về quá trình chuyển đổi thức ăn nhằm xác định thời gian chuyển đổi các loại thức ăn phù hợp nhất Qua đó góp phần hoàn thiện quy trình ương nuôi ấu trùng cá chim vây vàng

Để đạt được các mục tiêu trên đề tài tập trung vào các nội dung nghiên cứu sau:

- Tìm hiểu sự tiêu biến của noãn hoàng, giọt dầu và sự biến đổi kích thước miệng của ấu trùng cá chim vây vàng

- Tìm hiểu sự hình thành dạ dày ở ấu trùng cá chim vây vàng

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm cho ăn đầu tiên đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của

ấu trùng cá chim vây vàng

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng và tỷ

lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

Về mặt khoa học, đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm về đặc điểm phát triển, đặc điểm dinh dưỡng và khả năng chuyển đổi thức ăn ở giai đoạn sớm của ấu trùng cá chim vây vàng

Về mặt thực tiễn, đề tài góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như chất lượng con giống thông qua việc cải tiến chế độ cho ăn và chuyển đổi thức ăn hợp lý Qua đó, thúc đẩy việc phát triển sản xuất giống cá chim vây vàng trên quy mô thương mại

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá chim vây vàng

Loài: Trachinotus blochii (Lacepède, 1801)

Tên tiếng việt: cá Chim Vây Vàng, cá Sòng Mũi Hếch [2]

Tên Tiếng Anh: Snub-nose pompano

Hình1.1: Cá Chim Vây Vàng ( Trachinotus blochii)

Trang 15

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Cá chim vây vàng sống ở vùng biển mở và được tìm thấy ở Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương Ở châu Á cá phân bố ở miền nam Nhật Bản, Indonesia, Trung Quốc, Đài Loan [34] Ở Việt Nam được tìm thấy trên Vịnh Bắc Bộ, miền Trung và Nam

ở điều kiện nhiệt độ từ 22-280C, độ mặn từ 3 - 33‰ Dưới 20‰ cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện độ mặn cao tốc độ sinh trưởng chậm lại Nhu cầu hàm lượng oxy hòa tan

> 2.5 mg/L Cá trưởng thành sống ở vùng cát hoặc gần vùng rạn san hô, độ sâu 7 m trở lại

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng

Cá chim vây vàng là loài cá ăn tạp thiên về động vật, có thể kiếm thức ăn ở trong cát, cá trưởng thành có thể bắt những động vật vỏ cứng như: ngao, cua, ốc [27] Giai đoạn

cá giống thức ăn là động vật phù du và động vật đáy, chủ yếu là luân trùng, ấu thể

Trang 16

Copepoda, Artemia, giai đoạn lớn chủ yếu ăn tôm, cá nhỏ và các loài động vật không xương sống khác, cường độ bắt mồi thay đổi theo nhiệt độ nước

Trong điều kiện ương nuôi thức ăn ban đầu của ấu trùng cá là sinh vật phù du (tảo,

luân trùng và ấu trùng Artemia), sau giai đoạn này cá con được tập chuyển đổi từ thức ăn

sống sang thức ăn công nghiệp Giai đoạn nuôi thương phẩm cá cũng sử dụng tốt thức ăn công nghiệp hoặc cá tạp [3] Trong quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ, thức ăn được sử dụng là

cá tạp, mực, thức ăn tổng hợp dạng viên, để nâng cao chất lượng trứng và ấu trùng người

ta còn bổ sung thêm vitamin E, C và B vào thức ăn cho cá bố mẹ trước mùa sinh sản khoảng một tháng [29]

Tốc độ sinh trưởng của cá chim vây vàng tương đối nhanh, kích thước cơ thể lớn nhất bắt ngoài tự nhiên là 3400 g Cá sinh trưởng chậm ở giai đoạn đầu và tăng nhanh sau khi đạt cỡ 50 g trở lên, nhưng tốc độ sinh trưởng lại chậm lại khi cá đạt cỡ trên 1000 g Cá con 1 ngày tuổi có chiều dài 2 mm, sau 35 ngày ương nuôi đạt cỡ 26 mm Cỡ cá 4,9 – 6,7

g nuôi bằng thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein 47% và lipid 15% sau 1 tháng cá đạt cỡ 14,4 – 26,5 g [3]

1.1.4 Một số đặc điểm sinh học sinh sản

Mùa vụ sinh sản ngoài tự nhiên của cá chim vây vàng ở vùng địa lý khác nhau là khác nhau Ở Trung Quốc mùa sinh sản diễn ra từ tháng 4 – 9, trong khi tại Đài Loan lại

có thể cho cá sinh sản nhân tạo từ tháng 3 đến tháng 10 [2] Quá trình sinh sản của cá chim vây vàng không tuân theo chu kỳ trăng hàng tháng như nhiều loài cá biển khác [29]

Tuổi và kích thước thành thục lần đầu của cá ngoài tự nhiên tương đối muộn, cá thành thục ở tuổi 7- 8+ Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhân tạo cá có thể thành thục sớm hơn Trong điều kiện nuôi nhốt để cá đạt được thành thục và trở thành cá bố mẹ phải mất khoảng 3 năm, khi khối lượng cơ thể đạt từ 1,8 – 2,5 kg [29] Thực tế cho thấy cá chim vây vàng nuôi lồng bằng thức ăn công nghiệp tại vùng biển Khánh Hòa có tuổi thành thục sớm hơn (khoảng 15 – 16 tháng nuôi) và kích cỡ cũng nhỏ hơn (từ 1,5 – 1,7 kg) [3] Như vậy tuổi và kích thước thành thục của cá chim vây vàng phụ thuộc rất lớn vào vùng địa lý và các điều kiện nuôi khác So với nhiều loài cá biển khác (cá mú, cá

