Sản xuấtnông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, điều kiện tự nhiên… Một hạn chế được cho là quan trọng trong phát triển sản xuất ngô làmối liên kết giữa hộ nông dân với thương lái
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Cây ngô (Zea mays L) là một trong ba cây ngũ cốc có tiềm năng năngsuất cao, được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và có nhiều hình thức
sử dụng khác nhau Trong tổng sản lượng ngô toàn cầu, có khoảng 66% được
sử dụng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm thủy sản, khoảng 21% được dùnglàm lương thực cho người Ngoài ra, ngô còn được dùng trong công nghiệpchế biến Ước tính nhu cầu ngô năm 2020 của toàn thế giới là 837 triệu tấn
Việt Nam, với dân số trên 80 triệu người và diện tích dành cho sản xuấtnông nghiệp ngày càng bi thu hẹp, bình quân 1.1381 m2 trên đầu người vàonăm 1984 dự kiến chỉ còn 793 m2 vào năm 2020 do sự phát triển mạnh mẽcủa các ngành công nghiệp, các đô thị Trong khi đó nhu cầu ngô làm lươngthực và thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và ngành công nghiệp chế biến ngàycàng tăng
Bước vào nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập có những đòihỏi khắt khe từ phía người phân phối sản phẩm Đến lượt nhà phân phối đòihỏi người sản xuất cũng rất gắt gao để đáp ứng đúng mức đòi hỏi của thịtrường Hiện nay, hàng hóa nông nghiệp của nước ta dồi dào và đa dạngnhưng: chất lượng thấp, mẫu mã bao bì không hấp dẫn, ít có thương hiệu vàkhông đồng đều Hàng hóa nhiều nhưng sản xuất không đồng loạt, mạnh ainấy làm, hàng nông sản cứ luẩn quẩn trong vòng vây giá cao thì nông dân hếthàng, khi dư hàng thì rớt giá Nếu cứ lặp lại tình trạng ấy thì đa số nông dânnghèo ngày càng nghèo thêm so với nông dân các nước Để đáp ứng đòi hỏicủa kinh tế thị trường, nông dân không có sự lựa chọn nào khác là phải tựnguyện liên kết, hợp tác với nhau từ khâu sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản
Trang 2phẩm để tạo ra khối lượng lớn, chất lượng cao từng mặt hàng, cạnh tranhhàng nông sản của các nước ở thị trường thế giới và đủ sức ngay ở thị trườngtrong nước Nông dân liên kết và hợp tác với quy mô càng lớn mới có điềukiện hợp tác với nhà khoa học để đưa nhanh công nghệ cao vào sản xuất, khi
có hàng hóa số lượng lớn, chất lượng tốt, nông dân mới có sự liên kết với nhàphân phối, lúc đó mối quan hệ mới thật sự bền vững Nông dân muốn vươnlên làm giàu không thể cứ trông chờ “may rủi” về giá cả, không thể cứ được
vụ này rồi mất vụ kia, lấy con tôm để bù giá ngô hoặc lấy lãi cây ngô để bù
lỗ gia cầm, gia súc
Xã Vĩnh Ninh là xã vùng bãi ven Sông Hồng do đặc điểm địa lý nêndiện tích cây lúa rất ít chỉ có 25,05 ha Cây ngô và cây cây công nghiệp đượcngười dân chú trọng phát triển nên diện tích gieo trồng được tăng lên Năngsuất ngô bình quân cả năm 2009 đạt 45,35 triệu đồng/ha tăng 1,11% so vớinăm 2008 Một thực tế cho thấy ngành trồng ngô ở xã Vĩnh Ninh vẫn chưaphát triển đúng với tiềm năng của vùng, mà nguyên nhân là do vấn đề đất đaiđang còn manh mún, nhỏ lẻ, tiếp cận thông tin, áp dụng khoa học kỹ thuật của
hộ sản xuất và tiêu thụ còn hạn chế, giá bán không ổn định, chất lượng chưacao, cách làm ăn còn đơn giản và còn mang tính tự cung tự cấp Sản xuấtnông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, điều kiện tự nhiên…
Một hạn chế được cho là quan trọng trong phát triển sản xuất ngô làmối liên kết giữa hộ nông dân với thương lái hay người thu gom, các công tychế biến, tiêu thụ vẫn chưa có hoặc chưa hiệu quả, còn quá lỏng lẻo…Bêncạnh đó, vai trò của nhà nước, chính quyền địa phương và các nhà khoa họcchưa thực sự rõ nét trong quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Xuất phát từ thực tế này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu mối liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ ngô tại xã Vĩnh ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc”.
