1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ( khảo sát báo đầu tư, báo tuổi trẻ TPHCM, thời báo kinh tế sài gòn, tạp chí tài chính doanh nghiệp

161 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 2,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN ở các nghiên cứu trên là trong giai đoạn thường xuyên, chưa phải đợt cao điểm, cấp bách, toàn diện như hiện nay nhất là khi hàng loạt sai p

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HÀ KHẮC MINH

BÁO CHÍ VỚI QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (Khảo sát Báo Đầu tư, Báo Tuổi trẻ TPHCM, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp,

từ tháng 8/2012 – tháng 8/2013)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HÀ KHẮC MINH

BÁO CHÍ VỚI QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (Khảo sát Báo Đầu tư, Báo Tuổi trẻ TPHCM, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu Các số liệu trong luận văn rõ ràng và trung thực, các kết luận của luận văn này chưa từng được công bố trong các công trình khác

Hà Nội, ngày 14 tháng 4 năm 2015

TÁC GIẢ

Hà Khắc Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Anh Tuấn đã tư vấn, hướng dẫn tôi lựa chọn và thực hiện nghiên cứu đề tài này Đây là một đề tài khó, còn nhiều quan điểm khác nhau nhưng mang tính ứng dụng thực tiễn cao đối với công việc của bản thân Mặc dù chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học, song được sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Anh Tuấn, tôi đã có phương pháp tiếp cận, nghiên cứu và thực hiện đề tài một cách hiệu quả

Xin gửi lời tri ân đến các thầy, cô giáo tại Khoa Báo chí - Truyền thông, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho tôi những kiến thức cơ bản, để bổ sung, hoàn thiện hơn cơ sở lý luận báo chí của mình đang khuyết thiếu, giúp tôi vững vàng hơn về nghiệp vụ, quan trọng hơn là bước đầu hình thành tư duy và kỹ năng nghiên cứu khoa học

Xin được gửi lời cảm ơn đến các nhà hoạch định chính sách, quản lý nhà nước, lãnh đạo báo, các đồng nghiệp đã dành thời gian trao đổi, cung cấp nhiều thông tin quý báu giúp tôi trong quá trình viết luận văn

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn bè

đã luôn ủng hộ, động viên, là động lực giúp tôi hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về báo chí và vai trò báo chí với tái cơ cấu DNNN 12

1.1 Báo chí, thông tin báo chí và giám sát phản biện của báo chí trong sự phát triển kinh tế - xã hội 12

1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về tái cơ cấu DNNN 20

1.3 Vai trò của báo chí với tái cơ cấu DNNN………… 30

Tiểu kết Chương 1 36

Chương 2: Thực trạng thông tin báo chí về tái cơ cấu DNNN 37

2.1 Thực trạng thông tin về tái cơ cấu DNNN trên 4 tờ báo 37

2.2 Thực trạng nội dung thông tin 40

2.3 Thực trạng hình thức thông tin 52

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3: Kiến nghị một số giải pháp nâng chất lượng thông tin về tái cơ cấu DNNN 72

3.1 Đánh giá ưu, nhược điểm công tác thông tin tái cơ cấu DNNN 72

3.2 Nguyên nhân của những hạn chế……… … 85

3.3 Đề xuất một số giải pháp 91

Tiểu kết chương 3 109

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC

Trang 6

Doanh nghiệp nhà nước

Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 - Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng ta

là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân và một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ “tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đạo của nền kinh tế” Việc đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước không thể không bao gồm đổi mới các DNNN – nòng cốt của kinh tế nhà nước TĐKT, TCT

Nhìn tổng thể, vai trò của DNNN nói chung, các TĐKT, TCT nhà nước nói riêng trong thời gian qua là hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các DNNN đã bảo đảm sản xuất, cung ứng các sản phẩm, hàng hoá

và dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, các DNNN vẫn duy trì được hoạt động và có đóng góp quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong nhiều lĩnh vực nhằm ổn định kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội

Tuy vậy, DNNN còn nhiều yếu kém và bất cập

Một là, hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của DNNN còn thấp mặc dù có

nhiều lợi thế về nguồn lực DNNN chiếm khoảng 40% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 70% nguồn vốn ODA và được hưởng nhiều đặc quyền khác Tuy nhiên, hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực này còn thấp, chưa tương xứng với những gì được đầu tư Năm 2011, đóng góp vào GDP của khu vực kinh tế nhà nước chỉ đạt 33,03% trong khi khu vực kinh tế ngoài nhà nước đóng góp tới 48% Bên cạnh đó, việc giám sát nguồn vốn nhà nước, quản trị DN bị buông lỏng

đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, làm lãng phí, thất thoát vốn của Nhà nước Bên cạnh đó, theo số liệu của Bộ Tài chính tính đến cuối năm 2011, tổng số lỗ lũy

kế của riêng các tập đoàn lớn đã lên tới hơn 26.000 tỷ đồng, cao gấp 12 lần so với các DN ngoài quốc doanh và DN có vốn đầu tư nước ngoài, trong số đó có tới gần

Trang 8

1/3 Tập đoàn, Tổng Công ty có tỷ lệ nợ phải trả cao gấp 3 lần vốn chủ sở hữu Cũng theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng dư nợ cho vay DNNN lên trên 415 nghìn tỷ đồng, trong đó tổng nợ của 12 tập đoàn kinh tế lớn đã chiếm đến 52,66% Trong 10 năm qua, tỷ suất lợi nhuận trên tổng nguồn vốn của khu vực DNNN chưa năm nào vượt quá 6%, trong khi các DN FDI luôn duy trì ở mức trên dưới 10%

Hai là, thực trạng tài chính tại một số DNNN rất yếu kém, thua lỗ kéo dài,

tiềm ẩn nguy cơ rủi ro mất cân đối tài chính Việc thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với kinh tế của các DNNN còn hạn chế Nhiều DNNN chưa bắt kịp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường; năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản trị DN còn yếu kém, bất cập Các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp (nông, lâm trường quốc doanh) còn chậm được sắp xếp, đổi mới; và hoạt động của một bộ phận DNNN đã góp phần dẫn đến bất ổn kinh tế vĩ mô

Những con số trên do bắt nguồn từ mô hình phát triển kinh tế chung, DNNN nhất là các TĐKT, TCT nhà nước đã quá thiên về mở rộng quy mô đầu tư, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu nên hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh thấp Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm và của từng TĐKT, TCT, DNNN còn bất cập và yếu kém Việc thực hiện sắp xếp, CPH DNNN còn chậm so với phương án được duyệt Một nguyên nhân nữa là tình trạng nhiều TĐKT, TCT nhà nước đầu tư vào những ngành, lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, phụ thuộc nhiều vào vốn vay hoặc chiếm dụng; tình trạng độc quyền hoặc thống lĩnh thị trường trong một số lĩnh vực làm hạn chế động lực cạnh tranh và phát triển

Ngoài ra, cơ chế, chính sách về quản lý DNNN chưa theo kịp với thực tiễn hoạt động của các TĐKT, TCT; sự hạn chế trong phối hợp giữa các Bộ, Ngành trong quản lý, giám sát DNNN nhất là TĐKT, TCT nhà nước; sự bất cập về mô hình, thể chế quản trị, đội ngũ cán bộ quản lý DN và quản lý nhà nước cũng là những nguyên nhân chủ quan gây ra sự yếu kém của khu vực DNNN Hậu quả là đã

có sự đổ vỡ mà tiêu biểu là Tập đoàn công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin), Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam (Vinalines)

Trang 9

Từ những điểm nêu trên, có thể thấy rõ, việc TCC DNNN là yêu cầu cấp thiết, được xác định là một trong ba nội dung quan trọng của TCC toàn bộ nền kinh tế (cùng với TCC đầu tư công, TCC ngân hàng và các tổ chức tín dụng)

Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) tiếp tục khẳng định DNNN là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, lực lượng vật chất quan trọng, công cụ hỗ trợ để điều tiết nền kinh tế, hạn chế những mặt trái của kinh tế thị trường Vì thế, nhìn rõ những yếu kém, sai lầm, đề ra các phương thức nâng cao tính hiệu quả của DNNN là yêu cầu tất yếu, có tính mấu chốt trong quá trình TCC kinh tế hiện nay

Do TCC DNNN có vai trò to lớn như vậy, nên việc tuyên truyền về TCC DNNN làm sao cho hiệu quả là vô cùng quan trọng Trong đề án TCC DNNN, Chính phủ nêu rõ: Bộ Thông Tin Truyền thông phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, các TĐKT, TCT nhà nước tổ chức thực hiện việc thông tin, tuyên truyền

về TCC DNNN theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việc tuyên truyền đúng góp phần đả thông tư tưởng người quản lý, tạo sự ủng hộ của cán bộ nhân viên trong DN, sự ủng hộ của toàn dân, những người được xem là cổ đông của DNNN (vốn toàn dân, sở hữu toàn dân)

Báo chí cách mạng với vai trò sứ mệnh của mình đã nhập cuộc tuyên truyền, thông tin về TCC DNNN khá đậm nét với tần suất khá cao, hình thức phong phú, đa dạng Từ việc phản ánh những bất cập của cơ chế chính sách đến sai phạm trong quản lý, yếu kém trong điều hành báo chí còn phản ánh tâm tư nguyện vọng của người dân, chuyên gia, và sức ép của các nhà tài trợ quốc tế Bức tranh về TCC DNNN trên báo chí đã trở nên đa sắc màu và sát với chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước Tuy nhiên, điều hành về lĩnh vực DNNN vốn là lĩnh vực khó, nhạy cảm, nên có những vấn đề còn nhiều ý kiến trái chiều, nhiều quan điểm khác nhau cần được cân nhắc kỹ lưỡng để hài hòa lợi ích kinh tế và yếu tố an ninh quốc phòng và an sinh xã hội Có những thông tin cũng đã thấp thoáng việc đòi hỏi thái quá về TCC không đúng chủ trương là “TCC để gọn, nhưng vẫn mạnh, DNNN vẫn phải là nòng cốt của nền kinh tế” Theo đó, có ý kiến đòi tư nhân hóa tất tần tật

Trang 10

Với những lý do đó, bản thân chọn nghiên cứu đề tài “Báo chí với quá trình TCC DNNN” với mong muốn có cái nhìn khái quát, tổng thể thông qua sự khảo sát,

so sánh đối chiếu giữa các tờ báo, giữa các cách thể hiện, giữa thực tế và chủ trương Việc nghiên cứu bao gồm cả việc nhận xét đánh giá và đưa ra khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền chủ trương lớn này

- “Báo chí với công tác sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” của tác giả Đậu Huy Sáu - năm 2004

- “Báo chí với việc phát huy vài trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước”,

