2.1.3 Khả năng sinh sản của lợn nái Một yêu cầu quan trọng của chăn nuôi lợn nái là tăng khả năng sinh sảnnhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng cho khâu sản xuất lợngiống và
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp với hai ngành sản xuất chính là trồngtrọt và chăn nuôi; trong đó chăn nuôi chiếm tỷ trọng 28-32% Trong 10 nămgần đây, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt mức tăng trưởng khá, vàokhoảng 5,2% bình quân hàng năm [6]; trong khi đó tổng giá trị sản xuất củatoàn ngành nông nghiệp chỉ đạt mức 4,5% bình quân hàng năm Đặc biệt làchăn nuôi lợn tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Số đầu lợn tăng liêntục qua các năm từ 21,7 triệu con năm 2001 lên 27,4 triệu con năm 2005; tăngtrưởng bình quân 6%/năm Riêng đàn lợn nái có tốc độ tăng trưởng khá nhanh
từ 2,95 triệu con năm 2001 lên 3,88 triệu con năm 2005 Đàn nái năm 2005chiếm 14% tổng đàn, trong đó nái ngoại là 9,6% Sản lượng thịt cũng tăng cao
từ 1,51 triệu tấn năm 2001 lên 2,29 triệu tấn năm 2005, thịt lợn luôn chiếm tỷ
lệ cao từ 76 – 77% trong tổng sản lượng thịt các loại sản xuất trong năm [6]
Những năm gần đây, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập củangười dân tăng cao, nhu cầu về thực phẩm chất lượng cũng theo đó tăng lên,đặc biệt là thịt lợn nhiều nạc Vì vậy, ngành chăn nuôi đã và đang mở rộngtheo hướng tăng năng suất và tăng tỷ lệ nạc Chính vì vậy, lợn lai 3 – 4 máu,lợn ngoại được đưa vào nuôi phổ biến trong các nông hộ và trang trại chănnuôi công nghiệp
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Việt Nam, Hải Dương làtỉnh sản xuất nông nghiệp phát triển với 65% hộ nông dân tham gia sản xuấtnông nghiệp Trong 5 năm qua (2001 – 2005) kinh tế phát triển với tốc độ khácao, tổng sản phẩm (GDP) tăng 10%/năm, trong đó nông nghiệp tăng4,8%/năm, riêng ngành chăn nuôi tăng 9%/năm Đến 1/10/2008, tổng đàn lợn
là 629.414 con tăng 2,4% so với cùng kỳ; trong đó đàn nái 111.654 con tăng2,6%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 79.414 tấn tăng 2,3% [9]
Trang 2Tuy nhiên, chăn nuôi lợn ở Hải Dương còn bộc lộ một số mặt đángquan tâm đó là chất lượng con giống còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầusản xuất chăn nuôi theo hướng hàng hoá và xuất khẩu Do tổ chức chỉ đạochưa đồng bộ, thiếu quy hoạch xây dựng các khu vực chăn nuôi tập trung, nênphát triển chăn nuôi lợn vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ phân tán Việc ứngdụng tiến bộ kỹ thuật, vệ sinh thú y và vệ sinh môi trường còn gặp nhiều khókhăn, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm.
Việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào sản xuất cònchậm, đặc biệt là khâu giống Các chỉ tiêu về năng suất ở các trại mới chỉdừng lại ở các con số thống kê, chưa được hệ thống hóa và xử lý để sử dụngcho chọn lọc Sau 12 năm thực hiện chương trình “nạc hoá” đàn lợn, nhưngcác cơ sở giống lợn của tỉnh vẫn chưa được đánh giá đầy đủ được các chỉ tiêukinh tế kỹ thuật, xây dựng và thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng đànlợn giống ông bà của tỉnh, nhằm cung cấp lợn cái hậu bị bố mẹ cho trại giốngtạo lợn thương phẩm Do đó, năng suất sinh sản chưa cao, chưa chủ độngcung ứng con giống có chất lượng tốt cho người chăn nuôi Đây chính là mộttrong những vấn đề cấp thiết cần giải quyết đối với chăn nuôi tại Hải Dương
Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn ông bà nuôi tại một số cơ sở giống tỉnh Hải Dương”.
1.2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá năng suất sinh sản của đàn lợn nái ông bà trong điều kiệnchăn nuôi tại Hải Dương, từ đó góp phần nâng cao, cải tiến chất lượng đànlợn nái ông bà cả về chất lượng và số lượng
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến năng suấtsinh sản của hai dòng nái C1050 và C1230
- Theo dõi về tiêu tốn thức ăn của hai dòng nái C1050 và C1230 giaiđoạn từ khi phối giống đến khi xuất bán lợn con
Trang 32 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn
2.1.1 Tuổi thành thục về tính và các yếu tố ảnh hưởng
2.1.1.1 Tuổi thành thục về tính
- Tuổi thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và
có khả năng sinh sản Đây là thời điểm lợn cái bắt đầu động dục lần đầu tiên.Tuy nhiên, trên thực tế hầu như lần động dục này lợn cái không chửa đẻ màchỉ có tác dụng báo hiệu cho khả năng sinh sản lợn cái
- Khi thành thục về tính, lợn cái có các biểu hiện:
+ Bộ máy sinh dục phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng(rụng lần đầu), con đực sinh tinh Tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năngthụ thai
+ Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp
+ Xuất hiện các phản xạ sinh dục: con đực có phản xạ giao phối còncon cái thì động dục
Thành thục ở lợn cái khoảng 6 tháng tuổi với độ biến động từ 4 – 8tháng tuổi (Trần Cừ và cộng sự, 1975) [12], còn theo Hughes và cộng sự(1980) [52] thì phạm vi biến động về tuổi động dục lần đầu của lợn là 135 –
250 ngày Theo Dichl (1996) [20] sự thành thục về tính ở lợn cái hậu bịkhoảng 5 – 8 tháng tuổi
2.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính
- Giống: đây là yếu tố thuộc về di truyền Các giống lợn khác nhau tuổithành thục về tính cũng khác nhau Giống thành thục sớm là 3 – 4 tháng tuổi, 6 –
7 tháng tuổi đối với hầu hết lợn ở các nước đang phát triển Các giống lợn cótầm vóc nhỏ thành thục về tính sớm hơn lợn có tầm vóc lớn
Trang 4- Theo Despres và cộng sự, 1992 [45], lợn Meishan có tuổi thành thục
về tính sớm, khoảng 100 ngày, năng suất sinh sản cao, chức năng làm mẹ tốthơn so với lợn Large White
Ở nước ta, lợn lai thường thành thục về tính muộn hơn so với lợn cáinội Lợn cái Ỉ, Móng Cái… thành thục ở tháng 4, 5, lợn cái lai F1 động dụclần đầu vào khoảng tháng thứ 6 và lợn ngoại thuần khoảng tháng tuổi 6 – 8(Phạm Hữu Doanh và cộng sự, 1985) [13]
- Các yếu tố ngoại cảnh: Tuổi động dục lần đầu của lợn cái phụ thuộcrất nhiều vào các yếu tố ngoại cảnh như chế độ chăm sóc, …
+ Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng: yếu tố ảnh hưởng rất lớn và rõ rệtnhất Nếu nuôi dưỡng lợn cái giai đoạn này không đúng kỹ thuật thì tuổi độngdục lần đầu của lợn bị ảnh hưởng
Theo Nguyễn Tấn Anh (1998) [1], để duy trì năng suất sinh sản cao,khi lợn cái hậu bị động dục cần chú ý tới quy trình chăm sóc nuôi dưỡng
Phần lớn lợn cái hậu bị phát triển từ 40 – 80 kg (4, 5, 6 tháng tuổi) vớikhẩu phần ăn tự do cho phép bộc lộ đến mức tối đa tiềm năng di truyền về tốc
độ sinh trưởng và tích lũy mỡ Cho ăn tự do đến 80 – 90 kg, mà sự thành thục
về tính dục không bị chậm trễ thì có thể khống chế mức tăng trọng bằng cáchmỗi ngày cho lợn cái hậu bị ăn 2kg/con/ngày với loại thức ăn hỗn hợp có giátrị 2.900 kcal ME/kg thức ăn và 14% protein thô
Điều chỉnh mức ăn để khối lượng đạt 120 – 140 kg ở chu kỳ động dụcthứ 3 và được phối giống Việc khống chế năng lượng chẳng những tiết kiệmchi phí thức ăn mà còn tránh được tăng trọng không cần thiết, có thể rút ngắnthời gian sinh sản Đây chính là yếu tố làm cho sự phát triển của lợn cái hậutrở thành không đạt yêu cầu để làm giống cũng như nái giống trưởng thành
Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức
ăn từ 1 – 1,5 kg, có bổ sung khoáng và sinh tố thì sẽ giúp cho lợn nái ăn đượcnhiều và tăng số trứng rụng từ 2 – 2,1 trứng/nái
Trang 5Sau khi phối giống cần chuyển chế độ ăn hạn chế và thay thế bằng mứcnăng lượng trung bình Nếu tiếp tục cho ăn ở mức năng lượng cao sẽ làm pháttriển tỷ lệ chết phôi, chết thai làm ảnh hưởng lượng con sinh ra/ổ.
+ Ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sáng đến tuổi thành thục:
Sự khác biệt về mùa vụ cũng ảnh hưởng tới kỳ động dục lần đầu Nóichung lợn cái được sinh ra về mùa thu sẽ thành thục khi thể trọng còn hơithấp và tuổi cũng ít hơn so với lợn cái hậu bị được sinh ra trong mùa xuân.Nhiệt độ cũng ảnh hưởng không nhỏ, mùa hè nhiệt độ cao, sự thành thục vềtính chậm nhưng nhiệt độ thấp lại không ảnh hưởng đến quá trình phát dục
Vì vậy cần có những biện pháp chống nóng, chóng lạnh cho lợn Thời gianchiếu sáng được xem như ảnh hưởng mùa vụ Mùa đông có thời gian chiếusáng ngắn và mùa hè thì ngược lại Nếu lợn cái hậu bị được chiếu sáng 12giờ/ngày bằng ánh sáng tự nhiên và nhân tạo sẽ động dục sớm hơn nhữngcon được chiếu sáng trong ngày ngắn
+ Ảnh hưởng của việc nuôi nhốt: Nuôi nhốt hay chính là mật độ số controng chuồng có ảnh hưởng đến tuổi động dục lần đầu Lợn cái hậu bị nếunuôi nhốt đông trên một đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làmchậm tuổi động dục Nhưng nếu nuôi tách biệt từng cá thể lợn cái hậu bị cũng
sẽ làm chậm sự thành thục về tính
Theo Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp[8] “…Xáo trộn lớn cái hậu
bị hoặc ghép nhóm trở lại lúc 160 ngày tuổi có thể có lợi và thúc đẩy sớm sựxuất hiện của chu kỳ động dục đầu tiên” Như vậy ở lợn cái hậu bị ghép đànhợp lý lại thúc đẩy sự thành thục về tính sớm
Điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi ảnh hưởng không nhỏ đến năngsuất của lợn và tuổi động dục lần đầu Các tác nhân hình thành nên tiểu khíhậu chuồng nuôi gồm: khí hậu vùng, kiểu chuồng, hướng chuồng, độ thôngthoáng, khả năng thoát nước, hàm lượng khí NH3, CO2, H2S…
Trang 6Tiểu khí hậu chuồng nuôi phụ thuộc vào lượng phân trong chuồng và
sự trao đổi không khí trong chuồng Hughes và Tiltin (1996) tiến hành thínghiệm ở Úc và cho thấy hàm lượng NH3 cao làm chậm động dục lần đầu 25– 30 ngày
+ Ảnh hưởng của con đực: tuổi động dục lần đầu của con cái ảnhhưởng khá nhiều bởi sự kích thích của con đực, kích thích cụ thể là cho tiếpxúc với con đực để ngửi mùi sẽ làm con cái sớm động dục Cách ly con cáihậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến sự chậm thành thục vềtính dục so với những con cái được tiếp xúc với lợn đực Tuy nhiên, địnhđược thời gian cho lợn cái tiếp xúc với lợn đực lại rất quan trọng, có ý nghĩalớn trong việc kích thích con cái động dục sớm Xung quanh vấn đề này cònrất nhiều ý kiến, có ý kiến cho rằng trong một nhóm nhỏ của đàn hậu bị chỉcần cho lợn đực tiếp xúc 10 – 15 phút/ngày, ý kiến khác lại cho rằng nếu tiếpxúc hạn chế của lợn đực thì động dục lần đầu chậm hơn so với lợn cái đượctiếp xúc hàng ngày
Theo Hughes (1982) [53], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực giống
2 lần/ngày với thời gian 15 – 20phút/lần thì 83% lợn cái (ngoài 90 kg khốilượng) động dục lúc 165 ngày tuổi
Theo Hughes (1975) [51] những con đực 10 tháng tuổi không có tác dụngtrong việc kích thích phát dục bởi vì những con đực này còn non chưa tiết ralượng feromon, đây là thành phần quan trọng tạo ra hiệu ứng đực giống
“Hiệu ứng đực giống” được thực hiện thông qua feromon trong nước bọtcủa con đực (3- -Andriosterol) được truyền trực tiếp cho con cái qua đườngmiệng Tác dụng này chỉ có hiệu quả cao khi có mặt của lợn đực giống
“Hiệu ứng lợn đực giống” tốt nhất khi lợn cái hậu bị khoảng 160 ngàytuổi và lợn đực ít nhất 10 tháng tuổi Việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị ở cạnhchuồng lợn đực và cho tiếp xúc trực tiếp trong khoảng thời gian ngắn trong
Trang 7ngày sẽ tạo ra đáp ứng tốt nhất ở lợn cái hậu bị Tác dụng này còn có trên cảlợn đực giống làm tăng tính hăng và tăng hàm lượng feromon.
Như vậy, cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực giống là cách tốt nhất
để kích thích lợn cái sớm thành thục về tính nhưng cần chọn đúng thời điểmcho tiếp xúc và điều kiện ngoại cảnh phù hợp nếu không sẽ làm giảm tác độngcủa việc tiếp xúc giữa lợn đực giống và cái hậu bị
2.1.2 Chu kỳ động dục, cơ chế động dục
Lợn cái hậu bị bắt đầu thành thục về tính thì sẽ xuất hiện hiện tượngđộng dục và rụng trứng Hoạt động này được điều khiển bởi hormon theo chu
kỳ nên gọi là chu kỳ động dục
Như vậy chu kỳ động dục là khi lợn cái bắt đầu thành thục về tính cứsau một thời gian nhất định, cơ thể nhất là cơ quan sinh dục của con cái có sựbiến đổi như âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăngcường hoạt động, trứng thành thục chín và rụng
Chu kỳ động dục ở lợn cái khoảng 21 ngày, dao động từ 18 – 25 ngày,thời gian rụng trứng kéo dài 4 – 6 giờ, ở lợn cái tơ thì thời gian này kéo dàihơn khoảng 10 giờ và có từ 16 – 25 tế bào trứng rụng Ở lợn cái hậu bị sốlượng trứng rụng ít hơn khoảng 14 và dao động từ 7 -16 Trứng rụng sẽ thamgia vào quá trình sinh sản nếu gặp tinh trùng hoặc không sẽ bị đào thải
Chu kỳ động dục được kiều khiển bởi hệ thống thần kinh – thể dịchtheo cơ chế điều hòa ngược:
Khi lợn cái hậu bị đến tuổi thành thục thì các yếu tố như ánh sáng, thức
ăn, nhiệt độ… tác động vào vùng dưới đồi (hypothalamus) Tại đây giảiphóng ra hormon GRH có tác dụng kích thích lên vùng thùy trước tuyến yêngiải phóng ra FSH và LH FSH và LH là hai hormon có tác dụng kích thích sựphát triển của trứng và làm trứng chín và rụng và hình thành nên thể vàng.Song song với quá trình trứng phát triển chín và rụng thì tế bào hạt trong
Trang 8thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Hàmlượng hormon này trong máu tăng từ 64mg% lên 112mg% từ đó gây kíchthích toàn thân, lúc này con vật có biểu hiện động dục.
Sơ đồ cơ chế điều hoà chu kỳ tính ở lợn cái
Ghi chú: GRH: Gonadotropin Release Hormone
PL : Prolactin
LH : Lutein Hormone FSH : Foliculin Hormone
Sau khi rụng trứng 7 ngày, tại vị trí trứng rụng mạch quản và tế bào sắc
tố vàng phát triển hình thành nên thể vàng đạt kích thước 8 – 9 mm Nếutrứng rụng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại suốt quá trình mang thai, tiết raprogesteron giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung và
ức chế sự sinh ra của FSH, LH của tuyến yên do đó ức chế quá trình phát triển
Hypothalamus
Thuỳ trước tuyến yên
GRH
PL LH FSH
Buồng trứng Oestrogen Thể vàng
Rụng trứng Progesteron
Tuyến sữa Sừng tử cung Prostaglandine +
Trang 9-bao noãn từ đó con cái không động dục Như vậy, hormon này được côngnhận như hormon bảo vệ sự mang thai Nếu trứng rụng không được thụ tinhthì thể vàng tồn tại đến ngày 15 – 17 thì tiêu biến nhờ tác động của hormonprostagladine F2 của sừng tử cung và sau đó 1 chu kỳ mới lại bắt đầu
Khi gia súc thành thục về tính, kèm theo quá trình rụng trứng là sự biếnđổi của cơ thể và biến đổi của cơ quan sinh dục
Chu kỳ động dục được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục: bắt đầu từ khi thể vàng tiêu hủy tới lầnđộng dục tiếp theo
- Giai đoạn động dục: gồm 3 thời kỳ kế tiếp là hưng phấn, chịu đực vàsau chịu đực Đây là giai đoạn quan trọng nhất nhưng thời gian lại ngắn Ởlợn khoảng 2 – 3 ngày, đặc biệt là lượng oestrogen tiết ra đạt mức cao nhất112mg% Sau khi trứng rụng được thụ tinh, con vật chuyển sang kỳ chửa, nếukhông được thụ tinh sẽ chuyển sang giai đoạn sau động dục
- Giai đoạn sau động dục: bắt đầu sau khi kết thúc động dục và kéo dàivài ngày
- Giai đoạn yên tĩnh: là giai đoạn dài nhất thường bắt đầu từ ngày thứ tưsau khi rụng trứng Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để khôi phục lại cấutạo và chức năng cũng như năng lượng cho chu kỳ tiếp theo
2.1.3 Khả năng sinh sản của lợn nái
Một yêu cầu quan trọng của chăn nuôi lợn nái là tăng khả năng sinh sảnnhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng cho khâu sản xuất lợngiống và lợn thịt Khi đánh giá về khả năng sinh sản của lợn nái người tathường quan tâm đến một số chỉ tiêu sinh sản nhất định, đây chính là nhữngchỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản:
2.1.3.1 Các tham số di truyền đối với lợn nái sinh sản
Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định rằng các chỉ tiêu về khả năngsinh sản của lợn nái có hệ số di truyền thấp
Trang 10Nguyễn Văn Thiện, 1995 [32] cho biết hệ số di truyền đối với một sốtính trạng về khả năng sinh sản của lợn nái như sau:
- Các chỉ tiêu sinh sản lại có mối quan hệ với nhau, hệ số tương quan ditruyền giữa các chỉ tiêu sinh sản ở lợn như sau :
2.1.3.2 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái
Khi bàn về những chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng sinh sản củalợn nái có rất nhiều ý kiến khác nhau
Gordon (2004) [55] cho rằng, trong các trang trại chăn nuôi hiện đại, sốlượng con cai sữa do một nái sản xuất trong 1 năm là chỉ tiêu đánh giá đúngđắn nhất khả năng sinh sản của lợn nái
Theo Trần Đình Miên (1977) [23], việc tính toán và đánh giá sức sinhsản của lợn nái phải xét đến các mặt: chu kỳ động dục, tuổi thành thục sinhdục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa, số con đẻ ra/lứa
Trang 11Theo Ducos (1994) [46] các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số concòn sống khi cai sữa gồm : số trứng rụng, tỷ lệ sống khi sơ sinh và tỷ lệ lợncon sống tới lúc cai sữa.
