1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào

77 368 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để cung cấp thêm những tư liệu về các giống gà địa phương cũng như làm cơ sở cho công tác lai tạo nhằm phát huy những đặc tính sinh học của gà địa phương đồng thời nâng cao năng suất thị

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

- -

SAYKHAM SOUKSANITH

ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA CÁC GIỐNG GÀ ĐỊA PHƯƠNG NUÔI TẠI HUYỆN LUANG PRA BANG, TỈNH LUANG PRA BANG, CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

- -

SAYKHAM SOUKSANITH

ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA CÁC GIỐNG GÀ ĐỊA PHƯƠNG NUÔI TẠI HUYỆN LUANG PRA BANG, TỈNH LUANG PRA BANG, CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: đây là một công tình nghiên cứu riêng của tôi cùng với sự giúp đỡ của Dự án SURAFCO và trường Cao đẳng Nông lâm nghiệp miền Bắc, Luang Pra Bang Các số liệu và kết quả nghiên cứu có trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ và đóng góp cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014

Tác giả luận văn

Saykham SOUKSANITH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ biết ơn tới:

- Thầy hướng dẫn 1 GS.TS Đặng Vũ Bình đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Thầy hướng dẫn 2 PGS.TS Đinh Văn Chỉnh đã hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Các thầy cô Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng Thủy sản đã quan tâm dìu dắt tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

- Các thầy cô và tập thể cán bộ Ban Quản lý đào tạo đã quan tâm và giúp đỡ trong suốt thời gian học tập

- Ban giám hiệu nhà trường và tập thể cán bộ phòng hợp tác Quốc

tế, đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian học tập

- Các thầy cô và tập thể cán bộ, Bộ môn Di truyền đã tận tình và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án

- Ban giám hiệu trường Cao đẳng Nông lâm nghiệp miền Bắc, Luang Pra Bang, Dự án SURAFCO và tập thể cán bộ của Dự án đã tạo điều kiện, giúp đỡ và đầu tư trong quá trình nghiên cứu

- Bạn cùng lớp CN K21A, đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, xin biết ơn các bạn bè, bạn đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hội nâng cao chuyên môn và hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014

Tác giả luận văn

Saykham SOUKSANITH

Trang 5

1.1 Cơ sở khoa học của nhân giống thuần chủng và chọn lọc gia cầm 3

Trang 6

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.2.1 Điều tra tình hình chăn nuôi gà tại huyện Luang Pra Bang 26 2.2.2 Khảo sát các đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của các giống gà

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Nhiệt độ từ năm 2006 – 2013 của tỉnh Luang Pra Bang (0C) 32 Bảng 3.2 Lượng mưa từ năm 2006 – 2013 của tỉnh Luang Pra Bang (mm) 32 Bảng 3.3 Số đầu vật nuôi và sản phẩm thủy sản của Luang Pra Bang (từ

Bảng 3.4 Số đầu gia súc và gia cầm bình quân/hộ của 3 bản 34

Bảng 3.12 Khối lượng và các chiều đo trên gà trống 20 tuần tuổi của 4

Bảng 3.13 Khối lượng và các chiều đo trên gà mái lúc 20 tuần tuổi của 4

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ các tỉnh của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 27

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là một nước nông nghiệp, trên 80% dân

số sống bằng nghề nông Chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi gia cầm chiếm một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp cũng như đối với thu nhập của các nông hộ Lào Theo Báo cáo thống kê năm 2010 - 2012 của Cục chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản - Bộ Nông Lâm nghiệp Lào, đàn gà ở cả nước là 24.079.000 con (năm 2010), 26.850.000 con (2011) và 28.779.000 con (năm 2012)

Chăn nuôi gia súc nói chung cũng như gia cầm nói riêng của người dân phần lớn dựa vào điều kiện tự nhiên Tuyệt đại bộ phận các gia đình đều nuôi

gà theo phương thức chăn thả, gà tự kiếm ăn, rất nhiều nhà không có chuồng nuôi, không thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh… Hàng năm, ở các thôn bản đều xảy ra dịch bệnh, ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh tế… Các giống gà địa phương được nuôi rất phổ biến tại các vùng nông thôn Lào Các giống gà này thích nghi với điều kiện chăn nuôi địa phương, chịu đựng tốt với hoàn cảnh sống khó khăn, lại có chất lượng thịt, trứng thơm ngon, rất

dễ tiêu thụ trên thị trường Tuy nhiên, các giống gà này thường có tầm vóc nhỏ, sinh trưởng chậm, năng suất thịt, trứng thấp Theo Khăm Pha Vông (2002), Đục Đăm, U, Nhộc và Hon Chu là các giống gà địa phương chủ yếu

và được người dân địa phương ưa chuộng

Bên cạnh các giống gà địa phương, trong những năm gần đây, một số cơ

sở nhân giống gia cầm ở Lào đã nhập và phát triển các giống gà lông màu, nuôi chăn thả như Tam Hoàng, Lương Phượng Cũng giống như Việt Nam, lai giữa gà địa phương với các giống gà trên sẽ là một trong những hướng phát triển của chăn nuôi gà ở các vùng nông thôn của Lào

Trang 10

Luang Pra Bang là cố đô của CHDCND Lào, nằm ở trung tâm của miền Bắc Lào, với diện tích 19.714 km2, dân số cả tỉnh khoảng 452.900 người, trong đó huyện Luang Pra Bang chiếm khoảng 47.378 người, có 12 dân tộc, hiện đang là một địa điểm du lịch quốc tế hấp dẫn, mỗi năm có khách du lịch hơn 100.000 khách Nhu cầu thực phẩm, trong đó có thịt gà cho Luang Pra Bang rất lớn và chủ yếu do huyện Luang Pra Bang đảm nhận

Để cung cấp thêm những tư liệu về các giống gà địa phương cũng như làm cơ sở cho công tác lai tạo nhằm phát huy những đặc tính sinh học của gà địa phương đồng thời nâng cao năng suất thịt, hiệu quả chăn nuôi gà nông hộ phục vụ cho nhu cầu thực phẩm khu vực Luang Pra Bang, chúng tôi thực hiện việc nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các

giống gà địa phương nuôi tại khu vực huyện Luang Pra Bang

2 Mục đích của đề tài

Đánh giá một số đặc tính sinh học và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại khu vực Luang Pra Bang nhằm đóng góp tư liệu cho việc bảo tồn quỹ gen và định hướng phát triển chăn nuôi gia cầm cung cấp thực phẩm cho Luang Pra Bang

Ý nghĩa khoa học:

Cung cấp một số tư liệu về tình hình chăn nuôi gà tại các nông hộ khu vực Luang Pra Bang, một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương của Lào

Ý nghĩa thực tiễn:

- Mô tả hiện trạng chăn nuôi gà tại các nông hộ khu vực Luang Pra Bang;

- Đánh giá được một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của 4 giống gà địa phương của Lào;

- Cung cấp tài liệu giúp cho việc định hướng công tác phát triển chăn nuôi gà của Luang Pra Bang cũng như của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của nhân giống thuần chủng và chọn lọc gia cầm

1.1.1 Tính trạng số lượng

Theo quan điểm di truyền học, các tính trạng về sức sản xuất của gia cầm như: sinh trưởng, cho thịt, tiêu tốn thức ăn, sinh sản… đều là các tính trạng số lượng Với quan điểm này, nghiên cứu tính năng sản xuất, thực chất

là nghiên cứu đặc điểm di truyền và ảnh hưởng của những tác nhân môi trường xung quanh đối với các tính trạng số lượng của vật nuôi

Các tính trạng số lượng do nhiều gen chi phối, các gene có thể hoạt động riêng rẽ, ảnh hưởng tới hướng phát triển của tính trạng, song phần lớn các gene đều hoạt động theo nhóm liên kết

