1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm cho giáo viên dạy văn

120 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả dẫn dắt vàthuyết phục người đọc một cách bất ngờ bằng cách đốt cháy lên trong lòngngười đọc những tia lửa, ngọn lửa tình cảm, những nguồn rung động sâu lắng.Bản chất của văn bản

Trang 1

NÂNG CAO KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM CHO GIÁO VIÊN

TRONG DẠY HỌC VĂN Ở TRƯỜNG THCS

Thạc sĩ: Lê Minh Thu

PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ĐỌC DIỄN CẢM

1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN VĂN HỌC

1.1.1 Quan niệm về văn bản văn học và văn bản văn học trong nhà trường.

1.1.1.1 Nhận diện văn bản văn học.

* Phân biệt văn bản văn học và tác phẩm văn học:

Hiện nay quan niệm về văn bản có nhiều ý kiến khác nhau tuỳ theođiểm nhìn của từng nhà nghiên cứu thuộc các ngành nghiên cứu khác nhau.Quan điểm nào cũng có hạt nhân hợp lí Quan niệm về văn bản của lí thuyếttiếp nhận, hiện tượng học là quan niệm về văn bản hiện đại nhất, đúng nhấtvới thực tế và với văn bản văn học:

Văn bản là một cấu trúc mời gọi, có khoảng trống về ý nghĩa hoặcnhững điểm không xác định Khoảng trống và điểm không xác định dành chongười đọc cụ thể hoá và đồng sáng tạo Văn bản là một cấu trúc mở, tự nóchưa đầy đủ, chờ sự lấp đầy của người đọc để tự thực hiện mình

Quan niệm về văn bản văn học (VBVH): là một tổ hợp có trật tự, nhiềutầng bậc, dùng ngôn ngữ để truyền đạt tư tưởng, tình cảm, có giá trị thẩm mĩ.Văn bản văn học có tính lập thể, không đơn giản là tính hình tuyến, nó có

nhiều tầng bậc Tầng ngôn từ với ngữ âm, nghĩa từ, nghĩa câu đoạn, chương, toàn thể văn bản Tầng thế giới hình tượng với các chi tiết, sự kiện, nhân vật, hình ảnh Tầng ý nghĩa với đề tài, chủ đề, tư tưởng Văn bản có mặt thấy được

(hữu hình) và mặt không thấy được (vô hình)

Văn bản là sản phẩm sáng tạo của tự thân nhà văn, chưa tính đến sự hànhchức xã hội thẩm mĩ, là đối tượng của sự phân tích khép kín về mặt giải thíchhọc

Văn bản nảy sinh trong không gian quan hệ giữa người đọc và con chữ,

nó là một nơi sản sinh Với tư cách là hoạt động sản sinh, nó sản sinh rakhông phải là sản phẩm, mà là nơi có sự gặp gỡ giữa tác giả và người đọc,người diễn xuất, nơi tiến hành các trò chơi chữ Do đó văn bản không phải là

sự kết thúc sinh sản, mà là quá trình sinh sản Tư liệu sinh sản của nó là ngônngữ, là thứ ngôn ngữ dùng để giao tiếp, tái hiện, biểu đạt Văn bản giải cấutrúc ngôn ngữ ấy và tạo thành ngôn ngữ khác, cứ thế tuần hoàn không dứt Tác phẩm văn học là sản phẩm sinh nghĩa và tạo nghĩa của văn bản, là sựthống nhất có tính quá trình giữa văn bản nghệ thuật với khách thể thẩm mĩ

Trang 2

hình thành trong quá trình tiếp nhận của người đọc Đó là một thế giới nghệthuật sống động mang giá trị tư tưởng thẩm mĩ do người đọc khám phá ra.

Sự phân biệt văn bản và tác phẩm cho thấy sự khác biệt giữa sáng tạocủa nhà văn và sức đọc, sức cảm thụ, sáng tạo của người đọc Đồng thời sựphân biệt đó cho thấy đặc trưng văn học chủ yếu thuộc về văn bản văn học vì

nó mở ra một thế giới mới, các điểm nhìn nhân vất đều được mã hoá trongvăn bản Từ một văn bản mà các người đọc với năng lực, kinh nghiệm, thịhiếu khác nhau có thể tạo thành những tác phẩm với các điểm nhấn khácnhau Cái phức hợp tư tưởng, thị hiếu xã hội, hay cấu trúc tri nhận của ngườiđọc đã quy định cách lựa chọn, cách cấu tạo lại văn bản của họ Chính vì vậy,việc đào tạo năng lực đọc có ý nghĩa rất quan trọng Tuy nhiên, dù vai tròngười đọc có tích cực như thế nào thì văn bản văn học vẫn là thực thể tồn tạithứ nhất của tác phẩm

* Nhận diện văn bản văn học:

Xét về mục đích, ý đồ sáng tác thì VBVH bao giờ cũng thể hiện ý định củangười cầm bút Nhà văn muốn bày tỏ một vấn đề, một quan niệm, một thái độ

về cuộc sống đến những bạn đọc nhất định cho nên bất cứ một văn bản vănhọc nào cũng là một lời tri âm, một tấc lòng của tác giả gửi người cùng thanhkhí

Ý định đó không phải là một lời tuyên bố khô khan, một khái niệm trừutượng Ý định đó bao giờ cũng được thể hiện qua một nội dung và hình thứcnghệ thuật nhất định Nội dung đó bao giờ cũng được cấu tạo nên bởi hai yếu

tố hợp thành: hiện thực khách quan và chủ quan của tác giả (phản ánh và biểuhiện không phải bao giờ cũng đồng nhất)

Tuỳ tài năng sáng tạo của nhà văn và tuỳ từng loại thể mà phương thứcbiểu hiện nội dung hình thức có những điểm khác nhau Nhưng nói chung là

tự sự hay trữ tình, văn bản văn học nào cũng lấy ngôn ngữ làm vật liệu biểuhiện Ngôn ngữ cấu tạo thành hình tượng tính cách Ngôn ngữ trong thơ, trongtruyện, trong kịch lại có những đặc điểm riêng

Sức mạnh của văn bản văn học chính là ở mặt tình cảm Văn bản văn họcđánh thức, khêu gợi tâm hồn rung động của người đọc Tác giả dẫn dắt vàthuyết phục người đọc một cách bất ngờ bằng cách đốt cháy lên trong lòngngười đọc những tia lửa, ngọn lửa tình cảm, những nguồn rung động sâu lắng.Bản chất của văn bản văn học là: Sự sáng tạo mới bức tranh hiện thực; sựbảo toàn bản chất độc đáo người trong cái tôi nghệ sĩ; tính chất toàn năng của

ngôn ngữ nghệ thuật - “Dấu hiệu quan trọng nhất của của tính nghệ thuật trong văn học là sự hoàn thiện của hệ thống ngôn từ của nó” – Pospelow,

Dẫn luận nghiên cứu văn học Từ đó cho thấy mối liên hệ giữa bạn đọc vớivăn bản văn học là một mối giao tế xã hội, một mối liên hệ có lựa chọn đầyhứng thú với sự vận động của của những năng lực tâm lí đặc biệt Trong đó,

vai trò của tưởng tượng quan trong đặc biệt: “Người kể chuyện luôn luôn phải dùng đến trí tưởng tượng để thấy những hình ảnh của sự vật và khác nào vẽ lại những hình ảnh ấy bằng tiếng nói do đó mà truyền đạt vào trí tưởng tượng

Trang 3

của người nghe những hình ảnh như dang sống thực, có sức cuốn hút và làm lay động cả trí tuệ và tình cảm của người nghe” (Nguyễn Đình Thi)

Sức mạnh của văn bản văn học chính là mối liên hệ giữa VBVH và bạnđọc Không có bạn đọc sẽ không có văn bản văn học Mối liên hệ ấy đượcbiểu diễn như sau:

Hiện thực khách quan là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà văn, nhà thơ.Thông qua lăng kính chủ quan của mình, những nghệ sĩ sáng tạo nên văn bảnvăn học của mình, gửi gắm vào văn bản tư tưởng, tình cảm, thái độ đối vớicuộc sống, hiện thực thông qua các hình tượng văn học Văn bản văn học đếnvới bạn đọc, tác động vào bạn đọc một cách toàn diện: nhận thức, giáo dục,thẩm mĩ Các văn bản văn học chân chính sẽ tác động toàn diện tới bạn đọc,làm bạn đọc phát triển Từ nhận thức về cuộc sống do văn bản khêu gợi lên,bạn đọc xác định được thái độ, tiến tới có hành động thiết thực góp phần cải

tạo cuộc sống làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn lên Như vậy Hiện thực khách quan I đã thay đổi thành Hiện thực khách quan II Cứ như vậy, mối liên hệ

với bạn đọc đã làm cho văn bản văn học thực sự hữu ích, góp phần cải tạocuộc sống phát triển theo chiều xoáy trôn ốc

Đặt văn bản trong mối quan hệ với bạn đọc không những phù hợp với ýđịnh sáng tác của nhà văn mà còn thể hiện sự nhận thức đúng đắn về conđường vận động khách quan của văn bản văn học đến với cuộc sống Đíchsáng tác là cuộc đời VBVH đến với cuộc đời thông qua bạn đọc VBVH cóhai sinh mệnh: bản thân VBVH do nhà văn sáng tạo nên với hình tượng vănhọc luôn luôn tồn tại một cách khách quan; VBVH đến với cuộc đời thôngqua bạn đọc bằng con đường tái tạo trong lòng độc giả Nói cách khác, tôntrọng bản thân VBVH như một tồn tại khách quan của hình tượng do nhà vănsáng tạo nên đồng thời cần nhấn mạnh mối liên hệ sinh mệnh của VBVH đối

Hiện thực

khách quan I

Văn bản văn học

(lăng kính chủ quan của nhà văn)

Bạn đọc

Hiện thực

khách quan II

Văn bản văn học

(lăng kính chủ quan của nhà văn)

Trang 4

với cuộc đời Một cách quan niệm như vậy giúp ta hiểu VBVH được đúngđắn vừa thể hiện được một quan niệm thực tiễn cần có về văn học.

Có nhiều quan niệm khác nhau về văn học và tác phẩm văn học tuỳtheo góc nhìn của các nhà nghiên cứu dưới ánh sáng của những lí thuyết khácnhau: lí thuyết cấu trúc, thông tin, văn bản học Có quan niệm tuyệt đối hoá

về vai trò của cấu trúc ngôn ngữ trong tác phẩm, có quan niệm thiên về thôngđiệp xã hội của tác phẩm, có quan niệm cho rằng tác phẩm chỉ là một kí hiệuđơn nghĩa hay đa nghĩa,… Mỗi một quan niệm đều có hạt nhân hợp lí là nhấnmạnh một chức năng hay một yếu tố nào đó của tác phẩm văn học tuỳ theogóc nhìn của nhà nghiên cứu thuộc ngành lí thuyết cụ thể Chúng ta có thểxem xét, chọn lọc, tiếp nhận những gì là hợp lí trong quan niệm, nhất là trongphương pháp của các lí thuyết nói trên để bổ sung cho quan niệm về văn học

và văn bản văn học Tiếp nhận nhưng phải tuân thủ nguyên tắc là: không thể

vì nhấn mạnh đến một chức năng hay yếu tố nào đó của văn học và văn bảnvăn học mà coi nhẹ nội dung và ý nghĩa thẩm mĩ (thông tin nghệ thuật) củabản thân tác phẩm

Nhìn chung, có thể hiểu khái quát về văn bản văn học là:

- Mỗi văn bản văn học bao giờ cũng là những lời nhắn gửi trực tiếphoặc gián tiếp, kín đáo hoặc công khai của nhà văn về cuộc đời và cuộc sống

- Bằng sự sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật theo phong cách riêng củamình, nhà văn tạo nên một hình thức độc đáo của VBVH chứa đựng một nộidung nhất định bao gồm hai yếu tố khách quan phản ánh và chủ quan biểuhiện chuyển hoá thâm nhập vào nhau nhằm gây được một tác động đặc biệtđến tâm hồn và tình cảm của bạn đọc, đối tượng tạo nên mối liên hệ sinhmệnh của VBVH đối với đời sống

Từ đó, văn bản văn học mang những đặc trưng cơ bản sau:

- Văn bản văn học là một chỉnh thể toàn vẹn sinh động: VBVH có sự

thống nhất đặc biệt giữa nội dung và hình thức văn bản, trong lôgic của ý thứcnghệ thuật và việc vận dụng các phương tiện nghệ thuật cụ thể tiêu biểu, biểuhiện trong mở đầu và kết thúc văn bản, biểu hiện trong tưởng tượng thi cađược phát triển nhất quán với hình tượng văn học

Nội dung của văn bản văn học gồm các thành tố: đề tài, chủ đề, cảm hứng,

tư tưởng

Hình thức nghệ thuật của văn bản văn học gồm các thành tố: ngôn từ, kếtcấu, thể loại, phong cách, nhân vật, tính cách, các sự kiện, tình cảm yêu ghét,cảm hứng thẩm mĩ

- Văn bản mang đặc điểm nhiều nghĩa, đặc điểm mở Nguyên nhân dẫn

đến tính nhiều nghĩa của văn bản:

Tính biểu cảm của ngôn ngữ và quá trình tạo nghĩa của ngôn ngữ nghệthuật bằng hình thức liên kết trong văn bản

Do sức khái quát cao của hình tượng văn học, do khả năng tìm thấynhững nét tương đồng của nhiều kiểu người trong hình tượng văn học

Trang 5

Do sự di chuyển những hiện tượng cụ thể và hình thức sinh động củacuộc sống hiện thực vào ý đồ sáng tạo và cấu trúc nghệ thuật mới.

Do quá trình giải mã những kí hiệu thẩm mĩ tác phẩm, có sự bổ sung,

mở rộng của người tiếp nhận vào hình tượng

- Văn bản văn học thường có tính hư cấu Trong văn bản văn học, tác

giả thực luôn lánh đi, nhường chỗ cho chủ thể lời nói (người kể chuyện, nhânvât, chủ thể trữ tình…) do tác giả sáng tạo ra Tính hư cấu khẳng định quyềnsáng tạo của nhà văn và tính độc lập khép kín tương đối của văn bản văn học

- Văn bản văn học có bản chất kí hiệu: Ngôn ngữ là phương thức tồn

tại của con người trong thế giới, con người nhìn nhận, tiếp xúc thế giới quangôn ngữ Ngôn ngữ lại thể hiện cái giới hạn hiểu biết của con người về thếgiới Con người ngoài ngôn ngữ toàn dân còn sáng tạo ra ngôn ngữ văn học(ngôn ngữ hình tượng) Văn bản văn học có khả năng giải cấu trúc ngôn ngữthông thường để tái kí hiệu hoá, biểu tượng hoá các ấn tượng, kinh nghiệmsống của mình Nó làm được như thế là do tính hư cấu đã cắt đứt mối quan hệcủa văn bản với ngữ cảnh cụ thể, văn bản tự mình trở thành ngữ cảnh Ví dụ

bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, “em” trong bài chỉ ai? Không thể liên hệ ai ngoài văn bản để hiểu Dựa vào nhan đề thì “em” là chiếc bánh

tự xưng Dựa vào lời tự bạch trong bài thì “em” là lời người con gái Dựa vào tính biểu tượng hiểu ngầm thì “em” là bộ phận trên ngực người phụ nữ Đó là

văn bản đa nghĩa Trong văn học, mọi yếu tố đều có khả năng tài kí hiệu hoá

để trở thành hình tượng văn học

Bản chất kí hiệu có cả trong hình tượng văn học Hình tượng cũng làmột hệ thống kí hiệu, trong đó cỏ cây, hoa lá, đồ vật gió mây, nhân vật…đều

có thể là kí hiệu mang nội hàm đời sống, tư tưởng và văn hoá Ví dụ chân

dung nhân vật Kiều cũng được vẽ bằng các kí hiệu biểu tượng: “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” Những thu thuỷ,

hoa, liễu… là những biểu tượng sẵn có trong truyền thống văn chương, nhàthơ chỉ tổ hợp chúng lại theo cảm nhận của mình

Kí hiệu hình tượng văn học là một hiện tượng đặc thù Nó vừa có tính

cụ thể, gợi cảm, sinh động mà nó cũng phải có cấu trúc Chẳng hạn, sự việcthì có mở đầu - kết thúc, nhân vật thì có sinh - tử, lưu lạc – gặp gỡ,…có mốitương quan giữa chủ thể kể chuyện với nhân vật, nhân vật với môi trường, cótương quan không gian, thời gian,… Các quan hệ đó làm thành cấu trúc tạonghĩa của hình tượng

Xét tác phẩm văn học ở phương diện kí hiệu học, với tư cách là mộtsáng tạo có tính kí hiệu, thì tác phẩm có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểuđạt, văn bản và ý nghĩa Nội dung tác phẩm văn học được mã hoá vào cácphương tiện biểu đạt là ngôn từ và hình tượng văn học, làm thành ý nghĩa củachúng Người đọc giải mã ngôn từ và hình tượng dể nắm bắt ý nghĩa của tácphẩm Do đó, nội dung của tác phẩm được thực hiện và mở ra qua ý nghĩa màngười đọc phát hiện, nội dung tác phẩm là tổng hoà mọi ý nghĩa của tác phẩm

Trang 6

do hoạt động đọc mở ra Nội dung tác phẩm và ý nghĩa văn bản thống nhấttrong đời sống lịch sử của tác phẩm văn học.