Kết quả các nghiên cứu khác cho rằng, các chỉ tiêu ảnh hưởng đến sốlượng lợn con cai sữa của 1 nái/1 năm là: tính đẻ nhiều con (số lợn sơ sinh),
tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu
và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau (Legault, 1980) [58]
Theo Marby và cộng sự (1997) [ 59], các tính trạng năng suất sinh sảnchủ yếu của lợn nái bao gồm : số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượngtoàn ổ ở 21 ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm Các tính trạng này ảnh hưởng lớnđến lợi nhuận của người chăn nuôi lợn nái
Ở Việt Nam, Tiêu chuẩn nhà nước về lợn giống (TCVN 1980 – 1981 –TCVN 1982 – 1981) đề ra 4 chỉ tiêu giám định lợn nái tại các cơ sở giống nhànước là : số con đẻ ra sống/ổ, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày, khối lượng toàn
ổ lúc 60 ngày, tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách lứa
đẻ đối với nái đẻ từ lứa thứ 2 trở đi
Theo Nguyễn Khắc Tích (2002)[34], khả năng sinh sản của lợn nái chủyếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Chỉ tiêu nàylại phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con đẻ ra và số lứa đẻ/nái/năm
Số con đẻ ra còn sống là số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong concuối cùng Chỉ tiêu này cho biết khả năng đẻ nhiều hay ít của lợn nái, kỹ thuậtchăm sóc lợn nái chửa, kỹ thuật thụ tinh của người chăn nuôi Số lơn con caisữa là chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá trình độ chăn nuôi lợn nái sinh sản Nóquyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh tế của quá trìnhchăn nuôi Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn nuôi bao gồm kỹthuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng bệnh, khả năng tiết sữa củalợn mẹ và khả năng phòng bệnh của lợn con Mặt khác, số lợn con cai sữa còn
Trang 12phụ thuộc vào số con để nuôi, tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa Lơn contrước cai sữa thường bị chết với các nguyên nhân và tỷ lệ khác nhau như ditruyền, nhiễm khuẩn, mẹ đè thiếu sữa, dinh dưỡng kém hay một số nguyênnhân khác
Số lứa đẻ/nái/năm: Chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng quan trọng của thờigian nuôi con và số ngày bị hao hụt của lợn nái Hiện nay, thời gian nuôi conđược rút ngắn trung bình là 21 – 25 ngày Sau khi mang thai, đẻ và nuôi conlợn mẹ có sự thay đổi về khối lượng, nếu gầy sút quá sẽ ảnh hưởng tới thờigian động dục trở lại sau cai sữa và ảnh hưởng tới năng suất của lứa tiếp theo.Cho nên trong quá trình nuôi dưỡng cần quan tâm đến lợn mẹ để hạn chế đếnmức thấp nhất sự hao hụt của lợn mẹ để rút ngắn tối đa thời gian động dục lạisau cai sữa của lợn mẹ Điều này sẽ giúp rút ngắn khoảng cách lứa đẻ và nângcao được số lứa đẻ/nái/năm
Như vậy, có rất nhiều ý kiến đưa ra các chỉ tiêu khác nhau trong việcđánh giá năng suất sinh sản của lợn nái, nhưng theo chúng tôi, quá trình đánhgiá và chọn lọc nên tập trung vào các chỉ tiêu chính: số con đẻ ra còn sống/ổ,khả năng tiết sữa 21 ngày và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
Thông thường, các chỉ tiêu dưới đây được đề cập để đánh giá khả năngsinh sản của lợn nái :
1) Số con đẻ ra/ổ
2) Số con đẻ ra còn sống/ổ
3) Số con để nuôi/ổ
4) Số con 21 ngày/ổ
5) Số con cai sữa/ổ
6) Khối lượng sơ sinh/con
7) Khối lượng 21 ngày/con
8) Khối lượng cai sữa/con
Trang 139) Thời gian cai sữa
10) Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
11) Tuổi đẻ lứa đầu
12) Thời gian phối giống lại sau cai sữa
13) Số lứa đẻ/năm = Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ365
14) Số con cai sữa/nái/năm
2.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
* Yếu tố di truyền
Giống là yếu tố mang tính di truyền, ảnh hưởng không nhỏ đến năngsuất sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999) [4] Các giống khác nhau,năng suất sinh sản cũng khác nhau Điều này đã được nhiều công bố
Theo Legault (1985, trích từ Rothschild và cộng sự, 1997) [57], căn cứvào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia thành 4nhóm chính như sau :
- Các giống đa dạng như L, Y và một số dòng nguyên chủng được xếpvào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá
- Các giống chuyên dụng « dòng bố » như P, L của Bỉ có khả năng sinhsản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
- Các giống chuyên dùng « dòng mẹ » như Meishan của Trung Quốc cókhả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém
- Các giống địa phương cá đặc tính chung là khả năng sinh sản và sứcsản xuất thịt kém song có khả năng thích nghi tốt với môi trường
Theo Lengerken và cộng sự (1987) [69], lợn nhạy cảm với stress cókhả năng cho nạc cao song khả năng sinh sản bị hạn chế, giảm thời gian sửdụng đối với gia súc giống, kết quả thụ thai thấp và tỷ lệ hao hụt cao trongquá trình chăn nuôi và vận chuyển
Theo Gordon (2004) [55], tỷ lệ chết lợn con trước khi cai sữa chiếm tới
Trang 1460,10% ở ngày đẻ đầu tiên; 23,6% từ ngày 2 – 7 sau đẻ và 16,2% sau 7 ngày.
Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sảncủa lợn nái Giai đoạn lợn chửa và lợn nái nuôi con nếu được cung cấp đủ về
số lượng và chất lượng dinh dưỡng thì kết quả sinh sản sẽ tốt Chế độ dinhdưỡng tốt sẽ làm cải thiện được số trứng rụng nhưng lại làm giảm tỷ lệ thụthai (Hafez, 1960) [50] Theo Brooks và Cole (1969) [43], lợn nái ăn gấp đôilượng thức ăn ở giai đoạn trước khi phối giống và ở ngày phối giống so vớibình thường có tác dụng làm tăng số trứng rụng và số con đẻ ra/ổ Nếu nuôidưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng,tăng số phôi sống Khi nói đến dinh dưỡng thì chúng ta cần quan tâm đến một
số yếu tố sau:
+ Dinh dưỡng protein: Các axit amin đặc biệt là các loại axit aminkhông thay thế ảnh hưởng rất lớn đến thành tích sinh sản của lợn mẹ Nếukhẩu phần ăn thiếu protein thì sẽ chậm động dục và giảm số lứa đẻ/năm.Trong giai đoạn mang thai của lợn nái nếu không cung cấp đủ protein thì khốilượng sơ sinh của lợn con giảm thấp và nếu thiếu trong giai đoạn tiết sữa sẽlàm giảm khả năng sinh trưởng của lợn con
+ Dinh dưỡng năng lượng: Là yếu tố cần thiết cho tất cả các hoạt độngsống của cơ thể Nếu thiếu năng lượng đặc biệt là giai đoạn mang thai vànuôi con sẽ dẫn đến hiện tượng suy dinh dưỡng, còi cọc, sức kháng bệnh
Trang 15kém Tuy nhiên, nếu cung cấp quá thừa trong giai đoạn có chửa thì dẫn đếnhiện tượng chết phôi, chết thai, đẻ khó Mặt khác, năng lượng thừa sẽ tích tụdưới dạng mỡ và lợn con sẽ mắc bệnh đường ruột do sữa mẹ có hàm lượng
mỡ trong sữa đầu cao
+ Dinh dưỡng vitamin : là yếu tố không thể thiếu đối với cơ thể độngvật Hàm lượng vitamin trong khẩu phần chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nhưng lạirất quan trọng, nếu thiếu sẽ gây hiện tượng rối loạn chức năng của các cơquan trong cơ thể Thiếu vitamin A gây ra tình trạng chậm động dục, teothai, khô mắt Thiếu vitamin B gây ra hiện tượng thần kinh yếu, co giật,bại liệt tứ chi
+ Dinh dưỡng khoáng: Khoáng gồm khoáng vi lượng và đa lượng Vớimột lượng nhỏ trong khẩu phần ăn nhưng là yếu tố cần thiết cho việc tạoxương, tạo máu và cân bằng nội mô
Trong một số quy trình chăn nuôi tại Philippin, tập đoàn Cargill (Mỹ) đã
áp dụng chế độ bồi thực (plushing) với mức cho ăn hàng ngày trên 3kg cho 1lợn cái hậu bị trong vòng 14 ngày trước khi phối giống và chế độ bồi thực cholợn nái từ sau cai sữa đến phối giống nhằm tăng số trứng rụng để tăng số con
đẻ ra/ổ và giai đoạn ăn tăng này còn gọi là giai đoạn tăng số con đẻ ra/lứa
Nên cho lợn nái nuôi con ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng,giảm lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậuquả là thời gian động dục trở lại dài, giảm tỷ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống(Gordon, 2004)[55] Nuôi dưỡng lợn nái trong kỳ tiết sữa nuôi con với mứcprotein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại (Gordon,1997) [54]
Mục tiêu của việc nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sảnxuất ít, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có khốilượng cơ thể thích hợp trong thòi kỳ nuôi con Vì vậy cần phải đưa ra khẩu
Trang 16phần ăn khoa học để tăng sữa Nếu khẩu phần ăn với mức lyzin thấp vàprotein thấp làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trưởngthành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con còn sống/ổ, tăng tỷ lệ haohụt của lợn mẹ và giảm tối đa sinh trưởng của lợn con (Yang và cộng sự,2000) [67] Song mức protein quá cao trong khẩu phần đều không tốt cho lợnnái cả giai đoạn chửa và nuôi con.