Nguyễn Thị Nguyệt Hà - năm 1998;

- “Báo chí với tiến trình đổi mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước” của Lê Thị

- “Báo chí và doanh nghiệp: Gắn bó, hợp tác và chia sẻ”, bài báo khoa học

của TS Phạm Tất Thắng đăng ngày 21/10/2014 trên Tạp chí Cộng sản

Các nghiên cứu này khá thành công trong việc khẳng định những đóng góp của báo chí đối với nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền về chính sách của Đảng, pháp

Trang 11

luật của Nhà nước về đổi mới phát triển DNNN ở thời điểm nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ mới ở cấp khóa luận, nên chưa thực sự chuyên sâu Việc đánh giá nhận xét và đề xuất giải pháp chủ yếu dừng lại đối với báo in lúc bấy giờ, chưa đặt trong môi trường truyền thông hội tụ và có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các loại hình báo chí khác nhau, cũng như sự vào cuộc của mạng xã hội Do hoàn cảnh khác nhau nên việc đánh giá và kiến nghị giải pháp với các luận văn không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại

Mặt khác, những khóa luận trên chủ yếu được thực hiện từ những năm 2003

về trước (khi Luật DNNN chưa ra đời, nay luật này đã hết hiệu lực tháng 7/2010) Như vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động DNNN ở các nghiên cứu trên là trong giai đoạn thường xuyên, chưa phải đợt cao điểm, cấp bách, toàn diện như hiện nay nhất là khi hàng loạt sai phạm, đổ vỡ của các DNNN thời gian qua…; Chủ trương TCC DNNN còn nóng hổi, trở thành mối quan tâm của toàn dân và các nhà tài trợ nước ngoài… Chủ trương này cần được theo dõi, giám sát, phản biện từng ngày, từng giai đoạn và đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, xuất hiện một số quan điểm trái chiều: đòi bán toàn bộ DNNN, không xem kinh tế nhà nước là chủ đạo, vấn đề độc quyền nhà nước hay độc quyền DN…

Ở cấp luận văn, gần đây có 02 nghiên cứu:

- “Báo chí ngành tài chính với vấn đề TCC DNNN” – Đậu Huy Sáu (2013);

Đây là luận văn có đề tài gần nhất với đề tài của bản thân nhất Nhưng do nghiên cứu này được bảo vệ sau thời điểm bản thân được hội đồng thông qua quyết định công nhận đề tài nghiên cứu nên thời điểm đó, bản thân không biết đã có nghiên cứu về vấn đề này Trong quá trình nghiên cứu, bản thân đã tìm được những điểm khác biệt như sau:

Thứ nhất, về đối tượng khảo sát: Chỉ bị trùng 01 tờ TC TCDN 03 tờ báo còn lại có

01 tờ chính trị - xã hội đại chúng hơn là tờ Tuổi trẻ TP HCM, nhằm tìm kiếm những thông tin được “đại chúng hóa” một vấn đề vốn rất khô khan, vĩ mô, chuyên sâu mặt khác kỳ vọng vào tính chiến đấu của tờ báo này ở dạng phóng sự điều tra TBKTSG cũng chuyên sâu hơn về kinh tế và BĐT vốn có lợi thế hơn khi cơ quan

Trang 12

chủ quản – Bộ Kế hoạch Đầu tư được giao nhiệm vụ nghiên cứu Đề án TCC tổng thể nền kinh tế (trong đó có TCC DNNN) và xây dựng nhiều cơ chế chính sách về DNNN

Thứ hai, về lý luận: Bản thân đã cắt nghĩa cụ thể hơn, đầy đủ hơn về các khái niệm

về TCC DNNN và bổ sung thêm phần giám sát, PBXH trên báo để làm cơ sở nghiên cứu, đánh giá thông tin về lĩnh vực được xem là có nhiều lỗ hổng, dễ thất thoát, sai phạm này

Thứ ba, về kết quả nghiên cứu của đề tài, khi nghiên cứu đánh giá thông tin, bản

thân đi vào một số vấn đề nóng bỏng, vướng mắc nhất làm ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo chí về TCC DNNN đó là: Thiếu thông tin (vốn được xem

là vấn đề cơ bản cốt lõi ảnh hưởng đến hoạt động của DNNN và khó khăn cho hoạt động báo chí); Phản ánh mặt trái nhiều, mặt ưu điểm ít; Thông tin thể hiện sự nóng vội thái quá, chệnh trọng tâm; thiếu thông tin hấp dẫn Đây là những điều khác biệt với luận văn của Đậu Huy Sáu

- “Vấn đề TCC nền kinh tế trên báo chí kinh tế Việt Nam” - Lê Phương Vân

(năm 2014);

Luận văn này được bảo vệ khi công trình nghiên cứu của bản thân đã gần hoàn thiện Điểm khác biệt là: Vấn đề TCC nền kinh tế rộng hơn gồm: TCC Đầu tư công; TCC ngân hàng và các tổ chức tín dụng; TCC DNNN Do vậy, nghiên cứu này có

bề rộng hơn song thiếu chiều sơn so với luận văn tác giả 03 vấn đề trong Đề án TCC tổng thể nền kinh tế cũng có nhiều điểm khác nhau, do vậy nghiên cứu đánh giá thông tin giữa hai luận văn cũng khác nhau Kết quả nghiên cứu của Luận văn này cũng chưa đề cập đến các vấn mà bản thân đã nêu ra ở trên là thiếu thông tin, nóng vội chệch chuẩn; thiếu thông tin hấp dẫn và nêu ưu điểm quá ít so với nhược điểm

Như vậy, nghiên cứu của bản thân không bị trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào ở Việt Nam đến thời điểm hiện tại

Ngoài báo chí học, cũng có khá nhiều nghiên cứu dưới các góc độ kinh tế học:

Trang 13

- Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012, Từ bất ổn vĩ mô đến con đường TCC, Ủy ban Kinh tế Quốc hội, Nxb Tri thức, 2012;

- Cuốn Kinh tế Việt Nam năm 2012: Khởi động mạnh mẽ quá trình TCC nền kinh tế, Ủy ban Kinh tế Quốc hội, Viện KHXHVN, VCCI, UNDP, tháng 5/2012;

- Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Tập đoàn kinh tế - Lý luận và thực tiễn” do Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật tổ chức ngày 25/5/2009)”

- Kỷ yếu Diễn đàn kinh tế mùa Xuân, mùa Thu 2013, 2014, Ủy ban Kinh tế Quốc hội…

Nghiên cứu của bản thân lần này cập nhật và đánh giá lại tất cả các vấn đề nóng hổi mà báo chí nêu về TCC nền kinh tế nói chung và DNNN nói riêng; đặc biệt trong thời gian gần đây có nhiều sự kiện chấn động toàn quốc đó là: Sau sự đổ

vỡ của Vinashin, Vinalines, báo chí đã đề cập đến hàng loạt vấn đề: Ai là ông chủ thực sự của DNNN? Xảy ra sai phạm ai chịu trách nhiệm? Mô hình nào của DNNN sắp tới là hiệu quả? DNNN có nên được tiếp tục xem là trọng điểm của nền kinh tế của nền kinh tế quốc dân không?

3 Mục đích, nội dung nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài “Báo chí với quá trình TCC DNNN” là nhận diện, phân tích, đánh giá bước đầu thực trạng thông tin, tuyên

truyền về hoạt động tái cấu trúc DNNN trên 4 tờ báo được khảo sát, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của báo chí nói chung và các tờ báo được khảo sát nói riêng, góp phần thực hiện thành công tái cấu trúc DNNN theo tinh thần Nghị Quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội 2011 -2020

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Tác giả làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về TCC DNNN và vai trò, sứ mệnh của báo chí đối với chủ trương và thực tiễn của hoạt động này

Dựa trên khung lý thuyết tại nhiệm vụ nghiên cứu trên và tham vấn ý kiến các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, các phóng viên, biên tập viên theo dõi mảng kinh tế nói chung và TCC DNNN nói riêng, tác giả phân tích, đánh giá thực

Trang 14

trạng về cách thức tổ chức thông tin, nội dung và hình thức thông tin vấn đề TCC DNNN trên 4 tờ báo khảo sát

Qua việc, phân tích, đánh giá trên, tác giả cũng đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin tuyên truyền về triển khai thực hiện TCC DNNN trên báo chí nói chung, các tờ báo được khảo sát nói riêng

4 – Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là: Vấn đề TTC DNNN trên 04 tờ báo: BĐT, BTT, TBKTSG, TCTCDN

- Phạm vi nghiên cứu là nội dung thông tin; cách thức tổ chức thông tin đăng tải trên 4 tờ báo, tạp chí sau: BĐT (Bộ Kế hoạch Đầu tư), BTT TP Hồ Chí Minh (Thành đoàn TP Hồ Chí Minh), TBKTSG (Sở Công Thương TP Hồ Chí Minh), TCTCDN (Cục Tài chính DN, Bộ Tài chính); Chỉ khảo sát báo in, ấn phẩm chính

Việc lựa chọn 04 tờ báo này bởi: BĐT là tờ báo chuyên về kinh tế, thuộc bộ

kinh tế tổng hợp – Bộ Kế hoạch Đầu tư được Chính phủ ủy quyền xây dựng Đề án tổng thể TCC toàn bộ nền kinh tế (Đề án TCC DNNN là một trong ba thành phần của đề án này) Riêng với TCC DNNN, Bộ Kế hoạch Đầu tư cũng tham gia xây

dựng một số cơ chế chính sách, Quyết định, Nghị định cho Chính phủ TCTCDN

thuộc Cục Tài chính DN (Bộ Tài chính) là nơi tác giả đang công tác, do vậy có điều kiện hiểu sâu hơn về Tạp chí thuận lợi trong quá trình nghiên cứu Ngoài ra, Tạp chí thuộc Cục Tài chính DN – Đơn vị được Bộ Tài chính giao chủ trì soạn thảo chính

Đề án TCC DNNN này và các cơ chế chính sách về lĩnh vực DNNN Do vậy, Tạp

chí có thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn tin BTT là tờ báo chính trị xã hội có uy

tín và tia ra hàng đầu tại Việt Nam hiện nay Nhật báo này có thông tin thời sự nóng hổi và được đánh giá dám nói những điều khó nói, đăng những bài phóng sự điều tra về những sai phạm, thất thoát vốn… mà TCC DNNN và một trong những vấn đề

như thế TBKTSG cũng là một tờ báo kinh tế ở phía nam được đánh giá có uy tín

cao trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh Tờ báo kinh tế theo hướng thị trường này gần đây có nhiều bài chuyên gia phân tích sâu sắc về lĩnh vực TCC DNNN

