Phân tích sâu hơn về vai trò của công viên đối với đô thị Anna Chiesura 2004 đã thực hiện nghiên cứu ở Hà Lan và đưa ra nhận xét như sau 1 Các khu đô thị đáp ứng tốt nhu cầu giải trí cho
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG THỊ HỒNG TRÂM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CÔNG VIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành Kinh doanh Thương mại
Mã số ngành: 52340121
Tháng 12 – Năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG THỊ HỒNG TRÂM
MSSV: 4118438
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CÔNG VIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH DOANH THƯƠNG MẠI
Trang 3Với cương vị một sinh viên, em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giảng viên Trường Đại học Cần Thơ đã hết lòng truyền thụ kiến thức, dạy
dỗ em đạo đức làm người trong thời gian em tham gia học tập, sinh hoạt tại trường
Cuối cùng nhưng quan trọng nhất, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Huỳnh Trường Huy giảng viên Bộ môn Quản trị dịch vụ du lịch
và lữ hành trong thời gian qua đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện để
em hoàn thành tốt nhất luận văn của mình Tuy chỉ vài tháng ngắn ngủi được cùng Thầy làm việc nhưng em đã học được nhiều điều bổ ích Đó là tinh thần
có trách nhiệm, tận tâm trong công việc và cả sự quan tâm chân thành đến những người xung quanh Với em, những bài học ấy có giá trị rất to lớn Vì vậy, một lần nữa em xin gửi đến Thầy Huy lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất Chúc Thầy nhiều sức khỏe và thành công!
Chúc toàn thể quý Thầy, Cô giảng viên trường Đại học Cần Thơ dồi dào sức khỏe và công tác thật tốt!
Cần Thơ, ngày 05 tháng 12 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày 05 tháng 12 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Không gian nghiên cứu 2
1.4.2 Thời gian nghiên cứu 2
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 2
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1.1 Một số khái niệm 3
2.1.1.1 Dịch vụ - Dịch vụ công- Chất lượng dịch vụ 3
2.1.1.2 Công viên – dịch vụ công viên 5
2.1.1.3 Nhu cầu – Nhu cầu giải trí 6
2.1.1.4 Thời gian rỗi 8
2.1.2 Quy định chung đối với công viên đô thị 10
2.1.2.1 Quy định đối với cảnh quan công viên, cây xanh, cảnh quan nhân tạo10 2.1.2.2 Quản lý cây xanh, công viên 10
2.1.2.3 Tiêu chuẩn đất cây xanh công viên đô thị 11
2.1.3 Chức năng, vai trò và lợi ích của công viên 11
2.1.3.1 Chức năng của công viên 11
2.1.3.2 Vai trò của công viên 12
2.1.3.3 Lợi ích công viên mang lại 12
2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 13
2.2.1 Tài liệu nước ngoài 13
2.2.2 Tài liệu trong nước 15
2.3 KHUNG PHÂN TÍCH 16
2.3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 16
2.3.2 Giải thích các nhân tố trong mô hình 17
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.4.2 Phương pháp phân tích số liệu 19
Tóm tắt chương 2 20
Chương 3: TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 21
3.1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ 21
3.2 THỰC TRẠNG CÁC CÔNG VIÊN Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 21
3.2.1 Tình hình chung tại các công viên 21
3.2.2 Thực trạng tại Công viên Tao Đàn 22
3.2.2.1 Cơ sở vật chất và hoạt động 22
3.2.2.2 Thuận lợi và khó khăn tại công viên 23
3.2.3 Thực trạng tại Công viên Đồ Chiểu 24
Trang 63.2.3.1 Cơ sở vật chất và hoạt động 24
3.2.3.2 Thuận lợi và khó khăn 24
3.2.4 Thực trạng công viên Văn hóa Miền Tây 25
3.2.4.1 Cơ sở vật chất và hoạt động 25
3.2.4.1 Thuận lợi và khó khăn 25
Tóm tắt chương 3 26
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ CÔNG VIÊN CỦA NGƯỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 27
4.1.1 Thông tin chung về mẫu nghiên cứu 27
4.1.2 Thực trạng hành vi sử dụng dịch vụ công viên của người dân 31
4.1.3 Đánh giá của người dân về chất lượng dịch vụ và lợi ích của công viên 36 4.1.3.1 Đánh giá chung của người dân đối với chất lượng dịch vụ công viên hiện nay 36
4.1.3.3 Lợi ích của công viên mang lại 44
4.1.3.4 Lí do khiến người dân ít khi, hiếm khi đến công viên 45
4.2 PHÂN TÍCH BẢNG CHÉO 45
4.2.1 Kiểm định sự khác biệt giữa giới tính và mục đích đến công viên 45
4.2.2 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm tuổi với các mục đích đến công viên45 4.2.3 Kiểm định sự khác biệt giữa tình trạng hôn nhân với mục đích đến công viên 46
4.2.4 Kiểm định sự khác biệt giữa giới tính với yếu tố người đi cùng đến công viên 47
4.2.5 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm tuổi với yếu tố người đi cùng đến công viên 47
4.2.6 Kiểm định sự khác biệt giữa tình trạng hôn nhân với yếu tố người đi cùng đến công viên 48
Tóm tắt chương 4 48
Chương 5: GIẢI PHÁP CHO DỊCH VỤ CÔNG VIÊN 50
5.1 NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ TRONG CÁC CÔNG VIÊN HIỆN NAY 50
5.1.1 Ưu điểm của công viên: 50
5.1.2 Hạn chế chung của các công viên 50
5.2 CƠ SỞ ĐỂ ĐƯA RA MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA NGƯỜI DÂN VÀ KHAI THÁC ĐÚNG CHỨC NĂNG CỦA CÔNG VIÊN 50
5.2.1 Kết quả phân tích thống kê mô tả 50
5.2.2 Kết quả phân tích bảng chéo 53
5.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO CÁC CÔNG VIÊN 53
5.3.1 Tăng cường công tác gìn giữ vệ sinh môi trường và không gian trong công viên 53
5.3.2 Đầu tư cho công tác nâng cấp công trình và bảo tồn trong khuôn viên công viên 54
5.3.3 Tăng cường các dịch vụ tiện ích trong công viên 55
Trang 75.3.4 Phổ biến, tuyên truyền thông tin về không gian xanh công cộng và các hoạt động tại công viên 55 Chương 6: KẾT LUẬN 56 6.1 KẾT LUẬN 56 6.2 MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Thông tin chung của đáp viên 30
Bảng 4.2 Thông tin về mục đích sử dụng công viên 33
Bảng 4.3 Thông tin về thực trạng sử dụng công viên 35
Bảng 4.4 Đánh giá của người dân về cơ sở vật chất 38
Bảng 4.5 Đánh giá của người dân về môi trường, vệ sinh 38
Bảng 4.6 Đánh giá của người dân về cảnh quan, cây cảnh 39
Bảng 4.7 Đánh giá của người dân về an toàn, an ninh 40
Bảng 4.8 Đánh giá của người dân về sự thuận tiện 40
Bảng 4.9 Đánh giá của người dân về sự tiếp cận thông tin 41
Bảng 4.10 Đánh giá của người dân về các hoạt động giải trí 42
Bảng 4.11 Đánh giá của người dân về các dịch vụ kèm theo 42
Bảng 4.12 Nhu cầu sử dụng công viên của người dân 43
Bảng 4.13 So sánh giữa nhóm tuổi và mục đích đến công viên 45
Bảng 4.14 So sánh giữa tình trạng hôn nhân và mục đích đến công viên 46
Bảng 4.15 So sánh giữa giới tính và người đi cùng đến công viên 47
Bảng 4.16 So sánh giữa nhóm tuổi và người đi cùng đến công viên 47
Bảng 4.17 So sánh giữa tình trạng hôn nhân và người đi cùng đến công viên 48 Bảng 5.1 Bảng đề xuất nâng cao các dịch vụ tại công viên 51
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Thang đo nhu cầu của Maslow 7
Hình 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thời gian tự do 9
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 16
Hình 4.1 thu nhập của đáp viên (triệu đồng/tháng) 29
Hình 4.2 Mục đích đến công viên 34
Hình 4.3 Điểm đánh giá trung bình nhu cầu của người dân về các dịch vụ công viên 36
Hình 4.4 Điểm đánh giá trung bình các công viên 37
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vui chơi giải trí, nghỉ ngơi thư giản là một nhu cầu không thể thiếu đối với con người ngay từ rất lâu, vì thế sự có mặt của các công viên giải trí, công viên xanh là điều thiết yếu Công viên không chỉ là một công trình công cộng, đối với nhiều người, đó còn là nơi chứa đựng những kỉ niệm tuổi thơ, gắn kết gia đình, hay đơn giản là nơi của những tiếng cười, nơi vui vẻ bên người thân, bạn bè sau những phút giây đối mặt với công việc căng thẳng Chẳng những vậy, Công viên còn là bộ mặt của khu đô thị, là lá phổi xanh của thành phố
Một thực tế không thể phủ nhận, các khu định cư đô thị thải ra rất nhiều khí nhà kính hơn các khu định cư nông thôn, nói cách khác mức độ ô nhiễm tại các khu đô thị khá cao, ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người, gây ra nhiều nguy hại cho cộng đồng, nếu thực hiện tốt về chính sách xây dựng công viên với hệ thống cây xanh đa dạng và mật độ bao phủ cao sẽ giúp cải thiện môi trường sống hiệu quả Phân tích sâu hơn về vai trò của công viên đối với
đô thị Anna Chiesura (2004) đã thực hiện nghiên cứu ở Hà Lan và đưa ra nhận xét như sau (1) Các khu đô thị đáp ứng tốt nhu cầu giải trí cho nhiều tầng lớp trong xã hội sẽ được nâng cao giá trị của đô thị đó; (2) các nhóm tuổi khác nhau sẽ có mục đích đến công viên với những hoạt động khác nhau nên cần thiết kế công viên đa dạng; (3) một công viên có những biện pháp an toàn, an ninh thiết thực là một yếu tố quan trọng giúp đánh giá một đô thị tích cực
Cần Thơ hiện đang là một trong những thành phố phát triển của cả nước, là trung tâm kinh tế của đồng bằng sông Cửu Long, người dân có thu nhập ngày càng cao lại càng kì vọng cao hơn vào các công trình công cộng nói chung và công viên nói riêng của thành phố Nếu biết cách khai thác thì công viên không chỉ là nơi thư giản, mang lại những giá trị tinh thần cho người dân, giữ gìn sự đa dạng sinh học, mà còn mang lại những lợi ích kinh tế, quảng bá hình ảnh thành phố, thu hút khách du lịch cũng như phát triển các dịch vụ thương mại tại đây Tuy mang có rất nhiều lợi ích vậy mà hiện nay ở Cần Thơ ngày càng vắng bóng công viên, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, một
số công viên chưa phát triển theo đúng chức năng của mình, cơ sở hạ tầng bị xuống cấp nghiêm trọng, các vấn đề về an toàn, an ninh vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề khiến cho người dân lo ngại mỗi khi đến đây vui chơi, học tập
Chẳng những vậy, hiện nay các nghiên cứu về công viên, khuôn viên
đô thị tại Việt nam vẫn chưa được xem trọng Tổng hợp những nghiên cứu về không gian xanh đô thị Lê Tố Lương (2010) chỉ ra rằng công viên, không gian xanh đô thị mang lại rất nhiều lợi ích khác nhau và hiện nay đang nhận được
sự quan tâm của thế giới nhưng tại Việt Nam về vấn đề này vẫn cang đang bỏ ngỏ, vì thế cần phải sớm quan tâm, nghiên cứu về không gian xanh đô thị ở các thành phố của Việt Nam Từ thực tế trên, tôi nhận ra tầm quan trọng của
vấn đề nên quyết định chọn đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ công viên trên địa bàn thành phố Cần Thơ” làm đề tài tốt nghiệp cho mình
Trang 121.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài tập trung giải quyết các câu hỏi như sau:
Thực trạng nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân và chất lượng dịch
vụ của các công viên ở thành phố Cần Thơ hiện nay như thế nào?