Các nhận thấy nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm bình thường củachu kỳ động dục trong khoảng tháng 5 đến 8
Nhiệt độ cao còn không những làm tăng tỷ lệ nái không động dục màcòn làm giảm tỷ lệ thụ thai, giảm khả năng sống của thai Nhiều nghiên cứu
đã chứng tỏ stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phôisống 20% và do đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái Tỷ lệ hao hụtcủa lợn nái cao vào mùa hè kéo theo tỷ lệ loại thải cao (30-50%), làm thiệthại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản
- Tuổi và lứa đẻ:
Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ
Số con đẻ ra tương quan với số trứng rụng (Warrick và cộng sự, 1989) Trong
Trang 17lần động dục đầu số trứng rụng thường thấp nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ởchu kỳ động dục thứ 2 và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ 3 Như thếthường ở lứa đẻ 1và 2 số con đẻ ra ít hơn so với các lứa tiếp theo Số con đẻ
ra sẽ tăng từ lứa 1 đến lứa thứ 5,6 và sau đó giảm dần Do đó, số con đẻ ratrong ổ liên quan chặt chẽ tới tuổi lợn nái
- Số lần phối giống và tuổi phối giống:
Số lần phối giống trong 1 lần động dục của lợn nái ảnh hưởng rất lớnđến tỷ lệ thụ thai từ đó ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Phối đơn trong 1 chu kỳđộng dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao nhưngphối kép trong 1 lần động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ (Gordon, 1997) [54]
Do đó trên thực tế muốn tăng số con đẻ ra trong ổ nên phối trực tiếp cho lợnnái 3 lần, mỗi lần cách nhau 24h
Phương thức phối giống cũng ảnh hưởng khá rõ rệt Trong phối trựctiếp, ảnh hưởng của con đực rất rõ Thụ tinh nhân tạo có thể làm giảm tỷ lệthụ thai do kỹ thuật phối giống Theo Anon (1993, trích từ Gordon, 1997)[54], phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làmtăng 0,5 lợn con trong ổ so với phối riêng rẽ
- Thời gian cai sữa:
Thời gian cai sữa dài hay ngắn ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng cáchgiữa hai lứa đẻ Thời gian bú sữa dài, số để nuôi trong ổ cao, thời gian độngdục trở lại sau cai sữa dài, khoảng cách từ khi đẻ đến khi phối giống trở lạidài là nguyên nhân kéo dài khoảng cách lứa đẻ Điều đó ảnh hưởng khôngnhỏ đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản do làm giảm số lứađẻ/nái/năm
Theo Aas và cộng sự (2004) [49], phối giống sớm sau khi đẻ, tỷ lệ đẻ
và số con đẻ ra trong ổ thấp hơn so với phối giống muộn Thường lợn nái caisữa ở 28-35 ngày, thời gian động dục lại 4-5 ngày có thể phối giống thì thành
Trang 18tích sinh sản tốt (Colin, 1998) [44].
- Số con cai sữa/ổ :
Hughes và cộng sự (1980) [52] cho rằng năng suất của đàn lợn giốngđược xác định bởi chỉ tiêu số con cai sữa/nái/năm Vì vậy số lợn con caisữa/nái/năm là tính trạng sinh sản quan trọng
Giới hạn cao nhất của số con cai sữa/nái/năm bị giảm đi là do một sốtrứng rụng không được thụ tinh, một số thai chết khi chửa và đẻ, một số lợncon chết từ sơ sinh đến cai sữa Theo tạp chí Veterinary Investigation Service(1960), các nguyên nhân làm lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa là do mẹ đè,
bỏ đói chiếm 50%, do nhiễm khuẩn 11,1%, do dinh dưỡng kém 8%, do ditruyền 4,5% và các nguyên nhân khác chiếm 26,4% Và tỷ lệ này còn phụthuộc vào ngày tuổi của lợn con : < 3 ngày tuổi là 50%, 5-7 ngày 18%, 8-21ngày 17%, 22-56 ngày 15%
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới công tác nâng cao chất lượng và số lượng con giống luônđược quan tâm hàng đầu Từ nửa sau thế kỷ 20, do có thêm hiểu biết mới về
ưu thế lai và sự phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo nên ở các nước có ngànhchăn nuôi tiên tiến đã phát triển mạnh về việc lai các giống lợn với nhaunhằm tạo ra con giống đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi
Các nghiên cứu của Gerasimov và cộng sự (1997) [48], cho biết lai hai,
ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/lứa,
tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Vì vậy việc sử dụng lai hai,
ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sức sản xuất thịtthương phẩm (Dzhunelbaev và cộng sự, 1998 [47])
Xue và cộng sự (1997) [66] nhận thấy lợn lai ba giống Duroc x (LargeWhite x Landrace (L)) có tốc độ sinh trưởng, chất lượng thân thịt tốt
Lai giống là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng sinh sản và
Trang 19cho thịt trong chăn nuôi lợn ở Ba Lan Tuz và cộng sự (2000) [65] nhận thấylai ba giống đạt được số con /lứa ở 1, 21, 42 ngày cũng như khối lượng sơsinh/con cao hơn hẳn so với giống thuần Lai ba, bốn giống đã trở thành phổbiến trong chăn nuôi lợn (Ostrowski và cộng sự, 1997)[60])
Việc sử dụng nái (Landrace x Yorkshire(Y)) phối với lợn Piétrain đểsản xuất con lai ba giống, sử dụng nái (Landrace x Yorkshire) phối với lợnđực lai (Piétrain x Duroc) để sản xuất con lai bốn giống khá phổ biến tại Bỉsản xuất ra lợn thịt có tỷ lệ nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp (Leroy và cộng
sự, 1996) [68]
Ở châu Âu hiện nay ba giống phổ biến được sử dụng là Piétrain (P),Hampshire và Duroc (D) Giống P có tỷ lệ nạc cao nhưng tần số gen halothancao, giống Hampshire có khả năng kháng stress song có hạn chế là tồn tại gen
RN và ảnh hưởng đến chất lượng thịt, giảm năng suất thịt khi chế biến, giống
D có khả năng kháng stress nhưng cũng có hạn chế là tỷ lệ mỡ trong thân thịt
và trong thịt nạc cao
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Các giống lợn được nhập vào nước ta chủ yếu nhằm mục đích cải tiếncác giống địa phương Tuy nhiên hiện nay khi nền kinh tế ngày càng pháttriển, đặc biệt là chăn nuôi ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp thìnhiều tập trung vào nghiên cứu tính năng sản xuất của các con giống nhằmkhông ngừng nâng cao năng suất và chất lượng đàn giống
Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định lai đơn giản giữa đực ngoại vàcái nội đã có tác dụng nâng cao khả năng sinh sản, tăng trọng, tỷ lệ nạc, giảmtiêu tốn thức ăn ở con lai F1 so với nội thuần Công thức lai này đã góp phầntích cực trong việc nâng cao năng suất và tỷ lệ nạc trong chăn nuôi lợn
Con lai Landrace x (Đại Bạch x Móng Cái) đạt mức tăng trọng cao575g/ngày, tỷ lệ nạc trong thân thịt xẻ đạt 48%, trong khi đó con lai giữa ĐạiBạch x (Đại Bạch x Móng Cái) chỉ đạt mức tăng trọng 527g/ngày, tỷ lệ nạc
Trang 20trong thân thịt xẻ là 47,03% (Võ Trọng Hốt và cộng sự (1993)[19].