Trang 31.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng mối liên kết kinh tế trong sản xuất vàtiêu thụ ngô tại xã Vĩnh Ninh- Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất các giảipháp khắc phục những hạn chế, góp phần phát triển mối liên kết kinh tế trongsản xuất - tiêu thụ ngô có hiệu quả hơn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa các vấn đề về lý luận cơ bản và thực tiễn liên kếtsản xuất và tiêu thụ ngô
- Đánh giá thực trạng mối liên kết kinh tế trong sản xuất – tiêu thụ ngô
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế trong sản tiêu thụ ngô
xuất Đề xuất khuyến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế vàgóp phần phát triển mối liên kết kinh tế trong sản xuất- tiêu thụ ngô trên địabàn xã Vĩnh Ninh - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các tác nhân tham gia vào mối liên kết kinh tếtrong sản xuất- tiêu thụ ngô trên địa bàn xã đó là: Nhà nước, Nhà khoa học,Doanh nghiệp/người thu gom, Nhà nông và tác nhân là nhà nông không tham giavào mối liên kết để đánh giá thực trạng và từ đó đưa ra giải pháp phát triển mốiliên kết trong sản xuất và tiêu thụ ngô ngày càng hoàn thiện hơn
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: xã Vĩnh Ninh - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc
- Phạm vi thời gian: từ ngày 12/1/2010 - 26/5/2010
- Nội dung: Phân tích thực trạng liên kết trong sản xuất – tiêu thụ ngô,các yếu tố ảnh hưởng, các quan hệ tác động đến liên kết kinh tế trong sản xuất– tiêu thụ và đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển liên kết kinh tế trong sảnxuất – tiêu thụ ngô xã Vĩnh Ninh nói riêng và trong sản xuất nông nghiệp nóichung
Trang 4PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về liên kết
2.1.1 Khái niệm liên kết
“Liên kết kinh tế chỉ tình huống khi mà các khu vực khác nhau của nềnkinh tế thị trường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợpvới nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quátrình phát triển Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững”
Theo Trần Văn Hiếu “liên kết kinh tế là quá trình xâm nhập khối hợpvới nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế dướihình thức tự nguyện nhằm thúc dẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợinhất trong khuôn khổ luật pháp, thông qua hợp đồng kinh tế để khai thác tốtnhất các tiềm năng của các chủ thể tham gia liên kết Liên kết kinh tế có thểtiến hành theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc giữa cácngành,một quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vi khu vực và quốc tế”(Trần Văn Hiếu, 2005, Liên kết giữa các hộ nông dân với các doanh nghiệpnhà nước, LATSKT, Bộ GD & ĐT, học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội)
Còn theo tử điển ngôn ngữ học (1992) thì “liên kết’’ là kết lại với nhau
từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ
Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên cáchoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thựchiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất , kinhdoanh phát triển theo hướng có lợi nhất Được thực hiện trên nguyên tắc tựnguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế kí kết giữa cácbên tham gia trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước Mục tiêu là đào tạo ra