Trang 17

chẽm, cá măng, cá chim Florida) thì sức sinh sản của cá chim vây vàng thấp hơn Trong điều kiện cho sinh sản nhân tạo, sức sinh sản thực tế của cá dao động từ 38544 – 122482 trứng/kg cá cái, trung bình là 73922 trứng/kg cá cái, sức sinh sản của cá từ tháng 7 đến tháng 12 (từ 84373 – 122482 trứng/kg cá cái) cao hơn so với thời gian từ tháng 1 đến tháng 5 (từ 38544 – 64673 trứng/kg cá cái) [3] Cá chim vây vàng là loài đẻ trứng nổi, trứng sau khi đẻ sẽ nổi trong môi trường nước nhờ giọt dầu, đường kính sau khi trương nước 0,80 – 0,85 mm, sau khi đẻ trứng không thụ tinh sẽ chìm xuống đáy [29]

1.2 Hiện trạng sản xuất giống cá chim vây vàng

1.2.1 Hiện trạng sản xuất giống cá chim vây vàng trên thế giới

Việc thử nghiệm cho sinh sản nhân tạo cá chim được tiến hành lần đầu tiên tại Đài

Loan trên loài cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)[33] Năm 1986 bắt

đầu nghiên cứu nuôi vỗ cá bố mẹ, đến năm 1989 mới thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo, qua nhiều đợt thử nghiểm trong quá trình nghiên cứu ương được 386.000 con giống cỡ 2 – 3 cm Sau thành công này, Đài Loan có 20 trại sản xuất giống cá chim vây vàng với sản lượng hàng năm đạt 38 triệu con giống cỡ 2 - 3 cm để phục vụ nhu cầu nuôi trong nước và xuất khẩu[33] Tính đến năm 2001 Đài Loan đã thành công trong việc sinh sản nhân tạo 45/60 loài cá biển nuôi, trong đó có một loài thuộc giống cá chim như

Trachinotus blochi, T falcatus, và T ovatus[17, 33]

Với những thành công đạt được của Đài Loan trong việc sản xuất nhân tạo giống

cá chim vây vàng đã thúc đẩy phong trào sản xuất giống và nuôi cá chim thương phẩm trong nước phát triển mạnh Sau đó phong trào này lan sang các nước lân cận trong khu vực như Trung Quốc, Indonesia, Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia, Singapore, … Năm 1993, Trung tâm chuyển giao công nghệ trường Đại học Trung Sơn kết hợp với Trạm nghiên cứu giống thủy sản Quảng Đông – Trung Quốc nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo thành công cá chim vây vàng trên quy mô nhỏ Năm 1998, Trung tâm kết hợp với Công ty trách nhiệm hữu hạn Giống thủy sản Thắng Lợi – Hải Nam – Trung Quốc nghiên cứu thành công sản xuất giống nhân tạo trên quy mô lớn

Ở Indonesia, trước đây cá chim vây vàng được nhập giống từ Đài Loan về nuôi Từ

Trang 18

nguồn cá nuôi thương phẩm này, Trung tâm phát triển biển Batam đã tuyển chọn được đàn cá bố mẹ và nuôi vỗ trong lồng bằng thức ăn là cá tạp, mực, thức ăn công nghiệp có

bổ sung vitamin E, C, B Cá được kích thích sinh sản bằng cách tiêm HCG 250 IU kết hợp với Fibrogen 50 IU/kg cá cái Ấu trùng cá được ương trong các bể xi măng có thể tích 10 m3 với mật độ từ 10 – 15 ấu trùng/L, thức ăn sử dụng là tảo đơn bào

(Nannochloropsis sp), luân trùng, ấu trùng artemia và thức ăn tổng hợp, sau 35 ngày ương

cá đạt cỡ 3,0 – 3,5 cm, tỷ lệ sống từ 20 – 25%, và vấn đề khó khăn hiện nay là mật độ ương thấp và tỷ lệ dị hình ở cá giống vẫn còn cao (5%) [29]

Với tình hình trên cho thấy nghề sản xuất giống cá chim đã đạt được những thành công nhất định trong việc sản xuất giống trên quy mô thương mại, số lượng con giống sản xuất ra đã phần nào đáp ứng được cho nhu cầu của người nuôi

1.2.2 Hiện trạng sản xuất giống cá chim vây vàng ở Việt Nam

Cá chim vây vàng là một đối tượng dễ nuôi và giá trị kinh tế cao nên nhiều ngư dân ở Quảng Ninh, Hải Phòng và Khánh Hòa đã nhập giống từ Đài Loan về nuôi, thức ăn

sử dụng chủ yếu là cá tạp Năm 2005 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nuôi thương phẩm và tạo đàn cá hậu

bị của 5 loài cá biển kinh tế” trong đó có cá chim vây vàng [11] Đến năm 2006 Trường Cao đẳng Thủy sản Bắc Ninh đã thực hiện thành công dự án “Nhập công nghệ sản xuất giống cá chim vây vàng”, sau 2 năm dự án sản xuất được trên 104486 con cá giống, tỷ lệ sống của cá hương 31 – 35% và cá giống là 50 – 62,5% Tuy vậy, công nghệ sản xuất này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như tỷ lệ sống của cá bố mẹ thấp (đạt 2 – 25 %), tỷ lệ thụ tinh (15 – 88%) và tỷ lệ nở (28 – 56 %) không ổn định, khó kiểm soát sự lây lan dịch bệnh [6]

Đến năm 2009, Trường đại học Nha Trang thực hiện đề tài “Thử nghiệm sản xuất

giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) tại Khánh Hòa” [3]

Nguồn cá bố mẹ được mua trong 2 đợt với tổng cộng 150 con Sau 2 năm nuôi vỗ, tổng số

cá còn lại là 129 con, trong đó có 80 con cái và 49 con đực, đạt tỷ lệ sống 90 – 92% Tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ từ 57,14 – 95,45%, trung bình đạt 81,54% Sau 20 đợt cho đẻ thu được 31320000 trứng với tỷ lệ thụ tinh từ 56,46% đến 96,74% Trứng cá được vận

Trang 19

chuyển bằng phương pháp vận chuyển kín về trại ương Khi kết thúc đề tài với 16 đợt ương với mật độ thả từ 18 – 60 con/L, sau thời gian 30 – 37 ngày thu được 644800 con cá hương cỡ 17,2 – 26,0 mm, tỷ lệ sống dao động từ 2,38 – 28,20%, trung bình đạt 14,43% [3]

Từ tình hình trên cho thấy, quy trình sản xuất giống nhân tạo cá chim vây vàng ở trong nước cho tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi ấu trùng còn thấp và chưa có được sự