Phùng Thị Vân và cộng sự (2000, 2002) [40] cho biết lai hai giốngYorkshire, Landrace và ngược lại đều có ưu thế về nhiều chỉ tiêu sinh sản sovới giống thuần (Y x L), (L x Y) có số con sữa/ổ tương ứng là 9,38 và 9,36con Con lai có tỷ lệ nạc so với thịt xẻ tương ứng là 58,8 và 56,5%
Kết quả nghiên cứu hai, ba giống lợn ngoại của Nguyễn Khắc Tích(1993)[35]cho biết công thức lai L x Y, D x (L x Y) và Hampshire x (L x Y)đạt tỷ lệ nạc 55,11%; 53,22%; 51,55%
Năm 1970, Viện Chăn nuôi đã thông báo kết quả nghiên cứu về khảnăng sinh sản của lợn Đại Bạch và Landrace như sau: số con đẻ ra/ổ đạt 9,75con; số con cai sữa /ổ là 8,8 con; khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày tuổi là79,57kg đối với lợn Đại Bạch và đối với lợn Landrace thì các chỉ tiêu này là8,4 con/ổ; 7con/ổ và 84,05kg/ổ
Lai ba giống giữa đực D với nái lai (L x Y) hoặc (Y x L) có tác dụngnâng cao các chỉ tiêu sinh sản, giảm chi phí thức ăn để sản xuất 1kg lợn con ở
60 ngày tuổi Kết quả cho thấy ở hai thí nghiệm số con cai sữa đạt 9,6-9,7con /ổ với khối lượng cai sữa/ổ tương ứng là 80,0 – 75,7kg ở 35 ngày tuổi(Phùng Thị Vân và cộng sự, 2000, 2002 [38]) Con lai giữa 3 giống D x (L xY) có mức tăng trọng trung bình 655,9g/ngày, tỷ lệ nạc 61,81% và tiêu tốnthức ăn 2,98; con lai ba giống Dx(YxL) có mức tăng trọng trung bình 655,7g/ngày, tỷ lệ nạc 58,71%, tiêu tốn thức ăn 2,95kg thức ăn/kg tăng trọng
Các kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải (2000) [17] cũng cho biếtcác công thức lai ba, bốn giống ngoại đạt mức tăng trọng và tỷ lệ nạc cao.Con lai ba giống Dx(LxY) có mức tăng trọng trung bình 634g/ngày, tỷ lệ nạc55,9%, tiêu tốn thức ăn 3,3kg thức ăn/kg tăng trọng; con lai ba giốngPx(LxY) có mức tăng trọng trung bình 601g/ngày, tỷ lệ nạc 58,8% với tiêutốn thức ăn là 3,1kg/kg tăng trọng Con lai bốn giống (PxD)x(LxY) đạt tăng
Trang 21trọng trung bình 624g/ngày, tỷ lệ nạc 57,9% với tiêu tốn thức ăn 3,2kg/kgtăng trọng
Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái Y và L được thểhiện trong thông báo của Đặng Vũ Bình (1999) [4] Ở lợn Y tuổi đẻ lứa đầu
là 418,54 ngày tuổi; số con đẻ ra còn sống 9,77 con/ổ; số con 21 ngày tuổi8,61 con/ổ Ở lợn L các chỉ tiêu tương ứng là 9,86con/ổ; 8,68 con/ổ; 8,21 con/
ổ Đồng thời cũng chỉ ra rằng độ lớn của lứa đẻ đạt giá trị thấp nhất ở lứa thứnhất, sau đó tăng lên và ổn định và có khuynh hướng giảm ở lứa đẻ thứ 6
Nguyễn Ngọc Phục và cộng sự (2005) [24], nghiên cứu khả năng sinhsản của lợn cụ kỵ L06, L11, L95 tại trại giống hạt nhân Tam Điệp – NinhBình, cho thấy tốc độ tăng trọng bình quân ngày tuổi cao nhất thuộc về L06
và L11 (554,19 và 531,06gam/ngày) và thấp nhất là L95 (599 gam/ngày).Nhưng độ dày mỡ lưng của L06 và L11 chỉ bằng một nửa so với L95 Năngsuất sinh sản của cả 3 dòng đều thấp ở lứa đầu so với các lứa tiếp theo Kếtquả từ lứa thứ 2 đến lứa thứ 7 cho thấy L95 có số con sơ sinh sống/ổ cao nhất(12,55 con/ổ) trong đó ở L06 và L11 thấp hơn từ 2 – 2,5 con/ổ nhưng khốilượng sơ sinh của L95 thấp hơn L06 và L11 từ 100 – 300g/con Số con caisữa của cả 3 dòng đều đạt từ 9,14 – 9,57 con/ổ nhưng khối lượng lợn con caisữa lúc 3 tuần tuổi của L95 thấp nhất (5,99kg/con) trong đó của L06 cao hơnkhoảng 500g/con
Nguyễn Văn Đồng và cộng sự (2005) [16] nghiên cứu khả năng sinhsản của hai dòng lợn ông bà C1230 và C1050 nuôi tại Trung tâm Nghiên cứugiống lợn Thuỵ Phương và Trại lợn giống Tam Điệp – Ninh Bình cho thấy:tốc độ tăng trọng của dòng C1050 vượt cao so với dòng C1230 (558,68g/ngày
và 525,52g/ngày) nhưng C1230 có độ dày mỡ lưng cao hơn C1050 (16,9mm
và 9,95mm) Tỷ lệ phối giống của dòng C1050 có xu hướng thấp hơn dòngC1230 Kết quả về năng suất sinh sản ở cả hai trại số con đẻ ra/ổ, số con còn
Trang 22sống/ổ, khối lượng sơ sinh đều tương đương nhau ở cả hai dòng Tại Trungtâm Nghiên cứu giống lợn Thuỵ Phương là 10,7 con/ổ, 1,45kg/con dòngC1050 và 11,53 con/ổ, 1,38kg/con dòng C1230 còn tại trại lợn giống TamĐiệp Ninh Bình khối lượng sơ sinh dòng C1050 là 1,51kg/con, dòng C1230 là1,45kg/con Đến giai đoạn 21 ngày tuổi thì dòng C1050 đã vượt lên cao hơn
so với dòng C1230 và càng thể hiện rõ hơn ở thời điểm cai sữa Tại Trungtâm Nghiên cứu giống lợn Thuỵ Phương, khối lượng 21 ngày tuổi và cai sữadòng C1050 là 5,55kg/con và 6,37kg/con còn dòng C1230 là 5,24kg/con và5,92kg/con Tại Trại Giống lợn Tam Điệp, khối lượng cai sữa dòng C1050 là6,32kg/con và dòng C1230 là 6,06kg/con
Các cũng đưa ra kết quả về năng suất sinh sản của hai dòng ông bànuôi tại các tỉnh So với kết quả nuôi tại Thuỵ Phương và Tam Điệp có thấphơn cụ thể là khối lượng sơ sinh, khối lượng 21 ngày tuổi dòng C1050 là1,46kg/con và 5,88kg/con còn dòng C1230 là 1,29kg/con và 5,74kg/con
2.3 Nguồn gốc, đặc điểm và một số tính năng sản xuất của hai dòng lợn
C1050 và C1230
Hai dòng lợn ông bà C1230 và C1050 được tạo ra là kết quả của cáccông thức lai từ các dòng lợn cụ kỵ L11, L06, L95 của công ty PIC Việt Nam,
được đưa vào nuôi thích nghi từ năm 1997.
Đến tháng 7/2001 các dòng này được giao cho phía Việt Nam mà cụ
thể là Trung tâm nghiên cứu giống lợn Thuỵ Phương - Viện Chăn nuôi quốcgia quản lý và nuôi giữ để sản xuất ra hai dòng lợn ông bà C1230 (L95 -Meishan x L06 - Landrace) và C1050 (L11 - Yorkshire x L06 - Landrace)cùng hai dòng bố mẹ CA và C22 chuyển giao và sản xuất ra con lai 4 và 5máu có năng suất và chất lượng cao
Trang 23- Dòng lợn C1050 là dòng được lai từ 2 dòng lợn L06 và L11 Trong đódòng mẹ là L06 được chọn theo hướng sinh sản tốt, dòng lợn làm bố là dòngL11 được chọn theo hướng tăng trọng và tỷ lệ nạc cao Dòng C1050 có ngoạihình thân dài vừa, ngực nở, mông nở, bụng gọn, bốn chân chắc khoẻ, mõmdài, lông da trắng và có 12 vú trở lên Về tính năng sản xuất, đây là dòng tăngtrọng nhanh, chuyển hoá thức ăn tốt, nuôi con khéo và ngoại hình đẹp.
- Dòng C1230 được tạo ra từ kết quả lai giữa đực giống L06 và lợn náitổng hợp L95 (lợn có tỷ lệ máu nhất định của giống lợn Meishan – TrungQuốc) Dòng này có thể chất không được chắc chắn lắm, lông da trắng, thỉnhthoảng có bớt đen nhỏ trên thân, mông vai không phát triển như dòng C1050.Bụng hơi sệ, 4 chân nhỏ và yếu (thể chất theo hướng lợn Meishan)
Trang 24- Giống lợn Meishan có nguồn gốc từ Trung Quốc Đặc điểm của giốnglợn này mặt có nhiều nếp nhăn, tai to ngả về phía trước, lưng võng, chânchoãi, có từ 16-20 núm vú Tính năng sản xuất : tăng trọng chậm, có khả đẻsai con nhất thế giới, thành thục về tính sớm (2,5-3 tháng tuổi) Ngoài ra, lợnMeishan có mùi vị thịt thơm ngon, có khả năng chống chịu tốt với bệnh tật,chịu đựng kham khổ.
Hai dòng lợn ông bà C1230 và C1050 được tạo ra từ các giống lợnngoại Landrace, Yorkshire, Meishan nên về bản chất nó mang hoàn toàn máulợn ngoại Do đó, về đặc điểm ngoại hình chúng thuộc loại hình hướng nạc -
mỡ, độ dài mình vừa phải, trán rộng, tai to mỏng, màu lông da trắngtuyền, thể chất tương đối khoẻ mạnh và thích nghi khá tốt với điều kiện khíhậu nước ta và hiện nay đang được nuôi phổ biến trong các trang trại lớn đểsản xuất lợn bố mẹ từ đó tạo ra đàn lợn thịt thương phẩm có năng suất caochất lượng tốt
Lợn ông bà có tuổi thành thục về tính sớm,sinh trưởng nhanh, phát dụcmạnh, đẻ nhiều và thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi nước ta
Việc tạo ra hai dòng lợn ông bà đã đáp ứng nhu cầu về con giống củanước ta, góp phần đẩy mạnh phong trào chăn nuôi lợn ngoại ở các tỉnh trong
cả nước đặc biệt là các tỉnh miền Bắc Sự có mặt của dòng lợn ông bà C1050
và C1230 tại nước ta thích nghi tốt được sử dụng rộng rãi tạo ra các dòng lợn
bố mẹ làm con giống cho phối với các con đực ngoại tạo ra con lai dùng đểnuôi thương phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, đem lại hiệu quả kinh tếcao cho người chăn nuôi lợn
Trang 253 ĐỐI TƯỢNG – ĐỊA ĐIỂM – NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lợn nái ông bà dòng C1050 vàC1230, trong đó: 25 nái và 125 ổ đẻ cho mỗi dòng nuôi tại Trung tâm Giốnglợn Hải Dương và 50 nái và 250 ổ đẻ cho mỗi dòng nuôi tại Trại Tân Trường,huyện Cẩm Giàng - Hải Dương
Lợn nái ông bà C1050 và C1230 đều được nhập từ Trung tâm Giốnglợn hạt nhân Tam Điệp – Ninh Bình
Cả hai cơ sở đều sử dụng phương thức phối giống trực tiếp kết hợp vớithụ tinh nhân tạo
Lợn nái và lợn con được nuôi theo các giai đoạn phù hợp với đặc điểmsinh lý và được chăm sóc đúng theo quy trình kỹ thuật chăn nuôi và vệ sinhthú y
+ Thức ăn cho nái chờ phối: lượng thức ăn 2 kg/nái/ngày
Thành phần : năng lượng trao đổi 2900 ME (Kcal/kg thức ăn), proteinthô 13%, xơ thô 7%, Ca 1-1,2%, P 0,8%, muối ăn 0,4-0,8%, độ ẩm 14%
+ Thức ăn cho nái chửa kỳ 1: lượng thức ăn 2,2 kg/nái/ngày
Thành phần : năng lượng trao đổi 2900 ME (Kcal/kg thức ăn), proteinthô 15%, xơ thô 7%, Ca 1-1,2%, P 0,8%, muối ăn 0,4-0,8%, độ ẩm 14%
+ Thức ăn cho nái chửa kỳ 2: lượng thức ăn 2,5kg/nái/ngày
Thành phần : năng lượng trao đổi 3100 ME (Kcal/kg thức ăn), proteinthô 15%, xơ thô 7%, Ca 0,9-1%, P 0,7%, muối ăn 0,4-0,8%, độ ẩm 14%
+ Thức ăn cho nái nuôi con:
Thành phần : năng lượng trao đổi 3100 ME (Kcal/kg thức ăn), proteinthô 15%, xơ thô 7%, Ca 0,9-1%, P 0,7%, muối ăn 0,4-,08%, độ ẩm 14%
Trang 26Ngày lợn đẻ không cho lợn nái ăn, cho uống nước tự do
Ngày nuôi con thứ nhất: 1 kg/nái/ngày
Ngày nuôi con thứ hai: 2 kg/nái/ngày
Ngày nuôi con thứ ba, tư: 3 kg/nái/ngày
Ngày nuôi con thứ 5-7: 4 kg/nái/ngày
Từ ngày thứ 8 trở đi lượng thức ăn cho nái nuôi con được tính theocông thức : P (thức ăn) = 2 + (số con x 0,3)
Trong đó: thức ăn duy trì cho mẹ là 2 kg/nái/ngày, thức ăn cho lợn mẹtạo sữa nuôi con 0,3kg/1 lợn con
+ Thức ăn cho lợn con theo mẹ (thức ăn tập ăn): lượng thức ăn cho cảgiai đoạn 0,25 – 0,4 kg
Thành phần: năng lượng trao đổi 3400 ME (Kcal/kg thức ăn), proteinthô 20%, xơ thô 5%, Ca 0,7-1,4%, P 0,6%, muối ăn 0,4-,08%, độ ẩm 14%
+ Thức ăn cho lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi:
Thành phần: năng lượng trao đổi 3200 ME (Kcal/kg thức ăn), proteinthô 18%, xơ thô 5%, Ca 0,7-1,4%, P 0,5%, muối ăn 0,4-,08%, độ ẩm 14%
Tuần tuổi 4: 350 g/con/ngày
Tuần tuổi 5: 400 g/con/ngày
Tuần tuổi 6: 500 g/con/ngày
Tuần tuổi 7: 600 g/con/ngày
Tuần tuổi 8: 700 g/con/ngày
Tuần tuổi 9: 800 g/con/ngày
3.2 Địa điểm nghiên cứu
- Trung tâm Giống gia súc tỉnh Hải Dương
- Trang trại chăn nuôi lợn của gia đình ông Phạm Huy Lộc, xã TânTrường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
3.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2008 đến tháng 7/2009
Trang 273.4 Nội dung, phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Nội dung nghiên cứu
- Theo dõi các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái ngoại ông bà
- Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến tính trạng sinh sản của lợn náingoại ông bà
- Theo dõi tiêu tốn thức ăn của hai dòng nái C1050 và C1230 giai đoạn từkhi phối giống đến khi xuất bán lợn con (thời gian xuất bán là 60 ngày tuổi)
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi
3.4.2.1 Theo dõi các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái ngoại ông bà
Sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu trong sổ theo dõi giống, sổ theo dõisinh sản và sổ phối giống của Trung tâm Giống gia súc tỉnh Hải Dương vàtrang trại chăn nuôi lợn của gia đình ông Phạm Huy Lộc, xã Tân Trường,huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
Đếm số lượng lợn con qua các thời điểm : khi mới đẻ, khi để nuôi, khicai sữa Cân khối lượng lợn con qua các thời điểm : sơ sinh, cai sữa
Các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm:
- Ngày sinh của lợn nái
- Ngày phối giống cho lợn nái
- Ngày đẻ của lợn nái
- Ngày cai sữa
- Số con đẻ ra trong ổ bao gồm cả con sống và chết
- Số con còn sống trong ổ sau khi đẻ
- Số con để nuôi trong ổ
- Số con 21 ngày tuổi trong ổ
- Số con cai sữa trong ổ
- Khối lượng sơ sinh toàn ổ
- Khối lượng cai sữa toàn ổ
Trang 28Trên cơ sở đó tính toán tiếp các các chỉ tiêu:
- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
- Thời gian mang thai (ngày)
- Tỷ lệ sống sau 24 giờ (%)
Tỷ lệ sống sau 24 giờ = Số con còn sống sau 24 giờSố con đẻ ra 100
- Tỷ lệ nuôi sống t i cai s a (%) ới cai sữa (%) ữa (%)
Tỷ lệ nuôi sống đến CS (%) = Số con còn sống đến cai sữaSố con để nuôi 100
- Khối lượng trung bình lợn con khi sơ sinh (kg/con)
- Khối lượng trung bình lợn con khi cai sữa (kg/con)
- Số ngày cai sữa (ngày)
- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày)
3.4.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến tính trạng sinh sản của
lợn nái ngoại ông bà
Sử dụng mô hình thống kê phân tích các yếu tố ảnh hưởng như sau:
Yijkl = μ + Fi + Bj + Lk + Sl + εijkl
Trong đó :
- Yijklm: năng suất sinh sản của lợn nái
- μ: giá trị trung bình quần thể
- Fi: ảnh hưởng của trại giống (2 mức : là 2 trang trại xã Tân Trường,Trung tâm Giống gia súc tỉnh)
- Bj: ảnh hưởng của dòng lợn nái (2 mức : là 2 dòng C1050 và dòngC1230)
- Lk: ảnh hưởng của lứa đẻ (5 mức : 5 lứa 1,2,3,4,5)
- Sl: ảnh hưởng của mùa vụ (2 mức : là 2 mùa nóng ẩm và mùa lạnhkhô) : từ tháng 9 năm trước đến tháng 2 năm sau là mùa lạnh khô, từ tháng 3đến tháng 8 là mùa nóng ẩm
Trang 29- εijklm: sai số ngẫu nhiên
3.4.2.3 Tiêu tốn thức ăn của các dòng nái ông bà C1050 và C1230
Để theo dõi tiêu tốn thức ăn của hai dòng nái chúng tôi tiến hành theodõi về thức ăn của đàn nái từ khi phối giống đến khi xuất bán lợn con (thờigian xuất bán lợn con ở 60 ngày tuổi)
Thức ăn cho lợn nái chờ phối
Thức ăn cho lợn nái mang thai (mang thai kỳ I,II)
Thức ăn cho lợn nái nuôi con
Thức ăn cho lợn con giai đoạn tập ăn
Thức ăn cho lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
Cân khối lượng lợn con trong các ô thí nghiệm qua các thời điểm : sơsinh, cai sữa và 60 ngày tuổi
Từ đó xác định các chỉ tiêu :
- Tăng khối lượng lợn con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi (kg/ổ) :
Tăng khối lượng lợn con từ CS-60 ngày = Khối lượng lợn con 60 ngàytuổi - Khối lượng lợn con cai sữa (kg/ổ)
- Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa (kg) :
TTTA/kg lợn con cai sữa = Lượng TĂ sử dụng (lợn nái + lợn con đến cai sữa)Số kg lợn con cai sữa
- Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi (kg) : n 60 ng y tu i (kg) : ày tuổi (kg) : ổi (kg) :
TTTA/kg lợn con từ CS-60 ngày = Lượng TĂ sử dụng lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi(Số kg lợn con 60 ngày tuổi -Số kg lợn con CS)
- Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi (kg) :
TTTA/kg lợn con 60 ngày tuổi = Lượng TĂ sử dụng (lợn nái + lợn con đến 60 ngày tuổi)Số kg lợn con 60 ngày tuổi
Sơ đồ bố trí thí nghiệm :
Bảng 3.1 Bảng bố trí thí nghiệm sử dụng thức ăn của các loại lợn
Trang 30Trại, nái
Trung tâm Giống C1050 C1230 C1050 C1230
Lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi (con) 96 105 61 58
- SE : Sai số của trung bình bình phương nhỏ nhất
- Độ biến động (Cv%) : biểu thị mức độ phân tán tuyệt đối (mức độbiến động tuyệt đối) của các giá trị khác nhau của 1 tính trạng
3.4.4 Xử lý số liệu
Số liệu theo dõi được xử lý bằng chương trình Excel và SAS tại Bộ môn Ditruyền giống, Khoa Chăn nuôi – Nuôi trồng Thuỷ sản, Trường Đại học Nôngnghiệp Hà Nội
4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái ông bà
4.1.1 Năng suất sinh sản chung của hai dòng lợn nái ông bà C1050 và C1230
Kết quả theo dõi năng suất sinh sản của hai dòng lợn ông bà C1050 và
Trang 31C1230 nuôi tại Hải Dương được nêu trong bảng 4.1.
Năng suất sinh sản của hai dòng nái C1050 và C1230 được thể hiện quabảng 4.1
Trang 32Bảng 4.1 Năng suất sinh sản chung của hai dòng nái C1050 và C1230
Số con đẻ ra còn sống (con/ổ) 375 10,68a ± 0,05 9,53 378 11,92b ± 0,09 14,03
Số con 21 ngày tuổi (con/ổ) 375 9,54a ± 0,05 10,18 377 10,27b ± 0,06 10,71
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) 375 91,69 ± 0,38 8,11 377 92,12 ± 0,39 8,22Khối lượng sơ sinh/con (kg/con) 373 1,49a ± 0,01 6,56 378 1,38b ± 0,00 5,30Khối lượng sơ sinh/ổ (kg/ổ) 373 15,86a ± 0,10 12,58 377 16,34b ± 0,13 15,12Khối lượng cai sữa/con (kg/con) 364 7,17a ± 0,02 5,76 368 6,46b ± 0,03 9,27Khối lượng cai sữa/ổ (kg/ổ) 363 68,43a ± 0,43 11,87 367 66,35b ± 0,50 14,58
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một hàng không mang ký tự giống nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Trang 33Bảng 4.1 cho thấy, đa số các chỉ tiêu năng suất sinh sản của hai dòng làkhác nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
- Tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu: đối với lợn cái hậu bịviệc xác định tuổi phối giống lần đầu rất quan trọng trong việc lập kế hoạchđưa gia súc vào làm giống
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, dòng C1050 có tuổi phối giống lầnđầu và tuổi đẻ lứa đầu là 239,37 ngày và 356,19 ngày, còn dòng C1230 tươngứng là 225,86 ngày và 342,49 ngày Chênh lệch về tuổi đẻ phối giống lần đầu
là 13,51 ngày (P<0,05), về tuổi đẻ lứa đầu là 13,7 ngày(P<0,05) Hệ số biếnđộng (Cv%) 1,41 và 1,42% dòng C1050; 4,28 và 2,64% có thể thấy hệ sốbiến động thấp chứng tỏ tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu của cácdòng tương đối ổn định và đồng nhất giữa các cá thể của dòng
Kết quả nghiên cứu về tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái ngoại của NguyễnKhắc Tích (1995)[34] là 365,6 ngày So với kết quả nghiên cứu của PhùngThị Vân (2000) [40] trên 2 lợn lai F1(LY) và F1(YL) có tuổi phối giống lầnđầu là 259,0 và 243,8 ngày thì kết quả chúng tôi thu được là thấp hơn.Nguyễn Đắc Xông và cộng sự (1995) [42], cho biết tuổi phối giống lần đầutrên đàn lợn thuần L và Y tương ứng là 254,11 và 282,0 ngày
Nguyễn Ngọc Phục và cộng sự (2005) [25] cho biết dòng L95 (Meishantổng hợp) có tuổi động dục lần đầu 174,5 ngày, tuổi đẻ lứa đầu 340,19 ngày;sớm hơn dòng L11 (Yorkshire) (189,03 ngày) và L06 (Landrace) (185,12 ngày)
Dòng C1230 là dòng mang nguồn gen của dòng mẹ L95 (Meishan tổnghợp) nên có tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu sớm hơn dòng C1050mang nguồn gen của dòng mẹ L06 (Landrace) nên kết quả thu được trongnghiên cứu của chúng tôi là hoàn toàn phù hợp
- Số con đẻ ra và số con đẻ ra còn sống trong ổ: Dòng C1050 đạt tươngứng là 11,21 và 10,68 con thấp hơn dòng C1230 (12,6 và 11,92 con) tương
Trang 34ứng 1,39 con và 1,24 con (P<0,05) Các kết quả về số con qua các giai đoạncủa hai dòng được thể hiện rõ hơn qua biểu đồ 4.1
Số con đẻ ra sống (con)
Số con để nuôi (con)
Số con cai sữa (con)
C1050 C1230
Biều đồ 4.1 Năng suất sinh sản về số con
Nguyễn Văn Đồng và cộng sự (2005) [16] nghiên cứu trên đàn lợn ông
bà tại Trung tâm Giống lợn Thuỵ Phương cho biết số con còn sống sau 24h/ổvới dòng C1050 là 10,7 con và dòng C1230 là 11,53
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Kim Ngọc (2004) [21], số con đẻ
ra và số con còn sống/ổ dòng C1050 lần lượt là 11,49 và 10,74 con/ổ; dòngC1230 tương ứng là 12,28 và 11,8 con/ổ
So với các nêu trên, kết quả chúng tôi thu được là tương đương Nhưvậy, dòng C1230 luôn có số con sơ sinh cao hơn dòng C1050 Có thể giảithích là do dòng C1230 được tạo ra từ dòng lai giữa dòng tổng hợp (L95) vớidòng đực Landrace (L06), trong đó L95 có đặc điểm đẻ sai con hơn so với cácgiống khác Do đó, dòng C1230 được thừa hưởng đặc điểm đẻ sai con của mẹ
là dòng L95 hợp lý
- Số con để nuôi/ổ: Dòng C1050 đạt 10,43 con/ổ và dòng C1230 đạt
Trang 3511,2 con/ổ
Kết quả nghiên cứu về các dòng lợn ông bà tại trại giống lợn Tam Điệp(Nguyễn Văn Đồng và cộng sự, 20055) [16] cho biết: số con để nuôi của 2dòng tương ứng là 10,72 và 10,57 con/ổ Kết quả nghiên cứu về lợn lai
F1(LY) của Nguyễn Ngọc Phục và cộng sự (2007) [25] cho thấy số con đểnuôi đạt 10,35 con/ổ
So sánh với kết quả của các đã nghiên cứu, kết quả của chúng tôi cócao hơn Trong điều kiện chăn nuôi hiện nay, để đạt hiệu quả kinh tế, ngườichăn nuôi thực hiện nghiêm ngặt quy trình chăm sóc nuôi dưỡng nhằm giảm
tỷ lệ hao hụt cho đàn lợn con đến mức thấp nhất Điều này chứng tỏ, hai cơ sởchăn nuôi lợn ông bà ở Hải Dương đã áp dụng chặt chẽ quy trình nuôi dưỡng,chăm sóc lợn mẹ, lợn con nên đã đạt được kết quả khá tốt
- Số con cai sữa/ổ :
Kết quả thu được trong nghiên cứu này là 9,54 con đối với dòng C1050
và thấp hơn 0,73 con so với dòng C1230 đạt 10,27 con (P<0,05) Hệ số biếnđộng (Cv%) của dòng C1050 là 10,18% và dòng C1230 là 10,77% Hệ sốbiến động thấp, có thể cho thấy số lượng con cai sữa trong từng đàn nái là kháđồng đều, sự chênh lệch giữa các đàn nhỏ
Theo Nguyễn Văn Đồng và cộng sự (2005) [16], số con cai sữa khinuôi tại Tam Điệp dòng C1050 đạt 9,93 con và dòng C1230 đạt 9,97 con; cònnuôi tại Thuỵ Phương dòng C1050 là 9,19 con và dòng C1230 là 9,17 con.Như vậy, kết quả theo dõi của chúng tôi cũng cao hơn
- Khối lượng sơ sinh trung bình của lợn con và khối lượng sơ sinh toànổ: đây là chỉ tiêu rất quan trọng trong quá trình phát triển của lợn ở các giaiđoạn tiếp theo đặc biệt là giai đoạn hậu bị sau này
Bảng 4.2 và biểu đồ 4.2 cho thấy rõ sự chênh lệch về khối lượng lợn congiữa hai dòng
Trang 36Biểu đồ 4.2 Năng suất sinh sản về khối lượng
