1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020

183 450 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Tính cấp thiết của luận án:Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam và đã từng là kinh đô của nhiều triều đại trong lịch sử. Với vị thế của thủ đô, Hà Nội được Đảng và Nhà nước xác định là trung tâm đầu não về chính trị, hành chính quốc gia; trung tâm hàng đầu về văn hóa, khoa học, giáo dục và công nghệ; trung tâm lớn về kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước. Trong quá trình phát triển, đặc biệt trong những năm đổi mới, Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên đến những năm cuối của thế kỉ 20, Hà Nội vẫn còn là thủ đô nghèo. Đến năm 2000, GDP bình quân đầu người mới đạt khoảng 990 USD; đến năm 2005, GDP bình quân đầu người mới đạt khoảng 1350 USD và vẫn đứng trước nguy cơ tụt hậu.Để phát triển kinh tế một trong những vấn đề cơ bản, cốt lõi là là xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là vấn đề trọng tâm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ cấu kinh tế hợp lý có tác động quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển bền vững của bất kỳ một địa phương cũng nh¬ư nền kinh tế. Sự thành công và thất bại của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chung rất quan trọng thuộc về chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì vậy để tăng trưởng kinh tế nhanh và phát triển bền vững, xứng đáng với vai trò vị thế và tiềm năng của Thủ đô, xứng đáng với trách nhiệm và niềm tin của nhân dân cả nước, việc nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Nội theo hướng CNH, HĐH, hội nhập quốc tế là rất cần thiết.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu:Xuất phát từ vai trò của cơ cấu kinh tế đối với sự phát triển, đã có nhiều công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế quốc dân. Cơ cấu kinh tế là một nội dung cơ bản của các học thuyết kinh tế từ cổ điển đến hiện đại. Ở nước ngoài, đã có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế chung hoặc sự thành công của các quốc gia có sự phát triển thần kỳ về kinh tế. Một số công trình cụ thể như:“Kinh tế học của các nước đang phát triển” của E.WAYENE NAFZIGER (NXB Thống kê 1998); “ Những nền kinh tế thần kỳ ở châu Á” của JION WORONOFF(NXB khoa học 1990); “Kinh tế Châu Á trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI” của nhà kinh tế Trung quốc Lưu Vĩnh Đoạn (NXB Nông nghiệp 1996). Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế. Một số công trình nghiên cứu nổi bật như: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH” của GS TS Ngô Đình Giao (NXB Chính trị quốc gia 1994); “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn ở Việt nam” do GS TS Đỗ Hoài Nam chủ biên ( NXB khoa học xã hội 1996); “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới” do GS. TSKH Lê Du Phong và PGS. TS Nguyễn Thành Độ chủ biên ( NXB Chính trị quốc gia 1999). Ngoài ra, trong các giáo trình kinh tế chính trị, giáo trình kinh tế và một số luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh cũng đề cập, nghiên cứu cơ cấu kinh tế. Ở Hà nội, cơ cấu kinh tế là vấn đề được lãnh đạo thành phố quan tâm. Một số công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế dưới hình thức đề tài nghiên cứu khoa học cấp Thành phố như sau:1 Đề tài khoa học cấp Thành phố: “Nghiên cứu phân tích động thái của cơ cấu kinh tế thủ đô giai đoạn 1991 1998 và kiến nghị về phương hướng và các giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 2000 2005. Chủ trì đề tài: TS Lê Văn Hoạt. 2 Đề tài khoa học cấp Thành phố: “ Chuyển dịch cơ cấu đầu tư phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 2005. Chủ trì đề tài: Nguyễn Đình Dương.3 Dự án điều tra cơ bản cấp Thành phố: “ Nghiên cứu điều tra và kiến nghị chính sách, giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm tiêu biểu ở các ngành kinh tế trên địa bàn Hà Nội trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế đến năm 2010”. Chủ nhiệm và Phó chủ nhiệm dự án: TS Nghiêm Xuân Đạt, Nguyễn Đình Dương. 4Đề tài khoa học cấp Thành phố: “Những luận cứ khoa học thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 2006 2010”. Chủ trì đề tài: TS Nghiêm Xuân Đạt; Ban thư ký: TS Nguyễn Văn Nam, TS Nguyễn Hồng Sơn, CN Nguyễn Đình Dương. Đề tài tiến hành trong 3 năm 2003 2005 và được Hội đồng khoa học Thành phố nghiệm thu năm 2005; Kết quả đạt loại xuất sắc.5 Ngoài các đề tài trên, một số quy hoạch nghiên cứu có liên quan đến cơ cấu kinh tế Hà Nội như: Quy hoạch kinh tế xã hội Thủ đô Hà Nội đến 2010...Tóm lại, đã có những công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên phạm vi quốc gia hoặc địa phương. Hà Nội cũng đã có một số công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên những công trình đó hoặc tiếp cận theo những phương pháp khác nhau, hoặc nghiên cứu trong những giai đoạn, thời gian khác nhau; các đề tài khoa học của Hà Nội chỉ nghiên cứu trong thời gian ngắn: đến 2010. Do đó luận án của nghiên cứu sinh với đề cương được xây dựng, thông qua năm 2001 và nghiên cứu đến 2020 là độc lập và không trùng lặp.3 Mục đích, nhiệm vụ khoa học:Mục đích: Trên cơ sở hệ thống và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu lý luận về cơ cấu kinh tế, luận án đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội và đề xuất quan điểm, định hướng, giải pháp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thủ đô Hà Nội đến năm 2020. Nhiệm vụ khoa học: Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá trong xu thế hội nhập quốc tế..Thu thập số liệu, tình hình phát triển kinh tế của Thủ đô Hà Nội trong những năm qua. Trên cơ sở đó, phân tích đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các thời kỳ phát triển; trọng tâm là trong thời kì đổi mới. Nghiên cứu đề xuất quan điểm, mục tiêu, định hướng, giải pháp cơ bản chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thủ đô đến năm 2020.4 Đối tư¬ợng và phạm vi nghiên cứu của luận án: Đối tượng nghiên cứu của luận án: Cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều loại theo nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau; theo hướng tiếp cận thông thường cơ cấu kinh tế bao gồm ba bộ phận chủ yếu là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng (còn gọi là cơ cấu lãnh thổ). Do đặc trưng của mình, cơ cấu kinh tế Thành phố Hà Nội cũng bao gồm ba bộ phận chủ yếu trên. Tuy nhiên, trong luận án này tập trung nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chủ yếu; đồng thời luận án cũng đề cập đến cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng nhưng có mức độ và đặt trong mối quan hệ với cơ cấu ngành kinh tế nhằm làm rõ hơn bức tranh tổng thể về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô. Phạm vi nghiên cứu: Với quan điểm tiếp cận theo hướng mở, luận án tập trung nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong mối quan hệ với sự phát triển của các tỉnh trong vùng Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng và cả n¬ước trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.5 Ph¬ương pháp nghiên cứu: Luận án vận dụng những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, thực hiện phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, áp dụng phư¬ơng pháp toán và dự báo...để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. 6 Đóng góp mới của luận án: Về mặt khoa học: Luận án hệ thống hoá lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Về mặt thực tiễn: Luận án đã hệ thống, đánh giá thực trạng những thành tựu và hạn chế cơ bản trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thủ đô Hà nội; đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô đến năm 2020. Những nội dung đã dề cập và phân tích trong luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ các quan điểm khoa học về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà nội, góp phần xác định những căn cứ, cơ sở cho việc quyết định các chủ tr¬ương, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô Hà Nội trong quá trình CNH, HĐH, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.7 Kết cấu của luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận luận án gồm 3 ch¬ương: Chư¬ơng 1: Lý luận chung về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tếCh¬ương 2: Thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội.Ch¬ương 3: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1- Tính cấp thiết của luận án:

Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam và đã từng làkinh đô của nhiều triều đại trong lịch sử Với vị thế của thủ đô, Hà Nội được Đảng vàNhà nước xác định là trung tâm đầu não về chính trị, hành chính quốc gia; trung tâmhàng đầu về văn hóa, khoa học, giáo dục và công nghệ; trung tâm lớn về kinh tế và giaodịch quốc tế của cả nước Trong quá trình phát triển, đặc biệt trong những năm đổi mới,

Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên đến những năm cuối của thế kỉ 20,

Hà Nội vẫn còn là thủ đô nghèo Đến năm 2000, GDP bình quân đầu người mới đạtkhoảng 990 USD; đến năm 2005, GDP bình quân đầu người mới đạt khoảng 1350 USD

và vẫn đứng trước nguy cơ tụt hậu

Để phát triển kinh tế một trong những vấn đề cơ bản, cốt lõi là là xây dựng cơ cấukinh tế hợp lý Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là vấn

đề trọng tâm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cơ cấu kinh tế hợp lý có tácđộng quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển bền vững của bất kỳ một địa phươngcũng như nền kinh tế Sự thành công và thất bại của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trênthế giới có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chung rất quan trọng thuộc về chínhsách chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Vì vậy để tăng trưởng kinh tế nhanh và phát triển bền vững, xứng đáng với vai trò

vị thế và tiềm năng của Thủ đô, xứng đáng với trách nhiệm và niềm tin của nhân dân cảnước, việc nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Nội theo hướng CNH, HĐH, hộinhập quốc tế là rất cần thiết

2- Tổng quan về tình hình nghiên cứu:

Xuất phát từ vai trò của cơ cấu kinh tế đối với sự phát triển, đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế quốc dân Cơ cấu kinh tế là một nội dung cơ bản củacác học thuyết kinh tế từ cổ điển đến hiện đại

Ở nước ngoài, đã có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế chung hoặc sự thànhcông của các quốc gia có sự phát triển thần kỳ về kinh tế Một số công trình cụ thểnhư:“Kinh tế học của các nước đang phát triển” của E.WAYENE NAFZIGER (NXB

Trang 2

Thống kê - 1998); “ Những nền kinh tế thần kỳ ở châu Á” của JIONWORONOFF(NXB khoa học - 1990); “Kinh tế Châu Á trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI”của nhà kinh tế Trung quốc Lưu Vĩnh Đoạn (NXB Nông nghiệp - 1996)

Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế Một số công trìnhnghiên cứu nổi bật như: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH” của GS TS NgôĐình Giao (NXB Chính trị quốc gia - 1994); “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và pháttriển các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn ở Việt nam” do GS TS Đỗ Hoài Nam chủbiên ( NXB khoa học xã hội - 1996); “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hộinhập với khu vực và thế giới” do GS TSKH Lê Du Phong và PGS TS Nguyễn Thành

Độ chủ biên ( NXB Chính trị quốc gia - 1999) Ngoài ra, trong các giáo trình kinh tếchính trị, giáo trình kinh tế và một số luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh cũng đề cập,nghiên cứu cơ cấu kinh tế

Ở Hà nội, cơ cấu kinh tế là vấn đề được lãnh đạo thành phố quan tâm Một sốcông trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế dưới hình thức đề tài nghiên cứu khoa học cấpThành phố như sau:

1- Đề tài khoa học cấp Thành phố: “Nghiên cứu phân tích động thái của

cơ cấu kinh tế thủ đô giai đoạn 1991 - 1998 và kiến nghị về phương hướng vàcác giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 2000 - 2005 Chủ trì

đề tài: TS Lê Văn Hoạt

2- Đề tài khoa học cấp Thành phố: “ Chuyển dịch cơ cấu đầu tư phục vụ chuyểndịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 - 2005 Chủ trì đề tài: Nguyễn Đình Dương

3- Dự án điều tra cơ bản cấp Thành phố: “ Nghiên cứu điều tra và kiến nghị chínhsách, giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm tiêu biểu ở các ngànhkinh tế trên địa bàn Hà Nội trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế đến năm 2010”.Chủ nhiệm và Phó chủ nhiệm dự án: TS Nghiêm Xuân Đạt, Nguyễn Đình Dương

4-Đề tài khoa học cấp Thành phố: “Những luận cứ khoa học thực hiện chuyểndịch cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 2006 - 2010” Chủ trì đề tài: TS Nghiêm Xuân Đạt;Ban thư ký: TS Nguyễn Văn Nam, TS Nguyễn Hồng Sơn, CN Nguyễn Đình Dương Đềtài tiến hành trong 3 năm 2003 - 2005 và được Hội đồng khoa học Thành phố nghiệmthu năm 2005; Kết quả đạt loại xuất sắc

Trang 3

5- Ngoài các đề tài trên, một số quy hoạch nghiên cứu có liên quan đến cơ cấukinh tế Hà Nội như: Quy hoạch kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội đến 2010

Tóm lại, đã có những công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơcấu kinh tế trên phạm vi quốc gia hoặc địa phương Hà Nội cũng đã có một số công trìnhnghiên cứu về cơ cấu kinh tế Tuy nhiên những công trình đó hoặc tiếp cận theo nhữngphương pháp khác nhau, hoặc nghiên cứu trong những giai đoạn, thời gian khác nhau;các đề tài khoa học của Hà Nội chỉ nghiên cứu trong thời gian ngắn: đến 2010 Do đóluận án của nghiên cứu sinh với đề cương được xây dựng, thông qua năm 2001 vànghiên cứu đến 2020 là độc lập và không trùng lặp

3- Mục đích, nhiệm vụ khoa học:

Mục đích: Trên cơ sở hệ thống và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu

lý luận về cơ cấu kinh tế, luận án đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô

Hà Nội và đề xuất quan điểm, định hướng, giải pháp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế ở Thủ đô Hà Nội đến năm 2020

Nhiệm vụ khoa học:

- Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá trong xu thế hội nhập quốc tế

-Thu thập số liệu, tình hình phát triển kinh tế của Thủ đô Hà Nội trong nhữngnăm qua Trên cơ sở đó, phân tích đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quacác thời kỳ phát triển; trọng tâm là trong thời kì đổi mới

- Nghiên cứu đề xuất quan điểm, mục tiêu, định hướng, giải pháp cơ bản chuyểndịch cơ cấu kinh tế của Thủ đô đến năm 2020

4- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:

- Đối tượng nghiên cứu của luận án:

Cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều loại theo nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau;theo hướng tiếp cận thông thường cơ cấu kinh tế bao gồm ba bộ phận chủ yếu là cơ cấungành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng (còn gọi là cơ cấu lãnh thổ) Dođặc trưng của mình, cơ cấu kinh tế Thành phố Hà Nội cũng bao gồm ba bộ phận chủ yếu

trên Tuy nhiên, trong luận án này tập trung nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chủ yếu; đồng thời luận án cũng đề cập đến cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu

Trang 4

vùng nhưng có mức độ và đặt trong mối quan hệ với cơ cấu ngành kinh tế nhằm làm rõhơn bức tranh tổng thể về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô.