Trang 5mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chếhoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa và hiệp tác hóa,nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùngtạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thànhviên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau Liên kếtkinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau, tương ứng với nhucầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết Nhữnghình thức liên kết phổ biến là hiệp hội sản suất và tiêu thụ, nhóm sản xuất,nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng, liênđoàn xuất nhập khẩu…Các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ,không phân biệt hình thức sở hữu, quan hệ trực thuộc về mặt quản lý nhànước, ngành kinh tế- kỹ thuật hay lãnh thổ Trong khi tham gia liên kết kinh
tế, không một đơn vị nào bị mất quyền tự chủ của mình, cũng như khôngđược miễn giảm bất cứ nghĩa vụ nào đối với nhà nước theo pháp luật haynghĩa vụ hợp đồng kinh tế đã kí với các đơn vị khác
Như vậy, liên kết kinh tế là sự phối hợp của hai hay nhiều bên, không
kể quy mô hay loại hình sở hữu Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìmcách bù đắp sự thiếu hụt của mình , từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác
bù đắp sự thiếu hụt của mình, từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằmđem lại lợi ích cho các bên
2.1.2 Nội dung của liên kết kinh tế trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm
* Liên kết trong việc mua bán nguyên liệu đầu vào trong sản xuất
Liên kết trong mua bán nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất kinhdoanh như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, thức ăn Người nông dân cólao động, vốn… trong quá trình sản xuất cần có những nguyên liệu đầu vàokhác như giống, thuốc BVTV…Mối liên kết này thường được tiến hành giữa
hộ nông dân với các công ty chế biến, doanh nghiệp cung ứng đầu vào, nhàkhoa học, đại lý, các trạm thu mua sản phẩm Khi tham gia liên kết này nhà
Trang 6cung cấp nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất nông nghiệp có thể thutiền ngay, hoặc thu chậm sau khi thu hoạch bằng cách trừ vào tiền bán sảnphẩm cho họ Hộ nông dân mua đầu vào phải có trách nhiệm hoàn trả theothỏa thuận từ trước.
* Liên kết trong chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Chủ thể tham gia liên kết trong hoạt động ứng dụng khoa học kỹthuật vào sản xuất là các nhà khoa học và hộ gia đình nông dân
Nhà khoa học gồm các cán bộ nghiên cứu của các viện, các trung tâmnghiên cứu, các cán bộ khuyến nông
Hộ gia đình nông dân là những người trực tiếp làm ra sản phẩm nôngnghiệp Họ chịu trách nhiệm trả chi phí cho các sản phẩm khoa học được ứngdụng và thực hiện các cam kết trong hợp đồng kỹ thuật với các nhà khoa học.Bên cạnh đó hộ gia đình nông dân phải thực hiện các quy định về sản xuất,chế biến và tiêu thụ cũng như các cam kết tín dụng với ngân hàng Hộ giađình nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường, là đơn vịkinh tế cơ sở trong nền kinh tế hàng hoá và là đơn vị sản xuất quy mô nhỏ cóhiệu quả
Để sử dụng có hiệu quả giống cây, con và các vật tư kỹthuật nông nghiệp, khoa học có ý nghĩa hết sức quan trọng.Liên kết giữa khoa học và sản xuất không chỉ có tác dụnggiúp nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất màcòn biết sử dụng các yếu tố kỹ thuật có hiệu quả, làm giảmgiá thành sản xuất, tạo ra nông phẩm an toàn cung cấp cho
xã hội Thật là khiếm khuyết và kém hiệu quả nếu doanhnghiệp chỉ bán giống tốt, vật tư kỹ thuật cho nông dân theokiểu "mua đứt, bán đoạn" Các tổ chức khuyến nông phi lợinhuận của nhà nước, của các viện, trường và các tổ chứcđoàn thể (hội nghề nghiệp, hội nông dân, đoàn thanh niên,