Kết quả cho thấy khối lượng sơ sinh trung bình là 1,49kg/con và15,86kg/ổ đối với dòng C1050 và hệ số biến động 6.56%, tương ứng là1,38kg/con và 16,34con/ổ đối với dòng C1230 và hệ số biến động 5,3%;chênh lệch giữa hai dòng C1050 và C1230 0,11 kg/con (P<0,05) Tuy nhiêntrong từng dòng khối lượng từng con chênh lệch nhau ít, khá đồng đều trongđàn Như vậy, kỹ thuật chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai là kháquan trọng, vì sẽ nâng cao được tỷ lệ đồng đều ở giai đoạn cai sữa và nângcao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phục và cộng sự (2007) [25]cho biết, khối lượng sơ sinh của con lai F1(LY) 1,5kg/con Đặng Vũ Bình vàcộng sự (2005) [5], nghiên cứu về con lai (LY) x D thu được khối lượng sơsinh là 1,39kg/con So với kết quả của các nêu trên, kết quả nghiên cứu củachúng tôi là phù hợp
- Khối lượng cai sữa/con và khối lượng cai sữa/ổ: khối lượng cai sữa làchỉ tiêu hết sức quan trọng để đánh giá khả năng sinh sản và hiệu quả kinh tế
Trang 37của chăn nuôi lợn nái Khối lượng cai sữa càng cao thì hiệu quả kinh tế trongchăn nuôi lợn nái càng lớn và khả năng tăng trọng khi nuôi thịt càng cao Chỉtiêu này có hệ số di truyền là 0,20 (Tom Long, 1995) [64]
Dòng C1050 đạt 7,17kg/con và 68,43kg/ổ còn dòng C1230 là6,46kg/con và 66,35kg/ổ; dòng C1050 cao hơn dòng C1230 là 0,71 kg/con(P<0,05) Sang giai đoạn này khối lượng chênh lệch có rõ ràng hơn; dòngC1050 mang máu của dòng bố L06, có năng suất sinh sản theo hướng tăngtrọng nhanh nên khi cai sữa dòng C1050 tăng trọng và có khối lượng tăngnhanh hơn dòng C1230 là phù hợp
Theo Nguyễn Văn Đồng và cộng sự (20050 [16], khối lượng cai sữadòng C1050 là 6,37kg/con; 57,94kg/ổ và dòng C1230 là 5,92kg/con và54,34kg/ổ Lê Thị Kim Ngọc (2004) [21], khi nghiên cứu về dòng lợn ông bàtại Trung tâm Giống lợn Thụy Phương cho biết, khối lượng cai sữa/ổ của dòngC1050 là 56,35kg/ổ và 55,18kg/ổ đối với dòng C1230; khối lượng cai sữa/concủa hai dong này tương ứng là 5,8 và 5,6kg/con Như vậy, so với kết quảnghiên cứu của các tác giả, kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi có cao hơn
- Tỷ lệ sống đến 24h và tỷ lệ nuôi sống lợn con đến khi cai sữa: có thểnói tỷ lệ nuôi sống là chỉ tiêu để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái trên
cơ sở xác định số con cai sữa/nái/năm nên có ý nghĩa quan trọng trong hiệuquả kinh tế của ngành chăn nuôi lợn
Kết quả chúng tôi thu được đối với dòng C1050 tương ứng là 95,72 và91,69%; còn dòng C1230 là 94,88 và 92,12% Chỉ tiêu này gần tương nhaugiữa hai dòng, không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Đặng Vũ Bình và cộng sự (2005) [5] cho biết tỷ lệ nuôi sống ở côngthức lai D x (LY) là 94,81% Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phục vàcộng sự (2005) [24] cho thấy, tỷ lệ nuôi sống của dòng cụ kỵ L06, L11 vàL95 tương ứng là 96,58%, 95,05% và 92,90% Phùng Thị Vân (2000) [40]cho biết, tỷ lệ nuôi sống của lợn L và Y lần lượt 90,93% và 91,94% Theo
Trang 38Đinh Văn Chỉnh (2001) [10], thông báo thì tỷ lệ nuôi sống ở L và Y là(92,97% và 93,77%)
So với những kết quả này, kết quả nghiên cứu của chúng tôi có thấphơn, điều này chứng tỏ tỷ lệ sống và nuôi sống của lợn con không những phụthuộc vào khả năng nuôi con khéo của lợn mẹ còn phụ thuộc vào sự chăm sócquản lý tốt của cơ sở chăn nuôi
4.1.2 Năng suất sinh sản của lợn nái ông bà nuôi trang trại qua các lứa đẻ
Việc nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn qua các lứa đẻ là rấtquan trọng giúp người chăn nuôi thấy được năng suất của lợn biến động quacác lứa đẻ, từ đó nắm được mức độ sinh sản tốt xấu của từng nái để có biệnpháp chọn lọc hay loại thải hợp lý và kịp thời
4.1.2.1Năng suất sinh sản của lợn nái ông bà C1050 và C1230 qua lứa đẻ
Theo Nguyễn Văn Đồng và cộng sự (2005) [16], tuổi động dục lần đầu
là 173,03 ngày đối với dòng C1050 và 171,87 ngày đối với dòng C1230 Kếtquả của tác giả Phùng Thị Vân (2000) [40], tuổi phối giống lần đầu trên hailợn lai F1(LY) và F1(YL) lần lượt là 239,0 và 243,8 ngày Như vậy có thể thấydòng C1230 động dục sớm hơn dòng C1050 một chút và tương đương vớimột số giống lợn ngoại khác
Trang 39Bảng 4.2 Năng suất sinh sản của hai dòng ông bà ở lứa đẻ thứ nhất
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một hàng không mang ký tự giống nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
- Số con đẻ ra :
Số con đẻ ra và số con còn sống là chỉ tiêu có hệ số di truyền cao h2 = 0,1(Erich và cộng sự, 2000) và có hệ số tương quan cao so với lứa đẻ sau rg = 0,87Serenius và cộng sự(2000)[63]
Qua bảng 4.2, số con đẻ ra và số con sống của dòng C1050 lần lượt là(10,25 và 10,08 con), dòng C1230 là 11,68 và 11,07 con Tổng số con đẻ ra
và số con sống của dòng C1230 đều cao hơn dòng C1050 là 1,43 và 0,99 con/
ổ, sự chênh lệch này mang ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Kết quả này của chúng tôi có cao hơn so với nghiên cứu của của một sốtác giả trong nước, cụ thể Phan Xuân Hảo (2001) [18], Nguyễn Thị XuânDung (1998) [14], Tạ Thị Bích Duyên (2003) [15] thông báo về năng suấtsinh sản của hai giống L và Y ở lứa 1 có số con sơ sinh 8,89 – 10,05 và 8,76 –9,6 con/ổ
Lê Thị Kim Ngọc (2004) [21] cũng đưa ra kết quả là số con đẻ ra ởdòng C1050 và C1230 tương ứng 10,86 và 11,02 con/ổ Tổng số con sơ sinh
Trang 40và số con còn sống của cả hai dòng C1050 và C1230 đều cao hơn so với cácnghiên cứu của các tác trong nước, điều đó chứng tỏ số con sơ sinh và số con
sơ sinh sống của hai dòng ông bà cao hơn so với các giống ngoại thuần vàngoại lai (ngoại x ngoại) nuôi tại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu về số con qua các giai đoạn còn được thể hiện rõhơn qua biểu đồ 4.3
Biểu đồ 4.3 Năng suất sinh sản về số con ở lứa đẻ thứ nhất
- Số con cai sữa :
Đến giai đoạn cai sữa, sự chênh lệch giữa hai dòng vẫn sai khác có ỹnghĩa thống kê (P<0,05), dòng C1230 là 9,75 con/ổ cao hơn dòng C1050 là0,74 con/ổ Nguyễn Thị Xuân Dung (1998) [14], Tạ Thị Bích Duyên (2003)[15] nghiên cứu trên 2 giống thuần L và Y đạt kết quả tương ứng là 7,79 – 8,0
và 7,58 – 8,32 Cũng theo Nguyễn Văn Đồng và cộng sự (2005) [16], khinghiên cứu về năng suất sinh sản của hai dòng ông bà C1050 và C1230 ởTrung tâm Giống lợn Thuỵ Phương cho thấy số con cai sữa của dòng C1230