Wright (1933), đã phân chia hoạt động của các gene theo 3 nhóm như sau: 1) Các gene ảnh hưởng đến mức độ phản ứng của tính trạng

2) Các gene có thể ảnh hưởng theo nhóm tới một tính trạng

3) Các gene có thể ảnh hưởng tới một vài tính trạng khác nhau

Như vậy, các tính trạng số lượng bị quyết định bởi nhiều gene và chịu ảnh hưởng của điều kiện yếu tố bên ngoài Mối quan hệ này được thể hiện thông qua mô hình sau:

P = G + E Trong đó: P là giá trị kiểu hình

G là giá trị kiểu gene

E là sai lệch môi trường

Sự tương tác giữa 2 gene cùng locus gây ra tác động trội: D (Dominance), sự tương tác giữa các gene không cùng locus gây ra tác động át

Trang 12

chế: I (Epistatique Interaction) và sự đóng góp riêng của từng gene tạo nên một hiệu ứng cộng tính: A (Additive Effect) Hiệu ứng này được gọi là giá trị giống, nó có tác dụng đối với chọn lọc nhằm cải tiến năng suất của vật nuôi trong nhân giống thuần chủng D và I có ý nghĩa lớn trong lai giữa các dòng, các giống Vậy kiểu gene được xác định bằng mô hình:

G = A + D + I Người ta còn phân chia ảnh hưởng của môi trường thành 2 loại ảnh hưởng:

Eg: (general environment) môi trường chung

Es: (special environment) môi trường riêng Hoặc Ep: (permanent environment) môi trường thường xuyên

Et: (temporal environment) môi trường tạm thời

E = Eg + Es = Ep + EtNếu bỏ qua tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ giữa kiểu hình P và kiểu hình gene G sẽ được thể hiện:

P = A + D + I + Eg + Es

Trong đó: A: giá trị cộng gộp

D: sai lệch trội I: sai lệch át gene

Eg: môi trường chung

Es: môi trường riêng Các tính trạng số lượng có giá trị là một biến số liên tục (continuous variation) Phân bố tần số của các tính trạng số lượng là phân bố chuẩn (normal distribution) do đó có thể sử dụng các đặc tính của phân bố chuẩn để nghiên cứu các tính trạng số lượng

1.1.2 Nhân giống thuần chủng

Nhân giống thuần chủng là một phương pháp chỉ cho giao phối giữa những con đực và cái trong cùng một giống

Trang 13

Mục đích của nhân giống thuần chủng là tạo nên tính đồng nhất về tầm vóc, màu sắc, tính năng sản xuất của các cá thể trong cùng một giống Ngoài

ra, yêu cầu của nhân giống thuần chủng là duy trì và nâng cao được những đặc tính di truyền tốt của giống, loại bỏ được những đặc tính di truyền xấu

Có thể nói rằng nhân giống thuần chủng là phương pháp giữ phẩm chất, nâng cao và hoàn chỉnh phẩm chất của giống

Các giống gà địa phương đều có chung một đặc điểm là: tầm vóc nhỏ, sức sản xuất thấp về thịt và trứng nhưng có ưu điểm là thích nghi tốt với điều kiện địa phương, có sức chống bệnh cao và thịt trứng có phẩm chất ngon

Vậy việc nhân giống này cần chú ý:

+ Phải chọn lọc nghiêm ngặt để giữ lại con đực và con cái có các chỉ tiêu mong muốn Việc đánh giá, giá trị giống có thể dựa trên kết quả kiểm tra:

tổ tiên, cá thể (bản thân), anh chị em và kiểm tra đời sau

+ Các con giống tốt đã chọn lọc được phải được ghi chép để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và chọn lọc

+ Phải có kế hoạch cho ghép đôi giao phối giữa đực và cái đã được chọn lọc để nâng cao năng suất của chúng, đồng thời tránh được hiện tượng suy thoái cận huyết hoặc nói cách khác là giữ được các đặc điểm tốt của giống địa phương như khả năng thích nghi sức chống bệnh cao, các tính trạng này thường có hệ số di truyền thấp cho nên chúng bị ảnh hưởng rất lớn do suy thoái cận huyết

+ Tiến bộ di truyền bằng chọn lọc thuần chủng giống địa phương thường chậm, do vậy phải có kế hoạch tăng hay giảm số lượng của mỗi giống địa phương sao cho phù hợp với nền chăn nuôi tiên tiến và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở mỗi nước

Trang 14

- Chọn lọc nhân tạo có nhiều cách khác nhau:

+ Chọn lọc theo khả năng sản xuất, ngoại hình hoặc các chỉ tiêu khác (chọn lọc theo tính trạng số lượng và chất lượng)

+ Chọn lọc ở một hay nhiều tính trạng số lượng (chọn lọc theo chỉ số) + Chọn lọc theo huyết thống dựa vào quan hệ thân thuộc trong gia đình

Khác với các loài động vật có vú, trứng của gia cầm nói chung và của

gà nói riêng là một tế bào sinh dục khổng lồ Nhân tế bào trứng được bao bọc bởi lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng gia cầm có chức năng tạo ra tế bào trứng và lòng đỏ Các nghiên cứu của Jull (1923), Vương Đống (1968), Orlov (1974), Card và Neshein (1970) đều xác nhận: trong quá trình phát triển của phôi, gà máicó 2 buồng trứng, nhưng sau khi nở ra buồng trứng bên phải bị mất đi, chỉ còn lại buồng trứng bên trái tiếp tục phát triển

Số lượng tế bào trứng có trong buồng trứng của gà có sự khác nhau Pearl và Sohoppe (1921) đếm được 1906 tế bào trứng bằng mắt thường và

Trang 15

12000 trứng bằng kính hiển vi, trong khi đó Freye (1978) cho rằng số lượng

tế bào trứng của gà mái bắt đầu đẻ là từ 900 – 3500, nhưng chỉ có một số lượng hạn chế trứng chín và rụng

Trong quá trình phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh Tầng tế bào này trở thành nhiều tầng và sự tạo thành này tiến tới bề mặt buồng trứng Cấu tạo này gọi là follicun, bên trong follicun có một khoang hở chứa đầy một chất dịch Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều follicun trở nên chín làm thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như chùm nho, sau một thời gian đẻ trứng lại trở thành hình dạng ban đầu, các follicun chín vỡ ra, quả trứng chín ra ngoài cùng với dịch follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng, sự rụng những trứng đầu tiên báo hiệu cho sự thành thục về tính Các tài liệu nghiên cứu đều cho rằng, hầu hết vật chất lòng đỏ được tạo thành trước khi đẻ trứng 9-10 ngày, tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ từ 1-3 ngày đầu rất chậm, lúc đó đường kính đạt 6mm Bắt đầu vào thời kỳ sinh trưởng cực nhanh, đường kính có thể tăng 4mm trong 24 giờ cho tới khi đạt được đường kính tối đa 40 mm Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không liên quan với cường độ đẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp do sự điều khiển của 2 hormon oestrogen và progesterone Ngoài ra, thể vàng còn tiết ra hormone ngăn trở, cả 3 loại hormone là các hợp chất steroid và được tổng hợp

từ cholesteron và cũng có thể từ axetyl coenzyme A tại buồng trứng Ngoài ra gan cũng có tác dụng đến quá trình tăng hoặc giảm lượng oestrgen, khi chức năng gan kém sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và rụng trứng (Nguyễn Hải Quân, 2001)

Cấu tạo của ống dẫn trứng gồm: loa kèn (isnundibulum), phần tiết lòng trắng (magnum), eo (isthmus), tử cung (uterus), âm đạo (vagina) (Julian, 1944)

- Ống dẫn trứng này là một ống dài khoảng 10 – 20 cm, đường kính 0,3 – 0,8 cm, khi gà đẻ nhiều có chiều dài tới 40 cm, đường kính tới 10 cm