Trang 7hội phụ nữ, hội cựu chiến binh) cần tạo niềm tin ở nông dânbằng hiệu quả của khuyến nông đem lại Nói cách khác phảigắn lợi ích kinh tế đối với các cán bộ khoa học cơ sở, nhữngngười hàng ngày tiếp cận với nông dân Để tiêu thụ đượcgiống, vật tư nông nghiệp, thu hồi được công nợ và nhất là đểtạo nguồn hàng ổn định cung cấp nông sản nguyên liệu chochế, biến - tiêu thụ, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong vàngoài nước, đỏi hòi các doanh nghiệp phải liên kết chặt chẽgiữa khoa học và sản xuất, bằng cách như thực hiện hợp đồnggiữa doanh nghiệp và nhà khoa học, hợp đồng chuyển giaocông nghệ đến từng hộ gia đình nông dân Thông qua các tổchức khuyến nông, hội phụ nữ, các tổ chức quốc tế
* Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm
Mối liên kết này thường được thể hiện giữa doanh nghiệp chế biếnnông sản với nông dân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người thugom, HTX, trạm trung chuyển…Mục đích của mối liên kết doanh nghiệp vớinông dân nhằm đảm bảo chủ động nguồn nguyên liệu và yên tâm đầu ra củasản phẩm nông nghiệp Khi ký kết hợp đồng bao tiêu nông sản không chỉ giúpnông dân yên tâm sản xuất mà còn nâng cao trình độ nhận thức của nông dânxóa bỏ dần lối sản xuất tự cung, tự cấp, lạc hậu, nhỏ lẻ, manh mún
Như vậy, khi tham gia liên kết kinh tế các bên có thể giúp đỡ nhau vềkinh nghiệm sản xuất kinh doanh và quản lý; giúp đỡ nhau về đào tạo, bồidưỡng cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật cũng như thựchiện cho nhau các công việc cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm…Các hoạtđộng này được ghi thành các bản cam kết, hợp đồng kinh tế hay thỏa thuậnmiệng dựa vào sự tin tưởng lẫn nhau
2.1.3 Vai trò của liên kết kinh tế trong sản xuất – tiêu thụ
- Liên kết kinh tế giúp các tác nhân khắc phục những bất lợi về qui mô
Trang 8Trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh (Hộ,HTX, doanh nghiệp …) đều thực hiện một chuỗi các hoạt động từ cung cấpdịch vụ đầu vào và đầu ra, không tự sản xuất ra tất cả mà là kết quả của quátrình phân công lao động, liên kết, hợp tác của hai hay nhiều bên nhằm pháthuy lợi thế so sánh, giảm chi phí sản xuất, giúp chủ động, ổn định sản xuất –kinh doanh.
- Liên kết kinh tế giúp các tác nhân phản ứng nhanh với những thay đổicủa thị trường do các nguyên nhân sau:
+ Nhu cầu của thi trường là luôn thay đổi
+ Liên kết kinh tế giúp cho tiêu thụ sản phẩm được nhanh hơn thôngqua sự liên kết của hệ thống các nhà thương mại với các nhà sản xuất bằnghình thức đại lý bán hàng
+ Liên kết kinh tế còn giúp cho các chủ thể có thể tiếp cận nhanh chóngcác công nghệ và kỹ thuật mới, nhờ sự phối hợp với các nhà nhiên cứu ở cáctrường đại học, các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước
- Liên kết kinh tế giúp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh
Phát triển sản xuất là một quá trình vận động không ngừng, tích tụ tậptrung rồi lại chia tách, sát nhập để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội vàphù hợp với khả năng nội tại của doanh nghiệp nhằm mục đích tìm kiếm lợinhuận cao nhất giảm thiểu được rủi ro Quá trình đó diễn ra được thực chất làthông qua các hoạt động liên kết kinh tế
2.1.4 Mục tiêu của liên kết kinh tế
Tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tếhoặc các quy chế hoạt động của từng tổ chức liên kết để tiến hành phân côngsản xuất chuyên môn hóa và hiệp tác hóa, nhằm khai thác tốt tiềm năng củađơn vị tham gia liên kết, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng caohiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập của các bên liên kết, cũng như tăng thungân sách Nhà nước
Trang 9Liên kết để cùng nhau tạo ra thị trường chung, phân tích hạn mức chotừng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm để đảm bảo lợi ích kinh
tế của nhau, tạo cho nhau có khoản lợi nhuận cao nhất
2.1.5 Phương thức liên kết kinh tế
