sở dịch vụ hậu cần nghề cá và chế biến thủy sản tại những vùng có tiềm năng, lợi thế về khai thác thủy sản trong tỉnh; công tác quản lý nhà nước được tăng cường, chủ quyền an ninh vùng b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -o0o -
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -o0o -
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -
Hà Nội – 2015
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến các Thầy Cô Trường Đại học Kinh
tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu, tạo cho tôi những nền tảng kiến thức
Chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo, Khoa Kinh tế chính trị đã tạo điều kiện trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu khoa học Cảm ơn PGS.TS Phạm Văn Dũng, TS.Trần Quang Tuyến, TS.Nguyễn Thùy Anh, những thành viên Hội đồng bảo vệ luận văn sơ bộ nhiệt tình tham gia góp ý giúp luận văn được hoàn thiện
Chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Viết Thành, người hướng dẫn khoa học của luận văn đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ mọi mặt trong suốt quá trình nghiên cứu Sự quan tâm của thầy đã tạo động lực cho tôi hoàn thành bài nghiên cứu này
Đặc biệt, trân trọng cảm ơn Cục Thống kê Quảng Ninh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh, Phòng Kế hoạch tài chính Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Ninh đã cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác trong quá trình thực hiện luận văn Cảm ơn những đồng nghiệp, những người bạn đã hỗ trợ kỹ thuật, góp phần giúp tôi hoàn thành đề tài
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời tri ân sâu sắc đến bố, mẹ và gia đình tôi Những người luôn cổ vũ và ủng hộ tôi hết mình về tinh thần cũng như tài chính trên con đường học vấn
Hà Nội, Ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Quang Thái
Trang 5Hà Nội, Ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Quang Thái
Trang 6Luận văn sử dụng phần mềm E Views trong Kinh tế lượng để tìm các ước lượng tốt nhất trong mô hình của Schaefer (1954) nhằm tính toán điểm tham chiếu phổ biến trong khai thác bền vững thủy sản – MSY (sản lượng khai thác thủy sản bền vững tối đa)
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cường lực khai thác thủy sản hiện tại chưa đem lại sự bền vững Trên cơ sở đó đưa ra các nhóm giải pháp: (1) Giải pháp về quy hoạch (2) Giải pháp điều chỉnh năng lực khai thác (3) Giải pháp tổ chức sản xuất và quản lý khai thác (4) Giải pháp cơ chế chính sách (5) Giải pháp khoa học công nghệ (6) Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực (7) Giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng và hậu cần, dịch vụ khai thác thủy sản (8) Giải pháp phát triển kinh tế kết hợp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới vùng biển, đảo (9) Giải pháp tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế
Đặc biệt là nhóm giải pháp điều chỉnh năng lực khai thác mà cụ thể là điều chỉnh cường lực khai thác: Giảm số lượng tàu khai thác ven bờ và vùng lộng, phát triển đội tàu có công suất lớn hơn và bằng 90 CV để khai thác xa bờ
Trang 7MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT I
DANH MỤC CÁC BẢNG II DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ III
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn nghiên cứu 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1 Mục đích nghiên cứu: 3
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, thời gian và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 3
3.2 Thời gian, phạm vi nghiên cứu 3
4 Đóng góp của Luận văn 3
5 Kết cấu Luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững 8
1.2.1 Các khái niệm: 8
1.2.2 Nội dung cơ bản của quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững: 9
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững: 12
1.2.4 Tiêu chí đánh giá: 13
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Nguồn tài liệu và dữ liệu 16
2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 17
Trang 82.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.4 Mô hình Schaefer (1954) 18
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2008 – 2014 22
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 22
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 25
3.1.2.1 Dân số, cơ cấu dân số 25
3.1.2.2 Về lao động, cơ cấu lao động 27
3.1.2.3 Cơ cấu kinh tế 28
3.2 Tình hình quản lý hoạt động khai thác thủy sản tại Quảng Ninh 30
3.2.1 Tính bền vững: 30
3.2.1.1 Số lượng, công suất tàu cá cơ cấu theo nhóm công suất, nghề khai thác và theo địa phương 30
3.2.1.2 Sản lượng khai thác thủy sản 42
3.2.1.3 Công nghệ trong khai thác thủy sản 48
3.2.1.4 Biến động tổ đội sản xuất, nghiệp đoàn nghề cá trên biển 50
3.2.1.5 Đầu tư trong khai thác thủy sản và bảo vệ nguồn lợi 50
3.2.1.6 Cơ sở hậu cần và dịch vụ khai thác thủy sản 55
3.2.2 Thu nhập và mức sống của ngư dân 60
3.2.2.1 Số lượng, trình độ, đào tạo và thu nhập của lao động khai thác thủy sản 60
3.2.2.2 Về thu nhập 63
3.2.2.3 Thống kê tai nạn trong khai thác thủy sản 63
3.2.2.4 Số tàu cá tham gia bảo hiểm 64
3.2.3 Tính hợp pháp 66
3.2.3.1 Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản 66
3.2.3.2 Tình trạng khai thác bất hợp pháp 67
3.2.3.3 Biến động nguồn lợi thủy sản 68
3.2.4 Tình hình thực hiện chính sách quản lý hoạt động khai thác thủy sản 68
3.2.4.1 Chính sách Trung ương 69
Trang 93.2.4.2 Chính sách địa phương 71
3.3 Chỉ số sản lượng bền vững tối đa (MSY) 73
3.3.1 Kết quả mô hình 73
3.3.2 Kết quả tính sản lượng bền vững tối đa MSY 74
3.4 Đánh giá công tác quản lý hoạt động khai thác thủy sản 76
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN TỈNH QUẢNG NINH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 79
4.1 Quan điểm và phương hướng 79
4.1.1 Quan điểm 79
4.1.2 Phương hướng 79
4.2 Các giải pháp quản lý hoạt động khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững 80
4.2.1 Giải pháp về quy hoạch: 80
4.2.2 Giải pháp điều chỉnh năng lực khai thác 81
4.2.3 Giải pháp tổ chức sản xuất và quản lý khai thác 82
4.2.4 Giải pháp cơ chế chính sách 83
4.2.5 Giải pháp khoa học công nghệ 84
4.2.6 Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 85
4.2.7 Giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng và hậu cần, dịch vụ khai thác thủy sản 86
4.2.8 Giải pháp phát triển kinh tế kết hợp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới vùng biển, đảo 86
4.2.9 Giải pháp tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Tài liệu tiếng Việt 89
Tài liệu tiếng Anh 92 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
Trang 10i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
20 UN CDS Ủy ban Phát triển bền vững Liên Hợp Quốc