ổn định,gây khó khăn cho việc phát triển nghề nuôi cá chim trên quy mô thương mại Do

đó, cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về quá trình phát triển ở giai đoạn sớm của

ấu trùng cá chim.Từ đó tạo cơ sở cho quá trình thử nghiệm nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng

1.3 Một số nghiên cứu về đặc điểm phát triển và nhu cầu dinh dưỡng ở giai đoạn ấu trùng của cá biển

1.3.1 Các giai đoạn phát triển về hình thái của ấu trùng cá biển

Theo Ahlstrom & Ball (1954) và Kjørsvik (2004) [13, 22] thì sự phát triển của ấu trùng cá biển có thể phân chia thành 2 giai đoạn chính là giai đoạn ấu trùng (larvae) và hậu ấu trùng trùng (post-larvae) Trong giai đoạn ấu trùng lại phân chia thành nhiều giai đoạn nhỏ gồm: ấu trùng noãn hoàng (Yolk-sac larvae), ấu trùng tiền cong lệch (Pre-

flexion larvae), ấu trùng cong lệch (Flexion larvae), ấu trùng hậu cong lệch (Post-flexion larvae) Quan sát sự phát triển trên ấu trùng cá chẽm Lates calcarifer thì Lục Minh Diệp

(2010)[1] có những mô tả cụ thể về các giai đoạn phát triển như sau:

Giai đoạn ấu trùng (larvae) Từ 0 ngày tuổi đến khoảng 16 ngày tuổi

Ấu trùng noãn hoàng (Yolk-sac larvae): từ khi nở đến khi ấu trùng mở miệng và

bắt đầu ăn thức ăn ngoài Ấu trùng mới nở với đặc trưng là túi noãn hoàng lớn, có

1 giọt dầu ở phía trước Ấu trùng 1 ngày tuổi noãn hoàng tiêu biến gần hết

Ấu trùng tiền cong lệch (Pre-flexion larvae): Giọt dầu tiêu biến dần và mất hẳn ở 6

ngày tuổi Bóng hơi xuất hiện ở ấu trùng 4 ngày tuổi

Ấu trùng cong lệch (Flexion larvae): Phần cuối cột sống cong lệch rõ ràng ở 8-9

ngày tuổi, hình thành vây đuôi

Ấu trùng hậu cong lệch (Post-flexion larvae): Ấu trùng hình thành vây hậu môn,

Trang 20

vây lưng II

Giai đoạn hậu ấu trùng (post-larvae): Từ 16 ngày tuổi đến khi chuyển sang màu

trắng bạc.Từ 16 ngày tuổi trở đi, ấu trùng cá chẽm đã phát triển đầy đủ vây và các

bộ phận của cơ thể về mặt hình thái, nhưng chưa phát triển hoàn chỉnh sắc tố Cơ thể cá màu đen, chưa có màu sắc trắng bạc của các cá thể trưởng thành

1.3.2 Sự tiêu biến noãn hoàng, giọt dầu

Trước khi có khả năng sử dụng thức ăn ngoài thì noãn hoàng và giọt dầu là hai nguồn dinh dưỡng cực kỳ quan trọng đối với ấu trùng cá biển [1] Kích thước noãn hoàng

và giọt dầu phụ thuộc chủ yếu vào kích thước trứng Những loài cá có trứng kích thước lớn thì noãn hoàng và giọt dầu cũng lớn Thí dụ: kích thước trứng cá hồi Đại Tây Dương (5 – 6 mm) thường lớn gấp 4 – 5 lần trứng cá tráp đầu vàng (0.9 – 1.1 mm), do đó khi nở các ấu trùng cá hồi có túi noãn hoàng lớn đủ để dinh dưỡng nội sinh trong 3 tuần đầu tiên sau khi nở, trong khi các ấu trùng cá tráp đầu vàng lại có túi noãn hoàng kích thước nhỏ chỉ đủ để dinh dưỡng nội sinh trong 3 ngày đầu tiên sau khi nở [12] Một nghiên cứu khác

trên ấu trùng cá chẽm Lates calcarifer cho thấy, ấu trùng sau khi nở (SL =1.73 mm) có

kích thước noãn hoàng 0.92 mm, sau 12 giờ noãn hoàng còn lại 54%, sau 24 giờ còn 32%, noãn hoàng được hấp thụ hoàn toàn sau 60 giờ kể từ khi nở Còn đường kính giọt dầu ở ấu trùng mới nở là 0,23 mm, trong khoảng thời gian ấu trùng hấp thụ noãn hoàng, đường kính giọt dầu hầu như không đổi Tại thời điểm noãn hoàng được hấp thụ hết (60 giờ sau khi nở), kích thước giọt dầu giảm nhanh, đường kính giọt dầu còn lại 0,16 mm và được hấp thụ gần hết sau 120 giờ và hoàn toàn biến mất sau 132 giờ (6 ngày tuổi) [1]

Từ những kết quả trên, có thể thấy thời gian dinh dưỡng nội sinh ở ấu trùng các loài cá biển có kích thước trứng khác nhau là khác nhau Do đó, việc theo dõi và đánh giá

sự tiêu biến noãn hoàng, giọt dầu ở ấu trùng cá là hết sức cần thiết Nó tạo cơ sở cho việc xác định thời điểm tiến hành cung cấp thức ăn lần đầu tiên phù hợp nhất cho ấu trùng cá sau khi nở

Trang 21

1.3.3 Quá trình hình thành ống tiêu hóa

Khi mới nở, ấu trùng các loài cá biển có đường tiêu hóa là một ống thẳng, kín (miệng và hậu môn chưa hình thành) và chưa phân hóa về mặt mô học [13, 23] Dạng ruột kín (incipient gut) thường duy trì cho đến khi noãn hoàng được hấp thụ hết [23, 24] Khi

đó, từ dạng chưa phân hóa chúng được phân chia thành vùng hầu miệng (buccopharynx), ruột trước (foregut), ruột giữa (midgut), ruột sau (hindgut) nhờ các van cơ [13, 23] Quá trình phát triển, sự biệt hóa đường tiêu hóa từ khi cá nở đến trưởng thành được biểu diễn