Trang 16

- Loa kèn là hình ô van, đường kính 8 – 10 cm nằm gần buồng trứng, miệng nối với thành bụng bới các sợi cơ dây chằng có thể di động về phía trước hoặc sau để hứng trứng, phần tiếp và phần cổ loa kèn dài 2 – 4 cm

- Phần tiết lòng trắng dài 30 – 35 cm, 15 – 25 nếp nhăn xếp gấp dọc cao 4,5 mm, dầy 2,5 mm chứa rất nhiều tuyến tiết ra lòng trắng, phần cuối có vòng trong suốt hẹp, phần cách phần eo và phần không có tuyến

- Tử cung có hình bao túi dài 8 – 9 cm, thành tử cung có nhiều cơ dọc

và cơ vòng rất dầy, màng nhầy tử cung có thể rộng ra, giữa tử cung và âm đạo

- Vỏ cứng được tạo thành từ dịch tiết của tuyến tử cung Toàn bộ lớp biểu mô thực hiện chức năng tiết dịch để tạo thành màng ngoài của vỏ trứng (Nguyễn Hải Quân, 2001)

Theo Wiseman (1994), thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng là 25h50 (ở magnum: 3h20, ở isthmus: 1h20; ở uterus: 21h)

Trứng gà gồm 3 phần cơ bản: vỏ, lòng đỏ và lòng trắng Theo Card và Neshein (1970), tỷ lệ các phần so với khối lượng trứng: vỏ 10 – 16%, lòng trắng 57 – 60% và lòng đỏ 30 – 32% Theo Wisemen (1994), quả trứng nặng 60g, có lòng đỏ 29%; lòng trắng 61,5% và vỏ 9,5%

Trang 17

1.2.2 Sức sản xuất trứng của gà

Đối với gia cầm, các tính trạng và khả năng sinh sản được các nhà chọn giống quan tâm là: tuổi đẻ quả trứng đầu tiên, tuổi thành thục sinh dục, tỷ lệ

đẻ, năng suất trứng, tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ trứng nở…

Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: là một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục về sinh dục của cá thể Sự thành thục về sinh dục đối với cá thể là tuổi đẻ quả trứng đầu tiên, nhưng đối với đàn gia cầm được xác định bằng tuổi đẻ đạt 5%

số cá thể trong đàn Tuổi thành thục về sinh dục sớm hay muộn có lien quan chặt chẽ với đặc điểm di truyền của giống Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) cho rằng, tuổi thành thục về sinh dục do các gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính quy định và có ít nhất 2 gặp gen cùng quy định Brandsch và Biilchel (1978) cũng cho biết, hệ số di truyền của tính trạng tuổi

đẻ quả trứng đầu ở gà h2 = 0,14 – 0,15 và tuổi thành thục về sinh dục với kích thước cơ thể ở mối tương quan nghịch Nhưng giống gia cầm có tầm vóc nhỏ

bé thường có tuổi thành thục sớm hơn những giống gia cầm có tầm vóc lớn

Tuổi đẻ quả trứng đầu còn phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng và các yếu

tố môi trường, đặc biệt là chế độ chiếu sáng Trong cùng một dòng, một giống, cá thể nào được nuôi dưỡng tốt hơn sẽ thành thục sớm hơn Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ trứng sớm (Phạm Thị Minh Thu, 1996)

Năng suất trứng: Năng suất trứng là chỉ tiêu phản ánh chất lượng con giống Năng suất trứng là số trứng đẻ ra trong một khoảng thời gian nhất định Hiện nay, chưa có sự thống nhất về thời gian tính năng suất trứng, có thể tính theo mái trong thời gian 1 tuần, 1 tháng, 1 năm, 1 chu kỳ hoặc tính cho cả đời mái đẻ Chỉ tiêu này phụ thuộc vào loài, giống, hướng sản xuất, đặc điểm cá thể, tuổi, mùa vụ và kỹ thuật nuôi dưỡng Theo Card và cs (1977), ở các đàn gà mái cao sản, năng suất trứng cao nhất vào tháng thứ 2, thứ 3 kể từ khi bắt đầu đẻ, sau đó giảm dần cho đến hết năm đẻ và năng suất

Trang 18

trứng của năm đầu là cao nhất, những năm sau giảm 10 – 20% so với năm trước Nguyễn Thị Thanh Bình (1998) cũng cho biết, đối với gà cao sản, tỷ lệ trứng tăng nhanh từ khi bắt đầu đẻ, đến tuần tuổi thứ 35 đạt đỉnh đẻ trên 90%, sau đó giảm dần và vẫn giữ được tỷ lệ đẻ từ 60 – 65% ở tuần tuổi thứ 76 Khi cường độ đẻ giảm, nhiều gà có biểu hiện bản năng đòi ấp và mức độ biểu hiện này ở các giống gà là khác nhau

Số lượng trứng có tương quan âm với khối lượng cơ thể Hệ số tương quan giữa năng suất trứng 3 tháng đầu với năng suất trứng cả năm là rất chặt chẽ (0,7 – 0,9) (Hutt, 1978)

Ngoài yếu tố di truyền, năng suất trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: mùa vụ, thời tiết, độ dài ngày chiếu sáng, nguồn thức ăn tự nhiên (đặc biệt là các loại gia cầm nuôi theo hình thức quảng canh hoặc bán thâm canh) Đặc biệt chế độ ánh sáng có vai trò quan trọng trong điều khiển cường

độ đẻ của gia cầm Theo Lucdeckens (1978), chế độ chếu sang 13 – 14 h/ngày được gọi là giới hạn bảo đảm cho gà có sức đẻ trứng cao

Dinh dưỡng và kỹ thuật nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới sức sinh sản của gia cầm Dinh dưỡng cung cấp năng lượng và vật chất để tạo ra các mô, cấu tạo nên cơ thể gia cầm, giúp gia cầm hoạt động và sản xuất trứng Mọi sự thiếu hụt và mất cân đối về dinh dưỡng trong khẩu phần đều gây ảnh hưởng xấu tới các hoạt động sinh lý và sức sản xuất của gia cầm Auas và Wilke (1978) cho rằng, dinh dưỡng ảnh hưởng tới quá trình hình thành trứng trong

cơ thể gà mái, do đó ảnh hưởng tới sức đẻ trứng Thiếu thức ăn cũng như khẩu phần không cân đối sẽ làm cho sức đẻ trứng giảm Nếu thiếu hoặc hoàn toàn không có muối khoáng và các chất hoạt chất sinh học thì gia cầm có thể ngừng đẻ Trong dinh dưỡng, protein là quan trọng nhất Tuy nhiên nhu cầu này còn phụ thuộc vào tuổi, trạng thái sinh lý và đặc điểm sản xuất của gia cầm Giống tốt, thức ăn đầy đủ, nhưng kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng không

Trang 19

tốt cũng sẽ gây thiệt hại về kinh tế do năng suất trứng không cao, tiêu phí vật

tư lớn Kỹ thuật chăm sóc tốt thì có thể nâng cao năng suất trứng của gia cầm như: sử dụng kỹ thuật ấp trứng nhân tạo sẽ giảm khả năng đòi ấp; điều khiển quá trình thay lông cưỡng bức sẽ sớm đưa gà vào chu kỳ đẻ trứng tiếp theo làm tăng sức đẻ; điều tiết chế độ chiếu sang hợp lý có thể tận dụng được khả năng đẻ trứng của gà

Khối lượng trứng: Khối lượng trứng là một tính trạng số lượng, có

hệ số di truyền h2= 0,3 – 0,7 và là tính trạng chịu ảnh hưởng của nhiều gen Brandsch và Biichel (1978) cho biết, khối lượng trứng cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố loài, giống, cá thể, mùa vụ, dinh dưỡng, tuổi, khối lượng cơ thể gia cầm…