Xác định các nhu cầu sử dụng dịch vụ công viên chủ yếu của người dân là gì?
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng dịch vụ công viên của người dân?
Các giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ công viên đồng thời khai thác hiệu quả chức năng của công viên thành phố Cần Thơ
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Không gian: Đề tài được thực hiện tại 3 công viên Tao Đàn, Đồ
Chiểu, Văn hóa Miền Tây thành phố Cần Thơ Đối với công viên Tao Đàn và
Đồ Chiểu đều nằm trong trung tâm thành phố nhưng vẫn không được nhiều người dân sử dụng, diện tích hai công viên nhỏ hẹp và công viên Tao Đàn đã ở trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Công viên văn hóa Miền tây là một trong rất ít các công viên vui chơi dành cho trẻ em của thành phố nhưng vẫn chưa được khai thác đúng mức, các chức năng của công viên không được khai thác, xây dựng một cách rõ nét, không thu hút được sự quan tâm của người dân
1.4.2 Thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 18.08.2014 đến ngày
18.11.2014 Số liệu sơ cấp được thực hiện vào năm 2014
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là người
dân đã từng sử dụng công viên và những người chưa từng/hiếm khi sử dụng
trên địa bàn Thành phố Cần Thơ
Trang 13Bách khoa toàn thư mở đã định nghĩa dịch vụ như sau Dịch vụ trong
kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóanhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa-dịch vu
Và dịch vụ có những đặc điểm sau
Tính đồng thời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời
Tính không thể tách rời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia
Tính chất không đồng nhất: không có chất lượng đồng nhất
Vô hình: không có hình hài rõ rệt Không thể thấy trước khi tiêu dùng
Không lưu trữ được: không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được Theo Từ điển Tiếng Việt (2004): Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công
Theo Philip Kotler và Amstrong (1991) đã định nghĩa dịch vụ như sau Một dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao sở hữu nào cả
Theo ý kiến của Nguyễn Văn Thanh (2008) thì dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn
Gần đây, Hoàng Thị Hồng Lộc (2012) cho rằng dịch vụ còn được định nghĩa như một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất Trên giác độ hàng hóa, dịch vụ là hàng hóa vô hình mang lại chuỗi giá trị thỏa mãn nhu cầu nào đó của thị trường
Có rất nhiều khái niệm về dịch vụ nhưng theo một cách thống nhất ta có thể hiểu dịch vụ là một hoạt động được tạo ra nhằm đáp ứng một nhu cầu nào
đó của con người và có những đặc trưng riêng biệt, không tồn tại dưới dạng hàng hóa hiện hữu mà quá trình sản xuất và sử dụng diễn ra đồng thời
Trang 14b) Dịch vụ công
Jean-Philippe Brouant và Jacque Ziller (1993) cho rằng: "Một dịch vụ công thường được định nghĩa như một hoạt động do ngành tài chính đảm nhiệm để thỏa măn một nhu cầu về lợi ích chung"
Theo tác giả Chu Văn Thành (2004) thì “dịch vụ công là những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước uỷ quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân, theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội”
Đối với Nguyễn Thị Mai Hương (2004) thì dịch vụ công “là tất cả các hoạt động vì lợi ích cộng đồng, lợi ích chung của cộng đồng, lợi ích của xã hội, lợi ích mà mọi công dân đều có quyền hưởng thụ Dịch vụ công có thể được cung cấp bằng nhiều hình thức, bằng nhiều tổ chức: do Nhà nước, do tư nhân, do các Hội, tổ chức phi Chính phủ thực hiện”
Theo Lê Chi Mai (2008) đưa ra nhận định “Thông qua việc thực hiện chức năng quản lí nhà nước vốn có của mình, Nhà nước có trách nhiệm cung cấp cho xã hội những dịch vụ mà không một tư nhân nào có thể đứng ra cung ứng Những dịch vụ Nhà nước đứng ra bảo đảm việc cung ứng bình thường cho xã hội được gọi là dịch vụ công”
Đặc điểm của dịch vụ công:
Theo Đặng Đức Phạm (2006) Dịch vụ công có hai đặc tính cơ bản “đặc tính không loại trừ và không cạnh tranh trong tiêu dùng Không loại trừ có nghĩa là tất cả mọi người đều có quyền sử dụng, không loại trừ bất cứ ai, bất
kể họ có trả tiền cho dịch vụ đó hay không Không cạnh tranh có nghĩa là việc
sử dụng, tiêu dùng của người này không làm giảm đi hoặc ảnh hưởng việc sử dụng, tiêu dùng của người khác; hay nói cách khác dịch vụ đó khi được một người sử dụng hay nhiều người sử dụng cũng thế thôi”
Đối với Trần Ngọc Hiên (2012) thì dịch vụ công có những đặc điểm: có tính chất xã hội cao, có mục tiêu là phục vụ lợi ích cộng đồng, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội, công bằng và có tính quần chúng rộng rãi Vì vậy, tính kinh tế, lợi nhuận trong cơ chế thị trường không phải là điều kiện cần có của hoạt động dịch vụ công Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua hoặc không bao hàm quan hệ thị trường đầy đủ Cũng có những dịch vụ công, người sử dụng phải trả một phần hay toàn bộ kinh phí mà nhà nước vẫn có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận (như pháp luật, an ninh, quốc phòng, cấp các loại giấy tờ bảo đảm quyền sở hữu và các lợi ích khác của dân)
c) Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ là những gì khách hàng cảm nhận được Chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ
Trang 15Theo Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985) thì chất lượng dịch vụ là khi cảm nhận của khách hàng về một dịch vụ đã giao ngang xứng với kì vọng trước đó của họ Cũng theo Parasuraman thì kì vọng trong chất lượng dịch vụ
là những mong muốn của khách hàng, nghĩa là họ cảm thấy nhà cung cấp phải thực hiện chứ không phải sẽ thực hiện các yêu cầu về dịch vụ
Theo Hurbert (1995) thì trước khi sử dụng dịch vụ, khách hàng đã hình thành một “kịch bản” về dịch vụ đó Khi kịch bản của khách hàng và nhà cung cấp không giống nhau khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng
Còn đối với Crolin và Tailor (1992) lại cho rằng sự hài lòng của khách hàng nên đánh giá trong thời gian ngắn, còn chất lượng dịch vụ nên đánh giá theo thái độ của khách hàng về dịch vụ đó trong thời gian dài
Theo Nguyễn Quốc Nghi (2012) chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận, tiêu dùng dịch vụ Nó là dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân phối dịch vụ ở đầu ra
Tóm lại, chất lượng dịch vụ là những đánh giá bằng cảm nhận riêng của khách hàng về dịch vụ nhận được trong dài hạn Khách hàng sẽ đánh giá chất lượng dịch vụ tốt nếu những gì họ nhận được ngang bằng hoặc vượt hơn những kì vọng ban đầu của họ và ngược lại
2.1.1.2 Công viên – dịch vụ công viên
a) Công viên
Theo UBND TP Cần Thơ (2012) thì Công viên là khu vực được trồng cây xanh tập trung trong một diện tích đất lớn nhằm mục đích phục vụ công cộng, là nơi sinh hoạt ngoài trời, nghỉ ngơi, thư giản, vui chơi giải trí, tập luyện thể dục, nơi tổ chức các hoạt động văn hóa – xã hội đáp ứng nhu cầu của nhân dân Ngoài cây xanh công viên có các công trình kiến trúc và công trình
hạ tầng kỹ thuật đồng bộ Phạm vi quản lý một công viên bao gồm diện tích bên trong công viên và vỉa hè của công viên đó
Ngoài ra ta có thể hiểu rằng Công viênlà khu vực được bảo vệ các nguồn thiên nhiên tự có hay trồng, một nơi vui chơi,giải tríđại chúng, các hoạt độngvăn hóa, hưởng thụ
Kiến trúc công viên gồm có:cây xanh, ghế ngồi nghỉ mát, các con đường nhỏ dùng cho người tản bộ, ốc đảo, vườn hoa, các ki ốt, ban quản lý công viên, nước, hệ thực vật và động vật và các khu vực cỏ…
Công viên hoang dã, có nhiều công viên được bảo vệ bởi pháp luật Được bảo hộ, yêu cầu cho một số loài hoang dã để tồn tại Một số công viên bảo vệ tập trung chủ yếu vào sự sống còn của một vài loài đang bị đe dọa, như khỉ đột hay tinh tinh
Bảo đảm người ở các lứa tuổi có thể tìm được không gian trong đó cho mình, tính yên tĩnh, thư giãn của cá nhân Mọi người đều có quyền vào nghỉ ngơi, tham quan và hoạt động thể dụcdưỡng sinhtrong công viên bình thường, không phải trả bất kỳ một khoản thu nào nếu không tham gia các dịch
vụ giải trí có thu tiền
Trang 16Thường các công viên được làm theo các đặc thù, loại này thường nhỏ hơn trong tổ hợp công viên như: công viên nước, công viên cây xanh, công viên văn hóa,
b) Dịch vụ công viên
Dựa vào những định nghĩa về công viên, dịch vụ và dịch vụ công ta có thể hiểu rằng dịch vụ công viên là một trong những dịch vụ công phục vụ người dân trong xã hội, dịch vụ công viên là một dịch vụ không tính phí nhưng có thể bao hàm cả các dịch vụ thu phí khác kèm theo nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân Các dịch vụ sẳn có trong công viên nhằm đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, thư giản cho người dân có một cuộc sống tốt đẹp hơn Bên cạnh đó có rất nhiều loại hình công viên đa dạng trong thành phố, tùy vào mục đích sử dụng mà người dân có thể lựa chọn nơi thích hợp nhất cho mình
2.1.1.3 Nhu cầu – Nhu cầu giải trí
Theo Đỗ Thị Thu Hải (2006) thì “Nhu cầu tự nhiên là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhu cầu tự nhiên được hình thành
là do trạng thái tự nhiên, trạng thái ý thức của con người về việc thấy thiếu một cái gì đó để phục vụ cho tiêu dùng Trạng thái ý thức thiếu hụt đó phát sinh có thể do sự đòi hỏi của sinh lý, của môi trường giao tiếp xã hội hoặc do tác nhân con người về vốn tri thức và tự thể hiện”
Đối với Lê Thế Giới (2008) đã đưa ra những nhận định rằng “nhu cầu cấp thiết là những phần cấu thành nguyên thủy của con người bao gồm những nhu cầu sinh lý cơ bản, những nhu cầu về xã hội và và nhu cầu về cá nhân Nếu các nhu cầu cấp thiết này không được thỏa mãn thì cong người sẽ cảm thấy khổ sở và bất hạnh Khi con người không được thỏa mãn sẽ đưa ra hai hướng giải quyết: tìm kiếm đối tượng để thỏa mãn được nhu cầu hoặc cố gắng kiềm chế nó”
Theo Nguyễn Quốc Nghi và Lê Quang Viết (2011) đề cập khái niệm về
“nhu cầu là một thuộc tính tâm lý, là những điều mà con người đòi hỏi để tồn tại và phát triển Mọi cá nhân đều có những nhu cầu, một số nhu cầu là bẩm sinh, một số là do thu nạp”
Theo thuyết nhu cầu của nhà tâm lý Abraham Maslow đưa ra vào năm
1943 thì nhu cầu của con người được thể hiện qua hệ thống thang bậc nhu cầu như sau