Thời gian khảo sát: Từ tháng 8/2012 đến tháng 8/2013

Trang 15

- Lý do lựa chọn: Ngày 17/7/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 929/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án “TCC DNNN, trọng tâm là TĐKT, TCT nhà nước giai đoạn 2011 -2015” Từ đó đến nay việc nội dung thông tin báo chí tập trung vào

phán ánh, giám sát quá trình thực hiện và đề xuất giải pháp cụ thể

5 –Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp luận:

Đề tài luận văn này được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống lý luận báo chí truyền thông; Chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về TCC DNNN; hệ thống văn bản pháp luật, điều hành của Chính phủ, các bộ ngành trong việc triển khai thực hiện TCC DNNN; định hướng và nội dung thông tin liên quan đến TCC DNNN trên BĐT, BTT, TBKTSG, TCTCDN từ tháng 8/2012 đến hết tháng 8/2013

Phương pháp cụ thể:

+ Nghiên cứu, khảo cứu tài liệu: Để tìm hiểu các khái niệm về vấn đề nghiên cứu trong luận văn và

+ Thống kê, phân tích tài liệu: Thống kê số lượng tin bài, hình họa, biểu đồ

về TCC DNNN trên 04 báo được khảo sát Việc thống kê được căn cứ trên cơ sở lý thuyết về thể loại báo chí để phân chia hợp lý, tạo điều kiện cho việc khái quát hóa + So sánh, đối chiếu: Từ thống kê ở trên, tác giả đã tiến hành so sánh, đối chiếu số lượng, chất lượng thông tin TCC DNNN giữa báo này với báo khác, giữa thể loại này với thế loại khác

+ Phân tích, tổng hợp; nhận xét, đánh giá và khái quát vấn đề: Việc phân tích được dựa vào những con số cụ thể từ đó đánh giá chất lượng thông tin, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và khái quát hóa để luận văn mang tính tổng thể của vấn đề + Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn chuyên gia, các nhà quản lý trong lĩnh vực kinh

tế - tài chính; các lãnh đạo báo, phóng viên, biên tập viên phụ trách lĩnh vực này Cụ thể, tác giả đã phỏng vấn: Ths Nguyễn Duy Long – Trưởng phòng Sắp xếp đổi mới

và Phát triển doanh nghiệp (Cục Tài chính doanh nghiệp- Bộ Tài chính), thành viên ban soạn thảo Đề án TCC DNNN; Ths Đặng Quyết Tiến – Phó Cục trưởng Cục Tài

Trang 16

chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính), Kiêm tổng Biên tập Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, thành viên ban soạn thảo Đề án TCC DNNN; ông Hoàng Tư Giang – Phóng viên Thời báo Kinh tế Sài gòn; ông Bùi Đức Hải – Phó tổng Biên tập Báo Đầu tư; Ths Tạ Thị Thu Hằng – Phóng viên Tạp chí Tài chính doanh nghiệp; Bà Lê Thanh – Phóng viên báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh

Tùy theo điều kiện khách quan, đề tài thực hiện phỏng vấn trực tiếp, gián tiếp (quan email, điện thoại)

6 – Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lý luận:

+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến vai trò của báo chí đối với việc triển khai thực hiện TCC DNNN hiện nay

+ Khái quát lý luận về thông tin tuyên truyền TCC DNNN trên báo chí

+ Cung cấp cơ sở lý luận, khoa học cho những người viết báo chuyên về lĩnh vực kinh tế, tài chính, DN và những người làm quản lý các báo, chuyên mục kinh tế- tài chính, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác định hướng dư luận, góp sức vào thực hiện hiệu quả công tác TCC DNNN và đáp ứng nhu cầu của công chúng

+ Luận văn cũng góp phần làm giàu, phong phú và hoàn thiện thêm lý luận báo chí truyền thông hiện đại (vai trò, chức năng, kinh tế báo chí truyền thông…)

- Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động truyền thông về TCC DNNN trên các tờ báo được khảo sát Do vậy luận văn có thể làm cẩm nang nghề nghiệp cho sinh viên chuyên ngành báo chí học; tài liệu tham khảo cho các phóng viên, biên tập viên, cơ quan báo chí khảo cứu cho việc hoạch định tổ chức thông tin báo chí về công tác TCC DNNN Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu, khảo sát và phân tích, tác giải đã đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin tuyên truyền về TCC DNNN trên các cơ quan báo chí khác

7 – Kết cấu luận văn

Trang 17

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về báo chí và vai trò báo chí với TCC DNNN

Nội dung chương này giải quyết các vấn đề lý luận về TCC DNNN nói chung, một số quan điểm định hướng của Đảng, Nhà nước về vấn đề TCC DNNN và vai trò của báo chí cách mạng Việt Nam, trong đó nhấn mạnh vai trò của báo chí với vấn đề TCC DNNN

Chương 2: Thực trạng thông tin báo chí về TCC DNNN

Chương này trình bày toàn bộ số liệu khảo sát cũng như thuyết minh kết quả khảo sát về nội dung và hình thức chuyển tải thông tin về TCC DNNN trên 04 tờ báo được khảo sát Đây là những dữ liệu quan trọng để đánh giá ưu nhược điểm và

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ VÀ VAI TRÒ BÁO CHÍ

VỚI TCC DNNN

Trang 18

1.1 Báo chí, thông tin báo chí và sự giám sát phản biện của báo chí trong phát triển kinh tế - xã hội

1.1.1 Khái niệm báo chí và thông tin báo chí

Theo giáo trình Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của các tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2004), báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng vào có khả năng quyết định, tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Báo chí là một hiện tượng đặc biệt phổ biến tác động từng ngày, từng giờ vào xã hội Quy mô phạm vi, hình thức hoạt động của báo chí ngày càng mở rộng, thu hút sự quan tâm chú ý của đại bộ phận xã hội, trở thành một phương tiện có sức mạnh được sử dụng vào các mục đích rất khác nhau như: nhân đạo, kinh doanh, kinh tế, chính trị và quân sự, không có một đảng chính trị, một tổ chức lực lượng kinh tế xã hội nào không sử dụng báo chí như một phương tiện thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của mình

Trong xã hội hiện đại, báo chí ngày càng thể hiện vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng Báo chí đã và đang đóng góp hết sức to lớn vào quá trình phát triển kinh tế -

xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hóa và môi trường truyền thông số hiện nay, báo chí và truyền thông nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng Báo chí là loại hình hoạt động thông tin mang tính chính trị - xã hội

Khái niệm “thông tin” được bắt nguồn từ tiếng Latinh informetio, gốc của từ tiếng Anh information Hai ông Philippe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách

“bùng nổ truyền thông” giải thích rằng: Khái niệm này có liên quan đến nét đặt trưng Roma, biểu hiện sự mong muốn giảng dạy, truyền đạt Nó có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình dạng “forme”, thứ hai là, nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự

Trang 19

truyền đạt kiến thức và truyền đạt, đây là tiêu biểu cho sự phát minh của tiếng Latinh Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức

Hiện nay, khi khoa học và công nghệ phát triển đến trình độ cao, trong các lĩnh vực khoa học, thuật ngữ “thông tin” cũng có những cách hiểu khác nhau khi sử dụng đến nó Trong báo chí được dùng để nói về chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu

tả, câu chuyện kể, bằng chứng, chỉ cần nó thể hiện một nhân tố của thực tại

Trong lý luận báo chí, khái niệm “thông tin” cũng đang tồn tại hai cách hiểu: Một là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống Hai

là sự loan báo cho mọi người biết Theo cách hiểu thứ nhất, thông tin thể hiện tính chất khởi đầu, khởi điểm (tương tự với khái niệm hình tượng trong nghệ thuật, hàng hóa trong kinh tế - chính trị…) Đây chính là đặc trưng cơ bản của báo chí nói chung Còn theo cách hiểu thứ hai là sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện có để truyền đạt kết quả sáng tạo của nhà báo ra thế giới xung quanh Như vậy, thì thông tin cũng chính là chức năng của báo chí (theo nghĩa là sử dụng phương tiện kỹ thuật

để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo)

Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thực hiện mục đích của mình Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng Nó

là “dụng cụ làm việc” của nhà báo, với sự giúp đỡ của dụng cụ đó, những công việc

đa dạng và quan trọng được thực hiện Có thể coi những công việc của báo chí như một hệ thống xã hội đặc biệt

Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều cách sử dụng khác nhau Có trường hợp, các nhà báo sử dụng nó để biểu thị tính chất của các thông báo ngắn, không kèm theo lời phân tích, bình luận về một sự kiện mới (như tin văn hay tin ngắn) Trong trường hợp khác, nó được dùng để chỉ tất cả các thể loại được dùng để ghi chép những sự kiện, hiện tượng mới như: tin tức, tường thuật, phỏng vấn… Nhiều khi một tin ngắn cũng được gọi là “thông tin”

Nhưng bất cứ tác phẩm báo chí nào (tin vắn, phim tài liệu, tin của đài phát

thanh…) cũng đều chứa đựng thông tin Tóm lại, “thông tin” là cách gọi truyền

Trang 20

thống trong nghề báo, theo nghĩa chính xác nhất của từ này thì đó là “thông tin sự kiện” Ngoài ta, trên báo, trong chương trình phát thanh hay trên vô tuyến truyền hình còn có “thông tin lý luận”, “thông tin giải thích”, “thông tin nghệ thuật” v.v… [45]

Thuật ngữ “thông tin” còn có cách hiểu rộng hơn Để hiểu thuật ngữ này một cách đầy đủ, đòi hỏi phải xem xét từ sự ứng dụng riêng biệt Chúng ta có thể gọi

“toàn bộ các tác phẩm”, hay “hệ thống những tin tức”… là thông tin Như vậy, thuật ngữ “thông tin” nhiều khi còn được hiểu như một danh từ tập hợp Khi xem xét khái niệm thông tin trong hệ thống khái niệm của lí luận báo chí thì cách hiểu như vậy không phù hợp, vì ý nghĩa riêng của thuật ngữ “thông tin” thường được sử dụng theo thói quen hay theo kinh nghiệm Ví dụ, khi nghe đài hay đọc báo mà người đọc không thu nhận được điều gì mới mẻ, họ sẽ nói: “tác phẩm nghèo thông tin” thậm chí là “không có thông tin” Điều này dường như vô lý Nhiệm vụ của báo chí là mang thông tin đến cho công chúng nhưng tại sao họ lại không tìm thấy chúng trong tác phẩm? Thế nhưng đây là điều có thật khi thông tin không phản ánh được thực tế cuộc sống, không thỏa mãn nhu cầu của công chúng