- Phạm vi nghiên cứu:

Với quan điểm tiếp cận theo hướng mở, luận án tập trung nghiên cứu chuyểndịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong mối quan hệ với sự phát triểncủa các tỉnh trong vùng Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Đồng bằng sôngHồng và cả nước trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế

5- Phương pháp nghiên cứu:

Luận án vận dụng những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử, thực hiện phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, áp dụng phươngpháp toán và dự báo để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

6 - Đóng góp mới của luận án:

- Về mặt khoa học: Luận án hệ thống hoá lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyểndịch cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế thị trường

- Về mặt thực tiễn: Luận án đã hệ thống, đánh giá thực trạng những thành tựu vàhạn chế cơ bản trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thủ đô Hà nội; đềxuất quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế Thủ đô đến năm 2020 Những nội dung đã dề cập và phân tích trong luận án sẽgóp phần làm sáng tỏ các quan điểm khoa học về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hànội, góp phần xác định những căn cứ, cơ sở cho việc quyết định các chủ trương, chínhsách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội trong quá trình CNH, HĐH,hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

7- Kết cấu của luận án:

Ngoài phần mở đầu, kết luận luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chương 2: Thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội.Chương 3: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nộiđến năm 2020

Trang 5

CHƯƠNG 1

LÍ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ

VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

1.1 Bản chất cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.1.1 Khái niệm và nội dung cơ cấu kinh tế

Thực tiễn của nền kinh tế nước ta cũng như trong từng địa phương đang đứng trước những câu hỏi: thế nào là cơ cấu kinh tế hợp lý? Vì sao chuyển dịch cơ cấu kinh tế

cả nước và hầu hết các địa phương đều chậm? Làm thế nào để chuyển dịch nhanh hơn

cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH? Vì vậy nghiên cứu kỹ cả khái niệm lẫn nội dung

cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cần thiết để tạo sự thống nhất hơn trongnhận thức làm cơ sở cho sự vận dụng và chỉ đạo trong thực tiễn

1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế:

Khái niệm cơ cấu kinh tế là vấn đề phức tạp Cho đến nay, trong giới khoa họccũng như trong giới quản lý vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau cả về khái niệm lẫn nộidung, phạm vi của cơ cấu kinh tế Có quan điểm cho rằng cơ cấu kinh tế nằm trong kháiniệm cơ chế kinh tế, là một nội dung của cơ chế kinh tế Cũng có nhiều ý kiến quan niệm

cơ cấu kinh tế chủ yếu là xem xét về cấu trúc nền kinh tế; do đó khi phân tích cơ cấukinh tế thường tập trung xem xét về tỷ trọng, tỷ lệ các yếu tố, các bộ phận mà khôngnghiên cứu đầy đủ mặt chất lượng của cơ cấu, không đánh giá kỹ cơ chế tác động nội tạigiữa các bộ phận cấu trúc thành tổng thể kinh tế Tôi xin nêu một số định nghĩa cụ thể:

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “ Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnhvực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [39, tr.610]

Theo Giáo trình Kinh tế chính trị - Mác Lê nin: “ Cơ cấu của nền kinh tế quốcdân là cấu tạo hay cấu trúc của nền kinh tế bao gồm các ngành kinh tế, các vùng kinh tế,các thành phần kinh tế, và mối quan hệ hữu cơ giữa chúng” [22, tr 334]

Theo Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì “Cơ cấu kinh tế lànội dung, cách thức liên kết, phối hợp giữa các phần tử cấu thành hệ thống kinh tế; biểu

Trang 6

hiện quan hệ tỷ lệ cả về mặt lượng và chất của các phần tử hợp thành hệ thống nói cáchkhác cơ cấu kinh tế được hiểu là cáh thức kết cấu của các phần tử cơ cấu tạo nên hệthống kinh tế” [57, tr.33].

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lê Sỹ Thiệp (Học viện Hành chính Quốc gia): “ Cơ cấukinh tế là thành phần cấu tạo và cơ chế vận hành của một tổ chức kinh tế, trong đó tổchức kinh tế có thể là toàn cầu, khu vực, khối, quốc gia, tổng công ty, doanh nghiệp, tùytheo đối tượng nghiên cứu”

Theo Giáo sư, tiến sỹ Đỗ Hoài Nam: “Cơ cấu ngành của nền kinh tế là tổ hợp cácngành họp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các ngành đó của nềnkinh tế quốc dân” [28, tr.245]

Nhìn chung các quan điểm về khái niệm cơ cấu kinh tế đều phản ánh được cáckhía cạnh thể hiện mặt bản chất của cơ cấu kinh tế Đó là các vấn đề: Tổng thể các nhómngành hay các yếu tố cấu thành hệ thống, sự tồn tại của sự vật, hiện tượng; số lượng và tỷtrọng của các bộ phận đó; các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa chúng Tuy nhiên,điểm chung cơ bản của các quan niệm về cơ cấu kinh tế hiện nay đều chưa phản ánh đầy

đủ bản chất, nội hàm của cơ cấu kinh tế, hoặc thiếu nội dung này, hoặc chỉ nhấn mạnhmột số đặc trưng nào đó theo mục tiêu nghiên cứu Cũng không ít ý kiến cho rằng, vấn

đề quan trọng là xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, việc xác định khái niệm, nội dung cơ cấukinh tế chỉ là duy danh định nghĩa

Chúng tôi cho rằng, mỗi loại quan điểm trên đều chứa đựng những yếu tố kháchquan, hợp lý khi xem xét Để tiếp cận khái niệm cơ cấu kinh tế thường bắt đầu từ kháiniệm cơ cấu Xét về nguồn gốc, khái niệm cơ cấu có nguồn gốc từ chữ La tinh “structure” nghĩa là xây dựng, là kiến trúc, được sử dụng đầu tiên trong sinh vật học dùng

để chỉ cách cấu tạo, cách tổ chức và phối hợp, điều chỉnh các yếu tố đã tạo nên các tế bàothực vật, động vật Sau đó khái niệm cơ cấu được sử dụng chung cho nhiều ngành khoa

học và được phát triển, hoàn thiện theo sự phát triển của khoa học Xét trên phương diện

triết học, khái niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối

quan hệ giữa các bộ phận hợp thành một tổng thể hoặc của một hệ thống Trước hết, cơ

cấu được biểu hiện như là tập hợp những yếu tố, những bộ phận khác nhau của một sự

Trang 7

vật hiện tượng; chúng cấu tạo nên sự vật hiện tượng, phản ánh sự tồn tại của sự vật hiệntượng Biểu hiện đặc tính này của cơ cấu chính là tỷ trọng của mỗi bộ phận trong tổngthể hoặc là số lượng các yếu tố, số lượng các thành phần cấu tạo nên sự vật hiện tượng.

Thứ hai, các bộ phận trong cơ cấu không đứng yên mà chúng luôn vận động, biến đổi;

sự vận động, biến đổi đó là quy luật và khi sự vận động, biến đổi bên trong đến mộtngưỡng nào đó, đến một “độ” nào đó sẽ tạo tiền đề, điều kiện để làm cho toàn bộ sự vật,

hiện tượng biến đổi và làm thay đổi trạng thái bên ngoài Thứ ba, các yếu tố, bộ phận

trong tổng thể không phải tồn tại độc lập, tách rời riêng rẽ và vận động hỗn độn màchúng có mối quan hệ, ràng buộc lẫn nhau, tương tác lẫn nhau theo những tính quy luật;mối quan hệ này chính là cơ chế tác động, cơ chế ràng buộc, quy định, chi phối lẫn nhaugiữa các yếu tố hay bộ phận trong quá trình vận động và phát triển, có mối liên kết chặtchẽ với nhau Mối liên hệ này phải là liên hệ bản chất, nội tại; chúng quy định lẫn nhau,tác động qua lại với nhau, nương tựa vào nhau, và do đó tạo nên đặc trưng, bản chất của

sự vật Sự biểu hiện ra bên ngoài của mối quan hệ này chính là các quan hệ, tỷ lệ và sựràng buộc lẫn nhau, đem lại những sự phát triển và hiệu quả khác nhau khi các quan hệ

và tỷ lệ không đồng nhất Thứ tư, các bộ phận hay các yếu tố trong một sự vật hiện

tượng vận động, biến đổi và quan hệ tỷ lệ với nhau phải gắn với những điều kiện cụ thểcủa môi trường khách quan trong những không gian và thời gian xác định Chủ nghĩaduy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã khẳng định rằng, không có sự vật hiện tượngnào tồn tại tách rời không gian và thời gian; không có sự vật hiện tượng nào tồn tại táchrời điều kiện lịch sử cụ thể Chính các điều kiện lịch sử cụ thể trong những không gian vàthời gian xác định đã quy định các mức độ, trình tự, thang bậc, giai đoạn của sự phát

triển của mỗi sự vật hiện tượng Từ quan điểm trên, ta thấy rằng cơ cấu kinh tế là một

phạm trù kinh tế, một khái niệm phản ánh cấu trúc bên trong của nền kinh tế Nền kinh

tế được hợp thành bởi nhiều yếu tố, nhiều bộ phận của một quốc gia, giữa chúng cónhững mối liên hệ hữu cơ, vận động, chuyển hoá và phát triển trong sự tương tác qua lại

cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và thời gian gắn với điều kiệnkinh tế xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định Như vậy,

hiểu một cách đầy đủ thì: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố, các bộ phận hợp thành

nền kinh tế mà giữa chúng luôn có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, thường xuyên vận

Trang 8

động trong những điều kiện tự nhiên, xã hội cụ thể gắn với không gian, thời gian nhất định được thể hiện cả về định tính lẫn định lượng, phù hợp với xu hướng vận động và phát triển của nền kinh tế

Các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế trước hết là các yếu tố của quá trình tái sảnxuất bao gồm các khâu: sản xuất - phân phối - lưu thông - tiêu dùng Cơ cấu kinh tế quốcdân bắt nguồn từ sự phân chia nền kinh tế quốc dân thành các lĩnh vực và các quá trình,trong đó các giai đoạn của quá trình tái sản xuất: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêudùng được coi là tiêu thức cơ bản Do vậy, cơ cấu kinh tế quốc dân bao gồm: cơ cấu sảnxuất vật chất theo sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm, theo các ngành hoặc theo các xínghiệp, theo hình thức và theo lãnh thổ; cơ cấu phân phối: gồm phân phối sức lao động,đối tượng lao động và tư liệu lao động trong sản xuất, phù hợp với đặc điểm của phânloại sản xuất, phân phối thu nhập quốc dân sản xuất và thu nhập quốc dân sử dụng; cơcấu lưu thông phân ra các hình thức lưu chuyển theo nhóm sản phẩm hoặc sản phẩmtrong thương nghiệp; cơ cấu tiêu dùng phân ra tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cánhân v.v Trong thực tế cũng như về lý luận, việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệuquả luôn luôn phải xuất phát từ sự thống nhất biện chứng giữa sản xuất, phân phối, traođổi và tiêu dùng Trong đó cơ cấu sản xuất có vai trò cực kỳ quan trọng Cơ cấu sản xuất

là bộ phận quan trọng của cơ cấu kinh tế Sự thay đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trướchết được thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất Khởi đầu là sự thay đổi công cụ laođộng, đối tượng lao động, và cùng với nó là sự thay đổi về kỹ năng, phương pháp laođộng sẽ cho ta những sản phẩm mới, các kết quả mới Trên cơ sở sự thay đổi của giaiđoạn sản xuất (hay mở rộng quan niệm là cơ cấu sản xuất), các yêu cầu về phân phối,trao đổi, dịch vụ và tất nhiên là tiêu dùng sẽ được vận động, biến đổi theo Đương nhiên,mỗi giai đoạn của quá trình tái sản xuất đều có vị trí đặc thù, đều có tính quyết địnhtương đối đến các giai đoạn khác của quá trình tái sản xuất Nhấn mạnh vai trò của cơcấu sản xuất, tính “linh hoạt”, “tính động” và tính chuyển dịch trước của cơ cấu sản xuấtkhông làm giảm nhẹ vai trò của mỗi giai đoạn mà giúp cho ta thấy rõ hơn, đúng đắn hơn

sự bắt đầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quan niệm này giúp chúng ta nhậnthức rõ hơn bản chất của phạm trù cơ cấu kinh tế Sự phụ thuộc lẫn nhau và làm điềukiện cho nhau giữa các bộ phận của hệ thống ấy có thể diễn ra một cách trực tiếp trong

Trang 9

lĩnh vực sản xuất và cũng có thể diễn ra một cách gián tiếp qua những kênh lưu thôngphức tạp Nhưng những yếu tố kinh tế ấy bao giờ cũng ở trong mối quan hệ nhân quả tácđộng lẫn nhau không ngừng Những quan hệ trong cơ cấu kinh tế chính là những quan hệnói lên trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, của sự chuyên môn hoá và hiệptác hoá, sự trao đổi lao động cho nhau dưới hình thức này hay hình thức khác Một cơcấu kinh tế càng phức tạp, phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, càng nói lên trình độ củaphân công lao động xã hội, cũng tức là sự xã hội hoá lao động, và cũng chính là hiệu quảcủa cơ cấu kinh tế, là sự phản ánh tính hợp lý, tính tối ưu của cơ cấu kinh tế.

Từ khái niệm trên, vấn đề quan trọng là xác định cơ cấu kinh tế hợp lý Một cơ cấu kinh

tế hợp lý phải đáp ứng các yêu cầu: Phản ánh đúng đắn các quy luật khách quan màtrước hết là yêu cầu của các quy luật kinh tế; tạo điều kiện và cho phép khai thác, pháthuy tốt nhất các tiềm năng, nguồn lực, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh và phát triểnbền vững của toàn bộ nền kinh tế xã hội; cơ cấu kinh tế hợp lý trong xu thế CNH, HĐHcòn phải phù hợp với xu thế phát triển khoa học công nghệ hiện đại, tiếp thu được trình

độ công nghệ tiên tiến, văn minh của thế giới đồng thời nâng cao được trình độ khoa họccông nghệ của nền kinh tế Do đó, cơ cấu kinh tế hợp lý phải là cơ cấu kinh tế mở, phùhợp với sự phân công và hợp tác kinh tế quốc tế đang ngày càng phát triển Đươngnhiên, không có một cơ cấu kinh tế hợp lý vĩnh cửu hay cố định Cùng với sự vận độngcủa thời gian và không gian, các điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên thay đổi, cơ cấu kinh

tế sẽ thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác Đó chính là sự chuyển dịch cơ cấukinh tế

Phân tích rõ một cách khoa học khoa học về khái niệm cơ cấu kinh tế có ý nghĩaquan trọng trong công tác chỉ đạo thực tiễn Bất cứ nước nào, địa phương nào muốn xâydựng cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xác định đúng đắn bước

đi, lộ trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế tất yếu phải tính đến mối quan hệ giữa cơ cấu sảnxuất và cơ cấu lưu thông, cơ cấu tiêu dùng trong những điều kiện cụ thể của từng địaphương hay từng quốc gia; mọi ý muốn chủ quan, nóng vội đều phải trả giá, thậm chí lànhững bài học đắt giá Mặt khác, trong thực tiễn và trong lý luận, cần phải tiếp tục nghiêncứu kỹ khái niệm và nội dung cơ cấu kinh tế để đánh giá đúng bản chất, tạo sự thốngnhất hơn trong nhận thức và chỉ đạo trong thực tiễn

Trang 10

1.1.1.2 Nội dung chủ yếu của cơ cấu kinh tế

Trong nền kinh tế thống nhất trên phạm vi quốc gia có thể phân chia quá trình táisản xuất xã hội theo nhiều quan điểm tiếp cận, nghiên cứu khác nhau Do đó phân tíchtrên nhiều giác độ khác nhau người ta có thể nêu ra các loại cơ cấu khác nhau:

- Cơ cấu ngành (xét trên giác độ phân công lao động xã hội theo ngành)