- Văn bản văn học được lựa chọn, trau chuốt, được tổ chức đặc biệt với nhiều phương thức tu từ Văn bản văn học luôn luôn sử dụng ngôn từ “lạ hoá”, tức là gọi sự vật đã quen bằng những cách gọi khác lạ, do nhà văn tạo ra

nhằm kích thích, gây chấn động cho người đọc, đem đến cho họ một cáchnhìn mới, cảm giác mới, ý nghĩa mới, không bằng phẳng, sáo mòn như lời nóithông thường

- Văn bản được hiểu ở tính độc lập, tách rời tác giả, là đối tượng thưởng thức, phê bình của bạn đọc, là một hoạt động sản sinh ý nghĩa, qua

đó người đọc có thể khám phá ý nghĩa theo cách riêng của mình Và đó là

phương thức tồn tại của tác phẩm văn học

1.1.1.2 Nhận diện văn bản văn học trong nhà trường.

Văn bản văn học trong nhà trường là những văn bản văn học được chọnlọc, tuyển lựa từ tinh hoa văn hoá văn học của dân tộc và nhân loại theonhững tiêu chí phù hợp với nhà trường, phù hợp cấu trúc chương trình giảngdạy của bộ môn Vì thời lượng học tập trên lớp và mục tiêu giáo dục, mộtVBVH hay và tốt nhiều khi không thể và không có điều kiện giữ nguyên vẹnkhi đi vào sách giáo khoa

Như trên đã nói đến mối quan hệ giữa văn bản văn học và bạn đọc haynói cách khác, đó chính là vòng đời của văn bản văn học Đó là một vòng

khép kín kết dệt nhiều quá trình và nhiều quan hệ: cuộc sống - nhà văn - văn bản - bạn đọc - cuộc sống Hành trình từ cuộc sống trở về với cuộc sống,

VBVH có những quan hệ hữu cơ, tương hỗ với bản thân cuộc sống, với nhàvăn, với bạn đọc Qúa trình trên có sự tham gia của các nhân tố, trong đó nhân

tố bạn đọc hết sức quan trọng Nhân tố bạn đọc thay đổi thì tác động của bản

thân VBVH cũng có sự thay đổi: “Tác phẩm nghệ thuật và mọi sản phẩm khác cũng thế - đều tạo ra một thứ công chúng sính nghệ thuật và có khả năng thưởng thức cái đẹp Như vậy là sản xuất không phải chỉ cho một đối tượng chủ thể mà còn sản sinh cho một chủ thể đối tượng” (Mác) VBVH đến

với bạn đọc vốn không đồng nhất về nhiều điều kiện cảm thụ, nên tác độngcủa VBVH cũng không giống nhau Người đọc có những điều kiện chủ quan,

có sự lựa chọn nhất định đối vớiVBVH Mối quan hệ giữa văn bản văn họcvới bạn đọc không phải là mối quan hệ ổn định, nhất thành bất biến

Văn bản văn học trong nhà trường có một đối tượng bạn đọc đặc biệt

đó là học sinh ở độ tuổi phổ thông, khi tiếp nhận tác phẩm có sự định hướngtích cực của người giáo viên Trong nhà trường, sức mạnh của văn bản vănhọc đối với học sinh được nhân lên bởi sự tài ba của người giáo viên, đồngthời với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, học sinh tự nhận thức văn bản trên cơ

sở vốn kinh ngiệm của mình

Văn bản văn học trong nhà trường không chỉ là một phương tiện nhậnthức mà còn là đối tượng thẩm mĩ, đồng thời là một cơ sở để hình thànhnhững hiểu biết về lịch sử văn học lại vừa là công cụ giáo dục đặc biệt giúp

Trang 7

học sinh tự phát triển một cách toàn điện cân đối Cách hiểu như vậy về vănbản văn học trong nhà trường không làm mờ nhạt bản chất, chức năng đặc thùcủa hình tượng văn học, vừa không loại trừ tính nhà trường, tính sư phạm củaVBVH với tư cách là một công cụ giáo dục đặc biệt.

Những hiểu biết về mục đích, ý định sáng tác, về cơ cấu nội dung, vềsức mạnh riêng của VBVH cùng mối liên hệ giữa nhà văn với bạn đọc, lànhững cơ sở quan trọng để xác định đúng phương hướng chủ yếu và cơ bảncho việc khai thác và giảng dạy một văn bản văn học Dạy một bài văn theo ýnghĩa này bao giờ cũng phải là công việc làm vạng dội lên trong tâm trí ngườiđọc học sinh tiếng nói tâm tình tha thiết của nhà văn Sức thuyết phục củatiếng nói tình cảm, của những rung động sâu xa trong lòng người nghệ sĩ đếntận đáy lòng người học sinh Cơ sở để giáo dục, giảng dạy là nội dung cấu tạocủaVBVH

Văn bản văn học có hai bình diện lớn là cái biểu hiện và cái phản ánh.Cái biểu hiện bao giờ cũng lớn hơn cái phản ánh, hình tượng lớn hơn tưtưởng Người giáo viên thông hiểu bản chất của cấu tạo VBVH sẽ xác địnhđược nội dung khai thác, phân tích và giảng dạy Điều nhà văn muốn nói, cầnnói là cái quan trọng nhất cần truyền đạt đến cho HS Nhiệm vụ và công việccủa người GV văn học gần gũi nhưng không đồng nhất với nhiệm vụ và côngviệc của nhà phê bình, nghiên cứu văn học Người GV cần khai thác tác phẩmđáp ứng tthế giới tinh thần của HS để giờ dạy ngày càng có hiệu quả hơn

Những hiểu biết về mục đích, ý định sáng tác về cơ cấu nội dung, vềsức mạnh riêng của tác phẩm cùng mối liên hệ giữa nhà văn và bạn đọc, lànhững cơ sở quan trọng để xác định đúng phương hướng chủ yếu và cơ bảncho việc khai thác và giảng dạy một tác phẩm văn chương Dạy một bài văntheo ý nghĩa trên bao giờ cũng phải làm công việc vang dội lên trong tâm tríngười HS tiếng nói tâm tình tha thiết của nhà văn Sức thuyết phục của tiếngnói tình cảm, của những rung động sâu xa trong lòng người nghệ sĩ đến tậnđáy lòng người HS Cơ sở để giáo dục, giảng dạy là nội dung cấu tạo của tácphẩm Cái biểu hiện bao giờ cũng lớn hơn cái phản ánh Thường khi hìnhtượng lớn hơn tư tưởng

Trong nhà trường, sức mạnh của tác phẩm văn học đối với HS luônluôn được nhân lên bởi tài ba của người GV Tác phẩm văn chương trong nhàtrường không chỉ là một phương tiện nhận thức mà còn là một đối tượng thẩm

mĩ, đồng thời còn là một cơ sở để hình thành những hiểu biết về lịch sử vănhọc, là một công cụ giáo dục đặc biệt giúp HS tự phát triển một cách hiểutoàn diện và cân đối

1.1.2 Hoạt động giao tiếp và ứng dụng vào đọc hiểu văn bản văn học

* Dạy đọc hiểu là dạy một hoạt động.

Đọc là một hoạt động tâm lí nhằm giải mã văn bản Một là để chuyển văn bản kí hiệu văn tự thành văn bản ngôn ngữ (dạng thành tiếng hoặc dạng biểu tượng âm thanh - đọc thầm) tương ứng với văn bản chữ viết Hai là giải

mã văn bản để tìm ý nghĩa.

Trang 8

Có hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm

Đọc thành tiếng chính là hoạt động chuyển văn bản ngôn ngữ viết thànhvăn bản ngôn ngữ âm thanh Hình thức đọc thành tiếng được sử dụng rộng rãitrong nhà trường và trong cuộc sống

Hình thức đọc thầm là đọc không thành tiếng, người đọc dùng mắt đểnhận biết văn bản và vận dụng năng lực tư duy để thông hiểu nội dung thôngtin của văn bản Đọc thầm chỉ được thực hiện khi người đọc đã biết đọc thànhtiếng một cách thông thạo

Cơ chế của việc viết, đọc như sau:

Trong giao tiếp bằng ngôn từ người ta nảy sinh ra ý, rồi dùng ngôn ngữ

để mã hoá ý đó (gọi là mã hoá 1) thành từ, câu và phát triển thành biểu tượnglời nói (diễn ra trong đầu), rồi sau đó phát âm thành ngôn ngữ ở dạng lời nói.Ngược lại khi nghe, người ta sẽ nghe chính xác các âm thanh ngôn ngữ, sau

đó giải mã ngữ âm (giải mã 1) để biết ý (tin) của người nói là gì

Nếu muốn giao tiếp bằng chữ viết, từ mã hoá 1, người ta lại phải mã hoácác tín hiệu âm thanh của ngữ âm tự nhiên (gọi là mã hoá 2) thành mã chữviết Ngược lại khi đọc, người ta dùng mắt đọc các kí hiệu đồ hình thành cáctín hiệu âm thanh (ở dạng âm thanh hoặc biểu tượng âm thanh) Đó là giải mãlần 1 (nghĩa là giải mã 2), sau đó tiếp tụcgiải mã lần 2, nghĩa là giải mã 1 đềtìm ra ý (tin) người nói muốn biểu đạt là gì

Có thể hình dung ra quy trình viết, đọc như sau:

1 Quy trình viết:

Ý → mã hoá 1 → lời nói → mã hoá 2 → văn bản viết

2 Quy trình đọc:

Văn bản viết → Giải mã 2 → Lời nói → Giải mã 1 →Ý

Đọc là một hoạt động tìm nghĩa, vì ý nghĩa là cái không hiển thị rõ ràng

nên đọc là hoạt động cảm thụ kết hợp với hoạt động tư duy nhằm kiến tạo ý

nghĩa Nguyên tắc của việc rèn đọc là người đọc phải hiểu những gì được đọc,

do đó được gọi là đọc hiểu Đã có vai trò của cảm thụ và tư duy thì đọc là

hoạt động mang tính cá thể hoá cao độ, gắn với trình độ, cá tính, trí tuệ củangười đọc Đọc hiểu là tự hiểu không ai hiểu hộ được cho ai Sự kiến tạo ýnghĩa xác định đọc là một hoạt động sáng tạo Hoạt động tìm nghĩa là quátrình đối thoại với tác giả và cộng đồng lí giải, nên nó mang tính liên chủ thể,tính hợp tác Trong quan niệm này, văn bản không phải là đối tượng, kháchthể của sự đọc, mà là một chủ thể của đối thoại.\

* Đọc hiểu văn bản văn học

Đọc hiểu văn bản văn học là hoạt động đọc, được xác định thông qua

đối tượng thẩm mĩ và hướng vào chủ thể

Đọc hiểu văn bản văn học là tìm hiểu những khả năng vận dụng ngônngữ âm thanh khác nhau để lĩnh hội lí giải tính chân thực của văn bản vănhọc

Trang 9

Đọc hiểu văn bản văn học là một hoạt động phân tích, tổng hợp phứctạp, thông qua hoạt động đó nội dung ý nghĩa chứa đựng trong ngôn ngữ nghệthuật được thể hiện tập trung vào hình tượng văn học

Đọc hiểu văn bản văn học là một hoạt động thể hiện năng lực tái tạo âmthanh, năng lực nhận ra những đơn vị thống nhất về cú pháp tạo nên âmhưởng, điệu tính thích hợp, đúng đắn với văn bản Đọc văn bản nghệ thuậtbao gồm những kĩ năng đọc gắn liền với hiểu biết, ý nghĩa nội dung, nhữngdấu hiệu đặc điểm ngôn ngữ nhất định trong chức năng nghệ thuật của nó

Đọc hiểu văn bản văn học không chỉ là việc tái tạo lại tài giỏi nguyênbản mà còn cùng suy nghĩ tới mức tốt nhất để giữ lại những đặc sắc về nộidung và hình thức nghệ thuật của nguyên tác VBVH bằng ngữ điệu và nhữngđặc điểm ngữ âm của người đọc Cần lưu ý hình thành và xây dựng nhiềucách đọc, phát huy khả năng sáng tạo của người đọc

Như vậy đọc hiểu văn bản văn học chính là hoạt động đọc để giải mãcác lớp cấu trúc văn bản: giải mã lớp cấu trúc ngôn từ, lớp cấu trúc hìnhtượng và lớp cấu trúc ý nghĩa Trong quá trình giải mã đó, người đọc đã tiếnhành hoạt động tìm nghĩa Nghĩa là cái không hiển thị rõ ràng trên câu chữnên người đọc phải kết hợp hoạt động cảm thụ với hoạt động tư duy nhằmkiến tạo ý nghĩa của văn bản Đây chính là một loại hoạt động sáng tạo củangười đọc Người đọc không chỉ xử lí các mối quan hệ trong văn bản mà còn

xử lí mối liên hệ giữa văn bản đang đọc với môi trường văn bản xung quanh,với môi trường xã hội, thời đại

* Hoạt động đọc hiểu văn bản văn học trong dạy học Văn ở nhà trường.

Hiện nay việc đọc hiểu văn bản văn học trong nhà trường trở thành vấn

đề thời sự Có một bộ phận coi đọc hiểu chính là phân tích bản thân văn bảnvăn học về hai phương diện tách bạch là nội dung và hình thức để xem xét giátrị của văn bản Bộ phận này có thể đọc hiểu được tới bề sâu của văn bản vănhọc nhưng thiếu mối quan hệ sống động với ngữ cảnh, thời đại và cuộc sống

Có một bộ phận thiên về xem xét, nghiên cứu tìm hiểu mặt xã hội trong vănbản văn học Bộ phận này lại không chú ý tới thế giới hình tượng, thông tinthẩm mĩ của văn bản văn học Có một bộ phận nghiêng về xem xét văn bảnvăn học đáp ứng thế giới tinh thần của các em học sinh Bộ phận này lại quáchú trọng tới bạn đọc học sinh Bởi vậy, cần có một sự thống nhất về quanniệm về bản chất hoạt động đọc hiểu văn bản văn học

Vì mọi sự đọc, dù động cơ đọc như thế nào (đọc giải trí, đọc nghiêncứu, học tập, sử dụng,…), hình thức đọc ra sao đều không thoát li được việctìm nghĩa văn bản, cho nên mọi sự đọc đều là đọc hiểu Khái niệm hiểu trongđọc văn bao hàm một phổ rất rộng với nhiều thang bậc khác nhau, bắt đầu từrung cảm, đồng cảm, đến hiểu, thưởng thức thẩm mí, di dưỡng tinh thần…Xuyên suốt tất cả các khâu đó là hiểu Mọi hiệu quả tốt đẹp của văn học đềubắt nguồn từ hiểu mà ra

Trang 10

Hiểu thông thường là nhận ra một cái gì bằng năng lực trí tuệ Hiểu cónghĩa là cảm thông Về triết học, Gadamer, đại diện của Thông diễn học (còngọi là Giải thích học hiện đại), một khoa học lấy sự hiểu làm đối tượng nghiêncứu cho rằng hiểu có các nội dung sau:

Hiểu bao gồm sự nhận ra, giải thích hoặc lí giải và áp dụng, các khía cạnh này không tách rời nhau.

Hiểu không hạn chế vào tri thức về đối tượng, cũng không hạn chế vào chủ quan như kinh nghiệm, tiên nghiệm, mà mở rộng chủ quan của mình tới những chân trời mới, tự mở rộng bản thân mình

Hiểu là hội ngộ, gặp gỡ, là hội thông, giao tiếp, cảm thông, hội nhập

Từ đó, hiểu có một nội hàm rất rộng, nghĩa là sống, là ý thức của chủthể đang tác động tới cuộc sống Hiểu văn tức là hiểu người, hiểu đời với tất

cả mọi khía cạnh của nó

Đọc hiểu văn bản văn học được xem xét ở các mặt sau:

Về mặt kĩ thuật, ở phương diện khách quan của đọc hiểu, người đọcphải nhận biết, hiểu được từ ngữ, câu, đoạn, các phương tiện tu từ, các mốiliên kết văn bản, làm nền tảng để hiểu văn bản Người đọc phải biết phát hiện

hệ thống kí hiệu thẩm mĩ chung, truyền thống và đặc thù do nhà văn sáng tạo

ra trong văn bản làm cơ sở để hiểu ý tứ của văn bản Đồng thời người đọccũng phải tìm hiểu ngữ cảnh của văn bản (văn cảnh và tình huống phát ngôn)

Về mặt tâm lí, hiểu là người đọc cảm nhận được ý nghĩa của nhữngkích thích mà văn bản gợi lên cho mình, là tìm thấy câu trả lời mà mình đặt rakhi tiếp xúc với văn bản, tự giải đáp được các nghi vấn do văn bản gợi lên.Hiểu là một quá trình từ hiểu bộ phận tời hiểu được toàn thể, từ hiểu bề mặttới hiểu được bề sâu Nói cách khác, đó là quá trình hiểu nghĩa và ý nhĩa củavăn bản văn học

Nghiã của bài thơ, câu thơ, câu văn là nội dung khách quan toát ra từ lời thơ, lời văn Đây là cái nền tảng của hình tượng nghệ thuật ngôn từ Nói đến nghĩa tức là nói đến phần thuần tuý văn bản.

