1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một Số Cách Tiếp Cận Về Sự Phát Triển Tâm Lý Con Người _ www.bit.ly/taiho123

91 4,6K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thuyết này là sự tìm tòi ban đầu về những quy luật phát triển tâm lý con người và đã kích thích mạnh mẽ các nhà nghiên cứu tìm kiếm những giải thích khác về sự phát triển cá t

Trang 1

4

CHƯƠNG II: MỘT SỐ CÁCH TIẾP CẬN VỀ SỰ

PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CON NGƯỜI

Trang 2

4

I CÁC HỌC THUYẾT VỀ NHÂN TỐ VÀ ĐỘNG LỰC CỦA SỰ PHÁT

TRIỂN TÂM LÝ

•Thuyết nguồn gốc sinh vật

•Thuyết nguồn gốc xã hội

•Thuyết hội tụ hai yếu tố

Trang 3

1

4

1 Thuyết nguồn gốc sinh vật

Những người theo trường phái nguồn gốc

sinh vật coi những đặc điểm bẩm sinh di

truyền có sẵn của trẻ em là nguồn gốc và

động lực của sự phát triển tâm lý cá thể Theo

họ, di truyền là yếu tố có tác dụng quyết định

đến sự phát triển tâm lý trẻ, còn môi trường là

yếu tố điều chỉnh

Trang 4

4

Thuyết sinh học là cơ sở của giáo dục tự phát, nó là chỗ dựa cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc

Tuy nhiên, thuyết này là sự tìm tòi ban đầu về những quy luật phát triển tâm lý con người và

đã kích thích mạnh mẽ các nhà nghiên cứu tìm kiếm những giải thích khác về sự phát triển cá thể người

Trang 5

1

4

Thuyết nguồn gốc xã hội

Những người theo thuyết này cho rằng môi trường

xã hội là nhân tố quyết định sự phát triển của trẻ

em Thuyết nguồn gốc xã hội coi trẻ em là tồn tại

thụ động, chịu sự tác động và chi phối của môi

trường xung quanh và không thể thoát khỏi vòng

kiểm soát đó

Trang 6

4

Thuyết nguồn gốc xã hội không giải thích được thực tiễn sống động trong việc hình thành nhân cách con người, nó cũng phủ nhận tính tích cực của con người, đổ mọi nguyên nhân cho môi

Trang 7

1

4

Thuyết hội tụ hai yếu tố

Những người theo thuyết này cho

rằng: sự phát triển tâm lý không

phải đơn thuần là sự bộc lộ dần

những đặc tính di truyền, và cũng

không phải là sự phản ánh các

tác động bên ngoài của môi

trường, mà là kết quả hội tụ của

hai yếu tố trên

Trang 9

1

4

Tuy nhiên, môi trường trong

thuyết hội tụ hai yếu tố

thường được xem như môi

trường tự nhiên của thế giới

Trang 11

1

4

Mỗi đứa trẻ quan hệ với những yếu

tố nhất định của môi trường, chỉ có

những yếu tố nào được trẻ lựa

chọn, tích cực quan hệ, tích cực tác

động qua lại với chúng mới có ảnh

hưởng đến sự phát triển của trẻ

Trang 13

1

4

Trong suốt thế kỷ XX, có

nhiều tác giả nghiên cứu về

sự phát triển tâm lý con

người, trong đó có các tác

giả nổi tiếng như: S.Freud,

A.Freud, E.Erikson, J.Piaget,

Trang 14

4

S Freud và học thuyết phân tâm

S Freud đã sử dụng các ca phân tích lâm sàng các bệnh nhân và

cả sự hồi tưởng về thời thơ ấu của ông để xây dựng và phát triển lý thuyết phân tâm.

Trang 15

1

4

“Phân tâm học” - lý thuyết phân tích “tâm hồn”

Trong trị liệu, Freud đã sử dụng rất nhiều các kĩ thuật khác nhau, nhưng

phương pháp liên tưởng tự do được ông sử dụng nhiều nhất.

Trang 16

4

Theo Freud, sự phát triển nhân cách gắn liền với sự phát triển tính dục Do đó, quan điểm của ông về sự phát triển tâm lý còn được gọi là lý thuyết về sự phát triển tâm lý tính dục

Trang 17

•Khoái cảm tính dục của trẻ em tiến dần từ các bộ phận riêng lẻ, rời rạc trên cơ thể đến các vùng của cơ quan sinh dục Đối tượng gây khoái cảm chuyển dần từ bản thân sang đối tượng là những người khác và giới khác.

•Sự không phù hợp về bộ phận tạo ra khoái cảm tính dục tương ứng với giai đoạn lứa tuổi và không phù hợp với xu thế tiến triển của nó là dấu hiệu của sự phát triển không bình thường về tâm lý tính dục

Trang 18

4

Cấu trúc nhân cách người trưởng thành có 3 tầng cơ bản: cái

nó, cái tôi và cái siêu tôi

Trang 19

1

4

Khi sinh ra, đứa trẻ mới chỉ có “cái nó”

và hoạt động theo nguyên tắc thỏa

mãn Gặp phải những cấm đoán, ngăn

chặn của người lớn và xã hội, ở đứa

trẻ phát triển dần các cấu trúc “cái tôi”

và “cái siêu tôi” Cái tôi hoạt động theo

nguyên tắc hiện thực, có lý trí Cái

siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc

kiểm soát, phán xét, phê bình

Trang 20

4

Các giai đoạn phát triển theo Freud gắn liền với sự dịch chuyển các vùng nhạy cảm trên cơ thể, những vùng mà khi kích thích chúng thì tạo sự thỏa mãn cơ thể.

Trang 21

Vùng nhạy cảm nhất ở giai đoạn

này là môi miệng Bú mẹ có khả

năng tạo khoái cảm tính dục đặc

biệt ở trẻ nhỏ

Trang 22

4

Giai đoạn hậu môn (Từ 1 - 1,5

đến 3 tuổi):

Vùng nhạy cảm của cơ thể là

vùng hậu môn Việc điều khiển

được thời điểm vệ sinh theo ý

mình tạo cho trẻ cảm giác hài

lòng

Trang 23

1

Giai đoạn dương vật (Từ 3 đến 5 -

6 tuổi):

Vùng nhạy cảm chuyển về vùng cơ

quan sinh dục Đứa trẻ bắt đầu có

cảm giác gắn bó tính dục với người

khác, đầu tiên là người cha hoặc

người mẹ, tùy thuộc đó là bé gái hay

bé trai

Trang 24

4

Giai đoạn tiềm ẩn (Từ 5 – 6 đến 12 tuổi):

Các xung năng tính dục bị ẩn đi Hứng thú tính dục có vẻ lắng xuống Cái

“tôi” dường như hoàn toàn kiểm soát được cái “nó”

Trang 25

1

4

Giai đoạn sinh dục (Từ 12 tuổi trở đi):

Các xung năng tính dục xuất hiện trở lại, tất cả những vùng nhạy cảm trước đây liên kết lại và cùng hướng tới một mục đích là giao tiếp tình dục

Trang 26

4

Lý thuyết của S Freud sau

này được nhiều học trò của

ông tiếp tục phát triển, bổ

sung và sửa đổi.

Trang 27

Eric Erikson (1902-1994) - nhà phân

tâm học, sinh tại Đức, được đào tạo

tại Viên (Áo) dưới sự chỉ dẫn của

Anna Freud (con gái của S Freud)

Khi Hitler thống trị nước Đức, ông di

cư sang Mỹ (1933)

Trang 28

4

Ở vị thế cuả một người nhập cư,

cha mẹ lại ly hôn và ông không còn

tiếp xúc với cha nên chàng trai trẻ

Trang 29

1

4

Là một nhà phân tâm học nhưng

ông đã cho rằng lý thuyết của

Freud đã đánh giá không đầy đủ

về ảnh hưởng của xã hội đến sự

phát triển nhân cách Ông đã phát

triển lý thuyết của Freud và vượt

ra khỏi phạm vi của nó nhờ vào

cách xem xét sự phát triển của trẻ

em trong hệ thống các mối quan

hệ xã hội

Trang 30

4

Freud đã xem nền văn minh, xã hội như là nguồn gốc của sự bất mãn, là trở ngại cho các ham muốn vô thức Còn Erikson cho rằng xã hội chứa đựng sức mạnh dương tính tiềm tàng định hướng cho sự phát triển nhân cách con người

Trang 31

1

4

Erikson đồng ý với Freud về cấu

trúc của nhân cách Theo ông, khi

chúng ta muốn – đó là cái nó, khi

chúng ta cần phải – đó là cái siêu

tôi, ở giữa là cái tôi

Cái tôi luôn sử dụng những cơ

chế tự vệ để điều hòa giữa những

mong muốn bồng bột và tiếng nói

của lương tâm

Trang 32

4

Sự phát triển nhân cách, theo Erikson, được xác định bởi những gì

mà xã hội đòi hỏi ở con người

Trang 33

1

4

Mỗi đứa trẻ cần phải trải qua

một loạt các giai đoạn phát

triển Mỗi giai đoạn, ở con

Trang 34

4

Ông phân chia đời người thành 8 giai

đoạn, mỗi giai đoạn chứa đựng một

sự khủng khoảng (xung đột) tâm lý xã

hội nhất định mà con người cần giải

quyết

Trang 35

1

4

Nhân cách phát triển qua mỗi lần

giải quyết những xung đột giữa

các nhu cầu của cá nhân và

những đòi hỏi của xã hội Ở bất

kỳ giai đoạn nào, mọi sự thất bại

trong việc giải quyết xung đột đều

có thể gây nên những rối nhiễu

tâm lý, ảnh hưởng đến các giai

đoạn tiếp theo của cuộc đời

Trang 36

Sau đây là các giai đoạn phát triển tâm lý xã hội theo E.Erikson

Trang 37

1

4

1 Tin tưởng hoặc không tin tưởng

(từ khi sinh đến 1 tuổi)

Phụ thuộc vào sự chăm sóc thời thơ ấu

mà trẻ có tin hay không tin vào thế giới

xung quanh Nếu nhu cầu của trẻ được

thoả mãn và được mọi người luôn

quan tâm và chú ý thì trẻ sẽ có ấn

tượng tốt về thế giới và có niềm tin về

sự an toàn của nó Nếu môi trường

xung quanh không ổn định, gây ra cho

trẻ nhiều nỗi đau, sự căng thẳng và bất

ổn thì trẻ sẽ cho rằng thế giới xung

quanh là không an toàn và không có

niềm tin vào nó

Trang 38

4

2 Tự lập hoặc xấu hổ và nghi ngờ (từ

1đến 3 tuổi)

Khi bắt đầu đi được, phạm vi hoạt động

của trẻ mở rộng, trẻ có nhiều khả năng cơ

thể và bắt đầu tự ăn, uống, mặc quần áo,

đi giày dép Khi trẻ tự làm được một cái gì

đó chúng có được cảm giác tự tin Nhưng

nếu trẻ thường xuyên không tự làm được,

bị mọi người chê cười, trẻ sẽ xấu hổ và

nghi ngờ vào khả năng của mình

Trang 39

biết được thế giới có cấu tạo như thế nào

và nên tác động tới nó ra sao Nếu việc

khám phá môi trường xung quanh có hiệu

quả và được khích lệ thì chúng trở nên

hoạt bát Nhưng nếu chúng luôn bị người

lớn ngăn chặn các hoạt động khám phá,

bị phê bình hoặc trừng phạt thì chúng cảm

thấy luôn có lỗi và nhút nhát

Trang 40

4

4 Yêu thích lao động hoặc cảm

xúc thiếu hụt (từ 6 đến 12 tuổi)

Trẻ học nhiều điều trong nhà trường,

mở rộng các mối quan hệ giao tiếp

Trẻ thường tự đánh giá mình trên cơ

sở so sánh với các bạn, trên cơ sở

nhận xét đánh giá của người lớn,

thầy cô giáo Nếu trẻ tự đánh giá

mình tương đối cao thì sẽ tự tin, yêu

thích lao động, học tập Nếu trẻ tự

đánh giá mình thấp sẽ dẫn đến tự ti

và cảm thấy mình yếu kém

Trang 41

Điều quan trọng đối với thanh

thiếu niên là phải biết tích hợp

các vai trò khác nhau của mình

để đi tới một sự đồng nhất

thống nhất về cái Tôi của bản

thân Nếu trẻ không hình thành

Trang 42

4

6 Gần gũi và cô lập (từ 18 đến 40 tuổi)

Ở giai đoạn tuổi thanh niên và đầu

tuổi trưởng thành, con người luôn tìm

kiếm những tình cảm gần gũi, thân

tình và không muốn bị tách biệt, cô

lập Không phải ai cũng có khả năng

tạo lập các mối quan hệ thân thiết,

gắn bó, gần gũi với người khác Đó là

khả năng trao tặng tâm hồn mình cho

người khác mà không làm mất đi bản

sắc của riêng mình

Trang 43

Trong giai đoạn trưởng thành, nếu giải

quyết được các xung đột của các giai đoạn

trước, con người thường giành sự quan

tâm của mình cho những người khác nhiều

hơn và giúp đỡ họ Một số người có thể

tập trung năng lực của mình để giải quyết

các vấn đề xã hội

Việc không giải quyết được các xung đột

trước đó có thể dẫn tới việc con người tự

nuông chiều mình, chối bỏ người khác,

quan tâm tới sức khoẻ, các nhu cầu cá

nhân, sự bình yên của bản thân mình quá

mức

Trang 44

4

8 Sự thống nhất bản ngã hoặc là nỗi thất vọng (từ 60, 65 tuổi trở đi)

Trong các giai đoạn cuối đời, con người thường đánh giá lại cuộc đời đã qua Nếu họ hài lòng với quãng đời đã qua và cảm nhận được ý nghĩa cuộc sống thì

họ có được cảm nhận về sự thống nhất của cái Tôi, sự thống nhất bản ngã Ngược lại, nếu họ cảm thấy rằng họ đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội, chịu nhiều thất

bại và có nhiều lỗi lầm thì ở họ xuất hiện sự hối tiếc và nỗi thất vọng

Trang 45

1

4

Theo Erikson, mỗi giai đoạn phát triển

được xây dựng trên cơ sở những gì

tạo ra trước đó Mặc dù con người có

thể giải quyết các vấn đề của giai

đoạn trước ở những giai đoạn tiếp

theo, nhưng sự phát triển tốt nhất là

giải quyết kịp thời các xung đột và

khủng khoảng trong những giai đoạn

tương ứng với chúng

Trang 46

4

Ví dụ, nếu đứa trẻ không nhận được

sự quan tâm, tình yêu và sự nuôi

dưỡng chu đáo ở thời thơ ấu, thì có

thể bù đắp bằng việc quan tâm chú

ý của người lớn nhiều hơn trong các

giai đoạn tiếp theo Tuy vậy, khó có

thể bù đắp được hoàn toàn Sự phát

triển diễn ra êm đẹp và dễ dàng hơn

nhiều nếu trong thời kỳ thơ ấu

Trang 47

1

4

Theo Erikson, đến khoảng 17-20

tuổi ở con người diễn ra sự hình

thành cấu trúc hạt nhân cơ bản nhất

- đó là tính đồng nhất của nhân cách

(Identity), hay nói cách khác, đó là

sự hình thành bản sắc của nhân

cách Quá trình tìm tòi bản sắc và

tính đồng nhất, toàn vẹn của con

người còn tiếp tục diễn ra trong suốt

những giai đoạn tiếp theo Khủng

hoảng bản sắc (Identity crises) có

thể coi là một trong những khủng

hoảng sâu sắc nhất trong cuộc đời

Trang 48

4

Cần lưu ý rằng: lý thuyết của Erikson

dựa trên những nghiên cứu về sự

phát triển nhân cách con người ở các

nền văn hoá phương Tây, trong đó

tính đồng nhất của cá nhân cao hơn

tính đồng nhất cộng đồng Chúng ta

là những con người sống trong nền

văn hóa cộng đồng, và chúng ta có

thể cảm nhận được sự coi trọng thái

quá cái Tôi trong nhiều lý thuyết của

phương Tây

Trang 49

1

4

Sự khác biệt giữa văn hóa cá nhân và

văn hóa cộng đồng chắc chắn sẽ tạo ra

sự khác biệt trong sự hình thành nhân

cách con người

Trang 50

nghiên cứu sự phát triển hành vi chỉ xuất

hiện cuối thế kỉ XIX ở Mỹ, khi mà Tâm lý

học hành vi cổ điển chiếm ưu thế trong

khoa học tâm lý học

Trang 53

1

4

Nhà sinh lý học người Nga I P

Paplốp (1849-1936) đưa ra lý thuyết

dạy học kinh điển theo công thức S –

R (kích thích - phản ứng)

E.L Thorndike (1874-1949) đưa ra lý

thuyết về qui luật hiệu quả vào năm

1911 Qui luật này khẳng định rằng

nếu một hành vi tạo ra sự thoả mãn thì

con vật (con người) có xu hướng lặp

lại hành vi đó, còn nếu nó tạo ra sự

không thoả mãn thì con vật sẽ từ chối

lặp lại nó

Trang 55

khái niệm như: học tập, động

cơ, lực thúc đẩy, sự thúc đẩy

và kìm hãm tâm lý để biểu đạt

các hành vi không quan sát

được

Trang 56

4

Lý thuyết phát triển nhận thức của J Piaget

J Piaget là nhà tâm lý học Thụy sĩ Ông đã là người đầu tiên đưa ra những mô

tả cụ thể và đầy đủ nhất về quá trình phát triển trí tuệ trẻ em Các kết luận của ông dựa trên những quan sát về cách ứng xử của trẻ em, đầu tiên là của các con ông ở nhà, sau đó là các trẻ em khác ở Trung tâm nghiên cứu trẻ em Giơnevơ

Trang 57

1

4

Ông nhận thấy là trẻ em ở cùng lứa tuổi

thường có những lối ứng xử tương tự

nhau, và thường mắc các lỗi cùng loại khi

giải quyết cùng một vấn đề

Ông cho rằng những lỗi mang tính phổ

biến và tương tự nhau ở những trẻ cùng

lứa tuổi thể hiện trình độ phát triển trí tuệ

của trẻ em lứa tuổi đó

Những trẻ em lứa tuổi lớn hơn lại thường

mắc những lỗi khác tương tự nhau khi giải

quyết các vấn đề khó hơn, và hầu như

không còn mắc những lỗi mà trẻ em lứa

tuổi nhỏ hơn mắc phải

Trang 58

4

Piaget cho rằng, sự phát triển

nhận thức, trí tuệ của tất cả trẻ

em từ khi sinh ra đều tiến triển

lần lượt qua các giai đoạn Các

giai đoạn sắp xếp theo thứ tự

nhất định Sự phát triển trí tuệ

của trẻ em không thể đạt trình độ

cao hơn, nếu chưa đạt và hoàn

thiện ở mức thấp hơn trước đó

Trang 59

1

4

Các giai đoạn này được xem như các

mức phát triển trí tuệ phổ biến đối với

mọi người Sự khác biệt đối với mỗi

cá nhân chỉ có thể là vận tốc mà cá

nhân có thể vượt qua từng giai đoạn

và mức phát triển đạt được ở chung

cuộc

Trang 60

4

Piaget phân chia các giai đoạn phát triển trí

tuệ trẻ em như sau:

1 Giai đoạn trí tuệ cảm giác- vận động: (0

- 2 tuổi)

Theo Piaget, một trong những thành tựu

quan trọng nhất của giai đoạn trí tuệ cảm

giác vận động là khả năng hiểu tính ổn định,

không thay đổi, không biến mất của đồ vật

Đến cuối giai đoạn cảm giác vận động, trẻ

bắt đầu tách biệt bản thân khỏi những sự vật

khác ở môi trường xung quanh và bắt đầu đã

đánh giá được không gian và thời gian

Ngoài ra, trẻ đã biết nghĩa của vài chục từ và

nói được các từ đó

Trang 61

1

4

2 Giai đoạn tiền thao tác (2 - 6, 7 tuổi)

Khi trẻ bước vào giai đoạn tiền thao tác, khối lượng biểu tượng của trẻ tăng vọt Khả năng dùng biểu tượng rõ nét nhất là việc sử

dụng ngôn ngữ, dùng vật này để thay thế vật khác trong trò chơi

Mặc dù tư duy trẻ em độ tuổi này phát triển hơn nhưng vẫn là tư duy cảm tính Nó còn dựa trên những đặc điểm bề ngoài (những

gì trẻ nhìn thấy trực tiếp) chứ chưa dựa vào những suy luận logic

về bản chất của sự vật hiện tượng

Những thí nghiệm kinh điển của Piaget minh họa tính cảm tính trong tư duy của trẻ em đoạn tuổi này là các thí nghiệm về bảo toàn khối lượng chất lỏng, bảo toàn khối lượng đất sét, bảo toàn

số lượng các hạt cườm

Ngày đăng: 23/11/2015, 19:16

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w