- Cơ cấu vùng (xét trên giác độ phân công lao động theo lãnh thổ hoặc theo vùnglãnh thổ hay còn gọi là theo không gian địa lý)

- Cơ cấu thành phần kinh tế ( xét theo quan hệ sở hữu)

- Cơ cấu kinh tế - kỹ thuật (xét về trình độ kỹ thuật)

- Cơ cấu xuất nhập khẩu ( thể hiện sự mở cửa của nền kinh tế đối với thế giới)

- Cơ cấu đầu tư (thể hiện khả năng tăng trưởng kinh tế trong tương lai)

- Cơ cấu lao động ( thể hiện sự phân bổ nguồn lực lao động trong nền kinh tế)

- Ngoài ra, trong quá trình phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế còn được nghiên cứu,xem xét theo quy mô (cơ cấu quy mô), theo phân cấp quản lý (cơ cấu kinh tế trung ương,

cơ cấu kinh tế địa phương), cơ cấu kinh tế đóng, cơ cấu kinh tế mở Nhìn chung, khi xemxét cơ cấu kinh tế, không nên phân định một cách máy móc, cố định từng nội dung haytừng loại cơ cấu Tùy theo mục đích nghiên cứu mà cơ cấu kinh tế được xem xét, nhấnmạnh ở mặt này hay mặt khác Đồng thời, cũng cần thấy, dù nghiên cứu cơ cấu kinh tếnào, chúng đều có chung các đặc trưng cơ bản của cơ cấu kinh tế: hình thành một cáchkhách quan, mang tính lịch sử và xã hội, luôn biến đổi, chuyển dịch theo hướng ngàycàng hoàn thiện Sau đây là những nội dung chủ yếu về các loại cơ cấu lớn, cơ bản củanền kinh tế được nghiên cứu phổ biến trong lý luận cũng như thực tiễn phát triển của mỗivùng, mỗi quốc gia

a Cơ cấu ngành

*Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế:

Ngành là tổng thể các đơn vị kinh tế cùng thực hiện một chức năng trong hệ

thống phân công lao động xã hội Cơ cấu kinh tế ngành của nền kinh tế là tổ hợp các

ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các ngành đó trong nền kinh tế quốc dân Cơ cấu kinh tế ngành phản ánh quá trình phân công lao động xã

hội theo ngành, được quyết định bởi sự phát triển của kĩ thuật, khoa học và công nghệ.

Trang 11

Cơ cấu ngành xét theo quan điểm hệ thống là một chỉnh thể liên kết các ngành kinh tếtheo một kiểu cấu trúc nhất định, tạo ra những thuộc tính mới, chất lượng mới của hệthống mà những thuộc tính này không thể có ở từng bộ phận riêng rẽ hợp thành hệthống Theo một số nhà kinh tế thì: Cơ cấu ngành là quan hệ gắn bó với nhau theo tỷ lệnhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như giữa cácngành nghề và các doanh nghiệp trong ngành Cơ cấu ngành là bộ phận then chốt trongnền kinh tế vì cơ cấu ngành quyết định trạng thái chung và tỷ lệ đầu vào, đầu ra của nềnkinh tế quốc dân Trong toàn bộ lý luận của Karl Max về tái sản xuất, tư tưởng luôn luônxuyên suốt là muốn cho quá trình tái sản xuất được tiến hành thuận lợi phải giữ cơ cấu tỷ

lệ cân bằng - tức là vấn đề cơ cấu ngành Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặctrưng của các nước đang phát triển Các ngành hợp thành trong nền kinh tế có thể phânloại theo nhiều tiêu thức khác nhau hoặc theo các phương pháp tiếp cận khác nhau Theocác đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành thì nền kinh tế bao gồm các ngành như: Côngnghiệp, Nông nghiệp, Xây Dựng cơ bản, Thương mại, Dịch vụ Trong mỗi ngành lại cóbao gồm các phân ngành, như trong Công nghiệp có: cơ khí, điện lực, hoá chất Hoặc

có thể phân theo tính chất tác động vào đối tượng lao động, gồm: khối ngành khai thác(Nông nghiệp, các ngành công nghiệp khai khoáng, khai thác ), khối ngành chế biến vàkhối ngành dịch vụ Theo kinh nghiệm nhiều nước, để hoạch định chính sách phát triển,người ta còn phân loại ngành theo chu kỳ vận động của bản thân các ngành đó, gồmngành mới ra đời và ngành sắp lặn; hoặc dựa vào vị trí, tầm quan trọng, xu thế vận độngcủa nó, gồm ngành trọng điểm, ngành chủ lực, ngành mũi nhọn, ngành then chốt và cácngành khác v.v Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA thì cơ cấu ngành kinh tế đượcchia thành ba khu vực gọi là khu vực I, khu vực II và khu vực III Trong đó: khu vực Igồm nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng; khu vực II gồm Công nghiệp chế tạo; khuvực III gồm Dịch vụ, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm v.v Hiện nay cũng có ý kiến chorằng với sự ra đời và phát triển của “kinh tế tri thức” thì nền kinh tế đã xuất hiện thêmmột khu vực mới và họ gọi là khu vực IV Khu vực IV này sẽ gồm các ngành như thôngtin, ngành sản xuất tri thức, ngành sản xuất lý luận vv Tuy nhiên, những ý kiến xungquanh khu vực IV này hiện vẫn đang còn nhiều tranh luận Dưới đây là bảng cơ cấungành của nền kinh tế Nhật Bản hiện nay, phân nhóm theo khu vực (3 khu vực, 13 khuvực và 32 khu vực):

Trang 12

Bảng 1: Cơ cấu ngành của nền kinh tế Nhật Bản Phân theo 3

khu vực

Phân loại theo 13 khu vực

Phân loại theo 32 khu vực

1 Khu vực I 1.Nông, lâm, ngư nghiệp

7.Các ngành sx dầu mỏ và than8.Các ngành sx sắt & thép9.Các ngành sx gốm, đá và đất sét10.Các ngành sx KL màu

11.Các ngành chế tạo sản phẩm KL

12 Các ngành chế tạo máy móc13.Các ngành chế tạo điện máy14.Các ngành sx thiết bị vận tải15.Các ngành sx công cụ chính xác16.Sx các sản phẩm khác

7.Tài chính, bảo hiểm 21.TàI chính, bảo hiểm8.Bất động sản 22.Bất động sản

10 Các phương tiệnthông tin đại chúng 24.Các phương tiện thông tin đại chúng11.Quản lý công cộng 25.Quản lý công cộng

12.Dịch vụ 26.Giáo dục và nghiên cứu

27.Y tế, sức khỏe và an toàn xã hội28.Các Dịch vụ công cộng khác29.Dịch vụ kinh doanh

30.Dịch vụ cá nhân31.Cung cấp văn phòng13.Các hoạt động khác 32.Các hoạt động khác

Nguồn: Hệ thống tài khoản quốc gia Nhật Bản

Trang 13

Chúng tôi cho rằng việc phân loại các ngành theo các phương pháp, tiêu chí khácnhau để phục vụ mục đích nghiên cứu, đánh giá khác nhau là cần thiết Tuy nhiên, đểtham gia vào quá trình hội nhập khu vực và thế giới, cần thiết phải tiếp cận với cácphương pháp thông dụng của các quốc gia trên thế giới đã thống nhất về cơ bản Trong

cơ cấu ngành kinh tế thì quan hệ giữa Công nghiệp và Nông nghiệp là đặc biệt quantrọng Đó là hai ngành sản xuất cơ bản của xã hội Giữa Công nghiệp và Nông nghiệpluôn có mối liên hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển Chỉ

có Công nghiệp mới cải biến sâu sắc, làm phong phú và đa dạng hoá cơ cấu sản xuấtNông nghiệp Liên kết Công - Nông nghiệp là xu thế tất yếu của sự phát triển lịch sử, làđòi hỏi khách quan của tiến trình phân công hợp tác lao động, là kết quả đương nhiên củatiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ Nhờ có sự liên kết đó mà Nông nghiệp nhanhchóng xây dựng cho bản thân mình một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có đủ khả năngchống đỡ với thiên nhiên, có điều kiện áp dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - kỹ thuật

và công nghệ để nâng cao năng suất, nâng cao giá trị sản phẩm

Nói đến quan hệ giữa Công nghiệp và Nông nghiệp, theo tư duy biện chứng,cũng đồng thời khẳng định vai trò của các ngành dịch vụ bao gồm thương nghiệp, vậntải, tài chính, ngân hàng Bởi vì quan hệ giữa Công nghiệp và Nông nghiệp có thể biểuhiện ra trong hoạt động sản xuất hoặc thông qua hoạt động lưu thông trên thị trường.Điều đó cũng có nghĩa là tính chất xã hội của lao động Công nghiệp và lao động Nông

nghiệp có thể biểu hiện ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Theo khía cạnh thứ hai này,

nếu không có một hệ thống Dịch vụ mà trước hết là thương nghiệp và giao thông vận tải phát triển thì không thể nói đến sự tồn tại một cơ cấu nông-Công nghiệp trong thực tế.

Không thể quan niệm được một cơ cấu Công - Nông nghiệp thuần tuý mà phải gắn liềnhữu cơ với Thương nghiệp nói riêng và Dịch vụ nói chung được hiểu bao gồm cả Dịch

vụ đầu vào và Dịch vụ đầu ra của quá trình tái sản xuất Thương nghiệp và giao thôngvận tải là cầu nối giữa các ngành sản xuất thông qua trao đổi trên thị trường Sản xuấthàng hoá gắn liền với thị trường gắn liền với lưu thông và trao đổi Trong nền kinh tếhiện đại, không chỉ có các ngành thương nghiệp, vận tải tham gia vào cơ cấu với tư cách

là cầu nối, là mạch máu của nền kinh tế mà ngày càng có nhiều ngành dịch vụ có vai trò

Trang 14

cực kì quan trọng trong nền kinh tế thị trường như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dulịch Trên phương diện mới, các ngành dịch vụ nói chung cũng là ngành tạo ra tổng sảnphẩm của nền kinh tế; tùy theo đặc điểm của từng quốc gia hoặc từng vùng Dịch vụ trởthành ngành trọng điểm hoặc ngành chủ lực then chốt có tác dụng tạo ra đột phá và pháttriển như ngành công nghiệp, Nông nghiệp hoặc các ngành sản xuất khác.

b Cơ cấu kinh tế vùng (xét trên giác độ phân công lao động theo lãnh thổ hoặc theo vùng lãnh thổ hay còn gọi là theo không gian địa lý):

Nếu cơ cấu ngành hình thành từ quá trình chuyên môn hoá sản xuất, thì cơ cấulãnh thổ hình thành từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý Cơ cấu lãnh thổ và cơcấu ngành thực chất là hai mặt của cùng một vấn đề, của một thể thống nhất, bản chất là

sự phân công lao động xã hội Cơ cấu lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành vàthống nhất trong vùng kinh tế Trong cơ cấu lãnh thổ, có sự biểu hiện của cơ cấu ngànhtrong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ đó Xu hướng phát triển kinh tế lãnh thổthường là sự phát triển nhiều mặt, tổng hợp, có ưu tiên một vài ngành và hình thành sựphân bố dân cư phù hợp với phát triển kinh tế

Cơ cấu kinh tế vùng có các đặc trưng khác với cơ cấu lãnh thổ quốc gia; đó làtính không toàn diện và không đồng bộ như cơ cấu kinh tế một quốc gia; nó phản ánh thếmạnh đặc thù của mỗi vùng, đó là sản xuất chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổnghợp và các vùng sẽ hình thành cơ cấu kinh tế khác nhau Cơ cấu vùng lãnh thổ có tính trìtrệ hơn so với cơ cấu ngành, lĩnh vực và thành phần kinh tế vì nó chịu sự tác động củanhiều nhân tố Do đó, những sai lầm, khuyết điểm trong việc bố trí cơ cấu lãnh thổ sẽảnh hưởng lâu dài đến phát triển kinh tế

Khi nghiên cứu cơ cấu vùng lãnh thổ, cần chú ý đến các loại vùng lãnh thổ khácnhau Nếu lãnh thổ hàm ý chỉ một quốc gia, có chủ quyền, mang tính độc lập tự chủ vềchính trị, do đó chi phối quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thì vùnglãnh thổ có tính chất hẹp hơn Vùng lãnh thổ là một bộ phận của quốc gia Vùng lãnh thổđược phân chia hoặc được hình thành trên cơ sở những yếu tố tự nhiên, xã hội, lịch sử vàtruyền thống đặc thù Tùy theo cách phân loại theo đặc trưng nào là thuộc tính trội ta sẽ

có được các loại vùng lãnh thổ khác nhau Chẳng hạn như vùng lãnh thổ được hình thành

Trang 15

theo đặc điểm điều kiện tự nhiên; vùng lãnh thổ hình thành theo dịa giới hành chính;vùng lãnh thổ hình thành theo yếu tố khí hậu thời tiết Trong thực tiễn cũng như lý luận

có hai loại vùng lãnh thổ cần đặc biệt chú ý nghiên cứu trên giác độ cơ cấu kinh tế : đó làvùng lãnh thổ hình thành theo đặc điểm tự nhiên và vùng lãnh thổ hành chính

Vùng lãnh thổ hành chính (gọi tắt là vùng hành chính hay địa phương) là vùnglãnh thổ mà ranh giới của vùng được xác định cụ thể, trùng với ranh giới hành chínhđược pháp luật quy định Ở Việt Nam, vùng hành chính được hiểu như tỉnh, Thành phốtrực thuộc Trung ương, huyện hoặc quận, xã (phường, thị trấn) Ngoài ra, một số vùnglãnh thổ khác có ranh giới có thể trùng với ranh giới hành chính như Vùng kinh tế trọngđiểm phía Bắc (gồm 8 tỉnh Thành phố), Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (gồm 8tỉnh Thành phố), Vùng trọng điểm phía Nam vv

Giống như nền kinh tế, trong vùng hành chính lại có cơ cấu kinh tế của chínhmình Cơ cấu kinh tế của vùng hành chính cũng được nghiên cứu bao gồm nhiều nộidung theo các mục tiêu nghiên cứu đánh giá khác nhau Nhưng về cơ bản, cơ cấu kinh tếtrong vùng hành chính chủ yếu là cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế.Tuy nhiên, các loại cơ cấu này, có những đặc điểm riêng tùy theo điều kiện cụ thể củatừng vùng hành chính với các cấp độ khác nhau Chẳng hạn, trong cơ cấu ngành, tùytheo từng địa phương mà cơ cấu ngành có thể là Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụhay là Nông nghiệp - Công nghiệp Không nhất thiết địa phương nào cũng có cơ cấungành đầy đủ cả 3 khu vực; cũng không phải địa phương nào Công nghiệp cũng là ngành

ưu tiên hàng đầu Tương tự, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần cũng có đặc điểm như cơcấu ngành Tùy theo quy mô, diện tích, đặc điểm tự nhiên, xã hội mà có địa phương phânnhiều tiểu vùng, có địa phương không có; có địa phương có đầy đủ các thành phần kinh

tế, nhưng có địa phương chỉ có một số thành phần kinh tế nào đó mà thôi Khái niệm địaphương lại bao gồm các cấp độ khác nhau là tỉnh, huyện, xã Cơ cấu kinh tế địa phươnghiện nay được đặt ra chủ yếu đối với cấp tỉnh và cấp huyện Còn cấp xã, do quy mô diệntích nhỏ và các yếu tố khác, chủ yếu xem xét cơ cấu sản xuất để phục vụ cơ cấu kinh tếcủa cấp huyện và tỉnh Tổng quan lại, cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phầntrong vùng hành chính có thể chỉ bao gồm một số nội dung, phù hợp với điều kiện, bước