Ý nghĩa của bài thơ là nói đến ý nghĩ khái quát, điển hình tức là nói đến quan hệ của tác phẩm với những yếu tố ngoài tác phẩm.

Ý nghĩa phải toát ra từ nghĩa Không hiểu nghĩa thì không nắm bắt được ý nghĩa

Thế giới hình tượng tác phẩm được xây dựng bằng nhiều chi tiết, nhưng

không phải chi tiết nào cũng có giá trị như nhau Có những chi tiết quan trọngđược xem là yấu tố then chốt của tác phẩm, là điểm huyệt nối liền nhiều mối

Trang 11

thần kinh của tác phẩm Những chi tiết, yếu tố đó được gọi là điểm sáng thẩm

Bạn đọc là một yếu tố không thể thiếu được để một văn bản văn học trởthành tác phẩm văn học Nếu không có bạn đọc, văn bản chỉ là bản thảo chếtlưu trong kho mà thôi, nó sẽ không có đời sống của một tác phẩm vănchương Bạn đọc với đúng nghĩa của nó, sẽ chịu tác động của các chức năngvăn học: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ Nói cách khác, khi đọc tác phẩm, bạnđọc thu nhận được những thông tin thẩm mĩ - những tri thức mọi mặt củacuộc sống mà tác phẩm đề cập tới dưới hình thức mã hoá thành hình tượngvăn học Người đọc tự trưởng thành, phát triển, nâng cao những tư tưởng, tìnhcảm, thái độ sống mang tính nhân văn, tốt đẹp để rồi có những hành động phùhợp đáp ứng cuộc sống Cùng lúc, những rung cảm, xúc cảm cũng dần dầnđược trau giồi, bạn đọc biết xúc cảm thẩm mĩ trước cái đẹp, cái thiện, loại trừcái xấu, cái ác

Căn cứ vào mục đích, có thể phân chia ra các loại người đọc khác nhau:

- Người đọc giải trí: Loại người đọc này thường đọc lướt, nắm cốt

truyện, nắm cái bên ngoài của tác phẩm, đánh giá nông cạn về tác phẩm

- Người đọc phê bình, giới thiệu, biên tập văn học: Người tìm ở tác

phẩm những thông tin mới về cuộc sống, có những suy nghĩ về đời sống, về

tư tưởng đạo lí từ tác phẩm văn chương để viết phê bình, nhận xét

- Người đọc chuyên nghiệp: Những người chuyên nghiên cứu, phê bình

văn học, nghiên cứu lí luận văn học; những người làm công tác giảng dạy vănhọc ở nhà trường các cấp Đây là loại người đọc lí tưởng có vận dụng nhữngthao tác nghề nghiệp nhất định

- Loại người đọc đặc biệt: Các nghệ sĩ sáng tạo như nghệ sĩ đọc, nghệ

sĩ ngâm thơ Người đọc này dựa vào trực giác nghệ thuật mạnh, dựa vào thiên

tư, vào năng khiếu là chính

- Loại người đọc là học sinh: Loại bạn đọc phát triển, tức là thông qua

đọc văn, nhân cách của học sinh hình thành và phát triển Với loại bạn đọcnày, nhà trường cung cấp từng loại tác phẩm theo các cấp học

Dấu hiệu phát triển ở học sinh được thể hiện ở hai xu hướng vận độngtrong quá trình đọc: Xu thế hướng vào khám phá thế giới nội tâm của chủthể đọc là học sinh; xu thế hướng vào sự nắm vững đối tượng thẩm mĩ (tácphẩm văn học) Cả hai sự vận động này tác động qua lại lẫn nhau và trởthành dấu hiệu văn học ở học sinh Người đọc học sinh thể hiện sự cụ thể

Trang 12

hoá và khái quát hoá hình tượng nghệ thuật Đó là biểu hiện khách quan đặctrưng của hoạt động đọc văn.

Đọc hiểu tác phẩm văn học là quá trình thâm nhập một bài văn Qúatrình thâm nhập một bài văn có thể khái quát lại như sau:

- Người đọc sử dụng tư duy tổng hợp để cảm thụ, nghĩa là vận dụng

tổng hoà những năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát trong quá

trình đi từ thấp đến cao, từ sai đến đúng, từ hiện tượng đến bản chất để xác

định được chủ đề và phát hiện ra đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm

- Người đọc vận dụng nhiều năng lực tâm lí cảm thụ trong quá

trình đi vào tác phẩm Qúa trình đó diễn ra qua nhiều giai đoạn mà bước

cao nhất là xác định được chủ đề tác phẩm

- Người đọc tái hiện dần hình ảnh ở các bình diện 1,2,3,4 trong quá trình đi đến bước xác định chủ đề và ý nghĩa khái quát về cuộc sống do tác phẩm đặt ra Hình ảnh này xuất hiện sớm muộn do năng lực chủ quan

- Người đọc luôn luôn phải loại trừ những ấn tượng chủ quan sai lệch

về tác phẩm, phân biệt được yếu tố trung hoà và yếu tố then chốt để xác

định đúng đắn chủ đề tác phẩm, và những gì là sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn

1.1.2 Cơ sở lí luận của đọc diễn cảm

* Quan niệm đọc diễn cảm

Đọc diễn cảm là cách sử dụng giọng đọc kèm theo các yếu tố phi ngôn ngữ như điệu bộ, nét mặt, ánh mắt khi đọc để truyền đạt những ý nghĩ,

tư tưởng, tình cảm của tác giả gửi gắm trong tác phẩm và cả những ý nghĩ, thái độ, tâm trạng, cảm xúc của người đọc đến với người nghe

Đọc diễn cảm là một quá trình, bao gồm quá trình tiếp nhận và quátrình thông báo, truyền đạt văn bản viết thành văn bản đọc Đó là quá trìnhtái tạo, chuyển đổi nội dung ý nghĩa nghệ thuật của văn bản thành âm thanhngôn ngữ với tiết tấu, ngữ điệu, nhịp điệu, tốc độ, sự ngừng nghỉ và sắc tháithẩm mĩ, cảm xúc thẩm mĩ, và thái độ thẩm mĩ của người đọc Đọc diễn cảmcòn bao gồm quá trình ngôn ngữ và văn học, quá trình tâm lí và sư phạm,quá trình thông tin và giao tiếp

Đọc diễn cảm là làm nổi bật đặc điểm, cảm xúc thẩm mĩ, đời sống tinhthần của tác phẩm, tạo ra mối quan hệ xúc động riêng tư của người đọc vớitác phẩm

Trang 13

Phương phỏp đọc diễn cảm là phương phỏp tiếp nhận tỏc phẩm nghệthuật ngụn từ một cỏch sỏng tạo, chủ yếu bằng sự cảm nhận trực tiếp tỏcphẩm Phương phỏp đọc diễn cảm nhằm giỳp cỏc em học sinh chủ động:

- Đọc thưởng thức văn bản ngụn từ của tỏc phẩm

- Tri giỏc, quan sỏt, cảm thụ thế giới hỡnh tượng của tỏc phẩm, sỏngtạo lại,

biến thế giới hỡnh tượng của tỏc phẩm thành hỡnh tượng của riờng mỡnh

- Thể nghiệm và phỏt huy năng khiếu nghệ thuật, phỏt triển năng lựccảm thụ và rốn luyện cỏc kĩ năng thưởng thức cảm thụ tỏc phẩm

* Bản chất đọc diễn cảm

Đọc núi chung và đọc diễn cảm núi riờng là biến hỡnh thức chữ viết củavăn bản thành hỡnh thức õm thanh của tiếng núi, làm cho người nghe hiểuđược ý của người viết Muốn đọc được, trước hết người được phải biết đượcthứ chữ mà người viết văn bản đó viết Chữ viết là một phương tiện ghi õm,nhưng chỉ ghi được một cỏch rất khỏi quỏt Người đọc khi đọc phải lệ thuộcvăn bản, khụng được thờm bớt cõu, chữ, dấu chấm, dấu phảy Tuy vậy, sự lệthuộc ấy khụng hạn chế khả năng sỏng tạo của người đọc diễn cảm Bởi vỡchữ viết khụng ghi được ngữ điệu, khụng ghi được hàm ý của cõu, đoạn

Vớ dụ khi đọc hai cõu thơ sau của Nguyễn Đỡnh Thi:

“Ngời ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lng thềm nắng lá rơi đầy ” Câu thơ dựng chân dung ngời đi, bốn chữ “đầu không ngoảnh lại” khắctả một t thế, khắc tả một thái độ quyết dứt áo ra đi vì nghĩa lớn, phảng phấtcái khẩu khí hào hùng mà hào hoa của các tráng sĩ thuở trớc “Nhất khứ hề

bất phục hoàn “ (một đi không trở lại) Câu thơ khoẻ mà mộng.

Câu dới lại dựng một bức tranh thu tuyệt tác giữa hồn ngời: “sau lng

thềm nắng lá rơi đầy” Sắc vàng thu nhuộm vàng cả câu thơ Có nhiều cách

cảm nhận nhạc điệu của câu thơ này Có ngời tách câu thơ theo nhịp 3/4 (sau

lng thềm/ nắng lá rơi đầy) Nhịp thơ gợi hình ảnh bóng nắng, bóng lá trộn

vào nhau Cái vô hình hữu hình quyện vào nhau một cách h ảo, ớp vàng thềmphố Hà Nội Nguyễn Đình Thi lại tâm sự rằng ông chỉ muốn ngắt câu theonhịp 4/3 (sau lng thềm nắng/ lá rơi đầy) Cách ngắt nhịp này đã làm giảm đirất nhiều vẻ thơ mộng của hình ảnh bởi vì câu thơ hiện ra rõ ràng quá Có ng-

ời lại ngắt câu thơ này theo nhịp 2/2/3 (sau lng/thềm nắng/ lá rơi đầy) Câu

thơ gợi lên hình ảnh rất sinh động của một chiếc lá thu đang bứt khỏi cànhthu, khẽ xoay… rồi chao nghiêng… chao nghiêng… rồi nhẹ nhàng đặt khẽ lên

hè phố Những câu thơ hay thờng cảm thụ khác nhau Đây là một câu thơ nhthế Mùa thu vàng trong câu thơ bâng khuâng, ngập ngừng rơi giữa tất cả cáccách ngắt nhịp, ớp vàng lên thềm phố Hà Nội nh một mảnh hồn tình vàng cô

đơn mà đầy mơ mộng, gợi ta nhớ tới bức tranh hoạ “Mùa thu vàng” của

Lêvitan (Nga) hoặc nhớ tới sắc vàng h ảo trong thơ Bích Khê:

“Ô hay! Buồn vơng cây ngô đồng

Vàng rơi! vàng rơi! Thu mênh mang”

(Tì bà hành)

Song cái hay của câu thơ dồn vài hai chữ “sau lng” Hoá ra, bức tranh

thu trên kia không phải nhìn bằng mắt mà “nhìn bằng tâm hồn” tạo ra một

Trang 14

mâu thuẫn tuyệt vời Ngời đi mà hồn vơng lại, tạo ra cái dùng dằng rất thậtnên rất ngời, nặng tình nặng nghĩa Khổ thơ, câu thơ kết lại ở chữ “đầy” Đấy

là cái đầy thềm của lá hay nỗi nhớ dâng đầy Đoạn thơ kết thúc ở đúng cáicao trào của tình cảm

Nguyễn Đình Thi nhận xét về những câu thơ này: “những câu thơ đầu tôi viết về Hà Nội với nhiều cảm xúc và kỉ niệm Ngời Hà Nội đi kháng chiến đều có những tình cảm nh thế với mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Hà Nội vào thu, khung cảnh thiên nhiên rất đẹp, nhng chiến tranh đã tạo ra những cảnh tợng không bình thờng” (Chân dung tự hoạ).

Đọc diễn cảm cú thể phõn chia thành hai giai đoạn Giai đoạn I là đọc

hỡnh tượng, cũn gọi là giai đoạn đọc “vỡ nghĩa, hiểu nghĩa” văn bản - Đọcgiải mó cấu trỳc ngụn từ, cấu trỳc hỡnh tượng và cấu trỳc nghĩa Thực chất làtri giỏc văn bản hỡnh tượng, đọc ra ý nghĩa của hỡnh ảnh bằng sự cảm thụngthể nghiệm, từng trải văn hoỏ, bằng sự tiền nhận thức Giai đoạn này chủ yếu

là đọc cỏ nhõn Nếu ở nhà trường, giai đoạn này cú sự hướng dẫn của giỏo

viờn, cú sự hợp tỏc của tập thể nhúm, lớp Giai đoạn II là đọc diễn cảm Đọc

văn bản ngụn từ nghệ thuật phải đặc biệt chỳ ý đến từ, cõu, nhịp điệu, õmhưởng, sắc thỏi giọng đọc, phải kớch thớch trớ tưởng tượng và gõy được xỳcđộng tỡnh cảm ở cả người đọc lẫn người nghe

Đọc diễn cảm cú thể được xem như một nghệ thuật cú đặc điểm riờng,khụng lặp lại người khỏc Đọc diễn cảm ghi đậm dấu ấn sỏng tạo cỏ nhõncủa người đọc Đọc như thế sẽ gõy được chấn động tõm hồn trờn cơ sởnhững mĩ cảm ngụn ngữ văn học, và khả năng biểu diễn (cỏch sử dụngnhững yếu tố phi ngụn ngữ đi kốm khi đọc) Lối đọc này sẽ cú sức hấp dẫn,lụi cuốn người nghe, làm sỏng tỏ thờm nội dung , ý nghĩa của tỏc phẩm vănhọc Đọc diễn cảm cú khả năng bộc lộ những thiờn tư, những phẩm chất cỏnhõn của người đọc

Đọc diễn cảm chớnh là một hỡnh thức đọc đặc biệt của đọc văn, nú cú

sự tham gia, hỗ trợ của những yếu tố phi ngụn ngữ như điệu bộ, tõm thế,dỏng vẻ, giọng điệu, ngữ điệu, õm sắc, màu sắc cảm xỳc cỏ nhõn Những vănbản được đưa vào chương trỡnh phõn mụn Văn là văn bản văn học mà hệthống ngụn ngữ của nú được tổ chức chặt chẽ theo cỏc quy luật của tư duynghệ thuật và ngụn ngữ nghệ thuật Tỏc phẩm văn học là tỏc phẩm nghệthuật Vỡ vậy, đọc diễn cảm tỏc phẩm văn học là bước vào lĩnh vực nghệthuật - nghệ thuật trỡnh tấu hệ thống hỡnh tượng, õm thanh của tỏc phẩm vănhọc Do đú, đọc diễn cảm là một nghệ thuật

Khỏi quỏt lại, bản chất của đọc diễn cảm là một hoạt động lao động sỏng tạo, là một hoạt động mang tớnh nghệ thuật cao để truyền đạt mọi cỏi hay của tỏc phẩm văn học cho người nghe, phỏt huy được mọi khả năng tiềm ẩn của tỏc phẩm cũng như trớ ttưởng tượng phong phỳ của người nghe, gõy xỳc động cả người nghe lẫn người đọc Đọc diễn cảm là một phương phỏp sư phạm, một khoa học

Trang 15

* Phân biệt đọc diễn cảm trong nhà trường với đọc nghệ thuật (trình diễn)

Đọc nghệ thuật (trình diễn) thiên về biểu diễn, tác động cùng lúc vào thính giác, vào thị giác của người nghe : Đọc không nhìn vào văn bản, có sử

dụng nhiều yếu tố phi ngôn ngữ: động tác, cử chỉ nhiều Đọc trình diễn corất nhiều trường phái, da dạng Người nghe không chỉ được nghe mà cònđược nhìn để thưởng thức cách trình diễn Không khí trình diễn cũng hỗ trợngười đọc người xem Trong khi đó, đọc diễn cảm lại có nhìn vào văn bản,

sử dụng ngữ điệu là chính, các yếu tố phi ngôn ngữ là phụ, chỉ hỗ trợ, biểuhiện chủ yếu qua nét mặt, ánh mắt khoé miệng