Ở dạng hoàn chỉnh, khái niệm thông tin chứa đựng nội dung rất phong phú; nó

có quan hệ trực tiếp đến chức năng và hiệu quả của công tác báo chí, đến “nguyên tắc” cung cấp thông tin, đến những yêu cầu nghiệp vụ báo chí và những nguyên tắc tác động lẫn nhau của các mặt nói trên Khái niệm “thông tin” là nền tảng của công tác báo chí, cho nên khi nghiên cứu lí luận báo chí cần chú ý đến ý nghĩa của thuật ngữ này

Nhận thức về thông tin phát triển song song với nhận thức về chức năng và đối tượng phản ánh của báo chí Muốn có sự nhận thức đúng đắn về thông tin, cần xác định được mục đích hoạt động của báo chí, đồng thời phải nêu lên định hướng có tính nguyên tắc cho những hoạt động thực tiễn của một nền báo chí Sự định hướng

rõ ràng sẽ trang bị cho nhà báo phương pháp thông tin và biết cách vận dụng thông tin có hiệu quả để thực hiện chức năng của báo chí Một hướng quan trọng trong

Trang 21

cách tiếp cận thông tin báo chí là mỗi chương trình, mỗi tác phẩm phải được xem xét kỹ lưỡng trong hệ thống những mối quan hệ giữa báo chí và công chúng Tác phẩm báo chí (trong lí luận về thông tin thường dùng thuật ngữ “bài báo”) là điểm

trung gian (cầu nối) của hệ thống Nhà báo – Tác phẩm – Công chúng

Tác phẩm (bài báo, chương trình phát thanh hay truyền hình) do nhà báo chuẩn bị và được in trên báo hay phát sóng Đối với công chúng, tác phẩm báo chí

mới chỉ thể hiện qua chất lượng của thông tin tiềm năng Bởi vì những thông tin đó

chưa chắc đã được công chúng tiếp nhận Có nhiều tác phẩm (bài báo) giữ vai trò là

“cầu nối”, phục vụ cho việc trao đổi thông tin giữa nhà báo và công chúng, nhưng công chúng không tiếp nhận, mặc dù tác phẩm (hay chương trình) đã được đăng báo hay phát sóng Hiện tượng đó diễn ra khi công chúng không đọc báo, không xem truyền hình hay không nghe đài (có nhiều lý do dẫn đến hiện tượng này, chẳng hạn như kỹ thuật in kém, sóng truyền hình yếu v.v… nhưng quan trọng hơn cả mà người làm báo cần chú ý là bài viết, hay chương trình phát thanh, truyền hình… không hấp dẫn được người đọc, người xem, người nghe) Trong những trường hợp như vậy, mối quan hệ nhà báo – tác phẩm – công chúng bị phá vỡ Điều đó dẫn đến tình trạng

là không có khả năng chuyển thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực Thông tin hiện thực là thông tin được nhà báo sáng tạo và được công chúng tiếp nhận qua

các phương tiện thông tin đại chúng hoặc có thể họ là “người nhận thứ hai” (nghe người đã từng nghe, xem, đọc kể lại) Việc đảm bảo sự ổn định trong mối quan hệ lẫn nhau giữa nhà báo và công chúng được thể hiện qua các tác phẩm và chương

trình là rất cần thiết, đảm bảo cho thông tin tiềm năng trở thành thông tin hiện thực

Vì thế mà trong khoa học hiện đại có một cách định nghĩa về thông tin như sau:

Thông tin không chỉ đơn giản là tác phẩm báo chí mà là những tác phẩm báo chí khi đã được công chúng tiếp nhận [45]

Trong hoạt động báo chí, khi tìm hiểu về khái niệm thông tin cần đặt nó trong mối liên hệ trực tiếp với vấn đề hiệu quả, tức là ảnh hưởng trực tiếp của thông tin đối với công chúng, hướng dẫn nhận thức và giáo dục đạo đức cho họ để họ có hành

động đúng đắn Vì vậy, có thể đồng tình với định nghĩa: Thông tin là phần tri thức

Trang 22

được sử dụng để định hướng, tác động đến những hành động tích cực và quản lý xã hội, thực hiện mục đích giữ gìn những đặc điểm phẩm chất, sự hoàn thiện và sự phát triển hệ thống (Như là phương tiện tác động trong mối quan hệ báo chí – công

chúng)

Thông tin báo chí là dạng thông tin xã hội đặc thù, mang tính thời sự, phổ cập

và rất quan trọng về phương diện chính trị - xã hội Để xã hội loài người tồn tại và phát triển, con người cần nhiều loại hoạt động như sản xuất của cải vật chất để duy trì

sự sống, sáng tạo nghệ thuật để thỏa mãn tinh thần Một phần của sự hoạt động đó là hoạt động báo chí nhằm cung cấp cho công chúng những thông tin, tức là thông báo cho công chúng biết mọi sự kiện, hiện tượng diễn ra hàng ngày trong đời sống xã hội

"Nhưng thông tin báo chí là những thông tin chính trị - xã hội Nghĩa là thông tin báo chí bao giờ cũng chứa đựng những giá trị xã hội hay chính trị Thông tin là đặc trưng của ngành truyền thông đại chúng so với các ngành khác" [45, tr.51,52]

Tiêu chí đánh giá một thông tin tốt là: khách quan, kịp thời, đúng thời điểm, chính xác, đầy đủ, độc đáo, thích hợp và đại chúng

Còn theo Thông tư số 18/2012/TTLT- BTC-BTTTT ngày 14/02/2012, hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí hỗ trợ tác phẩm báo chí chất lượng cao ở Trung ương và địa phương giai đoạn 2011 – 2015 của Liên bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ

Tài chính (2012), tiêu chí đánh giá tác phẩm báo chí chất lượng cao, được các cơ

quan quản lý nhà nước nghiên cứu quy định cụ thể, đó là: "Những tác phẩm mang lại hiệu quả thiết thực cho toàn xã hội hoặc một vùng miền, địa phương; có nhiều tìm tòi, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày; có nội dung phù hợp, hấp dẫn người đọc, người nghe, người xem; phù hợp với quan điểm chỉ đạo, tuyên truyền, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước" Do vậy, báo chí cần hướng tới những tiêu chí này

Ngày nay ai cũng biết con người cần thông tin về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, nhất là thông tin về sự kiện chính trị và kinh tế xã hội Để đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng, mỗi loại hình báo chí đều có thế mạnh riêng của mình Nhà báo

Trang 23

cần hiểu rõ đặc trưng các loại hình để thông tin một cách hiệu quả Với báo in, dù ra đời sớm nhất và chịu sự cạnh tranh khốc liệt của một số loại hình báo chí khác trong thời đại kỹ thuật số, nhưng báo in vẫn khẳng định được vai trò, vị trí và tồn tại song song với các loại hình báo chí khác, bởi những đặc trưng, thế mạnh riêng của nó Đặc trưng lớn nhất của thông tin trên báo in là khả năng phân tích, bình luận, lý giải sâu

rộng đầy đủ các vấn đề, sự kiện

1.1.2 Giám sát và phản biện của báo chí

Khái niệm giám sát: Trong cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng”, giám sát được hiểu là “sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị - xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với tổ chức, cá nhân có những hành vi sai trái”

Qua những tìm hiểu và tổng hợp trên, có thể tạm hiểu khái niệm giám sát trên những khía cạnh:

- Giám sát là hành vi độc lập, từ bên ngoài Giám sát là hoạt động theo dõi, quan sát, xem xét, nhận định về việc làm của đối tượng chịu sự giám sát

- Mục đích của giám sát là xem xét việc làm của đối tượng bị giám sát có đúng những quy định, quy chế, chuẩn mực đã đặt ra hay không Qua đó phát hiện những khiếm khuyết trong tổ chức và hoạt động của đối tượng bị giám sát để có những kiến nghị và biện pháp can thiệp, khắc phục kịp thời nhằm hướng hoạt động của đối tượng đi đúng hướng

PBXH : Thuật ngữ PBXH được sử dụng chính thức trong Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo đó, “PBXH là phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an

Trang 24

ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan PBXH là phát huy dân chủ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước, góp ý kiến với cán bộ, công chức

và các cơ quan Nhà nước… PBXH là nhu cầu cần thiết và là đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo và điều hành đất nước, khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác” [5, (23), tr239-240]

Phản biện trên báo chí: Báo chí từ trước đến nay vẫn thường được xem là

công cụ chính trị của giai cấp cầm quyền Vì thế, PBXH của báo chí dễ bị hiểu sai lệch là phản biện những vấn đề giai cấp cầm quyền đưa ra Hiểu như thế là chỉ mới hiểu một mặt của PBXH của báo chí Đối tượng của PBXH của báo chí là bất cứ vấn đề nào nảy sinh trong cuộc sống Từ sự phản biện đó, báo chí kịp thời định hướng nhận thức cho quần chúng cũng như phản hồi, góp ý để giai cấp cầm quyền đưa ra chính sách hợp lý hơn

Tính phản biện trong báo chí hiện đại là bước phát triển của tính chiến đấu của báo chí cách mạng Báo chí cách mạng coi tính chiến đấu như là một yếu tố quan trọng khẳng định vai trò và vị trí của báo chí đối với đời sống xã hội thông qua hình thức phê bình và tự phê bình trên báo chí Tính chiến đấu – nghĩ là làm cho chân lý được sáng tỏ, điều phi chân lý bị đẩy lùi; làm cho cái mới được sinh sôi nảy

nở, cái cũ héo hon tàn lụi; làm cho cái tiến bộ được phát triển, cái lạc hậu bị xóa bỏ Với ý nghĩa này, tính phản biện, suy cho cùng cũng là tính chiến đấu của báo chí hiện đại PBXH của báo chí hiện đại làm cho cái đúng được bảo vệ, được làm sáng

rõ, cái sai được đẩy lùi

Ở nước ta, lần đầu tiên trong Nghị quyết Trung ương 6 lần hai khóa VIII, Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi nhận, khẳng định báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống giám sát xã hội Đây là bước phát triển quan trọng

về lý luận, nhận thức của Đảng về vai trò xã hội của báo chí và truyền thông đại chúng Tại Đại hội Đảng XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức ghi nhận, yêu cầu nền báo chí cách mạng Việt Nam nhận thêm vai trò, nhiệm vụ PBXH Nghị quyết Đại hội về phát triển hệ thống thông tin đại chúng nêu rõ: “Chú trọng nâng

Trang 25

cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức và PBXH của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước ”

Thực hiện chức năng giám sát, PBXH là báo chí góp phần khơi gợi, tập hợp nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của toàn dân, trước hết là đội ngũ trí thức, chuyên gia

về mọi lĩnh vực góp ý cho các quyết sách lớn của Nhà nước trong quá trình xây dựng và thực hiện nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Theo đó, giám sát và PBXH bằng báo chí và thông qua báo chí là việc làm sinh động nhất của việc phát huy dân chủ xã hội theo nghĩa để cho người dân được nói, bảy tỏ quan điểm của mình