Trang 16

đi của mình nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong phát triển Cơ cấu vùng hành chính khôngđòi hỏi thực hiện nhiệm vụ toàn diện của quốc gia, đặc biệt là vấn đề độc lập, cân đối bảođảm nền kinh tế phát triển tự chủ Do đó trong chiến lược phát triển và chuyển dịch cơcấu kinh tế, các địa phương có thể lựa chọn rộng rãi hơn, linh hoạt hơn, đặc biệt là có thểlựa chọn mô hình các cực tăng trưởng, tăng trưởng không cân đối nhằm tạo sự phát triển

đột phá của mỗi vùng c- Cơ cấu thành phần kinh tế (xét theo quan hệ sở hữu):

Nếu như phân công lao động xã hội đã tạo ra cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ, thìchế độ sở hữu lại tạo ra cơ cấu thành phần Một cơ cấu thành phần hợp lý, phải là mộtchế độ sở hữu thúc đẩy sự phát triển của lực lưuợng sản xuất, thúc đẩy phân công laođộng xã hội theo hướng đem lại hiệu quả cao hơn, làm cho người sản xuất năng độnghơn Theo nghĩa đó, cơ cấu thành phần cũng là một nhân tố tác động ảnh hưởng đến cơcấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, và cũng là một nội dung quan trọng trong cơ cấu kinh tế, đặcbiệt là Việt Nam - một nền kinh tế đang phát triển trên cơ sở thừa nhận và phát huy sứcmạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế Hiện nay, chúng ta đang xác định có 6 thànhphần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Đó là: Kinh tế Nhà nước, Kinh tế tập thể, Kinh

tế cá thể và tiểu chủ, Kinh tế Tư bản tư nhân, Kinh tế Tư bản Nhà nước, Kinh tế có vốnĐầu tư nước ngoài Quá trình khẳng định nền kinh tế nhiều thành phần và xác định sốlượng các thành phần kinh tế cũng như nhận diện nội hàm của từng thành phần kinh tế ởnước ta là một quá trình lâu dài, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Trong từng giai đoạn

cụ thể của quá trình phát triển số lượng và nội hàm của thành phần kinh tế có nhữngđiểm khác nhau nhất định và được phân loại theo những phương pháp tiếp cận khácnhau trong mỗi quá trình Đặc biệt đối với các địa phương hay vùng hành chính, trong cơcấu thành phần kinh tế còn cần chú ý đến quan hệ giữa kinh tế Trung ương và kinh tế địaphương Trong quan niệm cũng như trong thực tiễn, đây chính là bộ phận kinh tế nhànước do các Bộ ngành Trung ương quản lý trực tiếp và bộ phận kinh tế Nhà nước dochính quyền địa phương trực tiếp quản lý Đảng và Nhà nước ta cũng đã xác định: kinh

tế Trung ương và kinh tế địa phương quan hệ với nhau trong một thể thống nhất; chúngđều là những bộ phận hợp thành của kinh tế Nhà nước Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ,trên cơ sở phân cấp quản lý, kinh tế Trung ương và kinh tế địa phương có những vai trò

Trang 17

khác nhau nhất định đối với sự phát triển Chính vì vậy, việc bảo đảm cho kinh tế Trungương và kinh tế địa phương phát triển thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau, hạn chế sự trùng lắp,chồng chéo trong quá trình phát triển, đặc biệt là trong đầu tư là những yêu cầu cần thiết,

có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn sâu sắc Đương nhiên, về lâu dài vấn đề rất quantrọng không phải ở chỗ có 4 hay 6 thành phần kinh tế Điều quan trọng là cần có sựthống nhất trong nhận thức về đánh giá vai trò của các thành phần kinh tế cũng như thừanhận các hình thức kinh tế thích hợp tồn tại khách quan trong quá trình xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN Do quá trình xã hội hoá ngày càng phát triển, mốiliên hệ kinh tế trong xã hội ngày càng đa dạng nên ngày càng xuất hiện nhiều hình thức

tổ chức kinh doanh, nhiều thành phần kinh tế Nền kinh tế chỉ có thể phát triển khi mọi tếbào của nó (DN, doanh nhân ) đều sản xuất kinh doanh có hiệu quả Hiệu quả riêng của

DN, doanh nhân thể hiện ở mức sinh lời (lợi nhuận) của doanh nghiệp Hiệu quả chungđối với nền kinh tế là ở chỗ thu hút lao động, giải quyết việc làm, đóng thuế và chấphành các quy định theo pháp luật Vì vậy tính chất định hướng XHCN vừa có khả năng,vừa cần phải được thể hiện trong mọi hình thức kinh tế, mọi doanh nghiệp chứ không chỉriêng ở một loại hình doanh nghiệp nào Định hướng XHCN là hướng tới mục tiêu xâydựng quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh Điều đó đòihỏi các DN, doanh nhân phải cải tiến kỹ thuật và phát triển sản xuất, nâng cao trình độ,hiệu quả sản xuất kinh doanh, trả lương đầy đủ cho người lao động, đóng thuế và làmnghĩa vụ đầy đủ theo quy định của Pháp luật Đây là vấn đề rất quan trọng trong đổi mới

tư duy để đánh giá vai trò các thành phần kinh tế, thiết lập các mối quan hệ biện chứnggiữa các thành phần kinh tế; trên cơ sở sự thống nhất này chúng ta mới có căn cứ để xemxét, chấp nhận các hình thức kinh tế, các tổ chức kinh doanh ngày càng phong phú, phứctạp do quá trình phát triển từ thực tiễn đời sống kinh tế đặt ra Đương nhiên trong mốiquan hệ giữa các thành phần kinh tế, mỗi thành phần có vai trò đặc trưng, có vị trí riêngnhất định xuất phát từ bản chất của mỗi thành phần bắt nguồn từ quan hệ sở hữu Trongmối quan hệ đó kinh tế Nhà nước có vai trò gương mẫu trong thực hiện các chính sáchcủa Chính phủ, giúp Chính phủ trong quá trình thi hành chức năng quản lý vĩ mô đối vớitoàn bộ nền kinh tế quốc dân Kinh tế nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm những nhu cầu về

Trang 18

xã hội, công cộng, an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái, nhu cầu phát triểncác vùng trọng điểm, ngành mũi nhọn, khu kinh tế đặc biệt; những lĩnh vực, những hànghoá và Dịch vụ độc quyền Kinh tế Tập thể, Tư nhân, Tư bản Nhà nước, kinh tế Hộ giađình đảm bảo các hàng hoá Dịch vụ theo nhu cầu tiêu dùng rộng rãi của nhân dân như

ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, vui chơi, giải trí và những nhu cầu mà Nhà nước không đápứng đủ hoặc kinh tế Nhà nước thực hiện kém hiệu quả hơn Hiện nay, Đảng ta đã khẳngđịnh thực hiện lâu dài chính sách nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh

tế Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo và làm chức năng của một công cụ điều tiết vĩ mô.Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ IX đã chỉ rõ: "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quantrọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cùng phát triển lâu dài, hợp tác vàcạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nướccùng với kinh tế Tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốcdân" [56] Trong xu hướng phát triển lâu dài ở nước ta sẽ phân loại theo 3 đến 4 thànhphần kinh tế; đó là Kinh tế Nhà nước, Kinh tế Tập thể, Kinh tế Tư nhân và trong thờigian thích hợp còn thêm khu vực có vốn Đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế tuy

có những đặc điểm riêng song đều tác động qua lại với nhau, nương tựa vào nhau dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của nhà nước XHCN

d- Mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế thành phần và cơ cấu kinh

tế vùng lãnh thổ:

Kết hợp cơ cấu ngành và cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ nhằm phát huy lợi thế sosánh của vùng trong việc phát triển ngành Kết hợp cơ cấu kinh tế thành phần nhằm huyđộng các thành phần tham gia phát triển các ngành kinh tế, phát triển các vùng lãnh thổ

Do cơ cấu ngành là bộ phận cơ bản, then chốt của nền kinh tế quốc dân, nên mối quan hệgiữa cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế vùng được thể hiện theo các hướng: kết hợpCông nghiệp với Nông nghiệp, thành thị với nông thôn; kết hợp chuyên môn hóa và pháttriển tổng hợp theo vùng; kết hợp kinh tế với quốc phòng; kết hợp tăng trưởng kinh tếvới bảo vệ môi trường Cơ cấu ngành phải được xây dựng theo hướng bảo đảm khai thác

Trang 19

triệt để khả năng và thế mạnh của các vùng kinh tế Đối với các thành phần kinh tế,chuyển dịch cơ cấu ngành gắn với việc khai thác và phát huy sức mạnh tổng hợp củatừng thành phần, từng khu vực kinh tế Trong nền kinh tế, mỗi thành phần có vị trí quantrọng khác nhau, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Cơ cấu vùng lãnh thổ cótính trì trệ hơn so với cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu thành phần kinh tế vì nó chịu tácđộng của nhiều nhân tố, do đó, sai lầm trong việc bố trí cơ cấu vùng lãnh thổ sẽ ảnhhưởng lâu dài đến phát triển kinh tế Như vậy: ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh

tế là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu lãnh thổ có quan hệ chặt chẽvới nhau trong đó cơ cấu ngành có vai trò quyết định; cơ cấu ngành vận động và pháttriển theo sự điều tiết của các quy luật và phạm trù của thị trường (như quan hệ tổng cung

và tổng cầu của nền kinh tế, quy luật giá cả ) đảm bảo quá trình tái sản xuất theo nhucầu của thị trường Còn cơ cấu thành phần kinh tế là những lực lượng kinh tế quan trọng

để thực hiện cơ cấu ngành Theo định hướng của cơ cấu ngành, các thành phần kinh tế tổchức thực hiện Cơ cấu thành phần kinh tế được hình thành có hiệu quả trên cơ sở khảnăng và thế mạnh của mỗi thành phần Người nào sản xuất và kinh doanh cái gì có lợinhất về kinh tế - xã hội, an ninh, sự bền vững của môi trường thì người đó sẽ đượ xã hộithừa nhận, được quyền lựa chọn để tổ chức sản xuất và giữ vị trí chi phối Đương nhiên,

cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trêntừng lãnh thổ Vì thế việc phân bố không gian lãnh thổ một cách hợp lý để phát triểnngành và thành phần kinh tế có ý nghĩa quan trọng

Hà Nội là Thành phố đô thị loại đặc biệt trực thuộc Trung ương Nhưng cũng nhưcác tỉnh, thành phố khác trong cả nước, Thành phố Hà Nội là một vùng hành chính.Trong nội dung cơ cấu kinh tế của Hà Nội cũng bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơcấu thành phần kinh tế Do mối quan hệ đó, khi nghiên cứu cơ cấu kinh tế chung củaThành phố, trong luận án sẽ đề cấp đến cả ba nội dung trên của cơ cấu kinh tế Tuy nhiên

do đặc điểm từng thời kỳ, từng loại cơ cấu sẽ được xem xét, đánh giá với mức độ thíchhợp khác nhau để tránh trùng lắp mà không làm ảnh hưởng đến mục tiêu của luận án vàbản chất vấn đề nghiên cứu Trong đó cơ cấu kinh tế ngành sẽ được nghiên cứu xuyênsuốt với tư cách là nội dung chủ đạo chi phối toàn bộ

Trang 20

*Các đặc trưng cơ bản của cơ cấu kinh tế:

Dù được xem xét dưới các góc tiếp cận khác nhau và có những đặc điểm riêngcủa mình, cơ cấu kinh tế có những đặc trưng chủ yếu sau đây:

+ Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan: do trình độ phát

triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Một cơ cấu kinh tế như thếnào và xu hướng chuyển dịch ra sao là phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh kháchquan về kinh tế, tự nhiên và xã hội nhất định, chứ không tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quancủa con người Khác với quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế vận động và phát huy tácdụng thông qua hoạt động của con người Vì vậy, trong quá trình hình thành và chuyểnđổi cơ cấu kinh tế ở mỗi giai đoạn khác nhau có chịu sự tác động nhất định và quan trọngcủa con người, tuy nhiên sự tác động chủ quan của con người phải phù hợp với quy luậtkhách quan Điều đó có nghĩa là, ở mỗi giai đoạn nhất định, phù hợp với một trình độnhất định của sản xuất sẽ cần thiết và có khả năng tồn tại khách quan một cơ cấu kinh tếhợp lý với giai đoạn đó Nếu việc phát triển kinh tế thực tế tiến sát được cơ cấu lý tưởng

đó thì nền kinh tế phát triển thuận lợi Trong trường hợp ngược lại thì nền kinh tế gặpkhó khăn Việc nghiên cứu cơ cấu kinh tế đặt ra cho các nhà quản lý và các nhà lý luậnđồng thời cùng lúc hai nhiệm vụ: Thứ nhất, xác định đúng đắn cơ cấu kinh tế của giaiđoạn hiện tại về cả mặt định tính và định lượng Thứ hai, dự báo chính xác mô hình kinh

tế đó trong tương lai Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế hiện tại

và cơ cấu tương lai là rất quan trọng

+ Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử và xã hội nhất định: cơ cấu kinh tế thể

hiện trình độ phát triển nền kinh tế của một quốc gia Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế chobiết chiều hướng tăng trưởng của nền kinh tế Cơ cấu kinh tế luôn có tính kế thừa, nghĩa

là khi bố trí cơ cấu kinh tế mới trong từng thời kỳ, từng ngành, từng địa phương và toànquốc bao giờ cũng đứng trước một cơ cấu kinh tế của thời kỳ trước để lại Sự khác nhau

về điều kiện tự nhiên, về hoàn cảnh lịch sử cụ thể, về sự hoạt động của các quy luật kinh

tế đặc thù của các phương thức sản xuất sẽ quyết định tính khác biệt về cơ cấu kinh tếcủa mỗi nước Vì vậy, cơ cấu kinh tế phản ánh tính quy luật chung của quá trình pháttriển, nhưng sự biểu hiện cụ thể phải thích ứng với đặc thù của mỗi nước, mỗi vùng về tự

Trang 21

nhiên, kinh tế và lịch sử Không có một cơ cấu mẫu chung cho mọi phương thức sảnxuất, mọi vùng kinh tế hoặc đại diện chung cho nhiều nước khác nhau mà nó chỉ có ýnghĩa kế thừa và chọn lọc để lựa chọn cơ cấu kinh tế phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sửnhất định.

