Theo con số thống kê của Bộ y tế có đến80% các ca ngộ độc đều là do ngộ độc thuốc hoá học do sử dụng các thựcphẩm không an toàn, ngoài ra các loại phân bón và thuốc BVTV còn tácđộng tiêu
Trang 1Để hoàn thành được đề tài này, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bảnthân tôi đã nhận đựơc sự động viên và giúp đỡ rất nhiệt tình của nhiều cánhân và tập thể.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo hướng dẫn ThS.Nguyễn Thị Thúy Liên và các thầy cô giáo trong khoa công nghệ sinh học,những người đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi thựchiện và hoàn thành tốt đợt thực tập
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phạm Tiến Dũng – Giám đốc Trungtâm Nông nghiệp Hữu cơ - Đại học Nông nghiệp Hà Nội Cùng thầy giáoNguyễn Xuân Xanh và tất cả mọi người trong trong trung tâm đã tạo điềukiện giúp tôi hoàn thành đề tài này
Cuối cùng cho tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bènhững người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập vàthực hiện đề tài
Bắc Giang, ngày 07 tháng 06 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn thị Chung Đức
Trang 2
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nông nghiệp, trồng trọt là một trong hai ngành sản xuất chủ yếucung cấp lương thực, thực phẩm chính cho con người, là nguyên liệu chínhtrong công nghiệp chế biến và làm thức ăn cho chăn nuôi Trong trồng trọtngày nay con người trồng nhiều loại cây trồng khác nhau để phù hợp vớitừng mục đích sử dụng khác nhau: Cây công nghiệp, cây lương thực, cây
ăn quả, cây rau, cây làm dược liệu…Trong điều kiện xã hội phát triển nhưngày nay thì cây rau là một trong những cây được con người rất nhiềutrong bữa ăn hàng ngày, từ xa xưa ông cha ta đã có câu “Cơm không raunhư đau không thuốc” vì vậy nên rau không thể thiếu trong cuộc sống củacon người Trong các loại rau đang được trồng và sử dụng hiện nay có câyrau cải là cây đang được trồng với diện tích rất lớn, với lượng tiêu thụ lênđến hàng chục ngàn tấn trong năm
Tuy nhiên trong thực tế sản xuất hiện nay người dân trồng rau nóichung và rau cải nói riêng sử dụng phân bón hoá học và thuốc BVTV trànlan, không tuân theo quy định, và rất khó kiểm soát Từ đó ảnh hưởng rấtlớn đến chất lượng rau cải ngọt Theo một số nghiên cứu mới đây của Bộ y
tế và Cục vệ sinh an toàn thực phẩm, cho thấy các loại rau bán trên thịtrường hiện nay hầu hết đều có chứa các loại chất hoá học và kim loại nặnggây ngộ độc cho người sử dụng Theo con số thống kê của Bộ y tế có đến80% các ca ngộ độc đều là do ngộ độc thuốc hoá học do sử dụng các thựcphẩm không an toàn, ngoài ra các loại phân bón và thuốc BVTV còn tácđộng tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, suy thoái nguồn tài nguyên đất vànước, sản phẩm nông nghiệp có hại cho sức khoẻ, đa dạng sinh học bị phá
vỡ Do đó trong những năm gần đây nhiều nước, nhiều nhà khoa học đãnghiên cứu và đề xuất các giải pháp để xây dựng nền nông nghiệp sinh học
- hữu cơ nhằm khắc phục những nhược điểm của nền nông nghiệp công
Trang 3nghiệp hoá trong khi đó vẫn đảm bảo năng suất cây trồng mà không gây ônhiễm môi trường, không làm hại đến thiên nhiên.
Ở nước ta, trong nhiều năm qua người ta đã sản xuất và đang sử dụngnguồn phân bón hoá học với liều lượng cao, sản xuất chạy theo năng suấtthì đến nay với quan điểm sản xuất rau trên cơ sở sử dụng phân bón hữu cơcủa nhiều nước trên thế giới đã làm thay đổi cách nhìn nhận của các nhànghiên cứu đặc biệt là người tiêu dùng
Trong những năm gần đây khi trình độ dân trí được nâng cao, đời sốngcủa người dân được cải thiện thì quan niệm của họ về dinh dưỡng và sứckhoẻ cũng thay đổi Để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và khiViệt Nam đã có đủ khả năng vươn ra thị trường quốc tế thì ngành trồng raunước ta phải có sự thay đổi về mọi mặt như: kỹ thuật trồng trọt, phươngthức canh tác, công tác giống và đặc biệt là cải tiến về phân bón… nhằmbắt kịp với tiến bộ khoa học trên thế giới
Từ năm 1978 đến nay có khoảng hơn 20 công trình nghiên cứu về rausạch Song song với việc nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất rau sạchthì nước ta cũng xúc tiến việc nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mớitrong sản xuất rau Trong đó mảng nghiên cứu về chế phẩm sinh học, cácloại phân bón tổng hợp hữu cơ được chú ý nhiều đối với tất cả các đốitượng cây trồng đặc biệt đối với rau là sản phẩm sử dụng trực tiếp Làm thếnào để duy trì năng suất cây trồng khi không sử dụng phân hoá học chỉdùng phân hữu cơ, không dùng thuốc hoá học chỉ sử dụng sâu bệnh sinhhọc đang là câu hỏi cần được trả lời
Được sự phân công của Trung tâm Nông nghiệp Hữu cơ – Đại học Nôngnghiệp Hà Nội, chúng tôi tiến hành xây dụng và nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cải ngọt sản xuất theo hướng hữu cơ vụ Xuân Hè năm 2010 tại Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ - Đại học nông nghiệp Hà Nội”
Trang 41.2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của các liều lượng phân khác nhauđến sự sinh trưởng, phát triển, năng suất của cây rau cải, từ đó tìm ra đượclượng phân thích hợp nhất cho cây rau cải và cho hiệu quả kinh tế cao nhất
1.2.2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở chonghiên cứu lượng phân bón hữu cơ thích hợp cho cây cải ngọt
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn chỉnh quytrình sản xuất rau cải ngọt theo hướng hữu cơ để có năng suất chất lượngtốt và nâng cao hiệu quả kinh tế
1.3 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
I.3.1 Thời gian nghiên cứu
Trang 5PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1.Thực trạng sản xuất rau ở Việt Nam
Nước ta với 80% dân sống bằng nông nghiệp, do đó nông nghiệpđược coi là mặt trận hàng đầu Việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp là vôcùng quan trọng đặc biệt là nghành trồng rau Ở nước ta nghành trồng rauđược đưa vào sản xuất phổ biến từ rất lâu đời vì nước ta có rất nhiều thếmạnh như người dân chịu khó, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hoà và đa dạng,thích hợp với nhiều loại rau ( Miền Bắc có 4 mùa xuân hạ thu đông, MiềnNam có hai mùa là mùa mưa và mùa khô) vì thế các sản phẩm rau của ViệtNam rất đa dạng từ các loại rau nhiệt đới như rau muống, rau ngót, rau cảiđến các loại rau xứ lạnh như su hoà, bắp cải, cà rốt…Tuy nhiên do chịu ảnhhưởng của một nền nông nghiệp tự túc trong nhiều thế kỷ nên sự phát triểncủa nghành trồng rau còn một khoảng cách rất xa so với tiềm năng tự nhiên
và trình độ canh tác Ngay cả những năm gần đây, mức độ phát triển vẫnchưa theo kịp nhiều nghành khác trong sản xuất nông nghiệp
Đánh giá thực trạng nghành sản xuất rau của nước ta, nguyên thứtrưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Thiện Luân [22]cho rằng: Một trong những trọng tâm nghiên cứu của nghành trong thờigian tới là nâng cao năng suất phải đi đôi với nâng cao chất lượng sảnphẩm rau của nước ta
Trong “Đề án phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh thời kỳ
1999-2010” năm 2001 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt ngày 03/09/1999 [14] đã phê duyệt 7 chươngtrình dự án quốc gia cho nghên cứu phát triển ngành rau quả: 3 dự án chonghiên cứu phát triển cây ăn quả, 3 dự án phát triển sản xuất rau, 1 dự ánphát triển rau quả.Tổng kinh phí được duyệt là 14,5 tỷ đồng cho cả giaiđoạn 2001-2005, trong đó có xác định cho nghành sản xuất rau là: “Đápứng nhu cầu rau có chất lượng cao cho tiên dùng trong nước, nhất là các
Trang 6vùng dân cư tập trung (đô thị, khu công nghiệp…) và xuất khẩu Phấn đấuđến năm 2010 đạt mức tiêu thụ bình quân đầu người là 85 kg rau/năm, giátrị kim ngạch xuất khẩu đạt 690 triệu USD”[14].