ở hình 1.3

Hình 1.3 Quá trình biệt hóa thành các bộ phận đường tiêu hóa theo giai đoạn phát triển ở

cá (Theo [13, 23])

Ở ấu trùng cá chẽm, sự biệt hóa đường tiêu hóa được Walford và Lam (1993) mô

tả [18]: (i) Ấu trùng 1 ngày tuổi chưa mở miệng, đường tiêu hóa dạng ống thẳng, kín (ii)

Ấu trùng 2 ngày tuổi: mở miệng, van trực tràng xuất hiện Ở ấu trùng 4 ngày tuổi, vùng ruột trước, ruột giữa và vùng trực tràng (ruột sau) phình to hơn, có thể nhìn thấy rõ van trực tràng phân chia hai vùng này (iii) Ấu trùng 5-6 ngày tuổi: ruột bắt đầu cuộn lại Sự cuộn xoắn của ruột hoàn tất ở ấu trùng 8 ngày tuổi, ruột trước phình to thành dạng túi

Ấu trùng

Cá giống trưởng thành

Ruột trước

Dạ dày

Hậu ấu trùng

Trang 22

cong (iv) Ruột trước bắt đầu biến dạng thành dạ dày ở ấu trùng 11 ngày tuổi, nhưng dạ dày thực sự rõ ràng ở 13 ngày tuổi, khi đó có thể thấy rõ sự co thắt môn vị và sự nhô ra của các manh tràng (v) Quá trình biệt hóa đường tiêu hóa thành các phần theo thứ tự từ trước ra sau: khoang miệng, hầu, thực quản, dạ dày, cơ vòng môn vị, ruột trước (phần ruột giữa ở các giai đoạn trước), van trực tràng, ruột sau dễ dàng phân biệt ở ấu trùng 14 ngày tuổi Từ vòm trên của hầu, nhô ra 2 răng nhọn, bắt đầu sự hình thành răng hầu Sự phát triển dạ dày, phát triển cơ vòng ở môn vị và phát triển manh tràng gần như hoàn chỉnh ở

ấu trùng cá chẽm 15 ngày tuổi Lúc này dạ dày đã có hình dạng nhất định, vùng dạ dày hình tim nối với vùng môn vị tại một góc nhọn tạo nên hình dạng đặc trưng của dạ dày Quá trình biệt hóa đường tiêu hóa hoàn tất ở ấu trùng cá chẽm 17 ngày tuổi (vi) Về sau,

dạ dày càng ngày càng lớn dần, manh tràng tiếp tục phát triển; tuy nhiên về cơ bản hình dạng của dạ dày và manh tràng không thay đổi

Ở các loài cá có dạ dày, giai đoạn ấu trùng thường chưa hình thành dạ dày, nhưng phần sau của ruột trước cùng với ruột giữa có khả năng phình to và thực hiện chức năng như dạ dày Sự hình thành dạ dày là dấu hiệu quan trọng đánh dấu sự chuyển từ ấu trùng sang giai đoạn con giống (juvenile) Tuy nhiên, để đánh giá sự phát triển hoàn chỉnh dạ dày và hoàn chỉnh đường tiêu hóa còn cần dựa vào sự xuất hiện khả năng hoạt động của enzyme protease dạng pepsin sinh ra từ dạ dày và các enzyme sinh ra từ niêm mạc ruột

Sự hình thành dạ dày là dấu hiệu quan trọng trong việc lựa chọn thời điểm chuyển đổi từ thức ăn sống sang sử dụng thức ăn công nghiệp cho ấu trùng cá Ấu trùng cá biển khi chưa phát triển dạ dày, khả năng tiêu hóa, hấp thụ protein rất thấp Ấu trùng giai đoạn này hấp thụ tốt axít amin tự do (FAA) nhưng kém hấp thụ các peptide và axít amin liên kết trong protein (PAA) [15, 19, 26] Ấu trùng cá chẽm giai đoạn đầu không thể tiêu hóa được màng protein của viên thức ăn, khả năng tiêu hóa protein tăng lên khi cá đạt đến giai đoạn hậu ấu trùng [19] Đặc tính sinh lý dinh dưỡng này ở ấu trùng cá biển là trở ngại lớn

để phát triển thức ăn tổng hợp cho chúng khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài (start-feeding) Hầu hết ấu trùng các loài cá biển đều gặp khó khăn khi được thiết lập chế độ sử dụng thức ăn tổng hợp sớm, trong khi đó ở nhiều loài cá nước ngọt, ấu trùng sẵn sàng tiếp nhận và tiêu hóa được thức ăn nhân tạo ngay từ đầu [16]

Trang 23

1.3.4 Sự biến đổi pH đường ruột và hoạt động của enzyme tiêu hóa ở ấu trùng cá biển

Quá trình tiêu hóa ở cá có sự tham gia của các enzyme khác nhau như: protease dạng axít (pepsin) sinh ra từ dạ dày, các glucosidase, lipase và protease dạng kiềm (trypsin) từ tuyến tụy, và từ ruột: gồm 2 dạng: (i) enzyme nội bào (cytosolic enzymes) chủ yếu là các peptidase tìm thấy trong sinh chất của tế bào ruột và (ii) dạng enzyme sinh ra từ màng lông nhung (brush border membrane enzymes) liên quan đến màng tế bào niêm mạc như các peptidase, disaccharidase, esterase [21]

Mức độ hoạt động của các loại enzyme này, đặc biệt là nhóm enzyme dạng axit và dạng kiềm phụ thuộc rất lớn vào mức pH trong ống tiêu hóa Nghiên cứu trên ấu trùng cá chẽm cho thấy có sự biến động lớn về pH từ tính kiềm sang tính axít xảy ra ở phần ruột trước, trong khi đó, ở ruột giữa và ruột sau pH luôn mang tính kiềm Trước khi ấu trùng

cá chẽm hình thành dạ dày, pH trong ruột trước (tiền thân của dạ dày) mang tính kiềm (pH=7.7 tại 8 ngày tuổi) do đó enzyme protease dạng trypsin hoạt động mạnh giúp cho việc tiêu hóa protein [16, 18, 23, 24] Điểm biến đổi pH quan trọng ở ruột trước là 14 ngày tuổi Từ ngày tuổi thứ 15, pH trong dạ dày giảm rất nhanh và chuyển sang tính axít, pH=5.0 tại 17 ngày tuổi, pH=3.7 tại 22 ngày tuổi Sau đó, pH trong dạ dày luôn duy trì trên dưới 4, kéo theo đó là sự hoạt động mạnh của protease dạng pepsin [18] Sự biến đổi

pH từ kiềm sang axít cũng được ghi nhận ở nhiều loài cá biển khác, liên quan đến hoạt động của 2 dạng protease (tripsin và pepsin) ở ấu trùng cá biển trước và sau khi hình thành dạ dày