+ Cơ cấu kinh tế luôn luôn biến đổi, chuyển dịch theo hướng ngày càng hoàn thiện: Sự biến đổi đó gắn liền với sự biến đổi và phát triển không ngừng của bản thân

các yếu tố, các khâu, các mặt của nền kinh tế và những mối quan hệ giữa chúng Cơ cấukinh tế luôn luôn vận động và phát triển thông qua sự chuyển hoá lẫn nhau, cơ cấu cũchuyển dịch dần dần biến thành cơ cấu mới, cơ cấu mới ra đời thay thế cơ cấu cũ, và rồi,sau đó một thời gian cơ cấu mới đó lại trở thành không phù hợp nữa và lại được thay thếbằng một cơ cấu khác hoàn thiện hơn Cứ như thế, cơ cấu vận động biến đổi khôngngừng từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn điệu đến đa dạng, từ ít hoàn thiện đến hoàn thiệnhơn Sự vận động biến đổi đó là do tác động của các quy luật kinh tế - xã hội, do yêu cầuphát triển của nền văn minh nhân loại

+ Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình: Không phải cơ cấu kinh tế

mới được hình thành ngay một lúc và lập tức thay thế cơ cấu cũ Quá trình chuyển đổi cơcấu kinh tế phải là quá trình tích luỹ về lượng, thay đổi về lượng đến một mức độ nhấtđịnh mới dẫn đến thay đổi về chất Trong quá trình đó, cơ cấu cũ thay đổi dần dần đểchuyển thành cơ cấu mới Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiều yếu

tố trong đó có sự tác động trực tiếp rất quan trọng của các chủ thể lãnh đạo và quản lý

Sự nóng vội hoặc bảo thủ trì trệ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đều có hại cho sựphát triển của nền kinh tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất thiết phải là một quá trình,nhưng không phải là một quá trình với tiến độ tự phát mà ngược lại, con người hoàn toàn

có thể tác động cho quá trình đó nhanh hơn theo hướng đúng bằng các nhận thức vượttrước và am hiểu thực tế cụ thể Một vấn đề rất quan trọng là khởi xướng quá trình bắtđầu từ đâu, dùng những biện pháp nào để mở đầu, gây được tác động lan truyền trongtổng thể nền kinh tế

1.1.2- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới.

1.1.2.1-Khái niệm và bản chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 22

Như trên đã trình bày, đặc trưng của cơ cấu kinh tế là luôn vận động, phát triển;vận động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình khách quan Cơ cấu kinh tế luônthay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không phái

là cố định, bất biến Sự thay đổi đó có tính khách quan và tuân theo những xu hướng cótính quy luật Đó là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệgiữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế do sự xuất hiện hoặc biến mất của một

số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng

đều Như vậy sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác hợp lý, hiệu quả, phù hợp với xu thế, điều kiện và môi trường phát triển được gọi là

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Theo từ điển kinh tế học Oxford thì chuyển dịch cơ cấu

kinh tế: “là một quá trình thay đổi chính trong nền kinh tế của một quốc gia Quá trìnhnày có thể liên quan đến việc chuyển giao các nguồn lực quy mô lớn từ khu vực sản xuấtthứ nhất sang khu vực sản xuất Công nghiệp, như các nước Công nghiệp mới NICs Nócũng có thể liên quan đến sự chuyển dịch phương pháp tổ chức các hoạt động kinh tế từmột nền kinh tế chủ yếu là được kế hoạch sang nền kinh tế dựa chủ yếu trên cơ sở thịtrường như nhiều nền kinh tế Kế hoạch hóa tập trung trước đây ở Liên Xô và Đông Âucũ” [4, tr.449]

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở đây không đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là

sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu Quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổicho ta thấy rõ hơn vấn đề này Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trước hết được bắt đầu từ

sự thay đổi về lượng bên trong của các yếu tố cấu thành nên tổng thể nền kinh tế Sự thayđổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Nếu sự thay đổi về lượng chưa đủ mức, chưađạt yêu cầu của mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận thì chưa tạo ra sự chuyển dịch

về chất Trạng thái của cơ cấu - sự biểu hiện ra bên ngoài của những sự biến đổi bêntrong - vẫn là trạng thái cũ; cơ cấu kinh tế vẫn là cơ cấu kinh tế ban đầu Như phần nộidung cơ cấu kinh tế đã đề cập, cơ cấu kinh tế có sự thay đổi trước hết từ sự biến đổi của

cơ cấu sản xuất Trong quá trình tái sản xuất xã hội, sản xuất là giai đoạn, là khâu độngnhất; xét trong phạm vi hẹp của một quá trình sản xuất tạo ra một sản phẩm cụ thể haytrên toàn bộ phạm vi nền kinh tế thì sản xuất đều là điểm mở đầu của sự thay đổi Dưới

Trang 23

tác động của thị trường, thông qua các quy luật và phạm trù, thị trường đặt ra cho sảnxuất những nhu cầu mới về sản phẩm Để thỏa mãn những đòi hỏi của thị trường, quátrình sản xuất có sự thay đổi Khởi đầu là sự thay đổi công cụ lao động, đối tượng laođộng, và cùng với nó là sự thay đổi về kỹ năng, phương pháp lao động sẽ cho ta nhữngsản phẩm mới, các kết quả mới Trên cơ sở sự thay đổi của giai đoạn sản xuất (hay mởrộng quan niệm là cơ cấu sản xuất), các yêu cầu về phân phối, trao đổi, dịch vụ cũng nhưtiêu dùng sẽ được vận động, biến đổi theo Sự thay đổi của quá trình sản xuất sản phẩm

sẽ lôi kéo, mở rộng thị trường yếu tố đầu vào, làm tăng dung lượng của thị trường đầu ra

và làm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội, làm tăng nhu cầu động lực tiêu dùng mớicủa xã hội Quy mô của sản xuất thay đổi, mở rộng tất yếu đòi hỏi sự mở rộng tương ứng

về hạ tầng kỹ thuật, về các khâu, các ngành dịch vụ cung cấp đầu vào cũng như thỏa mãnđược yêu cầu đầu ra Do đó, sự thay đổi của các khu vực Dịch vụ, hạ tầng, cũng như cácyếu tố trong lĩnh vực tiêu dùng lại có tác động trở lại đối với sản xuất; nó góp phần làmcho giai đoạn sản xuất hoàn thành nhiệm vụ của mình nhanh hoặc chậm để lại tiếp tụccho chu kỳ sản xuất sau Nếu các ngành dịch vụ, các ngành hỗ trợ sản xuất hoặc cácngành phụ trợ không phát triển tương ứng tất yếu làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế hoặc xảy ra chậm, hoặc không thực hiện được; thậm chí có khi còn xảy ra khủnghoảng do sự không ăn khớp giữa các ngành, các lĩnh vực Sự tác động qua lại như vậygiữa các bộ phận, các yếu tố của nền kinh tế làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch, thayđổi Chính sự thay đổi của cơ cấu sản xuất thúc đẩy sự thay đổi của toàn bộ cơ cấu kinh

tế Ngược lại, các bộ phận khác của cơ cấu kinh tế cũng thay đổi tương xứng, phù hợpvới cơ cấu sản xuất thì toàn bộ cơ cấu kinh tế mới chuyển dịch nhanh chóng và hiệu quả

Sự trì trệ hay yếu kém của một bộ phận nào đó đều làm ảnh hưởng đến chuyển dịch cơcấu kinh tế Như vậy có thể khái quát như sau: Quá trình phát triển kinh tế không phảibao giờ cũng đồng đều và nhịp nhàng với nhau, vì trong quá trình ấy có nhiều yếu tố tácđộng khác nhau đến xu hướng phát triển của mỗi bộ phận, yếu tố cấu thành Do đó cơcấu kinh tế cũng có sự biến đổi, song nếu những yếu tố, những bộ phận cơ bản của cơcấu kinh tế vẫn thích ứng, chưa gây ra những trở ngại cho việc phát triển của từng bộ

Trang 24

phận và cả tổng thể, thì chưa tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấukinh tế chỉ diễn ra khi có những thay đổi lớn về điều kiện phát triển; có những khả năng

và giải pháp mới làm thay đổi phương thức khai thác các điều kiện hiện tại; trong quan

hệ phát triển giữa các ngành của cơ cấu kinh tế có trở ngại dẫn đến hạn chế lẫn nhau làm

ảnh hưởng đến sự phát triển chung Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dù là trong các ngành

sản xuất hay trong ngành dịch vụ thì đều bắt đầu từ sự biến đổi của giai đoạn sản xuất,

mà trước hết là thay đổi tư liệu sản xuất, từ đó tạo ra nhu cầu và điều kiện để làm nảy sinh sự biến đổi của các giai đoạn tiếp theo trong quá trình tái sản xuất Quan điểm này

tạo cơ sở khoa học cho ta tiếp cận phương pháp phân tích nguyên nhân chuyển dịch cơcấu kinh tế chậm chạp hoặc kém hiệu quả của nhiều địa phương ở nước ta cũng nhưđánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung cả về mặt lượng và mặt chất Đó là

sự phát triển thiếu đồng bộ giữa sản xuất với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, giữa sản xuất vớilĩnh vực lưu thông tiêu thụ sản phẩm; giữa sản xuất với sản xuất Tình trạng phổ biến làsản xuất kỹ thuật lạc hậu, chất lượng sản phẩm không phù hợp với nhu cầu thị trường,chi phí sản xuất cao Sản xuất chưa đóng vai trò chuyển dịch thực chất, và do đó khôngtạo ra động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch Cũng có tình trạng một số địa phương,một số khu vực, một số ngành sản xuất khá phát triển, nhưng các ngành phụ trợ và Dịch

vụ không phát triển tương xứng nên thất bại trong quá trình cơ cấu lại sản xuất Tìnhtrạng này phổ biến xảy ra trong Nông nghiệp hoặc thường ở vùng sâu, vùng xa chưa có

sự phát triển của giao thông vận tải và công nghệ thông tin cũng như bảo đảm các nguồnnăng lượng cho yêu cầu CNH

1.1.2.2 Xu hướng và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.

Có thể nói, nghiên cứu xu hướng và mô hình CNH nói chung hay xu hướngchuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng - một nội dung cơ bản của quá trình CNH- đều đượchầu hết các nhà kinh tế, các học thuyết kinh tế quan tâm, phân tích và tổng kết Các họcthuyết kinh tế thuộc ba trường phái lớn là: Kinh tế học Mác xít, kinh tế học thuộc Tràolưu chính, Kinh tế học Phát triển đều đưa ra những quan điểm cơ bản về CNH và chuyểndịch cơ cấu kinh tế Có thể khẳng định, quá trình phát triển kinh tế của nhân loại, xu

Trang 25

hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH được thực hiện theo 4 mô hình cótính quy luật sau đây:

*Mô hình CNH Tư bản chủ nghĩa theo cơ chế thị trường tự do- thường được gọi là mô hình CNH cổ điển - điển hình là nước Anh Đây là nền kinh tế hoạt động trên

cơ sở chế độ tư hữu, thị trường tự phát phân phối mọi nguồn lực cơ bản Phương hướng

và quy mô đầu tư chủ yếu do lợi nhuận quyết định Quy luật cạnh tranh tự do (bao gồm

cả cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành) là phương thức thực hiệnđiều tiết nguồn lực của xã hội vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuậncao nhất Tiến trình CNH thực hiện theo xu hướng chuyển dịch tuần tự, từng bước Trên

cơ sở nền kinh tế Nông nghiệp, thực hiện bước phát triển bắt đầu từ Công nghiệp Dệt, rồiđến Công nghiệp Cơ khí và các ngành công nghiệp nhẹ khác, cuối cùng là Công nghiệpnặng Với tiến trình đó, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong mô hình CNH cổđiển có đặc trưng sau:

Một là: Cuộc cách mạng trong lĩnh vực Nông nghiệp xảy ra trước, trở thành một

trong những tiền đề tiên quyết của cách mạng Công nghiệp

Hai là: Trên phương diện trang bị lại kỹ thuật và công nghệ cho sản xuất, sự

chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra theo trình tự: Công nghiệp nhẹ, Công nghiệp nặng,Giao thông vận tải và Bưu điện, Nông nghiệp, cuối cùng là lĩnh vực Dịch vụ và lưuthông

Ba là: Với bước đi tuần tự, CNH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra một cách

từ từ, chậm chạp, tiệm tiến và kéo dài hàng trăm năm

* Mô hình CNH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước XHCN theo cơ chế Kế hoạch hóa tập trung

Mô hình này được thực hiện khởi đầu ở Liên Xô (cũ), sau đó được thực hiệntrong hàng loạt các nước XHCN khác từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Quá trìnhCNH và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong mô hình có những đặc trưng sau:

Một là: Các ngành công nghiệp nặng được tập trung ưu tiên cao độ để phát triển

ngay trong giai đoạn đầu của thời kỳ CNH Trong đó phương châm cơ bản chỉ đạochuyển dịch cơ cấu kinh tế là: Ưu tiên phát triển tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu sản

Trang 26

xuất, sau đó là ưu tiên sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu tiêu dùng, cuối cùng làsản xuất tư liệu tiêu dùng Với xu hướng phát triển này, các vùng lãnh thổ xa xôi, chưa

có điều kiện phát triển về hạ tầng hoặc xã hội nhưng có nguồn tài nguyên phong phú, đặcbiệt là tiềm năng và tài nguyên đáp ứng yêu cầu phát triển Công nghiệp nặng như nănglượng, nguyên liệu cũng được quan tâm và đẩy mạnh phát triển

Hai là: Mối quan hệ cân đối giữa các ngành, các vùng, các khu vực trong nền

kinh tế được tính toán và thể hiện thông qua các cân đối hiện vật, thông qua các kênhphân phối sản phẩm theo những kế hoạch xác định Chính vì vậy, hiệu quả kinh tế của cơcấu thiếu đi thước đo khách quan và trong một chừng mực nhất định, làm triệt tiêu độnglực của quá trình phát triển kinh tế - vốn là một quá trình phát triển theo những quy luậtkhách quan

Ba là: Quá trình CNH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được tập trung và đẩy nhanh

bằng cách áp dụng nhiều biện pháp cưỡng bức, phi kinh tế, nhiều khi mang nặng yếu tốchủ quan và duy ý chí

Với những đặc trưng này, quá trình CNH theo mô hình Kế hoạch tập trungthường đưa ra kết quả là trong giai đoạn đầu tiên, Công nghiệp tăng trưởng cao và cơ cấukinh tế thay đổi mạnh mẽ Cơ cấu kinh tế hầu như được xây dựng mới hoàn toàn, khácbiệt và tách rời với cơ cấu kinh tế cũ Có thể nói đây là bước đột phá, là cú huých mạnh

mẽ để tạo ra cơ cấu kinh tế mới và nền kinh tế chuyển đổi mới Tuy nhiên, hậu quả đángtiếc là sự tăng trưởng cao và thay đổi cơ cấu kinh tế quá nhanh lại không lâu bền, thiếu

cơ sở bền vững đã dẫn đến sự sụp đổ của nhiều thể chế chính trị tại các quốc gia mà cácnước XHCN Đông Âu là những điển hình về bài học chuyển dịch cơ cấu và CNH theo

mô hình Kế hoạch tập trung cao độ

* Mô hình CNH thay thế nhập khẩu (còn gọi là mô hình CNH hướng nội):

Đây là mô hình phát triển của hầu hết các nước thuộc thế giơi thứ ba sau chiếntranh thế giới lần thứ 2 Tư tuởng chủ đạo của mô hình này là thực hiện ưu tiên nhữngmặt hàng sản xuất trong nước để thay thế cho việc nhập khẩu Mô hình này có nhiềuđiểm tương đồng với mô hình Kế hoạch hóa tập trung và có những đặc trưng sau:

Một là: Thực hiện hệ thống chính sách bảo hộ mậu dịch một cách phổ biến, và

Trang 27

được coi là công cụ chủ yếu để phát triển Hệ thống chính sách bảo hộ mậu dịch nhằmbảo vệ thị trường nội địa cho sản xuất Công nghiệp, thường là các ngành công nghiệpchế biến, trong đó quan trọng nhất là Công nghiệp Cơ khí chế tạo Cùng với việc bảo hộnâng đỡ sản xuất Công nghiệp trong nước là chính sách phân biệt đối xử với các hàngnhập khẩu Những hàng tiêu dùng cao cấp, xa xỉ, những hàng tiêu dùng thông thường màtrong nước có thể sản xuất được đều bị hạn chế nhập khẩu hoặc đánh thuế cao.

