2.1.1.2 Năng lực cạnh tranh Khái niệm Khái niệm về năng lực cạnh tranh được nêu ra lần đầu tiên ở Mỹ vàođầu năm 1980 của Aldington Report “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH
LIÊN KẾT ĐẦU TƯ HAHANAM
HÀ NỘI – 2011
Trang 2PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nền kinh tế quốc dân nóichung, từng ngành, từng địa phương nói riêng và đặc biệt là các doanh nghiệp đã,đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt với thách thức từ sự cạnh tranh khốc liệt trên thịtrường Do đó, việc không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp là yếu tố sống còn quyết định
sự phát triển hay suy yếu không chỉ của riêng từng doanh nghiệp mà còn của cảnền kinh tế quốc dân Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệpphải phát huy hết các ưu thế, tạo ra những điểm khác biệt so với đối thủ cạnhtranh Doanh nghiệp phải tự giới thiệu, quảng cáo làm cho người tiêu dùng biếtđến sản phẩm của doanh nghiệp
Cạnh tranh là qui luật tất yếu tồn tại ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế,trong đó có ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi Những năm gầnđây chứng kiến sự gia tăng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng của cácdoanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi Các doanh nghiệp này ra đời để đápứng nhu cầu thức ăn ngày càng cao của ngành chăn nuôi Mỗi năm, ngànhchăn nuôi cần khoảng 17-18 triệu tấn thức ăn, nhưng sản lượng thức ăn chănnuôi công nghiệp mới đạt 50%, còn lại người chăn nuôi phải sử dụng thức ăn
tự chế Mỗi năm nước ta mới chỉ sản xuất được gần 6 triệu tấn thức ăn chănnuôi công nghiệp cho gia súc, gia cầm và 2,4 triệu tấn thức ăn chăn nuôi thủysản Đó là vì một số hạn chế như: cơ chế quản lý ngành thức ăn chăn nuôicòn nhiều bất cập; thiếu nguyên liệu; thiếu công nghệ sản xuất; thiếu nhânlực; các doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ 65-70% thị phần thức ănchăn nuôi [20] Tất cả những điều này tạo ra môi trường cạnh tranh của cácdoanh nghiệp sản xuất chế biến thức ăn trong nước càng khắc nghiệt hơn
Công ty TNHH liên kết đầu tư Hahanam sản xuất và kinh doanh mặthàng chính là thức ăn chăn nuôi gia súc Công ty mới hình thành và xâm nhậpvào thị trường thức ăn chăn nuôi khi mà các công ty, doanh nghiệp khác đã có
Trang 3thị phần ổn định thì nhiệm vụ đặt ra cho Công ty hiện nay là làm thế nào đểnâng cao thị phần, năng lực cạnh tranh của Công ty.
Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty thì chúng ta phải hiểuđược năng lực cạnh tranh hiện nay của Công ty Từ những vấn đề trên, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH liên kết đầu tư Hahanam”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Khái quát về năng lực cạnh tranh, thực trạng sản xuất, kinh doanh vàtiêu thụ của Công ty; từ đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranhcủa Công ty
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh;
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ của Công ty;
- Phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty;
- Đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranhcủa Công ty;
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Năng lực cạnh tranh về giá cả sản phẩm của Công ty hiện nay?
Năng lực cạnh tranh về các chiến lược xúc tiến tiêu thụ của Công tyhiện nay?
Công ty đã thực hiện những biện pháp, chiến lược nào để nâng caonăng lực cạnh tranh?
Trang 4Những giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu năng lực cạnh tranh của Công ty,công tác tổ chức, các hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu thụ của Công ty
Hệ thống các đại lý bán thức ăn chăn nuôi và người chăn nuôi
Một số Công ty thức ăn chăn nuôi có mặt trên địa bàn
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung chủ yếu phân tích năng lực cạnh tranh hiện có củaCông ty, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng, tìm hiểu thực trạng sản xuất, kinhdoanh và tiêu thụ của Công ty từ đó đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Những khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Trang 5lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch” [9] Theoquan niệm này, thì cạnh tranh có nguồn gốc từ chế độ tư hữu Cạnh tranhđược xem là sự lấn áp, chèn ép lẫn nhau để tồn tại.
Theo P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus: “cạnh tranh là sự kình địchgiữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng” Hai tác giảnày cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo [9]
PGS Lê Hồng Tiệm: “cạnh tranh là sự đấu tranh giữa các chủ thể sảnxuất kinh doanh nhằm giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất
ra sản phẩm, trong tiêu thụ hàng hóa, trong hoạt động dịch vụ để đảm bảothực hiện lợi ích tốt nhất của mình” [16]
Tóm lại: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế
ganh đua, đấu tranh gay gắt quyết liệt, thôn tính lẫn nhau, các chủ thể kinh tếtìm mọi biện pháp, thủ thuật kể cả thủ đoạn để tranh giành khách hàng, chiếmlĩnh thị trường thông qua đó để tiêu thụ được nhiều hàng hóa, thu được lợinhuận cao, giảm chi phí và nâng cao được vị thế của mình trên thị trường
Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế: cạnh tranh nội bộ ngành, cạnhtranh giữa các ngành
Căn cứ trạng thái cạnh tranh: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh khônghoàn hảo
Căn cứ vào chủ thể kinh tế tham gia thị trường: cạnh tranh giữanhững người bán với nhau, cạnh tranh giữa người bán với người mua;cạnh tranh giữa những người mua với nhau
Căn cứ vào tính chất cạnh tranh trên thị trường: cạnh tranh lành mạnh,cạnh tranh không lành mạnh
Trang 6Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu
Cạnh tranh cho phép sử dụng tài nguyên tối ưu
Cạnh tranh khuyến khích áp dụng khoa học – kỹ thuật
Cạnh tranh thỏa mãn ngày càng tốt hơn thỏa mãn nhu cầu của ngườitiêu dùng
Cạnh tranh thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng suất laođộng và hiệu quả kinh tế
2.1.1.2 Năng lực cạnh tranh
Khái niệm
Khái niệm về năng lực cạnh tranh được nêu ra lần đầu tiên ở Mỹ vàođầu năm 1980 của Aldington Report “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh
là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội
và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế Năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài củadoanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủdoanh nghiệp” [9]
Theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), theo đó, nănglực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệpkhác đánh bại về năng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh nhưvậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng
Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về nănglực cạnh tranh Tuy nhiên, quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện cácmục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp [7]
Các nhà nghiên cứu kinh tế Việt Nam thì cho rằng: năng lực cạnhtranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh Chẳng hạn, TS
Vũ Trọng Lâm (2006): “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở khảnăng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh củadoanh nghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng và đạt được các mục
Trang 7tiêu doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế” [8].
TS Nguyễn Hữu Thắng (2006): “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làkhả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm,
mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sảnxuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững” [14]
Tóm lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì vànâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lướitiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi íchkinh tế cao và bền vững
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là phân tích năng lực
cạnh tranh hiện có của doanh nghiệp thông qua các tiêu chí để có được nhữngnhận định, biện pháp, chiến lược nhằm đưa doanh nghiệp có sức cạnh tranhtrên thị trường [6]
Các cấp độ của năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh cụ thể được phân biệt thành bốn cấp độ: Năng lựccạnh tranh cấp quốc gia, cấp ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,của sản phẩm hàng hóa Chúng có mối tương quan mật thiết với nhau, phụthuộc lẫn nhau Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lựccạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp Vì vậy trướckhi đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thì cần tìm hiểu về năng lựccạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm Còn năng lực cạnh tranh cấp ngành cómối quan hệ và chịu ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh quốc gia và của sản phẩmtương tự như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thếgiới (WEF) năm 1997 đó nêu ra: “năng lực cạnh tranh của một quốc gia lànăng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mứctăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và cácđặc trưng kinh tế khác”
Trang 8Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể hiểu là việc xây dựngmột môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả cácnguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững.