Trang 11ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 1 Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững trong hoạt động khai thác thủy sản 14
Bảng 3 1 Dân số trung bình phân theo huyện, thị xã, thành phố ……… 26
Bảng 3 2 Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tỉnh Quảng Ninh 27
Bảng 3 3 Tăng trưởng GDP tỉnh Quảng Ninh qua các năm 29
Bảng 3 4 Biến động số lượng, công suất tàu cá cơ cấu theo nhóm công suất 30
Bảng 3 5 Biến động số lượng, công suất tàu cá theo nghề khai thác 38
Bảng 3 6 Biến động số lượng tàu cá theo địa phương 40
Bảng 3 7 Biến động số lượng tàu cá đóng mới, hoán cải có 41
Bảng 3 8 Biến động sản lượng, năng suất khai thác thủy sản 42
Bảng 3 9 Biến động sản lượng, NSKT thủy sản theo nhóm công suất 44
Bảng 3 10 Biến động sản lượng khai thác theo địa phương 46
Bảng 3 11 Tình hình đầu tư các khu neo đậu tránh trú gió bão 51
Bảng 3 12 Các dự án bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản 2008 – 2013 53
Bảng 3 13 Danh mục cảng có chức năng ngư nghiệp của tỉnh Quảng Ninh 56
Bảng 3 14 Cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu cá năm 2014 (sơ bộ) 58
Bảng 3 15 Thống kê nhà máy sản xuất nước đá và cở sở cung cấp 59
Bảng 3 16 Số lao động khai thác thủy sản phân theo nghề năm 2014 (sơ bộ) 61
Bảng 3 17 Số lao động khai thác thủy sản giai đoạn 2008-2014 62
Bảng 3 18 Đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng giai đoạn 2008 - 2014 63
Bảng 3 19 Số tàu bị tai nạn trong hoạt động khai thác thủy sản 64
Bảng 3 20 Kết quả thanh kiểm tra về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 66
Bảng 3 21 Kết quả mô hình 74
Bảng 3 22 MSY và fMSY của hai nhóm tàu 75
Bảng 3 23 Số lượng tàu giai đoạn 2008 – 2014 75
Trang 12iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1 1 Mối quan hệ giữa sản lượng, trữ lượng và cường lực khai thác 20
Hình 3 1 Biến động số lượng, công suất tàu cá ……… 31
Hình 3 2 Biến động số lượng tàu cá cơ cấu theo nhóm công suất 32
Hình 3 3 Biến động số lượng tàu cá nhóm công suất lớn hơn và bằng 90 CV 33
Hình 3 4 Biến động tổng công suất tàu cá cơ cấu theo nhóm công suất 35
Hình 3 5 Biến động tổng công suất tàu cá nhóm tàu lớn hơn và bằng 90CV 35
Hình 3 6 Biến động bình quân công suất/tàu cá tỉnh Quảng Ninh 36
Hình 3 7 Cơ cấu tàu cá năm 2014 tỉnh Quảng Ninh (sơ bộ) 37
Hình 3 8 Biến động số lượng tàu cá theo nghề khai thác 39
Hình 3 9 Biến động tổng công suất tàu cá theo nghề khai thác 39
Hình 3 10 Cơ cấu tàu cá theo nghề khai thác năm 2014 (sơ bộ) 40
Hình 3 11 Biến động tổng sản lượng khai thác thủy sản 43
Hình 3 12 Biến động năng suất khai thác thủy sản 43
Hình 3 13 Cơ cấu SLKT theo nhóm công suất năm 2014 (sơ bộ) 46
Hình 3 14 Cơ cấu SLKT theo địa phương năm 2014 (sơ bộ) 47
Trang 131
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn nghiên cứu
Nước ta có vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền và có bờ biển dài 3.260 km Trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc, biển có vai trò vị trí quan trọng và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường của nước ta Những năm qua, kinh tế biển và lĩnh vực khai thác thủy sản của đất nước ta không ngừng lớn mạnh, phát triển với tốc độ khá nhanh và có những đóng góp quan trọng vào nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội
Tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ 21, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” Nghị quyết xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh
Nằm ở địa đầu vùng Đông Bắc đất nước, chung đường biên giới trên biển và đất liền với Trung Quốc, Quảng Ninh là tỉnh có vị trí địa chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng – an ninh và đối ngoại Với bờ biển dài 250 km, diện tích vùng biển trên 6.000 km2, có Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long với diện tích trên 1.500 km2được tạo bởi gần 2.070 hòn đảo đá và đất lớn nhỏ (chiếm 2/3 tổng số đảo cả nước), nhiều eo vịnh kín gió, vùng biển Quảng Ninh (và Hải Phòng) được xác định là một trong bốn ngư trường trọng điểm của đất nước với nguồn lợi thủy sản đa dạng, phong phú Đây là những tiềm năng, lợi thế nổi trội của tỉnh Quảng Ninh, tạo tiền
đề để kinh tế thủy sản nói chung và khai thác thủy sản nói riêng trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia
Được sự quan tâm đầu tư của Trung ương và tỉnh Quảng Ninh, cùng với sự
cố gắng, nỗ lực của toàn thể nhân dân, trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014
Trang 14sở dịch vụ hậu cần nghề cá và chế biến thủy sản tại những vùng có tiềm năng, lợi thế về khai thác thủy sản trong tỉnh; công tác quản lý nhà nước được tăng cường, chủ quyền an ninh vùng biển đảo được giữ vững, ý thức bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản của người dân được nâng lên; nhiều sản phẩm thủy sản Quảng Ninh đã
có thương hiệu trên thị trường, nhiều hộ dân giàu lên từ nghề thủy sản
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác quản lý hoạt động khai thác thủy sản Quảng Ninh còn bộc lộ nhiều hạn chế đó là: Cơ cấu tàu thuyền, nghề nghiệp khai thác mất cấn đối; Việc tăng sản lượng khai thác thủy sản chủ yếu là do tăng cường
độ khai thác, không phải do yếu tố công nghệ khai thác; Công nghệ khai thác và phương thức bảo quản sau thu hoạch còn lạc hậu; Tiến độ xây dựng các khu neo đậu tránh trú gió bão phục vụ sản xuất và phòng chống thiên tai còn chậm; Tồn tại nhiều hình thức khai thác hủy diệt; Lao động nghề khai thác thủy sản xa bờ còn thiếu, chủ yếu còn dựa vào kinh nghiệm; Nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm đặc biệt là vùng ven bờ; Chính sách hỗ trợ của nhà nước không đồng bộ, chưa đủ mạnh, nhiều chính sách mang tính hình thức không đáp ứng và giải quyết được các khó khăn vướng mắc của ngư dân; Việc tổ chức, duy trì hoạt động của mô hình tổ đội, nghiệp đoàn gặp nhiều khó khăn do hiện nay chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể nào của nhà nước về quy chế hoạt động, cách thức tổ chức cũng như cơ chế hỗ trợ kinh phí
Những bất cập trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất cập trong quy hoạch khai thác, tổ chức triển khai thực hiện, công tác thanh tra, kiểm soát Vấn đề cấp thiết cần giải quyết là tìm giải pháp quản lý hoạt động khai thác thủy sản tại tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững trong thời gian tới.Do vậy,
Trang 152.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý bền vững trong hoạt động khai thác thủy sản
Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2014
Xác định phương hướng và các giải pháp quản lý hoạt động khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững
3 Đối tượng, thời gian và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động khai thác thủy sản và các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
3.2 Thời gian, phạm vi nghiên cứu
Thời gian: từ năm 2008 đến năm 2014
Địa điểm: tại các địa phương thuộc tỉnh Quảng Ninh
Nội dung: Trong luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu hoạt động khai thác thủy sản đối với những loại thủy sản có sẵn trong tự nhiên, mà không bao gồm việc khai thác loại thủy sản có được từ hoạt động nuôi trồng thủy sản
4 Đóng góp của Luận văn
Hệ thống hóa các lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý bền vững trong hoạt động khai thác thủy sản
Trang 165 Kết cấu Luận văn
Ngoài danh mục các ký hiệu viết tắt, danh mục các bảng, danh mục các hình
vẽ, phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, bố cục đề tài gồm 4 Chương cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về quản
lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững
Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008 – 2014
Chương 4: Phương hướng và các giải pháp quản lý hoạt động khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững
Trang 175
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay có nhiều tài liệu nghiên cứu về hiện trạng khai thác thủy sản ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh, điển hình là nghiên cứu “Tổng quan nguồn lợi thủy sản, chiến lược và chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy Chinh (2008) và “Đề án tổng thể phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn 2030” của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh (2014) Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Chinh chỉ ra, giai đoạn 1990 –
2007 số lượng tàu thuyền lắp máy đánh bắt thủy sản và công suất tàu thuyền ngày càng tăng theo tỷ lệ thuận với thời gian, trong đó lượng tàu thuyền đánh bắt xa bờ luôn chiếm tỷ lệ không cao nhưng có xu hướng tăng dần theo thời gian, bên cạnh đó sản lượng khai thác ngày càng tăng trong khi năng suất bình quân theo công suất ngày càng giảm Tại Đề án phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh nêu rõ, trong thời gian 5 năm (2008 – 2013) cơ cấu tàu thuyền khai thác thủy sản của tỉnh Quảng Ninh chưa hợp lý với trên 70% là tàu thuyền nhỏ ven bờ, cơ cấu nghề nghiệp chuyển đổi chậm, chưa giải quyết tốt bài toán lợi ích kinh tế khai thác đi đôi với bảo
vệ nguồn lợi thủy sản, vẫn còn hiện tượng đánh bắt trái phép xảy ra, năng suất khai thác thủy sản có tăng nhưng giá trị chưa cao và chủ yếu là do việc tăng cường độ khai thác
Ngoài những nghiên cứu mang tính chất tổng quan, có nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả khai thác nguồn lợi thủy sản Theo luận văn Thạc sĩ “Một số giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” của tác giả Lê Văn Ninh (2006), nguồn lợi thủy sản ở vùng ven biển gần bờ đã có dấu hiệu suy giảm mạnh trong khi đó nguồn lợi thủy sản xa bờ ở các vùng nước truyền thống cũng đã bị suy giảm ở một số loài Nghiên cứu này còn cho thấy sản lượng khai thác và cường lực thực tế ở Bà Rịa – Vũng Tàu đã vượt quá ngưỡng bền vững
Trang 186
làm suy giảm nguồn lợi vùng biển gần bờ Trong khi đó, luận văn Thạc sĩ “Giải pháp phát triển khai thác hải sản xa bờ của thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Ngọc Oai (2011) cũng có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của tác giả Lê Văn Ninh Nghiên cứu này kết luận rằng số lượng và công suất tàu cá hàng năm tại Đà Nẵng đều tăng Tuy nhiên số lượng tàu cá có công suất nhỏ (<20CV) và hoạt động ven bờ vẫn chiếm tỷ lệ cao (56,4%) Cường lực khai thác tăng nhưng hiệu quả khai thác giảm mạnh so với năm 2007
Nghiên cứu “Hiện trạng khai thác và quản lý nguồn lợi hải sản ở tỉnh Sóc Trăng” của tác giả Trịnh Kiều Nhiên và Trần Đắc Định (2012) cho thấy trong giai đoạn 2005 – 2011 số lượng tàu khai thác giảm 4%, trong khi sản lượng khai thác tăng 43,5% Sản lượng khai thác tăng là do công suất máy tàu tăng 82% Tuy nhiên, sản lượng trên một đơn vị khai thác (CPUE) lại giảm 38,2%, điều đó cho thấy nguồn lợi thủy sản đang bị suy giảm nghiêm trọng Tại một nghiên cứu khác, nghiên cứu “Thực trạng và một số giải pháp trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản ở tỉnh Tiền Giang” của tác giả Nguyễn Trọng Tuy và cộng sự lại chỉ ra rằng số tàu khai thác tại Tiền Giang có được lợi nhuận chiếm 83,62%, trong đó tàu khai thác ven bờ có tỷ lệ lỗ và mức lỗ nhiều hơn tàu khai thác xa bờ trong khi tàu khai thác xa bờ đòi hỏi chi phí đầu tư cao hơn cũng như mức độ rủi ro nhiều hơn
Để duy trì sản lượng khai thác bền vững tối đa, nhiều nghiên cứu đã chứng minh cần cắt giảm cường lực khai thác Tuy nhiên, mức cường lực cần cắt giảm của các nghiên cứu đưa ra là khác nhau Nghiên cứu của tác giả Thái Ngọc Chiến (2009) chỉ ra nguồn lợi hải sản ven bờ đã bị khai thác quá mức và cường lực khai thác cần giảm khoảng hơn 30% để duy trì sản lượng khai thác bền vững tối đa Đối với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Kháng (2011) số lượng tàu thuyền khai thác
ở khu vực miền Trung cần cắt giảm đến 38% để duy trì sản lượng khai thác bền vững tối đa Theo luận văn Thạc sĩ “Khai thác hải sản ở tỉnh Quảng Bình theo hướng bền vững” của tác giả Lê Văn Lợi (2014), năm 2013 tại vùng ven bờ và vùng lộng số lượng tàu khai thác là 2.791 tàu đã vượt mức cường lực khai thác cho phép (1.692 tàu) để đem lại sản lượng bền vững tối đa Trong khi đó tại vùng biển xa bờ,
Trang 197
số lượng tàu khai thác chỉ là 1.073 tàu lại thấp hơn mức cường lực khai thác cho phép (1.168 tàu) để đem lại sản lượng bền vững tối đa Giải pháp phát triển bền vững là cần giảm số lượng tàu khai thác ven bờ và vùng lộng; phát triển đội tàu có công suất lớn khai thác xa bờ Và trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Viết Thành (2011), cường lực khai thác nghề lưới kéo tôm ở khu vực Vịnh Bắc Bộ cũng cần giảm từ 46% đến 61% để duy trì mức lợi nhuận kinh tế tối đa (MEY)
Những chỉ số đánh giá tính bền vững quan trọng của nghề cá biển cần được xác định là cường lực khai thác và sản lượng khai thác bền vững tối đa (MSY) Trong đó, MSY là điểm tham chiếu sự phát triển bền vững về sản lượng khai thác, trở thành tiêu chuẩn quốc tế (FAO, 1999)
Để xác định ngưỡng cường lực khai thác tối đa chúng ta có thể sử dụng nhiều phương pháp tính toán khác nhau như công thức Gulland (1983), DEA (1978), Schaefer (1954), Fox (1970) Nhưng tùy thuộc vào điều kiện, mục đích nghiên cứu để lựa chọn công thức sử dụng cho phù hợp Công thức Gulland (1983)