Đọc diễn cảm chủ yếu là sử dụng ngữ điệu, tác động vào thính giác của người nghe Đọc diễn cảm có đối tượng riêng là học sinh học Văn trong

nhà trường Phương pháp đọc diễn cảm được xem xét đồng thời từ góc độthích hợp với từng tác phẩm cụ thể, có tính đến thể loại, khuynh hướng vănhọc, thế giới quan, tư tưởng, phong cách nghệ thuật của tác giả, từ góc độ sưphạm (ý nghĩa giáo dục) của những tác phẩm được đưa vào chương trìnhgiảng dạy, sự tiếp nhận đối với từng lứa tuổi học sinh

Trong giờ học Văn, nhà trường không yêu cầu đọc nghệ thuật (trìnhdiễn) các tác phẩm văn chương Trong các chương trình ngoại khoá Văn học

- tiếng Việt hoặc văn nghệ, các em học sinh có thể sử dụng hình thức đọctrình diễn

1.1.2.1 Cơ sở ngôn ngữ của đọc diễn cảm

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiệngiáo tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồngngười; ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạttruyền thống văn hoá - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác

* Chức năng của ngôn ngữ và đọc diễn cảm

Ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản là chức năng giao tiếp và tư duy.Chức năng làm công cụ tư duy của ngôn ngữ thể hiện ở hai điểm sau:

Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có một từ nào,câu nào mà lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng Ngược lại, không cómột ý nghĩ, tư tưởng nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ

Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng Mọi ýnghĩ, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiện ra bằng ngôn ngữ.Những ý nghĩ chưa biểu hiện ra được bằng ngôn ngữ chỉ là những ý nghĩchưa rõ ràng, phản ánh cái hiểu lơ mơ chứ chưa hiểu biết thực sự

Từ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, cho thấy hoạt động ngônngữ trong đọc diễn cảm gắn liền với tư duy tìm tòi, phát hiện cái mới Tưduy sáng sủa, súc tích được thể hiện bằng ngôn ngữ lời ít ý nhiều, cô đọng

dư ba, hàm súc Đặc biệt là trong ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ có những

Trang 16

cỏch tổ chức đặc biệt chứa đựng thụng tin thẩm mĩ Hoạt động ngụn ngữtrong đọc diễn cảm phải gắn liền với tư duy để giải mó cõu chữ trong vănbản văn học, tỡm ra những ý hàm ngụn, những tầng ý nghĩa của hỡnh tượng

Tư duy khỏi niệm và tư duy hỡnh tượng cú mối liờn hệ với nhau, nú cúliờn quan tời một quỏ trỡnh hoàn rất quan trọng trong quỏ trỡnh sỏng tạo, đú

là sự tưởng tượng Đọc diễn cảm, người đọc và người nghe cần hiểu sõu sắc,

cú trớ tưởng tượng phong phỳ để xõu chuỗi cỏc khỏi niệm mà liờn tưởng,tưởng tượng

Vớ dụ:

“Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”

Hai chữ “về - lên” tập trung năng lợng nghệ thuật của đoạn thơ ngắn “Về”gợi ra một chiều dài không gian Chiều dài ấy có thể là từ Nam chí Bắc, từ

Đông sang Tây, từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau “ Lên” gợi ra một chiềucao: từ đáy thung lũng hay đáy biển sâu lên đến những đỉnh núi ngất thiêngcủa đất nớc Trông về “ ” là cái thế đứng của ngời từ xa, xuyên suốt muôn dặm

đờng xa dài theo đất nớc “Nhìn lên” là cái thế đứng của những ngời dới đáyvơn lên đến những tầm cao bay bổng tuyệt vời

Hai câu thơ đã bao quát cả không gian, có bề sâu, bề rộng, bề dài, bềcao Đó mới là cái lớn lao, sâu sắc của hình tợng Việt Bắc trong tấm lòng ng-

ời dân Việt Nam ở khắp mọi miền

Từ hình tợng Việt Bắc ấy gợi liên tưởng:

Trong phạm vi bốn câu này, vấn đề liên tởng lại không nằm ở địa điểmViệt Bắc mà là ở những nơi xa Việt Bắc Những nơi ấy lại hiện ra trớc mắt tacả bề mặt lẫn bề sâu “U ám quân thù” là quang cảnh hiện hữu, là nhữngvùng trời đất tối tăm, bóng dáng kẻ thù che lấp cuộc đời và ánh sáng “Đau

đớn giống nòi” lại là một hình ảnh sâu lắng một cái gì không nhìn ra đợc cụ

thể nhng lại thấm thía cả một nỗi niềm Chỉ bằng một số hình ảnh, nhà thơ

đã đa ta vào cả một thế giới vừa bao la vừa sâu rộng có cả cuộc sống bênngoài và cuộc sống bên trong

Hình tợng Việt Bắc đợc xây dựng trong bốn câu thơ này thật giàu ýnghĩa:Việt Bắc là thủ đô kháng chiến là trung tâm đầu não của cuộc khángchiến chống Pháp, nơi có Cụ Hồ, có Trung ơng Đảng và Chính phủ đóng đạibản doanh trong kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta trong mời lăm năm

ấy đã trở thành niềm tin của cách mạng Đó là những câu thơ viết về ViệtBắc hay nhất, có sức khái quát và truyền cảm xúc, lay động lòng ngời

* Tớnh hỡnh tượng của ngụn ngữ với đọc diễn cảm

Bản thõn ngụn ngữ cú tớnh khỏi quỏt, tớnh hỡnh tượng rất cao Ngườisản sinh văn bản văn học đó dụng cụng chọn lựa ngụn từ để diễn đạt cỏimỡnh muốn gửi gắm, thể hiện Người đọc cần giải mó ngụn ngữ văn họctrong tỏc phẩm, đọc được ý đồ của tỏc giả trong tỏc phẩm Cú khi bản thõn

mỗi từ ngữ đó mang trong nú tớnh tượng hỡnh: đủng đỉnh, ung dung, heo hỳt, cheo leo, …Khi sỏng tạo tỏc phẩm, mỗi tỏc giả với trớ tưởng tượng, với sự

Trang 17

lựa chọn ngụn từ của mỡnh lại kết hợp cỏc từ ngữ ấy với nhau theo quy tắc

cỳ phỏp nhất định để tạo nờn những hỡnh tượng mới ở cỏc cấp độ khỏc nhau.Trong lĩnh vực đọc diễn cảm, người đọc và người nghe cần cú sự liờn tưởng,tưởng tượng phong phỳ Với khả năng tạo ra những hỡnh tượng cảm tớnhhoặc lớ tớnh mới ttrong ý thức của con người trờn cơ sở cải tạo những ấn

tượng do hiện thực đem lại, “tưởng tượng là một quỏ trỡnh tõm lớ phản ỏnh những cỏi chưa từng cú trong kinh nghiệm cỏ nhõn bằng cỏch xõy dựng những hỡnh ảnh mới trờn cơ sở những biểu tượng đó cú” (Phạm Minh Hạc).

Trờn cơ sở tớnh hỡnh tượng của ngụn ngữ trong tỏc phẩm văn học, người đọc

tưởng tượng tỏi tạo lại đời sống trong tỏc phẩm, nghĩa là “hỡnh dung lại” để

xỏc định đối tượng nhận thức Đú cũng là hoạt động đầu tiờn khi người đọchọc sinh tiếp xỳc tỏc phẩm văn học trong nhà trường Tiếp theo là tưởngtượng sỏng tạo, đõy là quỏ trỡnh xõy dựng hỡnh ảnh mới một cỏch độc lập.Những hỡnh ảnh được xõy dựng được coi là mới với cả bản thõn người tưởngtượng và với xó hội Lỳc này, tưởng tượng của đọc diễn cảm được coi là sựcảm thụ mang màu sắc cỏ nhõn của người đọc hoặc người nghe

Vớ dụ về bài thơ Tõy Tiến:

Nỗi nhớ đợc diễn tả bằng cảm hứng lãng mạn đặc sắc Bài thơ lúc đầu có tên

là “Nhớ Tây Tiến ,” sau này Quang Dũng đã bỏ đi chữ “nhớ” vì sợ thừa vàquan trọng hơn là sợ làm lộ đề và hẹp nghĩa Còn lại Tây Tiến chắc, khoẻ,hào hùng và nỗi nhớ cứ dâng sóng khắp bài thơ

Bốn câu mở đầu là lớp sóng đầu tiên của nỗi nhớ:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sơng lấp đoàn quân mỏi Mờng Lát hoa về trong đêm hơi ”Nỗi nhớ mở ra bằng một tiếng gọi bâng khuâng da diết, âm “ ” đợc láyơi

lại ba lần và ba chữ “ơi, vơi, chơi” nối tiếp nhau tạo thành một chuỗi âm ởng vọng dài, toả lan vời vợi Có cảm giác tiếng gọi vọng ra từ những vách

h-đá núi rừng Tây Bắc, nhấc bổng thi sĩ khỏi hiện tại, để lửng lơ trong nỗi nhớkhôn cùng

Những tên địa danh cũng làm cồn lên nỗi nhớ Trong bài thơ Tây Tiến,những địa danh cũng có một sức gợi cảm đặc biệt mang một chất thơ bí ẩn

mà hoang dại của Tây Bắc Những địa danh này không phải là những cái tênvô hồn, vô cảm mà là xơng máu đời lính, tâm hồn ngời lính Đúng nh mộtnhà thơ đơng thời đã viết:

“Những tên làng, tên núi, tên sông

Những cái tên đọc lên nghe muốn khóc”

Thơ Quang Dũng cũng thế “sông Mã , Tây Tiến , Sài Khao , M” “ ” “ ” “ ờng Lát”

đã đột ngột đánh thức kí ức, dựng kí ức thành những ấn tợng cụ thể, sinh

động và Tây Bắc hiện lên, quá khứ hiện lên từ hai phía “S ơng lấp” là những

gian khổ buốt giá, “hoa về” là phía mơ mộng, dịu dàng Hình ảnh hoa lại trôitrong câu thơ năm thanh bằng liền mạch gợi một nét nhạc quyến rũ, lânglâng làm dịu đi cái mệt mỏi trong tâm hồn ngời lính Quả là ngòi bút QuangDũng có một năng lực hồi sinh quá khứ Nói đúng hơn chính là nỗi nhớmãnh liệt đã tái sinh quá khứ trong hiện tại Nhà thơ trực tiếp đối diện với

Trang 18

Tây Bắc Ngời đọc thơ trực tiếp đối diện với Tây Tiến Ngôn ngữ nghệ thuậtcủa Quang Dũng đã có năng lực đồng biến giữa quá khứ và hiện tại

Và Tây Bắc đã hiện lên trong những câu thơ tiếp theo Nỗi nhớ của thinhân cũng vơn theo một vùng núi non hùng vĩ:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thớc lên cao ngàn thớc xuống Nhà ai Pha Luông ma xa khơi Anh bạn dãi dầu không bớc nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời ” Đoạn thơ gây ấn tợng rất mạnh về Tây Bắc Bút pháp lãng mạn củaQuang Dũng đã xây đắp hình ảnh núi non bằng nhạc, bằng hoạ

Câu thơ thứ nhất gập ghềnh những thanh trắc Câu thơ bảy chữ mà đợcviết với năm thanh trắc Âm nhạc đã dựng thành dốc cheo leo, thăm thẳm mở

ra một thế núi hiểm trở nh con đờng vào đất Thục trong bài “Thục đạo nan

-Lí Bạch Âm hởng thơ nh gợi hơi thở nặng nhọc của ngời lính hành quân trênvách đá dựng đứng, trán ngời lính nh vập vào vách đá

Câu thơ tiếp theo tả ngời mà thấy núi: “Heo hút cồn mây súng ngửi trời” Thần hứng của câu thơ tập trung ở ba chữ súng ngửi trời ,“ ” đặc biệtchữ “ngửi” rất bạo, rất lạ, khiến thi sĩ không tả núi cao mà thấy núi rất cao,hình ảnh ngời lính đang đứng chót vót trên đỉnh núi, súng chạm vào trời Đây

là bút pháp gợi tả đặc biệt thú vị của Đờng thi đợc Quang Dũng học tập mộtcách tài hoa Chữ “ngửi” ẩn chứa một nụ cời bốc tếu rất lính, dám trêu ghẹocả tạo hóa Tổng hợp cả hai ý trên ta bỗng nhận ra: núi hiểm trở dữ dằn cũngkhông đè bẹp đợc ngời lính Trái lại, vẫn tôn cao bức chân dung kiêu dũngcủa ngời lính trớc thiên nhiên hoành tráng Nhà thơ Tố Hữu cũng đã có cáinhìn đồng cảm với Quang Dũng khi tả anh Vệ quốc quân đang vợt núi trèo

đèo:

“Núi không đè nổi vai vơn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo ”Câu thơ thứ ba có một tiết tấu đặc biệt: “Ngàn th ớc lên cao, ngàn thớc xuống” Nhịp 3/4 bẻ gẫy câu thơ làm đôi trong thế tơng phản giữa “cao” và

“xuống”, cùng chiều dài hun hút “ngàn thớc” khiến câu thơ nh muốn chơimột trò bập bênh chóng mặt bằng âm điệu giữa những vách đá cheo leo

Giữa những câu thơ chật chội những thanh trắc, câu thơ “Nhà ai Pha Luông ma xa khơi” toàn thanh bằng gợi một điểm dừng chân của ngời lính ở

lng chừng dốc núi, phóng tầm mắt dõi tầm mắt tìm vể một bản làng ẩn hiện

mờ ảo giữa ma Từ sự mơ mộng ấy, cảm hứng thơ Quang Dũng bỗng trầmxuống trớc một hình ảnh xót xa: “Anh bạn dãi dầu không bớc nữa Gục trên

súng mũ bỏ quên đời” Tác giả cố giấu đi một chữ chết, thay bằng cách nói

-ớc lệ “không b ớc nữa , bỏ quên” “ đời”, nhng chữ gục“ ” vẫn dội lên một sựtrần trụi, dội lên những mất mát hi sinh mà ngời lính đã gánh chịu

Đoạn thơ thể hiện cái gian nan và sự mơ mộng, hai nét tơng phản mà

cứ tồn tại song song bên nhau, hòa quyện vào nhau Bút pháp lãng mạn vốnthích thú với những đối lập đã khiến Quang Dũng phát hiện ra vẻ đẹp tráichiều và nhiều chiều giữa thiên nhiên và tâm hồn ngời lính

* Tớnh biểu cảm của ngụn ngữ với đọc diễn cảm.