Năng lực cạnh tranh của một hàng hóa là khả năng duy trì và cải thiện
vị trí của một hàng hóa của doanh nghiệp này so với hàng hóa khác cùng loạicủa một doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài nhằm tạo sự hấpdẫn và thu hút khách hàng
Năng lực cạnh tranh hàng hóa được phản ánh qua các tiêu chí: giá cả,chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng cũng như sự độc đáo, quen dùng, phù hợp vớithị yếu tiêu dùng của khách hàng
Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứngđược nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng,tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn các sản phẩmcùng loại Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm lại được định đoạt bởinăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không có năng lực cạnh tranhcủa sản phẩm cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinhdoanh sản phẩm đó thấp
Ở đây cũng cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm và nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp Đó là hai phạm trù khác nhau nhưng cóquan hệ hữu cơ với nhau Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có được do nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra nhưng năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của sản phẩm quyết định mà cònphụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của sảnphẩm có ảnh hưởng rất lớn và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.1.3 Lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh
Lợi thế so sánh
Lợi thế so sánh có ý nghĩa đặc biệt đối với các nhà kinh tế Hai nhàkinh tế học người Anh là Adam Smit và David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợithế tuyệt đối và lợi thế so sánh
Trang 9Theo nguyên tắc lợi thế so sánh của Ricardo thì một nước có thể sảnxuất nhiều loại sản phẩm tốt hơn so với các nước khác nhưng chỉ nên sản xuấtnhững gì mà nó sản xuất có hiệu quả nhất Lợi thế so sánh là kết quả duy nhấtcủa những sự khác biệt quốc tế về năng suất lao động tương đối, mà theo nhàkinh tế học Ricardo trong quá trình tham gia thương mại quốc tế, các quốc gia
sẽ lựa chọn sản xuất hàng hoá và dịch vụ có lợi thế nhất cho xuất khẩu và sẽnhập khẩu loại hàng hoá, dịch vụ nào mà sản xuất trong nước bất lợi Chính
từ sự lựa chọn đó, các quốc gia sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu cácloại hàng hoá, dịch vụ có lợi thế tương đối (lợi thế so sánh); nhập khẩu cácloại hàng hoá, dịch vụ mà việc sản xuất trong nước bất lợi (không có lợi thế
so sánh)
Song sự hạn chế ở mô hình của Ricardo là ông đã dựa trên hàng loạtcác giả thiết đơn giản hoá của lý thuyết về giá trị lao động để chứng minh choquy luật này Trên thực tế, lao động không đồng nhất và còn nhiều yếu tốkhác như đất, vốn, khoa học công nghệ…quyết định hàng hoá, dịch vụ
Quan điểm hiện đại về lợi thế so sánh: khi xem xét lợi thế so sánh các nhàkinh tế học hiện đại đề cập tới lợi thế so sánh tĩnh và lợi thế so sánh động
Lợi thế so sánh tĩnh là lợi thế đang có Những lợi thế có được mà
không cần phải đầu tư lớn về vốn và tri thức Nếu sử dụng thuật ngữ củaM.Porter thì đây là những lợi thế “trời cho”, hay lợi thế “cấp thấp” Những lợithế này thường không vững chắc mà chỉ mang tính ngắn hạn và trung hạn;nếu các điều kiện sản xuất hiện có không được cải tạo liên tục và phát triển ởmức độ cao hơn thì có thể lợi thế cạnh tranh của hàng hóa giảm xuống [10]
Lợi thế so sánh động là lợi thế “cấp cao”, lợi thế phải có đầu tư lớn về
vốn và tri thức mới có (như đầu tư vào trình độ kỹ thuật và tri thức khoa học,
cơ sở hạ tầng hiện đại….) Muốn có lợi thế này, ngoài việc tận dụng triệt đểcác nguồn lực tự nhiên và sử dụng chúng có hiệu quả, Quốc gia/doanh nghiệpcòn phải đầu tư không ngừng cho quá trình tiếp cận cái mới, cải thiện môitrường kinh tế, môi trường đầu tư mới tạo ra lợi thế tiềm năng làm cơ sở cho
Trang 10sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Có như thế dưới một số điều kiệnnhất định lợi thế so sánh động mới biến được thành lợi thế so sánh trongtương lai [10].
Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là tập hợp những lợi thế so sánh tạo nên sức cạnhtranh của chủ thể
Lợi thế cạnh tranh trước hết là sự biểu hiện tính trội của mặt hàng nào
đó về chất lượng và cơ chế vận hành của nó trên thị trường, tạo nên sức hấpdẫn và tiện dụng trong tiêu dùng của khách hàng Chất lượng sản phẩm, giá cảsản phẩm, khối lượng và thời gian giao hàng, tính chất và sự khác biệt của sảnphẩm hàng hóa, dịch vụ của các nước khác trong việc thoả mãn nhu cầu củakhách hàng… tất cả đó là nét đặc trưng của lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh còn là sự thể hiện tính kinh tế của các yếu tố đầu vàocũng như đầu ra của sản phẩm, nó bao gồm chi phí cơ hội và năng suất laođộng cao, chất lượng sản phẩm tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế, phù hợp với thịhiếu của người tiêu dùng, có nguồn cung cấp ổn định và môi trường thươngmại thông thoáng Cái đích đến và cũng là bí quyết thành công của các doanhnghiệp chính là “Chinh phục cả thế giới khách hàng bằng uy tín, giá cả vàchất lượng”
Như vậy không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có lợi thế so sánhthì có lợi thế cạnh tranh và ngược lại Do đó các doanh nghiệp cần phải tạo ralợi thế cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh của mình
2.1.2 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh
Nền kinh tế ngày càng phát triển, mở ra cho doanh nghiệp nhiều cơ hộinhưng cũng làm tăng thêm nhiều đối thủ cạnh tranh Trước những cơ hội vàthách thức như vậy mỗi doanh nghiệp phải tìm cách vượt qua nếu không nguy
cơ phá sản là rất lớn Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một qui luậtkhách quan Các doanh nghiệp tham gia thị trường đều phải chấp nhận cạnhtranh Cạnh tranh, chấp nhận cạnh tranh và cạnh tranh bằng tất cả năng lực
Trang 11của mình mới có thể giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển Chính vì vậynâng cao năng lực cạnh tranh là một điều tất yếu của mỗi một doanh nghiệphoạt động trong cơ chế thị trường Cơ sở của nâng cao năng lực cạnh tranhbởi cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệp:
- Tồn tại và đứng vững trên thị trường: cạnh tranh sẽ tạo ra môi trườngkinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làmcho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợpvới thị yếu nhu cầu của người tiêu dùng Doanh nghiệp càng đáp ứng nhu cầukhách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại
- Cạnh tranh để phát triển: Cạnh tranh là để kích thích kinh doanh, độnglực cho sản xuất, hàng hóa ngày càng nhiều và số lượng nhà cung cấp ngàycàng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt Kết quả của cạnh tranh là loại
bỏ những Công ty làm ăn kém hiệu quả, năng suất chất lượng thấp thúc đẩynhững công ty làm ăn tốt, năng suất chất lượng cao Do vậy muốn tồn tại vàphát triển thì doanh nghiệp phải cạnh tranh nâng cao năng lực cạnh tranh củamình để đáp ứng nhu cầu thị hiếu về hàng hóa có chất lượng cao giá cả phùhợp
- Cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu: bất kỳ một doanh nghiệp nào
dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều có những mục tiêunhất định Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp màdoanh nghiệp đặt ra cho mình những mục tiêu khác nhau Trong giai đoạn đầukhi mới thực hiện hoạt động kinh doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là khaithác thị trường nhằm tăng lượng khách hàng truyền thống và tiềm năng, giaiđoạn này doanh nghiệp thu hút càng nhiều khách hàng càng tốt còn ở giaiđoạn trưởng thành và phát triển thì mục tiêu của doanh nghiệp là tăng doanhthu, tăng lợi nhuận và giảm chi phí, giảm bớt những chi phí được coi là khôngcần thiết, để lợi nhuận thu được là tối đa, uy tín của doanh nghiệp và niềm tincủa khách hàng đối với doanh nghiệp là cao nhất Đến giai đoạn bão hòa thìmục tiêu là gây dựng lại hình ảnh đối với khách hàng bằng cách thực hiện
Trang 12trách nhiệm đối với Nhà nước, đối với cộng đồng, củng cố lại thêm niềm tincho khách hàng Để đạt được các mục tiêu thì doanh nghiệp phải cạnh tranhthì doanh nghiệp mới tìm ra phương cánh biện pháp tối ưu để sáng tạo, táo ranhững sản phẩm chất lượng, cung ứng dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thỏamãn nhu cầu khách hàng
Tóm lại, doanh nghiệp muốn tồn tại, đứng vững, phát triển và đạt đượccác mục tiêu thì phải cạnh tranh mà muốn cạnh tranh có hiệu quả thì phảinâng cao năng lực cạnh tranh
Trang 132.1.3 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh
2.1.3.1 Các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
“Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát hướng đến việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp” [3] Năng lực cạnh tranhluôn bị chi phối bởi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Nếu chiến lượcđúng thì sức cạnh tranh sẽ được nâng cao Trong hoạt động sản xuất kinhdoanh có nhiều chiến lược khác nhau Dưới đây là một số chiến lược kinhdoanh quan trọng trong doanh nghiệp:
* Chiến lược giữ vững và phát triển thị trường hiện tại
“Thị trường hiện tại (hiện có) là tập hợp những khách hàng có quantâm, có thu nhập và có khả năng tiếp cận một sản phẩm nhất định của thịtrường” [3] Ta có thể hiểu đó là tập hợp những khách hàng hiện có của doanhnghiệp Để giữ vững và phát triển thị trường hiện tại thì doanh nghiệp cần nghiêncứu nhu cầu của khách hàng, cơ hội trên thị trường hiện tại của doanh nghiệpthường xuất hiện khi có những nhu cầu của khách hàng còn chưa được đáp ứnghoặc đáp ứng chưa tốt, hoặc doanh nghiệp có khả năng tăng thị phần nhờ lợi thếchung nào đó hoặc sự suy yếu của đối thủ cạnh tranh
* Chiến lược tiếp cận và xâm nhập thị trường mới
Việc nghiên cứu chiến lược tiếp cận và xâm nhập thị trường mới nhằmmục tiêu tăng trưởng thường xuyên và củng cố vị thế của doanh nghiệp trênthị trường Doanh nghiệp cần nghiên cứu thị trường mới để xác định thịtrường trọng điểm từ đó có cách ứng xử phù hợp với thị trường
* Chiến lược phát triển thị trường mục tiêu
Việc lựa chọn thị trường mục tiêu và chiến lược phát triển thị trườngmục tiêu là rất quan trọng của doanh nghiệp
* Các chiến lược Marketing hỗn hợp
Các chiến lược Marketing hỗn hợp hay được gọi là 4P: Product (sảnphẩm), Price (giá cả), Promotion (quảng cáo giới thiệu), Place (địa điểm)
Trang 14Product khi thực hiện các chiến lược này thì tùy thuộc vào đặc điểm thị
trường và sản phẩm mà ta áp dụng các chiến lược: Thứ nhất, chiến lược mở
rộng thị trường là việc giới thiệu sản phẩm với các thị trường mà không thayđổi về sản phẩm Chiến lược này áp dụng đối với doanh nghiệp khả năng tài
chính nhỏ, khả năng nghiên cứu và phát triển hạn chế thì hiệu quả hơn Thứ
hai, chiến lược thích nghi sản phẩm, là sự thay đổi sản phẩm để thỏa mãn các
yêu cầu thị yếu của thị trường Để tiến hành chiến lược này các doanh nghiệpcần dựa vào việc nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm, mức độ chấp nhận
sản phẩm của thị trường, tìm kiếm công dụng mới cho sản phẩm Thứ ba,
chiến lược sản phẩm mới, được tiến hành theo các bước: hình thành ý tưởng,đánh giá ý tưởng, thiết kế kỹ thuật và phát triển sản phẩm, kiểm tra sản phẩm
mới và cuối cùng là giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường Thứ tư, chiến lược
chủng loại sản phẩm quyết định đến số lượng các nhóm hàng, các kiểu loại,kích cỡ của sản phẩm được đưa ra thị trường và phù hợp với năng lực củadoanh nghiệp
Price là một trong những chính sách quan trọng trong chiến lượcMarketing hỗn hợp Căn cứ để ra quyết định trong chiến lược giá: các yếu tốchi phí; những mục tiêu của doanh nghiệp; yếu tố lạm phát; nhu cầu thịtrường; cạnh tranh trên thị trường; kênh phân phối…
Promotion bao gồm: quảng cáo, xúc tiến bán hàng, hội chợ triển lãm,weside
Quảng cáo được tiến hành trước khi sản phẩm có mặt trên thị trường.Các bước thực hiện: xác định mục tiêu quảng cáo, xây dựng nội dung quảngcáo, chọn phương tiện và lập kế hoạch quảng cáo, thiết kế và triển khai quảngcáo, đánh giá hiệu quả quảng cáo
Xúc tiến bán hàng là hoạt động thu hút khách hàng tới sản phẩm làm nóhấp dẫn ở nơi tiêu thụ Các hình thức xúc tiến chủ yếu: thay đổi hình thức sảnphẩm, khuyến khích mua hàng (hạ giá, khuyến mại), trưng bày và giới thiệusản phẩm hàng hóa
Trang 15Hội chợ triển lãm và phòng trưng bày với mục địch giới thiệu sản phẩm
và quan sát đối thủ cạnh tranh, khách hàng, xu thế của thị trường nhằm đưa ranhững sản phẩm phù hợp
Place là những quyết định gắn liền với việc lựa chọn, phát triển và kiểmsoát các thành viên trong kênh để đáp ứng các điều kiện và mục tiêu thịtrường [11]
2.1.3.2 Quy mô của doanh nghiệp
Quy mô lớn sẽ tạo thế cạnh tranh với các đổi thủ khác và ngược lại.Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả nănghuy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trongdoanh nghiệp Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn – là một yếu tố sảnxuất cơ bản và là một đầu vào của doanh nghiệp Do đó, sử dụng vốn có hiệuquả, quay vòng vốn nhanh… có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phívốn, giảm giá thành sản phẩm Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu
tố sản xuất khác
Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuênhân công, mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ… Như vậy,năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầuđầu tiên, bắt buộc phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinhdoanh và nâng cao năng lực cạnh tranh
Để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải củng cố và pháttriển nguồn vốn, tăng vốn tự có, mở rộng vốn vay dưới nhiều hình thức Đồngthời, điều quan trọng là doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồnvốn, hoạt động kinh doanh có hiệu quả để tạo uy tín đối với khách hàng, vớingân hàng và những người cho vay vốn
Trang 162.1.3.3 Năng lực quản lý và điều hành
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá bởi tính linh hoạt vàứng dụng của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của thị trường
Sự linh hoạt của doanh nghiệp trong quản lí sẽ giảm được tỷ lệ chi phí quản lýtrong giá thành sản phẩm, qua đó nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm củadoanh nghiệp
2.1.3.4 Khả năng nắm bắt thông tin
Trong kinh doanh, doanh nghiệp nắm bắt thông tin về giá cả, thịtrường, đối thủ cạnh tranh, tâm lí khách hàng… sẽ giúp doanh nghiệp hạn chếrủi ro, tìm và tạo ra “lợi thế so sánh” của doanh nghiệp
2.1.3.5 Đảm bảo chữ tín
Doanh nghiệp đảm bảo chữ tín với khách hàng là đảm bảo chất lượngsản phẩm, thương hiệu sản phẩm, tạo lòng tin với khách hàng… Đối với cácđối tác bạn hàng thì phải tuân thủ đúng hợp đồng, không gian lận, không cónhững hành động bất tín Có như vậy doanh nghiệp mới có thể có vị thế vữngmạnh trên thị trường
2.1.3.6 Trình độ công nghệ
Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớnđến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rútngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giáthành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh đốivới sản phẩm của doanh nghiệp Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuấtcủa doanh nghiệp, nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanhnghiệp
2.1.3.7 Chất lượng cán bộ quản lý và đội ngũ lao động
Hệ thống cán bộ quản lí năng động, có kinh nghiệm, khả năng đánh giáthì họ sẽ đem lại lợi ích lâu dài cho Công ty Năng lực tổ chức, quản lý doanhnghiệp được coi là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệpnói chung cũng như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng Đội ngũ cán
bộ quản lí không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn am hiểu về nhiều
Trang 17lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luậttrong nước và quốc tế, thị trường, ngành hàng…đến kiến thức về xã hội, nhânvăn Ngoài ra họ phải có trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ởviệc sắp xếp, bố trí cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng,nhiệm vụ của các bộ phận, hoạch định chiến lược Việc hình thành tổ chức bộmáy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ và hiệu quả cao có ýnghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lý cao, ra quyết địnhnhanh chóng, chính xác, mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý củadoanh nghiệp Nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, lao động vừa là yếu tố đầu vào vừa là lực lượngtrực tiếp sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa vàdịch vụ Lao động còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹthuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất và thậm chí góp sức vào những phát kiến
và sáng chế… Do vậy, trình độ của lực lượng lao động tác động rất lớn đếnchất lượng và độ tinh xảo của sản phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chiphí của doanh nghiệp Đây là một yếu tố tác động trực tiếp tới năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Để nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần chútrọng bảo đảm cả chất lượng và số lượng lao động, nâng cao tay nghề củangười lao động dưới nhiều hình thức, đầu tư kinh phí thỏa đáng, khuyến khíchngười lao động tham gia vào quá trình quản lý, sáng chế, cải tiến…
2.1.3.8 Chi phí kinh doanh
Trong đó bao gồm chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới; chiphí tiện ích; chi phí vận tải, bãi bằng…Chi phí nghiên cứu và phát triển sảnphẩm mới luôn chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu chi phí nhằm đầu tưnghiên cứu các công nghệ kỹ thuật mới, độc đáo hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầucủa khách hàng, qua đó tạo một vị thế tốt trên thị trường
2.1.3.9 Tổ chức hệ thống của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp cho dù có các yếu tố mặt hàng sản xuất kinh doanh,nhân sự, tài chính, trang thiết bị hay công nghệ như nhau nhưng do trật tự tổ
Trang 18chức hệ thống với hiệu lực khác nhau thì sức cạnh tranh của nó có nhữngđiểm khác nhau.