Ngoài sự hoạt động mạnh của 2 dạng protease là tripsin và pepsin thì hoạt động của một số enzyme khác cũng được ghi nhận như: amino-peptidase, amilase, lipase có ở

ấu trùng cá biển từ trước khi chúng ăn thức ăn ngoài [14, 21, 24, 32] Enzyme phosphatase và ATPase bắt đầu xuất hiện ở ấu trùng 3-4 ngày tuổi đến 9 ngày tuổi tùy theo loài [21, 24] Ở ấu trùng cá biển 21-27 ngày tuổi, hoạt động của các enzyme sinh ra

từ màng lông nhung như alkaline phosphatase tăng lên cao đột ngột đồng thời với sự giảm enzyme nội bào như leucine–alanine peptidase, là dấu hiệu cho thấy sự phát triển hoàn chỉnh hệ tiêu hóa [14, 24]

Các enzyme như tripsin, lipase và amilase có ở ấu trùng trước khi ăn thức ăn ngoài

Trang 24

chứng tỏ ấu trùng có khả năng sinh ra các enzyme này[21] Tuy nhiên, mức độ hoạt động của các enzyme này còn thấp Hoạt động của chúng chỉ tăng mạnh khi ấu trùng bắt đầu ăn thức ăn ngoài Có hiện tượng đó là do sự bổ sung các loại enzyme này từ nguồn thức ăn sống (tảo, luân trùng, Artemia, Copepoda…) khi cá ăn mồi Nguồn enzyme từ động vật mồi góp phần quan trọng trong hoạt động của enzyme ở ấu trùng cá Hoạt động của trypsin ở ấu trùng cá chẽm tại 8 ngày tuổi được xác định có sự đóng góp đáng kể nguồn trypsin từ luân trùng, vì lúc này hoạt động của trypsin do cơ thể ấu trùng tạo ra rất thấp, chỉ hơn 1.2 đơn vị/mg protein[18]

Nguồn enzyme ngoài có thể kích hoạt các emzyme tiêu hóa ở ấu trùng cá [15, 16]

Ấu trùng được cho ăn thức ăn tổng hợp có khả năng tiết enzyme thấp hơn ấu trùng được

cho ăn thức ăn sống như nauplius Artemia [15] Như vậy, nguồn thức ăn sống có vai trò

quan trọng trong quá trình tiêu hóa thức ăn cũng như thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống enzyme của ấu trùng cá Việc theo dõi sự hoàn thiện của hệ thống tiêu hóa là căn cứ quan trọng cho việc lựa chọn thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn

1.3.5 Sự biến đổi kích thước miệng và thời điểm cho ăn các loại thức ăn thích hợp

Khi mới nở, ấu trùng các loài cá biển có đường tiêu hóa là một ống thẳng, kín (miệng và hậu môn chưa hình thành) và chưa phân hóa về mặt mô học [13, 23] Trước khi

có khả năng sử dụng thức ăn ngoài thì nguồn dinh dưỡng ban đầu được ấu trùng sử dụng

là noãn hoàng và giọt dầu Tuy nhiên, kích thước khối noãn hoàng và giọt dầu ở ấu trùng

cá của các loài khác nhau thường có sự chênh lệch nhất định, nên thời gian dinh dưỡng nội sinh của ấu trùng cá ở các loài khác nhau cũng khác nhau Ấu trùng cá hồi Đại Tây Dương sau khi nở có khả năng dinh dưỡng nội sinh tới 3 tuần trong khi ấu trùng cá tráp đầu vàng sau khi nở chỉ có khả năng dinh dưỡng nội sinh trong 3 ngày [12] Chính sự sai khác này dẫn tới thời điểm bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài của các ấu trùng cá cũng khác nhau

Thời điểm cho ấu trùng cá ăn lần đầu tiên rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng cũng như tỷ lệ sống của ấu trùng cá M Kailasam và CTV đã thực hiện thí nghiệm trên ấu trùng cá chẽm nhằm tìm hiểu tác động của thời điểm cho ăn ban đầu lên tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm [28] Ấu trùng được bắt đầu cho ăn tại các thời điểm 48 giờ , 72 giờ,

Trang 25

96 giờ, 120 giờ và sau 21 ngày ương nuôi, tỷ lệ sống của ấu trùng đã được ước tính Tỷ lệ sống cao hơn khi ấu trùng cá được bắt đầu cho ăn lúc 48 giờ (31.46%) so với cho ăn lúc

72 giờ (21.18%) và 96 giờ (8.42%) Ấu trùng bị chết hoàn toàn sau 9 ngày trong thí nghiệm cho ấu trùng bắt đầu cho ăn lúc 120 giờ sau khi nở Như vậy để đạt tỷ lệ sống cao nhất thì ấu trùng phải được bắt đầu cho ăn vào lúc 48 giờ sau khi nở

Ở mỗi giai đoạn khác nhau, ấu trùng cá biển có khả năng sử dụng các loại thức ăn

có kích thước và hàm lượng dinh dưỡng khác nhau Việc sử dụng các loại thức ăn có kích thước khác nhau phụ thuộc rất lớn vào kích thước miệng của ấu trùng Tuy nhiên, kích cỡ miệng của các ấu trùng khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài thường bị hạn chế về mặt cơ học đối với kích thước của các loại thức ăn mà chúng có thể tiêu hóa được [12] Nhìn chung, kích

cỡ miệng có mối quan hệ tương tác với kích thước cơ thể, mà kích thước cơ thể lại bị ảnh hưởng bởi đường kính trứng và thời kỳ dinh dưỡng nội sinh Do đó, ở những loài cá có kích thước trứng khác nhau thì kích thước miệng của ấu trùng cũng khác nhau Sự chênh lệch về kích thước miệng của ấu trùng ở các loài cá khác nhau dẫn tới khả năng sử dụng các loại thức ăn có kích thước cũng khác nhau Thí dụ: ấu trùng cá hồi Đại Tây Dương khi kết thúc giai đoạn dinh dưỡng nội sinh và bắt đầu ăn thức ăn ngoài đã có khả năng sử dụng các hạt thức ăn to tới 1 mm so với các hạt 0,1 mm mà các ấu trùng cá tráp đầu vàng

có thể ăn lần đầu tiên [12]