Giám sát, PBXH của báo chí trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật là để kịp thời phát hiện những nơi làm đúng, làm hay để biểu dương, khích lệ, tổng kết kinh nghiệm và nhân rộng mô hình; đồng thời cũng để sớm phát hiện những trục trặc, những nơi làm dở, làm sai, vi phạm chủ trương, chính sách và luật pháp Vai trò và sức mạnh giám sát xã hội của báo chí trước hết là xã hội hóa những việc làm tốt và những sai phạm của các tổ chức, cá nhân để khơi nguồn và định hướng dư luận xã hội theo hướng ủng hộ hoặc chỉ trích, tạo áp lực dư luận và buộc các cơ quan công quyền giải quyết, giải thích và giải đáp trước nhân dân, trước công luận Trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng trong những năm gần đây, phần lớn những vụ việc đều do báo chí phát hiện, phanh phui rồi các

cơ quan chức trách mới vào cuộc

Giám sát và PBXH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau – đây cũng là mối quan

hệ giữa nhận thức và thực tiễn Có giám sát mới có hiểu biết, có kinh nghiệm để phát hiện được ưu điểm cũng như những hạn chế, yếu kém mà đề xuất, kiến nghị thay đổi hoặc bổ sung về đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật Ngược lại, có PBXH thì giám sát mới sát, đúng và trúng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, góp phần giúp quản lý xã hội ngày càng đi vào chiều sâu và có hiệu quả Qua giám sát

và PBXH, các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân bộc lộ thành phản hồi xã hội, nhờ

Trang 26

đó giới cầm quyền nắm được thông tin và kịp thời điều chỉnh phương thức quản lý, phòng ngừa xung đột xã hội

Giám sát và PBXH là hai chức năng gắn bó mật thiết với nhau vì chỉ giám sát một cách nghiêm túc mới có thông tin đầy đủ và thấu đáo làm tiền đề cho phản biện Giám sát của báo chí thực chất là giám sát bằng dư luận xã hội Qua giám sát, theo dõi một cách khách quan và có định hướng mà báo chí thể hiện vai trò PBXH của mình Nếu phản biện khoa học là một trong những cách thức chủ yếu để các nhà nghiên cứu tiệm cận tới các chân lý khoa học, thì trong đời sống xã hội, PBXH là một công cụ không thể thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ Sứ mạng của báo chí trước hết là để thỏa mãn nhu cầu thông tin của xã hội Xã hội càng hiện đại, việc phổ biến thông tin trên quy mô đại chúng càng trở nên quan trọng, vì vậy sự phụ thuộc, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các phương tiện thông tin đại chúng và xã hội càng trở nên chặt chẽ Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, vai trò tích cực của cộng đồng truyền thông đã thúc đẩy quá trình xã hội hóa các hoạt động giám sát và PBXH Bằng cách này hay cách khác, hoạt động phản biện luôn chứa đựng khả

năng tạo ra một trường tương tác xã hội giữa 3 nhóm cộng đồng: đó là cộng đồng

trí thức (phát hiện và lý giải vấn đề), cộng đồng truyền thông (phổ biến, chuyển tải thông tin) và cộng đồng xã hội (hưởng ứng thông tin và hình thành dư luận) Thông qua báo chí, người dân có thể phát biểu ý kiến, nguyện vọng của mình về các vấn đề trong đời sống xã hội, qua đó, thể hiện sự giám sát và PBXH của mình Bám sát sự kiện, thông tin nhanh nhạy, phân tích trúng vấn đề trọng điểm và định hướng tư tưởng, hướng dẫn dư luận rõ ràng, các cơ quan thông tấn, báo chí đã thực hiện tốt chức năng phản biện, mang lại hiệu quả xã hội rõ rệt Bởi thế, vai trò, chức năng phản biện của báo chí ngày càng được khẳng định và niềm tin của công chúng đối

với cơ quan truyền thông cũng được nâng lên

Trong tác dụng phòng ngừa và hạn chế sai lầm, cả trước và sau khi quyết định chính trị được ban hành, giám sátvà PBXH đều cần thiết và quan trọng, nhưng

ở khâu ban hành quyết định chính trị, PBXH giúp các quyết định chính trị ngay khi còn ở giai đoạn dự thảo đã chịu sự cọ xát với các ý kiến khác nhau, nhờ đó gạn lọc

Trang 27

được phương án bất lợi, lựa chọn phương án tối ưu, vì thế vai trò của PBXH quan trọng hơn nhằm đảm bảo các quyết định có chất lượng tốt nhất, hạn chế sai lầm, tối

ưu hóa phương án xã hội Như vậy trong giai đoạn chuẩn bị ban hành các quyết định chính trị thì vai trò của PBXH rất quan trọng Điều đó đòi hỏi PBXH phải được thực hiện từ sớm, phải có sự tranh luận chủ động để làm rõ các vấn đề, lôi cuốn sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và sự đồng thuận của xã hội về các vấn đề được nêu

Sở dĩ chức năng giám sát và PBXH của báo chí đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội vì báo chí có tính công khai, tính đại chúng Ý kiến trên báo chí có thể được nhiều người thảo luận, bàn cãi từ nhiều góc

độ khác nhau Một ý kiến độc đáo có thể là khởi nguồn gây cảm hứng cho hàng ngàn ý kiến khác Song ý kiến của đa số chưa hẳn đã đúng, có khi ý kiến của thiểu

số, thậm chí của một người lại mới là chân lý Chính vì thế phải lắng nghe bằng

“nhiều tai”, lắng nghe tất cả mọi ý kiến, kể cả các ý kiến thiểu số Tiếng nói của người dân qua báo chí nếu được lắng nghe, tiếp thu sẽ tạo ra một vòng phản hồi tự tăng cường rất tốt: chất lượng chính sách được nâng cao, nhân dân tích cực tham gia vào những công việc chung của đất nước, uy tín của chính quyền được củng cố, cứ như thế làm cho các chính sách và quyết định về sau càng đúng đắn và hợp lòng dân hơn Ngược lại, nếu tiếng nói của người dân không được lắng nghe, phản hồi hay bị làm ngơ thì dần dần họ sẽ mất niềm tin vào vai trò làm chủ của mình, lòng tin vào chính quyền cũng bị giảm sút, đến một lúc nào đó họ sẽ không thiết tha tham gia vào công việc chung của quốc gia nữa

Nếu một tờ báo có số lượng phát hành lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng thì tác dụng phản biện lớn hơn rất nhiều Đó là chưa kể khi có một thông tin có giá trị, các báo đồng loạt đăng tải càng tạo nên tác động trên phạm vi rộng, gây áp lực đối với các chủ thể hoạch định và thực thi chính sách Tất nhiên, dư luận không hình thành ngay lập tức sau khi bài báo được công bố mà đòi hỏi phải hội tụ đủ quy mô, cường

độ, tần số Ngày nay với sự đa dạng các loại hình báo chí từ báo nói, báo viết, báo hình đến báo điện tử cùng đưa tin về một vấn đề nào đó thì tạo dư luận rất nhanh

Trang 28

chóng, sôi động, nhất là báo điện tử đã và đang trở thành một kênh phản ánh rất nhanh nhạy những thông tin từ xã hội cũng như thông tin của Chính phủ đối với người dân Chính vì ý nghĩa đó mà người ta còn gọi báo chí là quyền lực thứ tư để phân biệt với ba nhánh quyền lực trong bộ máy nhà nước là lập pháp, hành pháp và

tư pháp Bản thân khái niệm quyền lực thứ tư tự nó đã nói lên vai trò, sức mạnh giám sát, phản biện của báo chí

Hiệu quả PBXH của báo chí cũng đòi hỏi dũng khí, bản lĩnh của từng tờ báo, từng nhà báo khi giác ngộ được sâu sắc về trách nhiệm xã hội của mình Báo chí rất khó thực hiện tốt chức năng PBXH nếu thiếu tự do ngôn luận, thiếu chế định luật pháp bảo vệ quyền của nhà báo trước các nguy cơ kiểm duyệt cũng như gắn trách nhiệm của tổng biên tập, nhà báo với tin tức đưa ra, nhưng cao nhất chính là trách nhiệm xã hội của báo chí Do đó, để báo chí thật sự trở thành một kênh PBXH hiệu quả thì có rất nhiều việc phải làm, trước hết là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí, bảo đảm vừa giữ vững ổn định chính trị - tư tưởng, vừa tăng cường năng lực phản biện của báo chí

Báo chí thực hiện chức năng giám sát và PBXH trước hết ở việc cung cấp thông tin chân thực, khách quan theo cả hai chiều, từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý và ngược lại Hoạt động quản lý có hiệu quả hay không phụ thuộc nhiều vào tính chất, số lượng và chất lượng thông tin hai chiều liên tục này Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, báo chí cần phải tuân thủ một hệ thống các nguyên tắc là cơ sở phương pháp luận cho hoạt động báo chí, là chuẩn mực nghề nghiệp và

cũng là nền tảng cho việc sáng tạo tác phẩm báo chí, trong đó nổi bật nhất là tính chân thật, khách quan, tính công khai, tính đại chúng và tính chiến đấu

Thực chất, PBXH của báo chí chính là sự PBXH được thể hiện trên báo chí Báo chí thực hiện hoạt động phản biện của mình qua các nội dung: tổ chức PBXH, thông tin các hoạt động và kết quả PBXH, trực tiếp tham gia PBXH

1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước

Trang 29

DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản

lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao DNNN có hai loại: Loại hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận và loại hoạt động công ích không vì mục tiêu lợi nhuận Ngoài

ra, còn có loại nằm giữa hai loại trên như những tổ chức kinh tế đang quản lý, duy

tu, bảo dưỡng cơ sở kinh tế hạ tầng (cầu, đường, sân bay, bến cảng…)

Luật DN năm 2005 giải thích: DNNN là DN trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ; Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2012 của

Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và vốn Nhà nước đầu tư vào DN định nghĩa: DNNN là DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm: a) DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; b) DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

DNNN là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, đóng vai trò chủ đạo trong

hệ thống cấu trúc nền kinh tế của một quốc gia, thông qua hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN và khả năng dẫn dắt nền kinh tế, khắc phục các khuyết tật của thị trường nâng cao năng lực cạnh tranh của DN trên thị trường DNNN chỉ là một phận quan trọng của kinh tế nhà nước Còn kinh tế nhà nước là đặc trưng của một loại hình sở hữu sở hữu Thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Việt Nam là lực lượng vật chất quan trọng là công cụ để nhà nước định

hướng và điều tiết kinh tế vĩ mô

Trong thành phần kinh tế nhà nước, các DNNN giữ vai trò then chốt, là quả

đấm thép của nền kinh tế đảm bảo an sinh xã hội

Đối với kinh tế nhà nước, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đi đôi với phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế và các loại hình DN Hình thành một

số TĐKT, các TCT đa sở hữu, áp dụng mô hình quản lý hiện đại, có năng lực canh

tranh quốc tế

Trang 30

1.2.2 Khái niệm về cơ cấu và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

Cơ cấu: Theo cuốn từ điển tiếng việt (2007) do cố Giáo sư Hoàng Phê chủ biên có một số định nghĩa về từ “cơ cấu”:

Ở dạng danh từ: (1) cơ cấu là nguyên tắc kết hợp và hoạt động của các chi tiết máy trong cùng một chỉnh thể, theo những quy luật nhất định

(2) cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnh thể: cơ cấu của nền kinh tế, điều chỉnh cơ cấu đại biểu quốc hội, cải tổ cơ cấu tổ chức quản lý hành chính [41, tr 348]

Ở dạng động từ: cơ cấu được hiểu là tổ chức, sắp xếp các thành phần, bộ phận trong một chỉnh thể, nhằm thực hiện chức năng chung: Cơ cấu lại danh mục đầu tư, TCC ngân hàng [41, tr 348]

Qua khảo cứu và thu thập các khái niệm về cơ cấu, có thể hiểu về cơ cấu như sau: cơ cấu hay kết cấu là một phạm trù triết học phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng nào đó, kể cả số lượng và chất lượng là tập hợp những mối quan hệ

cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng đó trong một thời gian nhất định

TCC: Thuật ngữ “TCC” (có cách gọi khác là tái cấu trúc) hiện đang được sử

dụng khá phổ biến hiện nay, và cũng có nhiều cách hiểu khác nhau “TCC” trong tiếng anh có một số từ thường được sử dụng: 1 http://uman.com.vn/dich-vu/tu-van-chien-luoc/tai-cau-truc-doanh-nghiep-c13a52.html

(1) Restructuring – được hiểu là việc điều chỉnh lại định hướng chiến lược (strategic direction), tầm nhìn (vision) hoặc cơ cấu lại một lĩnh vực, một ngành, một

tổ chức nào đó Theo cách tiếp cận này thì TCC được coi là một cuộc cách mạng về

sự thay đổi TCC sẽ làm thay đổi toàn bộ cơ cấu của hệ thống hoặc hoạt động của tổ chức, cắt bỏ toàn bộ những gì chưa làm được để làm lại từ đầu Nội dung của TCC bao gồm điều chỉnh lại chiến lược, khung khổ các nguồn lực và tài chính của DN nhằm thích ứng với thị trường hoặc cũng chỉ có thể là những cải cách tích cực làm phản ứng lại thị trường Trên thực tế, TCC luôn là những quyết định khó khăn và

Trang 31

gây tranh cãi TCC thường liên quan đến tư duy cũ, mối mòn, sự bảo thủ mang tính

hệ thống

Bản chất của TCC là một trò chơi tổng bằng không (zero sum game) Chiến lược chuyển dịch cơ cấu làm giảm tổn thất tạo điều kiện thuận lợi nhanh chóng thoát khỏi tình huống khó khăn 2 http://en.wikipedia.org/

(2) Một thuật ngữ khác được sử dụng là “Re-engineering” – nghĩa là “TCC quy trình” Thuận ngữ này thường được áp dụng cho việc sắp xếp lại các quy trình cốt lõi để tăng hiệu quả, tăng tính cạnh tranh, tối thiểu hóa chi phí, tăng lợi nhuận

DN Theo Michael Hammer và James Champy (trong cuốn TCC tổng công ty xuất bản năm 1993), TCC được xem là sự bắt đầu lại của một hệ thống hoặc TCC lại một công ty, hay một quá trình kinh doanh Quá trình này bao gồm xem xét lại, thiết

kế lại căn bản quá trình kinh doanh để đạt được những cải tiến đáng kể trong kinh doanh

(3) Một hình thức TCC khác có thể được hiểu là cắt giảm chi phí và tránh cơ cấu lại toàn bộ hệ thống – Downsizing Đây là sự kết hợp giữa “Restructuring” và

“Re- engineering”, khá thích hợp trong trường hợp kinh tế suy thoái như hiện nay

(4) Một thuật ngữ có nội hàm rộng hơn “Recreating” – có nghĩa là tái tạo, hay tái lập DN Quá trình này bao gồm ba bước chính:

i) Tái lập tư duy (Rethinking); ii) Thiết kế lại (Redesigning); iii) Xây dựng lại (Rebuilding)

Tái lập tư duy là suy ngẫm lại về môi trường, thị trường và DN Môi trường

mà DN đang tồn tại hoặc sẽ hướng đến bao gồm các yếu tố vĩ mô như chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội, công nghệ… Thị trường mà các DN đang hoạt động, bao gồm dung lượng của thị trường, mức tăng trưởng, xu hướng tiêu dùng, phân khúc thị trường và thị trường mục tiêu, các tác động ảnh hưởng (sản phẩm thay thế, đối thủ tiềm năng và hiện tại, sức ép từ khách hàng, sức ép từ nhà cung cấp…), thương hiệu, hệ thống phân phối…

Trang 32

Khi tái lập tư duy, cần phải thu thập và phân tích rất kỹ những thông tin của môi trường bên ngoài và bên trong DN để có những giải pháp tốt nhất cho DN Kết quả của “tư duy lại” có thể là một trong những phương án sau: i) Tiếp tục các bước tiếp theo: Thiết kế lại, xây dựng lại; ii) Tạm dừng để xem xét lại; iii) Loại bỏ

“Thiết kế lại” là “vẽ” lại toàn bộ bức tranh tổng thể và chi tiết về DN, đi từ triết ký kinh doanh, sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi, các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực hành vi, văn hóa DN, mục tiêu, định hướng chiến lược, chiến lược công ty… cho đến cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý điều hành, các hoạt động, quá trình, các nguồn lực… “Thiết kế lại” là để cho ra đời một “bản vẽ kiến trúc” mới ưu việt hơn cho tào nhà DN dựa trên cơ sở những phân tích trong quá trình “tư duy lại” ở trên

“Xây dựng lại” là xây dựng lại tòa nhà DN theo đúng thiết kế mới đã lập Đây

là một quá trình lâu dài và gian khổ, đòi hỏi sự cam kết từ phía lãnh đạo DN cũng như sự nỗ lực và quyết tâm cao của toàn thể cán bộ, nhân viên Kết quả của quá trình “xây dựng lại” phụ thuộc vào “vật liệu”, “trang thiết bị” xây lắp, con người,

“phương pháp thi công”… Vì vậy, nhiệm vụ này đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng

bộ giữa các phòng ban, bô phận và cần có những người am hiểu cách thức xây dựng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng

Như vậy, “TCC” coi là một phần của quá trình tái lập, chủ yếu chỉ đi vào mục tiêu “nâng cao thể trạng” của DN trên nền tảng hiện có, trong khi đầu ra của tái lập

là giải pháp tốt nhất cho DN, bao gồm mục tiêu, định hướng, giải pháp dựa trên một nền tảng có thể hoàn toàn mới Thuật ngữ “TCC” có thể được hiểu theo các nghĩa

khác nhau, một cách chung nhất có thể hiểu: TCC là sự thay đổi chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của một hệ thống hoặc là sự cơ cấu lại hệ thống bao gồm các hoạt động như: Sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức hoạt động, xác định lại mục tiêu, chiến lược, tầm nhìn, các giá trị cốt lõi và chuẩn mực của tổ chức hay DN

TCC có thể ở các cấp độ khác nhau, cấp độ cao là sự thay đổi tầm nhìn, chiến lược, cơ cấu lại toàn bộ tổ chức có tính hệ thống; cấp thấp là sự chuyển đổi, sắp xếp

Trang 33

lại, đổi mới quy trình hoạt động và cũng có thể bao gồm cả hai cấp, vừa thay đổi tầm nhìn chiến lược, vừa thực hiện tổ chức sắp xếp lại DN

TCC DNNN: Có quan điểm cho rằng “TCC DNNN” là quá trình khảo sát,

đánh giá lại cấu trúc hiện tại và đề xuất giải pháp cho mô hình cấu trúc mới nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho DN, hướng tới những mục tiêu đề ra trong những điều kiện, hoàn cảnh luôn thay đổi Mục tiêu chung của TCC là đạt được một “thể trạng” tốt hơn cho DN để DN hoạt động hiệu quả dựa trên những nền tảng về sứ mệnh, tầm nhìn, định hướng chiến lược sẵn có của DN

Một cách chung nhất có thể hiểu: TCC DNNN có thể hiểu là điều chỉnh lại sở hữu lại nghành nghề, mô hình hoạt động, thể chế, cơ chế hoạt động, bố trí lại nguồn nhân lực (vốn và nhân lực) tạo lập một trật tự DNNN mới chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn theo định hướng của Nhà nước

Nội hàm của TCC DNNN bao gồm ba nội dung: thể chế, thiết chế và định chế

1.2.3 Quan điểm, định hướng về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

Đánh giá chung về DNNN, tại rất nhiều hội thảo, diễn đàn đều đánh giá, sở dĩ phải TCC lại vì: Hiệu quả và sức cạnh tranh thấp mặc dù nhận được khá nhiều ưu đãi về nguồn lực; Thực trạng tài chính ở không ít TĐKT, TCT NN, DNNN rất yếu kém, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro mất cân đối tài chính, thua lỗ kéo dài; Việc thực hiện vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với kinh tế của các TĐ, TCT NN còn hạn chế; Nhiều TĐ, TCT NN chưa bắt kịp với xu hướng phát triển của nền kinh

tế thị trường, chậm đổi mới, năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản trị DN còn yếu kém, bất cập; Tiến trình đổi mới, sắp xếp DNNN còn những hạn chế Do vậy, việc TCC lại là rất cần thiết

Quan điểm TCC DNNN của Đảng và Nhà nước ta là:

Một là phải quán triệt chức năng của nhà nước là điều tiết vĩ mô nền kinh tế

thông qua sử dụng các công cụ điều tiết, trong đó công cụ quan trọng là DNNN (xu hướng lâu dài là nhà nước giảm điều hành quá trình kinh tế cụ thể, tập trung thực hiện chức năng ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm dịch vụ công)

Trang 34

Hai là TCC DNNN không phải là hạn chế, làm giảm vai trò mà phải làm cho

DNNN mạnh hơn, thực sự trở thành nòng cốt của kinh tế nhà nước, góp phần để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa; quá trình TCC phải thực hiện các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ

và giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN đã được xác định trong các nghị quyết của Đảng