Nếu dựa theo vai trò thì quan hệ kinh tế giữa các tác nhân từ sản xuất đếntiêu dùng, người ta có các phương thức liên kết là liên kết dọc và liên kết ngang
- liên kết dọc: đây là phương thức liên kết mà các thành viên khitham gia liên kết sẽ làm chủ toàn bộ dây chuyền sản xuất, nó được thực hiệntheo trật tự của các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh như liên kết giữasản xuất và chế biến hoặc cả sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm Hiệnnay, phương thức liên kết này phát triển rất mạnh trong hầu hết các sơ sở sảnxuất và đã mang lại hiệu quả tốt, ví dụ: cơ sở chế biến hạt điều của tỉnh Long
An liên kết với nông dân trong dản xuất hạt điều đã giúp cho nông dân tiêuthụ nhanh, không ứ đọng sản phẩm còn cơ sở chế biến thì có đủ nguyên liệu
để hoạt động; công ty mía đường Lam sơn (Thanh Hóa) cũng liên kết vớinông dân tạo nên mối quan hệ dây chuyền từ sản xuất mía nguyên liệu đếnchế biến; công ty cao su Đắc Lắc liên kết với nông dân trong vùng để thu mua
mủ cao su, giúp nông dân tiêu thụ tốt sản phẩm…
- Liên kết ngang: Là mối liên kết giữa các tác nhân sản xuất như nhau ởcùng một cấp, cùng một giai đoạn hay cùng một mắt xích của nghành hàngnhằm mục đích làm chủ thị trường sản phẩm
Phối hợp dọc như là một quá trình giao dịch thị trường giữa nhà cungcấp và khách hàng Phối hợp dọc bao gồm một số hoặc nhiều giao dịch traođổi các yếu tố đầu vào, hoặc trao đổi nguyên liệu giữa người sản xuất vàngười chế biến hoặc giữa người bán buôn với người bán lẻ hoặc giữa ngườibán lẻ và người tiêu dùng Phối hợp dọc còn được định nghĩa như là một cấutrúc quản trị được tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau
2.1.6 Các hình thức liên kết kinh tế
Trang 10Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân chịu sự tácđộng của nhiều nhân tố kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội khác nhau Về mặtkinh tế, nhân tố quy định mạnh mẽ nhất là chế độ kinh tế - xã hội, tức chế độ
sở hữu và cơ chế vận hành nền kinh tế Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệpchế biến với nông dân còn bị chi phối bởi trình độ phát triển của lực lượngsản xuất Liên kết kinh tế còn phụ thuộc vào đặc điểm nghành nghề, sản phẩmnguyên liệu cụ thể Nhân tố chính trị - xã hội cũng có tác động nhất định đếnliên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân
Xét về hình thức liên kết cụ thể giữa nông dân với doanh nghiệp chếbiến có các mô hình liên kết sau đây:
- Mua bán thuần túy
- Bán vật tư mua lại nông sản hàng hóa
- Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại nông sảnhàng hóa
- Liên kết sản xuất: Hộ nông dân được sử dụng giá trị quyền sử dụngđất để góp vốn cổ phần, liên doanh liên kết với doanh nghiệp, hoặc cho doanhnghiệp thuê đất, sau đó nông dân được sản xuất trên đất đã góp cổ phần, liêndoanh, liên kết, hoặc cho thuê và bán lại nông sản cho doanh nghiệp, tạo sựgắn kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp
- Nông dân vừa cung ứng nguyên liệu, vừa tham gia cổ phần doanhnghiệp chế biến
- Doanh nghiệp chế biến vừa tiêu thụ nguyên liệu, vừa tham gia cổphần vào hợp tác xã cổ phần của nông dân
Liên kết kinh tế là thực hiện một quan hệ xã hội, mà ở đây là quan hệkinh tế - kỹ thuật - tài chính giữa hai chủ thể kinh tế độc lập là doanh nghiệpchế biến và nông dân Quan hệ đó cần phải được pháp luật điều tiết và bảo vệthì mới có cơ sở để thực hiện một cách có hiệu quả, bảo đảm quyền lợi vànghĩa vụ của hai bên tham gia liên kết Vì vậy, quan hệ liên kết đó phải được
Trang 11thực hiện dưới một hình thức pháp lý nhất định, làm cơ sở để ràng buộc tráchnhiệm giữa hai bên liên kết và được pháp luật bảo vệ.