Theo số liệu thống kê, diện tích đất trồng rau cả nước đến năm 1999
là 459,6 nghìn ha; tính đến năm 2004 tổng diện tích trồng rau, đậu cả nướcđạt trên 600 nghìn ha, gấp 3 lần so với năm 1991 Trong đó Đồng bằngSông Hồng là vùng sản xuất lớn nhất chiếm 29% sản lượng rau toàn quốc
và Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng trồng rau lớn thứ hai chiếm 23% sảnlượng rau của cả nước; Tính đến năm 2005 tổng diện tích trồng rau các loạitrên cả nước đạt 635,1 nghìn ha, sản lượng đạt 9640,3 ngàn tấn; So với năm
1999 tăng 175,5 nghìn ha, tốc độ tăng bình quân 3,61%/năm; sản lượngtăng so 3071,5 ngàn tấn, tốc độ tăng bình quân 7,55%/năm
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng rau phân theo vùng
Diện tích(1000 ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng(1000 tấn)
(Nguồn tin: Phòng nông nghiệp, 2006) [22].
Trong xu thế của một nền sản xuất thâm canh, bên cạnh mức gia tăng
về khối lượng và chủng loại, nghành trồng rau hiện đang bộc lộ mặt tráicủa nó Việc ứng dụng ồ ạt, thiếu chọn lọc các tiến bộ kỹ thuật về hoá học,nông hoá thổ nhưỡng…đã làm tăng mức độ ô nhiễm các sản phẩm rau xanhcây ra hàng loạt vụ ngộ độc thực phẩm Trước tình hình như vậy, nhiềungười đã hạn chế ăn rau và chuyển sang ăn các loại củ quả an toàn hơn Do
Trang 7vậy, sản xuất rau an toàn là yêu cầu cấp thiết của thị trường hiện nay Cácbiện pháp thâm canh không chỉ đòi hỏi đáp ứng mục tiêu sản lượng mà cònđảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất rau đồng thờikhông gây ra tác động xấu đến môi trường
Cụ thể từ năm 1991 đến năm 2004 diện tích và sản lượng có sự biếnđộng như sau:
Bảng 2.2: Diện tích và sản lượng rau của Việt Nam, 1991-2004
Năm Diện tích (000 ha) Sản lượng (000 tấn)
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 11/12/2006) [22].
Rau xanh không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi ngườichúng ta Không giống như cây lúa, cây rau được gieo trồng với nhiềuchủng loại phong phú và có thời gian sinh trưởng ngắn nên đòi hỏi tướinước, phân bón cũng như phun thuốc bảo vệ thực vật nhiều hơn Từ đó nảysinh ra nhiều vấn đề như dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), hàmlượng Nitrat, kim loại nặng và những vi sinh vật gây hại khác (do tướinguồn nước bẩn bị ô nhiễm vi sinh) Việc tồn dư các thành phần trên trongrau vượt quá mức qui định theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942-1995, cókhả năng gây ngộ độc cho người tiêu dùng đặc biệt ở các nhà bếp tập thể,các nhà trẻ mẫu giáo hoặc ở các khu vực thành thị đông dân cư Như vậy
Trang 8việc sản xuất và cung cấp rau an toàn rau an toàn cho thị trường đảm bảo
dư lượng thuốc BVTV, hàm lượng Nitrat, kim loại nặng dưới mức chophép là nhu cầu hết sức cần thiết.Viện nghiên cứu Rau quả là cơ quan đầutiên ở Việt Nam đã tìm ra nguyên nhân gây ô nhiễm đồng thời cũng chính
cơ quan này đã đề xuất giải pháp cơ bản để sản xuất rau sạch, rau an toàn,đặc biệt là rau hữu cơ (Nông thôn ngày nay, 2009) [22]
Trang 9Bảng 2.3: Vấn đề ô nhiễm rau – nguyên nhân và biện pháp Lĩnh vực ô
Dư lượng thuốc
trừ sâu
- Sâu bệnh phát sinh
- Thiếu kiến thức BVTV
- Phòng trừ không hợp lý,không đúng thời điểm
- Phun gần thời điểm thuhoạch dẫn đến dư lượngthuốc trong rau cao
- Ô nhiễm môitrường, sản phẩmrau không an toàn
- Gây ngộ độc chongười sử dụng, giasúc
- Người tiêu dùngkhông yên tâm
- Ban hành quy chế
- Hạn chế thuốc hoá học
- Đảm bảo thời gian cách lykhi thu hoạch
- Nâng cao trình độ dân trí
- Tăng cường khuyến cáodùng thuốc sinh học
- Áp dụng các biệp phápphòng trừ sâu bệnh bằngIPM
- Gây ung thư chongười sử dụng
- Người tiêu dùng lo
- Bón cân đối NPK
- Kết thúc bón đạm sớmdảm bảo thời gian cách ly
- Tăng cường phân hữu cơ
- Kiểm tra sản phẩm
- Người sản xuất
Trang 10- Gây biến đổi lýtính của đất.
- Ô nhiễm nguồnnước
- Gây tâm lý hoangmang cho người tiêudùng
- Kiểm tra phân trước khitrồng
- Kiểm tra phân bón trướckhi sử dụng
- Kiêm tra nguồn nước tưới,đảm bảo nguồn nước hoàntoàn sạch để tưới cho rau
- Kiểm tra chất lượng rautrươc khi đưa ra thị trường
- Gây bệnh chongười và gia súc
- Gây tâm lý lo sợcho người tiêu dùng
- Sử dụng phân hữu cơ hoaimục để bón cho rau
Trang 11Cùng với sản xuất theo kiểu hàng hoá là sự đầu tư thâm canh caotrong trồng trọt và chăn nuôi để có năng suất cao nhất Phân hoá học, phânhữu cơ tươi, thuốc trừ sâu, chất kích thích sinh trưởng…được đầu tư ngàycàng nhiều trong sản xuất cho tất cả các loại cây trồng, thậm chí cả cây giá trị
mà từ trước tới nay ta vẫn cứ yên tâm nghĩ rằng chúng là cây trồng tự nhiênkhông chịu ảnh hưởng bởi cái gọi là công nghiệp hoá nền nông nghiệp Sựthâm canh cao theo kiểu hiện nay thường gắn liền với giữ lượng các chất hoáhọc cao trong nông sản dẫn đến mất vệ sinh an toàn thực phẩm đối với đa sốcác loại rau, quả thậm chí cả với cây lương thực Đây là vấn đề phức tạp liênquan đến các vấn đề khác như: chính sách, giá cả, thị trường, trình độ nhậnthức của người dân
Do nhu cầu tiêu dùng của con người đa dạng về chủng loại cũng nhưmẫu mã của sản phẩm, nên người sản xuất cũng tính toán để đạt nhu cầu thịhiếu của người tiêu dùng Từ đó bằng mọi cách người sản xuất làm cho sảnphẩm của mình có năng suất cao mẫu mã đẹp bắt mắt, rau tươi non mỡ màng
Đi đôi với việc đó là người sản xuất phải dùng một lượng phân hoá học rấtlớn, phun nhiều thuốc trừ sâu, phun các chất kích thích sinh trưởng Song vấn
đề gì xảy ra khi sử dụng nhiều lần và liên tục các sản phẩm này thì không aibiết được hậu quả sẽ đi đến đâu??? Vấn đề này gắn chặt với ý thức của ngườisản xuất và nhận thức của người tiêu dùng cũng như chủ trương chính sáchcủa nhà nước trong việc trợ giá nông sản sạch, khuyến khích sản xuất vàtuyên truyền tiêu thụ sản phẩm sạch, an toàn
Để giải quyết những vấn đề phức tạp đó phải có sự phối hợp chặt chẽgiữa công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức cộng đồngcủa người dân về vệ sinh an toàn thực phẩm với việc quy hoạch những chínhsách của nhà nước nhằm khuyến khích nhân dân sản xất thực phẩm sạch.Ngày 09/04/1998 Bộ NN & PTNT đã ban hành quy định tạm thời về sản xuấtrau an toàn dựa vào kết quả nghiên cứu của viện BVTV và sự góp ý của các
cơ quan khoa học để áp dụng vào những địa phương có vùng rau lớn Từ đó,địa phương xây dựng những quy trình cụ thể cho từng loại rau ở địa phươngmình.Tuy nhiên để có sản phẩm sạch, rau sạch, thực phẩm an toàn là hết sứckhó khăn gian khổ cần phải tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục ýthức cho người sản xuất.[22]
Trang 12Cụ thể tình hình sản xuất rau an toàn ở một số địa phương trong nước
ta như sau:
Theo nguồn tin từ Vietnam.net: Mới chỉ có 34/64 tỉnh, thành trên cảnước gửi báo cáo về tình hình sản xuất rau an toàn ở địa phương về cục trồngtrọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) Trong đó chỉ có 16 địaphương đã và đang xây dựng qui hoạch vùng sản xuất rau an toàn, con số nàyđược đưa ra tại Hội nghị Phát triển rau an toàn vùng Đồng bằng sông Hồng,
do cục Trồng trọt phối hợp với sở NN-PTNT Hà Nội tổ chức Rõ ràng là đếnnay cong tác quy hoạch, chứng nhận vùng đủ điều kiện sản xuất rau an toànrất chậm do diện tích sản xuất rau còn nhỏ lẻ, phân tán
Cục Trồng trọt ngày 16/10/2007 đã có văn bản đề nghị Sở NN-PTNTcác địa phương kiểm tra việc quy hoạch và công nhận vùng đủ điều kiện sảnxuất RAT Song, đến nay, mới chỉ có 34/64 tỉnh, thành gửi báo cáo về
Cũng đến thời điểm này, diện tích quy hoạch sản xuất rau an toàn cả vùngĐồng bằng sông Hồng mới chỉ đạt 13.216 ha (chiếm 13% tổng diện tích rau),nhưng diện tích được chứng nhận đủ tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn mới chỉ
có 6.755 ha, chủ yếu ở Hà Nội So với năm 2006, diện tích rau an toàn khuvực này chỉ tăng 4.6%.[15]
Tại Hà Nội
Tổng diện tích đất nông nghiệp của Hà Nội khoảng 45.000 ha, trong đódiện tích canh tác rau an toàn đạt gần 1.700 ha; lượng rau an toàn hiện chiếm20% thị trường rau ở Hà Nội Tuy nhiên, do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nàyđang tăng rất nhanh nên Hà Nội đang quy hoạch 17 vùng trồng rau sạch tậptrung để năm 2005 đáp ứng 50% nhu cầu rau sạch trên địa bàn thủ đô
( Nguồn tin: SGGP,14/9/2004)[16]
Tại Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 30/9/2009 Hội thảo "Nông nghiệp đô thị - thực trạng, tương lai
và giai pháp" đã được tổ chức tại TPHCM Tại hội thảo, các nhà quản lý, nhà
khoa học, doanh nghiệp và nông dân đã cùng mổ xẻ thực trạng nông nghiệp
đô thị của TPHCM nói riêng, cả nước nói chung để tìm hướng đi cho nềnnông nghiệp đô thị trong tương lai Theo ban chỉ đạo nông nghiệp nông thônTPHCM, hiện ở thành phố bước đầu đã hình thành các mô hình nông nghiệp
đô thị với những sản phẩm có giá trị cao như hoa lan, hoa kiểng, rau an
Trang 13toàn .Diện tích gieo trồng rau các loại năm 2008 đạt 10.853 ha, tăng2.1%/năm, trong đó diện tích rau an toàn chiếm 98%.
