* Cột trụ thứ hai: Học để làm Học để làm liên quan mật thiết đến câu hỏi làm thế nào để giáo dục và đào tạo có thể trang bị cho người học các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc
Trang 1Đặt vấn đề
Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh (HS) phát triển toàn diện, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động Để hiện thực mục tiêu đó, nội dung học vấn phổ thông thường bao gồm nhiều môn học khác nhau Tuy nhiên, trong thực tế dạy học các môn học nói chung, việc thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của môn học, cũng như khai thác mối quan hệ giữa các môn học đã không được quan tâm đúng mức Điều đó dẫn đến chất lượng giáo dục phổ thông, mà biểu hiện cụ thể thường là năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế, cũng như năng lực giải quyết vấn đề của HS bị hạn chế Góp phần khắc phục những hạn chế này của chất lượng giáo dục phổ thông, nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến đã nghiên cứu và vận dụng lý thuyết sư phạm tích hợp hay dạy học tích hợp (DHTH)
Triết lý giáo dục Việt Nam cần như thế nào để phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập? Có phải giáo dục Việt Nam đang tồn tại nhiều bất cập vì thiếu triết lý dẫn đường? Tất cả các vấn đề trên đã được đưa ra phân tích, thảo luận tại Hội thảo về triết lý giáo dục Việt Nam do Viện KHGD và Trường ĐHSP
TP Hồ Chí Minh tổ chức tại TP Hồ Chí Minh từ năm 2011
Hiện nay, do quan niệm chưa đúng về triết lý, nên nhiều người thấy đó
là điều còn mơ hồ, ai hiểu thế nào cũng được Ví dụ, có người bảo xưa nay ta đã
có triết lý giáo dục rồi, đó là: Tiên học lễ, Hậu học văn Nhưng nhiều người bảo
đó là triết lý từ thời Khổng Mạnh, có từ hàng nghìn năm về trước, lúc ấy chỉ có 1/10.000 người được đi học, mục đích học để ra làm quan nên không thể mang triết lý ấy áp dụng vào thời nay Hơn nữa nếu hỏi Lễ là gì? Văn là gì? Chắc chắn mỗi thời hiểu một cách, mỗi người hiểu một kiểu Vậy không thể coi đó là triết lý giáo dục được
Theo chúng tôi: Triết lý là cái lý sâu xa, cái lẽ huyền diệu của một học thuyết, một sự biện minh đầy đủ cho một sự nghiệp hay một công việc lớn của xã
Trang 2hội được mọi người tâm phục khẩu phục và nó như kim chỉ nam, ngọn đuốc soi đường để đạt được mục đích cho sự nghiệp ấy Tất nhiên triết lý ấy phải phù hợp với từng thời đại, không thể có chân lý vĩnh cửu Nếu hiểu như vậy, thì triết lý giáo dục phải là điều mà tất cả mọi người tán đồng và trông đợi, thấy đó đúng là chân lý là mục đích thực sự, phải làm đúng như vậy thì mới có thể đạt được mục đích, chân lý Triết lý giáo dục phải trả lời được rõ ràng câu hỏi: Học để làm gì? hay nói rộng hơn: Mục đích giáo dục hiện nay là gì?
Ví dụ, bàn về triết lý giáo dục, ta thử xem Văn bản Bốn trụ cột của giáo dục (The Four Pillars of Education) của UNESCO - ta thấy tính triết lý toát ra trong mọi phần của văn bản, tập trung nhất ở Bốn trụ cột của giáo dục Chúng tôi xin phép tóm lược văn bản như sau: Một nền giáo dục có sức sống là nhờ trong
xã hội có nhiều người học và đều ham học Sự ham học sẽ mạnh mẽ và bền vững nếu người học đạt được mục đích mà trước khi học họ tự đặt ra cho mình, miễn là mục đích này phù hợp với lợi ích của xã hội Như vậy, nhu cầu và mục đích học tập là cái trụ móng để ngôi nhà giáo dục đứng vững
Trang 3Nội dung
I Mục đích giáo dục
* Cột trụ thứ nhất: Học để biết
Biết thu nhận thông tin, biết tiếp thu tri thức, biết tạo lập và sử dụng thành thạo tri thức như là các công cụ tâm lý Vì kiến thức vô cùng phong phú và có thể phát triển vô bờ bến, nên thật vô ích khi ai đó nỗ lực học để biết hết tất cả Nhà trường cần dạy học sinh khả năng suy nghĩ (kĩ năng tư duy), kỹ năng ghi nhớ và tập trung Đó là ba loại công cụ tâm lý rất cơ bản, chúng như những chiếc chìa khóa
để con người tiếp tục mở các cánh cửa của tri thức: Tạo ra cách dạy và học tích cực, tiến tới tự học Người ta sẽ học một - biết mười Giáo dục trong nhà trường chỉ được coi là có kết quả khi nó tạo được cơ sở và động lực cho người học tiếp tục học tập và rèn luyện suốt đời
- Học tập vừa là phương tiện vừa là mục đích: Học tập giúp con người hiểu được môi trường sống và làm việc của mình để mà sống có nhân phẩm Học tập đem lại sự thỏa mãn về hiểu biết, tư duy và hành động nhằm làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn
- Học tri thức thì chỉ biết tri thức, học phương pháp thì sẽ biết cách chiếm lĩnh các tri thức Hiện nay tri thức của thế giới cứ khoảng 7 năm sẽ tăng gấp đôi Vì thế chương trình phải chọn lọc, tinh giản không thể quá tải và ôm đồm Nếu người học chỉ tiếp thu tri thức ở nhà trường thì sau khi ra trường sẽ quên đi và mau chóng lạc hậu Người ta tính rằng với khối kiến thức của một kỹ sư thì chỉ sau 3 năm khối kiến thức đó sẽ trở nên lạc hậu, cần được bổ sung Do đó việc học tập cần phải được tiếp tục thường xuyên, suốt đời và bằng nhiều phương thức và
ở mọi nơi, mọi lúc không phải chỉ ở nhà trường
* Cột trụ thứ hai: Học để làm
Học để làm liên quan mật thiết đến câu hỏi làm thế nào để giáo dục và đào tạo có thể trang bị cho người học các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc sau này Xã hội chỉ trả tiền nếu mình “biết làm”, chứ không dừng lại ở “biết nói”
Trang 4Đặc điểm nền kinh tế hậu công nghiệp ở thế kỷ XXI, trong quá trình sản xuất mới không còn tuyệt đối hóa kỹ năng nghề nghiệp mà vai trò trình độ chuyên môn của từng người được đề cao Do đó giáo dục phải chuyển từ đào tạo “kỹ năng làm” sang hình thành một năng lực chuyên môn Năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, công nghệ (biết cách làm) và kỹ năng sống theo nghĩa rộng (khả năng giao tiếp, hợp tác, điều hành, giải quyết vấn đề, sáng tạo ) Trong nền kinh tế tri thức học và làm là một, không còn tách riêng thời đi học và thời đi làm Quan niệm ngày nay không còn “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” mà là “nhất nghệ tinh, đa nghệ tri’’ 60 - 80% dân số trong độ tuổi lao động ở các nước công nghiệp hóa đang làm việc trong lĩnh vực dịch vụ .Mô hình làm việc mới, trong cả lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, sẽ cần đến việc ứng dụng mạnh mẽ thông tin, kiến thức
và óc sáng tạo Năng lực cá nhân sẽ được đặt trên nền tảng kiến thức lý thuyết
và thực hành kết hợp với động lực cá nhân và các kỹ năng tốt về giải quyết vấn
đề, ra quyết định, giàu sáng kiến sáng tạo và làm việc theo nhóm Ở cả hai khu vực này, thông tin và giao tiếp giữ vai trò sống còn
Tóm lại, nhân loại bước vào thế kỉ XXI với sự phát triển vượt bậc của khoa học
kỹ thuật và công nghệ Học để làm không phải là lao động cơ bắp hay dây
chuyền công nghiệp đơn thuần nữa mà làm bằng tư duy, bằng trí tuệ nên ở tất cả các công việc muốn có năng suất và hiệu quả cao đều phải cần các kĩ năng tư duy
- kĩ năng mềm (kĩ năng giải quyết vấn đề, tư duy tích cực - sáng tạo, kĩ năng thích ứng, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, kĩ năng ứng xử giao tiếp và ngoại ngữ, kĩ năng học và tự học ) Đó chính là các kĩ năng và đòi hỏi của nguồn nhân lực chất lượng cao
* Cột trụ thứ ba: Học để cùng chung sống
Giáo dục có vai trò to lớn đối với tiến bộ xã hội, giúp giải quyết các vấn đề mâu thuẫn một cách hòa bình, giúp con người biết tôn trọng các khác biệt, các giá trị tinh thần của người khác, dân tộc khác Trong thời đại mới, với nền kinh tế hội nhập, giáo dục lại càng có vai trò to lớn giúp con người có thể cùng chung sống
Trang 5không bị lạc hậu trong một thế giới biến đổi và phát triển không ngừng Nội dung giáo dục cần chú ý hai vấn đề:
- Học biết phát hiện ra người khác: Xã hội loài người phát triển không chỉ có cái riêng của từng người, từng dân tộc mà còn đi đôi với cái chung của loài người
Do đó mỗi người, mỗi dân tộc phải biết rõ mình, đồng thời phải hiểu người khác, phải biết phát hiện ra người khác Một trong những nhiệm vụ của giáo dục là giúp người học vừa nhận thức về sự đa dạng vừa hiểu được sự tương đồng và sự phụ thuộc lẫn nhau của con người Ngay một em bé lớp mẫu giáo đã phải học cách chung sống với bạn, với ông bà, cha mẹ, anh chị em Đứa trẻ học môn Đạo đức, hoặc Giáo dục Công dân không phải chỉ học lí thuyết suông mà phải có kỹ năng ứng xử tốt trong gia đình, nhóm bạn, xã hội
- Học cùng làm việc vì các mục đích chung: Con đường tốt nhất để sống còn, đó
là học chung sống với người khác, học nghe điều người khác nói Giáo dục cần tập trung hướng con người đến những mục đích chung
* Cột trụ thứ tư: Học để tự khẳng định mình hay Học để làm người
Nguyên tắc cơ bản của giáo dục là giáo dục phải đóng góp vào sự phát triển của mỗi cá thể Mục tiêu của phát triển là sự hoàn thiện toàn diện của một con người
về tâm lý và thể xác, trí tuệ và tình cảm, thái độ đạo đức, tinh thần trách nhiệm cá nhân và các giá trị tinh thần khác
Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là mang lại cho mọi người tự do suy nghĩ, phán đoán, tình cảm và trí tưởng tượng để có thể phát triển tài năng của mình và tự kiểm tra cuộc sống của mình Học để tự khẳng định mình là tạo sự phát triển toàn diện con người với toàn bộ sự phong phú của nhân cách từng người và toàn bộ các hình thái thể hiện mình Ở trường học, nghệ thuật và thơ văn cần phải có chỗ đứng quan trọng hơn cái chỗ mà hiện nay nó được đặt bởi một số nền giáo dục mang tính vụ lợi hơn là văn hóa Mối quan tâm phát triển trí tưởng tượng và
óc sáng tạo cũng sẽ khôi phục lại giá trị của nền văn hóa và tri thức
Trang 6Chính vì học để tự khẳng định mình hay là học để làm người nên vai trò của khoa học xã hội và nhân văn phải được đặt đúng tầm, nó phải là nền tảng của giáo dục
Vì thế, giáo dục chính quy phải thiết kế chương trình học sao cho người học có
đủ thời gian và cơ hội để đến với các dự án hợp tác, hoạt động xã hội ngay từ những năm đầu đời, bắt đầu từ những hoạt động thể thao và văn hóa Phương pháp này cũng cần tạo điều kiện cho người học tham gia vào các hoạt động xã hội nhân đạo như chung tay làm vệ sinh các khu nhà ổ chuột, giúp đỡ những người kém may mắn, hoạt động từ thiện, lên kế hoạch giúp đỡ những người cao tuổi
Ai cũng thấy nền giáo dục truyền thống phải thay đổi do sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức: Kiến thức của loài người tăng lên nhanh chóng, cứ vài năm kiến thức của loài người lại tăng lên gấp đôi Điều vừa học được có nguy cơ nhanh chóng lạc hậu, phải cần bổ sung Do vậy cần phải học suốt đời (Lifelong
Learning) Ai cũng phải học, người học thuộc mọi lứa tuổi do vậy khái niệm xã hội học tập ra đời thay thế cho xã hội công nghiệp của thế kỷ trước
Theo chúng tôi, những quan niệm dẫn ra trên đây chính là một phần quan trọng nhất của triết lý giáo dục thế kỷ XXI - thế kỷ của nền kinh tế tri thức và hội nhập
Sở dĩ nói như vậy vì nó trả lời được câu hỏi: Học để làm gì? nói rộng hơn: Mục đích của giáo dục ngày nay là gì? Và: Cần làm như thế nào để có thể đạt được mục đích ấy? Trả lời đúng được các câu hỏi ấy chính là quan niệm đúng về triết
lý giáo dục
Tại sao chúng ta không xem các quan điểm trong Văn bản Bốn trụ cột của giáo dục (The Four Pillars of Education) của UNESCO như là một trong các triết lý quan trọng của giáo dục ngày nay và vận dụng cụ thể vào hoàn cảnh của Việt Nam? Nếu cần cụ thể hóa trong điều kiện Việt Nam thì cần lưu tâm đến việc hòa nhập nhưng không hòa tan nghĩa là vẫn giữ các bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc trong các định hướng chiến lược và phát triển giáo dục nước nhà Ví dụ:
- Học để chung sống: Giúp giải quyết các vấn đề mâu thuẫn một cách hòa bình, giúp con người biết tôn trọng các khác biệt, các giá trị tinh thần của người khác, dân tộc khác Tuy nhiên cần giáo dục lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc, giữ bản
Trang 7sắc tốt đẹp của dân tộc, không đánh mất mình, không theo đòi một cách mù quáng
- Học để tự khẳng định mình hay là Học để làm người: Hiện nay, do tốc độ phát triển quá nhanh của khoa học, kĩ thuật và kinh tế nên nhiều khi các giá trị nhân bản bị đảo lộn, các quan niệm về đạo đức, nhân văn truyền thống bị xem thường
và dễ bị buông trôi Vì vậy vai trò của khoa học xã hội và nhân văn phải được đặt đúng tầm, nó phải là nền tảng của giáo dục, phải định hướng các giá trị nhân văn, đạo đức, kĩ năng sống cho xã hội và thế hệ trẻ
Chúng ta là một thành viên của UNESCO, đang từng bước hội nhập với quốc tế (ví dụ, tham gia WTO), cùng các nước bước vào thế kỉ XXI với mục tiêu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp hiện đại, đang cần một nguồn nhân lực chất lượng cao nghĩa là đang rất cần một nền giáo dục có chất lượng thực sự
Vì vậy nếu chúng ta thấy những quan điểm trong văn bản Bốn trụ cột của giáo dục của UNESCO là đúng đắn thì Việt Nam cần xem đây là một trong các triết lý quan trọng của giáo dục nước nhà
II Dạy học tích hợp
Trên thế giới và tại Việt Nam, DHTH đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại Tháng 9 năm 1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy các khoa học” đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với sự bảo trợ của UNESCO Hội nghị nêu ra hai vấn đề là vì sao phải DHTH và tích hợp các khoa học là gì Theo đó, DHTH được UNESCO định nghĩa như sau:
“Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” Định nghĩa của UNESCO cho thấy DHTH xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở HS những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Quá trình DHTH bao gồm những hoạt động tích hợp giúp HS biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có hệ thống Như vậy, có thể hiểu tích hợp bao hàm cả nội
Trang 8dung và hoạt động.Nói một cách khác, DHTH là dạy cho HS cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể, với mục đích phát triển năng lực người học.Ngoài ra, DHTH liên hệ giữa kiến thức và kĩ năng của các chuyên ngành hoặc các môn học khác nhau để bảo đảm cho HS phát huy có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình trong việc giải quyết các tình huống tích hợp cụ thể Các nhà nghiên cứu đưa ra các tiêu chí quan trọng của DHTH, bao gồm: việc học và nghiên cứu các môn học khác nhau, có thời khóa biểu linh động, giáo viên (GV) giảng dạy theo nhóm, quá trình học lấy HS làm trung tâm, có sự tương tác về trình độ giữa HS với HS, giữa HS và GV, và giữa GV với nhau.Trong DHTH, các nhà giáo dục học phân chia ra tích hợp dọc (vertical integration) và tích hợp ngang (horizontal
integration) Tích hợp dọc là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau”, còn tích hợp ngang là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau” xung quanh một chủ đề
III Các mô hình chương trình DHTH
Hiện nay, trên thế giới, 3 mô hình chương trình DHTH phổ biến nhất, là: Mô hình đa môn (interdisciplinary model), mô hình dựa trên chuỗi vấn đề (problem-based model) và mô hình dựa trên các chủ đề (theme(problem-based model)
1 Mô hình đa môn
Mô hình này xây dựng chương trình học tập theo những kiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau
Ví dụ tại một trường trung học của Mĩ, để giảng dạy chương trình tích hợp, thường có 4 GV phụ trách khoảng 110 HS Những môn học chính, gồm: Ngôn ngữ, Toán, Khoa học, Xã hội Mô hình này rất thích hợp cho bậc trung học phổ thông Ưu điểm của mô hình này là GV có thời gian làm việc cùng nhau, số lượng HS vừa phải.DHTH & DHPH ở trường trung học đáp ứng yêu cầu đổi mới
CT và SGK sau năm 2015
2 Mô hình dựa trên chuỗi vấn đề
Trang 9Mô hình này đòi hỏi nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kĩ năng của những môn học khác nhau Một ví dụ cho mô hình này là dự án giảng dạy về Công nghệ, Khoa học và Toán của hai nhà giáo dục Laporte và Sanders vào năm 1996 Mục đích của dự án này là giúp các trường trung học tại Mĩ được học Toán và Khoa học thông qua các hoạt động công nghệ Mô hình này cho thấy quá trình học tập xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp
Mô hình này rất thích hợp đối với bậc trung học cơ sở
3 Mô hình dựa trên chủ đề
Mô hình này giảng dạy theo các chủ đề đòi hỏi GV và HS vận dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau Ưu điểm của mô hình này là GV vẫn dạy một môn học, nhưng trong quá trình dạy học, GV cần vận dụng và mở rộng kiến thức của nhiều môn học liên quan khác.Mô hình này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất và mục tiêu Trong trường hợp này, môn học tích hợp được cùng một GV giảng dạy Mô hình này DHTH & DHPH ở trường trung học đáp ứng yêu cầu đổi mới CT và SGK sau năm 2015rất thích hợp đối với bậc tiểu học
Vì sao phải thực hiện dạy học tích hợp
1 Dạy học tích hợp góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường phổ thôngGiáo dục toàn diện dựa trên việc đóng góp của nhiều môn học cũng như bằng việc thực hiện đầy đủ mục tiêu và nhiệm vụ của từng môn học Mặt khác, các tri thức khoa học và kinh nghiệm xã hội của loài người phát triển như vũ bão, trong khi quĩ thời gian cũng như kinh phí để HS ngồi trên ghế nhà trường là có hạn Do vậy, không thể đưa nhiều môn học hơn nữa vào nhà trường, cho dù những tri thức này là rất cần thiết Chẳng hạn, ngày nay cần thiết phải trang bị nhiều kĩ năng sống cho HS (về an toàn giao thông, giáo dục bảo vệ môi trường, an toàn lao động, sử dụng năng lượng tiết kiệm, định hướng nghề
nghiệp, ) trong khi những tri thức này không thể tạo thành môn học mới để đưa vào nhà trường vì lí do phải đảm bảo tải học tập phù hợp với sự phát triển của
HS Mặc dù khi xây dựng chương trình sách giáo khoa nhiều tri thức đã được tích hợp để thực hiện các nhiệm vụ trên, song không thể đầy đủ và phù hợp với tất
Trang 10cả đối tượng HS Vì vậy, trong quá trình dạy học GV phải nghiên cứu để tích hợp các nội dung này một cách cụ thể cho từng môn học và phù hợp với từng đối tượng HS ở các vùng miền khác nhau
2 Do bản chất của mối liên hệ giữa các tri thức khoa học
Các nhà khoa học cho rằng khoa học từ thế kỷ XX đã chuyển dần từ phân tích cấu trúc lên tổng hợp hệ thống đã làm xuất hiện các liên ngành (như sinh thái học, tự động hóa, ) Vì vậy, xu thế dạy học trong nhà trường là phải làm sao cho tri thức của HS xác thực và toàn diện Quá trình dạy học phải làm sao liên kết, tổng hợp hóa các tri thức, đồng thời thay thế “tư duy cơ giới cổ điển” bằng
“tư duy hệ thống” nếu nhà trường chỉ quan tâm dạy cho HS các khái niệm một cách rời rạc, thì nguy cơ sẽhình thành ở HS các “suy luận theo kiểu khép kín”,
sẽ hình thành những con người “mù chức năng”, nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có khả năng sửdụng các kiến thức đó hàng ngày
3 Góp phần giảm tải học tập cho học sinh
DHTH giúp phát triển các năng lực, đặc biệt là trí tưởng tượng khoa học và năng lực tư duy của HS, vì nó luôn tạo ra các tình huống để HS vận dụng kiến thức gần với cuộc sống Nó cũng làm giảm sự trùng lặp các nội dung giữa các môn học, góp phần giảm tải nội dung học tập Mặt khác, giảm tải học tập không chỉ là giảm thiểu khối lượng kiến thức môn học, hoặc thêm thời lượng cho việc dạy học một nội dung theo qui định Phát triển hứng thú học tập cũng có thể được xem như một biện pháp giảm tải tâm lí học tập có hiệu
quả và rất có ý nghĩa Làm cho HS thấu hiểu ý nghĩa của các kiến thức cần tiếp thu, tích hợp một cách hợp lí, có ý nghĩa các nội dung gần với cuộc sống hàng ngày vào môn học, từ đó tạo sự xúc cảm nhận thức, cũng sẽ làm cho HS nhẹ nhàng vượt qua các khó khăn nhận thức và việc học tập khi đó mới trở thành niềm vui, hứng thú của HS DHTH & DHPH ở trường trung học đáp ứng yêu cầu đổi mới CT và SGK sau năm 2015
4 So sánh giữa chương trình DHTH và chương trình dạy học truyền thống
Các tác giả Zhbamova, Rule, Montgomery và Nielsen sau khi tiến hành khảo sát