Trứng gia cầm trưởng thành lớn hơn trứng gia cầm đẻ lứa đầu từ 20 – 30%; khối lượng trứng năm thứ hai lớn hơn khối lượng năm thứ nhất 10 – 15% (Lochius và Starstikov, 1979) (Nguyễn Thị Bạch Yến trích dẫn, 1996) Nguyễn Thị Thanh Bình (1998) cho biết, khối lượng trứng tăng dần đến cuối chu kỳ đẻ; khối lượng trứng và năng suất trứng thường có tương quan âm Điều kiện dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến khối lượng trứng Nếu gia cầm được nuôi với khẩu phần nghèo protein thì khối lượng trứng sẽ nhỏ

Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm cũng ảnh hưởng đến khối lượng trứng Nguyễn Huy Đạt (1991) cho biết, gà Leghorn nuôi tại Việt Nam

có khối lượng trứng nhỏ hơn nơi xuất xứ

Khối lượng trứng là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng trứng giống, tỷ lệ nở, sức sống của gà con Trong số trứng của cùng một gà mẹ đẻ

ra, những quả trứng có khối lượng trung bình cho tỷ lệ nở cao hơn so với những quả trứng quá lớn hoặc quá nhỏ Nguyễn Duy Nhị và Nguyễn Thị San (1984) cho biết, trứng gà Phymouth dòng TD3, đời 8 có khối lượng từ 50 –

Trang 20

54g cho tỷ lệ nở đạt 72,6%; trứng có khối lượng 60 g cho tỷ lệ nở đạt 57,9%; còn những trứng có khối lượng trên 60 g và dưới 50 g cho tỷ lệ nở rất thấp Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hài Tao (1985) cũng cho biết, trứng gà Rhode x

Ri có khối lượng từ 46 – 75,5 g cho tỷ lệ nở cao nhất (75,5%)

Hình dạng và chất lượng trứng: Trứng gia cầm có hình ovan không đều, một đầu có buồng khí to hơn Hình dạng quả trứng có lien quan đến cá thể Đây là một tính trạng mang tính di truyền rõ rệt Người ta có thể xác định hình dạng trứng bằng chỉ số hình thái, theo 2 cách là: chỉ số chiều dài so với chiều rộng hoặc chỉ số chiều rộng so với chiều dài

Trứng mỗi loài gia cầm có một chỉ số hình thái riêng và do nhiều gen quy định Nguyễn Hài Tao và Tạ An Bình (1985) cho biết, khoảng biến thiên trị số chỉ số hình thái của trứng gà là 1,34 – 1,36; của trứng vịt là 1,57 – 1,64

Vũ Quang Ninh (2002) cho rằng, chỉ số hình thái là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tỷ lệ ấp nở và độ bền của vỏ trứng Những trứng có chỉ số hình thái nằm trong giới hạn trung bình của giống có quá trình phát triển của phôi tốt và tỷ

lệ nở cao Hoàng Văn Tiệu (1995) còn cho biết, nếu kích thước quả trứng không đều, khi đưa vào máy ấp, những quả trứng nhỏ phôi phát triển nhanh

và nở sớm hơn trứng có kích thước lớn, thường những quả trứng tròn hoặc quá dài đều cho tỷ lệ ấp nở thấp

Chất lượng bên ngoài của trứng được phản ánh qua khối lượng, hình dạng, màu sắc, độ dày và độ bền của vỏ trứng; chất lượng bên trong của trứng được phản ánh qua các thành phần lòng đỏ, lòng trắng, màu sắc và các chỉ số hình thái của lòng đỏ và lòng trắng

Độ dày của vỏ trứng là một chỉ tiêu phản ánh độ bền của trứng và không chỉ có ý nghĩa trong việc vận chuyển, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển của bào thai bởi vì nó là nguồn cung cấp canxi chủ yếu trong phát triển của phôi, thai gia cầm Lê Hồng Mận và cs (1989) cho biết,

Trang 21

độ dày của vỏ trứng gà biến động từ 0,30 – 0,34 mm Jull (1976) và một số tác giả cho biết, độ dày của vỏ trứng gà chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền Maclaky và Lerner (1950) đã tính được hệ số di truyền của độ dày vỏ trứng gà

từ 0,15 – 0,30 Các yếu tố bất lợi như nhiệt độ chuồng nuôi cao, tuổi già, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng kém và các tác nhân stress khác đều làm giảm độ dày và sức bền của vỏ trứng

Lòng trắng trứng gồm lòng trắng đặc và lòng trắng loãng, được cấu tạo chủ yếu từ albumin và một số khoáng chất Lòng trắng trứng giúp cho cấu tạo lông, da và các nội quan trong quá trình phát triển của phôi Chất lượng lòng trắng được xác định bằng đơn vị Haugh Nguyễn Thị Thanh Bình (1998) cho biết, trứng ấp có chất lượng tốt phải đạt từ 75 – 90 dơn vị Haugh; nhưng gà có khả năng đẻ trứng cao, trứng gà thường có hàm lượng lòng trắng cao Macro (1982) cho biết, hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng từ 0,22 – 0,78 Lòng đỏ là thành phần quan trọng nhất của trứng, gồm có nước, protein, lipit, gluxit, các axit amin, các vitamin nhóm B và vitamin A, D, E Lòng đỏ có nhiệm vụ cung cấp các chất dinh dưỡng cho sự phát triển của phôi

và thai Card và Nesheim (1970) cho biết, chỉ số lòng đỏ của trứng tươi là 0,40 – 0,42; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao

Sự thụ tinh và tỷ lệ ấp nở: Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) sự thụ tinh là quá trình các giao tử, tức tinh trùng và trứng, hợp nhất lại thành hợp tử Quá trình thụ tinh cùng với kết quả của nó phản ánh năng lực sinh sản của đời

bố mẹ và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, nhiệt độ môi trường, tuổi, mức độ cận huyết… Ngoài ra, sự thích ứng giữa con đực và con mái cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh Lê Thị Thúy (1996) cho biết, sự thích ứng của cá thể trong giao phối có ý nghĩa lớn đối với

sự thụ tinh, có những con đực có tỷ lệ thụ tinh cao với con mái này nhưng không thụ tinh với con mái khác

Trang 22

Tỷ lệ nở được tính bằng số con nở ra còn sống so với số trứng đem ấp,

nó phản ánh sức sống của phôi trong quá trình ấp Tỷ lệ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, tuổi, tình trạng sức khỏe gà mái, chế độ dinh dưỡng, khối lượng, chất lượng trứng, kỹ thuật thu nhặt, bảo quản và ấp trứng, nhất là trong

ấp trứng nhân tạo Nhìn chung, hệ số di truyền về tỷ lệ nở là thấp (h2 = 0,03 – 0,05) (Critlen, 1957)

1.3 Cơ sở khoa học về sinh trưởng của gà

1.3.1 Sự phát triển của phôi

Sau khi trứng được thụ tinh, hợp tử bắt đầu phân chia, đĩa phôi phân chia thành phôi bì theo bề mặt hình thành những rãnh phân chia, rãnh đó chia các phôi bì thành những phần khác nhau Ở giữa đĩa phôi sáng hơn gọi là vùng sáng, phần ngoài gọi là vùng tối Các nguyên bào nằm trong lòng đỏ, thời kỳ này phôi phát triển thành từng nhóm tế bào Tế bào lúc này chưa phân hóa và chưa có đặc điểm của các tổ chức khác nhau Trong thời gian phân chia, tế bào phôi nằm ở trên lòng đỏ hoặc nằm trực tiếp ở lòng đỏ Nó thu nhận các chất dinh dưỡng Giai đoạn phát triển của đĩa phôi diễn ra trong cơ thể mẹ ở nhiệt độ khoảng