Bản thõn ngụn ngữ mang tớnh biểu cảm: Hệ thống từ lỏy, đại từ xưnghụ,…Khi được nhà văn, nhà thơ sỏng tạo tỏc phẩm là nhằm thể hiện thỏi độ,tỡnh cảm của bản thõn trước những vấn đề của đời sống xó hội nờn tớnh biểu

Trang 19

cảm của ngôn ngữ văn chương càng rõ nét Việc đọc diễn cảm tác phẩm vănhọc phải thể hiện được tính biểu cảm của ngôn ngữ và mang tính thẩm mĩ

Xúc cảm, tình cảm, sự rung động…của con người là những phản xạcủa hệ thần kinh xuất hiện trong mối quan hệ tự nhiên giữa chủ thể với hoạtđộng thẩm mĩ Lĩnh vực tình cảm không thể gượng ép, giả tạo được Cảmxúc riêng tư như một dòng điện nối người đọc với tác phẩm, làm xuất hiện

sự thay đổi hơi thở, nhịp đập của trái tim, sắc mặt, nhiệt độ cơ thể, điệu bộ,

cử chỉ, và những vận động khác của nội tâm Sự thay đổi này mang tính tự

nhiên “Trong đọc diễn cảm thì hệ thống cảm xúc cá nhân có được nhờ tương giao với tác phẩm văn học, phải chiếm ưu thế hơn hệ thống khái niệm” (nhà thơ Ximônốp)

Trong đọc diễn cảm, người đọc nhất thiết phải đọc có tình cảm và phảithật tự nhiên, chân thành Muốn đọc diễn cảm một cách chân thật và tựnhiên, người đọc phải hiểu thấu đáo, hiểu tinh tế tác phẩm, từ đó đọc truyền

đạt được tình cảm, “không thể ra lệnh cho tình cảm, mà cần phải đi đến tình cảm bằng nhiều con đường khác nhau…khi trạng thái tâm lí có khả năng làm nảy sinh mối quan hệ của con người đối với các hiện tượng xung quanh xuất hiện, thì mối quan hệ biểu cảm được tạo nên và đó sẽ là cảm xúc”(nghệ

sĩ Xtanhixlapxki)

* Ngữ điệu của lời nói với đọc diễn cảm

Ngữ điệu của lời nói thuộc về yếu tố ngôn ngữ Ngữ điệu của lời nóibao gồm tất cả các dấu hiệu âm thanh ngôn ngữ như: tiết tấu, sự ngắt nghỉhơi, nhịp điệu, cao độ, cường độ, trường độ, âm sắc,…của âm thanh ngônngữ Ngữ điệu còn được tạo nên bởi mối quan hệ trong sự giao tiếp giữangười nói và người nghe Chính mối quan hệ giao tiếp này đã góp phần xácđịnh ngữ điệu của người đọc, có thể nhiệt tình, sôi nổi hơn, đam mê hơn, có

“hồn” hơn, tha thiết, hoặc trầm lắng hơn,… Ngữ điệu là cái không thể bắt

chước được Ngữ điệu của lời nói tự bản thân nó sẽ đến với chúng ta tronghoàn cảnh sống nhất định Để đọc diễn cảm đúng ngữ điệu, chúng ta phảitìm kiếm ngữ điệu cho văn bản đọc, chứ không phải chúng ta đặt cho nó ngữđiệu

1.1.2.2 Cơ sở sinh lí học và tâm lí học của đọc diễn cảm

Tham gia vào đọc diễn cảm có nhiều yếu tố, trong đó có hai yếu tốcần quan tâm là sinh lí (bộ máy phát âm, thính giác, thị giác, cơ quan hôhấp…) và tâm lí (ý thức, tiềm thức, trí nhớ, kinh nghiệm…) của người đọc,người nghe Hoạt động đọc diễn cảm là hình thức lao động căng thẳng.Không phải sinh ra ai cũng có khả năng đọc diễn cảm Bên cạnh một sốngười có năng khiếu, biết đọc diễn cảm còn đa số không biết đọc diễn cảm.Trong nhà trường, môn Văn -Tiếng Việt với đặc thù của bộ môn, có thể rèncho học sinh biết đọc diễn cảm để các em có thể phát triển được những khả

Trang 20

năng đọc diễn cảm của mình Từ đó, góp phần vào sự phát triển của các emhọc sinh phổ thông

Tâm lí học hiện đại thừa nhận khả năng của mỗi cá nhân là khác nhau,nhưng năng lực của con người một phần đo bẩm sinh còn lại phần lớn là dorèn luyện mà có Những đặc điểm bẩm sinh chỉ có thể là những tư chất làm

cơ sở cho sự phát triền của tài năng Chính tài năng lại là cơ sở của sự pháttriển Tài năng được hình thành chủ yếu ngay trong quá trình hoạt động củacon người

Qúa trình sáng tạo nghệ thuật, trong đó có cả quá trình đọc văn, vai tròcủa trực giác rất quan trọng Trong tâm lí học hiện đại, trực giác được hiểu

là một hình thức đặc biệt của quá trình tư duy Khác với hình thức tư duylôgic có vỏ bọc bằng ngôn ngữ dù chỉ là ngôn ngữ bên trong (biểu tượng âm

thanh ngôn ngữ) Qúa trình tư duy đó được gắn liền với “dấu vết rõ ràng của nhận thức” (Páplốp) Sự tư duy bình thường sẽ được diễn ra trong khuôn

khổ của vùng nhận thức đó Bên ngoài vùng nhận thức đó cũng có nhữngquá trình được diễn ra không có sự kiểm soát của nhận thức vì thế kết quảcủa tư duy này có tính chất bất ngờ, ngẫu nhiên, xuất thần,…không đượctính toán trước Yếu tố trực giác của sáng tạo không chịu sự tác động củanhận thức thì quá trình chuẩn bị trực giác của tư duy phải hoàn toàn do tácđộng của con người và giáo dục Trực giác là tư duy không có dấu vết rõràng của nhận thức

Trực giác được các nhà nghiên cứu phương Tây cho là tri thức caonhất, xem trực giác là bước nhảy vọt của cảm tính, là bước sóng xuất thần.Người ta gọi trực giác là tổng giác (tổng nhận thức con người) Trực giác là

sự sáng tạo bởi có cái mới bằng sức mạnh tổng hợp của con người

Trực giác có vai trò rất quan trọng trong đọc diễn cảm, nó cũng là mộtyếu tố có tính quyết định trong việc chuẩn bị đọc diễn cảm được diễn ratrong một thời gian ngắn

Một lần nữa, cần khẳng định có thể dạy và nhất thiết cần phải dạy chohọc sinh phổ thông đọc diễn cảm Kĩ năng đọc diễn cảm, sự hoàn thiện ngônngữ của con người sẽ được hình thành trong quá trình đọc diễn cảm tácphẩm văn học

1.1.2.3 Cơ sở giao tiếp của đọc diễn cảm

Để hoạt động giao tiếp có hiệu quả cao, các nhân tố tham gia vào hoạtđộng giao tiếp có một vai trò ý nghĩa rất quan trọng Đọc diễn cảm là mộthoạt động giao tiếp rất đặc biệt giữa bộ ba: nhà văn - người giáo viên - ngườihọc sinh trên cơ sở văn bản văn học Nhà văn xây dựng ngôn bản, người giáoviên tiếp nhận ngôn bản đó và thiết lập mối quan hệ giữa người nghe là họcsinh và nhà văn bằng hình thức đọc diễn cảm Qua giọng đọc của mình, quaviệc vận dụng những yếu tố phi ngôn ngữ như ánh mắt, nụ cười, nét mặt, điệu

bộ, thở dài,….người đọc (GV) đồng thời thực hiện hai chức năng của hoạt

Trang 21

động đọc diễn cảm trong giao tiếp: nhận và phát tin Đọc diễn cảm như vậy

cũng là một hình thức giao tiếp đặc biệt, chịu sự chi phối của văn bản vănhọc, nó bộc lộ rất rõ xúc cảm Xúc cảm đó sinh ra trong tình huống giao tiếp

và mục đích giao tiếp cụ thể trong giờ học Xúc cảm đó xuất phát từ nội dungcủa văn bản văn học (trên cơ sở đọc hiểu văn bản văn học) Đó phải là xúccảm tự nhiên, cục bộ, cụ thể gắn với mục đích giao tiếp, hướng tới người nghe(HS) Nguồn xúc cảm trong đọc văn là nguồn xúc cảm thẩm mĩ xuất phát từhai chủ thể: nhà văn và tác phẩm Chủ thể nhà văn gửi gắm thái độ tình cảmcủa mình thông qua VBVH với thế giới tâm hồn tràn đầy xúc động Chủ thểtác phẩm là một thế giới mĩ cảm nghệ thuật được xây dựng nên bởi tác giảnhưng thế giới hình tượng trong VBVH đó lại có một đời sống riêng

Giao tiếp trong sinh hoạt đời sống, ngôn ngữ tự nhiên của con người đã

có diễn cảm Thường đó là lời nói đơn nghĩa, nghĩa tường minh Cũng có thể

có nghĩa hàm ẩn, nhưng do ngữ cảnh nhất định nên người nghe dễ dàng nhận

ra nghĩa hàm ẩn đó

Văn bản văn học được kiến tạo bằng ngôn ngữ hình tượng Nói cáchkhác, ngôn ngữ trong VBVH là ngôn từ nghệ thuật mang thông tin thẩm mĩnên có nghĩa hàm ẩn Thậm chí còn có nhiều tầng nghĩa được kiến tạo nên từcác tầng bậc kết cấu của VBVH

Ví dụ: * Trường Sơn đông nắng tây mưa

Ai chưa đến đó như chưa rõ mình

Tầng nghiã 1: Trường Sơn của hành trình kiến tạo (nghĩa định danh):

có sườn bên đông thường nắng, sườn bên tây lại mưa

Tầng nghĩa 2: Trường Sơn trong trường hợp xác định, trong cấu tạođiều kiện - kết quả là biểu hiện về tinh thần hi sinh gian khổ; là biểu hiện conngười lịch sử, biến lượng thành chất cho thơ Trường Sơn là con đường huyếtmạch trong công cuộc chống Mĩ cứu nước, là nơi “thử lửa” của đồng bào,chiến sĩ ta

Dấu hiệu của nghệ thuật thơ: (chưa đến/chưa rõ) có thể được sinh ra từ một hoặc những yếu tố đã biết : (đông nắng/tây mưa) dấu hiệu nghệ thuật thơ

hàm chứa năng lượng thông tin thẩm mĩ, hướng tới phát hiện hoặc triển khaihình tượng trên những bình diện mới

* Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” – nhà văn Tô Hoài đã miêu tả

âm thanh của tiếng sáo đêm xuân như một thứ thuốc “gọi hồn” Nhà văn đã hơn sáu lần miêu tả các trường độ âm thanh của tiếng sáo Có lúc “tiếng sáo gọi bạn đầu làng”văng vẳng từ xa, có khi “tiếng sáo vọng lại thiết tha bồi hồi” mỗi lúc một gần hơn, có lúc tưởng như sắp nắm bắt được thì tiếng sáo lại tuột khỏi tầm tay Mị và “lửng lơ” bay ngoài đường có khi nó “rập rờn”

trở thành trong sâu thẳm tâm hồn từng thanh âm của tiếng sáo với nhữngcường độ và cao độ khác nhau khi trầm bổng, khi xa khi gần là tiếng đời, khi

là tiếng lòng cứ không thôi thổn thức, dậy lòng trong lòng Mị Tiếng sáo là

biểu tượng của quá khứ tươi đẹp, là âm hưởng của “một thời xa vắng” đã bị

Mị lãng quên trong những mùa đông dài đầy “giông tố” của cuộc đời Từng

Trang 22

tiếng sáo như rót tâm sự vào lòng Mị Nó bồi hồi, quyến rũ, nó réo rắt mời Mị

thoát khỏi hiện tại cay đắng về lại ngày xưa – cái thời : “ có biết bao người

mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị” Lúc này đây, Mị cũng như Huệ Chi trong tiểu thuyết “Cửa biển” của nhà văn Nguyên Hồng, cũng đang sống trong mộnh du cứ “vùng bước đi” theo tiếng gọi huyễn hoặc thân quen, và

tiếng sáo kia đã trở thành tiếng gọi của Mẹ, tiếng gọi của tình người, tình đời,tiếng gọi của sự sống Có thể nói tiếng sáo đã trở thành nhịp cầu nối giữahiện tại đau khổ với quá khứ tươi đẹp, là con thuyền đưa Mị về với bến xưadẫu chỉ là trong tâm tưởng Cùng với cảnh sắc Hồng Ngài khi Xuân về vàmen rượu, tiếng sáo đã cộng hưởng, làm thức tỉnh ý niệm về sự sống, sự tồntại trong Mị Nhà văn Tô Hoài đã rất tài tình khi dung các trường độ, độ caothấp của âm thanh tiếng sáo để diễn tả các cung bậc tâm trạng, sự sáo trộn

trong tâm tư Mị và giúp người đọc khám phá chiều sâu nội tâm nhân vật

Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi

Quả pao rơi rồi, tình đầu mất và tuổi xuân của Mị cũng bị đời bỏ vàocái hố sâu Nhưng với bàn tay yêu thương, giàu tình nhân đạo, nhà văn TôHoài đã nâng Mị dậy, giúp Mị tìm lại sức sống ngày xưa

* Nhẹ nhàng và tinh tế, mơ màng và sâu lắng, những thiên truyện ngắncủa Thạch Lam cứ đi vào lòng ta, thấm đẫm trong ta bao cảm xúc khó quên

Có khi chỉ là một chi tiết truyện, chỉ một “hột sáng” nhỏ bé thôi nhưng cũng

có sức ám ảnh thật sâu sắc “Hai đứa trẻ” - ở đó màu đen, bóng tối bao trùm ngự trị tất cả: “đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối, tối hết cả,con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà Các ngõ vào làng lại còn sẫm đen hơn nữa” Bóng tối là gam màu chủ đạo của bức tranh

phố huyện u ám Trên cái phông nền ấy là những thứ ánh sáng nhỏ bé cứ hiện

ra và yếu dần từ đầu đến cuối thiên truyện Khi chiều tà có màu “đỏ rực như lửa cháy” của mặt trời Ánh mặt trời tắt, ánh sáng còn lại ở những ngọn đèn.

Rồi yếu hơn chỉ còn là ánh đom đóm trên đồng và ánh sao yếu ớt giữa thinhkhông Ánh sáng nào cũng giàu sức gợi nhưng không hiểu sao cái ánh sáng từngọn đèn chị Tí cứ ám ảnh ta, bắt ta phải day dứt, phải suy nghĩ mãi khôngthôi

Ánh sáng của ngọn đèn chị Tí nhỏ bé lắm, cứ lay lắt cháy và chỉ đủ sức

“chiếu sáng một vùng đất nhỏ” Một chấm sáng giữa đêm tối trong không

gian hiu quạnh vắng vẻ, nó càng cố gắng sáng lên thì chỉ càng làm cho bóngtối thêm đậm nét hơn mà thôi!

Chỉ có vậy ư? Ánh sáng ngọn đèn ấy như những khe sáng, hột sáng,những vệt sáng mà thôi! Không phải ngẫu nhiên mà ngọn đèn của hàng nướcchị Tí cứ trở đi trở lại tới bảy lần trong mấy trang truyện ngắn như một biểutượng đầy ám ảnh về những kiếp sống nhỏ nhoi, lay lắt vô nghĩa giữa đêm tốimênh mông của cuộc đời Ngọn đèn leo lét và kiếp sống của mẹ con chị phảichăng là điển hình cho cuộc sống quẩn quanh, ngoi ngóp nơi phố huyệnnghèo này? Ngày thì mò cua bắt tép, cứ đêm đến lại đội cái chõng tre tàn ra

Trang 23

sân ga bày hàng nước bán Đã biết là không bán được gì, mà vẫn cứ phải đi!

Đó đâu phải là sống, đó chẳng qua là sự cầm chừng, cầm cự trong vô vọng.Không chỉ riêng chị Tí, ở nơi ấy còn có những cư dân kiếm sống ban đêmkhác Mỗi người đều mang theo một ngọn đèn và chính cuộc đời họ cũng như

những ngọn đèn tù mù ấy “Ngọn đèn và ánh lửa cuộc đời” thật yếu ớt và tội

nghiệp gợi lên niềm xót xa thương cảm trong lòng người đọc trước một cảnhsống mỏi mòn và ngưng đọng Phố huyện đêm nay giống như đêm qua vàđêm mai cũng vậy: mẹ con chị Tí lại lễ mễ dọn hàng, bác phở Siêu lại gánhhàng ra và thổi lửa, bác xẩm lại rải chiếu và bày cái thau sắt Phố huyệngiống như một sân khấu cuộc đời, chỉ độc diễn một màn buồn bã không có sựthay vai đổi cảnh Đó là nhịp sống quẩn quanh, tù đọng uể oải và buồn tẻ : “

Quanh quẩn mãi cũng vài ba dáng điệu Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người” (Huy Cận) Thắp lên ngọn đèn, ít nhất chị Tí cũng tạo lên một thứ

ánh sáng nơi u ám, tăm tối này Hơn thế nữa, ngọn đèn đã thay lời nói lênmột khát khao trong họ dù rất nhỏ bé: hi vọng chút ánh sáng nhỏ nhoi ấy sẽxua đi bóng tối, mang lại cho họ một cuộc sống khác tươi đẹp hơn, đáng sốnghơn (dù trong vô vọng) Đáng thương biết bao!

Có ai đó đã nói rằng: “ Truyện ngắn Thạch Lam như một bài thơ trữ tình trong đó có những chi tiết giữ vai trò như nhãn tự bài thơ” Ngọn đèn dầu nơi

quán nước chị Tí lã một chi tiết như thế Nó là một sáng tạo nghệ thuật đặcsắc của Thạch Lam, gieo vào lòng ta một nỗi xót thương vô hạn đối vớinhững kiếp người nhỏ bé, vô danh, bị chôn vùi nơi phố huyện và hơn bảythập kỉ qua, nó vẫn là một ám ảnh sâu sắc mãi không thôi đối với nhiều thế hệbạn đọc Bởi hơn hết ngọn đèn ấy được vẽ nên bằng cả tài năng nghệ thuật vàtấm lòng nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam

Văn bản văn học là một sản phẩm ngôn bản của hình thức giao tiếp đặc

biệt VBVH cũng có những chức năng như những ngôn bản khác “Song vấn

đề chủ yếu là ở mối tương quan giữa các chức năng Chức năng chủ yếu quyết định trong tất cả các phong cách ngôn ngữ vẫn là chức năng giao tiếp Những phẩm chất thẩm mĩ trong giao tiếp hằng ngày nếu có cũng chỉ đóng vai trò phụ thuộc thứ yếu Còn trong ngôn ngữ nghệ thuật - tác phẩm văn học thì chức năng thẩm mĩ xuất hiện ở bình diện thứ nhất, nó đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai” (Bônđalêtốp).