Như vậy, kích thước miệng là yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn kích thước thức ăn phù hợp cho ấu trùng cá Theo dõi sự biến đổi kích thước miệng ở ấu trùng cá sẽ tạo cơ sở cho việc quyết định thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn có kích thước khác nhau Nghiên cứu sự biến đổi kích thước miệng của ấu trùng cá chẽm cho thấy: ấu trùng 2 ngày tuổi có kích thước miệng đạt 0.17 – 0.19 mm, 12 ngày tuổi đạt kích thước 0,45 – 0,47 mm Tương ứng với đó thì các thức ăn cho ấu trùng cá là luân trùng (0,06 mm) cấp vào bể ương ngày thứ 2, Nauplius Artemia (0,37 mm) cấp vào bể ngày thứ 12 [1]

Cá chim là đối tượng đã được sản xuất giống và nuôi thương phẩm khá lâu trong khu vực, nhưng đây vẫn là đối tượng nuôi mới ở nước ta Hiện nay, tuy đã thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo nhưng tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi vẫn còn thấp [3] Đây là kết quả của việc thiếu các thông tin về sự phát triển và các tập tính dinh

Trang 26

dưỡng của ấu trùng ở giai đoạn sớm, dẫn tới lựa chọn thời điểm cho ăn và chuyển đổi thức ăn chưa hợp lý Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu các vấn đề trên, làm cơ sở cho việc nghiên cứu nâng cao tỷ lệ sống cũng như chất lượng cá giống, góp phần hoàn thiện qui trình ương ấu trùng cá chim ở qui mô thương mại

Trang 27

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: cá chim vây vàng Trachinotus blochii, Lacepede, 1801

Thời gian: từ 06/2013 đến 10/2013

Địa điểm nghiên cứu: Trại thực nghiệm Hải sản Đường Đệ, TP Nha Trang

2.2 Sơ đồ nội dung nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu

- Tốc độ tăng trưởng, mức độ phân đàn và tỷ lệ sống của cá thí nghiệm

Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng

cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801)

Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức

ăn lên sinh trưởng

và tỷ lệ sống của

ấu trùng cá

Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn đầu tiên lên sinh trưởng và tỷ

lệ sống của ấu trùng

Phân tích và kết luận

Trang 28

2.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Nguồn nước và hệ thống bể thí nghiệm

Nguồn nước: Nước biển được bơm vào bể chứa, xử lý chlorine nồng độ 20 ppm Tiến

hành sục khí phơi nắng đến khi hết hoàn toàn chlorine thì để lắng 2 ngày Sau đó tiến hành lọc nước qua bể lọc cát và túi siêu lọc

Hệ thống bể thí nghiệm: bể dùng để tiến hành thí nghiệm là bể composite hình chữ nhật

có thể tích 200 lít, mặt trong của bể màu trắng

2.3.2 Nguồn thức ăn sử dụng trong thí nghiệm

Nuôi vi tảo: tảo Nannochloropsis oculata được nuôi trong túi nylon thể tích 60 lít Sử dụng

môi trường F/2 để nuôi tảo

Nuôi luân trùng: luân trùng (Brachionus plicatilis) được nuôi trong bể composite thể tích 1

m3/bể, cho ăn men bánh mỳ với lượng 0,8g/triệu luân trùng/ngày Luân trùng trước khi cho

ấu trùng cá ăn thì được làm giàu bằng DHA Protein Selco với nồng độ 150 – 350 ppm nhằm tăng cường dinh dưỡng cho thức ăn

Ấp Artemia: Artemia được ấp trong bể composite thể tích 250 lít, sau 24h sau khi ấp thì

tiến hành thu Nauplius của Artemia Tiến hành làm giàu Nauplius của Artemia bằng DHA Protein Selco với nồng độ 150 – 350 ppm nhằm tăng cường dinh dưỡng cho thức ăn

Thức ăn công nghiệp: thức ăn được sử dụng là thức ăn tổng hơp NRD của hãng INVE

Thái Lan, cỡ từ 300 – 1200 µm Thành phần dinh dưỡng của thức ăn gồm: Protein >55%,

xơ <1.9%, độ ẩm <8%

Trang 29

Hình 2.3 Trứng Artemia và chất làm giàu DHA Protein Selco Hình 2.2 Nuôi thức ăn sống cho ương nuôi ấu trùng

Hình 2.4 Hệ thống bể thí nghiệm

Trang 30

2.3.3 Xác định một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm của ấu trùng cá chim vây vàng

Cá bố mẹ là đàn bố mẹ sử dụng trong đề tài “Thử nghiệm sản xuất giống cá chim

vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) tại Khánh Hòa” Ấu trùng cá được thu từ

bể ấp và bể ương nuôi 4 m3 ( nhiệt độ 28 oC, độ mặn 33‰)

2.3.3.1 Theo dõi các giai đoạn biến đổi hình thái và sự phát triển đường tiêu hóa

Thu mẫu ấu trùng khi mới nở và định kỳ hàng ngày vào lúc 8-9 giờ để kiểm tra về

sự biến đổi hình thái, giải phẫu kiểm tra sự phát triển đường tiêu hóa Sự biến đổi hình

thái và đường tiêu hóa được lưu lại bằng cách chụp hình Các giai đoạn phát triển của ấu trùng cá được phân chia dựa theo Ahlstrom & Ball (1954) và Kjørsvik (2004) [13, 22] Các giai đoạn phát triển đường tiêu hoá được phân chia theo Govoni (1986) và Kjørsvik (2004)[13, 23]