410C, nồng độ khí CO2 dưới 5%, trong điều kiện không có bốc hơi nước qua lòng trắng Trứng có sự phát triển với cường độ cực mạnh liên tục, khi trứng hoàn chỉnh và đẻ trứng ra ngoài Môi trường tự nhiên sẽ ức chế sự phát triển của phôi, phôi vẫn sống bình thường Lúc này phôi rất nhạy cảm với điều kiện môi trường bên ngoài Vì vậy, cần bảo quản trứng tốt đúng theo quy trình để đảm bảo

ấp nở cao (Nguyễn Hải Quân, 2001)

1.3.2 Khả năng sinh trưởng

Quá trình sinh trưởng trước hết là kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống (Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường, 1992) Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp diễn ra từ lúc trứng được thụ tinh đến khi cơ thể trưởng thành Việc xác định chính xác toàn bộ quá

Trang 23

trình sinh trưởng không phải là dễ dàng Các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng sử dụng cách đơn giản và thực tế đó là xác định khả năng sinh trưởng theo các chiều đo và khối lượng Ở gia cầm, kích thước và khối lượng của xương có tầm quan trọng lớn đối với khối lượng cơ thể và hình dáng thân Khối lượng cơ thể ở từng thời kỳ dù chỉ là một chỉ số được sử dụng quen thuộc nhất về sinh trưởng (tính theo tuổi), song chỉ tiêu này không nói lên được mức độ khác nhau về tốc độ sinh trưởng tích lũy Sinh trưởng tích lũy là khả năng tích lũy các chất hữu cơ do quá trình đồng hóa và dị hóa Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuổi và đơn vị tính là kg/con hoặc g/con Để đánh giá khả năng sinh trưởng người ta sử dụng tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng tương đối

Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng kích thước cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát (TCVN 2.39-77) Sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng g/con/tuần, đồ thị của nó là dạng parabol, giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao hiệu quả kinh tế càng cao

Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (TCVN 2.40-77) Đồ thị sinh trưởng này có dạng hypecbol

Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là

sự tang chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở di truyền từ đời trước (Trần Đình Miên và cs, 1975), là một quá trình sinh lý, sinh hóa phức tạp diễn ra từ khi phôi thai đến khi con vật thành thục về tầm vóc và được chia làm 2 giai đoạn chính: giai đoạn trong thai

và giai đoạn ngoài thai (đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành) Sinh trưởng chính là sự tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein dưới

sự điều khiển của các gen Cơ sở của sinh trưởng gồm 2 quá trình: tế bào sinh sản và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển của tế bào là chính

Trang 24

Chamber (1990) đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng, mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Sinh trưởng thực sự chỉ khi các tế bào mô cơ có tăng thêm về khối lượng, số lượng và chiều đo Vì vậy, béo mỡ không được gọi là sinh trưởng, nó được gọi là tăng trọng cơ thể

do béo mỡ chủ yếu là tích lũy lipit, không có sự phát triển của mô cơ

Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức và các cơ quan của cơ thể luôn hoàn thiện về chức năng – đó là quá trình phát dục Sinh trưởng và phát dục

có mối quan hệ mật thiết không tách rời nhau và ảnh hưởng qua lại với nhau, là

2 quá trình diễn ra cùng một cơ thể, làm cho con vật ngày càng hoàn chỉnh Sinh trưởng, phát dục của gia súc, gia cầm tuân theo quy luật nhất định,

đó là: quy luật sinh trưởng, phát dục theo giai đoạn; quy luật sinh trưởng, phát dục không đồng đều; quy luật sinh trưởng, phát dục theo chu kỳ Medidosphol cho rằng: con vật non phát triển mạnh nhất ở thời kỳ mới sinh, sau đó giảm dần theo giai đoạn phát triển Tính giai đoạn của sinh trưởng không phải do một mà nhiều yếu tố tác động, như sự phân hóa, sự trao đổi chất, nội tiết, dinh dưỡng, sự thay đổi về cường độ, tốc độ phát triển theo lứa tuổi, tính biệt Đường cong sinh trưởng của gà thịt có 4 đặc điểm:

+ Sinh trưởng tích lũy tăng với tốc độ nhanh sau khi nở

+ Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất + Sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn

+ Sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà: yếu tố sinh trưởng của dòng, giống, giới tính, tốc độ mọc lông, chế độ dinh dưỡng và các điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng

Trang 25

Nguyễn Văn Thiện (1995) cho rằng hệ số di truyền khối lượng cơ thể

gà ở 3 tháng tuổi là 0,26 – 0,5 và ở gà 5 tháng tuổi là 0,43

1.3.3 Sức sống và khả năng kháng bệnh của gà

Sức sống và khả năng kháng bệnh tốt là một chỉ tiêu quan trọng trong việc chăn nuôi gà, tổn thất do bệnh tật có nơi rất lớn, khi đàn gà bị mắc bệnh làm cho

tỷ lệ chết tăng lên cao dễ nhiễm các bệnh khác, đặc biệt bệnh truyền nhiễm

Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm, Johansson (1972), Marco và

cs (1982) cho biết: sức sống được thể hiện ở thể chất và các giống khác nhau

có tỷ lệ nuôi sống khác nhau Ngoài ra, sức sống còn chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường bên ngoài tác động

Theo Hill và Dickerson (1952), hệ số di truyền sức sống của gà thấp (h2

= 0,06) Nguyễn Văn Thiện (1995) cho biết, hệ số di truyền tỷ lệ nuôi sống của gà là 0,03 Bùi Quang Toàn và Tạ An Bình (1963) điều tra đàn gà trong dân về tỷ lệ nuôi sống của một số gà địa phương như: gà Mía 63%, gà Đông Tảo 58,2%, gà Hồ 62%, gà Văn Phú 55%, gà Nam Bộ 61,3% Theo Trần Long và cs (1996), tỷ lệ nuôi sống của gà Ri từ 0 - 6 tuần tuổi là 93,3%, tỷ lệ nuôi sống lúc 60 ngày tuổi gà Đông Tảo 80 - 90%, gà Mía 85 - 90%

Soprakan (1998) (dẫn theo Krieng Kray, 2000), Phitya (1991) cho biết

tỷ lệ nuôi sống của gà địa phương nuôi ở 17 tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan (là vùng có điều kiện về đất đai, khí hậu gần giống Lào) chỉ có 30% Nhưng ở tỉnh Xieng May phía Bắc Thái Lan, người dân nuôi gà địa phương với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ hơn, nên đạt được tỷ lệ nuôi sống cao hơn Theo Ratanvaraha (1998) gà địa phương ở Thái Lan có tỷ lệ nuôi sống 75%

Theo số liệu điều tra 3 tỉnh của Lào, các giống gà địa phương đều bị mắc bệnh cao vào các tháng đầu mùa mưa và mùa đông, tỷ lệ nuôi sống gà con từ 1 ngày tuổi đến 3 tháng tuổi 25 - 40% (Sổm Chăn, 2002)

Trang 26

Để đánh giá khả năng sản xuất người ta tính chỉ số sản xuất (PN = Production Number)

Chỉ số PN càng cao thể hiện trình độ chăn nuôi và quản lý cao

PN=

W x tỷ lệ nuôi sống (%)

10 x CI x số ngày nuôi Trong đó: W: Khối lượng cơ thể

CI (Consumption Index ): Chỉ số tiêu thụ thức ăn

1.3.4 Sức sản xuất thịt

+ Năng suất thịt: là chỉ tiêu quan trọng và thong dụng để đánh giá sức sản xuất thịt của vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua khối lượng cơ thể, tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt ngực, tỷ lệ thịt đùi và tỷ lệ mỡ bụng