2.1.7 Ý nghĩa kinh tế, xã hội trong liên kết kinh tế
- Tăng cường liên minh công nông tri thức: việc chuyển đổi phươngthức sản xuất nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa thì việcliên minh công nông tri thức có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó giúp cho quátrình sản xuất - chế biến - tiêu thụ được hiệu quả hơn
- Thực hiện quan hệ hợp tác: qua liên kết tăng cường quan hệ hợp tácgiữa các bên, giúp cho quan hệ cung cầu phù hợp và hiệu quả hơn
- Giải quyết quan hệ phân phối: thông qua liên kết vấn đề phân phối,thu nhập, trách nhiệm và quyền hạn của các bên tham gia liên kết được cụ thểhơn, sản phẩm đến với người tiêu dùng mạnh hơn
- Thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật: liên kết giúp cho việc vậndụng, sử dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất sẽ đem lại hiệu quả caohơn, chất lượng sản phẩm làm ra tốt hơn
- Tạo sự gắn kết giữa bốn nhà (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanhnghiệp, nhà nông): khi các nhà cùng tham gia vào liên kết thì hiệu quả thuđược sẽ cao hơn, đồng bộ hơn trong thực hiện Với việc tham gia của nhànước tình trạng chồng chéo về cơ chế chính sách sẽ được hạn chế tối đa vàthay vào đó là một chính sách đồng bộ trong sản xuất Với sự có mặt của cácnhà khoa học, kỹ thuật tiến bộ sẽ được cập nhật và áp dụng thường xuyêntrong sản xuất thay thế cho kỹ thuật lạc hậu, không hiệu quả, giống cây, giốngcon cho hiệu quả, năng suất thấp Còn với các doanh nghiệp và người dânthông qua liên kết giúp cho họ yên tâm hơn trong sản xuất, mạnh dạn đầu tưtrong sản xuất, ổn định yếu tố đầu vào và thị trường đầu ra, giảm thiếu rủi rocũng như chia sẽ rủi ro trong sản xuất, và với sự liên kết như vậy sẽ đạt đượchiệu quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, giúp
Trang 12cho nền kinh tế nói chung và nền kỉnh tế nói riêng ngày một phát triển bềnvững, phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế nước nhàtheo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trang 132.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng tới liên lết
2.1.8.1 Các yếu tố từ hộ sản xuất
Đối với “nhà nông”, bộc lộ rõ nhất là sự hạn chế về trình độ học vấn,tâm lý e ngại khi tiếp xúc với các “nhà” khác Đa số nông dân Việt Nam vẫnchưa gạt bỏ được tư tưởng ham lợi trước mắt và không tính toán được chiếnlược lâu dài, dễ vi phạm hợp đồng trong quá trình liên kết; là người cung cấp
số lượng và chất lượng sản phẩm ra thị trường nên sự hạn chế thông tin thịtrường làm cho họ không chủ động trong các mối liên kết
2.1.8.2 Người trung gian phân phối sản phẩm
Đóng vai trò là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, tạo ra lợiích hài hòa với người sản xuất Họ nắm bắt thông tin thị trường khá nhạy bén, ítchịu quản lý, ràng buộc của một cơ quan tổ chức nào nên họ có thể ép giá, tranhmua tranh bán nhằm tối đa lợi ích cá nhân gây lên mối liên kết lỏng lẻo
2.1.8.3 Các yếu tố từ nhà khoa học
Sự tham gia của các nhà khoa học, nhà kỹ thuật còn hạn chế, ảnhhưởng đến sự gắn liền đất sản xuất của hộ Tổ chức khoa học giữ vai trò rấtquan trọng trong quá trình liên kết Họ chính là người giúp nông dân ứngdụng các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng giảmchi phí sản xuất, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá Tuy nhiêncho đến nay, số đông các cơ quan khoa học vẫn lúng túng khi thực hiện liênkết bốn nhà
Vẫn còn thiếu vắng các cơ quan hay tổ chức nghiên cứu mạnh dạn chủđộng đưa định hướng liên kết thành một ưu tiên trong việc triển khai cácchương trình, dự án nghiên cứu Ngay cả những hợp đồng được kí kết thôngqua hoạt động liên kết thì quyền lợi vật chất của các cơ quan khoa học haycác nhà khoa học cũng chưa được xác định rõ ràng
2.1.8.4 Các yếu tố từ nhà nước
Tác động của chính quyền địa phương ít ảnh hưởng, sau đó vấn đề sản
Trang 14xuất, thu mua các tình trạng tranh chấp xảy ra chính quyền ít có vai trò trọngtài để giải quyết.