Đọc diễn cảm thường hướng tới đối tượng nghe là học sinh trong nhàtrường Người đọc phải tạo dựng được mối quan hệ khăng khít giữa nhà văn(VBVH) với người nghe (HS) Do đó, đọc diễn cảm được chia thành hai côngđoạn: đọc hiểu VBVH (cảm thụ, hiểu biết về VBVH); đọc diễn cảm (truyềnthụ, hiểu biết người nghe) Chính vì vậy, đọc diễn cảm tốt nhất là được thựchiện trong giờ Văn và Tiếng Việt Đọc diễn cảm trong các giờ Văn trước hết

là để tạo tâm thế cho HS khi bước vào tìm hiểu VBVH Thông qua việc ngheđọc diễn cảm, HS có ấn tượng và cảm nhận chung về VBVH Tiếp theo, đọcdiễn cảm giúp việc phân tích VBVH trở nên sinh động, truyền cảm, giúp cho

Trang 24

việc cảm nhận văn học được tốt hơn, giúp cho việc hiểu biết nghệ thuậtVBVH được tốt hơn, tạo ra sức hấp dẫn và hiệu quả trong giờ Văn Đọc diễncảm trong giờ Tiếng Việt làm cho HS thấy rõ sự phong phú và khả năng vậndụng ngôn ngữ dân tộc vào các lĩnh vực Đồng thời các em còn thấy được sựphong phú, vẻ đẹp của ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, góp phần giữ gìn và bảo vệ sựtrong sáng của tiếng Việt.

1.1.2.4 Cơ sở nghệ thuật của đọc diễn cảm

Nghệ thuật được hiểu khái quát theo định nghĩa của nhà văn Nga Lép

Tônxtôi: “Nghệ thuật là hoạt động của con người thể hiện ở chỗ: một người, bằng những tín hiệu bên ngoài đã biết, truyền đạt một cách có ý thức những tình cảm mà mình xúc động cho những người khác, còn những người khác nhiễm lây những tình cảm đó và xúc động vì chúng”.

Dạy Văn là một hoạt động tích hợp nhiều loại hình nghệ thuật: nghệthuật âm nhạc (nhạc điệu trong thơ văn, những bài thơ được phổ nhạc, nhữngtác phẩm âm nhạc cùng đề tài), nghệ thuật hội hoạ (tính tạo hình trong vănthơ, tranh ảnh minh hoạ, những tác phẩm hội hoạ cùng đề tài), nghệ thuật sânkhấu, nghệ thuật điện ảnh,…Mỗi loại hình nghệ thuật được tích hợp đều cómột hiệu quả nhất định trong giờ Văn Đọc diễn cảm cũng là một nghệ thuật.Trong dạy học Văn, đọc diễn cảm là một nghệ thuật mang tính độc lập Đọcdiễn cảm là một loại hình diễn xướng Bản chất của đọc diễn cảm là thể hiệnsáng tạo văn bản văn học trong giọng đọc, tác động đến người nghe bằng âmthanh ngôn ngữ, có hỗ trợ yếu tố phi ngôn ngữ như nét mặt, ánh mắt, điệu bộ.Đọc diễn cảm được sử dụng nhiều trong giờ Văn: đọc diễn cảm đầu giờ học,đọc diễn cảm từng đoạn trong quá trình đọc hiểu văn bản văn học, đọc diễn

cảm cuối giờ học ở hoạt động Luyện tập Đọc diễn cảm có sức hấp dẫn đặc

biệt bởi nó tác động trực tiếp tới sự cảm nhận của HS về VBVH không qua sự

so sánh như các loại hình nghệ thuật khác Từ “diễn cảm” có chứa một ý

nghĩa là diễn xuất, là thể hiện ra bên ngoài những cảm xúc Khi GV đọc diễncảm, HS được sống trong không khí thưởng thức nghệ thuật một cách trựctiếp do người thầy của mình mang lại trong sự ngưỡng mộ, tôn trọng ngườithầy Vì vậy, giờ học sẽ hào hứng, sinh động đối với các em

Giáo viên khi đọc diễn cảm vừa đóng vai nhà văn sáng tạo nên tácphẩm lại vừa đóng vai người diễn viên trên sân khấu Hoạt động sáng tạo củangười đọc là tái tạo lại VBVH theo cảm nhận của mình, có sự đồng sáng tạovới tác giả Từ đó, qua tưởng tượng về hình tượng trong VBVH, người đọcxác định tính chất biểu cảm của lời văn để thể hiện ra bằng ngữ điệu

Nước ta chưa có nghệ sĩ chuyên nghiệp đọc trước công chúng với tưcách biểu diễn nghệ thuật đọc, vì thế đọc diễn cảm trong nhà trường cũngkhông được thừa hưởng nhiều sự hỗ trợ của các nghệ sĩ chuyên nghiệp

Các nghệ sĩ đọc nghệ thuật trong đĩa hát, băng ghi âm, đài truyền hình

là đọc nghệ thuật, mang tính trình diễn, có sử dụng kết hợp nhiều cử chỉ điệu

bộ Điều đó cũng không thích hợp với đọc diễn cảm trong nhà trường Bởi họ

Trang 25

đọc thoát li văn bản (thuộc lòng) Đọc diễn cảm trong nhà trường của thầy vàtrò có nhìn vào văn bản, sử dụng ngữ điệu là chính, các yếu tố phi ngôn ngữchỉ là hỗ trợ mà thôi Việc đọc của người thầy trong giờ văn không thể thaythế được bằng các băng đĩa Băng đĩa chỉ để tham khảo, so sánh, hoặc làmmẫu đọc diễn cảm Đọc diễn cảm trong quá trình dạy Văn, dạy tiếng mẹ đẻlàm cho HS thấy rõ mặt âm thanh của ngôn ngữ, chứng minh cho tài nghệ sửdụng ngôn từ của tác giả, giúp các em thấy được tính nhạc của tiếng Việt quaviệc liên kết từ, tổ chức câu đoạn Từ đó, nâng cao năng lực sử dụng ngônngữ của HS Rèn kĩ năng đọc diễn cảm là một quá trình lâu dài và công phu.Người đọc cần có sự say mê, lòng kiên trì luyện tập và phải khổ công thì mớimong có hiệu quả cao.

1.1.3 Vai trò của đọc diễn cảm đối với việc tiếp nhận văn bản văn học của người đọc trong nhà trường

1.1.3.1 Đọc diễn cảm là một phương tiện thâm nhập tác phẩm văn chương, phương tiện nâng cao cảm xúc thẩm mĩ, trí tưởng tượng và nhiều năng lực cần thiết của tư duy nghệ thuật.

Tiếp nhận văn học được xem là hoạt động chiếm lĩnh giá trị tư tưởng,thẩm mĩ của các văn bản văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ,hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệcủa tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ,ảnh hưởng của hoạt động sáng tạo…

Tiếp nhận văn học được xem như là thi pháp ứng dụng, từng bướcchuyển chủ thể tiếp nhận vào chủ thể văn học để người đọc trực tiếp tham gianhững tình huống văn học, tạo điểu kiện để người tiếp nhận được cắt nghĩa,thể nghiệm, nếm trải, chia sẻ và tạo nên sự đồng cảm nghệ thuật; đồng thờitiếp nhận cũng bộc lộ một số phương diện về thiên hướng, năng lực thẩm mĩ

và phẩm chất của mình Để thực hiện quá trình đó, chủ thể tiếp nhận khôngchỉ dựa vào những phân tích văn bản ngôn từ một cách máy móc rồi khái quátlại giá trị hay ý nghĩa của tác phẩm, bởi thực chất của tiếp nhận văn học làmột cuộc giao tiếp đặc biệt giữa người đọc và nhà văn qua tác phẩm Ở đâychủ thể tiếp nhận cần có phẩm chất tưởng tượng và có cảm xúc Vai trò củatưởng tượng trong tiếp nhận VBVH cần được đề cao tuyệt đối Theo lí thuyếttiếp nhận, cảm xúc thẩm mĩ vừa là chất xúc tác, vừa là động lực thúc đẩy quátrình liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo Cảm xúc thẩm mĩ tạo ra hưng phấn vàđộng cơ sáng tạo tích cực trong tiếp nhận văn học Khi người đọc tác độngqua lại với một văn bản, họ đã tham gia quá trình sáng tạo ý nghĩa - đó là lớpnghĩa cá nhân trong mức độ có màu sắc của các liên tưởng cá nhân và cáckinh nghiệm Loại hình lao động đọc diễn cảm là loại hình lao động đặc biệt.Đọc diễn cảm mang tính khoa học đồng thời là một nghệ thuật Nó là mộtkhoa học nhận thức VBVH, nó cũng là nghệ thuật cảm thụ và truyền đạt cáihay, cái đẹp của VBVH cụ thể theo một yêu cầu nhất định Nó đòi hỏi phải cómột năng lực có tính chất tổng hợp cao trong mọi năng lực của người thầy.Đây là điều khác biệt giữa cơ chế đọc diễn cảm VBVH của người thầy với

Trang 26

đọc văn của độc giả thụng thường Đọc diễn cảm đối với GV, ngoài những tốchất của một độc giả thụng thường cũn phải thường trực tố chất nhạy cảm,tinh tế của người cú khả năng tớch luỹ kiến thức và khả năng chuyển hoỏ.

Qỳa trỡnh thõm nhập VBVH trong nhà trường đũi hỏi phải tỏihiện hỡnh tượng văn học trong văn bản Để tỏi hiện được hỡnh tượng văn họctrước hết bạn đọc phải đọc VBVH Vậy đọc VBVH như thế nào? Đọc như thếnào để tỏi hiện được VB và đọc thế nào là đó tỏi hiện được hỡnh tượngtrongVB? Đọc văn đang là một vấn đề nghiệp vụ bộ mụn thu hỳt tõm trớ củacỏc GV dạy Ngữ văn muốn nõng cao hiệu quả giờ dạy Ngữ văn Đọc diễncảm như vậy khụng cũn là một tiểu xảo, một thủ thuật dạy học mà trở thànhmột phương phỏp dạy học cú tớnh khoa học và tớnh nghệ thuật cao

Đọc diễn cảm là một nghệ thuật: “Nghệ thuật đọc diễn cảm là nghệ thuật biến ngụn ngữ viết cõm lặng thành ngụn ngữ sống động cú hỡnh ảnh, tức là ngụn ngữ cú õm thanh chứa đầy tư tưởng tỡnh cảm” (ễndarxki, Âm nhạc lời núi sinh động) Giọng đọc diễn cảm giỳp người nghe thõm nhập VBVH VBVH được thể hiện trong giọng đọc “thực hiện ảnh hưởng của mỡnh đến mức tối đa”, giỳp cho người nghe nõng cao cảm xỳc thẩm mĩ, trớ tưởng tượng và nhiều năng lực cần thiết khỏc của tư duy nghệ thuật “Đọc diễn cảm bắt buộc phải chỳ ý khụng chỉ đến toàn thể mà cũn đến mỗi từ riờng biệt, mỗi cõu cụ thể, tỡm thấy trong chỳng những sắc thỏi ý nghĩa và mối quan hệ rừ rệt và như thế, cho chỳng ta sức mạnh phõn tớch, một sức mạnh khụng bao giờ cú được đối với những ai chỉ đọc thầm cho mỡnh”

(Rứtnhicụva)

Đối với người nghe, khi nghe đọc họ cũn chỳ ý theo dừi văn bản, như

vậy bờn cạnh tỏc giả, họ cũn cú thờm một người bạn đối thoại, người “đồng cảm với tỏc giả”, người thay “mặt cho tỏc giả”.

Với đặc trưng và bản chất của văn học nờn vấn đề đọc hiểu và đọc diễncảm luụn là một vấn đề thời sự trong nhà trường

Muốn thõm nhập, lĩnh hội TPVC khụng cú con đường nào khỏc là đọc.Đọc cho chớnh mỡnh nghe nhằm nõng cao hiểu biết, tiếp thu thụng tin, tớch luỹtri thức, hoà mỡnh với cuộc sống đương đại Đọc là nhu cầu xó hội, nhu cầugiải trớ, hưởng thụ văn hoỏ, làm cõn bằng đời sống cỏ nhõn, đồng thời trảinghiệm thanh lọc mỡnh qua những dũng đọc

Đọc tỏc phẩm văn học là hoạt động sỏng tạo Đú là hoạt động đồng sỏngtạo với tỏc giả Sỏng tạo trong TPVH là để cho người đọc, để nghe ngườikhỏc đọc

Trong tác phẩm văn học, tác giả không thể nói hết mọi điều, mà luôn luôndành phần cho ngời đọc “cùng sáng tạo” Một tác phẩm có giá trị là tác phẩm

có sức gợi lên trong ngời đọc thởng thức những liên tởng, tởng tợng, hồi ức,suy nghĩ Trong liên tởng, tởng tợng ngời thởng thức phảo dựa vào vốn sốngcủa bản thân và những vấn đề của thời đại mình; bằng cách ấy, ngời đọc táihiện trong tâm hồn mình nội dung tác phẩm Đặc điểm này khiến cho tácphẩm có nội dung vô hạn và hình tợng nghệ thuật luôn tơi trẻ mãi

Trang 27

Nhờ sự “cùng sáng tạo”, sự hoà hợp kinh nghiệm này của tác giả với

người đọc mà đã xảy ra cái điều kì diệu trong cảm thụ nghệ thuật; câu chuyệnngười xưa trở thành chuyện người nay, tác phẩm xa lạ trở thành gần gũi, quenthuộc, nội dung ở bên ngoài người đọc chuyển hoá thành nội dung của bảnthân người đọc Tác phẩm nhờ đó thấm vào chiều sâu tâm hồn

Trong quá trình dẫn dắt học sinh phát hiện những nét đẹp, ý hay của tácphẩm, GV nên dành thời gian, tạo điều kiện, khéo gợi cho HS nói lên đượcnhững xúc động, cảm nghĩ thực của mình Cũng có thể tạo tình huống để HStranh luận với nhân vật, với tác giả, với nhau Qua xúc động thẩm mĩ do tácphẩm đem tới (xúc động này chỉ có thể do cái hay, cái đẹp trực tiếp tạo nên),tình cảm và tư tưởng HS được rèn luyện trở nên trong sáng hơn, tâm hồnđược nâng lên cao đẹp hơn

Tính chân thật,, tính khách quan trong cảm thụ văn học là do lập trườngcủa lực lượng xã hội tiến bộ, của nhân loại quy định Từ đó mới có thể đemánh sáng mới của thời đại soi vào tác phẩm, phát hiện ra ở đó vẻ đẹp mới vànội dung mới

Mỗi người đọc là một cá thể Sự cảm thụ của mỗi người do dó cũng cósắc thái riêng Và những cái chung của thế hệ, giai cấp, dân tộc, thời đại lạiđược biểu hiện ra ở mỗi cá nhân trong cái sắc thái riêng ấy của mỗi người.Chính cái cơ chế cảm thụ ấy tạo nên sự phát triển phong phú vô cùng của tácphẩm, vượt ra ngoài khuôn khổ ý muốn chủ quan của tác giả Vì có sự pháthiện, bổ sung, nên khi hướng dẫn HS tái hiện hình tượng, GV cần hiểu rằnghình tượng không chỉ sống lại như cũ mà chừng mực nào đó hình tượng sốngcuộc sống mới, đẹp hơn, mở rộng hơn trong sự hoà hợp kinh nghiệm của tácgiả với kinh nghiệm của GV – HS của thời đại ngày nay

GV cần gần gũi, gắn bó với HS, hiểu biết những suy nghĩ, băn khoăn,ước mơ, khát vọng của các em, từ đó giúp các em tiếp thu chân lí thời đại màvận dụng, tìm hiểu và cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm, để các em soimình vào đó tự phát hiện trong bản thân mình những nét cần phát huy haykhắc phục GV tạo điều kiện cho các em nói lên những suy nghĩ, những vấn

đề của thế hệ mình do tác phẩm gợi ra

Ai về Hưng Hoá,

Ai xuống khu Ba,

Ai vào khu Bốn,

Đường ta đó tự do cuồn cuộn,

Bốt đồn Tây đã cuốn sạch rồi”

(Tố Hữu)

Theo Chế Lan Viên, những câu thơ trên của Tố Hữu, nếu: “ Phân tích theo cái lối hình thức, hay nói cách khác là tách rời hình thức và nội dung, thì cả đoạn chỉ là những tên địa danh kèm theo ở đầu một chữ Ai Nhưng hãy đọc to lên, ta sẽ thấy nhạc điệu ở đây tạo ra cho ta một tình cảm rất sâu: đó là lòng yêu đắm say đất nước, yêu như tát mãi không cạn, gọi mãi không cùng, yêu

Trang 28

như muốn nêu mãi tên lên mà gọi, chỉ một cái tên thôi cũng đủ chấn động lòng rồi Mỗi tiếng “Ai” kia như đào sâu thêm tình yêu ở đó”.