Năng suất thịt phụ thuộc vào loài, giống, tuổi, tính biệt và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng Theo Chamber (1990), giữa các dòng gà luôn có sự sai khác nhau về năng suất thịt xẻ và các thành phần thân thịt như đùi, ngực, cánh và từng phần da xương

+ Chất lượng thịt: Thành phần hóa học; màu sắc thịt; độ to, nhỏ, dai chắc của sợi cơ… và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh cũng như giá trị dinh dưỡng… phản ánh chất lượng thịt của gia súc, gia cầm Nguyễn Đức Hưng (1999) cho rằng, các thành phần hóa học của thịt gia cầm có sự khác nhau giữa các loài, các giống, các dòng và tổ hợp lai Lã Văn Kính và cs (1997) cũng cho biết, thành phần hóa học có liên quan và phụ thuộc vào thức

ăn, kỹ thuột nuôi dưỡng, đặc điểm bệnh tật và quy trình vệ sinh thú y áp dụng đối với gia súc, gia cầm

Trang 27

Ngoài ra, chất lượng thịt còn phụ thuộc vào mùa vụ, trạng thái sức khỏe của gia cầm, tình trạng stress và các chất hóa học tồn dư cũng như phương thức nuôi dưỡng Gà thả vườn bao giờ cũng cho chất lượng thịt tốt hơn gà nuôi nhốt

1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở Thái Lan

Pra Moth Ron Sa Vat Di (2008) cho rằng, gà địa phương hoặc gà Lạt có nguồn gốc từ một trong các loài gà rừng ở các nước châu Á Gà rừng gồm có

4 loài: gà rừng màu đỏ, gà rừng Xi Lon, gà rừng Ấn Độ hay gà rừng màu nâu

và gà rừng Khoa được con người nuôi thuần hóa từ 3.000 năm trước đây Cũng theo Pra Moth Ron Sa Vat Di (2008), gà địa phương của Thái Lan có các đặc điểm sau:

- Thích hợp với nuôi chăn thả, không cần nhiều thời gian chăm sóc, chịu khó tìm kiếm thức ăn trong tự nhiên và có khả năng sử dụng các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp, vì vậy không cần đầu tư nhiều về thức ăn

- Có tính đòi ấp cao và nuôi con khéo Do gà mái có tính đòi ấp cao nên

đẻ trứng theo chu kỳ, mỗi chu kỳ kéo dài trong khoảng thời gian 2 tuần và cho được khoảng 8 – 12 quả trứng Thời gian ấp là 21 ngày, mỗi lần được 8 –

10 gà con, gà mái nuôi con từ 1 – 3 tháng, sau đó mới trở lại chu kỳ đẻ trứng tiếp theo Mỗi chu kỳ đẻ, ấp và nuôi con kéo dài khoảng 3 - 4 tháng, vì vậy trong 1 năm gà mái địa phương có khả năng đẻ trứng 3 – 4 lứa, năng suất trứng 30 – 50 quả/mái/năm và sinh sản được 30 – 40 gà con/mái/năm

- Có khả năng chịu đựng tốt với nhiệt độ khác biệt, thịt gà địa phương chắc, vị ngọt, mùi thơm ngon nên có giá cao

Trang 28

1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Việt Nam có nền chăn nuôi phát triển sớm, lại là một trong những cái nôi thuần hóa gia súc đầu tiên Trải qua hàng ngàn năm dưới tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, các giống gia súc, gia cầm ở Việt Nam đã thích nghi với điều kiện sinh thái của vùng Chọn lọc tự nhiên và môi trường sống đã tạo ra cho các giống gia súc, gia cầm ở Việt Nam một đặc tính

di truyền tốt là: có khả năng sử dụng thức ăn thô, nghèo dinh dưỡng, tính chống chịu các bệnh tật nhiệt đới và bệnh ký sinh trùng (Lê Viết Ly, 1994) Cũng như các nước khác trên thế giới, Việt Nam có chương trình quốc gia bảo tồn nguồn gen động vật và đã thu, giữ được nhiều giống nuôi ở các miền trên cả nước, trong đó một số giống đã đưa vào danh sách các giống quốc gia

- Gà Ri: là giống gà nội được nuôi rộng rãi trong cả nước đặc biệt là các tỉnh miền Bắc Ở các tỉnh phía Nam, gà Ri có tên là gà Tàu Vàng, trong các giống gà nội, gà Ri là giống gà có năng suất trứng cao, thịt thơm ngon, nhưng năng suất thịt thấp Gà trống có lông màu đỏ tía, cánh và đuôi có lông màu đen, gà mái có lông màu vàng được phủ rộng từ khi gà còn bé (Lê Hồng Mận, 1997)

Gà Ri có tuổi đẻ quả trứng đầu là khoảng 135-140 ngày, tỷ lệ đẻ 30%, năng suất trứng 135-140 quả/mái/năm, khối lượng trứng xắp xỉ 43 g/quả, tỷ lệ trứng có phôi 89 – 90%, tỷ lệ ấp nở 94%, tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần là 98%

Gà mái có tính đòi ấp cao, nuôi con khéo; gà con mới nở có khối lượng 28g; khối lượng mái khi đẻ quả trứng đầu là 1,2 kg; khối lượng con trống khi tưởng thành là 2,2 kg và gà mái là 1,8 kg Gà Ri thường được giết thịt lúc 20 tuần tuổi với khối lượng con mái là 1,6 kg; tỷ lệ thân thịt là 60%; thịt và trứng rất thơm ngon, mềm, ngọt Gà Ri dễ nuôi và có khả năng kiếm mồi tốt

- Gà Đông Tảo: có nguồn gốc từ xã Đông Tảo, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, là giống gà hướng thịt, chân to, xương to thô, tầm vóc lớn Con

Trang 29

trống có lông màu mận chín pha trộn lông đen, con mái có lông màu vàng nhạt da màu đỏ nhạt Lúc nhỏ gà ít lông, lớn lên lông phủ kín mình Đặc điểm của gà Đông Tảo là ống chân rất to Gà có tuổi thành thục tính dục là 160 ngày, năng suất trứng 55-57 quả/mái/năm, khối lượng trứng 57 g, tỷ lệ trứng

có phôi là 88%, tỷ lệ ấp nở 70%, tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần tuổi là 85% Gà mái có tính đòi ấp cao nhưng khả năng ấp kém và nuôi con vụng Gà con mới

nở có khối lượng là 33g; khối lượng gà mái khi đẻ trứng đầu là 2,4 kg; khối lượng con trống khi trưởng thành là 4,2 kg và con mái là 3,0 kg Gà thường được giết thịt lúc 16 tuần tuổi với khối lượng con trống là 4.2 kg, con mái là 2.4 kg Thịt và trứng gà Đông Tảo ngon Gà Đông Tảo khó nuôi và khả năng

tự kiếm mồi kém

- Gà Hồ: có nguồn gốc từ làng Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Gà có tầm vóc cao lớn, gà trống có lông màu mận chín, con mái có lông mã thó hay mã nhãn (màu đất thó hay màu quả nhãn); mỏ và chân màu vàng nhạt Lúc nhỏ gà ít lông, lớn lên lông mới phủ kín mình Gà Hồ có tuổi đẻ trứng đầu tiên là 240 ngày, năng suất trứng 55-57 quả/mái/năm, khối lượng trứng