Trang 17Hình 2.1 Thang đo nhu cầu của Maslow Bậc thứ nhất: nhu cầu sinh lý là những nhu cầu tất yếu của con người bao gồm các hoạt động như: ăn, uống, ngủ, thở,… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất của con người khi muốn tồn tại và nếu các nhu cầu này chưa được đáp ứng đủ ở mức cần thiết cho cơ thể con người hoạt động thì các nhu cầu khác ít
có động cơ thúc đẩy hơn
Bậc thứ hai: Nhu cầu an toàn, an ninh Khi các nhu cầu về sinh lý được đáp ứng thì nhu cầu an toàn hay an ninh trở nên trội hơn Những nhu cầu này chủ yếu là nhu cầu không bị đe dọa về thân thể hay bị tước mất các nhu cầu sinh học khác, họ mong muốn được bảo vệ, bảo đảm an toàn cho bản thân, người thân cũng như tài sản của họ Nếu nhu cầu an toàn, an ninh của một cá nhân bị đe dọa thì những điều khác dường như không quan trọng
Bậc thứ ba: nhu cầu xã hội Đây là một trong những nhu cầu cấp cao của con người, khi những nhu cầu sinh học và an toàn của con người được thỏa mãn thì nhu cầu xã hội sẽ xuất hiện Vì mọi người đều là thành viên của xã hội, họ có nhu cầu giao tiếp, có nhu cầu giao lưu và tìm kiếm bạn bè để không cảm thấy mình lẻ loi, cô độc, họ thích nổi bật trong xã hội, thể hiện sự thân thiện với nhiều người và làm quen với nhiều bạn bè, tạo nên các mối quan hệ tốt đẹp với người khác trong xã hội
Bậc thứ tư: nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu này xuất hiện khi con người muốn có tiếng nói trong xã hội, muốn có địa vị và được nhận biết trong xã hội, muốn được người khác lắng nghe, tiếp thu ý kiến và tôn trọng mình Một số người có nhu cầu này quá cao, khi không được đáp ứng đủ có thể họ sẽ tự hủy hoại mình, làm ra những hành động không có lợi cho xã hội để được người khác chú ý đến
Trang 18Bậc thứ năm: nhu cầu tự hoàn thiện là nhu cầu cao nhất của con người trong tháp nhu cầu của Maslow Mỗi người có một mong muốn hoàn thiện mình khác nhau nhưng có điểm chung là mong muốn mọi việc được làm ra một cách hoàn hảo nhất, có hiệu quả nhất và cảm thấy hài lòng nhất đối với công việc của mình Họ sáng tạo ra những điều mới, cải tiến vật dụng cũ hay thể hiện qua lòng can đảm của mình, họ hoàn thiện và không ngừng hoàn thiện bản thân
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ
b) Nhu cầu giải trí
Theo tác giả Đoàn Văn Chúc (1997), hoạt động của con người trong mọi thời đại được chia thành 4 loại hoạt động như sau:
Hoạt động thuộc lao động sản xuất, đảm bảo sự sống còn cho mỗi cá nhân và xã hội
Hoạt động thuộc quan hệ giao tiếp cá nhân trong đời sống xã hội
Hoạt động sinh hoạt thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người
Hoạt động vui chơi, giải trí thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người Hoạt động thứ 4 là các hoạt động giải trí hay hoạt động rỗi mà mỗi cá nhân được hoàn toàn tự do lựa chọn theo sở thích nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí – tái sáng tạo ra các giá trị văn hóa Đây là hoạt động diễn ra trong thời gian rỗi của mỗi người
Theo Đinh Thị Vân Chi (2001) định nghĩa nhu cầu giải trí là “nhu cầu hoạt động trong thời gian rỗi nhằm giải tỏa sự căng thẳng trí não, phát triển con người một cách toàn diện về thể chất, trí tuệ và thẩm mỹ”
Giải trí là một yêu cầu thiết thực của con người Giải trí giúp con người xoá đi những căng thẳng mệt mỏi, giải tõa những ức chế tâm lý do cuộc sống hằng ngày gây ra, tái tạo lại sức lao động, rèn luyện sức khỏe, giúp cho trí tuệ, tinh thần trở nên minh mẫn và dễ dàng hòa nhập với cộng động bên ngoài Giải trí cũng giúp cho con người sử dụng thời gian rỗi một cách thiết thực Vậy nhu cầu giải trí là nhu cầu về các hoạt động vui chơi, thư giãn, giải toã và phục hồi lại trạng thái cân bằng cả về thể chất lẫn tinh thần của con người Khi nhu cầu giải trí xuất hiện thì con người bị thôi thúc hành động để thỏa mãn nhu cầu đó Nhu cầu giải trí thuộc nhu cầu bậc cao của con người do không gắn liền với sự tồn tại sinh học, không mang tính ép buộc nhưng trong phạm vi chuẩn mực văn hóa xã hội Và là một bộ phận quan trọng để cấu thành các nhu cầu tinh thần của con người
2.1.1.4 Thời gian rỗi
Theo Đoàn Văn Chúc (1997), thời gian rỗi được định nghĩa là thời gian còn lại của con người sau khi trừ đi thời gian lao động (lao động cá nhân và lao động xã hội), thời gian hao phí gắn liền với lao động (chẳng hạn việc đi lại
Trang 19trong khi làm việc hoặc đi làm và trở về nhà); thời gian chi phí cho những nhu cầu sinh hoạt hiển nhiên và nhu cầu sinh lý của con người Theo đó, thời gian rỗi có các cấp độ: Rỗi ngày và rỗi tuần; rỗi tháng; rỗi mùa (hoặc rỗi năm); rỗi cuối đời (nghỉ ngơi lúc tuổi già)
Theo trích dẫn của Trần Ngọc Khánh (2012) thì nhà xã hội học nổi tiếng
người Pháp, Joffre Dumazedier (1964) Về nền văn minh thời gian rỗi định
nghĩa: “thời gian rỗi là một tập hợp các công việc cá nhân theo đuổi mà họ không cảm thấy bị gò bó, sau khi thoát ra khỏi các nghĩa vụ nghề nghiệp, gia đình và xã hội Đó là thời gian dùng để nghỉ ngơi, phát triển thông tin hoặc rèn luyện không vụ lợi, tham gia tự nguyện xã hội hoặc phát triển khả năng tự do sáng tạo của mình”
Theo Chu Khắc (1989), khái niệm về thời gian tự do được hiểu như sau:
“Thời gian tự do là bộ phận hợp thành của kế hoạch phát triển kinh tế-xă hội,
là thời gian mà con người tự bồi bổ, nâng cao mình lên, giúp cho lao động được tốt hơn và có hiệu quả hơn” Theo tác giả thì thời gian tự do trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội “không chỉ là để nghỉ và giải trí mà ngày càng được
sử dụng tốt hơn để nâng cao trình độ kiến thức, phát triển tài năng và sở thích của mọi thành viên trong xã hội” Theo đó, việc sử dụng thời gian tự do vào tiêu dùng văn hóa sẽ phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, bên trong và yếu tố
bổ sung theo sơ đồ sau
Yếu tố bên ngoài Yếu tố bên trong Yếu tố bổ sung
Nguồn: Chu Khắc, 1989
Hình 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thời gian tự do
Theo tác giả Đinh Thị Dung (2012) định nghĩa “thời gian rỗi là quãng / thời kỳ / giai đoạn dài, hay ngắn mà con người không phải chịu những quy
Giới Tuổi tính tác
Tiêu dùng văn hóa
Trang 20định, nguyên tắc ràng buộc của công việc, và được tự do trong mọi hoạt động của mình để thư giãn, giải tỏa căng thẳng, thoát khỏi áp lực công việc và cuộc sống”
Có thể nhận ra rằng giải trí cũng là nhu cầu của con người vì nó đáp ứng những đòi hỏi bức thiết từ phía cá nhân Nhu cầu giải trí là động cơ của hoạt động giải trí Khi xuất hiện nhu cầu giải trí, con người bị thôi thúc hành động
để thỏa mãn nhu cầu đó Nhu cầu giải trí thuộc các bậc cao của thang nhu cầu con người do không gắn liền với sự tồn tại sinh học mà là sự vươn cao, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, tự hoàn thiện và tự khẳng định mình Nhu cầu giải trí cũng là một bộ phận quan trọng cấu thành các nhu cầu tinh thần
Vậy thời gian rỗi là thời gian dành cho các hoạt động giải trí văn hóa mà
cá nhân không bị chi phối, bách bứt bởi những nhu cầu về sinh tồn, vật chất và các nghĩa vụ cá nhân của mỗi người Khi đó, con người được tự do hoàn toàn
và giải phóng khỏi các áp lực, suy nghĩ, lo toan với cuộc sống hằng ngày mà hướng về sự giải tỏa bản thân, thanh thản trong tâm hồn và là thời gian giúp con người phục hồi lại tình trạng sức khỏe và tinh thần về trạng thái cân bằng
2.1.2 Quy định chung đối với công viên đô thị
2.1.2.1 Quy định đối với cảnh quan công viên, cây xanh, cảnh quan nhân tạo
Trong Nghị định quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị của Chính phủ năm 2010 đã đề những quy định sau
a) Cây xanh trong đô thị phải được trồng, chăm sóc, duy trì, bảo vệ, phân loại và bố trí theo quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn và pháp luật hiện hành b) Cây cổ thụ trong đô thị, trong khuôn viên các công trình, trong các vườn tự nhiên, biệt thự, nhà vườn, chùa, đền, am, miếu, nhà thờ, các di tích lịch
sử - văn hoá, công trình công cộng đô thị được bảo vệ, quản lý theo quy định của pháp luật
c) Khuyến khích trồng các loại cây phù hợp với chức năng của các khu vực và tính chất của đô thị, khu vực đô thị, đảm bảo môi trường sinh thái; lựa chọn loại cây trồng có sự phối hợp màu sắc hài hoà, sinh động tạo nét đặc trưng riêng cho khu vực và cho đô thị
d) Đối với cảnh quan nhân tạo như ao, hồ, suối, tiểu cảnh, cây xanh, giả sơn phải được thiết kế hợp lý, xây dựng phải đồng bộ, hài hòa cảnh quan, môi trường và phù hợp với chức năng, đặc điểm vùng miền, tính chất của đô thị, khu vực đô thị
2.1.2.2 Quản lý cây xanh, công viên
Luật quy hoạch Đô thị năm 2009 đã ban hành như sau
a) Công viên, vườn hoa, cây xanh trong đô thị có giá trị về văn hoá, lịch
sử, cảnh quan tự nhiên, cảnh quan đô thị đã được cơ quan có thẩm quyền đưa vào danh mục quản lý hoặc được xác định trong quy hoạch phải được giao cho
tổ chức, cá nhân quản lý
Trang 21b) Việc xây dựng công viên, vườn hoa, trồng cây xanh theo quy hoạch đô thị phải đáp ứng các yêu cầu về sử dụng, mỹ quan, an toàn, môi trường đô thị; không làm hư hỏng các công trình cơ sở hạ tầng trên mặt đất, trên không, dưới mặt đất
c) Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ công viên, vườn hoa, cây xanh, mặt nước và các khu vực tự nhiên khác trong đô thị Việc chặt, phá, di dời cây xanh trong danh mục quản lý; san lấp, thay đổi địa hình các khu vực tự nhiên phải được cơ quan quản lý có thẩm quyền cho phép
2.1.2.3 Tiêu chuẩn đất cây xanh công viên đô thị
Đối với Cần Thơ là đô thị loại I với dân số năm 2010 đạt 1.197,1 ngàn người thì tiêu chuẩn đất cây xanh công viên đạt 6-7,5 m2/người ngoài các công viên thuộc khu ở cần có các công viên khu vực, công viên thành phố, các công viên có chức năng riêng biệt như: công viên thiếu nhi, công viên thể thao, vườn bách thú, bách thảo, công viên nước,
Công viên thể thao phải đảm bảo kích thước sân bãi theo tiêu chuẩn và
bố trí hợp lý hệ thống sân bãi tập Cây xanh phải thoả mãn yêu cầu thông gió, chống ồn, điều hoà không khí và ánh sáng, cải thiện tốt môi trường vi khí hậu
để đảm bảo nâng cao sức khoẻ vận động viên và người tham gia thể thao
2.1.3 Chức năng, vai trò và lợi ích của công viên
2.1.3.1 Chức năng của công viên
Đối với công viên nói chung thì có rất nhiều chức năng, tùy thuộc vào từng loại công viên mà có những chức năng cụ thể Sau đây là một vài chức năng của công viên
Nơi tuyên truyền các hoạt động của dịa phương, thành phố, cung cấp các kiến thức văn hóa, giáo dục cho người dân cũng như cung cấp thông tin thời sự của khu vực, thông tin về các bản tin dự báo thời tiết qua đài phát thanh
Có những khu vực yên tình để phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn, học tập, nghiên cứu của người dân ở đô thị
Công viên với quãng trường rộng lớn là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, nghệ thuật của Địa phương, Thành phố nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phụ vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của họ
Khu trò chơi nhằm phục vụ cho nhu cầu vui chơi, giải trí theo từng nhóm tuổi khác nhau Có khu vực trò chơi thu phí và trò chơi công cộng để đáp ứng nhu cầu của mọi người dân thuộc mọi tầng lớp trong xã hội
Khu thể dục, thể thao với những dụng cụ hỗ trợ khác nhau theo nhiều
độ tuổi, không gian rộng lớn sẽ thu hút các câu lạc bộ dưỡng sinh và các hoạt động nhóm, ngoài ra hệ thống cây xanh và mật độ bao phủ cao giúp bầu không khí trở nên thoáng mát hơn nhằm hỗ trợ người dân rèn luyện thể lực, nâng cao sức khỏe
Khu phục vụ các dịch vụ ăn uống, mua sắm để thỏa mãn các nhu cầu kèm theo người dân
Trang 222.1.3.2 Vai trò của công viên
Công viên có một vai trò quan trọng đối với khuôn viên đô thị và cuộc sống người dân trong xã hội
Bảo vệ môi trường, là “lá phổi xanh” của thành phố Với diện tích cây xanh cao giúp cung cấp thêm khí oxi,cản bụi, cản gió, điều hòa khí hậu làm cho thành phố trở nên trong lành hơn Chẳng những vậy cây xanh còn có tác dụng làm trong lành hơn mạch nước ngầm
Là nơi sinh hoạt công cộng, gắn kết cộng đồng Với những không gian rộng lớn, mát mẽ sẽ thu hút người dân đến đây vui chơi, nghỉ ngơi, trò chuyện
và giao lưu với nhau nhiều hơn Chẵng những vậy, với bầu không khí trong lành, gần gũi với thiên nhiên con người dễ dàng cởi mở, hòa đồng và thân thiện hơn
Cải thiện sức khỏe người dân về mặt thể chất lẫn tinh thần Công viên
sẽ là nơi tập thể dục lí tưởng, là nơi lấy đi những căng thẳng mệt mỏi, giúp mọi người có một cuộc sống tích cực hơn, yêu thiên nhiên và tham gia vào các hoạt động có ích cho xã hội sẽ khiến tinh thần trở nên phấn chấn và hài hòa hơn
Tạo ra những lợi ích kinh tế, xã hội,… trên nhiều phương diện cho cộng đồng, các nhà đầu tư và người dân thành phố
2.1.3.3 Lợi ích công viên mang lại
Tổng quan nghiên cứu về các lợi ích vườn hoa, công viên trong các Thành phố, Lê Tố Lương (2010) đã tổng hợp và chỉ ra rằng công viên mang lại nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội bao gồm:
a) Nhóm lợi ích sinh thái
Làm trong lành không khí: công viên thường có hệ thống cây xanh và
hồ nước Vào những ngày nắng nóng, quá trình bốc hơi nước xảy ra sẽ làm giảm nhiệt độ không khí xung quanh và cây xanh có tác dụng giữ ẩm, tạo bóng mát giúp cho khí hậu mát mẻ hơn Ngoài ra cây xanh còn có khả năng giữ bụi, cản gió, giảm tiếng ồn, hấp thụ khí cacbonic và một số khí khác giúp cho bầu không khí xung quanh trở nên trong lành
Giữ gìn đa dạng sinh học: Không gian xanh là nơi tập trung của hệ động thực vật trong tự nhiên Các công viên cây xanh, vườn hoa công viên, công viên sinh thái, sở thú,… sẽ tạo ra một môi trường tốt để nơi bảo tồn, chăm sóc nhiều giống cây khác nhau, loài thú quý hiếm, góp phần bảo vệ sự
đa dạng sinh học hiện nay
Cải tạo mạch nước ngầm: Bề mặt công viên được bao phủ bởi lớp thực vật sẽ có tác dụng hấp thụ mạch nước tốt hơn mảnh đất trống hay bề mặt bao phủ khác Vì vậy các khuôn viên xanh có tác dụng hạn chế dòng chảy, điều hòa mạch nước ngầm giúp cải thiện tình hình lũ lụt và hiện tượng xói mòn đất
Trang 23b) Lợi ích kinh tế
Cung cấp việc làm: các công viên luôn đòi hỏi phải có những đội ngũ làm nhiệm vụ như bảo vệ, dọn dẹp, vệ sinh,… đội ngũ quản lý và phục vụ công viên nên đây là một môi trường cung cấp việc làm trực tiếp cho người lao động, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho lao động từ đó ổn định kinh tế gia đình cho họ, tránh được những tệ nạn xã hội
Hoạt động thương mại: không gian xanh đô thị, khuôn viên công viên rộng lớn, khung cảnh hài hòa sẽ thu hút nhiều lượt người đến tham quan và là thị trường béo bở cho các nhà đầu tư mở các dịch vụ ăn uống, buôn bán Chẳng những vậy đây còn là nơi hấp dẫn các du khách từ mọi nơi giúp tăng doanh thu cho ngành du lịch
Tác động đến dịch vụ Bất động sản: một nghiên cứu tại Washington (2006) cho thấy 2/3 dân cư tại các thành phố lớn chấp nhận trả giá cao hơn từ 10-25% cho một ngôi nhà nằm gần với công viên, vườn hoa, không gian mở,… Xu hướng thân thiện với thiên nhiên, ngắm nhìn khung cảnh đẹp của con người là lí do khiến công viên làm tăng cao giá bất động sản xung quanh
nó
c) Lợi ích Xã hội
Cải thiện sức khỏe cộng đồng: công viên là nơi giúp thư giản, nghỉ ngơi, giảm căng thẳng mệt mỏi cho mọi người Là nơi tập luyện thể dục thể thao của mọi người dân Một nghiên cứu của Tzoulas (2007) cho ta thấy những người thường xuyên sử dụng công viên có tuổi thọ cao hơn, sức khỏe tốt hơn và phục hồi sau căng thẳng nhanh hơn những người ít khi sử dụng công viên
Gắn kết cộng đồng: công viên là nơi gặp gỡ, giao lưu bạn bè, gia đình Đây còn là nơi chào hỏi giữa hàng xóm, những lần tập thể dục chung khiến cho mối quan hệ của mọi người dần được cải thiện và trở nên tốt đẹp hơn
2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.2.1 Tài liệu nước ngoài
(1) Nghiên cứu của Chiesura (2004) về “Vai trò của công viên đối với sự phát triển bền vững thành phố” tại một công viên đô thị ở Armsterdam, Hà
Lan được thực hiện bằng cách phỏng vấn 467 du khách đến công viên, kết quả cho thấy du khách đến đây để thư giãn chiếm tỉ lệ cao nhất, thoát khỏi những khoảng không gian ngột ngạt ồn ào của đô thị Nghiên cứu chỉ ra rằng, độ tuổi khác nhau sẽ tham gia các hoạt động ở công viên là khác nhau như các hoạt động thể dục và giao lưu bạn bè chủ yếu ở nhóm người trẻ tuổi, các hoạt động vui chơi với trẻ em và tận hưởng thiên nhiên thường xảy ra với những người trưởng thành và cao tuổi Nghiên cứu cũng chỉ ra các giá trị mà công viên đô thị mang lại cho người dân là sự giải trí sau những áp lực trong cuộc sống hằng ngày ở đô thị và nâng cao các giá trị tinh thần của con người Mục đích của nghiên cứu là giải thích tầm quan trọng của thiên nhiên trong thành phố với người dân và sự phát triển bền vững của thành phố
Trang 24(2) Tại Malaysia, Nawawi và Ali (2006) đã thực hiện một nghiên cứu về
“Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người sử dụng đối với công viên thành phố” ở 2 công viên đô thị Kuala Lumpur City Center và Subang Trong
nghiên cứu của mình, tác giả tiến hành phân tích thống kê mô tả, sử dụng kiểm định và phân tích dữ liệu Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng các câu hỏi
mở, thang đo Likert để đo lường thái độ và sự hiểu biết của người dân, nhận biết các nhu cầu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng công viên của người dân và du khách Nghiên cứu khảo sát 116 du khách trên 18 tuổi cho thấy 5 yếu tố sau có ảnh hưởng đến quyết định sử dụng công viên của du khách đó là: khả năng có thể tiếp cận công viên, nhận biết về khu vực địa lý, các hoạt động trong công viên, môi trường thiên nhiên và bảo tồn công viên Nghiên cứu còn cho thấy các hoạt động chủ yếu của du khách ở công viên là họp mặt gia đình và giao tiếp xã hội
(3) Nghiên cứu của Mohamed và Othman (2009) về “Các yếu tố đẩy và kéo: Xác định sự hài lòng của du khách với khu giải trí của thành phố” tại
công viên Kepong Metropolitan, Malaysia Thực hiện phỏng vấn trực tiếp 181
du khách đã cho ra kết quả nghiên cứu như sau: các yếu tố đẩy có tác động tích cực đến sự hài lòng của du khách khi tham gia vào công viên bao gồm: nét mỹ quan, không gian mát mẻ, sự duy trì tốt và có tổ chức tại công viên chẳng những vậy, các yếu tố tác động đến tinh thần như sự yên tĩnh, giảm căng thẳng và gần gũi với thiên nhiên cũng làm gia tăng mức độ hài lòng của
du khách Bên cạnh các mặt tích cực vẫn còn tồn tại các yếu tố kéo làm mất sự hài lòng của du khách về môi trường tự nhiên là cảm giác không an toàn và các cảnh vật trong công viên như: cảnh quan, thảm cỏ, cây bụi và lối đi vẫn còn nhiều hạn chế
(4) Một nghiên cứu định tính khác về “Các thuộc tính của công viên thành phố kết hợp với việc sử dụng công viên và các hoạt động thể chất” tại
Canada của nhóm tác giả Gavin R.McCormack, MelanieRock, Ann M.Toohey, DanicaHignell (2010) Sau khi tổng hợp 21 kết quả của các nghiên cứu trước đó về môi trường công viên và việc sử dụng công viên, nhóm tác giả
đã tiến hành đánh giá các yếu tố quan trọng đến việc khuyến khích sử dụng công viên và các hoạt động thể chất của người dân từ đó cho ra kết quả: các yếu tố về thuộc tính công viên như môi trường xã hội, an toàn, nét thẫm mỹ,
sự tiện nghi và khả năng tiếp cận là các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng Trong đó, yếu tố về khả năng tiếp cận, thuộc tính công viên và môi trường xã hội có ảnh hưởng quan trọng nhất đến việc sử dụng công viên và các hoạt động thể dục, thể chất của người dân
(5)Tiếp tục phát triển đề tài, gần đây nhất nhóm tác giả McCorrmack và
cộng sự (2014) đã nghiên cứu về “Mô hình hoạt động thể chất tại công viên trong các khu đô thị: một nghiên cứu trên nhiều công viên” tại 4 công viên
Taradale, Martindale, Tây Hillhurst, Meadowlark tại Canada đã chỉ ra rằng Hoạt động phổ biến nhất tại công viên là đi bộ và dắt chó đi dạo, người dân đến công viên nhiều nhất vào các buổi chiều tối dịp cuối tuần Và tại đây số lượng người dân đến để tập thể dục của người trưởng thành có tỉ lệ cao hơn thanh thiếu niên và trẻ em, và tỉ lệ nam giới cũng cao hơn nữ giới Dựa vào
Trang 25đặc điểm nhân khẩu học để xây dựng một công viên phù hợp Với những khu dân cư tỉ lệ trẻ em cao cần xây dựng công viên với nhiều hoạt động vui chơi giải trí, tiêu hao năng lượng, với các khu dân cư tỉ lệ nghười cao tuổi cao cần xây dựng những công viên yên tĩnh với nhiều lối đi bộ, băng ghế đá, cây cỏ để nghỉ ngơi
2.2.2 Tài liệu trong nước
(1) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Trân (2012) về “Xác định mức giá sẵn lòng chi trả cho không gian công cộng công viên thành phố Cần Thơ”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khái quát thực trạng hoạt động của công viên, xác định và đánh giá mức độ sẵn lòng chi trả của người dân đối với việc bảo vệ gìn giữ không gian văn hoá công cộng của công viên, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận chi trả cho việc bảo vệ gìn giữ không gian văn hoá công cộng của công viên Đề ra một số giải pháp để quản lý, bảo
vệ và phát triển qui mô của công viên nhằm thu hút ngày càng đông đảo người dân đến tham quan và vui chơi tại công viên, giúp cho công viên trở thành tâm điểm của du khách trong nước cũng như ngoài nước Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, đánh giá ngẫu nhiên để xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân và phương pháp hồi quy tuyến tính bội để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả Thông qua kết quả khảo sát 80 người, kết quả nghiên cứu cho thấy: đa phần đáp viên được phỏng vấn là nam có độ tuổi trong khoảng 20 đến 30 tuổi (trung bình là 27 tuổi) chưa kết hôn, với trình độ học vấn là bậc cao đẳng và đại học trở lên và thu nhập bình quân của hộ gia đình đáp viên là 6.687.000 đồng/tháng Các yếu tố: mức giá được đề nghị và hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và gìn giữ không gian công cộng công viên
là ảnh hưởng ngược chiều với việc sẵn lòng chi trả của người dân, các yếu tố
về thu nhập, độ tuổi và chất lượng của không gian công viên là ảnh hưởng cùng chiều với việc sẵn lòng chi trả của người dân quận Ninh Kiều
(2) Nghiên cứu khác của 2 tác giả Phạm Đức Nguyên và Trần Duy
Cương (2007) về “Khảo sát nhu cầu không gian vui chơi giải trí của nhân viên văn phòng Hà Nội” Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là khảo sát nhu
cầu về sinh hoạt ngoại khóa vui chơi giải trí của nhân viên văn phòng tại Hà Nội và các yếu tố tác động đến nhu cầu này nhằm xác định sự cần thiết của không gian vui chơi giải trí cho nhân viên tại các văn phòng ở Hà Nội nâng cao đời sống thể chất và tinh thần của nhân viên văn phòng, tiết kiệm thời gian
đi lại, giảm lưu lượng giao thông trên đường phố trong giờ cao điểm Thông qua kết quả khảo sát 171 nhân viên văn phòng, kết quả nghiên cứu cho thấy: Hơn 50% lượng nhân viên văn phòng cho rằng không gian vui chơi giải trí trong văn phòng là cần thiết và nhu cầu đó mạnh mẽ hơn ở những nhân viên
có đời sống phong phú, làm việc ở những văn phòng tốt.Trong đó phần lớn cho rằng không gian vui chơi, rèn luyện thể lực là rất thích hợp trong bối cảnh văn phòng hiện tại, kế đến là không gian mang tính nghỉ ngơi, trò chuyện trong văn phòng Các yếu tố tác động mạnh đến nhu cầu này bao gồm: yếu tố khách quan mang tính đặc trưng cho công sở nơi làm việc (độ thích hợp mùa
hè, độ cách nhiệt, môi trường cảnh quan quanh nơi làm việc) và yếu tố cá nhân (sở thích, thói quen sinh hoạt sau giờ làm)
Trang 26(3) Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuấn Minh (2009) về “Thực trạng
sử dụng thời gian rỗi của người dân nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ” cho thấy
các hoạt động trong thời gian rỗi của người dân nông thôn chưa đa dạng và thời lượng dành cho các hoạt động này chưa nhiều Các hoạt động phổ biến nhất là xem tivi, nói chuyện với bạn bè, hàng xóm Có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các đặc điểm giới tính, tuổi, trình độ học vấn và mức sống gia đình với việc sử dụng thời gian rỗi Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thời gian rỗi của người dân ở nông thôn gồm: điều kiện kinh tế, phân công lao động trong gia đình, các thiết chế và các hoạt động phong trào văn hóa ở địa phương Trong đó, điều kiện kinh tế là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất
Khoảng cách đến công viên
NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ CÔNG VIÊN:
Nghỉ ngơi, thư giãn Tham gia hoạt động cộng đồng
Thể dục, thể thao Xem chương trình nghệ thuật
Học tập, nghiên cứu Ăn uống
Tham gia hoạt động giải trí
Trang 272.3.2 Giải thích các nhân tố trong mô hình
Một số nghiên cứu đã đưa ra kết luận các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu
sử dụng dịch vụ công viên như sau: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thời gian rỗi, thu nhập, qui mô gia đình, tình trạng hôn nhân, phương tiện giao thông, hoạt động văn hóa cộng đồng, khả năng tiếp cận, độ an toàn, hệ sinh thái Tùy theo đặc trưng của từng cá nhân mà mỗi yếu tố sẽ có tác động ít hay nhiều, tích cực hay tiêu cực đến nhu cầu sử dụng công viên của người dân Theo nghiên cứu của Abdul Hadi Nawawi và Salina Mohamed Ali
(2006) về “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người sử dụng đối với công viên thành phố” tại Malaysia thì các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: khả
năng tiếp cận, nhận biết về khu vực địa lý, các hoạt động trong công viên, môi trường thiên nhiên và bảo tồn công viên
Theo nghiên cứu của Noralizawati Mohamed và Noriah Othman (2009)
về “Các yếu tố đẩy và kéo: Xác định sự hài lòng của du khách với khu giải trí của thành phố” tại Malaysia Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người
dân khi đến công viên gồm: nét mỹ quan, sự mát mẻ, sự duy trì tốt và có tổ chức
Nghiên cứu của nhóm tác giả Gavin R.McCormack, MelanieRock, Ann
M.Toohey, DanicaHignell (2010) về “Các thuộc tính của công viên thành phố kết hợp với việc sử dụng công viên và các hoạt động thể chất” tại Canada Các
yếu tố có ảnh hưởng đến việc sử dụng công viên của người dân là: thuộc tính công viên, môi trường xã hội, độ an toàn, nét thẫm mỹ, sự tiện nghi và khả năng tiếp cận
Nghiên cứu của 2 tác giả Lei Feng and Yichuan Zhang (2012) về “Đánh giá chất lượng dịch vụ công viên dựa trên phân tích nhân tố” đã đưa ra các
yếu tố ảnh hưởng như sau: cảnh quan, thể thao và giải trí, chất lượng văn hóa,
hệ sinh thái và cảnh quan đêm, các phương tiện giao thông
Một nghiên cứu khác của Mohammad Reza Esmaeilzadeh và cộng sự
(2012) về “Các đặc điểm của người dân đến công viên tại Iran” đã chỉ ra
rằng, các yếu tố thuộc đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng đến việc sử dụng công viên là: giới tính, nhóm tuổi, mức thu nhập, trình độ học vấn, tình trạng nghề nghiệp, mục đích sử dụng công viên của từng đáp viên và các loại hình hoạt động có trong công viên
Kế thừa kết quả các nghiên cứu trước, tác giả đưa các biến thuộc đặc điểm cá nhân như: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nhân khẩu, thời gian rỗi, thời gian sống tại thành phố, số trẻ
em và khoảng cách (vị trí) vào làm biến kiểm soát và một biến thuộc nhân tố thuộc tính công viên sau đây
Trang 28 Cơ sở vật chất
CSVC1: Số lượng dụng cụ thể dục nhiều
CSVC2: Số lượng ghế đá nhiều và cách bố trí phù hợp
CSVC 3: Mức độ chiếu sáng của đèn hợp lý
CSVC4: Khuôn viên công viên rộng rãi, thoáng mát
CSVC5: Lối đi trong công viên thuận tiện
MTVS3: Nhân viên vệ sinh thường xuyên quét dọn công viên
MTVS4: Không khí trong lành, thoáng mát
Cảnh quan, cây cảnh
CQCC1: Số lương cây xanh nhiều
CQCC2: Đa dạng các loại cây xanh, mật độ bao phủ cao
CQCC3: Trưng bày nhiều tác phẩm văn hóa nghệ thuật
An toàn, an ninh
ATAN1: Số lượng nhân viên bảo vệ nhiều
ATAN2: Bảo vệ thường xuyên có mặt
ATAN3: Bãi giữ xe rộng rãi và an toàn
ATAN4: Đường dây nóng kịp thờp khắc phục sự cố
Sự thuận tiện
TT1: Công viên có các bảng chĩ dẫn dễ hiểu
TT2: Vị trí công viên thuận lợi (trung tâm thành phố)
TT3: Lối vào nằm trên nhiều tuyến đường
Tiếp cận thông tin
TCTT1: Dễ nắm bắt thông tin về các hoạt động văn hóa tại công viên qua nhiều phương tiện truyền thông
TCTT2: Cung cấp thông tin bổ ích qua bảng quáng cáo trước công viên
Hoạt động giải trí
HDGT1: Thường xuyên tổ chức nhiều sự kiện của các công ty
HDGT2: Thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ của thành phố
Trang 29HDGT3: Hoạt động thể dục thể thao, thể dục thẫm mỹ, tập dưỡng sinh thu hút nhiều người dân
Dịch vụ trong công viên
DV1: Các điểm ăn uống trong công viên đảm bảo vệ sinh
DV2: Dịch vụ vui chơi trẻ em đa dạng và an toàn
DV3: Giá cả các dịch vụ hợp lý
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
a) Số liệu thứ cấp: số liệu trong đề tài được thu thập qua sách, báo, tạp chí,
đề tài nghiên cứu, các luận văn tốt nghiệp, các website có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài nghiên cứu
b) Số liệu sơ cấp:
Những người thường đi công viên: Đối tượng khảo sát là những người
đã từng sử dụng dịch vụ công viên Văn hóa Miền Tây, Tao Đàn và Đồ Chiểu Tác giả thu thập với cỡ mẫu là 90 thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp
bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại các công viên trên
Những người ít khi, hiếm khi đi công viên: với số lượng mẫu là 30 và được phỏng vấn trực tiếp tại nhà bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp và phương pháp chọn mẫu thuận tiện
2.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Để giải quyết các mục tiêu đặt ra, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp cho từng mục tiêu cụ thể như sau:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả với các chỉ tiêu như số trung bình, tần suất, tỷ lệ,…để phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ công viên và nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân tại TP Cần Thơ
Phương pháp tần số: sử dụng bảng phân phối tần số là bảng tóm tắt dữ liệu được xếp thành từng yếu tố khác nhau, dựa trên những tấn số xuất hiện của các đối tượng trong cơ sở dữ liệu để so sánh tỷ lệ, phản ánh số liệu Một
số đại lượng thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu gồm:
Số trung bình cộng (Mean): bằng tổng tất cả các giá trị lượng biến quan sát chia cho số quan sát
Mode (Mo): là giá trị có tần số xuất hiện cao nhất trong tổng số hay trong một dãy số phân phối
Phương sai: là trung bình giữa bình phương các độ lệch giữa các biến
và trung bình của các biến đó
Độ lệch chuẩn: là căn bậc hai của phương sai (Nam, 2008)
Thang đo được tác giả sử dụng là thang đo Likert 5 mức độ được dùng để sắp xếp từ nhỏ đến lớn với số càng lớn thì mức độ đồng ý càng cao ( !: hoàn toàn đồng ý; 2: không đồng ý; 3: bình thường; 4: đồng ý; 5:hoàn toàn đồng ý.)
để lấy ý kiến của người dân về các dịch vụ, nhu cầu hiện có của công viên Sau đó số liệu được tính toán lấy trung bình các mẫu Giá trị thang đo Likert
như là công cụ để đánh giá, phân tích với các mức ý nghĩa như sau
Trang 30Giá trị khoảng cánh = (Maximun – Minimum) / n
<=> (5-1) / 5 = 0,8
1,00 – 1,80 Rất không đồng ý/Rất không hài lòng/Rất không quan trọng 1,81 – 2,60 Không đồng ý/Không hài lòng/Không quan trọng
2,61 – 3,40 Không ý kiến/Trung bình/Bình thường
3,41 – 4,20 Đồng ý/Hài lòng/Quan trọng
4,21 – 5,00 Rất đồng ý/Rất hài lòng/Rất quan trọng
- Phương pháp phân tích bảng chéo: dùng để kiểm định mối quan hệ giữa các biến định tính với nhau bằng cách dùng kiểm định Chi – bình phương (Chi-square)
Tóm tắt chương 2
Ở chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về chất lượng, chất lượng dịch vụ, dịch vụ, dịch vụ công, công viên, dịch vụ công viên, về nhu cầu, nhu cầu giải trí và thời gian rãnh rỗi Những quy định của nhà nước về công viên, vai trò, chức năng và lợi ích công viên mang lại Cùng với các nghiên cứu trong nước và quốc tế về công viên, không gian mở trong đô thị Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình chất lượng dịch vụ công viên, nhu cầu của người dân khi đến công viên để đề ra khung nghiên cứu cho mình
Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ giới thiệu qua về các công viên, và thực trạng của các công viên đó
Trang 31Thành phố Cần Thơ nằm ở vùng hạ lưu của Sông Mê Kông và ở vị trí trung tâm đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km, cách thành phố Cà Mau 178 km, cách thành phố Rạch Giá 128
km, cách biển khoảng 100 km theo đường sông Hậu Cần Thơ có tọa độ địa lý 105013’38” - 105050’35” kinh độ Đông và 9055’08” - 10019’38” vĩ độ Bắc, trải dài trên 55 km dọc bờ Tây sông Hậu Phía bắc giáp tỉnh An Giang, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long, phía tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp tỉnh Hậu Giang
Diện tích nội thành là 53 km² Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích tự nhiên là 1.409,0 km², chiếm 3,49% diện tích toàn vùng, dân số trung bình vào khoảng 1.214.100 người, trong đó dân số thành thị khoảng 791.800 người, dân
số nông thôn khoảng 408.900 người, hơn 50% dân số dang trong độ tuổi lao động (năm 2011 đạt 690.700 người), mật độ dân số là 862 người/km² Dân số nam trung bình đạt 603.700 người và nữ trung bình đạt 610.400 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 7,1% (Theo thống kê Dân số và lao động của Tổng cục Thống kê Việt Nam 2012)
3.2 THỰC TRẠNG CÁC CÔNG VIÊN Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.2.1 Tình hình chung tại các công viên
Ô nhiễm môi trường do khói, bụi, tiếng ồn ngày một tăng theo quá trình đô thị hóa của TP Cần Thơ Sức khỏe, chất lượng sống của người dân khu vực đô thị cũng ít nhiều bị ảnh hưởng từ quá trình trên Việc xây dựng, bảo vệ và phát triển mạng lưới công viên, cây xanh đang được TP Cần Thơ đặc biệt quan tâm nhằm góp phần tạo môi trường sống trong lành, xây dựng
đô thị xanh, thân thiện môi trường
Theo Sở Xây dựng TP Cần Thơ, tại khu vực trung tâm thành phố hiện
có các công viên như công viên Ninh Kiều, công viên Lưu Hữu Phước, công viên tháp biểu tượng tại vòng xoay cồn Cái Khế, công viên Tao Đàn, công viên Đồ Chiểu góp phần tạo địa điểm sinh hoạt ngoài trời, đáp ứng nhu cầu thư giãn, vui chơi, tập luyện thể dục thể thao của người dân Đồng thời một số công viên còn là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa - xã hội, nhất là vào các dịp lễ, Tết trong năm Ngoài các công viên hiện hữu, trên địa bàn còn có các khu trồng cây xanh gắn với các công trình di sản văn hóa, lịch sử như tượng đài Bác Hồ ở bến Ninh Kiều, Bảo tàng thành phố, Bảo tàng Quân khu 9, Đình Bình Thủy, chùa Khánh Quang, mộ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, Cây xanh còn gắn liền với các không gian mở (công viên Sông Hậu, cồn Cái Khế, cồn Khương, cồn Ấu, cồn Sơn, cù lao Tân Lộc, Vườn cò Bằng Lăng, ); các khu
Trang 32dịch vụ, vui chơi giải trí; các khu dân cư và trên các tuyến đường trên địa bàn thành phố
Ninh Kiều là quận trung tâm thành phố, mật độ dân cư đông đúc, cây xanh chủ yếu chỉ tập trung tại các công viên và các tuyến đường trên địa bàn
Vì vậy, công tác chăm sóc, duy tu bảo dưỡng công viên, cây xanh được quận quan tâm thường xuyên Xí nghiệp Công viên cây xanh là đơn vị được Phòng Quản lý đô thị quận Ninh Kiều ký hợp đồng thuê chăm sóc cây xanh-hoa kiểng trong công viên, vỉa hè, tiểu đảo thuộc nội ô quận Ninh Kiều Hàng tháng đơn vị thực hiện các công tác này theo lịch và yêu cầu của đơn vị chủ quản Đối với các cây xanh trên các vỉa hè tuyến đường trong nội ô quận Ninh Kiều, đến mùa giông bão, các nhân viên của xí nghiệp thường xuyên đi kiểm tra cây xanh có nguy cơ đổ ngã, tét nhánh để có biện pháp xử lý
Theo báo cáo kinh tế - kỹ thuật, những hạng mục cũ như gờ bó vỉa hè
cũ đã bị lún, nứt, hư hỏng sẽ được phá bỏ để xây mới Vỉa hè, bồn bông, ghế
đá cây xanh cũng được làm mới, san lấp, nâng cao trình công viên lên +2,2m, gắn thêm dụng cụ thể thao để đáp ứng nhu cầu rèn luyện thể dục thể thao của người dân Các bồn bông được ốp gốm cô tô đỏ, lối đi lát bằng gạch con sâu
để tạo vẻ mỹ quan Nguồn vốn đầu tư được lấy từ vốn kiến thiết thị chính quận Ninh Kiều cho biết quận đang tiến hành cải tạo, sửa chữa công viên Đồ Chiểu (cặp bên UBND TP Cần Thơ) sau một thời gian dài để xuống cấp, không thu hút được nhiều người đến công viên Được biết việc cải tạo công viên nhằm chỉnh trang đô thị, phục vụ nhu cầu vui chơi, sinh hoạt giải trí của nhân dân Tổng mức đầu tư cải tạo trên 1,2 tỉ đồng cho dự án cải tạo công viên Đồ Chiểu
Các công viên hiện nay đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng,
cơ sở vật chất như ghế đá bị hư hỏng, vỉa hè bị sụt lún nghiêm trọng, các khu vực hành lang, hàng rào bám đầy rong rêu gây trơn trượt và làm mất mỹ quan của công viên
3.2.2 Thực trạng tại Công viên Tao Đàn
3.2.2.1 Cơ sở vật chất và hoạt động
a) Cơ sở vật chất
Là một trong những công viên tồn tại lâu đời của Cần Thơ, Tao Đàn là công viên thuộc phường Tân An quận Ninh Kiều Thành phố Cần Thơ, tiếp giáp 3 tuyến đường là đường Trần Quốc Toản, Phan Đình Phùng và Đại lộ Hòa Bình, đối diện Bảo tàng thành phố, Bưu điên thành phố, Ngân hàng Agribank và thư viện thành phố, có một vị trí thuận lợi nhưng nằm khá xa các khu dân cư và diện tích công viên còn hạn chế vào khoảng 1500m2 nên thường không thu hút được người dân
Tại đây, công viên được trang bị khoảng 50-60 băng ghế đá chủ yếu tập trung dọc theo các hành làng, lề đường của công viên thuận tiện cho những người đi đường ghé qua để nghĩ ngơi, ngắm cảnh đường phố, xe cộ qua lại Về phương diện vệ sinh, nơi đây được bố trí 5-7 thùng rác, tuy nhiên một số thùng rác đã quá cũ kĩ, nứt, bể làm mất mỹ quan, chẳng những vậy tại đây có một đài phun nước nhưng đã ngừng sử dụng, mặt hồ bám rong rêu không được cọ rửa rất mất vệ sinh, mặt đường bị nứt và bám đầy rong rêu gây trơn trượt gây nguy hiểm cho người sử dụng, vào những ngày mưa những cái hố trên mặt đường
Trang 33khiến cho nước bị ứ đọng tạo nơi cư trú, sinh sôi nảy nở của các loại côn trùng như muỗi, chuột, gián gây mất vệ sinh công viên và nguy hại cho môi trường Mặt khác tại đây không có đội ngủ bảo vệ, không có bãi giữ xe nên người dân đến đây chạy vào công viên mà không bị nhắc nhở và phải tự xe cũng như các vật dụng cá nhân của mình Tuy vậy, nhưng vì công viên tiếp giáp mặt đường và hệ thống chiếu sáng hợp lí nên ít diễn ra các hành vi, hoạt động gây mất trật tự, ảnh hưởng đến xã hội
Tuy là một công viên ngay trung tâm thành phố nhưng dường như vẫn chưa được chú ý và đầu tư đúng mực, nơi đây không có chốt bảo vệ, nhân viên
vệ sinh thu gom và quét dọn rác vào mỗi buổi chiều, không có nhân viên chăm sóc, cắt tỉa cây cảnh, cây cối mọc um tùm, một số cành cây bị khô héo rất dễ gãy lại không được cắt, tỉa, quét dọn có thể sẽ rơi trúng vào người dân, rất nguy hiểm nên nơi đây không phải là địa điểm lý tưởng thu hút người dân đến tham quan
b) Hoạt động tại công viên
Nơi đây được trang bị một tháp đồng hồ lớn ngân vang vào các giờ cố định tô điểm thêm nét đẹp cho thành phố Ngoài ra, hệ thống cây xanh được trồng bao phủ rộng , mật độ cây xanh nhiều và đa phần là các loại cây kiểng như: hoa giấy, cau kiểng, cọ kiểng, Và các tuyến đường nhỏ tiếp giáp với công viên vào dịp Tết thường được trang trí đèn lồng với đầy màu sắc tạo khung cảnh đẹp, là nơi tập trung của các Ông đồ viết chữ thư pháp với những lời văn, câu đối rất ý nghĩa, nơi đây còn là nơi lí tưởng để thư giản ngắm nhìn đường hoa nghệ thuật với ánh đèn tạo hình bắt mắt, ngắm nhìn đường phố, xe
cộ qua lại, nghỉ ngơi sau những giờ làm việc vất vả, mệt mỏi
3.2.2.2 Thuận lợi và khó khăn tại công viên
a) Thuận lợi
Công viên có vị trí địa lí thuận lợi ngay trung tâm, tiếp giáp các tuyến đường chính của Thành phố, đây là địa điểm thuận lợi để thực hiện các hoạt động quảng cáo, tuyên truyền bằng băng rôn, biểu ngữ
Chẳng những vậy mật độ bao phủ câu xanh cao, không gian thoáng mát, gần gũi với thiên nhiên, là nơi thích hợp diễn ra các hoạt động chơi chim, đánh cờ,…
Số lượng ghế đa tương đối nhiều, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân Ngoài ra, công viên được xây dựng cao hơn mặt đường khoảng 50-70cm nên vào các mùa nước lũ công viên vẫn khô ráo, sạch sẽ
Người dân đến đây chủ yếu bằng xe máy nhưng lại không có bãi gửi
xe, cơ sở vật chất đã xuống cấp, chậu hoa, bồn cây sức mẻ làm mất đi nét đẹp của công viên
Trang 343.2.3 Thực trạng tại Công viên Đồ Chiểu
3.2.3.1 Cơ sở vật chất và hoạt động
a) Cơ sở vật chất
Là một công viên nằm trong trung tâm thành phố, công viên Đồ Chiểu thuộc phường An Hội quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ Có vị trí địa lí thuận lợi tiếp giáp ba con đường: Nguyễn Đình Chiểu, đường Ngô Hữu Hạnh
và đại lộ Hòa Bình và cũng là nơi tiếp giáp giữa đại lộ này với đường Nguyễn Trãi, đối diện với công viên là cầu Ninh Kiều, và Ủy ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ
Trước đây, bề mặt khuôn viên vị sụt lún, xuống cấp nghiêm trọng Từ cuối năm 2012 công viên đã được xây dựng và cải tạo, hiên nay công viên với cơ
sở vật chất còn mới, sạch sẽ, thoáng mát, có bảo vệ canh giữ hằng ngày khiến cho người dân khi đến đây cảm thấy yên tâm hơn
Vì diện tích công viên khá nhỏ vào khoảng 1000m2 với các thiết chỗ ngồi được xây vào hành lang, các khu vực cây kiểng, thảm cỏ cũng thu hẹp lại tiết kiệm diện tích Ngoài ra, nơi đâycòn được lắp mới khoảng 12 máy tập thể dục phục vụ cho người dân, tạo nên một môi trường sống lành mạnh Đây là một nét mới của công viên rất được người dân ủng hộ Tuy vậy số lượng máy tập còn chưa nhiều, chưa đáp ứng được hết nhu cầu của người dân nơi đây
Công viên nằm gần khu chung cư, trường học, nên nơi đây cũng là nơi tập thể dục lí tưởng của người dân, là nơi nghĩ ngơi của học sinh sau những giờ học căng thẳng
Nơi đây có những quy định về công viên nơi đây như để biển cấm xe chạy vào công viên nhưng lại không có bãi giữ xe nên sự yên tâm của người dân về
độ an toàn chưa cao, người dân phải tự giữ xe của mình gây hạn chế trong việc tạo cảm giác an toàn, thoải mái cho người dân Nơi này có mật độ phủ xanh tương đối nhiều, có hàng cây to, lớn trồng dọc theo lối đi mang lại môi trường trong lành, mát mẻ cho người dân
b) Hoạt động:
Vì diện tích nhỏ hẹp nên nơi đây rất hiếm khi diễn ra các hoạt động của thành phố, chủ yếu là các hoạt động tập thể dục thể thao, các câu lạc bộ dưỡng sinh, các hoạt động nghỉ ngơi thư giản, nơi vui đùa của trẻ em tại các khu nhà
Trang 353.2.4 Thực trạng công viên Văn hóa Miền Tây
3.2.4.1 Cơ sở vật chất và hoạt động
a) Cơ sở vật chất:
Công viên Văn hóa Miền Tây là công viên có diện tích rất lớn 180.000m2
nằm trên hai tuyến đường Nguyễn Đệ và Cách Mạng tháng Tám thuộc phường
An Thới quận Bình Thủy thành phố Cần Thơ
Trước đây, công viên được đánh giá là một công viên có cảnh quan thiên nhiên đẹp và thân thiện với môi trường, có cây xanh, ao hồ và các công trình nhân tạo đồ sộ, là nơi tập trung vui chơi, tổ chức các sự kiện lớn, các chương trình nghệ thuật, biểu diễn xiếc của thành phố…Tuy nhiên, các năm trở lại đây công viên ít được sử dụng, mặt bằng công viên dường như được tận dụng để cho thuê nhà kho, nhà hàng,… của các công ty khác Công viên hiện nay bắt đầu khai thác khu vui chơi dành cho trẻ em với số lượng thiết bị máy móc trò chơi khá đa dạng Kế bên khu vui chơi là hồ nước nhân tạo khá lớn, giúp cảnh quan trở nên trong lành, mát mẻ hơn, hệ thống công viên dọc hồ nước để câu
cá và ngắm cảnh, uống cà phê rất lí tưởng và được người dân ưu chuộm
Tại đây, tình trạng chiếm dụng, sử dụng đất công viên không đúng mục đích như tổ chức nhà hàng ăn uống, kinh doanh mua bán hàng hóa, làm trụ sở
cơ quan, đơn vị, nơi cư trú của hộ dân, vẫn còn tồn tại
Tuy là một công viên lớn, nhưng hiện tượng xe chạy vào công viên, bãi giữ xe không đáp ứng được nhu cầu của người dân còn khó nhiều bất cập Dịch vụ vui chơi giải trí khá đa dạng nhưng các dịch vụ hỗ trợ như ăn uống, vệ sinh, vẫn chưa được cung ứng tốt, còn nhỏ lẻ, thiếu tập trung cũng như sự đảm bảo về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm chưa được quan tâm đúng mức
Bên cạnh đó, hệ thống chiếu sáng tại khu trò chơi khá tốt nhưng còn những góc khuất trong công viên gây nên tình trạng “cà phê đèn mờ” gây tình trạng không thoải mái khi người dân dẫn con em đến đây vui chơi Hiện nay, công viên đã có dấu hiệu xuống cấp
b) Hoạt động
Diện tích công viên khá rộng lớn nhưng hầu hết đều được tận dụng, không
có quãng trường để tổ chức các sự kiện, hoạt động Công viên là nơi diễn ra các hoạt động vui chơi giải trí khá lớn của thành phố, là nơi thu hút người dân với các hoạt động thể dục, thể thao nâng cao sức khỏe
3.2.4.1 Thuận lợi và khó khăn
Là một dạng công viên đóng,, có hàng rào bảo vệ, có đội ngủ bảo vệ và dọn dẹp vệ sinh ngay trong công viên, đem lại cảm giác thoải mái, an toàn cho người dân khi đến đây vui chơi, học tập
Trang 36b) Khó khăn
Các dịch vụ còn rời rạc, không mang tính chất tập trung và quy mô còn hạn chế khiến người dân không gặp thuận lợi trong việc di chuyển cũng như không đáp ứng được nhu cầu của họ
Công viên thiếu các dãy ghế đá, thùng rác, bãi giữ xe và nhà vệ sinh cho người dân, khiến cho các nhu cầu của họ gặp nhiều cản trở, không mang lại cảm giác thoải mái khi tham gia các hoạt động tại đây
Công viên khá rộng lớn nhưng không có bảng chỉ dẫn rõ ràng, thiếu ánh sáng và mật độ cây xanh còn hạn chế
Công viên có diện tích rộng nhưng hầu như được tận dụng để kinh doanh các dịch vụ, không có quảng trường rộng lớn để tổ chức các sự kiện, hoạt động cho người dân nơi đây
Tóm tắt chương 3
Trong chương này, tác giả chủ yếu giới thiệu về các công viên và nêu lên thực trạng hiện có tại đây Nhìn chung, các công viên đều có những mặt mạnh và hạn chế của mình, đều giúp thành phố có thêm nét đẹp, là nơi vui chơi, nghĩ ngơi của người dân Tuy nhiên, về cơ sở vật chất cũng như chất lượng của các công viên còn thấp, một số công viên đã xuống cấp nghiêm trọng cần được tu bổ, sửa chữa Ba công viên với các diện tích khác nhau nhưng đều không có quãng trường và rất ít khi tổ chức các hoạt động và sự kiện cho người dân Nhìn chung, các công viên có chất lượng còn thấp không theo kịp với tốc độ phát triển của đô thị hiện nay
Chương tiếp theo, bài nghiên cứu sẽ trình bày các kết quả, ý kiến của người dân về các dịch vụ, chất lượng tại ba công viên Văn hóa Miền tây, Tao Đàn và Đồ Chiểu
Trang 37CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ CÔNG VIÊN CỦA NGƯỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
4.1.1 Thông tin chung về mẫu nghiên cứu
Cuộc khảo sát trên bảng câu hỏi chính thức được thực hiện trong giai đoạn tháng 08 đến tháng 11 năm 2014 Kết quả khảo sát thu về như sau: tổng số quan sát được phỏng vấn là 120 (90 quan sát đã từng sử dụng công viên và 30 quan sát hiếm khi, ít khi sử dụng công viên) Tổng số quan sát thu về là 120, sau khi làm sạch dữ liệu lọc bỏ những quan sát không hợp lệ, số quan sát cuối cùng được sử dụng để phân tích dữ liệu là 105 Trong đó có 80 quan sát đã từng sử dụng dịch vụ công viên bao gồm 43 quan sát tại công viên Văn hóa Miền Tây, 16 quan sát tại công viên Tao Đàn và 21 quan sát tại công viên Đồ Chiểu cùng với 25 quan sát hiếm khi sử dụng công viên Tỉ lệ quan sát đã sử dụng công viên là 88,89% và tỉ lệ quan sát chưa sử dụng là 83,33%, đạt tỉ lệ cao và mang tính đại diện, có thể tiếp tục tiến hành phân tích
Về giới tính: Trong tổng số 80 đáp viên được phỏng vấn có 38 đáp viên
là nữ (chiếm 47,5%) và 42 đáp viên là nam (chiếm 52,5%) Tỷ lệ đáp viên nam cao hơn tỷ lệ đáp viên nữ là 5% Nhìn chung độ chênh lệch không đáng
kể, tạo điều kiện thuận lợi cho những phân tích và kết luận trong bài nghiên cứu có ý nghĩa chung giữa hai nhóm nam và nữ
Về độ tuổi: Trong quá trình phỏng vấn, đáp viên được yêu cầu trả lời
tuổi chính xác của mình Trong đó, độ tuổi nhỏ nhất được phỏng vấn là 18 tuổi
và độ tuổi cao nhất là 60 tuổi Nhưng để dễ dàng trong việc phân tích dữ liệu, tác giả chia tuổi của đáp viên thành 4 nhóm và kết quả thống kê được thể hiện như sau: nhóm tuổi của đáp viên có độ tuổi từ 26 đến 40 chiếm tỉ lệ cao nhất 42,5%, kế đó là nhóm từ 25 tuổi trở xuống chiếm tỉ lệ 41,2%, cuối cùng độ tuổi trên 40 chiếm tỉ lệ thấp nhất là 16,2% Từ thống kê trên ta thấy không có
sự khác biệt cao giữa hai nhóm tuổi từ 26 đến 40 và tuổi từ 25 tuổi trở xuống chỉ chênh lệch 1,3% Có thể nhận thấy được ở tuổi thanh- thiếu niên thường năng động, hoạt bát, thích các hoạt động giải trí cộng đồng nên nhu cầu tham gia các hoạt động giải trí, họ thường sử dụng công viên như là một nơi để gặp
gỡ bạn bè, tham gia các dịch vụ trò chơi cảm giác mạnh, giải tỏa căng thẳng Ngoài ra, ở độ tuổi từ 26 đến dưới 40 thường là độ tuổi có nghề nghiệp, thu nhập và gia đình ổn định, thường có con nhỏ, họ sẽ dành các khoảng thời gian trong ngày để dẫn gia đình và con cái đến công viên để vui chơi, vận động Nên tỉ lệ của hai nhóm này thuộc mức cao nhất
Về trình độ học vấn: Đáp viên trả lời trình độ học vấn mà họ đã hoặc
đang hoàn thành chương trình học của mình, sau khi thống kê, tác giả chia thành 3 nhóm chính để phân tích, và có được kết quả thống kê như sau: đáp viên có trình độ dưới phổ thông hoặc đã hoàn thành THPT chiếm tỷ lệ 33,8%; trình độ Trung cấp, Cao đẳng chiếm 10% và nhóm trình độ Đại học, sau Đại học chiếm 56,2% Dễ dàng nhận thấy sự khác biệt lớn trong trình độ học vấn,
tỉ lệ Trung cấp, Cao đẳng chiếm tỉ lệ thấp nhất thua nhóm trình độ tốt nghiệp
Trang 38THPT trở xuống, điều này cho thấy một phần là do tỉ lệ đến công viên thuộc
độ tuổi trẻ, nguyên nhân thứ hai là do từ thời chiến tranh, đất nước còn nghèo khổ, mức trình độ học thức chưa được nâng cao, mọi người chủ yếu chỉ hoàn thành mức THPT là đi làm, kiếm tiền và các mẫu phỏng vấn khi được hỏi đa phần là công nhân, viên chức và chủ yếu thuộc mức trung bình Nhưng tỉ lệ Đại học và sau Đại học chiếm tỉ lệ cao nhất hơn phân nữa mẫu phỏng vấn, điều này cũng thể hiện sự cầu tiến và sự phát triển của xã hôi, con người ngày càng nâng cao trình độ để có cuộc sống tốt hơn
Về tình trạng hôn nhân: Tỷ lệ đáp viên đã kết hôn chiếm tỷ lệ 48,8% và
có 2,5% ở tình trạng ly hôn; để thuận tiện cho việc phân tích, tác giả sẽ gom 2 nhóm này thành nhóm đã kết hôn chiếm 51,2% và viên còn độc thân chiếm 48,8% Sự chênh lệch này không đáng kể vì tất cả các đáp viên cho dù có gia đình hay còn độc thân đều có nhu cầu đến công viên với nhiều mục đích khác nhau
Về nghề nghiệp của đáp viên: tác giả đã chia nghề nghiệp thành 4 nhóm
cơ bản: học sinh, sinh viên; công nhân, viên chức; kinh doanh, buôn bán; khác Trong đó, nhóm Công nhân, viên chức chiếm tỉ lệ cao nhất 37,5% đây là nhóm
có thu nhập ổn định, có thời gian nghỉ nhất định trong ngày, họ có thể chủ động sắp xếp thời gian cho các hoạt động nghỉ ngơi của mình cũng như có thời gian cùng gia đình thư giản ở công viên sau giờ làm việc; ở độ tuổi này cũng
là độ tuổi lập gia đình, nên họ thường đến công viên để đi dạo, trò chuyện và vui chơi với bạn bè, người thân cũng như tập luyện thể dục thường xuyên để
có thân hình đẹp; kế đó là nhóm học sinh, sinh viên chiếm 31,2% đây là nhóm năng động, thích chơi trò chơi cảm giác mạnh, trò chơi mạo hiểm và tham gia các hoạt động ngoài trời, họ đến công viên không chỉ để thư giản mà còn học hỏi các hoạt động, bộ môn thể thao khác, vui chơi, nói chuyện với bạn bè cũng như làm quen thêm những người bạn mới; nghề nghiệp kinh doanh, buôn bán chiếm tỉ lệ thấp nhất 15% vì hầu như họ luôn bận rộn với công việc hằng ngày của mình, họ rất khó thoát ra khỏi công việc, không chủ động trong việc dành thời gian vui chơi, đa phần họ đều tận dụng những khoảng thời gian rãnh rỗi hiếm hoi trong ngày cho gia đình, khoảng thời gian họ dành cho việc đến công viên vui chơi dường như rất thấp; và các đáp viên chọn nghề nghiệp khác chiếm 16,2%
- Về số trẻ em trong gia đình: Nhóm đáp viên độc thân chiếm phần lớn
kéo theo việc số mẫu không có trẻ em trong gia đình có tỉ lệ cao nhất 45%, tiếp đó là nhóm đáp viên có một trẻ em trong gia đình chiếm 26,2%; nhóm đáp viên có 2 trẻ em chiếm 20% và cuối cùng là trên 2 trẻ chiếm 8,8% Từ kết quả thực tế cho thấy, công viên thường là nơi vui chơ cho nhiều lứa tuổi, là nơi để các gia đình dẫn con em đi chơi ta nên có những kế hoạch cho nhiều loại trò chơi khác nhau phù hợp hướng đến từng nhóm người, những nhóm đáp viên dẫn con nhỏ đi chơi cùng sẽ đòi hỏi các trò chơi nhẹ nhàng như cầu tuột, câu
cá, bập bênh,… và sẽ rất thu hút nếu có thêm các không gian cho mẹ và bé, có khu vực kể chuyện cổ tích, chiếu phim hoạt hình hay những màn kịch thiếu nhi dành cho các bé Ngoài ra, ở nhóm người độc thân và ở lứa tuổi thanh thiếu niên thì họ thích các hoạt động năng động, các trò chơi cảm giác mạnh, các món ăn vặt cũng như các loại nước giải khát đa dạng,… nên tùy thuộc vào
Trang 39chức năng của công viên để xây dựng, phát triển cho các nhu cầu thích hợp
của khách hàng
Về thu nhập của đáp viên: Trong quá trình điều tra tác giả đã xin được
biết mức thu nhập hiện tại của đáp viên, vì đây là một vấn đề nhạy cảm nên
trong tổng số 80 quan sát điều tra, chỉ nhận được 58 quan sát trả lời ở mục này
chiếm 72,5% Từ các kết quả nhận được, tác giả chia các khoảng thu nhập ra
thành 4 nhóm và kết quả được tính toán tỉ lệ dựa trên tổng số 58 quan sát
Trong đó, mức thu nhập có tỉ lệ cao nhất chiếm 32,8% là từ trên 2 triệu
đồng/tháng đến 4 triệu đồng/tháng; Mức thu nhập từ 2 triệu đồng/tháng trở
xuống và mức thu nhập từ trên 4 triệu đồng/tháng đến 6 triệu đồng/tháng cùng
chiếm 25,9% và cuối cùng là nhóm thu nhập trên 6 triệu chiếm 15,5%
Nguồn: Kết quả khảo sát, 2014
Hình 4.1 thu nhập của đáp viên (triệu đồng/tháng)
Về thời gian rỗi của đáp viên (giờ/ngày): nhóm đáp viên rảnh khoảng
4giờ/ngày trở xuống hơn phân nữa quan sát phỏng vấn chiếm 51,2% tương
ứng với nghề nghiệp của đáp viên công nhân, viên chức là nhóm đối tượng
làm việc theo giờ hành chánh, thường có thời gian rãnh rỗi nhất định trong
ngày, đây là nhóm đáp viên chủ động hơn cho việc quyết định tham gia vào
các hoạt động ngoài trời tại công viên Chiếm 30% là nhóm đáp viên rảnh từ
trên 4 giờ đến 6 giờ trong ngày có thể phần lớn đây là nhóm học sinh, sinh
viên, nhóm đối tượng này thường có nhiều thời gian rảnh trong ngày hơn, khi
không có tiết học ở lớp, họ có thể tụ họp bạn bè để trò chuyện hoặc học nhóm,
công viên có thể là nơi lý tưởng cho các hoặt động này nếu có những vật chất
thích hợp được hỗ trợ như bàn, ghế, mái che và không gian yên tĩnh Cuối
cùng nhóm đáp viên rảnh trên 8giờ/ngày chiếm 16,2% còn lại nhóm đáp viên
rảnh từ 6giờ/ngày đến 8giờ/ngày tiếng chiếm 2,5% đây là nhóm đáp viên có
Trang 40công việc tự do, không ràng buộc về thời gian như nội trợ, tự kinh doanh nhỏ
lẻ, công việc bán thời gian, không cố định…
Về khoảng cách (vị trí địa lý): chiếm tỉ lệ cao nhất 40% thuộc về nhóm
đáp viên có nhà ở cách công viên từ 500m đến 2000m, đứng thứ hai với 28,8%
là nhóm đáp viên có nhà ở cách công viên trên 3500m điều này cho thấy tỉ lệ thiếu vắng công viên ở Cần Thơ khá cao, dù nhà khá xa công viên họ vẫn không ngại đường xa tìm đến đây, trong điều tra, tác giả có nghiên cứu một công viên với các trò chơi giải đa dạng và hiện tại trong trung tâm thành phố chỉ có 2 công viên tư nhân nhỏ lẻ với rất ít các trò chơi vì thế, để vui chơi các trò như: đu quay, tàu lượn, thú nhún, nhà hơi,… thì người dân phải đi một quãng đường khá xa Với 20% và 11,2% lần lượt là nhóm đáp viên có nhà ở cách công viên từ 500m trở xuống và khoảng cách từ 2000m đến 3500m Khoảng cách địa lí có tác động rất lớn đến việc quyết định lựa chọn công viên của đáp viên, họ sẽ ưu tiên những công viên phù hợp với mục đích sử dụng của họ và có khoảng cách gần chỗ ở nhất để thuận tiện cho việc di chuyển Nếu chúng ta xây dựng những công viên hấp dẫn với những kiến trúc mới lạ cũng như các hoạt động đặc sắc nhưng vị trí địa lí quá xa trung tâm thành phố, tọa lạc ở một vùng hẻo lánh, khó đi lại cũng sẽ gây cản trở tới quyết định đến công viên cũng như hạn chế số lần ghé thăm công viên này