Ba là TCC DNNN phải thực hiện trên cả phương diện vĩ mô (điều chỉnh lại

chính sách, khung pháp lý, phân bổ lại nguồn lực, cơ cấu sở hữu, quản lý của khu vực DNNN) và cả phương diện vi mô (điều chỉnh lại sở hữu, mô hình, cơ chế hoạt động, quản trị, bố trí lại nguồn lực ở từng DN ), đồng thời phải gắn với TCC nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 -2020

Bốn là vừa thực hiện TCC hệ thống DNNN (trên 5 phương diện chủ yếu:

ngành nghề, tài chính, quản trị DN , quản lý nhà nước, hệ thống pháp luật) vừa thực hiện TCC theo thực thể (tại mỗi tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước) Kiên quyết thực hiện TCC DNNN theo ngành, lĩnh vực kinh doanh không phân biệt cấp,

cơ quan quản lý theo nguyên tắc giảm về số lượng, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động

Năm là đổi mới triệt để hệ thống nông, lâm trường quốc doanh gắn với giải

quyết các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và hiệu quả quản lý, sử dụng đất và các mục tiêu quản lý khai thác rừng của nhà nước

Sáu là kiên định về mục tiêu và nguyên tắc, mềm dẻo trong hình thức và

phương thức thực hiện; không tuyệt đối hóa duy ý chí, không sử dụng mệnh lệnh hành chính trong quá trình TCC trong bán, giải thể, sáp nhập và thành lập mới DNNN

Mục tiêu TCC DNNN

Một là nâng cao năng lực hoạt động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh

tranh của khu vực DNNN và từng DNNN tương xứng với nguồn lực được giao

Trang 35

Hai là lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính, đảm bảo cơ cấu tài chính

hợp lý cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của DNNN, nhất là TĐKT, TCT nhà nước

Bà là đảm bảo cho TĐKT, TCT nhà nước làm tốt vai trò, công cụ điều tiết vĩ

mô, là đầu tàu định hướng cho sự phát triển, tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy các

DN thuộc thành phần khác cùng phát triển

Bốn là đặt DNNN đặc biệt là TĐKT, TCT nhà nước trong môi trường cạnh

tranh bình đẳng với các DN khác, nhất quán và kiên trì thực hiện nguyên tắc thị trường trong hoạt động của DNNN

Năm là hình thành các DNNN có quy mô lớn, hầu hết đa sở hữu, sau năm

2015 có 43 TĐKT, TCT nhà nước; đến năm 2020, có khoảng 3-5 TĐKT nhà nước lớn nằm trong số những TĐKT hàng đầu trong khu vực, có 1-2 TĐKT ngang tầm quốc tế và khu vực Đông Á; 10-15 TĐKT, TCT nhà nước có vai trò đầu tàu, dẫn dắt, điều tiết kinh tế trong phạm vi quốc gia

Định hướng TCC DNNN:

Một là tập trung phát triển DNNN trong những ngành, lĩnh vực quan trọng có

ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh

tế, kỹ thuật liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đảm bảo cân đối lớn (tiền

tệ, điện, lương thực, giao thông, vận tải hàng không, đường sắt, viễn thông, dầu khí, xăng dầu, khai thác tài nguyên, khoáng sản, xây lắp); ngành độc quyền tự nhiên (hóa chất độc, phóng xạ ); dịch vụ công; ổn định kinh tế vĩ mô và quốc phòng, an ninh trên một số địa bàn quan trọng; hoạt động kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ công ích thực hiện thông qua đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch

Hai là thực hiện triệt để hơn phân định và tăng cường chức năng quản lý nhà

nước và chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu trên cơ sở hoàn thiện cơ chế phân cấp thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước theo nguyên tắc phải có một cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chính theo dõi việc sử dụng vốn tài sản nhà

Trang 36

nước và phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN, kể cả TĐKT, TCT nhà nước đặc biệt

Ba là đổi mới cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với TĐKT,

TCT nhà nước và cơ chế đại diện chủ sở hữu nhà nước tại DN, tách biệt thực hiện quyền chủ sở hữu đối với quyền chủ động sản xuất kinh doanh của DN

Bốn là đẩy mạnh CPH DNNN, chú trọng vào TĐKT, TCT theo hướng giảm

số lượng DNNN và giảm vốn nhà nước tại DN; thực hiện đa dạng hóa sở hữu trong các DNNN, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, tư nhân lớn có năng lực tài chính, quản trị trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào DNNN

Năm là đổi mới quản trị và cơ chế hoạt động của DNNN theo hướng chuyển

sang tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, hạn chế hoạt động theo hình thức công ty TNHH; tuân thủ quy định của luật DN, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường

Sáu là thực hiện công khai minh bạch hoạt động của DNNN, đặc biệt là

TĐKT, TCT nhà nước trong những lĩnh vực, ngành nghề độc quyền tự nhiên

Bảy là chuyển đổi các DN, ban quản lý rừng, hoặc giải thể các nông lâm

trường, phù hợp với các chính sách về quản lý đất đai, về rừng đáp ứng yêu cầu bảo

vệ môi trường, đảm bảo quốc phòng, an ninh và đảm bảo phát triển kinh tế

1.3 Vai trò của báo chí với tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

Vai trò là tính chất của sự vật, sự việc hiện tượng, dùng để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và mối quan hệ nào đó Báo chí có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống

xã hội

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong xã hội bởi lẽ:

- Là kênh tạo lập định hướng và hướng dẫn dư luận;

- Là kênh chủ yếu cung cấp kiến thức thông tin về tình hình thời sự trong nước và quốc tế cho nhân dân

Trang 37

- Là một công cụ hữu hiệu để quản lý, điều hành và cải cách xã hội

- Là một định chế với những quy tắc và chuẩn mực riêng của mình và có những quan hệ mật thiết với những định chế khác trong xã hội

- Chúng cũng trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của mọi cá nhân, là phương tiện cung cấp thông tin, kiến thức và giải trí cho người dân

Báo chí vừa là người bạn đồng hành thân thiết, vừa là cầu nối hữu hiệu giữa

DN và cộng đồng DN là một trong những đối tượng phản ánh không thể thiếu của báo chí, đồng thời cũng là một đối tượng độc giả đặc biệt của báo chí DN ăn nên làm ra thì báo chí cũng có thêm điều kiện phát triển Vai trò của Báo chí Việt Nam đối với DN được thể hiện trên nhiều bình diện

1.3.1 Báo chí thông tin tuyên truyền về đường lối, chính sách, của Đảng và Nhà nước về hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

Có thể khẳng định rằng: Nhiệm vụ tuyên truyền các định hướng, quan điểm của Đảng về vấn đề TCC DNNN là rất quan trọng, bởi việc phổ cập được các định hướng, quan điểm đường lối của Đảng về vấn đề này đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân sẽ góp phần tạo sự đồng thuận nhất trí chung trong đổi mới kinh tế của đất nước, tạo ra sức mạnh tinh thần trong lĩnh vực “chủ đạo” của nền kinh tế Thực tế cho thấy Đảng đã ra nhiều Nghị quyết về phát triển kinh tế xã hội, có Nghị quyết vào cuộc sống rất nhanh tạo ra sự phát triển mạnh về kinh tế xã hội nhưng cũng có Nghị quyết vào cuộc sống còn chậm do nhận thức không theo kịp tình hình phát triển, mỗi người một ý đã làm cho Nghị quyết chưa phát huy hết tính đúng đắn của

nó Với lĩnh vực DNNN do đây là vấn đề khó, còn nhiều quan điểm khác nhau Cho nên tạo sự nhất trí, đồng thuận cao thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng trong lĩnh vực TCC DNNN là một trong các vấn đề mấu chốt của công tác tuyên truyền về kinh tế hiện nay

Báo chí cung cấp cho công chúng những thông tin phong phú về tình hình hoạt động của DN trong và ngoài nước, hoạt động giữa các loại mô hình DN khác nhau và kinh nghiệm TCC DN ở các quốc gia Thông qua đó, báo chí giúp cho công

Trang 38

chúng hiểu được đường lối chính sách phát triển kinh tế của quốc gia, hiểu được nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân đang xây dựng cũng như hiểu được các quá trình vận động, các xu hướng biến đổi, kinh nghiệm TCC DN của các nước… báo chí viết về các vấn đề TCC cũng đã tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau: cách nhìn của người dân, giải thích của nhà quản lý, ý kiến của nhà khoa học và đương nhiên là cả quan điểm riêng của nhà báo Với quan điểm tiếp cận như vậy, đã có những nhà báo được coi là những chuyên gia trong một số chuyên ngành nào đó Cách tiếp cận và phương thức phản ánh như vậy cũng đã thể hiện tính dân chủ, công khai, công bằng thông tin về kinh tế và thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân Thực tiễn những năm qua cho thấy, trong từng thời kỳ lịch sử, vấn đề kinh tế thường nảy sinh nhiều câu chuyện đòi hỏi phải có cách nhìn nhận và sự định hướng đúng đắn Khi vấn đề nào đó đang có nhiều quan điểm và được đưa ra bàn thảo trên báo chí, công chúng sẽ hiểu được vấn đề một cách trọn vẹn, còn nhà quản lý sẽ có cơ sở để đưa ra các quyết sách phù hợp ý Đảng, lòng dân Không chỉ phản ánh thông tin, báo chí còn chuyển tải nhiều ý kiến tham vấn, có những ý kiến phân tích mang tính phản biện xác đáng về những “lỗ hổng” của cơ chế, chính sách, phần nào giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước kịp thời khắc phục hoàn thiện, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành Hơn thế nữa, báo chí giờ đây không chỉ phản ánh đơn thuần đời sống kinh tế mà còn chủ động tham gia tìm tòi, gợi mở, kết nối thông tin

và thúc đẩy hành động, nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững, DN có điều kiện kinh doanh tốt

Cũng chính vì thế, vấn đề TCC DNNN không chỉ thu hút sự quan tâm của nhân dân mà còn giành được sự quan tâm đặc biệt của báo giới Bám sát thực tiễn,

hệ thống báo chí đã tích cực thông tin, tích cực tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; Chương trình hành động của các cấp, các ngành, tình hình triển khai TCC DNNN với đông đảo bạn đọc, từ đó xây dựng những diễn đàn trao đổi, thảo luận, phản biện chính sách, tạo được sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị về vấn đề mang tính quốc gia này