là công thức sử dụng các tiếp cận sinh học quần thể làm cơ sở để xây dựng dựa trên sản lượng thặng dư của quần thể Tuy nhiên, công thức Gulland (1983) thường chỉ dùng để tính sản lượng khai thác tối đa cho những quần thể chưa khai thác, còn với Schaefer (1954) và Fox (1970) được dùng để tính cho những quần thể đang bị khai thác Không những vậy, hai mô hình này cũng sử dụng trong đánh giá nghề cá đa loài bằng việc xác định sản lượng khai thác tối đa cho từng loại trong cùng phạm vi rồi chọn lấy giá trị an toàn Nguồn số liệu sử dụng trong mô hình này chủ yếu là số liệu phụ thuộc nghề cá như năng suất khai thác, sản lượng khai thác, cường lực khai thác … Những số liệu này dễ dàng thu thập được từ các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hoặc từ điều tra thực tế
Với những số liệu nêu trên và trong điều kiện hoàn cảnh nước ta hiện nay, việc áp dụng mô hình toán của Schaefer (1954) và Fox (1970) tính toán MSY và
fMSY trong đề tài là hoàn toàn hợp lý về mặt khoa học và thực tiễn Tuy nhiên, mô hình này dựa trên những các tiếp cận sinh học quần thề và nghề cá nước ta là đa nghề nên nhìn chung bài toán được đặt ra là khá phức tạp Để có thể tính toán sản
Trang 208
lượng khai thác bền vững tối đa và cường lực khai thác tối ưu làm cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh cường lực khai thác của các đội tàu, ngoài việc sử dụng các mô hình này cho từng loài được lựa chọn, việc chuẩn hóa cường lực khai thác là vô cùng cần thiết
Nhìn chung, các công trình đã nghiên cứu ở các góc độ, địa bàn khác nhau với những phương pháp khác nhau, đã tập trung phân tích, đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững về thủy sản nói chung và lĩnh vực khai thác thủy sản nói riêng để từ đó đề ra các giải pháp phù hợp, tối ưu Các kết quả nghiên cứu trên có một số nội dung có giá trị, phù hợp với đặc điểm, thực trạng khai thác thủy sản hiện nay mà tỉnh Quảng Ninh có thể vận dụng Và theo tìm hiểu thực tiễn của tác giả đến nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về quản lý bền vững trong hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Đề tài mà tác giả lựa chọn nghiên cứu không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã được công bố trước đó
Trong luận văn này, tác giả có kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình nêu trên, kết hợp với việc thu thập số liệu thực tế, đi sâu nghiên cứu làm rõ thực trạng, nguyên nhân các tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực khai thác thủy sản của tỉnh Quảng Ninh, từ đó tìm giải pháp quản lý năng lực khai thác, tăng số lượng tàu
cá xa bờ, giảm số lượng tàu cá ven bờ; chuyển dịch từ nghề khai thác hiệu quả thấp, gây cạn kiệt nguồn lợi sang nghề hiệu quả cao, thân thiện với môi trường; cải tiến công nghệ khai thác, công nghệ bảo quản sau thu hoạch trên tàu; nâng cao trình độ
và thu thập của lao động; giảm thiểu rủi ro, tai nạn trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
1.2 Những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững
1.2.1 Các khái niệm:
Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế
giới về Môi trường và Phát triển (WECD) của Liên Hợp Quốc “Phát triển bền
Trang 21và khôi phục lại đàn như trạng thái ban đầu
Quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững:
- “Quản lý nhà nước là một quá trình, trong đó các cơ quan của hệ thống bộ
máy quyền lực của một quốc gia cấp Trung ương đến cấp cơ sở (ở Việt Nam là cấp
xã, phường) thực hiện các tác động vào đối tượng là: Hệ thống các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các đoàn thể và các hộ gia đình trong xã hội bằng các công cụ hành chính (các Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định) và các biện pháp phi hành chính (sử dụng các chính sách khuyến khích kinh tế, các chương trình hỗ trợ phát triển ) nhằm đạt được tới mục tiêp phát triển được định sẵn thể hiện qua các chủ trương, quy hoạch, kế hoạch phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường).” (Vũ Đình Thắng và cộng sự, 2005, trang 225)
- Quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững đó là việc nhà nước sử dụng các công cụ hành chính, phi hành chính nhằm quản lý hoạt động khai thác thủy sản do các tổ chức, hộ gia đình thực hiện sao cho đảm bảo hiệu quả kinh
tế cao nhưng không làm tổn hại đến môi trường thiên nhiên như gây ô nhiễm hoặc làm cạn kiệt nguồn nước Đồng thời điều chỉnh các hoạt động của con người sống tại chỗ và những người tham quan, du lịch được hưởng lợi mà không làm cho các nguồn lợi thủy sản tự nhiên bị mất đi hoặc bị tổn hại, cũng như tạo các điều kiện về vật chất, tinh thần để không ngừng phát triển các nguồn lợi thủy sản đã có và ngày một đa dạng hơn
1.2.2 Nội dung cơ bản của quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững:
Thứ nhất là vấn đề quy hoạch:
Trang 2210
- Thực hiện phân vùng quy hoạch nhằm phân bổ hợp lý nguồn lực theo khả năng về điều kiện tự nhiên, sinh thái Đó là phải đưa ra được những chỉ báo về khả năng có thể khai thác tối đa trong khoảng thời gian nhất định, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện được tham gia đánh bắt và những nghĩa vụ phải tuân thủ mà Nhà nước đã đưa ra đối với những người tham gia đánh bắt thủy sản
- Quy hoạch đưa ra phải phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tổng thể phát triển ngành thủy sản Tiếp tục đưa ngành thủy sản nói chung và lĩnh vực thủy sản nói riêng trở thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn với khả năng cạnh tranh cao
- Quy hoạch cần đặt trong mối quan hệ kết hợp hài hòa lợi ích với các ngành kinh tế khác và phát triển kinh tế xã hội các vùng, địa phương; đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, gắn liền với bảo vệ chủ quyền quốc gia và an ninh quốc phòng trên các vùng biển đảo
- Quy hoạch gắn với đổi mới và phát triển quan hệ sản xuất; hướng đến cải thiện điều kiện sống, nâng cao thu nhập của cộng đồng ngư dân; tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất thủy sản hàng hóa với trình độ
kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao, gắn với xây dựng, phát triển nông thôn mới
Thứ hai là về chính sách quản lý: các chính sách ban hành cần đồng bộ hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu khai thác thủy sản gần bờ, khuyến khích khai thác thủy sản xa bờ; khuyến khích chế biến các sản phẩm thủy sản giá trị gia tăng, áp dụng công nghệ mới trong khai thác, dịch vụ hậu cần, đóng mới và hiện đại hóa tàu cá; khuyến khích liên kết trong sản xuất thủy sản, áp dụng khai thác thủy sản có chứng nhận
Thứ ba là tổ chức thực hiện:
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước:
+ Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của các
cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành khai thác thủy sản từ Trung ương đến địa phương đáp ứng yêu cầu cải cách, đổi mới, hội nhập quốc tế nhưng cũng phải phù hợp với đặc điểm, tình hình và điều kiện của từng địa phương