( TS Vũ Cẩm Lương, Nguồn tin từ Tổng hợp)[17]
Tại thành phố Hải Phòng
Tổng diện tích đất trồng rau, đậu của thành phố là 13.790 ha, trong đódiện tích vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn đạt trên 600 ha Vùng diệntích rau an toàn được bố trí 3 -4 vụ/năm đem lại giá trị 120 – 170 triệuđồng/năm nhưng đến nay chỉ có 4 đơn vị đăng ký vùng sản xuất đủ điều kiệnsản xuất rau an toàn
( Báo Hải Phòmg,19/10/2009)[18]
2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón hoá học ở Việt Nam
Sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu bệnh là chìa khoá của sựthành công trong cuộc cách mạng xanh và đảm bảo nhu cầu lương thực, thựcphẩm Cây trồng đòi hỏi dinh dưỡng trong suốt quá trình sinh trưởng, phát
triển và nhu cầu dinh dưỡng của cây ở từng giai đoạn lại rất khác nhau Tuy
nhiên trong những năm gần đây, nhiều người lo ngại về ảnh hưởng của phânbón đến môi trường và sức khoẻ con người Điều lo ngại này không chỉ trongnhững nước phát triển mà cả những nước đang phát triển Thật vậy khi ngườinông dân áp dụng những công nghệ hiện đại thì rất nhiều vấn đề môi trườngnảy sinh:
+ Gây độc hại cho nguồn nước, cho đất Bởi tồn dư của các chất hoáhọc nitrat, tác động xấu đến sức khoẻ con người, động vật và làm suy thoáicác hệ sinh thái
+ Gây độc hại cho lương thực thực phẩm, thức ăn gia súc
+ Gây tổn hại cho nông trại và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ảnhhưởng đến sức khoẻ người lao động, cộng đồng
+ Sử dụng các nông sản thường xuyên có thể gây ra một số bệnh nguyhiểm như ung thư, các bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa
Nhận thấy được sự nguy hại đó, các nhà khoa học đã khuyến cáo làkhông nên sử dụng các loại phân bón, thuốc trừ sâu có độ độc cao nhưng cácnhà sản xuất vẫn vì lợi ích trước mắt không chú trọng đến những khuyến cáo
Trang 14trên Từ năm 1996 trở lại đây lượng phân hoá học được sử dụng trong nôngnghiệp tăng nhanh, nhất là phân đạm.
Bảng 2.4: Lượng phân bón hoá học sử dụng tại Việt Nam từ 1996 – 2003
sử dụng nước phân chuồng chưa qua ngâm ủ tưới cho rau rất phổ biến
Sau đây là một số kết luận về tình trạng sử dụng phân bón hoá học:
- Cùng với việc thâm canh tăng năng suất nông dân thường sử dụngmột lượng phân bón hoá học lớn bón cho cây trồng đặc biệt đối với các câyrau đậu, thực phẩm và cây gia vị
- Trong các loại phân khoáng, phân đạm được sử dụng với lượng lớn vàmất cân đối với phân lân và kali đối với cả cây lương thực và cây thực phẩm
- Phân hữu cơ được sử dụng rất ít và không được ủ hoai mục Tuynhiên việc sử dụng nước phân chuồng tươi, phân bắc, nước giải để tưới trựctiếp cho các loại rau định kỳ 3-5 ngày/1 lần lại phổ biến ở tất cả các vùngtrồng rau trên cả nước
Trang 15- Mặc dù tình hình sử dụng phân bón cho cây trồng nhìn chung còn cónhững tồn tại nhưng ở một số nơi được sự quan tâm của chính quyền địaphương và những chủ trương chính sách của nhà nước đã có những mô hìnhsản xuất rau sạch với những quy trình sử dụng phân bón hợp lý hơn, đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm
Các nghiên cứu cho thấy phân đạm làm tồn dư Nitrat trong nông sảnnói chung và rau cải nói riêng: Khi tiến hành nghiên cứu tăng lượng đạm bón
từ 30kg lên 108 kg thì lượng tồn dư Nitrat tăng từ 21.7 lên 40.6 mg/kg ở cây
cà chua và tăng từ 236 lên 473 mg/k ở cải củ Ngược lại, khi tăng liều lượngphân lân ở các mức 0; 30; 60; 90; 120 kg/ha cho bắp cải, cà chua thì lượngNitrat trong bắp cải tương ứng là 982; 820; 540; 480; 408 mg/kg bắp cải tươi,
ở quả cà chua tương ứng là 65; 58; 66; 34; 40 mg/kg quả Phân bón và Nitrat
là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồngđồng thời Nitrat cũng là mối đe doạ cho sức khoẻ con người và tính trongsạch của nguồn nước tự nhiên
Bảng 2.5: Hàm lượng Nitrat (NO
-3 ) cho phép trong các loại rau (mg/kg rau tươi)
TT Loại rau Hàm lượng NO
-3 TT Loại rau Hàm lượng NO
( Nguồn: Sổ tay người trồng rau, NXB Hà Nội – 2002)[13]).
Nitrat tồn dư trong nông sản nhiều là do việc sư dụng không hợp lýcác loại phân đạm và phân hữu cơ Nhận thấy được sự nguy hại đó, hội nôngdân Việt Nam đang triển khai kế hoạch dần đưa các chế phẩm sinh học vào đểthay thế các loại phân bón hoá học
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón hữu cơ sinh học ở Việt Nam
Trang 16Phân hữu cơ sinh học là sản phẩm của quá trình lên men kỵ khí hoặchiếu khí của các loại phân người, động vật, phế thải nông nghiệp như rơm, rạ,
cỏ dại, bã mía, bột sắt, than bùn, các sinh khối cây trồng tạo ra những tậpđoàn vi sinh vật gồm nhiều chủng loại với những đặc tính sinh học và chứcnăng hoạt động khác nhau như vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giảilân, nấm, vi khuẩn gây bệnh cho cây trồng Dưới tác dụng của các chủng visinh vật này, tất cả các chất dinh dưỡng của cây trồng tồn tại trong hỗn hợpphân bón dưới dạng vô cơ khó phân giải hoặc dạng hữu cơ đều được khoánghoá và chuyển thành dạng dễ tiêu, giúp cây trồng hấp thu một cách dễ dàng
Do đó, xu thế của ngành nông nghiệp thế giới ngày nay là sử dụng bổ sungcác loại phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh) đặc biệt là phân hữu cơ sinhhọc ( phân vi sinh), làm giảm mức sử dụng phân hoá học, hoặc có thể hoàntoàn không sử dụng phân hoá học, không gây độc hại cho đất đồng thời làmtăng khả năng chống chịu, hấp thụ chất dinh dưỡng, tạo điều kiện thuận lợicho cây trồng phát triển tốt
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy chất hữu cơ có vai trò hết sứcquan trọng đối với độ phì nhiêu của đất và dinh dưỡng cây trồng Nó có ảnhhưởng quyết định đến sự tạo thành và làm bền vững tới cấu trúc đất Chất hữu
cơ có khả năng tương tác với các chất dinh dưỡng, điều phối theo nhu cầu củacây trồng đồng thời giữ độ ẩm tối ưu cho cây trồng, khử nhiều loại độc tố, tạothành hệ tổng thể đảm bảo duy trì độ phì nhiêu của đất và sự phát triển củacây trồng Chất hữu cơ là bản thể chi phối các yếu tố về độ phì nhiêu của đất
và tính ổn định trong sản xuất nông nghiệp
Có thể nói hữu cơ là kho chứa tổng hợp các yếu tố dinh dưỡng và luôn
là nền tảng cho mọi hoạt động hóa học, lý học, sinh học trong đất Quá trìnhkhoáng hóa các hợp chất hữu cơ tạo ra các nguyên tố khoáng mà cây trồngcũng như các vi sinh vật, động vật trong đất sử dụng làm nguồn dinh dưỡngtrực tiếp để sinh trưởng phát triển như đạm, lân, kali, đặc biệt là các nguyên tốtrung vi lượng Quá trình mùn hóa chất hữu cơ trong đất tạo ra khả năng điềutiết chế độ nhiệt, nước và dinh dưỡng trong đất cũng như cho cây trồng
* Tác dụng của phân chuồng ủ, phân hữu cơ vi sinh đối với cây rau.Cũng như đối với các loại cây trồng khác, khi sử dụng phân chuồng ủ,phân hữu cơ vi sinh bón cho rau có tác dụng rất tốt
Trang 17+ Bổ sung một lượng dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng trong quátrình sinh trưởng, phát triển thay thế các loại phân bón hoá học.