2.1.4 Các công cụ sử dụng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cạnh tranh bằng chiến lược sản phẩm
“Sản phẩm là bất cứ cái gì – những vật thể, dịch vụ, con người, địa điểm tổ chức và
ý tưởng – có thể đưa vào thị trường để tạo sự chú ý, mua sắm, sử dụng tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn” [3] Chiến lược sản phẩm là vũ khí sắc bén nhất trong cạnh tranh trên thị trường đồng thời là phương pháp có hiệu quả tạo ra nhu cầu mới,
để nghiên cứu thực hiện chiến lược sản phẩm một cách tốt nhất, sản phẩm có vị thế trên thị trường cần quan tâm đến các yếu tố cấu thành nên sản phẩm:
Các doanh nghiệp cần xác định cho mình một danh mục sản phẩm phù hợp Danh mục sản phẩm dựa trên bốn yếu tố: chiều rộng (có bao nhiêu loại sản phẩm), chiều dài (tổng số mặt hàng có trong tất cả các loại sản phẩm), chiều sâu (số lượng những mặt hàng
có trong từng nhãn hiệu của từng loại sản phẩm của danh mục sản phẩm) và tính thống nhất (mức độ quan hệ giữa các sản phẩm xét theo cách sử dụng cuối cùng, công nghệ sản xuất, hệ thống phân phối, giá cả…) [3].
“Nhãn hiệu là một sự hứa hẹn của người bán bảo đảm cung cấp cho người mua một tập hợp nhất định những tính chất, lợi ích và dịch vụ Những nhãn hiệu danh tiếng bao hàm một sự đảm bảo về chất lượng, sự trung thành của khách hàng [2].
Chiến lược nhãn hiệu của doanh nghiệp được thực hiện theo bốn hướng: mở rộng loại sản phẩm, mở rộng nhãn hiệu, sử dụng nhiều nhãn hiệu trong cùng một loại sản phẩm
và nhãn hiệu mới cho loại sản phẩm mới Do thay đổi trong nhu cầu thị yếu của người tiêu dùng và hành vi ứng xử của các đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp cần tái định vị nhãn hiệu bằng cách khai thác sự thừa nhận đối với nhãn hiệu hiện có hay thay đổi cả sản phẩm lẫn hình ảnh của nó, hoặc chỉ thay đổi hình ảnh của sản phẩm.
Bao bì là một yếu tố của chiến lược sản phẩm, doanh nghiệp cần thiết kế để nó không chỉ làm nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ sản phẩm, mà còn giới thiệu một kiểu phân phối mới, gợi ra những phẩm chất của sản phẩm, giúp cho người tiêu dùng dễ nhận biết sản phẩm và nhãn hiệu, tạo ra cho họ sự tin tưởng và an tâm khi lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu của doanh nghiệp.
Với những thay đổi nhanh chóng của thị hiếu người tiêu dùng, khoa học công nghệ
và cạnh tranh thị trường Các doanh nghiệp cần có chương trình phát triển sản phẩm mới Doanh nghiệp có thể phát triển sản phẩm mới bằng hai cách: thông qua việc mua lại doanh
Trang 19nghiệp, bằng sáng chế, giấy phép để sản xuất sản phẩm của người khác, hoặc thông qua việc phát triển sản phẩm mới.
Ngoài ra doanh nghiệp sử dụng các chiến lược về thương hiệu, mẫu mã sản phẩm, công nghệ sản xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Cạnh tranh chất lượng
Chất lượng sản phẩm là phần lợi ích mà người tiêu dùng sở hữu và cảmnhận được Yêu cầu của khách hàng ngày càng cao về lợi ích mà họ nhậnđược từ sản phẩm Khách hàng chấp nhận bỏ giá cao hơn để được mua sảnphẩm chất lượng tốt Để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, tạo lợi thếcạnh tranh với các đối thủ thì các doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứuphát triển các sản phẩm mới có chất lượng tốt hơn
Chất lượng sản phẩm là vấn đề quan trọng nhất đối với sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp Chất lượng sản phẩm không được đảm bảo thìcũng có nghĩa là doanh nghiệp sẽ bị mất khách hàng, mất thị trường nhanhchóng đi tới suy thoái và bị phá sản Chất lượng sản phẩm tốt sẽ làm tăng sảnlượng tiêu thụ, kéo dài chu kì sống của sản phẩm, làm tăng uy tín của doanhnghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ Do vậy, cạnh tranh bằng chất lượng sảnphẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ một doanh nghiệpnào cũng đều phải sử dụng nó
Cạnh tranh về giá cả sản phẩm
Giá cả có thể hiểu theo ý sau: đối với người bán, giá cả là khoản tiền trùtính có thể nhận được từ phía người mua sau khi chuyển cho họ quyền sở hữuhay sử dụng hàng háo dịch vụ đó Còn đối với người mua thì giá cả luôn là chỉ
số đầu tiên đánh giá phần được với chi phí mà họ bỏ ra để có được quyền sở hữuhay sử dụng hàng hóa đó Nói một cách khác là lợi ích của hàng hóa và dịch vụphải tương ứng với khoản tiền mà họ bỏ ra để mua chúng
Khi triển khai một sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm mới hay đưa mộtsản phẩm hiện có vào kênh phân phối mới, một thị trường mới thì doanhnghiệp cần tiến hành định vị sản phẩm Các doanh nghiệp thường tiến hành
Trang 20định vị theo mối qua hệ giữa giá cả và chất lượng, với chín chiến lược có thểlà: chất lượng cao – giá cao, chất lượng cao – giá trung bình, chất lượng cao –giá thấp, chất lượng trung bình – giá cao, chất lượng trung bình – giá trungbình, chất lượng trung bình – giá thấp, chất lượng thấp – giá cao, chất lượngthấp – giá trung bình, chất lượng thấp – giá thấp [3]
Đối với mỗi sản phẩm doanh nghiệp cần xác định mức giá bán ban đầu
và sau đó sẽ tiến hành điều chỉnh giá trong quá trình sản xuất kinh doanh, tức
là xây dựng được một cơ cấu giá phản ánh được những thay đổi về nhu cầu vàchi phí theo địa lý, những yêu cầu khác nhau của các phân đoạn thị trường,thời vụ mua sắm, quy mô đặt hàng và các yếu tố khác Trong quá trình triểnkhai các cơ cấu và chiến lược về giá, các doanh nghiệp sẽ phải thay đổi giábán của họ
Doanh nghiệp chủ động giảm giá khi: muốn tận dụng sản xuất năng lực
dư thừa, bảo vệ thị phần đang giảm dần, hay chi phối thị trường thông qua giáthành thấp hơn do khối lượng sản xuất thấp hơn và tích lũy được nhiều kinhnghiệm hơn Doanh nghiệp chủ động tăng giá khi chi phí sản xuất tăng, nhucầu tăng quá mức
Cạnh tranh trong thiết lập mạng lưới kênh phân phối.
Phần lớn những người sản xuất đều cung cấp sản phẩm của mình chothị trường thông qua các trung gian phân phối “Kênh phân phối là tập hợpnhững cá nhân hay những cơ sở kinh doanh phụ thuộc lẫn nhau trong quátrình tạo ra và chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ người sản xuất đến tiêu dùng”[3] Kênh phân phối có vai trò rất quan trọng giúp các doanh nghiệp giảiquyết khó khăn về tài chính và nhân sự, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm,giảm bớt đầu mối giao dịch Thông qua việc thực thi các chức năng thông tin,
cổ động, tiếp xúc, cân đối, thương lượng, phân phối vật phẩm, tài trợ và chia
sẻ rủi ro, lấp được khoảng cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu củangười tiêu dùng đối với các sản phẩm và dịch vụ
Trang 21Tổ chức kênh phân phối được chia ra thành kênh phân phối trực tiếp(người sản xuất bán thẳng cho khách hàng) và kênh phân phối gián tiếp(thông qua các trung gian như đại lý, người bán buôn, người bán lẻ…) Tùy
số lượng trung gian và mối quan hệ của họ mà kênh phân phối gián tiếp lạiphân thành các cấp 1, 2, 3, 4
Việc thiết kế kênh phân phối đòi hỏi phải phân tích nhu cầu khách hàng
về mức độ bảo đảm dịch vụ, xác định những mục tiêu và những yêu cầu bắtbuộc của kênh, xây dựng và đánh giá các phương án chính của kênh và lựachọn kênh phân phối
Trong quá trình phân phối, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra,giám sát hoạt động của kênh, phân tích lợi ích trong chuỗi giá trị để từ đó đưa
ra các quyết định tốt nhất để kênh hoạt động có hiệu quả tăng lợi ích cho cáctác nhân trong kênh
Cạnh tranh bằng công cụ quảng cáo, khuyến mãi
Quảng cáo là một trong năm công cụ chủ yếu để hướng thông tin thuyếtphục vào người mua và công chúng mục tiêu Quảng cáo được thực hiện bởi
bộ phận marketing của doanh nghiệp hay thuê các hãng quảng cáo Việc xâydựng các chương trình quảng cáo phải phù hợp với thị trường mục tiêu vàđộng cơ của người mua Doanh nghiệp phải đưa ra quyết định về mục tiêuquảng cáo, ngân sách quảng cáo, thông điệp quảng cáo, phương tiện truyềnthông và đánh giá kết quả [3]
Khuyến mãi gồm những công cụ kích thích khách hàng (tặng hàngmẫu, phiếu thưởng, trả lại tiền, bán đại hạ giá…, kích thích thương mại (trợcấp mua, quà miễn phí, thi đua doanh số các đại lý…, và kích thích nhân viênbán hàng (tiền thưởng, thi đua, so sánh doanh số) Những quyết định chủ yếu
về khuyến mãi là xác định mục tiêu, lựa chọn công cụ, xây dựng chươngtrình, thử nghiệm trước, tiến hành, kiểm tra hoạt động và đánh giá kết quả
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh
Trang 222.1.5.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
Các nhân tố kinh tế
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu ảnh hưởng bởi GDPbình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tỷ giá hối đoái,yếu tố lạm phát, lãi suất, thuế xuất nhập khẩu…
GDP là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng đượcsản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định(thường là một năm) Trong nhiều năm gần đây GDP bình quân đầu người vàtốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta đều tăng cao Tốc độ tăng trưởng bìnhquân trong nhiều năm đạt khoảng 7,6% đặc biệt trong thời kì khủng hoảngkinh tế nước ta vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao Năm 2009 trong khi cácnước như Mĩ, Anh, Pháp và nhiều nước khác cố tìm cách thoát khỏi khủnghoảng và tránh tình trạng tốc độ tăng trưởng quá thấp thậm chí là âm thì nước
ta vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 5% Tốc độ tăng trưởng kinh tế và GDPbình quân đầu người cao làm cho thu nhập của người dân tăng, khả năngthanh toán nhanh dẫn tới sức mua tăng Vậy đây là cơ hội để các doanhnghiệp sản xuất và kinh doanh các mặt hàng hóa đáp ứng nhu cầu ngày cànggia tăng của thị trường [19]
Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước: Nhân tố này có tácđộng nhanh chóng và sâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và đối với nềnkinh tế nói riêng nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở Nếu đồng nội tệ lêngiá, khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn đối thủcạnh tranh Như vậy, năng lực cạnh tranh bằng giá sản phẩm của doanhnghiệp sẽ kém hơn so với các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, khi đồng nội tệ lêngiá khuyến khích nhập khẩu thì sức cạnh tranh hàng hoá cùng loại của cácdoanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay cả trên thị trường trong nước.Ngược lại khi đồng nội tệ giảm giá, sức cạnh tranh hàng hoá của các doanhnghiệp tăng cả trên thị trường trong nước và thị trường nước ngoài vì giá bán
Trang 23hàng hoá sẽ thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hoá do nướckhác sản xuất Tỷ giá thay đổi làm đội giá thành thức ăn thành phẩm.
Yếu tố lạm phát cũng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng hoá củadoanh nghiệp Một quốc gia có mức lạm phát cao sẽ làm tăng giá cả các yếu
tố đầu vào dẫn đến tăng giá thành và tăng giá bán Điều đó làm cho hàng hoácủa doanh nghiệp khó cạnh tranh hơn về giá so với các đối thủ cạnh tranhkhác Trong năm 2008, 2009 với sự gia tăng chóng mặt của giá cả hàng hóalàm cho người tiêu dùng giảm lượng mua hàng hóa so với trước điều này ảnhhưởng không ít tới sản xuất của các doanh nghiệp [19]
Lãi suất cho vay của những ngân hàng có ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp đặc biệt là năng lực tài chính Vốn vay trong cơ cấuvốn của doanh nghiệp là không thể thiếu Mặt khác khi lãi suất cho vay củacác ngân hàng cao dẫn đến giá thành sản phẩm cao kéo theo sức mua hànghóa giảm
Thuế xuất nhập khẩu cũng là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tớinăng lực cạnh tranh của Công ty Đối với các doanh nghiệp chế biến thức ănchăn nuôi thì thuế nhập khẩu các loại ngô, đỗ tương làm tăng chi phí sản xuấtcủa sản phẩm đã gây khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường
Vậy muốn nâng cao được năng lực cạnh tranh thì các doanh nghiệp cầnthường xuyên quan tâm nắm bắt tới các nhân tố kinh tế để có các chiến lược,quyết định trước những sự biến động của các yếu tố kinh tế
Các nhân tố về thể chế chính sách
Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanhnghiệp Nội dung của thể chế, chính sách bao gồm các quy định pháp luật, cácbiện pháp hạn chế hay khuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hóa,dịch vụ, ngành nghề, địa bàn… Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật, chínhsách về đầu tư, tài chính, tiền tệ, đất đai, công nghệ, thị trường… nghĩa là cácbiện pháp điều tiết cả đầu vào và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt độngcủa doanh nghiệp Do vậy, đây là nhóm yếu tố rất quan trọng và bao quát rất
Trang 24nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng caonăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng.
Các nhân tố về kỹ thuật công nghệ
Nhóm yếu tố này ngày càng quan trọng và có ý nghĩa quyết định đếnmôi trường cạnh tranh, tác động một cách quyết định đến hai yếu tố cơ bảnnhất tạo nên năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đó là chấtlượng và giá bán Khoa học – công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của cácdoanh nghiệp, qua đó tạo nên năng lực cạnh tranh của sản phẩm Hiện naytrên thế giới đã chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng sảnphẩm và dịch vụ có hàm lượng khoa học – công nghệ cao
Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp các cơ sở sản xuất trong nước tạo rađược những thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị toàn bộ cơ
sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân Đây là tiền đề để các doanhnghiệp ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Các nhân tố về văn hóa xã hội
Ở mỗi vùng miền lại có những phong tục, tập quán, lối sống cũng nhưthị hiếu của người tiêu dùng khác nhau Sự khác nhau đó thể hiện ở cách ănmặc, cách sống, các lễ nghi cưới xin ma chay, tôn giáo… phong tục sản xuấtcũng khác nhau đặc biệt là ngành nông nghiệp Do đó các doanh nghiệp khisản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó hoặc xâm nhập hàng vào thị trườngmới thì xem nó có phù hợp với phong tục tập quán không? Khi đã hiểu được
về các yếu tố đó và đáp ứng được hàng hóa phù hợp với nhu cầu khách hàngthì cũng là lúc doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh thị trường và nâng cao nănglực cạnh tranh của Công ty
Các nhân tố về tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên tạo ra những điều kiện thuận lợi và khó khăn banđầu cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, nếu tài nguyên thiên nhiênphong phú, điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi, vị trí của doanh nghiệp thuận
Trang 25lợi thì cũng coi như là một lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp giúp doanhnghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.
2.1.5.2 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
Khách hàng là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng tới kinh doanh, vì thếthực chất khách hàng là thị trường của doanh nghiệp, số lượng, kết cấu kháchhàng, quy mô nhu cầu, động cơ mua hàng, thị hiếu, yêu cầu của họ…Kháchhàng có ý nghĩa sống còn đối với việc kinh doanh, nếu chúng ta không cungcấp cho khách hàng thứ mà họ cần với giá phải chăng họ sẽ tìm chỗ khác đểmua hàng và ngược lại nếu ta đáp ứng tốt được các nhu cầu của khách hàngchúng ta sẽ tăng được được doanh số và lợi luận
Trong điều kiện một ngành có sự cạnh tranh gay gắt thì vai trò củakhách hàng ngày càng trở nên quan trọng và cần được ưu tiên hơn Một doanhnghiệp không thể thoả mãn được tất cả nhu cầu của mọi khách hàng nêndoanh nghiệp cần phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau Trên
cơ sở đó mới tiến hành phân tích và đưa ra những chính sách thích hợp để thuhút ngày càng nhiều khách hàng về phía mình nhằm tăng sức cạnh tranh củahàng hoá của mình so với đối thủ cạnh tranh Ngoài việc thu hút khách hàngthì các doanh nghiệp phải gìn giữ khách hàng
Nhà cung cấp và các yếu tố đầu vào
Nhà cung cấp là những cá nhân hay tổ chức cung ứng các loại yếu tốđầu vào cho doanh nghiệp như: nguyên liệu, máy móc, vật liệu, thành phẩmhay dịch vụ cho doanh nghiệp; lao động; khoa học kỹ thuật; vốn giữa các nhàcung ứng và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả,chất lượng và thời gian giao hàng
Nhà cung cấp và các yếu tố đầu vào ảnh hưởng lớn đến môi trườngcạnh tranh trong nội bộ ngành Số lượng các nhà cung cấp thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau thể hiện sự phát triển của thị trường các yếu tố đầu
Trang 26vào Thị trường càng phát triển bao nhiêu càng tạo ra khả năng lớn hơn cho sựlựa chọn các yếu tố đầu vào bấy nhiêu.
Sức ép của sản phẩm thay thế
Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm thay thế ra đời là một đòi hỏi tấtyếu nhằm đáp ứng sự thay đổi của nhu cầu thị trường ngày càng đa dạng,phong phú, cấp cao hơn sản phẩm thay thế thường có sức cạnh tranh mạnhhơn sản phẩm bị thay thế
Sự sẵn có của các sản phẩm bị thay thế trên thị trường là mối đe dọatrực tiếp đến khả năng phát triển, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, khigiá bán của sản phẩm vượt quá giới hạn chặn trên của mức giá bán sản phẩm,khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng hàng thay thế Do đó sẽ sẽ ảnh hưởng tớidoanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
Các đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là những doanh nghiệp đang hoạt độngsản xuất kinh doanh trong một ngành nhất định Những doanh nghiệp này đãvượt qua những rào cản để xâm nhập vào ngành hoặc những hãng muốn rútlui khỏi ngành nhưng chưa có cơ hội Do vậy, doanh nghiệp phải nắm bắtthông tin đầy đủ về các đối thủ cạnh tranh để có các chiến lược cạnh tranhphù hợp
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnhtranh trong cùng một ngành sản xuất nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họlựa chọn và quyết định gia nhập ngành Những đối thủ mới của ngành mangđến năng lực sản xuất mới, sự mong muốn chiếm lĩnh một thị phần nào đó vàthường là những nguồn lực to lớn Giá bán có thể bị kéo xuống hoặc chi phícủa các hãng đi trước có thể tăng lên và kết quả làm giảm mức lợi nhuận củadoanh nghiệp Khi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế của doanh nghiệp sẽ thayđổi Vì vậy, doanh nghiệp cần tự tạo ra một hàng rào ngăn cản sự xâm nhậpcủa các đối thủ mới Các rào cản chủ yếu: tính kinh tế theo quy mô, sự khác
Trang 27biệt hoá sản phẩm, sự đòi hỏi nguồn tài chính lớn, khả năng tiếp cận với kênhphân phối, các bất lợi về chi phí không liên quan đến qui mô [7].
2.1.6 Những vấn đề chung về thức ăn chăn nuôi
2.1.6.1 Đặc điểm thức ăn chăn nuôi
Các nguyên liệu sử dụng cho chế biến thức ăn công nghiệp phải
có giá trị dinh dưỡng cao
Để xây dựng công thức TĂCN ngoài việc cần hiểu rõ nhu cầu dinhdưỡng còn phải biết thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các nguyênliệu thức ăn mà ta sử dụng để sản xuất TĂCN Thức ăn giàu năng lượng baogồm các nguyên liệu như ngô, sắn, cám, tấm… còn thức ăn giàu protein baogồm khô dầu đỗ tương, bột cá, bột thịt xương, gluten ngô, khô hạt cải Mỗiloại nguyên liệu có giá trị dinh dưỡng rất khác nhau, thậm chí ngay cả mộttrong loại thức ăn cũng có sự khác biệt nhất định Do đó các nguyên liệu dùnglàm TĂCN cần được phân tích thành phần dinh dưỡng trước khi sử dụng xâydựng công thức để sản xuất TĂCN Cũng có thể sử dụng bảng giá trị dinhdưỡng có sẵn nhưng rất cần cân nhắc để lựa chọn đúng chủng loại thức ăn màchúng ta hiện có Mặc dù ở nước ta giá tiền phân tích mẫu thức ăn tương đốiđắt, nhưng cũng cần phân tích một số chỉ tiêu chính chẳng hạn như protein rồidùng các phương trình hồi qui thường được giới thiệu trong các bảng giá trịdinh dưỡng để tính toán gần đúng hàm lượng các axit amin trong thức ăn [4]
Thành phần khoáng đa lượng, vi lượng của các thức ăn cũng được trìnhbày trong các bảng giá trị dinh dưỡng, nhưng ở nước ta hàm lượng canxi,photpho, natri trong bột cá thường hay biến động, vì nguyên liệu dùng để sảnxuất bột cá ở mỗi nhà máy có những khác biệt đáng kể Do đó rất cần phântích kiểm tra lại hàm lượng các nguyên tố khoáng này cùng như protein trongbột cá [3]
Yêu cầu về bảo quản thức ăn rất cao
Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, đặc biệt vào miền Bắc vàomùa xuân và những ngày mưa ngâu của mùa hè thu độ ẩm của không khí đôi
Trang 28khi lên tới 90,0% - 98,0% Trong điều kiện nếu thức ăn không được bảo quảntốt, độ ẩm trong thức ăn sẽ tăng lên, tạo điều kiện tốt cho nấm mốc phát triển
và sinh sản ra độc tố nấm mốc có hại cho vật nuôi Do đó nhiều hãng thức ănchăn nuôi qui định sản phẩm của họ phải đạt độ ẩm dưới 13% để đề phònghút ẩm từ không khí, thức ăn sẽ bị mốc Vì vậy kiểm tra và theo dõi độ ẩmtrong thức ăn chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu Để làm tốt công việc nàyđiều cần thiết và kiểm tra chặt chẽ đầu vào như ngô, sắn, cám, bột cá, khô đậutương… phải đạt độ ẩm quy định, mặt khác phải luôn kiểm tra nguyên liệutrong kho và thực hiện tốt nguyên tắc hàng nào nhập kho trước dùng trước[9]
Độ nhỏ và độ đồng đều của thức ăn cao
Độ nhỏ của thức ăn giữ vai trò quan trọng, nếu thức ăn nghiền to quá sẽlàm giảm mức độ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, ngược lại nếu được nghiềnnhỏ quá (<0,4 mm – 0,8 mm) sẽ tiêu tốn nhiều điện năng, nhưng mức độ tiêuhóa cũng không tăng Đồng thời nhiều kết quả nhận thấy khi thức ăn nghiềnquá nhỏ đã làm tăng tỉ lệ vật nuôi bị loét đường tiêu hóa Người ta khẳng địnhđược độ mịn hợp lý của thức ăn hỗn hợp là 0,6 mm – 0,8 mm [9]
Độ đồng đều của thức ăn cũng là một vấn đề cần được quan tâm Nếuthức ăn không được trộn đồng đều sẽ có vật nuôi ăn phải phần thức ăn cónhiều tinh bột nhưng lại thiếu protein, hay thiếu vitamin và chắc chắn dẫnđến hiệu quả chăn nuôi thấp Vì lẽ đó nên phải kiểm tra độ đồng đều sau khitrộn Độ đồng đều phụ thuộc vào đặc điểm nguyên liệu thức ăn, vào kiểu máytrộn và thời gian trộn
Thức ăn công nghiệp dễ bị nấm mốc
Khi độ ẩm không khí cao hơn 70% và nhiệt độ môi trường 35oC – 40oC
là điều kiện rất thuận lợi cho nấm mốc phát triển Độc tố của nấm mốc làmsuy giảm miễn dịch, phá hủy tế bào gan, gây ra bệnh ung thư cho gia súc, giacầm, vật nuôi chậm lớn và gây ra xảy thai, gây ra vị đắng giảm tính ngonmiệng, giảm năng suất sản lượng của vật nuôi Do đó các biện pháp kiểm tra
Trang 29độ ẩm của thức ăn và đảm bảo điều kiện tốt của kho hàng cũng như thực hiệntốt các quy trình bảo quản và thời gian dữ trữ nguyên liệu hợp lí là những vấn
đề cực kì quan trọng [9]
Độ bền vững của viên thức ăn cao
Độ bền vững của viên thức ăn cũng là một chỉ tiêu cần được quan tâm.Muốn cho thức ăn viên kết dính tốt, người xây dựng công thức thức ăn cầnquan tâm phối chế các nguyên liệu để có tỷ lệ ngô, sắn, tấm, khô đậu tương…thích hợp, tạo ra quá trình gelatin hóa tốt khi xử lí nhiệt trong quy trình sảnxuất thức ăn viên
Nguyên liệu sản xuất thức ăn cần được kiểm tra thường xuyên
Kiểm tra thường xuyên chất lượng nguyên liệu thức ăn là một vấn đềhết sức quan trọng của bất kì một nhà máy thức ăn nào, bởi vì nguyên liệuthức ăn tốt sẽ tạo ra những sản phẩm tốt Với bất kì một nguyên liệu thức ănchỉ tiêu đầu tiên cần quan tâm là độ ẩm Kiểm soát được độ ẩm sẽ quyết địnhphần lớn sự thành bại của mỗinhà máy thức ăn chăn nuôi
Người ta thường chia ra các nhóm nguyên liệu khác nhau để xây dựngcác chỉ tiêu đánh giá chất lượng khác nhau, gắn với đặc điểm cơ bản về thànhphần dinh dưỡng của nguyên liệu, cũng như các đặc trưng của vùng khí hậu,nơi dự trữ nguyên liệu cho sản xuất…
Thức ăn công nghiệp giàu protein và tinh bột
Các loại thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật như bột cá, bột thịtxương, bột sữa… Nhóm thức ăn này rất nhạy cảm với độ ẩm vì chúng rất dễ
bị hút ẩm từ không khí khi không được bảo quản hợp lí, chúng lại giàu dinhdưỡng nên rất tốt cho nấm mốc và các loại sinh vật khác phát triển Ngoài racác chỉ tiêu về tạp chất, cát sạn cũng như không bị mốc và có mặt côn trùngsống… đều được quy định sẽ chặt chẽ
Đối với các loại thức ăn giàu protein khác có nguồn gốc thực vật nhưcác loại khô dầu người ta quy định độ ẩm không vượt quá 13,0% - 15,0% hàmlượng protein phải đạt chỉ tiêu đặc trưng cho từng loại [9]
Trang 30Thức ăn giàu tinh bột bao gồm ngô, sắn, tấm, cám… Chúng là loại thức
ăn cung cấp năng lượng cho vật nuôi Đối với các loại thức ăn này người tacũng quy định các chỉ tiêu về độ ẩm, hàm lượng protein, xơ, aflatoxin, tạpchất… cho từng loại nguyên liệu thức ăn Phần lớn các nhà máy ở nước ta đềuquy định độ ẩm của các loại nguyên liệu này phải thấp hơn 13,5% và phải đạtđược các chỉ tiêu khác
2.1.6.2 Vai trò của thức ăn chăn nuôi
Thức ăn là vật chất chứa đựng chất dinh dưỡng mà động vật có thể ăn
và hấp thụ được các chất dinh dưỡng đó để duy trì sự sống, xây dựng cấu trúc
cơ thể
Thức ăn chăn nuôi có vai trò quan trọng quyết định nên giá thành sản phẩmcủa ngành chăn nuôi, vì chỉ riêng thức ăn chăn nuôi chiếm khoảng 70% giá thànhsản phẩm ngành chăn nuôi như thịt, sữa, trứng của ngành công nghiệp [2]
Thức ăn chăn nuôi tạo năng suất cao cho ngành chăn nuôi Thức ănchăn nuôi đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi, mà còn tạo ra sựđột phá về khả năng phát triển mạnh, nhanh cho ngành chăn nuôi Nguồn thức
ăn được chế biến theo nhu cầu dinh dưỡng từng giai đoạn sinh trưởng và pháttriển của vật nuôi đã tạo nên sự tăng trưởng nhanh của vật nuôi
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp đã góp phần làm thay đổi tập quánchăn nuôi Từ chăn nuôi lạc hậu, nhỏ lẻ không tập trung, tận dụng các phếphẩm, nguồn nguyên liệu thừa của ngành chế biến, sinh hoạt… làm thức ănsang hướng chăn nuôi mang tính công nghiệp, quy mô lớn và tập trung
Ngoài việc rút ngắn chu kì chăn nuôi bằng tốc độ tăng trưởng nhanhcủa vật nuôi, thì nhờ có thức ăn chăn nuôi công nghiệp mả số lượng lao độngtrong ngành chăn nuôi giảm một cách đáng kể Nếu như theo phương pháptruyền thống thì phải nấu chín, tốn nhiều thức ăn hơn, mất nhiều thời gian,công sức hơn thì ngày nay, khi sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp, lượnglao động và thời gian dùng cho việc chăn nuôi ít hơn nhiều, lượng thức ăn tiêutốn ít hơn cho hiệu quả chăn nuôi cao Như vậy, năng suất lao động không chỉ
Trang 31tăng lên ở khối lượng sản phẩm tạo ra mà còn tăng lên nhờ việc sử dụng ítcông lao động hơn.
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Nhờ có thức ăn chăn nuôi công nghiệp mà lượng lao động sử dụng trongngành chăn nuôi giảm nên đã tạo ra một nguồn nhân lực dữ trữ cho các ngànhkhác như ngành công nghiệp và dịch vụ
Ngoài ra, thức ăn chăn nuôi góp phần tạo sự cân bằng giữa cầu và cung
về các sản phẩm từ chăn nuôi Ngành chăn nuôi phát triển tạo tiền đề chongành công nghiệp chế biến phát triển mạnh và đa dạng
2.1.6.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và cạnh tranh thức ăn chăn nuôi
Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp phụ thuộc rất lớn vàotính thời vụ của ngành nông nghiệp và tính chu kỳ của ngành chăn nuôi Vìphần lớn nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp là cácnông sản có giá cả không ổn định và có tính thời vụ cao, làm cho giá cả thức
ăn chăn nuôi không ổn định Từ đó, đã ảnh hưởng tới lợi nhuận của Công tykinh doanh thức ăn chăn nuôi của công nghiệp và người chăn nuôi
Nguyên liệu dùng cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi chủ yếu lạiphải nhập Mặt khác các doanh nghiệp luôn phải đối diện với sự tăng giá củacác nguyên liệu
Nhu cầu về thức ăn chăn nuôi cũng đa dạng cả về chất lượng, chủngloại và giá cả… Do vậy tạo ra tính cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các đại
lý, các Công ty sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi công nghiệp
Đặc điểm tiêu dùng khác nhau giữa các vùng, giữa những nông hộ chănnuôi nhỏ lẻ và các trang trại đã tạo nên tính đa dạng trong mẫu mã, chấtlượng, giá cả thức ăn chăn nuôi Những vùng chăn nuôi tập trung, quy mô tậptrung thường căn cứ vào các yếu tố như thức ăn đó có đạt tốc độ lớn, chấtlượng thịt, khả năng tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng… để lựa chọn thức ăn Đốivới những vùng chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán họ thường quan tâm tới mẫu mã bao
bì, mầu sắc thức ăn, đấy là căn cứ đầu tiên để lựa chọn thức ăn chăn nuôi
Trang 322.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất và chế biến thức ăn chăn nuôi trên thế giới
Sau năm 2004 trên thế giới có trên 3500 nhà máy sản xuất thức ăn chănnuôi chiếm trên 80% thị phần thức ăn chăn nuôi còn lại 20% do các cá thể sảnxuất bằng phương pháp thủ công trong đó có 25 nước có sản lượng cao nhấtchiếm thị phần lên tới 18% (khoảng 106 triệu tấn) [15]
Năm 2007 ngành thức ăn chăn nuôi toàn cầu có sản lượng hàng nămkhoảng 620 triệu tấn thức ăn chăn nuôi Trong 620 triệu tấn thì Trung Quốc,
EU, Hoa Kỳ, Brazil có sản lượng tới 440 triệu tấn, chiếm 74% tổng sản lượngthức ăn chăn nuôi toàn cầu [13] Hiện nay, các nước này vẫn đứng đầu về sảnlượng thức ăn chăn nuôi
2.2.2 Tình hình sản xuất và chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
Mỗi một nước đều có kinh nghiện nâng cao năng lực cạnh tranh chocác doanh nghiệp Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy, để có hệ thống doanhnghiệp mạnh, nhà nước chỉ hỗ trợ các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh
và cũng chỉ hỗ trợ thông qua các giải pháp để có thị trường thuận lợi chodoanh nghiệp cạnh tranh nhờ đó các doanh nghiệp Nhật Bản trưởng thành rấtnhanh chóng
Nói tới hàng Việt Nam có sức cạnh tranh cao chúng ta có thể tự hàonhắc tới các mặt hàng nông sản như: gạo, cà phê, tiêu, điều, cao su…, mặthàng giầy da, dệt vải Để đạt được điều này các doanh nghiệp luôn khôngngừng nâng cao năng lực cạnh tranh Trước đây phần lớn các doanh nghiệpcạnh tranh chủ yếu bằng các chiến lược mở rộng thị trường, chiến lược giá, vàchiến lược chất lượng sản phẩm Ngày nay thì các doanh nghiệp đã quan tâm
và chú trọng tới các công cụ cạnh tranh như chiến lược phân phối, chiến lượcnghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, chiến lược tạo dựng thương hiệu, tăngtiềm lực nội bộ cho chính bản thân các doanh nghiệp
Ngành chế biến thức ăn gia súc ở Việt Nam phát triển nhanh và mạnh
từ đầu thập kỷ 90 đặc biệt là từ năm 1994 đến nay Do tác động tích cực của
Trang 33chính sách đổi mới, các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đã đầu tư vốn đểphát triển mạnh ngành công nghiệp này Sản xuất thức ăn công nghiệp đã tăng23% trong giai đoạn từ 1988 – 1998 và tỷ lệ thức ăn công nghiệp trong tổnglượng thức ăn sử dụng cho chăn nuôi đã tăng từ 1% lên 27% trong cùng thời
kỳ trên Mặc dù chất lượng thức ăn cũng như cung và cầu về thức ăn côngnghiệp tăng nhanh, giá các loại thức ăn có xu hướng giảm nhưng ngành côngnghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc cũng đã gặp phải nhiều trở ngạilàm ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành cũng như hạn chế mức sử dụngthức ăn công nghiệp đối với người chăn nuôi [15]
Theo báo cáo của IFPRI, đến cuối năm 1999 cả nước có 105 nhà máysản xuất thức ăn gia súc với tổng công suất 2,8 triệu tấn/năm Trong đó 62%nhà máy thuộc sở hữu tư nhân, 22% thuộc sở hữu nhà nước, 12% nhà máycủa nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài và 5% thuộc sở hữu của tậpthể Hầu hết các nhà máy có qui mô nhỏ, trong đó 45% nhà máy có qui mônhỏ hơn 5000 tấn/năm, chỉ khoảng 10% số nhà máy có công suất nhỏ hơn
(Nguồn: Hội thảo về tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ tháng 12/2009)
Đồ thị 2.1 Sự phân bố doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi theo qui mô
Theo hội thảo về tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệpvừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi ngày hàng nông sản: trường hợp ngày thức
ăn chăn nuôi” tháng 12/2009 Xét theo qui mô thì Miền Nam tập trung nhiều
Trang 34các doanh nghiệp TĂCN có qui mô lớn (>60000 tấn/năm) và trung bình(10000 – 60000 tấn/năm) nhiều hơn, số lượng doanh nghiệp có qui mô nhỏ(<10000 tấn/năm) chiếm tỷ trọng ít Trong khi đó ở Miền Bắc thì lại tập trungphần lớn các doanh nghiệp TĂCN có qui mô nhỏ, số lượng các doanh nghiệp
có qui mô lớn chiếm tỷ trọng ít nhất Điều này chứng tỏ, miền Nam phát triểnngành chế biến thức ăn chăn nuôi hơn ở miền Nam [18]
Để sản xuất được lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp nuôi gia súc,gia cầm, động vật công nghiệp nuôi gia súc, gia cầm, động vật thuỷ hải sảntheo hướng chăn nuôi công nghiệp tập trung hàng năm phải nhập khẩu lượngnguyên liệu từ nước ngoài trên dưới 2 tỷ USD Trong đó mặt hàng có hàmlượng đạm cao như khô dầu đậu phộng, bột cá chiếm tỷ trọng cao nhất: 800-
900 triệu USD/năm Sau đó là mặt hàng giàu năng lượng: ngô, cám các loại.Riêng ngô chỉ tính 8 tháng đầu năm 2009 đã nhập 800.000 tấn Ngoài ra còntrên dưới 40 mặt hàng nguyên liệu khác nhập khẩu từ 40-50 quốc gia và khuvực [17]
Đối với các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi ngoài cạnh tranh khốc liệtvới các doanh nghiệp nước ngoài còn cạnh tranh với các công ty trong nước.Các công ty trong nước cũng có sự cạnh tranh nhau về giá cả, chất lượng sảnphẩm, các hình thức bán hàng khuyến mãi Nhiều doanh nghiệp sản xuất thức
ăn chăn nuôi nhỏ có nhiều phương thức cạnh tranh với công ty lớn: cho nợtiền, vận chuyển hàng tới đại lý, trả chiết khấu cao cho đại lý
2.2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu cạnh tranh của nhiều tác giả,tập thể tác giả ở các cấp độ lĩnh vực khác nhau Trong lĩnh vực nông nghiệp thì
đề tài về cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đượcnhiều nhà nghiên cứu quan tâm Dưới đây là một số công trình nghiên cứu:
Kiều Đình Thép (2003), “Năng lực cạnh tranh sản phẩm thức ăn chăn nuôi của Công ty Charoen Pokphand Việt Nam tại Thái Nguyên”,
Trang 35Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Tác giả đã nêu bật 8giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm:
- Hoạch định chiến lược sản phẩm: nâng cao chất lượng sản phẩm, đadạng hóa sản phẩm, kế hoạch nhãn hiệu mới, đầu tư nghiên cứu sản phẩmmới, tạo bao bì với nhiều kích cỡ khác nhau, sản xuất các loại đặc chủng theoyêu cầu của người chăn nuôi
- Hoạch định chiến lược giá bán sản phẩm: Giảm giá chịu lỗ trong thờigian ngắn để người chăn nuôi tin dùng và sau đó tăng giá
- Tăng cường mở rộng và hoàn thiện kênh phân phối: tác giả đưa ra môhình kênh phân phối mới
- Tăng cường các hoạt động quản lý và hỗ trợ theo mục tiêu xác định:thưởng đối với các đại lý và tập huấn, hội thảo kỹ thuật cho người chăn nuôi
- Tăng cường tiếp thị sản phẩm TĂCN và dịch vụ khách hàng tới ngườikinh doanh và người chăn nuôi: nâng cao chất lượng nhân viên thị trường vànghiên cứu phân tích đối thủ cạnh tranh
- Tăng cường tiềm lực nội bộ của công ty: phát huy nhân tố con người,tăng cường đầu tư sản xuất con giống
- Tăng cường các hoạt động sản xuất có liên quan: sản xuất con giống,thuốc thú y, xây dựng trang trại, tổ chức chăn nuôi
- Công ty và người chăn nuôi tham gia bảo hiểm đàn vật nuôi
Hạn chế của nghiên cứu là chưa sử dụng ma trận IEF, EFE trong phântích năng lực cạnh tranh Mặt khác trong giải pháp tăng tiềm lực nội bộ củaCông ty chưa đề cập tới tiềm lực tài chính và công nghệ sản xuất
Phạm Thành Long (2008), “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH thương mại VIC tại thị trường hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Tác
giả đã nêu bật được năng lực cạnh tranh của Công ty và đưa ra những giải phápphù hợp Tác giả đưa ra chín yếu tố cấu thành sức cạnh tranh của doanh nghiệp:chiến lược kinh doanh, quy mô, năng lực quản lý và điều hành, khả năng nắm