Hai là: Thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái theo hướng duy trì và giảm giá trị

đồng tiền bản địa nhằm làm yếu khả năng cạnh tranh của hàng ngoại trên thị trường nộiđịa

Với hệ thống các chính sách trên, hầu hết các quốc gia theo đuổi mô hình này đãđạt được tốc độ tăng trưởng Công nghiệp tương đối cao trong giai đoạn đầu, tạo ra sựthay đổi nhất định về cơ cấu kinh tế và thúc đẩy quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh hơn,làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội ở các quốc gia vốn là thuộc địa Mặt hạn chế của môhình này là chuyển dịch cơ cấu kinh tế không vững chắc và không duy trì lâu bền tốc độtăng trưởng Công nghiệp Mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ chẳng nhữngkhông đạt được mà sau một quá trình dài lại làm tăng thêm sự phụ thuộc vào nhập khẩu

và làm trì hoãn những thay đổi về cơ cấu cần thiết cho sự phát triển tự lực cánh sinh

* Mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, CNH hướng về xuất khẩu (hay còn gọi

là mô hình hướng ngoại)

Mô hình này được thực hiện mạnh mẽ từ những năm 1980 với sự thành công củamột số nước như Hàn quốc, Đài loan, Hồng công, Singapore và trở thành khuynh hướngphát triển chủ yếu của hầu hết các quốc gia đang phát triển

Đặc trưng cơ bản của mô hình này là quá trình CNH thường được bắt đầu từ việckhai thác các thế mạnh của nền kinh tế, tạo ra những lĩnh vực phát triển có lợi thế so sánhtrên thị trường quốc tế hoặc khu vực Đối với các nước chậm phát triển, lợi thế so sánhphổ biến là nguồn lao động dồi dào, tiền lương thấp, tài nguyên khoáng sản và nông sản.Đặc trưng thứ 2 của mô hình này là hệ thống chính sách vĩ mô chủ yếu nhằm vào khuyếnkhích xuất khẩu Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, các quốc gia có chính sách khác nhau

Trang 28

nhưng vấn đề xuyên suốt là các chính sách tạo thuận lợi cho doanh nghiệp doanh nhânbán sản phẩm ra nước ngoài Sự phát triển nhanh chóng của một số nước thực hiện môhình này cho thấy ưu thế của chiến lược CNH hướng về xuất khẩu, đặc biệt trong xu thếtoàn cầu hóa Tuy nhiên bước sang thế kỉ 21, mô hình này đang đứng trước hai vấn đềquan trọng Đó là việc lệ thuộc vào thị trường thế giới quá nhiều dẫn đến rủi ro lớn khitình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp Mặt khác môi trường quốc tế không chắcchắn thuận lợi và không phải quốc gia nào cũng có điều kiện sẵn sàng bảo đảm ưu tiêncho chính sách xuất khẩu.

Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH cho thấy rõ tính

quy luật của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Dù thực hiện theo mô hình nào thì quá trình

chuyển dịch cũng bắt đầu từ Nông nghiệp chuyển sang Công nghiệp và Dịch vụ Sự phát

triển của ngành dịch vụ thể hiện một trình độ phát triển cao hơn của lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất, của phân công lao động Sự xuất hiện và phát triển của ngành dịch

vụ với tính cách là ngành độc lập được tách ra từ sản xuất và tiêu dùng nhằm mục đíchphục vụ sản xuất và tiêu dùng là sự thể hiện sâu sắc quá trình phát triển của phương thứcsản xuất, của phân công lao động xã hội, và cũng chính là quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế về cả lượng và chất

Đương nhiên trong thực tiễn phát triển, không có một quốc gia nào tồn tại độclập, phân chia một cách rạch ròi các giai đoạn của quá trình chuyển dịch hoặc phân cônglao động Trái lại, các giai đoạn đó đan xen vào nhau, hòa lẫn với nhau do quy luật pháttriển không đều; do các nước đi sau biết kế thừa, học tập các quốc gia phát triển trướcnên trong cùng một thời gian, tính quy luật phổ biến là sự tồn tại đồng thời nhiều quátrình chuyển dịch, nhiều quá trình phân công lao động, nhiều giai đoạn phát triển

Với đặc trưng của từng mô hình, vấn đề rút ra là không thể thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách nóng vội, chủ quan, duy ý chí mà phải tuân theo tính quy luật khách quan Tuy nhiên do điều kiện của từng quốc gia, mỗi nước cũng như mỗi vùng có thể vận dụng một hoặc một số mô hình để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế

có lợi nhất, có hiệu quả nhất Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa, việc tham gia hội

Trang 29

nhập khu vực và thế giới là yêu cầu khách quan Vì vậy chủ động tham gia hội nhập, lựa chọn mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa trên những lợi thế so sánh là con đường ngắn nhất để phát triển Việc xác định đúng đắn tiềm năng, lợi thế cũng như xác định chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng đắn sẽ cho phép các nước đi sau, các nước chậm phát triển rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, thoát khỏi lạc hậu và tụt hậu Vì vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được coi là thành công khi và chỉ khi đảm bảo các yêu cầu: sử dụng tốt nhất các lợi thế so sánh; khai thác tối đa tiềm năng; tạo nên khối lượng tích luỹ ngày càng lớn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân; góp phần vào phát triển và ổn định nền kinh tế - xã hội; kết hợp hài hòa kinh tế trong nước với kinh tế thế giới.

1.1.3 - Vai trò của cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế phản ánh mối liên hệ biện chứng giữa các bộ phận, các yếu tố cấuthành một tổng thể kinh tế hoặc nền kinh tế của một quốc gia Cơ cấu kinh tế hợp lý cótác dụng quyết định tới sự phát triển của nền kinh tế cả về mặt số lượng và chất lượng,bảo đảm cho sự phát triển bền vững Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy chuyểndịch cơ cấu kinh tế nhanh phù hợp với xu hướng phát triển và điều kiện cụ thể sẽ thúcđẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân,tạo điều kiện giải quyết bất bình đẳng giữa các vùng, các khu vực trong nền kinh tế Sựthất bại trong chiến lược phát triển ở một số nước trên thế giới hoặc khủng hoảng kinh tế

ở một số khu vực trong những năm qua bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, song có mộtnguyên nhân chung khá quan trọng xuất phát từ sai lầm trong chính sách cơ cấu kinh tế.Bài học đắt giá đó đã và đang cảnh báo cho các Chính phủ, các quốc gia, các chínhquyền địa phương phải quan tâm đến cơ cấu kinh tế và các chính sách nhằm chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp với xu thế và điều kịện cụ thể củamình Có thể khái quát vai trò của cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tới sựphát triển trên các mặt chủ yếu sau:

Cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả sẽ tạo điều kiện khai thác và phát huy tối đanhững tiềm năng, nguồn lực có ưu thế của mỗi quốc gia hay địa phương, vùng lãnh thổnhư: lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, khí hậu, truyền thống lịch sử, xã hội,

Trang 30

chính trị Việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực nội tại ưuthế sẽ là yếu tố bên trong cực kỳ quan trọng quyết định chất lượng và tốc độ tăng trưởng.Xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý có vai trò quan trọng trong việc phân bố lạicác nguồn lực, phân công lại lao động hợp lý hơn, hiệu quả hơn Thực tế đã chỉ rõ: do sựphát triển của tự nhiên, bất kỳ một quốc gia, một địa phương hay một vùng lãnh thổ nàocũng không có sự phân bố đồng đều các yếu tố cũng như các nguồn lực thuận lợi cho sựphát triển Do đó, để bảo đảm sự phát triển công bằng, bảo đảm quyền bình đẳng củamọi thành viên trong xã hội, tất yếu phải có dự phân bố lại các nguồn lực Xây dựng một

cơ cấu hợp lý, hiệu quả chính là công cụ đắc lực để thực hiện mục tiêu này Quá trình bốtrí lại lãnh thổ, đô thị hóa nông thôn, miền núi sẽ tạo ra sự bình đẳng phát triển giữa cácvùng, giảm dần sự cách biệt giữa miền núi, miền xuôi, khắc phục những bất hợp lý củaquá trình phát triển tự nhiên đem lại Mặt khác, khi thực hiện phân bổ các nguồn lực hợp

lý chẳng những bảo đảm sự phát triển công bằng, mà còn tạo tiền đề, tạo khả năng sửdụng có hiệu quả hơn cả nguồn lực tại chỗ và nguồn lực từ bên ngoài

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng là quá trình xắp xếp lại tỷ trọng các ngành,các loại hình doanh nghiệp theo hướng tăng cường các ngành, các loại hình doanhnghiệp có trình độ khoa học công nghệ cao hơn, tiên tiến hơn, từ đó có khả năng tạo rahiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển mạnh hơn.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế với chiến lược và bước đi phùhợp là phương thức hiệu quả nhất để khắc phục những sai lầm, rút kinh nghiệm và họctập kinh nghiệm thành công của các quốc gia đi trước Đây cũng chính là điều kiện, làcon đường tốt nhất để các nước chậm phát triển, các nước đi sau giảm thiểu khoảng cáchchênh lệch với các nước trong quá trình phát triển

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng là quá trình phát triển các thành phần kinh tế,đảm bảo cho các thành phần kinh tế thực hiện đúng chức năng vai trò của mình Việc cácdoanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước được chuyển dịch theo hướng đảm bảohiệu quả kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp khác thực hiện sinh lời cho nền kinh tế sẽ tạođiều kiện cho các thành phần kinh tế thực hiện tốt hơn hiệu quả kinh tế chung của xã hội.Với ý nghĩa trên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý không chỉ

Trang 31

đặt ra trên phạm vi quốc gia hoặc trên phạm vi một tiểu vùng mà còn đặt ra đối với một

địa phương cũng như từng ngành, từng thành phần kinh tế

1.2- Các nhân tố tác động đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế hình thành, phát triển và chuyển dịch là một quá trình khách quan,tuân theo những quy luật và tính quy luật Tuy nhiên, kết quả chuyển dịch, thời gianchuyển dịch, hiệu quả chuyển dịch của mỗi quốc gia khác nhau lại cho những kết quảkhác nhau Bởi lẽ, có những nhân tố khác nhau tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế mà ở mỗi quốc gia, mức độ ảnh hưởng cũng như việc khai thác các nhân tố đó khônggiống nhau Từng yếu tố vừa có sự ảnh hưởng riêng đến sự hình thành và chuyển dịch cơcấu kinh tế, vừa đồng thời gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống tác động đến

sự hình thành và quá trình biến đổi của cơ cấu kinh tế Các yếu tố có thể bổ sung thúcđẩy nhau tạo nên tổng lực tác động mạnh đến hình thành và sự tăng trưởng cơ cấu kinh

tế Song chúng cũng có thể tác động ngược chiều cản trở và làm suy giảm những tácđộng riêng lẻ Điều đó nói lên vai trò chủ quan là phải đánh giá đúng phần đóng góp vàhạn chế của mỗi yếu tố nhằm phát huy những yếu tố tích cực, thúc đẩy quá trình hoànthiện cơ cấu ngành trong mỗi thời kỳ

Có nhiều cách tiếp cận và phân loại các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế.Tuy nhiên phần lớn cách tiếp cận đều phân thành hai nhóm chủ yếu là: Nhóm nhân tốthuộc về điều kiện tự nhiên, bao gồm vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thời tiết và sinh thái,tài nguyên ( đất, nước, rừng và khoáng sản ); Nhóm yếu tố về kinh tế-xã hội, bao gồmthị trường, các chính sách kinh tế, dân số và lao động cùng với sự hiểu biết của họ, chủtrương phát triển của Nhà nước, cơ sở vật chất kỹ thuật - kết cấu hạ tầng, tập quán,truyền thống và thói quen, sự hình thành phát triển của Công nghiệp và đô thị, những tiễn

bộ khoa học- kỹ thuật và công nghệ, hiệu quả sản xuất và tình hình đời sống, vấn đề anninh, quốc phòng và trật tự xã hội, những nhân tố kinh tế từ bên ngoài, trong đó có sựphân công và hiệp tác lao động quốc tế

Sau đây xin trình bầy một cách khái quát về tác động của một số yếu tố chủ yếutrong các nhóm nhân tố nói trên:

1.2.1- Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên:

Trang 32

Vị trí địa lý và các yếu tố tạo vùng như khí hậu, tài nguyên có vai trò rất quantrọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội mà trước hết là sự hình thành cơ cấu kinh tế một

tự nhiên Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế truyền thống, sự phân bố các nguồn tàinguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên theo vùng có ảnh hưởng quyết định đến sự hìnhthành cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một vùng hay một quốc gia

 Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên tác động trực tiếp đến cơ cấu kinh tếtrước hết là khoáng sản Trữ lượng, chất lượng, vị trí phân bổ, điều kiện khai thác của cácnguồn tài nguyên khoáng sản có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển và phân bố cácngành kinh tế như: Công nghiệp khai khoáng, chế biến quặng, phát triển Nông nghiệpv.v Trong những nền kinh tế chưa phát triển, yếu tố khoáng sản có tầm quan trọng đặcbiệt Chẳng hạn, khu vực có nguồn than hay quặng sắt tất yếu dẫn đến sự hình thànhCông nghiệp khai thác than hoặc luyện quặng Một nguồn tài nguyên mới được pháthiện, khám phá sẽ là tiền đề để phát triển những ngành kinh tế mới, thực hiện chuyểndịch hoặc thay đổi cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu kinh tế mới Cũng cần chú ý rằng, cónhiều nguồn tài nguyên không phải đã được phát hiện và khai thác ngay từ khi nó hìnhthành Quá trình phát hiện, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên này phụ thuộc rất lớnvào trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật và các điều kiện hạ tầng khác

 Đất đai, khí hậu, điều kiện sinh thái có ảnh hưởng rất quan trọng đến sản xuấtnông, lâm nghiệp, trong đó đặc biệt là ảnh hưởng lớn đến sản xuất lương thực, phát triển,phân bố cây Công nghiệp lâu năm, chăn nuôi đại gia súc và phát triển các ngành côngnghiệp chế biến nông lâm sản, do đó tác động trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế

Rõ ràng một khu vực đồng bằng phì nhiêu sẽ là cơ sở tốt để phát triển Nông nghiệp

 Nước có vai trò to lớn không chỉ đối với sản xuất Nông nghiệp, Công nghiệp

mà còn đối với đời sống dân cư và các ngành kinh tế khác Nước chi phối sự phát triểncủa đời sống, dân cư, xã hội, và tất nhiên là sự hình thành và phát triển kinh tế; sự hìnhthành cơ cấu sản xuất và sự phân bố dân cư Phân bố dân cư lại gắn liền với phân bố sảnxuất Trong quá trình nghiên cứu nguồn nước, cần chú ý tới trữ năng thuỷ điện và khảnăng phát triển giao thông vận tải thuỷ trên các dòng sông

 Trên cơ sở đất rừng và tài nguyên rừng, phát triển Lâm nghiệp và Công nghiệp

Trang 33

rừng là một trong những hướng cơ bản của quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuậtcủa các tỉnh trung du miền núi; ở những vùng giáp biển, có khả năng phát triển nghềnuôi trồng, đánh bắt và chế biến hải sản.