2.3.3.2 Xác định kích thước noãn hoàng, giọt dầu

Định kỳ thu mẫu 12 giờ một lần, mỗi lần 30 con, theo dõi kích thước noãn hoàng

và giọt dầu đến khi hết noãn hoàng tại các thời điểm: 0 giờ, 12 giờ, 24 giờ, 36 giờ, 48 giờ,

60 giờ và 72 giờ sau khi nở Sau đó, tiếp tục thu mẫu theo dõi kích thước giọt dầu tại 96;

120; 132 giờ sau khi nở

2.3.3.3 Xác định sự biến đổi kích thước miệng của ấu trùng

Thu mẫu một lần từ khi cá mở miệng (2 ngày tuổi) cho đến 15 ngày tuổi và đo độ

mở rộng của miệng, mỗi lần đo 30 con Mẫu cá con được đo bằng thước gắn trên kính hiển vi Các chỉ tiêu được tiến hành đo gồm có: chiều dài cơ thể cá, độ mở rộng của miệng cá

2.3.4 Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn đầu tiên đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (Thí nghiệm 1)

Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá sự sai khác về sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng khi cho ăn lần đầu tiên ở 4 thời điểm (nghiệm thức) 38, 62,

86, 110 giờ sau khi nở Thí nghiệm được tiến hành trong bể composite thể tích 200 lít,

Trang 31

mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần

Sau khi nở, ấu trùng cá được thu từ bể ấp trứng để bố trí thí nghiệm Ấu trùng cá mới nở có kích thước 2,79 ± 0,14 mm được thả với mật độ 30 con/lít trong 12 bể thí nghiệm Hàng ngày tiến hành cấp tảo Nan-nochloropsis oculata vào bể với mật độ

0.15x106 – 0.2x106 tế bào/ml

Ở các thời điểm, 38 giờ sau khi nở (NT1), 62 giờ sau khi nở (NT2), 86 sau khi nở giờ (NT3), 110 sau khi nở giờ (NT4) thì bắt đầu tiến hành cung cấp luân trùng vào bể thí nghiệm Luân trùng được cấp vào bể 3 lần/ngày nhằm đảm mật độ luân trùng trong bể đạt 10-15 con/ml Tiến hành theo dõi mức độ ăn của từng bể để đảm bảo mật độ luân trùng được được duy trì đồng nhất trong tất cả các bể suốt thời gian thí nghiệm Hai ngày tiến hành thay nước 1 lần, mỗi lần thay 20 % lượng nước trong bể để đảm bảo môi trường nước luôn sạch Sau 10 ngày nuôi thì đánh giá tốc độ sinh trưởng, phân đàn và tỷ lệ sống của ấu trùng trong các thí nghiệm

2.3.5 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên tỷ lệ sống của ấu trùng

cá chim vây vàng

2.3.5.1 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn sống lên tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (Thí nghiệm 2)

Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá sự sai khác về tỷ lệ sống của ấu trùng cá

chim vây vàng khi chuyển đổi thức ăn từ luân trùng sang Nauplius Artemia ở 4 thời điểm

(nghiệm thức) khác nhau là 8, 10, 12, 14 ngày sau khi nở Thí nghiệm được tiến hành trong bể composite thể tích 200 lít, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần

Ấu trùng cá được nuôi trong bể xi măng đến 8 ngày tuổi khi đã có thể bắt đầu ăn

Nauplius Artemia (N-Artemia) thì tiến hành thu để bố trí thí nghiệm Ấu trùng cá 8 ngày

tuổi có kích thước 3,97±0,11 mm được thả với mật độ 1 con/lít trong 12 bể thí nghiệm Hàng ngày tiến hành cấp tảo Nan-nochloropsis oculata vào bể với mật độ 0,15x106 – 0,2x106 tế bào/ml

Ở NT1 khi cá đạt 8 ngày tuổi, NT2 cá đạt 10 ngày tuổi, NT3 cá đạt 12 ngày tuổi, NT4 cá đạt 14 ngày tuổi thì bắt đầu tiến hành cung cấp N-Artemia vào bể thí nghiệm Hai

Trang 32

ngày đầu tiên Nauplius Artemia được cấp vào bể với mật độ 4 – 6 con/ml Từ 15 – 21 ngày thì Nauplius Artemia được cấp vào bể với mật độ 10 – 15 con/ml Nauplius Artemia được cấp vào bể 4 lần mỗi ngày vào các thời điểm 7, 11, 14, 17 giờ và mật độ được duy trì đồng nhất trong tất cả các bể suốt thời gian thí nghiệm Hai ngày tiến hành thay nước 1 lần, mỗi lần thay 20 % lượng nước trong bể để đảm bảo môi trường nước luôn sạch Sau 10 ngày nuôi thì đánh giá tốc độ sinh trưởng, phân đàn và tỷ lệ sống của ấu trùng trong các thí nghiệm

2.3.5.2 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi từ thức ăn sống sang thức ăn công nghiệp lên tỷ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (Thí nghiệm 3)

Thí nghiệm được tiến hành tại 4 thời điểm (nghiệm thức) là ngày thứ 15, 17, 19, 21 sau khi nở với mục đích tìm ra thời điểm tập chuyển đổi thức ăn thích hợp nhất nhằm rút

ngắn thời gian sử dụng Nauplius Artemia Thí nghiệm được tiến hành trong 12 bể composite thể tích 200 lít, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần

Ấu trùng cá được nuôi trong bể xi măng đến 15 ngày tuổi thì tiến hành thu để bố trí thí nghiệm Ấu trùng cá 15 ngày tuổi có kích thước 6,30±0,14 mm được thả với mật độ 1 con/lít trong 12 bể thí nghiệm