58 g/quả Gà mái có tính đòi ấp cao nhưng khả năng ấp kém và nuôi con vụng Gà Hồ có khối lượng sơ sinh là 34g, khối lượng gà mái khi đẻ quả trứng đầu tiên là 2,5 kg, khối lượng con trống khi trưởng thành là 4,4 kg và gà mái là 3,2 kg Gà thường được giết mổ lúc 16 tuần tuổi với khối lượng con trống là 3,5 kg, con mái là 2,5 kg, tỷ lệ thân thịt là 72% Thịt và trứng ngon,

gà Hồ khó nuôi và khả năng tự kiếm mồi không cao

- Gà Mía: có nguồn gốc từ xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội Gà Mía là giống gà hướng thịt có tầm vóc lớn, lông cánh có màu xanh biếc, con mái có màu lông vàng nhạt, cổ có đốm lông màu nâu, cánh và đuôi có điểm lông màu đen Gà Mía có mào đơn đỏ, mỏ và chân màu da cam, lúc nhỏ gà ít lông, lớn lên lông mới phủ kín mình Gà Mía có tuổi đẻ đầu là 215 ngày, tỷ lệ đẻ là 18%, tỷ lệ trứng có phôi là 88%, tỷ lệ ấp nở là 83%, tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần

Trang 30

tuổi là 98%, năng suất trứng 60-70 quả/mái/năm Gà mái có tính đòi ấp cao,

gà con mới nở có khối lượng 32 g, khối lượng gà mái khi đẻ quả trứng đầu là 2,3 kg Khối lượng con trống khi trưởng thành là 3,7 kg, con mái là 2,8 kg

Gà thường được giết thịt lúc 16 tuần tuổi với khối lượng con trống là 2,2 kg, con mái là 1,8 kg Thịt và trứng ngon, gà Mía dễ nuôi có khả năng tự tìm kiếm thức ăn tốt

- Gà H’Mông thuộc nhóm gà da đen, xương đen, được đồng bào H’Mông nuôi chăn thả quảng canh, xương thịt của nó có thể dụng làm thuốc chữa bệnh, bồi dưỡng sức khỏe cho con người, đặc biệt là phụ nữ có thai, người già đau yếu, tác dụng tốt đối với một số bệnh và tim mạch, gan, thận Không những thế, giống gà này còn nổi tiếng bởi hàm lượng mỡ rất thấp, thịt dai, chắc, thơm, ngon, phù hợp với thị hiếu của người Việt Nam, do đó luôn

có giá bán cao hơn các giống gà khác Tuy nhiên giống gà này mới chỉ được phân bố ở vùng núi cao phía bắc với số lượng không nhiều, đang có nguy cơ

bị lai tạp và mất nguồn gen

Gà H’Mông thích nghi với khí hậu các vùng núi cao Khối lượng gà mới nở đạt 26 – 27 g, khối lượng lúc trưởng thành con trống là 1,8 – 1,9 kg, con mái là 1,6 – 1,8 kg, có thân hình chắc khỏe, có màu lông đa dạng, có tỷ lệ nuôi sống cao, khoảng 90%

Trong khuôn khổ Đề án bảo tồn quỹ gen vật nuôi quốc gia, giống gà này đã được đưa về nuôi khảo nghiệm tại Sơn La, Hà Nội Kết quả cho thấy,

gà H’Mông lúc trưởng thành có thân hình cân đối, vững chắc, nhanh nhẹn, chân cao màu đen, màu sắc lông đa dạng, màu da có hai màu: da đen, thịt đen chiếm khoảng 90%, còn khoảng 10% là da trắng, thịt trắng Khả năng sinh sản thấp, nếu để tự nhiên khó phát triển thành hàng hóa quy mô lớn

Ngoài các giống gà trên, ở Việt Nam còn nuôi một số giống gà khác như: gà Nòi, gà Cóc, gà Ô, gà Văn Phú, gà Tre…hiện đang được điều tra và

có kế hoạch khôi phục phát triển với số lượng lớn

Trang 31

Đặc điểm của các giống gà địa phương là thích nghi với điều kiện khí hậu địa phương, chịu kham khổ, tận dụng được thức ăn nghèo dinh dưỡng, kiếm ăn giỏi Tuy nhiên, các giống gà địa phương có nhược điểm là chưa được chọn lọc định hướng và chăn thả quảng canh nên thường bị pha tạp nhiều, năng suất trứng kém (không quá 150 quả/mái/năm), tăng trọng chậm

Do yếu kém về tính trạng sản xuất, nên hiện nay các giống gà này đang bị thu hẹp về địa bàn và số lượng Tuy nhiên, do các giống gà nội đặc biệt thích hợp với phương thức chăn thả bán thâm canh, vì vậy cần sớm được quy hoạch, tác động khoa học kỹ thuật để chọn lọc nhằm nâng cao sức sản xuất Hiện nay tại các địa phương, nhất là vùng sâu vùng xa, đang còn nuôi giữ nhiều giống gà

mà chưa có chương trình nghiên cứu nào để đề cập đầy đủ như giống gà Mèo nuôi ở Cao Bằng, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai…

1.4.3 Tình hình chăn nuôi gà ở CHDCND Lào

Chăn nuôi gia cầm là một nghề có truyền thống lâu đời của nhân dân Lào nhằm cung cấp sản phẩm thịt và trứng cho con người, đó là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Các gia đình ở nông thôn ở Lào đều chăn nuôi gia cầm, phổ biến nhất là nuôi gà, vì vốn đầu tư ít, dễ nuôi, quay vòng nhanh Từ tập quán nuôi theo tự cung tự cấp, hiện nay đang hướng tới phát triển thành sản xuất chăn nuôi hàng hóa

Theo điều tra của Sổm Chăn Khăm Pha Vông (2002) tại 3 tỉnh như Luang Pra Bang, Cham Pa Sac và Sa Van Na Khet, các giống gà địa phương được nuôi nhiều nhất là: gà Nhộc, chiếm tỷ lệ 39,31%, gà Trè chiếm tỷ lệ 27,69%, gà Hon Chu và gà Đục Đăm có tỷ lệ thấp hơn, tương ứng là 11,55% và 8,03% Ngoài ra còn có gà U chiếm tỷ lệ 6,17%, gà Chọi 6,10% và gà Vải 1,15%

Theo báo cáo của Cục chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản năm 2012, cho thấy rằng chăn nuôi gia cầm trong nước vẫn phát triển đều trong những năm gần đây

Trang 32

Bảng 1.1 Tổng số con vật nuôi từ năm 2010-2012

Nguồn: Cục Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản (2012)

Gà địa phương được nhân dân ưa thích và chăn nuôi gà là một ngành sản xuất truyền thống của các địa phương ở tất cả các vùng sinh thái khác nhau Sự chọn lọc, bảo tồn và khai thác nguồn gen gà địa phương trong thời gian qua hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên Tình trạng cận huyết, pha tạp rất

dễ phát triển Một số tài liệu liên quan đến gà địa phương đã được công bố chỉ

mô tả rất chung về đặc điểm ngoại hình Khối lượng gà khi trưởng thành: con trống khoảng 2,5 – 3,0kg, con mái 1,8 – 2,2 kg, năng suất trứng 80 – 90 quả/mái/năm, khối lượng trứng 40 – 45g/quả Giá bán gà địa phương ở những nơi có sức tiêu thụ cao là 35.000 – 40.000 kip/kg (khoảng 5 USD/kg hơi), trong đó gà thịt nuôi công nghiệp chỉ 20.000 – 25.000 kip/kg (khoảng 3 USD/kg) Nhưng phần lớn việc mua bán không tính giá theo kg gà sống mà theo đầu con với các loại: gà nuôi được 6 tháng hoặc có khối lượng khoảng 0,5 – 0,6kg giá bán khoảng 45.000 – 50.000 kip/con, nặng 0,7 – 0,8 kg giá bán là 60.000 – 70.000 kip/con Gà to giá bán từ 80.000 – 120.000 kip/con

Trang 33

Nhìn chung, tình hình nuôi gà địa phương đang có xu hướng phát triển thuận lợi và rất phù hợp với tập quán canh tác người nông dân Lào Những chương trình, dự án nhằm bảo tồn, khai thác, phát triển nguồn gen gà địa phương của Lào là hoàn toàn cần thiết

Trang 34

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu là các giống gà địa phương đang nuôi tại các nông hộ của huyện Luang Pra Bang, tỉnh Luang Pra Bang Luang Pra Bang là tỉnh nằm ở phía đông bắc của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (xem bản đồ trong hình 2.1.) Địa điểm nghiên cứu là có 3 bản thuộc huyện Luang Pra Bang: bản Park Xương, bản Pha Khôm và bản Mương Khải Bản Park Xương nằm ở phía bắc thành phố Luang Pra Bang, bản Mương Khải nằm ở phía nam thành phố Luang Pra Bang, Hai bản này cách trung tâm thành phố khoảng 20km Bản Pha Khôm nằm ngay trong khu vực nội thành của thành phố Luang Pra Bang (xem bản đồ trong hình 2.2.)