+ Thân thiện với môi trường, không gây độc hại cho người và động vật.+ Tăng dinh dưỡng cải thiện đất trồng, tăng độ phì nhiêu cho đất, tănghàm lượng mùn, cải tạo đất bạc màu
+ Nâng cao năng suất sinh khối, tăng khả năng tích luỹ chất khô, vàchất lượng sản phẩm nâng cao, mẫu mã đẹp
+ Các loại phân hữu cơ phân giải nhanh trong đất không tồn dư trongsản phẩm nông sản, an toàn cho người sử dụng
+ Tăng sức đề kháng cho cây trồng, giảm sâu bệnh, chi phí thấp
+ Bổ sung các loại vi sinh vật đất làm cho đất tơi xốp, tăng khả nănghấp thu của bộ rễ cây trồng
Phân bón nói chung và phân hữu cơ vi sinh nói riêng ảnh hưởng trựctíp và rất sâu sắc tới năng suất cung như chất lượng cây trồng Hiện nay ởViệt Nam có rất nhiều loại phân bón hữu cơ vi sinh như phân hữu cơ vi sinhSông Gianh, phân vi sinh Bình Điền, Neb-26, WEGH, HUMIX, VEDAGRO,KOMIX, phân vi sinh BIOGRO và một số loại phân bón truyền thống
Thực tế chăm sóc cây trồng bằng phân bón hữu cơ sinh học đem lạinăng suất cao hơn, bảo đảm môi trường, nhưng giá thành cao, phương thức sửdụng chưa đơn giản … đang là trở ngại trong việc khuyến khích sử dụng,khiến nhiều người dân chưa mặn mà với sản phẩm phân bón ( Theo báo Hảiphòng)[18]
Hiện nay, để đảm bảo chiến lược an toàn thực phẩm, các nước đangphát triển có xu hướng sử dụng ngày càng tăng lượng phân bón hóa học NPK.Theo tính toán thì đến năm 2020, các nước Châu Á sẽ sử dụng trên 250 kgNPK/ ha, với mức này so với mức sử dụng trung bình của thế giới thì đã giatăng lượng sử dụng NPK lên gấp 2 lần[26] Việt Nam cũng nằm trong xu thếchung của các nước Châu Á Ngoài ra việc sử dụng phân bón hóa học vớilượng cao để nhắm vào mục tiêu gia tăng năng suất các loại nông sản đang làthói quen của người nông dân trong thập kỷ vừa qua Đặc biệt, việc sử dụngquá nhiều phân đạm (N) tới mức lạm dụng đã làm tăng dần sự mất cân đốigiữa các dưỡng chất trong đất Điều này sẽ dần hình thành các yếu tố dinhdưỡng hạn chế đến năng suất và chất lượng nông sản Mặt khác, việc sử dụng
Trang 18quá cao lượng N sẽ gây khó khăn trong việc bảo quản nông sản cũng như việctích lũy hàm lượng NO3 trong rau và các loại cây thực phẩm sẽ là nguy cơ đedọa sức khoẻ của con người và vật nuôi.
Một điều cần lưu ý khi sử dụng gia tăng lượng NPK thì lâu dài sẽ xảy
ra hiện tượng hiệu lực của chúng sẽ suy giảm Điều này dễ hiểu khi chúng tathấy hàm lượng chất hữu cơ trong đất nông nghiệp ở nước ta còn ở mức từtrung bình đến quá thấp Vì vậy việc sử dụng phân hữu cơ đúng phương phápsẽ khắc phục được sự mất cân đối dinh dưỡng trong đất, gia tăng hiệu quả củaphân hóa học, giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường và đặc biệt là việc gia tăngchất lượng nông sản, đảm bảo tính bền vững của nông nghiệp Nhất là trong
xu thế hiện nay, việc sản xuất nông sản hữu cơ đang được quan tâm ở cácnước phát triển, vì vậy việc sử dụng nguồn hữu cơ thiên nhiên và phân hữu cơchế biến sẽ đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước và đảm bảo việc mở rộng, ổnđịnh thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Trong những năm gần đây, khi nghiên cứu về độ phì nhiêu đất và dinhdưỡng cây trồng nhiều nhà khoa học đã tập trung theo hướng quản lý dinhdưỡng tổng hợp cho cây trồng nhằm mục đích làm tăng hiệu suất sử dụngphân khoáng thông qua vai trò của phân hữu cơ Như vậy, sẽ giảm đượclượng phân khoáng cần đưa vào đất, tăng khả năng hoạt động của hệ vi sinhvật đất và làm thay đổi một số tính chất lý hóa học đất theo hướng tốt hơn.Tổng lượng chất hữu cơ trong đất thường bị mất đi thông qua nhiều cơ chếkhác nhau: rửa trôi xói mòn, sự hấp thu của cây, quá trình khoáng hóa hữu cơtrong đất… Chính vì vậy, nguồn bổ sung hữu cơ cho đất chủ yếu phải do conngười thực hiện thông qua quá trình canh tác: Bón phân hữu cơ, bón phânxanh, tàn dư thực vật
2.3 Thực trạng sử dụng hoá chất BVTV trong sản xuất rau tại Việt nam.
Cùng với việc thâm canh tăng năng suất cây trồng, đầu tư nhiều loạiphân bón thì sâu bệnh đã trở thành mối đe doạ nghiêm trọng đối với năng suấtcây trồng Trên thế giớ hiện nay có hàng chục nghìn loại thuốc trừ sâu bệnh,thuốc kích thích sinh trưởng, thuốc trừ cỏ, cho nên người sử dụng không nắm
rõ được nguồn gốc, cách sử dụng, và tác dụng của từng loại thuốc khác nhau
mà chỉ dựa vào sự chỉ dẫn không có độ tin cậy của người bán hàng
Trang 19Ở Việt nam hiện trạng ô nhiễm môi trường do Hoá chất Bảo vệ thực vật(HCBVTV) đã trở thành vấn đề cấp thiết cần được sự quan tâm của mọingười, cơ quan chức năng Trong các nguyên nhân gây nên sự ô nhiễm môitrường có sự góp mặt của các loại HCBVTV Hàng năm Việt Nam sử dụngkhoảng 15000- 25000 tấn HCBVTV và thuốc dịch hại Tác động có hại củaHCBVTV đặc biệt đối với dư lượng những chất có tính độc cao như: DDT,Lindan, Monitơr, Mathion, và Validacin trong môi trường đất, nước trongthực phẩm là mối đe doạ nguy hiểm cho sức khoẻ con người Lượng tồn dưHCBVTV trong đất gây hại đến các vi sinh vật đất làm nhiệm vụ phân huỷ,chuyển hoá chất hữu cơ thành chất khoáng đơn giản hơn là cách gián tiếp tácđộng tiêu cực đến cây trồng Mà hầu hết các loại HCBVTV đều là những chấtkhó phân giải, có liên kết chặt chẽ trong đất, có những hợp chất phải mất hàngchục năm mới phân giải hết.Vấn đề sử dụng HCBVTV và những tồn dư cáchợp chất này trong sản phẩm nguy hại và lâu dài tới sức khoẻ con người Tồn
dư của DDT và NO3 trong sản phẩm nông sản gây hội chứng nhũn xương ởtrẻ em Đây là vấn đề mà nước ta cần có sự quan tâm đặc biệt.[3]
Hiện cả nước có khoảng 46% vùng sản xuất rau an toàn Nhưng lượng
vi sinh vật có hại, hoá chất độc hại, kim loại nặng, thuốc BVTV tồn dư trongrau vẫn tồn tại Vậy, cần nâng cao ý thức trách nhiệm của người sản xuất,kinh doanh thuốc BVTV Tuyên truyền rộng rãi đến người dân về nguyên tắc
sử dụng thuốc BVTV và những tác hại của nó để nâng cao ý thức của ngườidân, đảm bảo an toàn sức khoẻ cho người tiêu dùng
( Trích: Bài viết: Tồn dư phân hóa học và thuốc BVTV đến sức khoẻcon người - Lê Thị Huế - Đại Học Vinh, 2009)[20]
Trang 20Bảng 2.6: Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cho phép trong rau
Loại thuốc BVTV
Dư lượng cao nhất (mg/kg) Thời gian
cách ly (ngày)
( Theo Viện Bảo vệ thực vật và Viện Rau quả)[27].