Tố Hữu không nói trực tiếp tấm lòng yêu nước đắm say này lên bằng lời,nhưng đoạn thơ đã truyền được trực tiếp xúc động yêu nước sâu sắc ấy vào

tâm hồn người đọc, “ vì đằng sau cái nhạc điệu dân tộc, sau âm thanh là có

cả tâm hồn”.

Không trực tiếp với đoạn thơ nói trên, không đọc to nó lên thì làm sao tiếpxúc được với cái tâm hồn, cái tình cảm rất sâu đằng sau các âm thanh tiết tấuấy

Tác phẩm lớn bao giờ cũng chứa đựng những sự thực lớn của cuộc đời vàtâm hồn lớn của nhà văn Người đọc muốn làm môi giới cho cái cao đẹp trongtác phẩm với cái cao đẹp của cuộc sống đang diễn ra; để tổng hợp những cái

ấy lại trong tâm hồn mình thành một nội dung có tính thẩm mĩ sinh độngđúng đắn thì cần phải: một mặt đi sâu vào cuộc sống, chăm lo cho tâm hồnmình vươn lên kịp yêu cầu của cuộc sống thời đại, mặt khác phải bám sát tácphẩm, đi sâu vào tác phẩm với cả trí tuệ, tâm hồn và vốn sống của mình

Tác động của tác phẩm văn học đa dạng, linh hoạt, bất ngờ Cái đẹp, với

khả năng “thanh lọc” tâm hồn người thưởng thức, không chập nhận sự gò bó,

rập khuôn trong sự sáng tạo của nó cũng như trong cách giải quyết nó Vì vậykhông nên đòi hỏi HS liên hệ chung chung, đồng loạt

Phạm Khắc Hoè, một nhân sĩ trí thức kể rằng sau CMT8 ông gặp Tố Hữu

và rất thích bài “Tiếng hát sông Hương”: “Tôi đã chép vào sổ tay bài thơ này

mà đầu đề, nhạc điệu và lời văn đã hấp dẫn tôi, còn nội dung tư tưởng thì lúc

đó tôi cho là quá lãng mạn, đầy ảo tưởng” 18 tháng sau ông bị Pháp quản chế ở Hà Nội và Đà Lạt: “Dưới vòm trời xanh biếc của một ngày xuân Đà Lạt, ngồi bên hồ Than Thở, đọc đi đọc lại mấy câu thơ trên, viết từ 1938, tôi

đã không cầm nổi nước mắt, một phần vì cảm thông với tiếng kêu tuyệt vọng của cô gái sông Hương, nhưng một phần rất lớn là vì lời giải đáp trên đầy tin tưởng, chứa chan hi vọng cao đẹp của nhà thơ cộng sản đã đi vào tận đáy tâm hồn mình đang khao khát tự do, hạnh phúc, chính nghĩa” (Lần thứ nhất,

bài thơ chỉ có ý nghĩa và giá trị về mặt âm thanh Lần thứ hai, ý nghĩa đã đivào chiều sâu tâm hồn)

1.1.3.2 Đọc diễn cảm là một phương tiện giáo dục đạo đức và thẩm mĩ

Giáo dục đạo đức là giáo dục những phẩm chất tốt đẹp để hoàn thiệnnhân cách con người với các đức tính như chân, thiện Giáo dục thẩm mĩ làgiáo dục năng lực cảm thụ, tiếp nhận toàn diện và hiểu đúng cái đẹp trongmôi trường hiện thực xung quanh: trong thế giới tự nhiên, trong đời sống xãhội, trong tác phẩm nghệ thuật Văn học thực hiện ba chức năng của mình lànhận thức, giáo dục và thẩm mĩ Tiếp nhận văn học đòi hỏi bạn đọc phải cóniềm say mê, hứng thú HS trong giờ học văn cần có hứng thú, một trongnhững tiền đề tạo hứng thú cho các em là đọc diễn cảm

Để đọc diễn cảm tốt không phải chỉ chú ý rèn luyện mặt phát âm, trauchuốt phương tiện biểu cảm mà còn là quá trình rèn luyện đi từ tìm hiểu

Trang 29

VBVH, đọc thầm và đọc thành tiếng để năm bắt chủ đề tư tưởng của VBVH.Nói cách khác, đọc diễn cảm là kết quả, là giai đoạn cuối, giai đoạn thể hiện

sự cảm nhận tác phẩm Để đọc diễn cảm được, người đọc cần có giai đoạnchuẩn bị đọc diễn cảm Giai đoạn chuẩn bị đọc là cần thiết, không thể thiếuđược để đi vào chiều sâu của tác phẩm, để chiếm lĩnh tác phẩm Chính tronggiai đoạn chuẩn bị này, người đọc nhận thức được đầy đủ về ngôn ngữ nghệthuật, hình tượng ngôn từ và ý đồ nghệ thuật của tác giả, cảm thụ và có xúccảm tự nhiên với tác phẩm đồng thời tìm ra, nắm bắt được các yếu tố hìnhthức nghệ thuật của tác phẩm như ngôn ngữ nghệ thuật (âm, vần, tiếng, từ),kết cấu câu, đoạn, tác phẩm, biện pháp, thủ pháp nghệ thuật,…Giai đoạnchuẩn bị đọc diễn cảm có vai trò to lớn trong việc giáo dục những năng lựctiếp thu thẩm mĩ tác phẩm Để HS cảm thụ được tác phẩm qua giọng đọc diễncảm của GV trong dạy Văn, HS bắt buộc phải chuẩn bị bài: đọc VBVH, trảlời những câu hỏi đọc hiểu trong sách giáo khoa, những câu hỏi bổ sung của

GV (thường là câu hỏi xoáy vào điểm sáng thẩm mĩ), đọc thêm tư liệu thamkhảo HS sẽ đi từ hiểu tới cảm và ngược lại, khi có cảm thụ tác phẩm các em

sẽ lại hiểu sâu sắc thêm tác phẩm Có như vậy việc nghe đọc diễn cảm mới cóhiệu quả cao về giáo dục đạo đức và thẩm mĩ

Đọc diễn cảm hay khi người đọc thật sự làm giàu thêm sức cảm thụ củanhững người nghe Đọc như vậy có một sức mạnh to lớn không gì có thể thaythế được Tuy nhiên để cảm thụ VBVH thì không phải chỉ có đọc diễn cảm

mà còn phải kết hợp với các phương pháp khác Trong dạy Văn ở nhà trườngphổ thông, GV phối hợp sử dụng nhiều phương pháp, biện pháp để giờ dạyđạt hiệu quả cao: phương pháp so sánh văn học, phương pháp giảng bình,phương pháp đọc sáng tạo, phương pháp phân tích văn học, phương pháp nêu

và giải quyết vấn đề, phương pháp tái tạo, phương pháp gợi mở,…Đọc diễncảm là giai đoạn đầu để thực hiện các phương pháp khác, đọc diễn cảm cũng

là giai đoạn đầu để giáo dục đạo đức và giáo giục thẩm mĩ Đọc diễn cảm sẽgiúp việc tổ chức hoạt động nhận thức của HS được tập trung hơn Trong khigiáo dục đạo đức, giáo dục năng lực cảm thụ thẩm mĩ thông qua VBVH, việcđọc diễn cảm sẽ làm tăng thêm và làm sâu sắc thêm sự xúc cảm Người đọccần phải “chân thành rung cảm với nhà thơ những cảm xúc cao độ tràn ngậptâm hồn nhà thơ…phải cảm thụ từng lời nói của nhà thơ bằng cả trái tim vàbằng cả tâm hồn” mà bản thân VBVH tạo nên Thông qua đọc diễn cảmVBVH, người đọc - người nghe HS có sự rung cảm, biết yêu trước cái thiện,cái tốt, biết ghét những cái xấu, cái ác Sự rung cảm như vậy sẽ có tác độngsâu sắc và đúng đắn hơn bất cứ lời răn dạy nào Đọc diễn cảm còn cho các emcảm thụ được cái đẹp của văn học, thêm yêu thích và say mê văn học, nảysinh khao khát muốn đọc diễn cảm VBVH mà mình rung động Qúa trìnhnày bồi đắp tâm hồn các em, phát triển những tình cảm đạo đức thẩm mĩ củacác em đồng thời phát triển kĩ năng đọc diễn cảm Đây cũng chính là quá trìnhhình thành và phát triển khả năng hoạt động nghệ thuật, khả năng sáng tạonghệ thuật của HS

Trang 30

CHƯƠNG II (LƯỢC)

* Sách giáo khoa - tài liệu dạy đọc diễn cảm của trường THCS

Sách giáo khoa Ngữ văn THCS hiện nay được biên soạn theo hướngtích hợp, nội dung gồm cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn Cácbài học Ngữ văn được sắp xếp theo đơn vị bài học/tuần, mỗi tuần là bốn tiết,riêng lớp 9 là năm tiết, có đủ cả ba phân môn Hệ thống văn bản đọc của phầnVăn được lựa chọn thích hợp, tiêu biểu theo trục văn bản được dạy ở Tập làmvăn: tự sự, miêu tả, nghị luận, biểu cảm, thuyết minh, ngoài ra còn có một sốvăn bản nhật dụn đáp ứng yêu cầu cập nhật những vấn đề thời sự bức thiếtcủa cuộc sống

Các văn bản đọc được xếp theo khối lớp như sau:

Lớp 6:

SỰ

TRỮTÌNH

KỊCH NGHỊ

LUẬN

NHẬTDỤNG

1 Con Rồng cháu Tiên x

9 Ông lão đánh cá và con cá vàng x

10 Ếch ngồi đáy giếng x

12 Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng x

17 Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng x

18 Bài học đường đời đầu tiên x

20 Bức tranh của em gái tôi x

22 Buổi học cuối cùng x

Trang 31

5 Những câu hát về tình yêu quê

hương đất nước, con người

x

18 Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh x

19 Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về

Trang 32

23 Tiếng gà trưa x

27 Tục ngữ về thiên nhiên và lao

động sản xuất

x

29 Tinh thần yêu nước của nhân dân

9 Thông tin về trái đất năm hai

ngàn

x

13 Vào nhà ngục Quảng Đông cảm

Trang 33

12 Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt

Trang 34

25 Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ

mới

x

26 Chó sói và cừu trong thơ ngụ

ngôn của La Phông-ten

34 Nhữg ngôi sao xa xôi x

35 Rô-bin-sơn ngoài đảo hoang x

CHƯƠNG 3:

XÂY DỰNG QUY TRÌNH KĨ THUẬT ĐỌC DIỄN CẢM

Quy trình đọc diễn cảm được xây dựng trên những cơ sở lí luận và thựctiễn của đọc diễn cảm Để đọc diễn được một bài văn, trước hết người đọc

Trang 35

phải nắm được thứ chữ mà văn bản đọc được viết Nghĩa là người đọc phải cómột trình độ đọc lưu loát Đối với đối tượng người đọc là SV Văn, việc đọc ởmặt giải mã các kí hiệu chữ viết thành tín hiệu âm thanh đã ở trình độ cao,gần như ở giai đoạn tự động của kĩ năng đọc thành tiếng Vấn đề mà SV cầnquan tâm là trước khi cất tiếng đọc diễn cảm thì cần phải chuẩn bị như thế nào

để đọc tốt Không phải cứ có chất giọng tốt là đọc diễn cảm tốt Không phải

cứ có sự hiểu biết về nội dung đọc là đọc diễn cảm tốt Đứng trước mộtVBVH, người đọc không thể định ra ngữ điệu và giọng đọc ngay từ đầu Cầnphải có những nguyên tắc khi đọc diễn cảm Đó là những nguyên tắc: nghiêncứu tác phẩm; tìm hiểu nội dung tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật của tácphẩm; tính khuynh hướng, hiệu quả của lời nói; hiểu nhiệm vụ trình bày của

mình (theo K.X.Xtanhixlapxki, Nghệ thuật cảm xúc).

Như vậy, một trong những nguyên tắc đầu tiên khi đọc diễn cảm làngười đọc cần hiểu rõ những gì mình đọc trong VBVH để truyền đạt đếnngười nghe khi đọc Từ đây chúng ta thấy cần phải tìm hiểu VBVH trước khiđọc diễn cảm Dựa trên nguyên tắc hiệu quả của lời nói, nhiệm vụ trình bàycủa người nói mà chúng tôi xây dựng nên các kĩ thuật đọc diễn cảm

Hai quá trình đọc hiểu và đọc diễn cảm gắn bó mật thiết với nhau Hiểusâu sắc, đánh giá đúng đắn, chính xác và sinh động VBVH cần đọc thì mớiđọc diễn cảm tốt, nhằm truyền đạt được đúng nội dung cụ thể, các biến cố,hình ảnh, tình cảm trong tác phẩm, ý đồ của tác giả đến người nghe để ngườinghe cũng hiểu và đánh giá chúng một cách đúng đắn Đọc diễn cảm mộtcách tinh tế và nhạy cảm phải trên cơ sở đọc hiểu Không hiểu sâu sắc thấuđáo tác phẩm sẽ không thể đọc có hiệu quả tốt Đọc diễn cảm không tốt sẽlàm giảm đi sự cảm thụ, thưởng thức VBVH

Khi đã hiểu văn bản đọc, người đọc cần luyện đọc, đọc đi đọc lại để thểhiện sự truyền đạt tư tưởng tình cảm mà mình cảm nhận đến được với ngườinghe Và cuối cùng là đọc trước học sinh - người nghe chính của đọc trongnhà trường Vậy quy trình đọc diễn cảm sẽ diễn ra theo trình tự:

- Luyện đọc thành tiếng

- Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của VBVH

+ Đọc thầm một cách kĩ lưỡng VBVH cần đọc trong giờ Văn

+ Đọc và tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của VBVH

- Đọc diễn cảm

+ Đọc thành tiếng VBVH: luyện đọc diễn cảm có hình tượng

+ Đọc thể hiện trước người nghe

3.1 Quy trình rèn kĩ năng đọc diễn cảm

Trang 36

Đọc đúng có nghĩa là đọc phân biệt từ này với từ khác bằng một quãngngắt nghỉ, không đọc ríu tiếng vào nhau, đọc phân biệt cụm từ này với cụm từkhác, đọc phân biệt câu này với câu khác và đọc đúng ngữ điệu của câu cụthể Đọc sao cho đúng về hình thức vỏ âm thanh của ngôn ngữ, đồng thời thểhiện đúng ngữ nghĩa của câu.

Đọc đúng là phải đọc rõ lời, đọc sao cho tròn vành rõ chữ

Đọc đúng nghĩa là phát âm phải rõ ràng, đảm bảo đúng chính âm Đọckhông bị mất phụ âm đầu hoặc chuyển từ phụ âm đầu này sang phụ âm đầu

khác: “không” thành “hông” Đọc không được phép chuyển phụ âm cuối này sang phụ âm cuối khác: “thành công” thành “thằn công” Đọc không được chuyển dấu thanh này thành dấu thanh khác: “ăn cỗ giỗ” thành “ăn cố giố”.

Đọc đúng là cần tái tạo đầy đủ nội dung ý nghĩa tác phẩm trên cơ sởnắm vững sự thống nhất giữa cái biểu đạt (hình thức nghệ thuật) và cái đượcbiểu đạt (tư tưỏng nghệ thuật) làm nên chỉnh thể toàn vẹn của tác phẩm

Đọc hay là trên cơ sở đọc đúng, biết phối hợp và vận dụng ưu thế chấtgiọng tự nhiên của người đọc phù hợp với nội dung tác phẩm, làm chủ giọngđọc và kĩ thuật đọc phù hợp với giọng điệu cảm xúc của nhà văn và nghĩacủa văn bản

Để luyện đọc thành tiếng được tốt, người đọc cần có những bài tậpluyện đọc về lấy hơi, về giữ giọng, về luyện giọng cho vang, ngân (xem phụlục)

3.1.2 Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của văn bản văn học

3.1.2.1 Đọc thầm kĩ lưỡng để nắm được cấu trúc của văn bản văn học

Muốn tìm hiểu một đối tượng nào đó, phải nắm được bản thân đốitượng đó đựoc tổ chức như thế nào Muốn hiểu một VBVH cũng vậy, ngườiđọc phải hình dung rõ ràng nó được cấu tạo như thế nào, nói cách khác là phảihiểu cấu trúc một VBVH

Mỗi VBVH dù dài hay ngắn, thuộc thể loại nào, đều tồn tại như mộtchỉnh thể Văn bản văn học do nhiều thành tố cấu tạo nên Các thành tố đượcxem xét theo hai hệ thống đối lập mà thống nhất với nhau Đó là nội dung vàhình thức của nó Hai hệ thống thành tố này gắn bó hữu cơ với nhau Nộidung sẽ không tồn tại nếu không có một hình thức biểu hiện nhất định, cụ thể.Hình thức bao giờ cũng có chức năng biểu hiện một nội dung nào đó MộtVBVH hay là văn bản có sự thống nhất cao độ giữa nội dung bên trong vàhình thức thể hiện

* Thành tố nội dung VBVH bao gồm các phương diện: đề tài, chủ đề và

tư tưởng chủ đề.