Trang 39

Như trên đã nói, do TCC DNNN là vấn đề khó, vĩ mô nên mỗi một chính sách ban hành không dễ để mọi người có thể hiểu hết Do vậy, với ưu điểm “truyền thông đại chúng”, báo chí sẽ thông tin một cách dễ hiểu nhất nhưng vẫn bao quát và đúng vấn đề để người dân có thể nắm được ý chính là vô cùng quan trọng Thông qua báo chí, vấn đề TCC DNNN, được nhìn nhận, mổ xẻ ở nhiều góc độ, từ đề xuất của cơ quan nghiên cứu, nhà quản lý, đến phản biện của các chuyên gia, những chia

sẻ từ cộng đồng DN và dư luận xã hội Nhiều vấn đề đã và đang được làm rõ hơn, sâu hơn và cụ thể hơn, như việc tính toán và huy động kinh phí để thực hiện TCC DNNN Điều rất quan trọng là tập hợp, phản ánh kịp thời ý kiến đóng góp của nhiều thành phần trong xã hội đối với từng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Không chỉ truyền bá các quan điểm lý luận trong các Nghị quyết của Đảng mà báo chí cũng đã đi sâu tham gia tổng kết thực tiễn, đóng góp tích cực trong việc hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề TCC DNNN Báo chí còn đưa những thông tin nhiều chiều để tạo nên cái nhìn tổng thể khó khăn, thuận lợi của chính sách Tất cả những việc làm đó với mục tiêu cuối cùng là để chính sách đi vào cuộc sống của người dân

Tất nhiên, để tạo được sự đồng thuận trong xã hội thì điều quan trọng là phải chuyển nội dung tuyên truyền thông tin TCC DNNN của các cơ quan chuyên môn thành dư luận xã hội rộng rãi Để làm được điều này, đòi hỏi cần phải cơ cấu nội dung và chất lượng thông tin, mở rộng thông tin, tạo ra thông tin hai chiều, đối thoại dân chủ, minh bạch thông tin, nâng cao nhận thức làm cho đời sống kinh tế ngày càng sôi nổi Với phương thức tuyên truyền linh loạt, khoa học, báo chí đã phản ánh trung thực kịp thời, tập hợp được tiếng nói tâm huyết của các chuyên gia, của các nhà kinh tế và cả người dân tham gia góp ý, phản biện, góp phần đưa những Nghị quyết, quyết sách về vấn đề DNNN, chính trị, những vấn đề tưởng chừng như rất khô cứng của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống, đóng góp chung vào thành công của lực lượng đầu tàu này

1.3.2 Báo chí thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội về hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

Trang 40

Tại Đại hội Đảng XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức ghi nhận, yêu cầu nền báo chí cách mạng Việt Nam nhận thêm vai trò, nhiệm vụ phản biện xã hội

Trong Nghị quyết Đại hội về phát triển hệ thống thông tin đại chúng nêu rõ: “Chú trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước…” Đây được coi là nhiệm vụ nặng nề đối với người làm báo

Vì vậy, ý nghĩa của thông tin báo chí rất quan trọng Với nội dung thông tin có định hướng đúng đắn, chân thật, có sức thuyết phục, báo chí có khả năng hình thành

dư luận xã hội dẫn đến hành động xã hội, phù hợp với sự vận động của hiện thực theo những chiều hướng có chủ định

Báo chí có vai trò quan trọng trong việc giám sát phản biện các vấn đề về kinh

tế - xã hội Đối với hoạt động của các DNNN vai trò này lại càng quan trọng hơn Bởi lĩnh vực này vốn được xem là có nhiều lỗ hổng chính sách, dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng, thất thoát tài sản và tiền bạc của nhà nước Và thực tế đã chừng minh điều đó Do vậy, bằng việc thực hiện nhiệm vụ giám sát xã hội, thông tin phản ánh, phản biện xã hội trong hoạt động TCC DNNN, báo chí đã trở thành một động lực quan trọng tiến trình TCC DNNN

Báo chí đã luôn theo sát những diễn biến của nền kinh tế nói chung và TCC DNNN nói riêng như một lực lượng giám sát hoạt động của hệ thống DNNN Chính

sự vào cuộc của báo chí dưới những góc nhìn nhiều chiều, hoạt động của các DNNN nói chung và TCC DNNN nói riêng, được phản ánh một cách sinh động

Sự phản biện của báo chí đối với lĩnh vực TCC DNNN có thể thấy rõ ở một số chủ đề: “Kinh tế nhà nước (nòng cốt là DNNN) là chủ đạo của nền kinh tế”; “Phân cấp, phân quyền và trách nhiệm trong hoạt động DNN”; “Mô hình để quản lý DNNN hiệu quả”; “Ai là ông chủ thực sự của DNNN”; “Minh bạch thông tin đối với DNNN”; “Lợi ích nhóm” Đây đang là những vấn đề nóng bỏng, tuy rất vĩ mô nhưng vô cùng quan trọng Báo chí đã phản biện, phân tích để tìm ra một mô hình hợp lý nhất, mục tiêu là để nâng cao thể trạng cho DNNN, hạn chế sự thất thoát, đổ

vỡ như thời gian qua Đồng thời, nếu có sự cố thì phải tìm ra địa chỉ trách nhiệm

Ngày đăng: 24/11/2015, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2005), Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 22- CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 22-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
6. Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin truyền thông (2012), Báo cáo đánh giá công tác xuất bản báo chí năm 2012 và một số nhiệm vụ chủ yếu năm 2013, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá công tác xuất bản báo chí năm 2012 và một số nhiệm vụ chủ yếu năm 2013
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin truyền thông
Năm: 2012
12. Bộ Chính trị (2012), Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI) 13. Bộ Chính trị (2012), Nghị quyết Trung ương 3 (khóa XI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI)" 13. Bộ Chính trị (2012)
Tác giả: Bộ Chính trị (2012), Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI) 13. Bộ Chính trị
Năm: 2012
14. Bộ Chính trị (2011), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI 15. Bộ Tài chính (2011), Báo cáo tổng kết về tình hình hoạt động DNNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI 15. "Bộ Tài chính (2011)
Tác giả: Bộ Chính trị (2011), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI 15. Bộ Tài chính
Năm: 2011
16. Bộ Tài chính (2013), Thông tư 171/2013/TT-BTC (ngày 20/11/2013) về việc hướng dẫn công khai thông tin tài chính theo quy định tại Nghị định số 61/2013/NĐ-CP của Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 171/2013/TT-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2013
22. Chính phủ (2012), Quyết định số 929/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “TCC DNNN, trọng tâm là Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước giai đoạn 2011-2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 929/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "“TCC DNNN, trọng tâm là Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
26. Chính phủ (2014), Tài liệu Hội nghị Triển khai nhiệm vụ TCC DNNN 2014-2015 (ngày 18/2/2014), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị Triển khai nhiệm vụ TCC DNNN 2014-2015 (ngày 18/2/2014)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
27. Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nxb Lý luận Chính trị, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2007
29. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại (Từ hàn lâm đến đời thường), Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại (Từ hàn lâm đến đời thường)
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2011
30. Hà Minh Đức (1997), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1997
33. Vũ Quang Hào (2008), Ngôn ngữ báo chí (tái bản), Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2008
35. Hoàng Trần Hậu (2012), Định hướng, giải pháp tái cấu trúc DNNN, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng, giải pháp tái cấu trúc DNNN
Tác giả: Hoàng Trần Hậu
Năm: 2012
36. Đinh Văn Hường (2004), Tổ chức và hoạt động của tòa soạn, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Văn Hường (2004)
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2004
37. TS Trần Du Lịch (2011), Nhận diện vấn đề và định hướng tái cấu trúc nền kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, ĐH Kinh tế TPHCM, số Xuân 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện vấn đề và định hướng tái cấu trúc nền kinh tế
Tác giả: TS Trần Du Lịch
Năm: 2011
38. Mai Quỳnh Nam (1995), Dư luận xã hội, mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu, Tạp chí Xã hội học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư luận xã hội, mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả: Mai Quỳnh Nam
Năm: 1995
39. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- Sự thật, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Công ty Thanh niên Việt Nam (2009), Kỷ yếu hội thảo Tập đoàn kinh tế lý luận và thực tiễn (ngày 25/5/2009), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo Tập đoàn kinh tế lý luận và thực tiễn (ngày 25/5/2009)
Tác giả: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- Sự thật, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Công ty Thanh niên Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- Sự thật
Năm: 2009
41. Hoàng Phê, Trung tâm từ điển Vietx (2007), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê, Trung tâm từ điển Vietx
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2007
43. Trần Quang (2005), Các thể loại báo chí chính luận, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí chính luận
Tác giả: Trần Quang
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2005
45. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2004), Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí truyền thông
Tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2004
46. Nguyễn Phú Trọng (2011), Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng kháo XI (10/10/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phú Trọng (2011)
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2a: Thống kê tổng số tin bài về TCC DNNN trên 04 báo - Báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ( khảo sát báo đầu tư, báo tuổi trẻ TPHCM, thời báo kinh tế sài gòn, tạp chí tài chính doanh nghiệp
Bảng 2.2a Thống kê tổng số tin bài về TCC DNNN trên 04 báo (Trang 46)
Bảng 2.2b: Thống kê tin, bài TCC NNN theo nhóm chủ đề trên 04 báo    2.2.1. Thông tin về chủ trương, chính sách TCC DNNN - Báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ( khảo sát báo đầu tư, báo tuổi trẻ TPHCM, thời báo kinh tế sài gòn, tạp chí tài chính doanh nghiệp
Bảng 2.2b Thống kê tin, bài TCC NNN theo nhóm chủ đề trên 04 báo 2.2.1. Thông tin về chủ trương, chính sách TCC DNNN (Trang 47)
Bảng 2.3.2: Thống kê các thể loại được 04 báo sử dụng thông tin  TCC DNNN - Báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ( khảo sát báo đầu tư, báo tuổi trẻ TPHCM, thời báo kinh tế sài gòn, tạp chí tài chính doanh nghiệp
Bảng 2.3.2 Thống kê các thể loại được 04 báo sử dụng thông tin TCC DNNN (Trang 66)
Bảng 2.3.2.2: Thống kê các loại bài phản ánh về TCC DNNN trên 04 báo   Thứ nhất bài phản ánh thông tin - Báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ( khảo sát báo đầu tư, báo tuổi trẻ TPHCM, thời báo kinh tế sài gòn, tạp chí tài chính doanh nghiệp
Bảng 2.3.2.2 Thống kê các loại bài phản ánh về TCC DNNN trên 04 báo Thứ nhất bài phản ánh thông tin (Trang 68)
Bảng 2.3.2.3: Tổng bài phỏng vấn theo đối tượng được phỏng vấn trên 04 báo - Báo chí với quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ( khảo sát báo đầu tư, báo tuổi trẻ TPHCM, thời báo kinh tế sài gòn, tạp chí tài chính doanh nghiệp
Bảng 2.3.2.3 Tổng bài phỏng vấn theo đối tượng được phỏng vấn trên 04 báo (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w