Trang 2311
+ Thực hiện cơ chế phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương Ban hành, sửa đổi và bổ sung hệ thống pháp luật, các cơ chế chính sách quản lý, các biện pháp nâng cao năng lực bộ máy hành chính và công chức, xây dựng thể chế quản lý ngành thủy sản
+ Đẩy nhanh tốc độ xã hội hóa các hoạt động dịch vụ công; kiện toàn và tăng cường năng lực tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra từ Trung ương đến địa phương
- Tổ chức hoạt động sản xuất:
+ Tổ chức công tác quản lý tàu cá, quản lý cường lực khai thác, nghề khai thác, mùa vụ khai thác, ngư trường khai thác phù hợp với khả năng cho phép khai thác của nguồn lợi thủy sản đối với từng vùng biển Đẩy mạnh phân cấp quản lý tàu
cá khai thác vùng ven bờ cho chính quyền địa phương nhằm tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý sát với thực tiễn, giảm mạnh cường lực khai thác, bảo đảm duy trì
và tái tạo phát triển nguồn lợi thủy sản ven bờ
+ Phát triển mô hình tổ chức cộng đồng quản lý nghề cá cho từng vùng biển ven bờ hoặc cho từng đối tượng khai thác Tổ chức đào tạo nghề cho lao động khai thác thủy sản từ ven bờ ra xa bờ
+ Điều tra, giám sát, đánh giá nguồn lợi thủy sản, thu thập thông tin nghề cá
và dự báo ngư trường; điều tra thu thập số liệu nghề cá phục vụ quản lý nghề cá bền vững Thành lập và đưa vào hoạt động các khu bảo tồn biển và khu bảo tồn vùng nước nội địa
Thứ tư là đề ra và thực hiện các biện pháp bảo vệ, duy trì và tái tạo nguồn lợi thủy sản, đó là việc nhà nước đưa ra:
- Các quy định hạn chế hoạt động khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt nguồn lợi thủy sản trong thời gian nhất định hoặc lâu dài
- Các quy định cấm đánh bắt thủy sản tự nhiên bằng các phương tiện và dụng
cụ mang tính hủy diệt
- Những tiêu chuẩn về kích cỡ từng loại thủy sản hoặc trọng lượng tối thiểu từng cá thể thủy sản được phép khai thác
Trang 2412
Thứ năm là thanh tra, kiểm tra các hoạt động khai thác thủy sản của những người sống và hoạt động trong nghề khai thác thủy sản Đối với khai thác thủy sản, nhà nước thực hiện kiểm tra, thanh tra trực tiếp các quá trình đánh bắt, xử lý bằng hành chính và kinh tế các trườnghợp vi phạm quy định đối với các hoạt động khai thác
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững:
Nghiên cứu các nhân tố chính ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với ngành thủy sản được trình bày trong Giáo trình Kinh tế thủy sản (2007), tác giả đưa ra 4 nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững, bao gồm:
Phạm vi nguồn lực mặt nước trải rộng tạo ra sự phức tạp đối với công tác quản lý nhà nước Yếu tố này nảy sinh do sự phân bố tự nhiên các diện tích mặt nước có điều kiện phát triển thủy sản rất đa dạng và không đồng đều giữa các vùng; quy mô về diện tích mặt nước ở từng vùng, trữ lượng nước trong mỗi sông, hồ, vùng mặt biển rất khác nhau
Tính đa dạng về các nguồn lợi thủy sản (nhiều giống, nhiều chủng loài thủy sản với tính sinh học và yêu cầu về điều kiện sống khác nhau)
Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản vừa mang tính đánh bắt vừa mang tính bảo vệ nguồn lợi Yếu tố này đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải rất cụ thể, chi tiết đối với từng loại hoạt động Đó là phải điều chỉnh các hoạt động đóng mới
và cải hoán phương tiện đánh bắt; phạm vi và quy mô khai thác; đưa ra những quy định ràng buộc người tham gia đánh bắt thủy sản với nghĩa vụ bảo vệ các nguồn lợi thủy sản tự nhiên
Lao động khai thác thủy sản phần lớn là bộ phận dân cư nghèo, kiến thức và hiểu biết về kỹ thuật khai thác rất hạn chế, do đó nhà nước phải có trách nhiệm đào tạo, tập huấn những kiến thức cơ bản cho họ
Trang 2513
1.2.4 Tiêu chí đánh giá:
Những năm gần đây, do nhu cầu thị trường ngày càng tăng cộng với các chính sách khuyến khích phát triển của nhà nước nên cường độ đánh bắt tại những ngư trường truyền thống ở nước ta và tại tỉnh Quảng Ninh tăng rất nhanh Tuy nhiên, công tác định hướng phát triển chưa theo kịp với tốc độ phát triển đã dẫn đến tình trạng nguồn lợi thủy sản ngày càng ít đi, nguy cơ nguồn lợi thủy sản cạn kiệt và suy thoái môi trường đang đến gần, nhất là nguồn lợi thủy sản ở những vùng nước ven bờ Bên cạnh đó, hiệu quả công tác quản lý ngành ngày càng yếu, ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình phát triển bền vững ngành thủy sản nói chung và khai thác thủy sản nói riêng
Hiện nay có nhiều cách ngăn xu hướng giảm sút nguồn lợi thủy sản cũng như chất lượng hệ sinh thái biển như: quy định vùng đánh bắt, mùa vụ đánh bắt, kích cỡ tàu thuyền, ngư cụ, phương pháp khai thác, đối tượng đánh bắt, thành phần loài đánh bắt Tuy nhiên hiệu quả các phương pháp này bộc lộ nhiều hạn chế, yêu cầu chi phí công tác quản lý lớn Gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực đã sử dụng các mô hình kinh tế - sinh học để xác định và phân bổ hạn ngạch khai thác cho từng đội tàu, từng vùng biển và từng đối tượng đánh bắt nhằm sử dụng bền vững và hiệu quả các nguồn lợi sẵn có
Nghề cá Việt Nam là một trong những quốc gia có nghề cá phát triển muộn
và quy mô nhỏ Đặc trưng quan trọng là nghề cá đa loài, do đó việc đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác của từng loài để xác định hạn ngạch khai thác hợp lý là điều vô cùng khó khăn, tốn kém Vì vậy, chúng ta cần lựa chọn những mô hình quản lý nghề cá phù hợp và một trong những phương pháp quản lý nghề cá bền vững là dựa vào các bộ tiêu chí Trong đó chọn một số chỉ tiêu đặc trưng cho nghề,
dễ thu thập và mang tính thường xuyên Dựa vào các chỉ tiêu này, nhà quản lý có thể thấy được mức độ phát triển của nghề cá và mức độ sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản rồi từ đó có biện pháp điều chỉnh số lượng tàu thuyền cũng như cơ cấu nghề phù hợp Căn cứ vào quy định của Nhà nước và dựa trên Bộ tiêu chí phát triển bền vững thủy sản của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc năm
Trang 2614
1999 (PHỤ LỤC 1), tác giả đưa ra Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững trong quản lý hoạt động khai thác thủy sản như sau
Bảng 1 1 Bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững trong quản lý
hoạt động khai thác thủy sản
Tính bền vững
- Số lượng, công suất tàu cá cơ cấu theo nhóm công suất, nghề khai thác và theo địa phương
- Sản lượng khai thác thủy sản
- Công nghệ khai thác và tổ chức sản xuất
- Vốn đầu tư phát triển khai thác thủy sản
- Cơ sở hậu cần và dịch vụ khai thác thủy sản
Thu nhập
và mức sống
ngư dân
- Số lượng, trình độ và thu nhập của lao động khai thác thủy sản
- Số tai nạn trong khai thác thủy sản