Không chỉ những người tiêu dùng sử dụng nông sản có chứa dư lượnghoá chất BVTV bị tác động đến sức khoẻ mà chính những người trồng rauthường xuyên tiếp xúc với thuốc cũng bị tác động đến sức khoẻ
Tiếp xúc lâu dài với thuốc BVTV có thể dẫn đến các rối loạn timmạch, phổi, thần kinh, các triệu chứng về máu và các bệnh về da Tác độngviệc sử dụng thuốc BVTV tới sức khoẻ nông dân đặc biệt là những người tiếpxúc trực tiếp với thuốc: phun thuốc, pha chế thuốc, hít phải thuốc qua phát tántrong không khí thuốc BVTV có ảnh hưởng tiêu cực đáng chú ý tới người
Trang 21nông dân Tần suất các rủi ro về sức khoẻ được đánh giá cao có liên quan tớimức độ, liều lượng sử dụng, loại thuốc sử dụng và một số đặc điểm cá nhâncủa người sử dụng thuốc Vì vậy các chính sách quy định việc sử dụng hoáchất nguy hại cần phải được nghiên cứu kỹ đặc biệt giới hạn với các loạithuốc có tác động xấu tới sức khoẻ của người tiêu dùng.
Kết quả điều tra trong 3 năm với 155 người thường xuyên tiếp xúc vớithuốc BVTV Các triệu chứng bệnh lý trình bày trong bảng sau
Bảng 2.7 : Tình hình nhiễm độc của nông dân tiếp xúc với thuốc BVTV
Triệu chứng Tần
suất
Tỷ lệ (%) Triệu chứng
Tần suất
Tỷ lệ (%)
Mệt mỏi, khó chịu 122 78,7 Đau mũi, họng 45 29,0
(Trang thông tin Agroviet.com.vn Thuốc BVTV và tác hại của chúng đối với
sức khoẻ con người.)[23].
Những vấn đề về sự bền vững nông nghiệp và hạn chế đến mức tốithiểu mối nguy hại đến môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻcon người cần được giải quyết một cách đồng bộ Sử dụng phân bón, hoá chất
có hiệu lực cân đối là chìa khoá đối với năng suất bền vững Cần áp dụngnhững tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ khoa học vào sản xuất để dần hìnhthành một nền nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ Mang lại hiệu quả kinh
tế cao năng suất ổn định và đảm bảo sức khoẻ cho người sử dụng
2.4 Sự phát triển của kỹ thuật canh tác hữu cơ
Khái niệm về nông nghiệp hữu cơ:
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ là sản xuất theo nguyên tắc được quyđịnh theo tiêu chuẩn quốc tế của IFOAM với mục tiêu đảm bảo hệ sinh thái
Trang 22cây trồng, vật nuôi, tạo ra những sản phẩm có chất lượng an toàn với người sửdụng và đem lại hiệu quả kinh tế, duy trì và nâng cao độ màu mỡ của đất Đó
là phương pháp nuôi, trồng rau quả, thực phẩm mà không sử dụng bất cứ mộtloại hoá chất độc hại nào, như thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt
cỏ hoá chất cũng như các loại phân hoá học, sản xuất hữu cơ chú trọng đếncân bằng hệ sinh thái tự nhiên
Các nguyên tắc cơ bản của nông nghiệp hữu cơ?
Nông nghiệp hữu cơ là một hình thức nông nghiệp tránh hoặc loại bỏphần lớn việc sử dụng phân bón tổng hợp, thuốc trừ sâu, các chất điều tiết sựtăng trưởng của cây trồng, và các chất phụ gia trong thức ăn gia súc Cácnông dân canh tác theo hình thức nông nghiệp hữu cơ dựa tối đa vào việcquay vòng mùa vụ, các phần thừa sau thu hoạch, phân động vật và việc canhtác cơ giới để duy trì năng suất đất để cung cấp các chất dinh dưỡng cho câytrồng, và kiểm soát cỏ, côn trùng và các loại sâu bệnh khác Mục đích hàngđầu của nông nghiệp hữu cơ là tối đa hóa sức khỏe và năng suất của các cộngđồng độc lập về đời sống đất đai, cây trồng, vật nuôi và con người
Theo tổ chức nông nghiệp hữu cơ quốc tế IFOAM: "Vai trò của nôngnghiệp hữu cơ, dù cho trong canh tác, chế biến, phân phối hay tiêu dùng, lànhằm mục đích duy trì sức khỏe của hệ sinh thái và các sinh vật từ các sinhvật có kích thước nhỏ nhất sống trong đất đến con người"
Nhìn chung Canh tác Nông nghiệp hữu cơ sẽ cải thiện và duy trì cảnh quan
tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp, tránh việc khai thác quá mức và gây ô nhiễmcho các nguồn lực tự nhiên, giảm thiểu việc sử dụng năng lượng và các nguồn lựckhông thể tái sinh, sản xuất đủ lương thực có dinh dưỡng, không độc hại, và cóchất lượng cao,… Ngoài ra còn đảm bảo, duy trì và gia tăng độ màu mỡ lâu dàicho đất, củng cố các chu kỳ sinh học trong nông trại, đặc biệt là các chu trình dinhdưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứu chữa, đa dạng các
vụ mùa và các loại vật nuôi, phù hợp với điều kiện địa phương(TríchOrganicVietnam.org.vn - Hội nông dân Việt Nam)[21]
Trang 232.4.1 Sự phát triển của kỹ thuật canh tác hữu cơ trên Thế giới
Nông nghiệp hữu cơ đã phát triển nhanh chóng trên toàn thế giới trongnhững năm gần đây và hiện nay được thực hiện tại khoảng 110 quốc gia trênthế giới Số lượng đất canh tác nông nghiệp và các trang trại làm nông nghiệphữu cơ tiếp tục tăng lên Hơn thế nữa, người ta có thể nghĩ đến việc ở nhiềunước khác cũng có canh tác hữu cơ không được biết đến
Quỹ sinh thái và nông nghiệp SOEL đã thu thập thông tin về việc canh táchữu cơ trên toàn thế giới Theo cuộc điều tra gần đây (2005), hơn 26 triệu héc-tahiện đang được quản lý theo hình thức hữu cơ tại ít nhất 558.449 trang trại trêntoàn thế giới Thị trường cho các sản phẩm hữu cơ cũng đang tăng trưởng,không chỉ tại Châu Âu và Bắc Mỹ (là các thị trường chính) mà còn tại nhiềuquốc gia khác, kể cả một số nước đang phát triển OrganicVietnam.org.vn - Hộinông dân Việt Nam, 2009) [21]
Tuy nhiên, các nước có diện tích canh tác hữu cơ lớn nằm tại Châu Âu.Châu Đại Dương có tổng số 43% đất hữu cơ thế giới, sau đó là Châu Âu(23,8%) và Châu Mỹ La-tinh (23,5%)
Do phần lớn diện tích đất hữu cơ tại Australia và Ac-hen-ti-na là đấtchăn thả gia súc quy mô lớn, diện tích toàn cầu dành cho đất canh tác có lẽdưới 50% Tuy nhiên, phần diện tích đất được quản lý theo hình thức hữu cơ
so với diện tích được quản lý theo kiểu truyền thống tại châu Âu là lớn nhất
Châu Mỹ Latinh có tổng số trang trại hữu cơ nhiều nhất Việc tiếp tụcgia tăng diện tích đất hữu cơ không cân đối do ngày càng có nhiều người quantâm đến canh tác hữu cơ, song cũng là kết quả của việc cải thiện tiếp cậnthông tin và thu thập dữ liệu mỗi lần nghiên cứu này được cập nhật
2.4.2 Sự phát triển của kỹ thuật canh tác hữu cơ tại Việt Nam
Mặc dù có thể nói rằng, như tại tất cả các nước khác, tất cả các nôngdân đã trồng trọt theo phương thức hữu cơ từ cách đây hàng trăm năm, canhtác hữu cơ theo hiểu biết quốc tế lại khá mới đối với Việt Nam Thị trường địaphương đã không được phát triển, mặc dù cách đây vài năm, một công ty đã
Trang 24cố gắng giới thiệu các loại rau hữu cơ cho người tiêu dùng ở Hà Nội Hầu nhưkhông có tổ chức quốc tế và địa phương nào hỗ trợ nông nghiệp hữu cơ(ngoại lệ chủ yếu là ADDA và GTZ) Chính phủ cũng đã không có chính sách
hỗ trợ việc phát triển nông nghiệp hữu cơ trong nước và do đó, hầu như vẫnkhông có các dịch vụ nghiên cứu và mở rộng canh tác
Tuy nhiên, vào tháng 12/2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn(MARD) đã ban hành các tiêu chuẩn cơ bản cấp quốc gia đối với sản xuấttheo hình thức hữu cơ, hiện có thể được áp dụng làm quy chiếu cho các nhàsản xuất, chế biến và những người khác quan tâm đến các sản phẩm hữu cơdành cho thị trường trong nước Bộ NN & PTNT lập kế hoạch thành lập một
hệ thống chứng nhận dành cho thị trường nội địa cùng với các cơ quan chínhphủ, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, khu vực tư nhân và các khu vực khác
Các sản phẩm hữu cơ chủ yếu là các loài cây như quế, hồi, gừng, chè,điều, tôm, và cá ba sa Các sản phẩm này được chứng nhận theo tiêu chuẩn củacác nước nhập khẩu, như châu Âu và Mỹ, và các cơ quan chứng thực nước ngoài
thực hiện việc kiểm tra và chứng thực (Trích Nông nghiệp hữu cơ mang lại nông
sản sạch, Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt nam VOVNEWS.VN.2009)[24].
Trang 252.5 Giới thiệu chung về cây rau cải ngọt
2.5.1 Đặc điểm của cây rau cải ngọt
Rau cải ngọt có tên khoa học là Brassica Lintergrifolia là rau thuộc họthập tự (Brassicaceae hoặc Cruciferae)
Loài rau này được trồng rất phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, từ cácvùng nhiệt đới nóng ẩm đến miền cực lạnh giá Rau được trồng chủ yếu ở cácnước như Đài Loan, Thái Lan, Singapose Trong điều kiện khí hậu Việt Nam,rau họ thập tự có thể sinh trưởng, phát triển gần như quanh năm trên đồngruộng đặc biệt là các giống cải ngọt
Hình ảnh cây rau cải ngọt
Trang 26Đặc điểm chung của giống rau cải ngọt [1],[2] là:
- Rễ rau cải ngọt thuộc loại rễ chùm, phân bố ở tầng đất mặt 0 – 30 cm
- Thân và lá là bộ phận sử dụng chính, cuống lá tròn và được phân chia rõràng với phiến lá, lá có phiến lá nhỏ hẹp hơi tròn, bản lá mỏng, lá có màu xanh
+ Quả có màu nâu đỏ, vỏ nhẵn, kích thước hạt nhỏ
2.5.2 Giá trị dinh dưỡng của cây rau cải ngọt
Trong cải ngọt có rất nhiều thành phần dinh dưỡng [5],[9] gồm:
2.5.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây rau cải ngọt
a Yêu cầu về nhiệt độ
Rau cải ngọt là cây có thể sinh trưởng và phát triển ở phổ nhiệt độ rấtrộng Hạt có thể nảy mầm được dưới -50C, nhưng chậm Nhiệt độ thích hợpnhất để hạt nảy mầm từ 15-250C Nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn sinhtrưởng và phát triển là từ 18 – 230C Trong điều kiện nhiệt độ cao ( trên 28-
300C) kết hợp với độ ẩm không khí thấp cây sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh lý vàchất lượng rau lúc thu hoạch.[1], [25]
b Yêu cầu về ánh sáng
Trang 27Rau cải là cây ưa ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn cây con và giai đoạnsinh trưởng Cây quang hợp mạnh ở bức xạ mặt trời 20000-22000 lux Raucải là cây ngắn ngày dài nên nếu trồng trong điều kiện ánh sáng đầy đủ thì câysẽ sinh trưởng và phát triển tốt.
c Yêu cầu về độ ẩm
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây rau cải yêu cầu độ ẩm đất
và không khí cao Do cường độ thoát hơi nước ở lá của cây rau cải rất cao.Các nhà nghiên cứu đã xác định cường độ thoát hơi nước của cây rau cải ngọt
là 12g/h/m2 diện tích bề mặt lá Độ ẩm tối thích trong giai đoạn sinh trưởng là80-85% độ ẩm đồng ruộng, độ ẩm không khí là 85-90%.[5], [9]
d Yêu cầu vê dinh dưỡng và đất trồng
Rau cải phát triển tốt trên các loại đất cát pha, thịt nhẹ, thoáng khí và cókhả năng giữ ẩm.Rau cải không thích hợp trồng trên loại đất nghèo dinhdưỡng, đất cát pha nặng cũng như trên loại đất có phản ứng axit Phát triển tốttrên đất có độ pH = 5,5 – 6,5 Trong thời gian ngắn cây rau cải ngọt có thể tạonên khối lượng chất hữu cơ lớn vì vậy chúng yêu cầu tăng cường chất dinhdưỡng đặc biệt là đạm, lân, kali, canxi Mỗi thời kỳ sinh trưởng cây rau cảingọt có yêu cầu lượng dinh dưỡng khác nhau, các giống khác nhau thì yêucầu về dinh dưỡng cũng khác nhau
Rau cải yêu cầu về dinh dưỡng đạm nhiều hơn so với các loại dinhdưỡng khác Nhưng trong điều kiện ánh sáng không đầy đủ, thời tiết khô hanhnếu bón quá nhiều đạm cũng ảnh hưởng không tốt tới quá trình quang hợp củacây, vì vậy cần phải tăng cường bón thêm kali Tuy nhiên tốt nhất vẫn là bóncân đối giữa các loại phân N, P, K, bón hợp lý và bón đúng thời kỳ để đảmbảo được năng suất và chất lượng rau
Đất trồng cần phải thường xuyên bổ sung các loại dinh dưỡng để đảmbảo cây có đủ dinh dưỡng trong suốt quá trình sống Nếu thiếu một trong cácloại dinh dưỡng thì cây sinh trưởng chậm, không cân đối, dễ bị mắc các loạisâu bệnh, năng suất giảm sút, chất lượng không cao
2.5.4.Phương pháp bón phân cho cây rau sạch
Để đạt yêu cầu rau sạch, điều quan trọng là phải bón phân đúng cách Vì vậycần chú ý những điểm sau:
Trang 28- Không nên dùng phân hữu cơ tươi bón hoặc tưới cho rau, phân cần ủthật hoai, xử lý diệt vi khuẩn theo hướng dẫn Không nên dùng nước thải sinhhoạt chưa xử lý để tưới cho rau
- Không nên dùng phân chế biến từ rác thải thành phố, vì trong loại rácthải này có chứa nhiều kim loại nặng
- Phân hữu cơ nên trộn với phân lân và phân kali bón lót cho ruộng rau,bón xong rồi cày đất hoặc bón theo luống Một năm bón cho 1ha khoảng 20tấn phân hữu cơ, 500kg phân supe lân hoặc lân nung chảy, 250-300 kg phânkali Bón một lần hoặc chia làm hai lần trong năm vào lúc thuận tiện nhất,làm như vậy đất sẽ tơi xốp và có dự trữ lân, kali, lưu huỳnh, magiê và cácchất dinh dưỡng khác
- Định kỳ theo đặc điểm của loại rau ăn lá đang trồng mà tưới phân đạm.Phân đạm càng pha loãng càng tốt, tưới vào gốc tránh tưới trên lá Số lượngtưới theo hướng dẫn Trước lúc thu hoạch rau 15-20 ngày nên ngưng tướiphân đạm để lượng nitrat trong rau không quá cao
- Cây rau có thể hút các chất điều hoà sinh trưởng và chất dinh dưỡngqua lá, nên dùng biện pháp này có thể tăng năng suất rau, song các chất điềuhoà sinh trưởng là các hoá chất có thể gây độc cho người và gia súc Các chấtnày lúc thu hoạch có khi vẫn bám trên mặt lá, không rửa kỹ sẽ rất có hại
- Không nên dùng bất kỳ loại phân phun lá nào cho các loại rau ăn.(Nguồn tin: Nông thôn ngày nay)[22]
2.6 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại trên cây rau
Rau thuộc họ thập tự là cây trồng được trồng phổ biến ở nhiều nướctrên thế giới Trong suốt thời gian từ khi trồng đến lúc thu hoạch chúngthường bị nhiều loại sâu hại tấn công và gây hại Một số nghiên cứu cho thấy:
Ở Jamaica có 17 loài sâu hại, riêng sâu tơ Plutella xylostella L và sâukhoang Spodiptera litura F có tỷ lệ gây hại từ 74 – 100 % năng suất bắp cải( Alam M 1992) [31]
Ở Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1987 – 1990 đã ghi nhận có 6 loài sâu hại chính( Harcout, 1985)[32]
Ở Mỹ có 4 loại (Shelton et al.,1982)[28],[29],[30]
Ở Nhật bản có 5 loài ( Koshihara,1985)[27]
Ở Trung Quốc có 7 loài ( Chang et al.,1983)[26]
Trang 29Tuy số loài gây hại chủ yếu có khác nhau nhưng sâu tơ, sâu khoang đềuđược coi là đối tượng gây hại quan trọng ở hầu hết các nước.
Tại Việt Nam, Viện BVTV (1976) [3] tiến hành điều tra sâu hại câytrồng ở các tỉnh phía Bắc đã xác định trên họ rau thập tự có 23 loài sâu hạithuộc 13 họ và 6 bộ Kết quả điều tra năm 1977 – 1979 ở các tỉnh phía Namcũng đã phát hiện số loài sâu hại tương tự Kết quả điều tra 3 năm 1995 –
1997 ở vùng Đồng bằng Sông Hồng của Lê Văn Trịnh (1997) đã xác địnhđược 31 loài côn trùng gây hại trên rau họ thập tự với mức độ khác nhau,trong đó có 12 loài gây hại rõ rệt và quan trọng nhất là 3 đối tượng là sâu tơ,sâu khoang và sâu xanh Riêng sâu tơ gây thiệt hại hằng năm cho rau thập tựlên tới 30 – 50 % năng suất mặc dù chi phí phòng trừ chiếm 20 – 40 % tổngchi phí sản xuất Có thể phòng trừ bệnh bằng thuốc DELFINR WG, Cyperan25EC, peran 5EC…
Trên cây rau họ thập tự thường xuất hiện một số bệnh hại cây như bệnhchết cây con, bệnh thối bẹ lá…Có thể phòng bệnh trừ bệnh bằng cách cácthuốc Validan 3DD - 5DD, Carban 50SC, Topan 70WP, Carban 50SC, Score250ND Thio-M, Bendazol, Carbenzim
Trang 30PHẦN III: VẬT LIỆU - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu
* Giống cải ngọt được sử dụng là giống Tosakan có thời gian sinhtrưởng và phát triển là 25 – 35 ngày, sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ
- Sản phẩm của công ty lien doanh hạt giống Đông Tây
* Phân chuồng đã được ủ hoai mục
* Chế phẩm phân hữu cơ vi sinh Anvi-1 của Công ty cổ phần Anh Việt– Công nghệ Nhật Bản
- Thành phần:
+ Hàm lượng hữu cơ tổng số ≥20%
+ Vi sinh vật có ích: 1×106 CFU/g
+ Vi sinh vật gây hại: không có
+ Các vi lượng: Cu, Zn, Mg, Fe, Si…2000ppm
- Thành phần: Bacillus Thurigiensis 32 BIU/kg.
- Đặc trị: Sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, sâu xám
- Thời gian cách ly: 1 ngày Một gói pha 10 lít, phun 2 – 2.5 bình/1 sàoBắc Bộ
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân bón hữu cơ vi sinh Anvi - 1đến sự sinh trưởng, phát triển của cây rau cải ngọt
Trang 31- Đánh giá ảnh hưởng liều lượng phân bón hữu cơ vi sinh Anvi - 1 đếnnăng suất cây rau cải ngọt.
- Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân bón hữu cơ vi sinh Anvi - 1đến tình hình sâu bệnh hại trên cây rau cải ngọt
- Đánh giá hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh Anvi –
1 bón cho cây rau cải ngọt
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Các công thức thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 6 công thức có nội dung như sau:
CT1: Không bón phân (Đối chứng)
Trang 32- Sau khi cây mọc đươc 6 – 7 ngày thì tỉa cây và để với khoảng cách 15
× 10cm
3.3.4 Các biện pháp kỹ thuật chăm sóc
- Sau khi gieo thường xuyên tưới nước để luôn đảm bảo độ ẩm của đất
là 80-85% Làm cỏ, xới xáo phá váng trên mặt luống, vét rãnh
- Phòng trừ bọ nhảy trong thời kỳ đầu, phun dinh dưỡng thảo mộc 7ngày/lần
- Phòng trừ sâu xanh, sâu tơ trong thời kỳ cây sinh trưởng và phát triển
- Tưới ngập rãnh cho ruộng tránh để khô, không đủ ẩm cho cây sinh trưởng
- Các biện pháp chăm sóc tuân theo quy trình sản xuất rau sạch
3.3.5 Các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cho từng giai đoạn
a Giai đoạn cây con.
- Làm cỏ, xới xáo, tăng độ tơi xốp cho đất
- Tưới nước giữ ẩm: áp dụng biệp pháp tưới phun
- Phun dinh dưỡng thảo mộc: Sau khi gieo 7 ngày thì tiến hành phuncác loại dinh dưỡng như: Cá lên men, xương dấm, tỏi, thân chuối, ngải cứu
+ Liều lượng: Dung dịch tỏi, cá lên men, xương dấm: 30ml/1
bình10L.Phun 2 bình /1 sào Bắc Bộ
Các loại dinh dưỡng thảo mộc mỗi loại 20ml/ 1bình 10L
+ Cách dùng: Tất cả các loại dinh dưỡng pha lẫn với nhau, khuấy đều
và phun đều lên cây
Phòng trừ sâu bệnh: Sử dung các loại dung dịch có tác dụng phòng trừsâu bệnh như: tỏi, ớt và thuốc trừ sâu sinh học DelfinR WG
+ Liều lượng : Thuốc trừ sâu sinh học: DelfinR WG ½gói/bình 5L.Phun 2 - 2.5 bình/1 sào Bắc Bộ
Tỏi, ớt, xà phòng: 30ml/bình 10L Phun 2 bình/1 sào Bắc Bộ
Trang 33+ Cách dùng: Pha lẫn tất cả các loại dung dịch có tác dụng phòng trừ
sâu bệnh và thuốc trừ sâu đúng liều lượng quy định rồi phun đều lên cây
Chú ý: Phun vào sáng sớm lúc vẫn còn sương để bọ nhảy ướt cánhkhông bay được hiệu quả phòng trừ cao hơn
b Giai đoạn sinh trưởng phát triển đến trước thu hoạch.
- Tưới nước giữ ẩm: Kết hợp biện pháp tưới rãnh với tưới phun.
- Xới xáo, vén rãnh và làm cỏ dại
- Phun dinh dưỡng: Sử dụng các dung dịch lên men như xương dấm,
cá, cây chuối, tỏi và ngải cứu
+ Liều lượng: Dung dịch tỏi, cá lên men, xương dấm: 30ml/1 bình10L;
Cây chuối và ngải cứu mỗi loại 20ml/1 sào Bắc Bộ Phun 2 bình /1 sào Bắc Bộ
+ Cách dùng: Tất cả các loại dinh dưỡng pha lẫn với nhau, khuấy đều
và phun đều lên cây Phun 7 ngày 1 lần Ngừng phun dinh dưỡng trước lúcthu hoạch một tuần
Phòng trừ sâu bệnh hại: Thường xuyên theo dõi, phát hiện và phunphòng trư sâu bệnh hai bằng thuốc DelfinR WG và các loại dung dịch có tácdụng phòng trừ sâu bệnh
+ Liều lượng : Thuốc trừ sâu sinh học: DelfinR WG ½gói/bình 5L.Phun 2 - 2.5bình/1 sào Bắc Bộ
Tỏi, ớt, xà phòng: 30ml/bình 10L Phun 2 bình/1 sào Bắc Bộ
+ Cách dùng: Pha lẫn tất cả các loại dung dịch có tác dụng phòng trừ sâu
bệnh và thuốc trừ sâu đúng liều lượng quy định rồi phun đều lên cây
3.3.6 Các chỉ tiêu theo dõi
a Theo dõi và đánh giá thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây rau cải ngọt
+ Đo chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến đỉnh lá thật cao nhất, đo 10 cây/
ô, tiến hành 5 ngày/lần
+ Số lá trên cây : Đếm số lá thật, đếm 10 cây/ô, tiến hành 5 ngày/lần
b Đánh giá năng suất của cây cải ngọt
+ Năng suất cá thể (NSCT) là trọng lượng trung bình của các cây theo dõi
+ Năng suất lý thuyết (NSLT) là năng suất tối đa của cây ngọt
NSLT = NSCT × Mật độ × 10000 ( kg/ha)
+ Năng suất thực thu (NSTT) là trọng lượng thực tế thu được
c Đánh giá tỷ lệ chất khô cây rau cải ngọt
Trang 34+ Tỷ lệ chất khô (%) theo phương pháp sấy khô đến khối lượng thànhphẩm không đổi
c Theo dõi sâu bệnh hại chính.