Tuỳ theo quy mô trữ lượng, chất lượng, các nguồn tài nguyên có ý nghĩa đơnngành hay đa ngành, có ý nghĩa cả nước hay từng địa phương Trên cơ sở các tài nguyên

có ý nghĩa toàn quốc sẽ phát triển các ngành sản xuất chuyên môn hoá tạo ra khối lượngsản phẩm hàng hoá tham gia trao đổi liên vùng của quốc gia và xuất khẩu Các tàinguyên thuộc từng vùng hay địa phương là cơ sở phát triển các ngành sản xuất hỗ trợ cácngành chuyên môn hoá có ý nghĩa toàn quốc và giải quyết tới mức tối đa các nhu cầu sảnxuất và đời sống của nhân dân địa phương

Sử dụng tổng hợp, tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên làđòi hỏi khách quan của bất cứ nền kinh tế nào, có liên quan chặt chẽ đến việc hình thành

cơ cấu kinh tế của cả nước và của từng vùng Tuỳ theo trình độ phát triển của lực lượngsản xuất, việc phát hiện, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thểtheo những phương hướng khác nhau và tạo ra những giá trị sử dụng khác nhau và do đódẫn đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế khác nhau; không phải cùng mộtnguồn tài nguyên thì nhất thiết phải có một cơ cấu kinh tế đồng nhất

1.2.2- Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội:

1.2.2.1- Toàn cầu hóa và sự phát triển của thị trường:

Cần khẳng định ngay rằng thị trường là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việchình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nói đến thị trường là nói đến nhu cầu conngười cần được thỏa mãn thông qua thị trường Những nhu cầu này sẽ là nhân tố, là tínhiệu định hướng cho doanh nghiệp thực hiện các quyết định sản xuất kinh doanh, giảiquyết ba câu hỏi của kinh tế vi mô là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thếnào? Trong nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và phát triển mỗi doanh nghiệp phảihướng đến thị trường, xuất phát từ quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường để địnhhướng chiến lược và chính sách kinh doanh của mình Sự hình thành và biến đổi nhiệm

vụ sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp để thích ứng với các điều kiện thị trường dẫntới từng bước thúc đẩy sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước Khi các

Trang 34

doanh nghiệp trong nước sản xuất ra những hàng hóa đáp ứng nhu cầu của người tiêudùng trong nước, thay thế hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, ta có mô hình CNH thaythế nhập khẩu Khi hàng hóa của các doanh nghiệp được sản xuất ra đáp ứng nhu cầu củanước ngoài, ta có mô hình CNH hướng về xuất khẩu Khi nền kinh tế phát triển, thu nhậpcủa dân cư tăng, sức mua của thị trường tăng, số lượng những hàng hóa cũ đang đượctiêu thụ sẽ cần phải sản xuất nhiều thêm Thu nhập tăng cũng làm phát sinh ra những nhucầu về các hàng hóa mới: cầu về hàng hóa thiết yếu sẽ giảm đi về tỷ lệ tương đối trong

cơ cấu tiêu dùng, cầu về hàng hóa lâu bền và đắt tiền sẽ tăng lên Những nhân tố nói trên

sẽ khiến các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường tự động chuyển đổi hoạt đoạt độngsản xuất kinh doanh của mình một cách phù hợp nhằm đáp ứng được nhu cầu mới củathị trường, và do đó, sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế Ví dụ, vào những năm đầu của côngcuộc đổi mới, dân ta còn thiếu ăn, thiếu mặc, nhu cầu hàng thực phẩm, hàng may mặc làrất lớn, nhu cầu về những hàng lâu bền như xe máy, tủ lạnh, máy giặt, ô tô là rất thấp.Khi đó, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh các sản phẩm như lương thực, thựcphẩm, chế biến thực phẩm, dệt may chiếm số lượng rất lớn và chiếm tỷ trọng rất lớntrong GDP của nền kinh tế, có rất ít hoặc thậm chí không có doanh nghiệp trong nhữnglĩnh vực như sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy, ti vi, máy giặt, điều hòa, tủ lạnh Đếnnhững năm 1995-1996, thu nhập của người dân Việt Nam đã được cải tiến đáng kể, nhucầu của người dân về những đồ dùng lâu bền và cao cấp tăng dần lên, các doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực sản xuất và lắp ráp điện tử, đồ điện gia dụng, xe máy cũngnhiều lên, tỷ trọng đóng góp của những doanh nghiệp này trong GDP cũng tăng thêm.Trong những năm gần đây, người dân ở một số Thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM đãbắt đầu hướng tới việc mua ô tô, nhu cầu ô tô tăng vọt, thậm chí các doanh nghiệp trongngành này đã không còn hàng để bán trong những tháng cuối năm 2004, mặc dầu giá ô

tô ở Việt Nam vào loại cao nhất trên thế giới Những doanh nghiệp trong ngành sản xuất,lắp ráp và kinh doanh ô tô bắt đầu có lãi lớn sau nhiều năm thua lỗ do việc đi trước đónđầu thị trường từ nhiều năm trước đó Như vậy, có thể nói thị trường trong nước và quốc

tế có vai trò rất to lớn, thông qua vai trò là mặt cầu hàng hóa, trong việc chuyển dịch cơcấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng được xu thế biến động khách quan củacầu thị trường mới là một cơ cấu kinh tế hợp lý, đúng đắn Bởi vậy, sự hình thành và

Trang 35

phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nước (thị trường hàng hoá - dịch vụ, thịtrường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học- công nghệ ) có tác động mạnhđến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Khi nghiên cứu tác động của thị trường đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vấn đềcực kỳ quan trọng là cần thấy rõ mặt bản chất, bên trong của cơ chế tác động - đó chính

là các quy luật kinh tế vốn có của kinh tế thị trường Hệ thống các quy luật gắn liền vớithị trường và kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cungcầu, quy luật giá cả, quy luật lưu thông tiền tệ Toàn bộ phần trình bày trên về tác độngcủa thị trường chính là sự biểu hiện của các quy luật vốn có của kinh tế thị trường trongnền kinh tế Thông qua các phạm trù của kinh tế thị trường được con người nhận thức,vận dụng như giá cả, giá trị, quan hệ cung cầu, lợi nhuận mà các quy luật đó điều tiết,chi phối nền kinh tế Trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa hay kinh tế thị trường,các quy luật tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp bên trong điều tiếtnền kinh tế Đương nhiên, trong hệ thống các quy luật trên, từng quy luật đều có vai tròriêng biệt nhất định chi phối những mặt nhất định của quá trình sản xuất hàng hóa

Trong đó, quy luật cạnh tranh chính là quy luật tạo nên cơ chế khách quan điều tiết

sự vận động của nền kinh tế Bởi lẽ, động lực của sản xuất hàng hóa, hay của kinh tế

thị trường chính là lợi nhuận (hay nói cách khác là giá trị, giá trị thặng dư) Để đạt đượclợi nhuận cao, các doanh nghiệp - tế bào của nền kinh tế không ngừng cạnh tranh nhằmthực hiện mục tiêu của mình Trong nền kinh tế thị trường, có hai loại cạnh tranh: đó làcạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành, các khu vực Bản chất cạnhtranh trong nội bộ ngành là nhằm kiếm tìm lợi nhuận siêu ngạch Còn cạnh tranh giữacác ngành, giữa các khu vực là nhằm tìm nơi đầu tư có lợi nhất Chính sự tìm kiếm lợinhuận này từ hai loại cạnh tranh đã dẫn đến sự chi phối, điều tiết các nguồn lực, các yếu

tố của quá trình sản xuất từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, từ ngành nàysang ngành khác và từ nơi này đến nơi khác Đó chính là quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế tự phát tự nhiên trong nền kinh tế thị trường

Cũng cần thấy rằng, với từng giai đoạn khác nhau của kinh tế thị trường quy luậtcạnh tranh cũng biểu hiện ở các mức độ khác nhau phù hợp với trình độ phát triển củakinh tế thị trường Đó là các mức độ của cạnh tranh như canh tranh tự do, cạnh tranh độc

Trang 36

quyền, cạnh tranh trong xu thế toàn cầu hóa Bước sang thiên niên kỷ mới, quốc tế hoá

và khu vực hoá vẫn là xu thế đặc trưng nhất thúc đẩy các quốc gia liên kết chặt chẽ vớinhau trong một hệ thống kinh tế toàn cầu nhằm xoá bỏ hầu hết hàng rào thuế quan và phithuế quan; chuyển dịch một cách thông thoáng hàng hoá, vốn đầu tư, tiền tệ, dịch vụ,công nghệ và lao động giữa các quốc gia với quy mô ngày càng lớn Tiêu biểu nhất của

quá trình toàn cầu hoá là sự bùng nổ tự do hoá thương mại toàn cầu, là sự hình thành

kinh tế thị trường toàn cầu, thị trường khu vực với các trình độ khác nhau nhưng gắn kết với nhau chặt chẽ hơn trong đó có vai trò hoạt động ngày càng tăng của tổ chức thương mại thế giới (WTO).

Cùng với xu thế quốc tế hoá, xu thế khu vực hoá ngày càng phát triển Khu vựchoá là bước đi cần thiết cho mỗi quốc gia tiến tới toàn cầu hoá, đồng thời nó cũng giúp

họ ứng phó với những bất lợi của xu thế toàn cầu hoá và với sự chi phối của các siêucường: Châu Á với Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Châu Mỹ với khối mậudịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Châu Âu với khối liên minh Châu Âu (EU) đang đượchoàn thiện và ngày càng bền vững

Xu thế quốc tế hoá và khu vực hoá của các nước đang phát triển thường gắn với

"Hội nhập quốc tế" Hội nhập quốc tế phản ánh sự tham gia một cách tự nguyện của cácquốc gia có cùng sự quan tâm trong những mối liên kết nhất định vào quá trình quốc tếhoá (hay khu vực hoá) Ngoài ra, một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự tự nguyệntham gia hội nhập này là quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế đối với những quốc giamuốn đạt được sự phát triển nhanh trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa họccông nghệ, tin học Quốc tế hoá và khu vực hóa sẽ tạo ra những cơ hội mới cho việc mởrộng thị trường, chuyển giao và ứng dụng công nghệ cũng như kỹ năng quản lý, hìnhthành và phát triển những ngành kinh tế mới hoặc đòi hỏi thay đổi, cải tiến các ngành,sản phẩm truyền thống Do đó, toàn cầu hóa sẽ tạo cơ hội cho các quốc gia đi sau rútngắn con đường phát triển; sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực của chính quốc gia mình

và bổ sung những nguồn lực cần thiết cho phát triển mà đất nước đang thiếu hụt Tuyvậy, cùng với những cơ hội, toàn cầu hóa cũng đặt ra những thách thức gay gắt đối vớimỗi cá nhân, mỗi tổ chức và đối với cả một quốc gia Đó là yêu cầu cao hơn về trình độ

Trang 37

tay nghề của người lao động; là sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường trong nước và ngoàinước đối với các doanh nghiệp cũng như các quốc gia; là sự điều hành luật pháp, ổn định

vĩ mô đối với nhà nước quản lý Sự cạnh tranh cũng như quản lý điều hành được đặt

ra không chỉ xuất phát từ quy mô, trình độ, tính chất của nền sản xuất hàng hóa trong mỗi quốc gia mà phải xuất phát từ quy mô, trình độ, tính chất , yêu cầu…của nền kinh tế thị trường thế giới, thị trường khu vực, bao gồm cả các quốc gia có quan

hệ trực tiếp và các quốc gia quan hệ gián tiếp Nếu không vượt qua các thách thức đó,

toàn cầu hóa sẽ làm tăng thêm khoảng cách tụt hậu và lệ thuộc vào nước khác Rõ ràng ởViệt Nam cũng như ở Hà Nội, sự cạnh tranh trong thời gian tới không chỉ là cạnh tranhgiữa các đơn vị sản xuất trong nước, giữa các địa phương trong nước và trình độ củakinh tế thị trường trong nước Khi Việt Nam và Hà Nội tham gia hội nhập khu vực vàquốc tế trong xu thế toàn cầu hóa, hệ thống quy luật chi phối nền kinh tế thị trường nước

ta không phải chỉ là hệ thống quy luật của kinh tế thị trường Việt Nam mà là hệ thốngquy luật của kinh tế thị trường thế giới đang ở nhiều trình độ khác nhau Đó là sự tồn tạiđồng thời các trình độ kinh tế thị trường từ sản xuất hàng hóa giản đơn đến sản xuất hànghóa tự do cạnh tranh và kinh tế thị trường hiện đại Tương tự, quy luật cạnh tranh cũngbiểu hiện duới nhiều mức độ khác nhau và tác động chi phối rất phức tạp đến quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam và Thành phố Hà Nội Tuy nhiên dù các nước đều

có xu hướng chuyển dịch cơ cấu như nhau nhưng tốc độ chuyển dịch lại hoàn toànkhông giống nhau vì bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác Chẳng hạn trong xu thế toàn cấuhóa hai nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu là quá trình chuyênmôn hoá và thay đổi công nghệ, tiến bộ kỹ thuật Quá trình chuyên môn hoá mở đườngcho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, hoàn thiện tổ chức, áp dụng công nghệ tiên tiến, nângcao năng suất lao động Chuyên môn hoá cũng tạo ra những hoạt động dịch vụ và chếbiến mới Điều đó làm cho tỷ trọng của các ngành truyền thống giảm trong khi đó tỷtrọng của các ngành dịch vụ kỹ thuật mới được tăng trưởng nhanh chóng, dần dần chiếm

ưu thế Chuyển dịch cơ cấu tạo ra những tiền đề cho sự phát triển và hoàn thiện của cácthị trường yếu tố sản xuất, và ngược lại, việc hoàn thiện phát triển của các thị trường đó

sẽ thúc đẩy quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế, từ đó làm sâu sắc hơn quá trìnhchuyển dịch cơ cấu

Trang 38

1.2.2.2- Dân số, lao động

Dân số, lao động được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế Sự tácđộng của nhân tố này lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đượcxem xét trên các mặt chủ yếu sau:

Thứ nhất, kết cấu dân cư và trình độ dân trí, trình độ nghề nghiệp, khả năng lao

động và khả năng tiếp thu khoa học - kỹ thuật là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế,phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao và nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanhtrong các cơ sở sản xuất kinh doanh, là nhân tố thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật trongsản xuất của nền kinh tế quốc dân

Thứ hai, qui mô dân số, kết cấu dân cư và thu nhập của họ có ảnh hưởng lớn đến

quy mô và cơ cấu của nhu cầu thị trường Đó là cơ sở để xác định quy mô phát triển các

cơ sở sản xuất kinh doanh trong từng lĩnh vực cụ thể

Thứ ba, sự phát triển của nền kinh tế thường gắn liền với tập quán, truyền thống,

phong tục của một địa phương, một cộng đồng người Đặc biệt sự phát triển và chuyểnhoá các nghề truyền thống, đặc thù thường gắn chặt với đội ngũ các nghệ nhân Sảnphẩm của các ngành nghề này hầu hết là các sản phẩm độc đáo, được ưa chuộng trên thịtrường quốc tế