Đề tài là mảng hiện thực, là đời sống được phản ánh trong tác phẩm.

Mỗi tác giả với sở trường, môi trường của mình sẽ có đề tài quen thuộc của

mình Tác giả Nam Cao thường viết về đề tài nông thôn và nông dân (Chí Phèo, Lão Hạc ), đề tài trí thức tiểu tư sản (Đời thừa, Sống mòn, ) Có những VBVH dễ dàng xác định được đề tài Đề tài của “Tắt đèn” là cuộc sống

Trang 37

cơ cực của người nông dân dưới ách sưu cao thuế nạng của chế độ thực dânphong kiến trước cách mạng tháng 8/1945 Có những tác phẩm không dễ gì

xác định đề tài “Mộ”, một bài thơ trong tập “Nhật kí trong tù” của Chủ tịch

Hồ Chí Minh chẳng hạn Có người cho rằng bài thơ mô tả quang cảnh mộtvùng sơn cước vào lúc chiều tối Có người cho rằng bài thơ viết về cảnh ngộ

và vẻ đẹp tâm hồn của Bác trong thời gian bị lưu đày nơi đất khách quê

người Hoặc bài “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu, đề tài là cảnh trí tiết thu

lúc giao mùa hay cảm xúc của con người trước thiên nhiên lúc chớm vào thu? Vậy để xác định được đúng đề tài của VBVH, người đọc cần phân biệt cáiđược miêu tả trực tiếp và cụ thể với cái được nhận thức Nghĩa là cần phânbiệt đối tượng miêu tả và đối tượng cảm xúc Văn bản văn học có thể nói đếnmọi hiện tượng của đời sống con người, đời sống tạo vật thiên nhiên, thậm chí

cả những điều huyễn tưởng Song cái mà người ta cần nhận thức trong tácphẩm đó phải là cái thuộc về con người và đời sống con người, bởi vì văn học

là sự thể hiện quá trình con người tự nhận thức về mình và nhận thức cuộc

sống Vì vậy, cái gì là đối tượng nhận thức được diễn tả cái ấy mới là thực

chất nội dung của khái niệm “đề tài của một VBVH” Như vậy, đề tài của

bài “Mộ” là tiếng nói bộc lộ cảm xúc của nhà thơ Hồ Chí Minh trước cảnh chiều tối vùng sơn cước xứ người; đề tài “Đây mùa thu tới” là cảm xúc của

một con người trẻ trung trước thiên nhiên lúc chớm vào thu, đồng thời bộcbạch tâm trạng của cả một thế hệ cùng trang lứa

Cách lựa chọn đề tài để phản ánh trong VBVH - cái tiêu biểu của đờisống con người trong bản chất xã hội của nó ở một không gian và thời gianxác định, đã bao hàm cả yếu tố nhận thức và tư tưởng của người nghệ sĩ Do

đó, đề tài, chủ đề, tư tưởng chủ đề của một VBVH luôn gắn bó với nhau thànhmột khối hữu cơ

Chủ đề là một khía cạnh của phạm vi cuộc sống được coi là quan trọng nhất trong cảm nhận của người nghệ sĩ Người nghệ sĩ tập trung tâm

lực và tài năng của mình làm cho khía cạnh ấy nổi lên, soi rọi toàn bộ sứcmạnh sáng tạo của mình vào cái tiêu điểm đó Khía cạnh ấy được đẩy lênthành vấn đề chủ yếu xuyên suốt văn bản Có thể cùng một đề tài nhưng mỗitác giả thông qua lăng kính chủ quan của mình, phản ánh hiện thực cuộc sống

ở những khía cạnh khác nhau, cho ra đời các VBVH có chủ đề không giốngnhau Nhìn ra những vấn đề chủ yếu trong hiện thực đời sống để phản ánh, đó

là thước đo giá trị nhận thức cũng như giá trị tư tưởng của VBVH Chiều sâu

ý nghĩa của chủ đề giúp ta đánh giá được vai trò, vị trí của nhà văn trong việctham gia vào công cuộc lí giải và cải tạo cuộc sống, vị trí của nhà văn trongthang bậc giá trị của sự sáng tạo trong đời sống văn học

Sự chệnh lệch về việc xác định chủ đề cho VBVH của mỗi nghệ sĩ tuỳthuộc vào quan điểm tư tưởng của từng người Bởi vậy chủ đề và tư tưởngchủ đề không tách rời nhau

Tư tưởng chủ đề chính là thái độ và giải pháp của người nghệ sĩ trước vấn đề của hiện thực đời sống đặt ra trong VBVH: thông qua cách

Trang 38

chọn đề tài, người nghệ sĩ đã bộc lộ chiều sâu nhận thức và tư tưởng của bảnthân đối với mảng đời sống được phản ánh Trong chủ đề đã bao hàm tưtưởng chủ đề Đứng trước một vấn đề đặt ra trong VBVH, người nghệ sĩ baogiờ cũng phải tỏ rõ thái độ, đưa ra giải pháp cho những vấn đề của cuộc sốngđặt ra trong VBVH Những kiến giải đó chính là tính khuynh hướng củaVBVH Tính khuynh hướng ấy đôi khi thể hiện trực tiếp trong những dòngsuy tưởng, trữ tình ngoại đề, triết lí của nghệ sĩ song thường là thể hiện quathế giới hình tượng của tác phẩm

Để nhận biết nội dung tư tưởng của VBVH cần phải thông qua sự phântích cái biểu đạt, tức là hình thức biểu hiện nó

* Các thành tố hình thức của VBVH bao gồm: Yếu tố tạo hình, kết cấu

và phương tiện ngôn từ

Hình thức của VBVH có nhiệm vụ hiện thực hoá nội dung tư tưởng vàlàm cho nội dung có một hình thức nhất định Bản thân hình thức nghệ thuậtcủa VBVH cũng là một thể thống nhất cao

Yếu tố tạo hình: Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng Tất cả

những ý tưởng của người nghệ sĩ phải được thể hiện bằng hình tượng văn họcvới diện mạo cụ thể, các biệt của đời sống, như đời sống, bằng chất liệu củabản thân đời sống Tất cả hình ảnh của cuộc sống đến với người đọc là cụ thể,

là những hiện tượng không lặp lại Tính cụ thể là đặc điểm quan trọng nhấtcủa hình tượng Chính nhờ tính cụ thể này mà người đọc tiếp nhận cái thế giớikhách quan được phản ánh trong VBVH không phải bằng các thao tác tư duytrừu tượng mà bằng các giác quan, các trực giác, bằng liên tưởng, bằng tưởngtượng, bằng sự vận dụng sự trải nghiệm của người đọc để sống cùng nhữngcon người, những cảnh đời diễn ra trong tác phẩm

Tính cụ thể của hình tượng gắn liền với một phẩm chất đặc trưng củavăn học là tính tạo hình Chính hình tượng được miêu tả trong tác phẩm làyếu tố tạo hình cơ bản, bao trùm, trải rộng và xuyên suốt toàn bộ tác phẩm

Qua tính cụ thể, cá thể, cá biệt trong hình tượng ta nắm được nội dung

tư tưởng của toàn bộ VBVH Mỗi hình tượng nghệ thuật, dù là hình tượng tự

sự hay hình tượng trữ tình đều được kết dệt bằng những chi tiết nghệ thuật.Mỗi chi tiết ví như một viên gạch để người nghệ sĩ xây lên toà lâu đài (hìnhtượng) nghệ thuật theo ý đồ riêng của mình Những chi tiết nghệ thuật bao giờcũng rất cụ thể

Chân dung một con người được miêu tả rất cụ thể với tiếng cười, ánhmắt, vẻ mặt, thậm chí cái nhếch mép, nếp nhăn Chẳng hạn chân dung lãoHạc sau khi bán con chó được miêu tả rất sống động với chi tiết lão Hạc khóc:

“ Lão cố làm ra vui vẻ Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậng nước Tôi hỏi cho có chuyện:

- Thế nó cho bắt à?

Mặt lão đột nhiên co rúm lại Những nết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng của lão mếu máo như con nít Lão khóc hu hu…” (Lão Hạc - Nam Cao).

Trang 39

Hai lần miêu tả xen vào sự việc (tả nụ cười và đôi mắt, tả cái đầu, nếp nhăn, cái miệng) Tác giả chọn được chi tiết, dùng đúng chỗ.

Khi nhân vật tôi chỉ hỏi cho có chuyện, động chạm tới nỗi xót xa củalão thì cái vui vẻ giả tạo bên ngoài biến mất, nét mặt, hành động của lão cũngthay đổi hẳn

Từ khi con trai kí giấy đi làm đồn điền cao su, lão Hạc vẫn hi vọngngày con trở về sẽ cưới vợ cho con; và theo lão, khi ấy lão mới giết thịt con

chó Nhưng trước tình hình khốn khó, lão đã phải bán “cậu Vàng” Việc đó

cũng đồng nghĩa với việc lão Hạc đã tự tiêu diệt hi vọng cuối cùng và lặng lẽchuẩn bị cho cái chết bế tắc của mình

Một bức tranh phong cảnh, một hình ảnh thiên nhiên đều được miêu tả

rất sáng tạo, sinh động và có hồn, tả cảnh mà để tả tình Hình ảnh “vầng trăng” trong “vầng trăng ai xẻ làm đôi, nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

(cảnh khi Thúc Sinh từ Biệt Thuý Kiều) có thể so sánh với những hình ảnhvầng trăng khác theo suốt cuộc đời Kiều, hoặc so sánh với nhưng câu thơ viết

về sự trông đợi đến hao mòn cùng vầng trăng trong cảm nhận của người thiếu

nữ trong câu thơ sau của Trương Cửu Linh đời Đường :

“Nhớ chàng như mảnh trăng đầy

Đêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm”

Nhà thơ này nghiêng về sự mòn mỏi, hao khuyết còn thi hào Nguyễn Dulại miêu tả vầng trăng qua cái nhìn đầy tâm trạng của Thúy Kiều Trăng vẫntròn đầy nhưng với đôi lứa trong xa cách nên vầng trăng cũng như bị chia cắttrong tâm hồn họ để mỗi người chỉ còn mang theo bên mình một nửa vầngtrăng chia biệt, tê tái mà giữa nửa này với nửa kia sẽ không bao giờ hợp lại

thành vầng trăng tròn đầy như trước kia nữa Đây là câu thơ diễn tả sự đau

đớn khi Thuý Kiều chia tay Thúc Sinh “Ai ’’ở đây là ai? Là số phận nói

chung hay còn là chính Kiều? Hiểu được điều thứ hai thì câu thơ không chỉ làlời than than trách phận, mà còn là chính là lời tự dằn vặt, giày vò mình.Nàng vừa khuyên, vừa tiễn Thúc Sinh về, giờ đã tự đay nghiến mình, thươngThúc Sinh Thật là một hình tượng sống động, một ngòi bút sâu sắc

« Cuộc sống thứ hai » của văn bản nghệ thuật không phải do sự suy

luận vô cớ, mà thường là lôgic đời sống hiện hình từ phía sau của những conchữ tường minh, có khi chỉ ở phía sau một nhãn tự Một chữ trong câu thơ sẽ

là rất quan trọng nếu nó là « trung tâm mang nghĩa » :

Anh dắt em vào cõi Bác xưa

Đường dài hoa trắng nắng đu đưa

Có hồ nước lặng soi tăm cá

Có bưởi cam thơm, mát bóng dừa

(Theo chân Bác - Tố Hữu)

Khung cảnh nời Bác ở dường như vẫn thế, nhưng cả một chuỗi thôngtin miêu tả không gian và sự vật: đường xoài, hồ nước, bưởi, cam, vốn rấtđỗi quen thuộc dường như đã nhuốm trong một nguồn ánh sáng thiêng liêng

kì lạ Chỉ với sức gợi của một chữ “cõi”, tất thảy cảnh vật nơi đây đã thuộc

Trang 40

về một thế giới tôn kín, trang nghiêm của tột cùng xót xa, hoài niệm Nếu

thay “cõi” bằng “lối” chẳng hạn, đoạn thơ ngay lập tức chuyển sang biểu

hiện nghĩa trung tính hoặc không xác định

Lời nói của nhân vật giúp ta cảm nhận được những suy nghĩ bên trong

Chẳng hạn ở lời thoại sau Trong lòng mẹ - Nguyên Hồng:

“Gần đến ngày giỗ thầy tôi, mẹ tôi ở Thanh Hoá vẫn chưa về… Một hôm, cô tôi gọi đến bên cười hỏi:

- Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mẹ mày không?”.

Trong hoàn cảnh cụ thể, Hồng nhận ra cái ý nghĩa của biểu hiện không

bình thường trong thái độ “cười hỏi” của cô – Trái tim nhạy cảm cùng " tình yêu và lòng kính mến mẹ” đã giúp Hồng thông mimh lựa chọn: cúi đầu không đáp (Cười hỏi chứ không phải lo lắng hỏi, nghiêm nghị hỏi) Kí ức về mẹ trở

thành một đối trọng với ý nghĩa cay độc trong giọng nói và nét mặt khi cườirất kịch của người cô và trở thành động lực ứng đối bật ra:

“ Không! Cháu không muốn vào Cuối năm thế nào mẹ cháu cũng về”.

Hình tượng và các chi tiết dệt nên hình tượng ấy là yếu tố tạo hình làmnên hình thức nghệ thuật để biểu hiện nội dung Hình tượng và các chi tiết làcái biểu đạt, còn nội dung là cái được biểu đạt Nhờ cái biểu đạt mang tính cụthể, tạo hình mà cái được biểu đạt tức chủ đề và tư tưởng vốn mang tính kháiquát, trừu tượng được hiện thực hoá, được cụ thể hoá, được hình tượng hoá

Kết cấu văn bản văn học: Các chi tiết nghệ thuật dệt nên hình tượng

được sắp xếp theo những kiểu nhất định Mỗi cách sắp xếp các chi tiết vàotừng vị trí trước hay sau nhằm tạo nên một hình tượng hoàn chỉnh để làm nổibật nội dung Các chi tiết nối tiếp nhau đều có một lôgic bên trong, lôgic sựvật hoặc lôgic cảm xúc Kết cấu có thể xem là cú pháp của văn bản; kết cấu làtrật tự của các chi tiết tạo nên mạch cảm xúc trữ tình, mạch biến cố và pháttriển tính cách nhân vật trong tự sự Do đó, kết cấu cũng là một thứ ngôn ngữ

biểu đạt nội dung Chẳng hạn như bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (Nguyễn Khoa Điềm): Kết cấu bài thơ chia làm ba đoạn, mỗi đoạn

đều được mở đầu bằng lời của tác giả và kết thúc bằng lời ru của mẹ Đó làbài ca về những em bé lớn lên theo quá trình mẹ tham gia kháng chiến

Đoạn 1, em bé lớn lên cùng gian lao kháng chiến, em lớn lên trong tìnhcảm thiêng liêng của mẹ với bộ đội, cách mạng:

Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ

Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội

Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng

Câu thứ 7 đột ngột chuyển ý:

Lưng đưa nôi và tim hát thành lời

Mẹ thương A Kay mẹ thương bộ đội.

Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần.

Ngày đăng: 23/11/2015, 20:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Trọng Luận - Phương pháp giảng dạy văn học - NXB ĐH Huế năm 2008. 2. Hà Nguyễn Kim Giang - Phương pháp đọc diễn cảm - NXB ĐHSP 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy văn học
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB ĐH Huế
Năm: 2008
3. Lê Phương Nga - Dạy học tập đọc ở tiểu học - NXB GD 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tập đọc ở tiểu học
Nhà XB: NXB GD 2001
4. Đào Ngọc, Nguyễn Quang Ninh - Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt - NXB GD 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
Nhà XB: NXBGD 1996
5. Đỗ Ngọc Thống - Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS - NXBGD -H,2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS
Nhà XB: NXBGD -H
7. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên) - SGV Ngữ văn 6,7,8,9.* Tác giả nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Ngữ văn 6,7,8,9
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Tác giả nước ngoài
1. Mác - Ăngghen - Về văn học nghệ thuật - NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn học nghệ thuật
Tác giả: Mác, Ăngghen
Nhà XB: NXB Sự thật
2. V. I. Lênin - Về văn học và nghệ thuật - NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn học và nghệ thuật
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: NXB Sự thật
3. Taff E.Raphael - Efieda H. Hiebert, người dịch (nhóm) Lê Công Tuấn - Phương pháp dạy đọc hiểu văn bản - NXB ĐHSP 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy đọc hiểu văn bản
Nhà XB: NXB ĐHSP 2007
6. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên) - SGK Ngữ văn 6,7,8,9 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w