Trên cây rau họ thập tự nói chung và rau cải ngọt nói riêng, có rất nhiềuloại sâu hại như bọ nhảy, sâu xám, sâu xanh, sâu đo, sâu tơ, sâu khoang…Trong đó đối tượng gây hại chủ yếu và ảnh hưởng sâu sắc nhất đến giá trịthẩm mỹ quan cũng như chất lượng của cây rau đó là sâu tơ và sâu, sâukhoang và sâu xanh
Tỷ lệ sâu hại được tính bằng công thức sau:
- Mức độ gây hại
P% = x 100
Trong đó:
P% tỷ lệ cây có sâu bị hại
N tổng số cá thể điều tra trong đơn vị điểu tra
n số cây bị sâu bệnh hại
Ở cây rau cải ngọt thường mắc một số bệnh hại như: Bệnh chết câycon, bệnh thối bẹ lá…nhưng các bệnh hại thường xuất hiện ít hơn và mức độgây hại cũng nhẹ hơn
d Đánh giá hiệu quả kinh tế
Trang 35PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh Anvi - 1 đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây rau cải ngọt.
4.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh Anvi - 1 đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của rau cải ngọt.
Sự tăng trưởng chiều cao là kết quả của hai quá trình biến đổi sinh lýdiễn ra đồng thời trong cơ thể thực vật Đó là quá trình giãn tế bào là phânchia tế bào đặc biệt là các tế bào ở đỉnh sinh trưởng Trong cả hai quá trìnhphân chia trên đều có sự tham gia của các chất kích thích sinh trưởng Auxin
và mối tác động tương hỗ giữa nó với các Phytohoocmon khác.[5], [9]
Trên cơ thể thực vật có nhiều cơ quan có khả năng tổng hợp đượcAuxin như: Đỉnh ngọn, lá non, quả non, phôi hạt đang sinh trưởng và cảtượng tầng cũng có khả năng đó, nhưng hàm lượng Auxin chủ yếu tập trung ởđỉnh ngọn Vì thế quá trình vươn cao của thân cây là kết quả của mọi hoạtđông sinh lý diễn ra bình thường trong cơ thể thực vật.[5], [9]
Bên cạnh đó sự tăng trưởng về chiều cao cây còn chịu sự chi phối củacác yếu tố như: điều kiên ngoại cảnh (nhiệt độ, ẩm độ, dinh dưỡng…) và cácbiện pháp canh tác Khi các yếu tố trên là đồng nhất hoặc coi như đồng đềuthì sự tăng trưởng về chiều cao cây biến động phụ thuộc vào nhiều yếu tốdinh dưỡng Nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây chính là phân bón mà ở đây
là loại phân bón hữu cơ vi sinh Anvi - 1, hoàn toàn không sử dụng phân hóahọc và thuốc hóa học
Quan sát đông thái tăng trưởng chiều cao cây cho ta thấy được ảnhhưởng của liều lượng phân bón hữu cơ khác nhau đến sinh trưởng và pháttriển của cây
Qua bảng 4.1 và đồ thị dưới đây chúng tôi nhận thấy rằng: Tốc độ tăngtrưởng chiều cao cây ở các công thức khác nhau là khác nhau, ở các thời kìkhác nhau là khác nhau nhưng nhìn chung chiều cao cây tăng dần theo thờigian sinh trưởng
Theo dõi vào ngày 22/4/2010 cho thấy chiều cao cây ở tất cả các côngthức đều cao và tương đối đồng đều Chiều cao cây ở CT3 là cao nhất (7.91cm); tiếp theo là CT4 với chiều cao cây là 7.72 cm; chiều cao cây của CT5 là
Trang 367.43 cm; của CT2 là 7.42 cm; của CT6 là 7.40 cm và CT1 là cụng thức cúchiều cao cõy đạt giỏ trị thấp nhất (7.16 cm) Khoảng cỏch giữa hai cụng thức
là 7.91- 7.16 = 0.75 lớn hơn LSD0.05 = 0.58 Như vậy, sự khỏc nhau về chiềucao cõy giữa CT3 và CT1 là cú ý nghĩa
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng phõn bún hữu cơ vi sinh đến động
thỏi tăng trưởng chiều cao cõy rau cải ngọt.
(Đơn vị: cm)
Cụng thức 22/4/2010 27/4/2010Ngày theo dừi2/5/2010 7/5/2010
Cỏc giỏ trị cú chữ cỏi trờn mũ khỏc nhau là khỏc nhau cú ý nghĩa thống kờ tại mức ý nghĩa 0.05.
Ảnh h ởng của phân bón hữu cơ vi sinh đến động thái
tăng tr ởng chiều cao cây rau cải ngọt
0 5 10 15 20 25 30
Đồ thị 4.1: Ảnh hưởng của liều lượng phõn bún hữu cơ vi sinh đến động
thỏi tăng trưởng chiều cao cõy rau cải ngọt.
Theo dừi vào ngày 27/4/2010 cho thấy: Chiều cao cõy ở CT3 tăng 4.23
cm so với lần theo dừi trước (tức chiều cao cõy của lần theo dừi này là 16.14cm); tiếp theo là cỏc CT5 (15.21 cm); CT4 (14.83 cm); CT2 (14.76 cm); CT6
Trang 37(13.58 cm) và chiều cao thấp nhất là 13.50 cm ở CT1 Khoảng cách giữa haicông thức là 16.14 – 13.5 = 2.64 lớn hơn LSD0.05 = 1.55 Như vậy, sự khácnhau về chiều cao cây giữa CT3 và CT1 là có ý nghĩa.
Theo dõi vào ngày 2/5/2010 cho thấy: CT4 có chiều cao cây cao nhất là22.69 cm; tiếp theo là các CT3 (22.19 cm); CT2 (22.03 cm); CT1 (21.62 cm);CT5 (21.21 cm) và chiều cao thấp nhất là 20.63 cm ở CT6 Sự chênh lệchchiều cao cây giữa hai công thức là 22.69 – 20.63 =2.06 nhỏ hơn LSD0.05 =2.13 Như vậy, ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây tốt nhất ở CT4 vàchiều cao cây xấu nhất ở là rất sai khác tuy nhiên lại không có ý nghĩa
Theo dõi vào ngày 7/5/2010 cho thấy Chiều cao cây ở CT4 là cao nhất(28.29 cm); và chiều cao thấp nhất là 24.83 cm ở CT1 Sự chênh lệch giữahai công thức là 28.29 – 24.83 = 3.64 lớn hơn LSD0.05 = 2.53 Như vậy, sựkhác nhau về chiều cao cây giữa CT4 và CT1 là có ý nghĩa
Quá trình tăng trưởng chiều cao cây phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm
di truyền của giống Ngoài ra nó còn chịu chi phối của các yếu tố khác như:Điều kiện ngoại cảnh, các biện pháp kỹ thuật canh tác…mà trong đó yếu tốphân bón cá tác động trực tiếp và tương đối rõ rệt.Trong cùng điều kiện thínghiệm, các yếu tố thí nghiệm là như nhau.Việc sử dụng phân bón ở các mứckhác nhau đã có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây Tuy nhiên,chiều cao cây của một giống là tương đối ổn định và đặc trưng cho giống đónên tác động của các mức phân bón chỉ có tác dụng phân cách động thái tăngtrưởng chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển
Kết luận: Qua bảng số liệu trên ta thấy sự ảnh hưởng liều lượng củaphân bón hữu cơ vi sinh Anvi – 1 đến động thái tăng trưởng chiều cao cây làrất rõ rệt, đặc biệt là ở mức bón 1.5 tấn/ha đã tác động làm chiều cao cây tăngtrưởng khá cao, là tiền đề cho sự tăng năng suất của rau cải ngọt
4.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh Anvi - 1 đến động thái ra lá của cây rau cải ngọt.
Song song với sự tăng trưởng về chiều cao cây là sự tăng trưởng về số
lá trên cây Là là cơ quan quang hợp của cây Các chất khoáng và nước đượcđược rễ hút từ đất và vận chuyển đến lá hay được cung cấp trực tiếp vào láqua khí khổng Tại đây nhờ tế bào diệp lục có sự tham gia của khí CO2 đượccung cấp bởi năng lượng ánh sáng mặt trời đã biến đổi thành năng lượng hóa
Trang 38học dưới dạng hợp chất hữu cơ đồng hóa được vận chuyển đến khắp các cơquan của cơ thể thực vật Vì vậy, lá là cơ quan trọng đối với đời sống củathực vật.[5], [9].
Ở cải ngọt, sự tăng trưởng về số lá có ý nghĩa rất quan trọng bởi cây cảingọt có thờì kỳ sinh trưởng sinh dưỡng là chính nếu không có mục đích đểgiống thì cây rau cải chỉ trải qua giai đoạn sinh trưởng mà không qua giaiđoạn sinh trưởng sinh thực Vì vậy, số lá ít sẽ ảnh hưởng không tốt đến quátrình quang hợp của về nhiều mặt khác như: lá vàng, cây nhỏ… Như thế sựtăng trưởng về số lá cũng có ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây rau
ải ngọt Quan sát động thái tăng trưởng số lá trên cây thu được kết quả trìnhbày ở bảng dưới đây:
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của các mức phân bón hữu cơ vi sinh Anvi – 1 đến
sự tăng trưởng về số lá trên cây rau cải ngọt