- Số lượng tàu cá tham gia bảo hiểm
Trang 2715
CPUE, các nhà quản lý sẽ có các giải pháp nhằm cắt giảm tổng công suất tàu Tuy nhiên việc cắt giảm tổng công suất tàu sẽ làm ảnh hưởng đến sinh kế của cộng đồng ngư dân (số lao động khai thác) và như vậy khi cắt giảm các nhà quản lý phải có các giải pháp cân đối sao cho phù hợp với nguồn lợi của từng vùng biển, cũng như tạo sinh kế cho ngư dân theo điều kiện xã hội của từng địa phương
Trang 2816
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguồn tài liệu và dữ liệu
Tác giả thu thập tài liệu và dữ liệu tuần tự theo các bước sau:
Bước một: Nghiên cứu tài liệu nhằm xác định khung lý thuyết và lý luận cơ bản về phát triển bền vững, quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững
Bước này chủ yếu phục vụ cho công tác nghiên cứu tại Chương 1 Trong bước này, tác giả thu thập tài liệu từ các Giáo trình chuyên ngành về Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế, Khai thác thủy sản dùng cho Đại học và Sau Đại học có đề cập đến các vấn đề phát triển, phát triển bền vững và các nội dung phát triển bền vững Song song với đó, tác giả thu thập các văn bản của Đảng, chính sách của Nhà nước quy định về phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực trong đó có phát triển bền vững ngành thủy sản và lĩnh vực khai thác thủy sản gồm Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ Chính trị, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Về phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả thu thập thông tin từ các tài liệu, các bài nghiên cứu, các bài viết, các luận văn thạc sĩ có cùng hướng nghiên cứu thông qua thư viện luận văn hoặc trên các website chuyên ngành
Bước hai: Thu thập tài liệu, dữ liệu phục vụ phân tích thực trạng quản lý hoạt động khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2014
Bước này chủ yếu phục vụ cho Chương 3 Trong bước này ngoài việc thu thập các văn bản, chính sách quản lý nhà nước liên quan đến ngành Thủy sản và lĩnh vực khai thác thủy sản của Trung ương và tỉnh Quảng Ninh, sử dụng dữ liệu trong Niên giám thống kê và trong các báo cáo tháng, quý, năm hoặc đột xuất của Cục Thống kê Quảng Ninh Tác giả còn thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tháng, quý, năm, đột xuất hoặc các báo cáo tổng kết theo giai đoạn của Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Ninh và các đơn vị trực thuộc Sở như Chi cục Khai thác và BVNLTS, Phòng Kế hoạch tài chính Sở tổng hợp Tất cả các dữ liệu thu thập được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Microsoft Office Excel và phần mềm Eviews
Trang 2917
Bước ba: Trên cơ sở thực trạng quản lý khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2014, tác giả đề xuất giải pháp quản lý hoạt động khai thác thủy sản tại tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững thời gian tới
2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: tại các địa phương thuộc tỉnh Quảng Ninh
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2008 đến năm 2014
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Công trình nghiên cứu kết hợp hai phương pháp chính:
Phương pháp định tính: Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp logic và lịch sử; thống kê, phân tích và tổng hợp; và các phương pháp khác để đưa ra được những kết quả ý nghĩa từ nghiên cứu đã có Căn cứ vào đó tác giả sẽ tiến hành so sánh, đánh giá và phân tích thực trạng khai thác thủy sản tại tỉnh Quảng Ninh
Phương pháp định lượng: Bên cạnh việc sử dụng phần mềm thông dụng Microsoft Office Excel, bài nghiên cứu có sử dụng phần mềm EViews để ước lượng các hệ số trong phương trình của mô hình Schaefer (1954), từ đó tính toán được sản lượng bền vững tối đa (MSY) là căn cứ để đánh giá sự phát triển bền vững của nghề
cá biển
Thứ nhất, về phương pháp định tính:
Tác giả sử dụng phương pháp logic và lịch sử để nghiên cứu lý thuyết về phát triển bền vững, nội dung phát triển bền vững và những kết quả nghiên cứu của các đồng nghiệp đi trước để xây dựng khung lý thuyết về quản lý bền vững trong hoạt động khai thác thủy sản Đồng thời tập trung làm rõ các nội dung liên quan đến những tiêu chí đánh giá tính bền vững trong hoạt động khai thác thủy sản, trên cơ sở
đó làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá thực trạng khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008 – 2014 và đưa ra giải pháp quản lý hoạt động khai thác thủy sản theo hướng bền vững trong thời gian tới
Sử dụng phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp đối với các dữ liệu, thông tin thứ cấp thu thập được từ Niên giám thống kê, từ báo cáo của các cơ quan chuyên ngành và địa phương về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến
Trang 3018
lĩnh vực khai thác thủy sản; sản lượng, giá trị khai thác thủy sản; số lượng, công suất tàu cá, nghề khai thác; cơ sở hậu cần, dịch vụ khai thác thủy sản; vốn đầu tư khai thác thủy sản; tổ chức sản xuất và quản lý khai thác thủy sản Các số liệu được tổng hợp và phân tích theo các bảng biểu, bao gồm: bảng số liệu chung, các bảng tương quan, so sánh để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu Cơ sở dữ liệu được thiết lập dựa trên các kết quả đánh giá theo các chỉ số, tiêu chí đã được xác định
Từ kết quả nghiên cứu phân tích số liệu nêu trên, những thông tin thu thập được và kế thừa kết quả nghiên cứu của các đồng nghiệp đi trước, tác giả có được những nhận định, đánh giá sơ bộ thực trạng phát triển khai thác thủy sản tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008 – 2014, các thành tựu, hạn chế, nguyên nhân cũng như đưa ra các giải pháp phù hợp
Thứ hai, về phương pháp định lượng:
EViews (Econometric Views) là phần mềm thống kê chạy trên Windows Phần mềm được xây dựng bởi Quantitative Micro Software (QMS), phiên bản đầu tiên được chính thức phát hành vào tháng 3/1994 EViews được sử dụng trong thống kê và kinh tế lượng,nghiên cứu với dữ liệu chuỗi thời gian, dữ liệu chéo, dữ liệu mảng … Với khả năng linh hoạt trong thao thác, quản lý dữ liệu dễ dàng, kết quả hiển thị nhanh, chính xác và dễ hiểu, EViews là một trong những phần mềm thống kê và phân tích dự báo tin cậy, được nhiều nhà khoa học lựa chọn áp dụng trong nghiên cứu
Việc sử dụng phần mềm Eviews để ước lượng các hệ số trong phương trình của mô hình Schaefer (1954) trên cơ sở đó tính toán được sản lượng bền vững tối đa MSY (căn cứ đánh giá sự phát triển bền vững của nghề cá biển) là hoàn toàn hợp lý
và đưa ra kết quả nghiên cứu có độ chính xác cao
Trang 3119
Với Y(i) là sản lượng khai thác (tấn) của năm thứ i; f(i) là tổng cường lực khai thác của năm thứ i, (i = 1 ,n) Khi đó:
Mô hình Schaefer (1954) là mô hình dạng tuyến tính, thể hiện như sau:
Yi cực đại với: dY(i)/df(i) = 0 f(i) = fMSY = - 0.5*a/b 5 Giá trị cực đại của sản lượng chính bằng sản lượng khai thác bền vững tối
* Các yếu tố liên quan đến Mô hình Schaefer (1954)
Để đánh giá tính bền vững trong hoạt động khai thác thủy sản, trong nghiên cứu này có sử dụng mô hình Schaefer Trong đó có 2 yếu tố quan trọng liên quan là sản lượng khai thác bền vững tối đa (MSY, Maximum Sustainable Yield) và cường lực khai thác
Thứ nhất là cường lực khai thác, hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về cường lực khai thác, cụ thể:
Cường lực khai thác là số lượng tàu cá hoạt động khai thác trong một khu thủy vực nhất định
Cường lực khai thác là số lượng ngư cụ tham gia khai thác trong một thủy vực
Cường lực khai thác là tổng công suất tàu cá tham gia khai thác thủy sản trong thủy vực nhất định
Trang 32cụ thể nhằm hạn chế sự gia tăng cường lực
Thứ hai là sản lượng khai thác bền vững tối đa (MSY): Theo Từ điển Oxford, chỉ số sản lượng khai thác bền vững tối đa (MSY) là mức khai thác tối đa thường xuyên của một tài nguyên thiên nhiên mà không làm tài nguyên đó bị suy giảm trong dài hạn
Hình 1 1 Mối quan hệ giữa sản lượng, trữ lượng và cường lực khai thác
(a) Mối quan hệ giữa sản lượng và trữ lượng (b) Mối quan hệ giữa sản lượng và trữ lượng đánh bắt
(Nguồn: Nguyễn Thế Chinh, 2009)
Trang 3321
Hình 1 1 (a) minh họa sản lượng và trữ lượng có mối liên hệ lẫn nhau như thế nào Ta thấy khi trữ lượng nhỏ thì sản lượng của cá sẽ cao Khi cạnh tranh nguồn thức ăn xảy ra, tốc độ gia tăng của sản lượng (độ dốc của đường cong) bắt đầu nhỏ dần và sản lượng đạt cực đại tại SMSY Tốc độ tăng trưởng của sản lượng sau đó sẽ bắt đầu âm (tức là đường cong bắt đầu nghiêng dốc xuống) cho đến điểm
Scc, nơi mà sản lượng bằng không, nghĩa là tốc độ sinh đẻ và tốc độ tử vong hoàn toàn bằng nhau
Hình 1 1 (b) thể hiện nỗ lực đánh bắt và sản lượng, ở đây chúng ta cần lưu ý rằng cường lực đánh bắt và quy mô của trữ lượng có quan hệ nghịch đảo Khi cường lực đánh bắt tăng lên thì trữ lượng giảm xuống, và ngược lại Do vậy đường
đồ thị tăng trưởng của hình (a), trong hình (b) có thể quay ngược trở lại để phù hợp với mối quan hệ giữa sản lượng và cường lực đánh bắt Nghĩa là cường lực đánh bắt tăng thì ở giai đoạn đầu sản lượng tăng, đến mức tối ưu EMSY nào đó thì cường lực đánh bắt cân bằng với sản lượng, sau đó là quá trình cường lực đánh bắt tăng thì sản lượng giảm, sản lượng giảm tới 0 khi cường lực đánh bắt là EMAX
Trang 3422
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY
SẢN TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2008 – 2014
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Tỉnh Quảng Ninh nằm trong giới hạn 20040’ – 21040’ vĩ độ Bắc và 102026’ –
108031’ kinh độ Đông Phía Đông Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Tây Bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương, phía Đông giáp vịnh Bắc
Bộ và phía nam giáp thành phố Hải Phòng Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6.102,4
km2 đứng đầu khu vực đồng bằng sông Hồng và chiếm 1,84% diện tích cả nước
Đến tháng 5/2015, Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 4 thành phố (Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái), 2 thị xã (Quảng Yên, Đông Triều), 8 huyện và 186 đơn vị hành chính cấp xã gồm 111 xã, 67 phường, 8 thị trấn Quảng Ninh là tỉnh có số thành phố trực thuộc nhiều nhất nước
- Đặc điểm địa hình, hệ thống sông suối:
Quảng Ninh là tỉnh với hơn 80% đất đai là đồi núi được phân chia thành 3 miền Vùng núi miền Đông: từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến thành phố Móng Cái Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507m) và Cao Xiêm (1.330m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngày Chi (1.660m) ở phía bắc huyện Tiên Yên
Vùng núi miền Tây: từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía Bắc thành phố Uông Bí và thấp dần xuống phía Bắc huyện Đông Triều Vùng núi này là những dãy núi nối tiếp hơi uốn cong được gọi là cánh cung Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094m) trên đất Hoành Bồ
Vùng biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên do sóng biển Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thủy tinh (Quan Lạn – Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng …)
Trang 3523
Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10km nhưng phần nhiều đều nhỏ Diện tích lưu vực thông thường không quá 300km2, trong đó có 4 con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ Mỗi sông hoặc đoạn sông thường có nhiều nhánh Các nhánh đa số đều vuông góc với sông chính Ngoài 4 sông lớn trên, Quảng Ninh còn có 11 sông nhỏ, chiều dài của các sông từ
15 – 35km; diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300km2 Tất cả các sông suối ở Quảng Ninh đều ngắn, nhỏ, độ dốc lớn Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh Lưu lượng mùa khô 1,45m3/s, mùa mưa lên tới 1.500m3/s, chênh nhau 1.000 lần
- Thời tiết, khí hậu và thủy triều
Nhiệt độ: Khí hậu Quảng Ninh nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, mùa hè nóng Các tháng có lượng mưa nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 9 (mùa mưa) và các tháng có lượng mưa ít nhất từ tháng
10 đến tháng 12 (mùa khô) Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm dao động trong khoảng 20 – 270C
Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình hàng năm là 1.685,4mm và giá trị trung bình tháng cao nhất là tháng 7 với 390,9mm, thấp nhất vào tháng 12 là 28,1mm (tại trạm Bãi Cháy) Số ngày mưa trung bình trong năm là 118,9 ngày Số ngày mưa cực lớn (trên 300mm/ngày) có xu hướng tăng, nhất là khu vực Quảng Hà (Móng Cái) Tại đây, trung bình mỗi năm xuất hiện một ngày mưa cực lớn vào các tháng mùa mưa
Bão: Hàng năm, vào tháng 6 đến tháng 10 trong vùng Quảng Ninh thường có lốc, áp thấp nhiệt đới và bão đổ bộ Vùng biển Quảng Ninh mỗi năm trung bình chịu ảnh hưởng của 5 đến 6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, thường xảy ra vào tháng
7, 8, 9 Các cơn bão này ngoài bị thiệt hại về người, tài sản, ở vùng ven biển còn ành hưởng lớn đến hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản
Thủy triều khu vực Quảng Ninh thuộc chế độ nhật triều đều, phần lớn các ngày trong tháng (trên dưới 25 ngày) có một lần nước lên và một ngày nước xuống
Trang 3624
Số ngày còn lại có hai lần nước lên và xuống trong một ngày Biên độ triều vùng này thuộc loại lớn nhất nước ta, đạt từ 3,5 – 4,5m vào kỳ nước cường
- Nguồn lợi thủy sản
Vùng biển Vịnh Bắc Bộ đã phát hiện 960 loài cá thuộc 457 giống, 162 họ Tuy số loài nhiều nhưng chỉ có khoảng 60 loài có giá trị kinh tế Ở vùng biển phía Tây Vịnh Bắc Bộ nhóm cá nổi, cá đáy và gần đáy có vị trí quan trọng Ngoài ra còn