Ngoài ra, quy mô dân số, trình độ dân số gắn liền với vấn đề quản lý và tổ chức

xã hội, giải quyết những yêu cầu dân sinh bức xúc, và do đó có ảnh hưởng lớn đến sựthành công hay thất bại, nhanh hay chậm của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.2.2.3- Môi trường thể chế

Môi trường thể chế là yếu tố cơ sở cho quá trình xác định và chuyển dịch cơ cấukinh tế Môi trường thể chế thường gắn bó chặt chẽ với thể chế chính trị và đường lốixây dựng kinh tế Nói cách khác, quan điểm, đường lối chính trị nào sẽ có môi trườngthể chế đó, đến lượt nó, môi trường thể chế lại ước định các hướng chuyển dịch cơ cấungành kinh tế nói chung và cơ cấu nội bộ từng ngành, từng vùng và thành phần kinh tế.Môi trường thể chế là biểu hiện cụ thể của những quan điểm, ý tưởng và hành vi của Nhànước can thiệp và định hướng sự phát triển tổng thể, cũng như sự phát triển các bộ phận

Trang 39

cấu thành của nền kinh tế Trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Nhà nước có vai trò rấtquan trọng; đặc biệt trong một chừng mực nhất định hoặc trong ngắn hạn, sự can thiệpcủa nhà nước còn có vai trò quyết định Vai trò đó thể hiện tập trung một số nội dungsau:

Thứ nhất, Nhà nước xây dựng và quyết định chiến lược và kế hoạch phát triển

kinh tế - xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội tổng thể của đất nước Đóthực chất là các định hướng phát triển, định hướng phân bổ nguồn lực và đầu tư theongành và theo vùng lãnh thổ Thực hiện tốt vai trò định hướng này, Nhà nước sẽ gópphần quan trọng để khắc phục mặt trái vốn có của cơ chế thị trường tự điều chỉnh

Thứ hai, bằng hệ thống chính sách, pháp luật và các công cụ khác, Nhà nước

khuyến khích hay hạn chế, thậm chí gây áp lực để các doanh nghiệp, các nhà đầu tư(trong và ngoài nước) phát triển sản xuất kinh doanh theo định hướng Nhà nước đã xácđịnh Thông qua hệ thống cơ chế, chính sách, đặc biệt là chính sách về thuế quan, bảo hộmậu dịch, ưu đãi đầu tư, Nhà nước có thể ngăn cản một cách hữu hiệu sự di chuyển củacác dòng vốn đầu tư hoặc các luồng di chuyển hàng hóa dịch vụ giữa các quốc gia, cácngành hay các vùng lãnh thổ Qua đó, Nhà nước có thể điều chỉnh, hạn chế, thậm chíngăn cản quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thứ ba, Trong một số trường hợp, Nhà nước trực tiếp đầu tư xây dựng các cơ sở

kinh tế, nhất là các cơ sở kinh tế sử dụng công nghệ mới, tạo ra sản phẩm mới trongnhững lĩnh vực cần ưu tiên hoặc có tác dụng thúc đẩy sự phát triển Trong trường hợpnày, vai trò của Nhà nước có tác động to lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc thậmchí điều chỉnh, tạo ra cơ cấu kinh tế mới trong thời gian ngắn Tuy nhiên, cũng như trong

mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo phương pháp Kế hoạch hóa tập trung, Nhànước đã quá lạm dụng vai trò tác động của mình, xem nhẹ vai trò của thị trường Chính

vì vậy trong dài hạn, sự can thiệp trực tiếp nhiều khi không đạt được kết quả như mongmuốn mà còn gây tác động ngược lại

Thứ tư, môi trường thể chế tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua

sự tác động gián tiếp của hệ thống chính trị Sự ổn định về chế độ chính trị hay môi

Trang 40

trường thể chế tạo điều kiện tâm lý cho nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn sản xuất kinh doanhtrong ngắn hạn cũng như trong dài hạn Sự ổn định của thể chế chính trị cũng như sự ổnđịnh kinh tế vĩ mô và đường lối đối ngoại rõ ràng và rộng mở, đa phương hoá, đa dạnghoá các mối quan hệ chính là lợi thế của bất kỳ quốc gia nào trong quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế

1.2.2.4- Tiến bộ khoa học - công nghệ

Tiến bộ khoa học - công nghệ không những chỉ tạo ra những khả năng sản xuấtmới, đẩy nhanh tốc độ phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo tiền đề nâng cao chấtlượng sản phẩm cũng như tạo ra những sản phẩm mới phù hợp với thị trường, làm tăng

tỷ trọng của chúng trong tổng thể nền kinh tế (làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế), mà còntạo ra những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất hiện một số ngành kinh tế mới, những khu vựctiềm năng mới, do đó có triển vọng phát triển mạnh trong tương lai

Thế giới ngày nay đang chứng kiến sự phát triển vượt bậc của cách mạng khoahọc - kỹ thuật Những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ tạo ra những nềntảng công nghệ mới về chất và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triểnkinh tế tri thức Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba đang định hình với các đặc trưngmới về chất như: Có tính tự động hoá cao, là sự kết hợp giữa công nghệ vi điện tử, côngnghệ tin học, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ và đáy đại dương cùng các côngnghệ chế biến sâu không có phế liệu; sử dụng nguyên vật liệu mới có khả năng tái sinh,không gây ô nhiễm môi trường; làm hài hoà quan hệ giữa con người với thiên nhiên Đặtcon người vào trung tâm sự tăng trưởng, trí tuệ hoá lao động và giải phóng con ngườikhỏi lao động đơn điệu, độc hại cũng như những giới hạn sinh lý cá nhân Cùng với việctạo ra những công nghệ mới, đang xuất hiện những điều kiện kinh doanh và cơ cấu tiêudùng mới Cả ở cấp vi mô lẫn vĩ mô đang khởi động những quá trình tái cấu trúc vĩ đại

chưa từng có trong lịch sử Xét về sản phẩm: Đang và sẽ có sự cải thiện căn bản về

danh mục, chủng loại, chất lượng, hình dáng, công dụng và giá cả của hàng loạt sảnphẩm, hàng hoá và dịch vụ theo hướng đa dạng hơn, nhỏ gọn hơn, nhiều chức năng hơn,tiện lợi, tinh xảo hơn, tiết kiệm năng lượng và rẻ hơn, do đó, phổ cập rộng rãi hơn Sẽ

xuất hiện hàng loạt sản phẩm và dịch vụ hoàn toàn mới Đối với doanh nghiệp: Sẽ có

Ngày đăng: 24/11/2015, 10:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Thị Phương Anh (2000), Thực trạng và kế hoạch phát triển Nông nghiệp Hà Nội, trình bầy tại hội thảo CIP về chương trình phát triển kế hoạch hành động tại Hà Nội, 9-6-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mai Thị Phương Anh (2000), "Thực trạng và kế hoạch phát triển Nông nghiệpHà Nội
Tác giả: Mai Thị Phương Anh
Năm: 2000
4. Ban chấp hành đảng bộ Thành phố Hà Nội, Các chương trình công tác khoá XII, XIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành đảng bộ Thành phố Hà Nội
5. Bộ Công nghiệp (2000), Quy hoạch phát triển ngành Da giày Việt Nam đến năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Công nghiệp (2000)
Tác giả: Bộ Công nghiệp
Năm: 2000
6. Bộ Công nghiệp (2000), Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Công nghiệp (2000)
Tác giả: Bộ Công nghiệp
Năm: 2000
7. Bộ Chính trị ( 2000): Nghị quyết 15 - NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001- 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị ( 2000)
8. Bộ Kế hoạch & đầu tư (2000), Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001- 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch & đầu tư (2000)
Tác giả: Bộ Kế hoạch & đầu tư
Năm: 2000
9. Bộ Kế hoạch & đầu tư : Thông tin về chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng thời kỳ 1990- 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch & đầu tư
10. Bộ Kế hoạch & đầu tư (2003), Báo cáo chuyên đề về giảm chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh đáp ứng yêu cầu hội nhập của các sản phẩm Công nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch & đầu tư (2003)
Tác giả: Bộ Kế hoạch & đầu tư
Năm: 2003
11. Phạm Như Cương (1987), Một số vấn đề kinh tế xã hội trong chặng đường đầu tiên. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Như Cương (1987), "Một số vấn đề kinh tế xã hội trong chặng đường đầutiên
Tác giả: Phạm Như Cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1987
12. Cục Thống kê Hà Nội, Niên giám thống kê Hà Nội 1995, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thống kê Hà Nội
13. Cục Thống kê Hà Nội (2004), Thủ đô Hà Nội 50 năm xây dựng và phát triển, NXB Cục thống kê Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thống kê Hà Nội (2004), "Thủ đô Hà Nội 50 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Cục Thống kê Hà Nội
Nhà XB: NXB Cục thống kê Hà Nội
Năm: 2004
14. Nguyễn Đình Dương (2000), Chuyển dịch cơ cấu đầu tư phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001-2005, Đề tài khoa học của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Dương (2000), "Chuyển dịch cơ cấu đầu tư phục vụ chuyển dịch cơcấu kinh tế giai đoạn 2001-2005
Tác giả: Nguyễn Đình Dương
Năm: 2000
15. Nguyễn Đình Dương (2003), Những giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư XDCB Thành phố Hà Nội 2001-2005, Đề tài khoa học của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Dương (2003), "Những giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư XDCBThành phố Hà Nội 2001-2005
Tác giả: Nguyễn Đình Dương
Năm: 2003
16. Nghiêm Xuân Đạt, Nguyễn Đình Dương, Nguyễn Hồng Sơn (2002), Dự án điều tra đánh giá năng lực cạnh tranh các sản phẩm chủ yếu trên địa bàn Thành phố Hà Nội 2001-2002, Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiêm Xuân Đạt, Nguyễn Đình Dương, Nguyễn Hồng Sơn (2002), "Dự án điềutra đánh giá năng lực cạnh tranh các sản phẩm chủ yếu trên địa bàn Thành phốHà Nội 2001-2002
Tác giả: Nghiêm Xuân Đạt, Nguyễn Đình Dương, Nguyễn Hồng Sơn
Năm: 2002
17. Nghiêm Xuân Đạt, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Đình Dương (2005), Những luận cứ khoa học thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 2006-2010, đề tài khoa học của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiêm Xuân Đạt, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Đình Dương(2005), "Những luận cứ khoa học thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đôgiai đoạn 2006-2010
Tác giả: Nghiêm Xuân Đạt, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Đình Dương
Năm: 2005
18. Lưu Vĩnh Đoạn (1996), Kinh tế châu Á trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Vĩnh Đoạn (1996), "Kinh tế châu Á trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI
Tác giả: Lưu Vĩnh Đoạn
Nhà XB: NXBNông nghiệp
Năm: 1996
21. Ngô Đình Giao (1994), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH nền kinh tế quốc dân. NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Đình Giao (1994), "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH nền kinh tếquốc dân
Tác giả: Ngô Đình Giao
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1994
22. Lê Văn Hoạt (1999), Nghiên cứu phân tích động thái của cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 1991-1998 và kiến nghị về phương hướng và các giải pháp chuyển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Văn Hoạt (1999)
Tác giả: Lê Văn Hoạt
Năm: 1999
23. Học Viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội (2001), Giáo trình Giáo trình Kinh tế chính trị - Mác Lê nin, - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - năm 2001- Tập II, Tr 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học Viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội (2001), "Giáo trìnhGiáo trình Kinh tế chính trị - Mác Lê nin
Tác giả: Học Viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia -năm 2001- Tập II
Năm: 2001
24. J. Woronoff (1990), Những nền kinh tế thần kì ở châu Á, NXB khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Woronoff (1990), "Những nền kinh tế thần kì ở châu Á
Tác giả: J. Woronoff
Nhà XB: NXB khoa học
Năm: 1990

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu ngành của nền kinh tế Nhật Bản - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 1 Cơ cấu ngành của nền kinh tế Nhật Bản (Trang 12)
Bảng 2: Cơ cấu kinh tế Thành phố Bắc Kinh - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 2 Cơ cấu kinh tế Thành phố Bắc Kinh (Trang 58)
Bảng 3: Một số chỉ tiêu tổng hợp về Công nghiệp Hà Nội giai đoạn 1954-1986 - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 3 Một số chỉ tiêu tổng hợp về Công nghiệp Hà Nội giai đoạn 1954-1986 (Trang 70)
Bảng 5  : Cơ cấu kinh tế ngành của Hà Nội giai đoạn 1954-1986 - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 5 : Cơ cấu kinh tế ngành của Hà Nội giai đoạn 1954-1986 (Trang 71)
Bảng 7:     Đóng góp của các ngành vào GDP của Hà Nội (giá so sánh) - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 7 Đóng góp của các ngành vào GDP của Hà Nội (giá so sánh) (Trang 76)
Bảng số liệu trên cho thấy, trong năm 1996, vốn đầu tư cho lĩnh vực Nông nghiệp chỉ chiếm 1,1% tổng vốn đầu tư thì đến 2005, tỷ trọng vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp trong tổng vốn đầu tư đã tăng lên 1,87% - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng s ố liệu trên cho thấy, trong năm 1996, vốn đầu tư cho lĩnh vực Nông nghiệp chỉ chiếm 1,1% tổng vốn đầu tư thì đến 2005, tỷ trọng vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp trong tổng vốn đầu tư đã tăng lên 1,87% (Trang 77)
Bảng 9:   Cơ cấu lao động theo ngành và năng suất lao động - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 9 Cơ cấu lao động theo ngành và năng suất lao động (Trang 79)
Bảng 11:  Tốc độ tăng giá trị sản xuất năm nhóm ngành chủ lực của Hà Nội - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 11 Tốc độ tăng giá trị sản xuất năm nhóm ngành chủ lực của Hà Nội (Trang 82)
Bảng 12: Chuyển dịch cơ cấu sản xuất của năm nhóm ngành chủ lực (%) - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 12 Chuyển dịch cơ cấu sản xuất của năm nhóm ngành chủ lực (%) (Trang 83)
Bảng 13: Những nhân tố làm tăng chi phí sản xuất - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 13 Những nhân tố làm tăng chi phí sản xuất (Trang 84)
Bảng 14 :Tăng trưởng dịch vụ và tăng trưởng GDP của Hà Nội - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 14 Tăng trưởng dịch vụ và tăng trưởng GDP của Hà Nội (Trang 86)
Bảng 15 : So sánh tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực Dịch vụ với tốc độ tăng - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 15 So sánh tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực Dịch vụ với tốc độ tăng (Trang 87)
Bảng 16: Quy mô và tốc độ tăng các phân ngành dịch vụ của Hà Nội - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 16 Quy mô và tốc độ tăng các phân ngành dịch vụ của Hà Nội (Trang 88)
Bảng 17: Cơ cấu ngành dịch vụ Hà Nội (%) - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 17 Cơ cấu ngành dịch vụ Hà Nội (%) (Trang 89)
Bảng 18 : Tỷ trọng các phân ngành dịch vụ của Hà Nội trong các phân ngành - Luận án tiến sỹ: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Bảng 18 Tỷ trọng các phân ngành dịch vụ của Hà Nội trong các phân ngành (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w