Ở NT1 khi cá đạt 15 ngày tuổi, NT2 cá đạt 17 ngày tuổi, NT3 cá đạt 19 ngày tuổi, NT4 cá đạt 21 ngày tuổi thì bắt đầu tiến hành tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp.Thức ăn được sử dụng để tập cho cá là thức ăn NRD dạng viên kích thước hạt 300 – 500 µm của INVE, Thái Lan Tiến hành tập cho ấu trùng cá ăn thức ăn tổng hợp vào thời điểm từ 7 giờ đến 10 giờ và 14 giờ đến 17 giờ Ngày đầu tiên tiến hành tập cho cá ăn 1 lần/giờ, mỗi

lần 5 phút và vẫn giữ nguyên lượng N-Artemia cung cấp vào bể thí nghiệm và cho ăn 4

lần/ngày Hai ngày tiếp theo, 1 giờ thì tập cho ấu trùng cá ăn 1 lần, mỗi lần 10 phút và

giảm lượng N-Artemia xuống còn cho ăn 3 lần/ngày Hai ngày tiếp theo tập cho cá ăn 1 lần/giờ, mỗi lần 15 phút, giảm lượng N-Artemia xuống còn cho ăn 2 lần/ngày Hai ngày tiếp theo giữ nguyên cường độ tập thức ăn nhưng giảm lượng N-Artemia xuống còn cho

ăn 1 lần/ngày Các ngày kế tiếp cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn tổng hợp NRD.Hàng ngày tiến hành thay 30 % lượng nước để đảm bảo môi trường nước trong bể luôn sạch Sau khi

Trang 33

20 ngày nuôi thì tiến hành đánh giá tốc độ sinh trưởng, phân đàn và tỷ lệ sống của ấu trùng

2.4 Phương pháp xác định các thông số

2.4.1 Xác định thông số môi trường

Các yếu tố môi trường được kiểm tra, theo dõi vào các ngày lấy mẫu thí nghiệm

- Nhiệt độ được xác định bằng nhiệt kế thủy ngân với độ chính xác là 10

C

- Độ mặn xác định bằng khúc xạ kế S-10, Nhật Bản, độ chính xác 1‰

- Hàm lượng nitrite, ammoniac xác định bằng test so màu (Nitrit - Test và Amonium – Test) của Merck, Đức

- pH được đo bằng test pH

2.4.2 Xác định kích thước noãn hoàng, giọt dầu, cỡ miệng và chiều dài thân ấu trùng

Các chỉ tiêu chiều dài: đường kính trứng, độ mở rộng miệng, kích thước giọt dầu, kích thước noãn hoàng, chiều dài thân ấu trùng (standard length – SL): xác định bằng thước đo thị kính trên kính hiển vi soi nổi

Chiều dài thân ấu trùng và độ mở rộng miệng của ấu trùng được xác định bằng thước đo thị kính trên kính hiển vi soi nổi

Hình 2.5 Xác định chiều dài thân và độ mở rộng miệng ở ấu trùng cá [30]

Công thức tính sinh trưởng:

Tốc độ sinh trưởng đặc trưng SGR:

SGRL (%/ngày) = x100%

Độ mở rộng

LnL2 – LnL1 t2 – t1

Ngày đăng: 24/11/2015, 11:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2  Bản  đồ phân bố cá chim vây vàng trên thế giới [36] - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 1.2 Bản đồ phân bố cá chim vây vàng trên thế giới [36] (Trang 15)
Hình 1.3. Quá trình biệt hóa thành các bộ phận đường tiêu hóa theo giai đoạn phát triển ở - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 1.3. Quá trình biệt hóa thành các bộ phận đường tiêu hóa theo giai đoạn phát triển ở (Trang 21)
Hình 2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu (Trang 27)
Hình 2.4 Hệ thống bể thí nghiệm - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 2.4 Hệ thống bể thí nghiệm (Trang 29)
Hình 3.1 Các giai đoạn phát triển từ khi nở đến khi hoàn chỉnh về mặt hình thái - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 3.1 Các giai đoạn phát triển từ khi nở đến khi hoàn chỉnh về mặt hình thái (Trang 37)
Hình 3.2 Sự hình thành dạ dày ở ấu trùng cá chim vây vàng - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 3.2 Sự hình thành dạ dày ở ấu trùng cá chim vây vàng (Trang 38)
Bảng 3.1. Sự biến đổi kích thước noãn hoàng và giọt dầu - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Bảng 3.1. Sự biến đổi kích thước noãn hoàng và giọt dầu (Trang 40)
Hình 3.3 Biến đổi độ mở rộng miệng của ấu trùng cá chim theo ngày tuổi và thời điểm - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 3.3 Biến đổi độ mở rộng miệng của ấu trùng cá chim theo ngày tuổi và thời điểm (Trang 41)
Hình 3.4 Tương quan giữa chiều dài ấu trùng và độ rộng miệng cho đến 23 ngày tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 3.4 Tương quan giữa chiều dài ấu trùng và độ rộng miệng cho đến 23 ngày tuổi (Trang 42)
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn đầu tiên lên sinh trưởng và tỷ lệ phân đàn - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn đầu tiên lên sinh trưởng và tỷ lệ phân đàn (Trang 44)
Hình 3.5 Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn lần đầu tiên lên tỷ lệ sống của ấu trùng - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 3.5 Ảnh hưởng của thời điểm cho ăn lần đầu tiên lên tỷ lệ sống của ấu trùng (Trang 45)
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thời điểm  chuyển đổi các loại thức ăn sống lên sinh - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn sống lên sinh (Trang 47)
Hình 3.6 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn sống lên sinh tỷ lệ sống - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 3.6 Ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn sống lên sinh tỷ lệ sống (Trang 48)
Bảng 3.4: Sinh trưởng về chiều dài, khối lượng, hệ số phân đàn của cá chim vây - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Bảng 3.4 Sinh trưởng về chiều dài, khối lượng, hệ số phân đàn của cá chim vây (Trang 50)
Hình 3.7: Tỷ lệ sống của cá chim vây vàng khi tập chuyển đổi thức ăn ở  thời điểm khác  nhau (Chữ cái đi kèm giá trị trung bình trên mỗi cột khác nhau thể hiện sự sai khác có ý - Nghiên cứu một số đặc điểm phát triển ở giai đoạn sớm và ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi các loại thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ sống của ấu trùng cá chim vây vàng (trachinotus blochii lacepede, 1801)
Hình 3.7 Tỷ lệ sống của cá chim vây vàng khi tập chuyển đổi thức ăn ở thời điểm khác nhau (Chữ cái đi kèm giá trị trung bình trên mỗi cột khác nhau thể hiện sự sai khác có ý (Trang 51)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w