có các loài tôm, mực có giá trị kinh tế cao Kết quả điều tra mới nhất của Viện Nghiên cứu Hải sản bằng lưới kéo đáy có độ mở cao, tại vùng biển xa bờ Vịnh Bắc
Bộ đã bắt gặp 166 loài hải sản thuộc 74 họ khác nhau Trong đó, có 150 loài cá thuộc 66 họ, 3 loài mực ống, 4 loài mực nang, 2 loài bạch tuộc, 2 loài ghẹ, 1 loài tôm mũ ni, 1 loài tôm tít, 2 loài tôm he và 1 loài sam Tổng trữ lượng cá đáy và cá nổi ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ ước tính khoảng 681.166 tấn Khả năng khai thác 272.467 tấn Nguồn lợi mực ở vùng biển xa bờ: Trữ lượng 2.919 tấn Khả năng khai thác 1.168 tấn Nguồn lợi tôm vùng biển xa bờ: Trữ lượng 321 tấn Khả năng khai thác 161 tấn (Tống Thị Yến, 2014)
- Ngư trường và mùa vụ khai thác
+ Ngư trường vùng biển ven bờ (ngư trường truyền thống): Tập trung từ Mũi Ngọc, Vĩnh Thực, Cái Chiên, Thoi Xanh, Cửa Tiểu, Sậu Đông, Vân Hải, Trà Bản, Vạn Cảnh, Cống Tây, Cống Đông, Đầu Mối, Đầu Bê đến Cát Bà
+ Ngư trường vùng lộng: Là vùng biển nằm giữa tuyến bờ và tuyến lộng, có diện tích khoảng 5.035 km2, có độ sâu 15 – 40m Phía Bắc và Tây Bắc là đường tuyến bờ phân chia giữa vùng biển ven bờ và vùng lộng Phía Đông và Đông Bắc là đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Trung Phía Nam là đường tuyến lộng phân chia giữa vùng lộng và vùng khơi Phía Tây Nam là đường ranh giới trên biển giữa Quảng Ninh và Hải Phòng
Nguồn lợi hải sản: Đa dạng và phong phú, có đủ thành phần loài của nguồn lợi vịnh Bắc Bộ, gồm cá nổi (cá Trích, Nhâm, Nục, Ngừ, Thu …), cá đáy (cá Khế,
Đù, Miễn Sành, Hồng, Lượng …), các loài giáp xác, nhuyễn thể (tôm Vỗ, mực Ống, mực Nang) Các loài cá nổi thường tập trung thành đàn nhỏ
Trang 3725
Mùa vụ khai thác: Vụ Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, vụ Nam từ tháng
4 đến tháng 10, việc khai thác phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết trên biển Hoạt động
ở ngư trường này chủ yếu là các nghề chài chụp, rê, giã tôm, giã cá, câu vàng, câu tay Ngoài ra, còn có các nghề khác như đặt bẫy ốc, câu mực nhưng số lượng không lớn
+ Ngư trường vùng khơi: Là vùng biển được giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới đường phân định biên giới trên biển Việt Trung và đến phía nam vịnh Bắc Bộ
Nguồn lợi hải sản: Đa dạng và phong phú, có đủ thành phần loài của nguồn lợi vịnh Bắc Bộ gồm cá nổi (cá Trích, Nhâm, Nục, Ngừ, Thu …), cá đáy (cá Khế,
Đù, Miễn Sành, Hồng, Lượng …), các loài giáp xác, nhuyễn thể (tôm Vỗ, mực Ống, mực Nang) Các loài cá nổi thường tập trung thành đàn
Mùa vụ khai thác: Vụ Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, vụ Nam từ tháng
4 đến tháng 10 Là ngư trường xa bờ nên việc khai thác phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết trên biển Hoạt động ở ngư trường này chủ yếu là các nghề chài chụp, rê, giã cá, giã tôm, rê dưa, rê trôi, câu Ngoài ra, còn có các nghề khác như đặt bẫy ốc, giã tôm, câu mực nhưng số lượng không lớn
- Khai thác thủy sản nước lợ, ngọt:
Khai thác thủy sản nước lợ, ngọt là các ao hồ, sông suối, đầm phá, cửa sông Quảng Ninh có mật độ sông suối, hồ nước khá dài Từ các triền núi của cánh cung Đông Triều – Móng Cái có hàng chục con sông, suối và hơn 52 hồ đập lớn nhỏ khởi nguồn chảy ra biển như sông Ba Chẽ, Tiên Yên, Ka Long … Những hồ đập lớn như Yên Lập, Khe Chè, Khe Châu, Trúc Bài Sơn … Tổng diện tích nước ngọt có khả năng nuôi trồng, khai thác thủy sản khoảng 12.990 ha
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số, cơ cấu dân số
Tổng dân số của tỉnh đến cuối năm 2014 là 1.218,9 nghìn người Trong đó dân số nam chiếm 50,5%, nữ chiếm 49,5%, thành phố chiếm 61,4% và nông thôn chiếm 38,6% Mật độ dân số trung bình là 199 người/km2 Tuy nhiên, mật độ dân số phân bố không đồng đều giữa các địa phương, mật độ dân số thành phố Hạ Long là
Trang 3826
852 người/km2 trong khi đó vùng đồng bằng là 400 - 450 người/km2, vùng núi biên giới và hải đảo là 33 – 185 người/km2
Nhìn chung, dân số Quảng Ninh không có sự mất cân đối về giới nhưng có
sự di dân mạnh từ khu vực nông thôn ra thành thị, điều này chứng tỏ kinh tế tỉnh Quảng Ninh đang có những chuyển biến tích cực, có sức hút rất lớn đối với sự dịch chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị trong giai đoạn vừa qua Tuy nhiên điều này sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro về nguồn nhân lực đối với phát triển nông, lâm nghiệp
và thủy sản của tỉnh trong giai đoạn tới, đặc biệt là lao đông khu vực khai thác thủy sản Dân số của tỉnh phân theo huyện, thị xã, thành phố được thể hiện cụ thể trong bảng sau:
Bảng 3 1 Dân số trung bình phân theo huyện, thị xã, thành phố
Trang 39(Nguồn: Cục Thống kê Quảng Ninh)
3.1.2.2 Về lao động, cơ cấu lao động
Lao động toàn tỉnh đến cuối năm 2013 là 649.580 người, chiếm 54% tổng số dân Trong đó lao động khu vực nông, lâm và thủy sản chiếm 36%, lao động công nghiệp xây dựng chiếm 31%, lao động dịch vụ chiếm 34% tổng lao động toàn tỉnh Riêng lao động khai thác thủy sản chiếm 13% lao động Nông, lâm và thủy sản và 4,5% lao động toàn tỉnh
Nhìn chung, cơ cấu lao động của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực: giảm dần tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, trong khi lao động khu vực công nghiệp xây dựng, dịch vụ tăng nhanh và giữ vai trò chủ đạo Nếu năm
2008 tỷ lệ % lao động nông, lâm và thủy sản - công nghiệp xây dựng - dịch vụ lần lượt là 44 – 27 – 29 thì năm 2010 là 43,5 – 27,3 – 29,2 năm 2012 là 37,2 – 30,3 – 32,5 và năm 2013 là 36 – 31 – 34 Lao động làm việc trong ngành kinh tế được thể hiện cụ thể trong bảng sau:
Bảng 3 2 Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tỉnh Quảng Ninh
Trang 40(Nguồn: Cục Thống kê Quảng Ninh)
Nhìn chung, nguồn nhân lực lao động của Quảng Ninh khá dồi dào Tuy nhiên, trong lĩnh vực nông lâm thủy sản trình độ lao động rất thấp, đặc biệt số lượng lao động khai thác thủy sản học hết phổ thông trung học rất thấp, thậm chí mù chữ Trong khai thác thủy sản, lao động chủ lực là nam, lao động nữ chỉ có ở khâu hậu cần, thu mua và dịch vụ
3.1.2.3 Cơ cấu kinh tế
Năm 2013 kinh tế Quảng Ninh tăng trưởng 7,5% tăng gấp 1,38 lần so với mức tăng trưởng kinh tế cả nước Trong đó, ngành nông lâm thủy sản tăng trưởng 4,82%, ngành công nghiệp xây dựng tăng 5,7%, ngành dịch vụ tăng 9,87% so với năm 2012 Bình quân giai đoạn 2008-2013 kinh tế toàn tỉnh tăng trưởng 8,32%/năm Trong đó, nông lâm thủy sản tăng trưởng 3,64%/năm, công nghiệp xây dựng tăng trưởng 7,14%/năm, dịch vụ tăng trưởng 10,42%/năm Thành công trong tăng trưởng kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và cải thiện phúc lợi xã hội cho người dân trong tỉnh