Các giống gà địa phương được nghiên cứu gồm: gà Hon Chu, gà Đục Đăm, gà Nhộc và gà Trè

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Điều tra tình hình chăn nuôi gà tại huyện Luang Pra Bang

Điều tra 30 hộ gia đình có chăn nuôi gà địa phương theo bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn Địa điểm điều tra là 3 bản, mỗi bản điều tra 10 hộ gia đình Việc điều tra được thực hiện theo các bước sau:

- Bước 1: Xác định mục tiêu và nội dung điều tra

- Bước 2: Xây dựng bộ câu hỏi dưới hình thức phiếu điều tra

- Bước 3: Điều tra thử 5 hộ gia đình

- Bước 4: Chỉnh sửa phiếu điều tra

- Bước 5: Điều tra chính thức 30 hộ

- Bước 6: Xử lý phiếu điều tra

Trang 35

Hình 2.1 Bản đồ các tỉnh của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Trang 36

Hình 2.2 Vị trí điểm nghiên cứu

Địa điểm

nghiên cứu

Trang 37

2.2.2 Khảo sát các đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của các giống

gà địa phương nuôi tại huyện Luang Pra Bang

Khảo sát các đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của các giống gà theo phương pháp đánh giá kiểu hình gia cầm của FAO (2012)

2.2.2.1 Các dữ liệu liên quan đến tên của các giống gà

2.2.2.2 Mô tả đặc điểm ngoại hình

Với mỗi giống, khảo sát 150 gà mái, 20 gà trống ở độ tuổi trưởng thành Các chỉ tiêu khảo sát, mô tả:

• Màu sắc bộ lông

• Màu da

• Màu da chân

• Các đặc điểm khác và các tính trạng có thể nhìn thấy và phân biệt được

2.2.2.3 Khảo sát về sinh trưởng

Với mỗi giống khảo sát 30 trống và 30 mái ở độ tuổi khác nhau: mới nở (60 con), 8, 12 và trên 20 tuần tuổi

• Cân khối lượng cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng (cân bằng cân đồng hồ) vào lúc buổi sáng trước khi cho ăn

• Đo kích thước cơ thể của con trống và con mái trưởng thành: Dài thân (khoảng cách từ đầu của mỏ tới khấu đuôi (chỗ không có lông), đo kéo dọc theo suốt chiều dài của cơ thể; Vòng ngực (đo ở vị trí đỉnh của xương ức); Cao chân (chiều dài bằng cm của chân từ khớp khuỷu tới cựa); Sải cánh (chiều dài bằng cm giữa đầu cánh phải tới đầu cánh trái, sau khi kéo căng cả 2 cánh); Dài đùi

Trang 38

2.2.2.4 Khảo sát khả năng cho thịt

Mổ khảo sát mỗi giống 3 trống 3 mái

• Tuổi giết mổ (theo tập quán của địa phương)

• Khối lượng sống lúc giết mổ

• Khối lượng móc hàm (sau cắt tiết, vặt lông và bỏ nội tạng)

• Tỷ lệ móc hàm

• Khối lượng, tỷ lệ % thịt đùi và thịt ngực

2.2.2.5 Khảo sát khả năng sinh sản

• Với mỗi giống khảo sát 30 mái về các đặc điểm sản xuất trứng: Tuổi

đẻ quả trứng đầu tiên (tháng); Năng suất trứng; Số trứng của 1 chu kỳ đẻ; Thời gian của 1 chu kỳ đẻ (ngày)

• Với mỗi giống khảo sát 30 quả trứng về các chỉ tiêu: khối lượng trứng, khối lượng vỏ trứng, tỷ lệ vỏ, khối lượng lòng trắng, tỷ lệ lòng trắng, khối lượng lòng đỏ, tỷ lệ lòng đỏ, đường kính nhỏm đường kính lớn, chỉ số hình dạng, màu sắc vỏ

• Theo dõi khả năng ấp nở với các chỉ tiêu: số gà nở/lượt ấp, tỷ lệ ấp nở (tính theo tổng số trứng ấp)

2.2.2.6 Các khảo sát khác

- Các bệnh thường mắc, các tháng gà hay bị mắc bệnh

- Chụp ảnh gà trống và gà mái trưởng thành trên nền so sánh

- Chụp ảnh đàn gà với môi trường chăn nuôi thông thường

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Toàn bộ số liệu thu được sẽ được tính toán bằng phương pháp thống kê trên máy vi tính bằng chương trình Excel và Minitab 16

Ngày đăng: 24/11/2015, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tổng số con vật nuôi từ năm 2010-2012 - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 1.1. Tổng số con vật nuôi từ năm 2010-2012 (Trang 32)
Hình 2.1. Bản đồ các tỉnh của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Hình 2.1. Bản đồ các tỉnh của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (Trang 35)
Hình 2.2. Vị trí điểm nghiên cứu - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Hình 2.2. Vị trí điểm nghiên cứu (Trang 36)
Bảng 3.1. Nhiệt độ từ năm 2006 – 2013 của tỉnh Luang Pra Bang ( 0 C) - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 3.1. Nhiệt độ từ năm 2006 – 2013 của tỉnh Luang Pra Bang ( 0 C) (Trang 40)
Bảng 3.2. Lượng mưa từ năm 2006 – 2013 của tỉnh Luang Pra Bang (mm) - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 3.2. Lượng mưa từ năm 2006 – 2013 của tỉnh Luang Pra Bang (mm) (Trang 40)
Bảng 3.3.  Số đầu vật nuôi và sản phẩm thủy sản của Luang Pra Bang - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 3.3. Số đầu vật nuôi và sản phẩm thủy sản của Luang Pra Bang (Trang 41)
Bảng 3.9. Các màu lông chính của 4 giống gà - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 3.9. Các màu lông chính của 4 giống gà (Trang 48)
Bảng 3.10. Các màu da của 4 giống gà - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 3.10. Các màu da của 4 giống gà (Trang 49)
Bảng 3.11. Các màu da chân của 4 giống gà - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 3.11. Các màu da chân của 4 giống gà (Trang 50)
Bảng 3.12. Khối lượng và các chiều đo trên gà trống 20 tuần tuổi của 4 - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 3.12. Khối lượng và các chiều đo trên gà trống 20 tuần tuổi của 4 (Trang 51)
Bảng 3.15. Khả năng cho thịt của 4 giống gà - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Bảng 3.15. Khả năng cho thịt của 4 giống gà (Trang 55)
1. HÌNH ẢNH VỀ 4 GIỐNG GÀ - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
1. HÌNH ẢNH VỀ 4 GIỐNG GÀ (Trang 69)
Hình 1. Gà Hon Chu - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Hình 1. Gà Hon Chu (Trang 69)
Hình 4. Gà Trè - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Hình 4. Gà Trè (Trang 70)
Hình 3. Gà Nhộc - đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của các giống gà địa phương nuôi tại huyện luang pra bang, tỉnh luang pra bang, cộng hòa dân chủ nhân dân lào
Hình 3. Gà Nhộc (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm