Tuy nhiên, thuyết này là sự tìm tòi ban đầu về những quy luật phát triển tâm lý con người và đã kích thích mạnh mẽ các nhà nghiên cứu tìm kiếm những giải thích khác về sự phát triển cá t
Trang 14
CHƯƠNG II: MỘT SỐ CÁCH TIẾP CẬN VỀ SỰ
PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CON NGƯỜI
Trang 24
I CÁC HỌC THUYẾT VỀ NHÂN TỐ VÀ ĐỘNG LỰC CỦA SỰ PHÁT
TRIỂN TÂM LÝ
•Thuyết nguồn gốc sinh vật
•Thuyết nguồn gốc xã hội
•Thuyết hội tụ hai yếu tố
Trang 31
4
1 Thuyết nguồn gốc sinh vật
Những người theo trường phái nguồn gốc
sinh vật coi những đặc điểm bẩm sinh di
truyền có sẵn của trẻ em là nguồn gốc và
động lực của sự phát triển tâm lý cá thể Theo
họ, di truyền là yếu tố có tác dụng quyết định
đến sự phát triển tâm lý trẻ, còn môi trường là
yếu tố điều chỉnh
Trang 44
Thuyết sinh học là cơ sở của giáo dục tự phát, nó là chỗ dựa cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc
Tuy nhiên, thuyết này là sự tìm tòi ban đầu về những quy luật phát triển tâm lý con người và
đã kích thích mạnh mẽ các nhà nghiên cứu tìm kiếm những giải thích khác về sự phát triển cá thể người
Trang 51
4
Thuyết nguồn gốc xã hội
Những người theo thuyết này cho rằng môi trường
xã hội là nhân tố quyết định sự phát triển của trẻ
em Thuyết nguồn gốc xã hội coi trẻ em là tồn tại
thụ động, chịu sự tác động và chi phối của môi
trường xung quanh và không thể thoát khỏi vòng
kiểm soát đó
Trang 64
Thuyết nguồn gốc xã hội không giải thích được thực tiễn sống động trong việc hình thành nhân cách con người, nó cũng phủ nhận tính tích cực của con người, đổ mọi nguyên nhân cho môi
Trang 71
4
Thuyết hội tụ hai yếu tố
Những người theo thuyết này cho
rằng: sự phát triển tâm lý không
phải đơn thuần là sự bộc lộ dần
những đặc tính di truyền, và cũng
không phải là sự phản ánh các
tác động bên ngoài của môi
trường, mà là kết quả hội tụ của
hai yếu tố trên
Trang 91
4
Tuy nhiên, môi trường trong
thuyết hội tụ hai yếu tố
thường được xem như môi
trường tự nhiên của thế giới
Trang 111
4
Mỗi đứa trẻ quan hệ với những yếu
tố nhất định của môi trường, chỉ có
những yếu tố nào được trẻ lựa
chọn, tích cực quan hệ, tích cực tác
động qua lại với chúng mới có ảnh
hưởng đến sự phát triển của trẻ
Trang 131
4
Trong suốt thế kỷ XX, có
nhiều tác giả nghiên cứu về
sự phát triển tâm lý con
người, trong đó có các tác
giả nổi tiếng như: S.Freud,
A.Freud, E.Erikson, J.Piaget,
Trang 144
S Freud và học thuyết phân tâm
S Freud đã sử dụng các ca phân tích lâm sàng các bệnh nhân và
cả sự hồi tưởng về thời thơ ấu của ông để xây dựng và phát triển lý thuyết phân tâm.
Trang 151
4
“Phân tâm học” - lý thuyết phân tích “tâm hồn”
Trong trị liệu, Freud đã sử dụng rất nhiều các kĩ thuật khác nhau, nhưng
phương pháp liên tưởng tự do được ông sử dụng nhiều nhất.
Trang 164
Theo Freud, sự phát triển nhân cách gắn liền với sự phát triển tính dục Do đó, quan điểm của ông về sự phát triển tâm lý còn được gọi là lý thuyết về sự phát triển tâm lý tính dục
Trang 17•Khoái cảm tính dục của trẻ em tiến dần từ các bộ phận riêng lẻ, rời rạc trên cơ thể đến các vùng của cơ quan sinh dục Đối tượng gây khoái cảm chuyển dần từ bản thân sang đối tượng là những người khác và giới khác.
•Sự không phù hợp về bộ phận tạo ra khoái cảm tính dục tương ứng với giai đoạn lứa tuổi và không phù hợp với xu thế tiến triển của nó là dấu hiệu của sự phát triển không bình thường về tâm lý tính dục
Trang 184
Cấu trúc nhân cách người trưởng thành có 3 tầng cơ bản: cái
nó, cái tôi và cái siêu tôi
Trang 191
4
Khi sinh ra, đứa trẻ mới chỉ có “cái nó”
và hoạt động theo nguyên tắc thỏa
mãn Gặp phải những cấm đoán, ngăn
chặn của người lớn và xã hội, ở đứa
trẻ phát triển dần các cấu trúc “cái tôi”
và “cái siêu tôi” Cái tôi hoạt động theo
nguyên tắc hiện thực, có lý trí Cái
siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc
kiểm soát, phán xét, phê bình
Trang 204
Các giai đoạn phát triển theo Freud gắn liền với sự dịch chuyển các vùng nhạy cảm trên cơ thể, những vùng mà khi kích thích chúng thì tạo sự thỏa mãn cơ thể.
Trang 21Vùng nhạy cảm nhất ở giai đoạn
này là môi miệng Bú mẹ có khả
năng tạo khoái cảm tính dục đặc
biệt ở trẻ nhỏ
Trang 224
Giai đoạn hậu môn (Từ 1 - 1,5
đến 3 tuổi):
Vùng nhạy cảm của cơ thể là
vùng hậu môn Việc điều khiển
được thời điểm vệ sinh theo ý
mình tạo cho trẻ cảm giác hài
lòng
Trang 231
Giai đoạn dương vật (Từ 3 đến 5 -
6 tuổi):
Vùng nhạy cảm chuyển về vùng cơ
quan sinh dục Đứa trẻ bắt đầu có
cảm giác gắn bó tính dục với người
khác, đầu tiên là người cha hoặc
người mẹ, tùy thuộc đó là bé gái hay
bé trai
Trang 244
Giai đoạn tiềm ẩn (Từ 5 – 6 đến 12 tuổi):
Các xung năng tính dục bị ẩn đi Hứng thú tính dục có vẻ lắng xuống Cái
“tôi” dường như hoàn toàn kiểm soát được cái “nó”
Trang 251
4
Giai đoạn sinh dục (Từ 12 tuổi trở đi):
Các xung năng tính dục xuất hiện trở lại, tất cả những vùng nhạy cảm trước đây liên kết lại và cùng hướng tới một mục đích là giao tiếp tình dục
Trang 264
Lý thuyết của S Freud sau
này được nhiều học trò của
ông tiếp tục phát triển, bổ
sung và sửa đổi.
Trang 27Eric Erikson (1902-1994) - nhà phân
tâm học, sinh tại Đức, được đào tạo
tại Viên (Áo) dưới sự chỉ dẫn của
Anna Freud (con gái của S Freud)
Khi Hitler thống trị nước Đức, ông di
cư sang Mỹ (1933)
Trang 284
Ở vị thế cuả một người nhập cư,
cha mẹ lại ly hôn và ông không còn
tiếp xúc với cha nên chàng trai trẻ
Trang 291
4
Là một nhà phân tâm học nhưng
ông đã cho rằng lý thuyết của
Freud đã đánh giá không đầy đủ
về ảnh hưởng của xã hội đến sự
phát triển nhân cách Ông đã phát
triển lý thuyết của Freud và vượt
ra khỏi phạm vi của nó nhờ vào
cách xem xét sự phát triển của trẻ
em trong hệ thống các mối quan
hệ xã hội
Trang 304
Freud đã xem nền văn minh, xã hội như là nguồn gốc của sự bất mãn, là trở ngại cho các ham muốn vô thức Còn Erikson cho rằng xã hội chứa đựng sức mạnh dương tính tiềm tàng định hướng cho sự phát triển nhân cách con người
Trang 311
4
Erikson đồng ý với Freud về cấu
trúc của nhân cách Theo ông, khi
chúng ta muốn – đó là cái nó, khi
chúng ta cần phải – đó là cái siêu
tôi, ở giữa là cái tôi
Cái tôi luôn sử dụng những cơ
chế tự vệ để điều hòa giữa những
mong muốn bồng bột và tiếng nói
của lương tâm
Trang 324
Sự phát triển nhân cách, theo Erikson, được xác định bởi những gì
mà xã hội đòi hỏi ở con người
Trang 331
4
Mỗi đứa trẻ cần phải trải qua
một loạt các giai đoạn phát
triển Mỗi giai đoạn, ở con
Trang 344
Ông phân chia đời người thành 8 giai
đoạn, mỗi giai đoạn chứa đựng một
sự khủng khoảng (xung đột) tâm lý xã
hội nhất định mà con người cần giải
quyết
Trang 351
4
Nhân cách phát triển qua mỗi lần
giải quyết những xung đột giữa
các nhu cầu của cá nhân và
những đòi hỏi của xã hội Ở bất
kỳ giai đoạn nào, mọi sự thất bại
trong việc giải quyết xung đột đều
có thể gây nên những rối nhiễu
tâm lý, ảnh hưởng đến các giai
đoạn tiếp theo của cuộc đời
Trang 36Sau đây là các giai đoạn phát triển tâm lý xã hội theo E.Erikson
Trang 371
4
1 Tin tưởng hoặc không tin tưởng
(từ khi sinh đến 1 tuổi)
Phụ thuộc vào sự chăm sóc thời thơ ấu
mà trẻ có tin hay không tin vào thế giới
xung quanh Nếu nhu cầu của trẻ được
thoả mãn và được mọi người luôn
quan tâm và chú ý thì trẻ sẽ có ấn
tượng tốt về thế giới và có niềm tin về
sự an toàn của nó Nếu môi trường
xung quanh không ổn định, gây ra cho
trẻ nhiều nỗi đau, sự căng thẳng và bất
ổn thì trẻ sẽ cho rằng thế giới xung
quanh là không an toàn và không có
niềm tin vào nó
Trang 384
2 Tự lập hoặc xấu hổ và nghi ngờ (từ
1đến 3 tuổi)
Khi bắt đầu đi được, phạm vi hoạt động
của trẻ mở rộng, trẻ có nhiều khả năng cơ
thể và bắt đầu tự ăn, uống, mặc quần áo,
đi giày dép Khi trẻ tự làm được một cái gì
đó chúng có được cảm giác tự tin Nhưng
nếu trẻ thường xuyên không tự làm được,
bị mọi người chê cười, trẻ sẽ xấu hổ và
nghi ngờ vào khả năng của mình
Trang 39biết được thế giới có cấu tạo như thế nào
và nên tác động tới nó ra sao Nếu việc
khám phá môi trường xung quanh có hiệu
quả và được khích lệ thì chúng trở nên
hoạt bát Nhưng nếu chúng luôn bị người
lớn ngăn chặn các hoạt động khám phá,
bị phê bình hoặc trừng phạt thì chúng cảm
thấy luôn có lỗi và nhút nhát
Trang 404
4 Yêu thích lao động hoặc cảm
xúc thiếu hụt (từ 6 đến 12 tuổi)
Trẻ học nhiều điều trong nhà trường,
mở rộng các mối quan hệ giao tiếp
Trẻ thường tự đánh giá mình trên cơ
sở so sánh với các bạn, trên cơ sở
nhận xét đánh giá của người lớn,
thầy cô giáo Nếu trẻ tự đánh giá
mình tương đối cao thì sẽ tự tin, yêu
thích lao động, học tập Nếu trẻ tự
đánh giá mình thấp sẽ dẫn đến tự ti
và cảm thấy mình yếu kém
Trang 41Điều quan trọng đối với thanh
thiếu niên là phải biết tích hợp
các vai trò khác nhau của mình
để đi tới một sự đồng nhất
thống nhất về cái Tôi của bản
thân Nếu trẻ không hình thành
Trang 424
6 Gần gũi và cô lập (từ 18 đến 40 tuổi)
Ở giai đoạn tuổi thanh niên và đầu
tuổi trưởng thành, con người luôn tìm
kiếm những tình cảm gần gũi, thân
tình và không muốn bị tách biệt, cô
lập Không phải ai cũng có khả năng
tạo lập các mối quan hệ thân thiết,
gắn bó, gần gũi với người khác Đó là
khả năng trao tặng tâm hồn mình cho
người khác mà không làm mất đi bản
sắc của riêng mình
Trang 43Trong giai đoạn trưởng thành, nếu giải
quyết được các xung đột của các giai đoạn
trước, con người thường giành sự quan
tâm của mình cho những người khác nhiều
hơn và giúp đỡ họ Một số người có thể
tập trung năng lực của mình để giải quyết
các vấn đề xã hội
Việc không giải quyết được các xung đột
trước đó có thể dẫn tới việc con người tự
nuông chiều mình, chối bỏ người khác,
quan tâm tới sức khoẻ, các nhu cầu cá
nhân, sự bình yên của bản thân mình quá
mức
Trang 444
8 Sự thống nhất bản ngã hoặc là nỗi thất vọng (từ 60, 65 tuổi trở đi)
Trong các giai đoạn cuối đời, con người thường đánh giá lại cuộc đời đã qua Nếu họ hài lòng với quãng đời đã qua và cảm nhận được ý nghĩa cuộc sống thì
họ có được cảm nhận về sự thống nhất của cái Tôi, sự thống nhất bản ngã Ngược lại, nếu họ cảm thấy rằng họ đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội, chịu nhiều thất
bại và có nhiều lỗi lầm thì ở họ xuất hiện sự hối tiếc và nỗi thất vọng
Trang 451
4
Theo Erikson, mỗi giai đoạn phát triển
được xây dựng trên cơ sở những gì
tạo ra trước đó Mặc dù con người có
thể giải quyết các vấn đề của giai
đoạn trước ở những giai đoạn tiếp
theo, nhưng sự phát triển tốt nhất là
giải quyết kịp thời các xung đột và
khủng khoảng trong những giai đoạn
tương ứng với chúng
Trang 464
Ví dụ, nếu đứa trẻ không nhận được
sự quan tâm, tình yêu và sự nuôi
dưỡng chu đáo ở thời thơ ấu, thì có
thể bù đắp bằng việc quan tâm chú
ý của người lớn nhiều hơn trong các
giai đoạn tiếp theo Tuy vậy, khó có
thể bù đắp được hoàn toàn Sự phát
triển diễn ra êm đẹp và dễ dàng hơn
nhiều nếu trong thời kỳ thơ ấu
Trang 471
4
Theo Erikson, đến khoảng 17-20
tuổi ở con người diễn ra sự hình
thành cấu trúc hạt nhân cơ bản nhất
- đó là tính đồng nhất của nhân cách
(Identity), hay nói cách khác, đó là
sự hình thành bản sắc của nhân
cách Quá trình tìm tòi bản sắc và
tính đồng nhất, toàn vẹn của con
người còn tiếp tục diễn ra trong suốt
những giai đoạn tiếp theo Khủng
hoảng bản sắc (Identity crises) có
thể coi là một trong những khủng
hoảng sâu sắc nhất trong cuộc đời
Trang 484
Cần lưu ý rằng: lý thuyết của Erikson
dựa trên những nghiên cứu về sự
phát triển nhân cách con người ở các
nền văn hoá phương Tây, trong đó
tính đồng nhất của cá nhân cao hơn
tính đồng nhất cộng đồng Chúng ta
là những con người sống trong nền
văn hóa cộng đồng, và chúng ta có
thể cảm nhận được sự coi trọng thái
quá cái Tôi trong nhiều lý thuyết của
phương Tây
Trang 491
4
Sự khác biệt giữa văn hóa cá nhân và
văn hóa cộng đồng chắc chắn sẽ tạo ra
sự khác biệt trong sự hình thành nhân
cách con người
Trang 50nghiên cứu sự phát triển hành vi chỉ xuất
hiện cuối thế kỉ XIX ở Mỹ, khi mà Tâm lý
học hành vi cổ điển chiếm ưu thế trong
khoa học tâm lý học
Trang 531
4
Nhà sinh lý học người Nga I P
Paplốp (1849-1936) đưa ra lý thuyết
dạy học kinh điển theo công thức S –
R (kích thích - phản ứng)
E.L Thorndike (1874-1949) đưa ra lý
thuyết về qui luật hiệu quả vào năm
1911 Qui luật này khẳng định rằng
nếu một hành vi tạo ra sự thoả mãn thì
con vật (con người) có xu hướng lặp
lại hành vi đó, còn nếu nó tạo ra sự
không thoả mãn thì con vật sẽ từ chối
lặp lại nó
Trang 55khái niệm như: học tập, động
cơ, lực thúc đẩy, sự thúc đẩy
và kìm hãm tâm lý để biểu đạt
các hành vi không quan sát
được
Trang 564
Lý thuyết phát triển nhận thức của J Piaget
J Piaget là nhà tâm lý học Thụy sĩ Ông đã là người đầu tiên đưa ra những mô
tả cụ thể và đầy đủ nhất về quá trình phát triển trí tuệ trẻ em Các kết luận của ông dựa trên những quan sát về cách ứng xử của trẻ em, đầu tiên là của các con ông ở nhà, sau đó là các trẻ em khác ở Trung tâm nghiên cứu trẻ em Giơnevơ
Trang 571
4
Ông nhận thấy là trẻ em ở cùng lứa tuổi
thường có những lối ứng xử tương tự
nhau, và thường mắc các lỗi cùng loại khi
giải quyết cùng một vấn đề
Ông cho rằng những lỗi mang tính phổ
biến và tương tự nhau ở những trẻ cùng
lứa tuổi thể hiện trình độ phát triển trí tuệ
của trẻ em lứa tuổi đó
Những trẻ em lứa tuổi lớn hơn lại thường
mắc những lỗi khác tương tự nhau khi giải
quyết các vấn đề khó hơn, và hầu như
không còn mắc những lỗi mà trẻ em lứa
tuổi nhỏ hơn mắc phải
Trang 584
Piaget cho rằng, sự phát triển
nhận thức, trí tuệ của tất cả trẻ
em từ khi sinh ra đều tiến triển
lần lượt qua các giai đoạn Các
giai đoạn sắp xếp theo thứ tự
nhất định Sự phát triển trí tuệ
của trẻ em không thể đạt trình độ
cao hơn, nếu chưa đạt và hoàn
thiện ở mức thấp hơn trước đó
Trang 591
4
Các giai đoạn này được xem như các
mức phát triển trí tuệ phổ biến đối với
mọi người Sự khác biệt đối với mỗi
cá nhân chỉ có thể là vận tốc mà cá
nhân có thể vượt qua từng giai đoạn
và mức phát triển đạt được ở chung
cuộc
Trang 604
Piaget phân chia các giai đoạn phát triển trí
tuệ trẻ em như sau:
1 Giai đoạn trí tuệ cảm giác- vận động: (0
- 2 tuổi)
Theo Piaget, một trong những thành tựu
quan trọng nhất của giai đoạn trí tuệ cảm
giác vận động là khả năng hiểu tính ổn định,
không thay đổi, không biến mất của đồ vật
Đến cuối giai đoạn cảm giác vận động, trẻ
bắt đầu tách biệt bản thân khỏi những sự vật
khác ở môi trường xung quanh và bắt đầu đã
đánh giá được không gian và thời gian
Ngoài ra, trẻ đã biết nghĩa của vài chục từ và
nói được các từ đó
Trang 611
4
2 Giai đoạn tiền thao tác (2 - 6, 7 tuổi)
Khi trẻ bước vào giai đoạn tiền thao tác, khối lượng biểu tượng của trẻ tăng vọt Khả năng dùng biểu tượng rõ nét nhất là việc sử
dụng ngôn ngữ, dùng vật này để thay thế vật khác trong trò chơi
Mặc dù tư duy trẻ em độ tuổi này phát triển hơn nhưng vẫn là tư duy cảm tính Nó còn dựa trên những đặc điểm bề ngoài (những
gì trẻ nhìn thấy trực tiếp) chứ chưa dựa vào những suy luận logic
về bản chất của sự vật hiện tượng
Những thí nghiệm kinh điển của Piaget minh họa tính cảm tính trong tư duy của trẻ em đoạn tuổi này là các thí nghiệm về bảo toàn khối lượng chất lỏng, bảo toàn khối lượng đất sét, bảo toàn
số lượng các hạt cườm