Vai trò, chức năng về trung gian, cầu nối của chính quyền các cấp cònhạn chế do chính sách và do bản thân chính quyền (nhất là chính quyền cấp
cơ sở) đã không phát huy và làm tròn trách nhiệm là trọng tài để giải quyếtcác vấn đề ảnh hưởng đến liên kết
Chính sách chưa thật sự đi sát với người sản xuất nông sản, còn ở dạngchung chung khiến cho hộ nông dân gặp khó khăn trong khi vận dụng vàoliên kết
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực tiễn liên kết ở một số quốc gia trên thế giới
Mô hình liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp vànhà nông có thề diễn ra trong nhiều ngành hàng nông nghiệp Thực tế của cácnước trên thế giới cho thấy đây là mô hình đem lại lợi ích cho các bên thamgia, đặc biệt là hộ nông dân và mô hình này đã nhanh chóng lan rộng ở cácnước đang phát triển điển hình như là ở Trung Quốc, Thái Lan
2.2.1.1 Ở Trung Quốc
Sản lượng chè của Trung Quốc chiếm 25% sản lượng chè của thế giới.Tại Trung Quốc, liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp vànhà nông phát triển rất nhanh chóng trong thời gian gần đây Điều này đãkhuyến khích các thành phần công, thương nghiệp tham gia nhiều hơn nhằmthúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tạo liên kết chặt chẽ giữa sản xuất -chế biến và tiêu thụ nông sản Trung Quốc gọi là “Kinh doanh sản nghiệp hoánông nghiệp” Đây là phương thức kinh doanh nông nghiệp kiểu mới, trong
đó nhà nước phối hợp với các xí nghiệp và các nhà khoa học trong các khâutác nghiệp trước sản xuất, trong sản xuất và sau sản xuất của hàng triệu hộnông dân, nhằm hướng vào thị trường nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất thựchiện nhất thể hoá sản xuất - chế biến- tiêu thụ, đưa sản xuất nông nghiệp phát
Trang 15triển theo hướng quy mô hoá, chuyên môn hoá và thâm canh hoá.
Có 4 hình thức chính của sản nghiệp hoá:
Thứ nhất, hình thức doanh nghiệp chế biến gia công là chủ thể: tức là
doanh nghiệp tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước rồi thông qua hìnhthức ký hợp đồng, khế ước,cổ phần rồi liên hệ với nhân dân và vùng sảnxuất nguyên liệu Trong đó doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ, thu mua nôngsản định hướng sản xuất cho nông dân Nông dân đảm bảo nguyên liệu ổnđịnh cho doanh nghiệp sản xuất Nhà nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp vànông dân vay vốn, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và nông dân trước cácthay đổi của thị trường nhằm cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư, người dânyên tâm sản xuất
Thứ hai, hình thức hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể: Các tổ chức hợp
tác nông dân đứng ra liên hệ với các doanh nghiệp gia công chế biến, các đơn
vị kinh doanh nông sản, mặt khác tiến hành tổ chức nông dân sản xuất họđóng vai trò như chiếc cầu nối liên kết người dân và doanh nghiệp chế biến,tiêu thụ với nông dân
Thứ ba, hình thức hiệp hội nông dân chuyên nghiệp: Đây là hình thức
chia sẻ thông tin, hỗ trợ nhau về tiền vốn, kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ Giữacác hộ gia đình trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi
Thứ tư, hình thức mắt xích của thị trường bán buôn: Ở hình thức này
hạt nhân trung tâm là các chợ buôn bán, các công ty thương mại nông sản.Tức là các chợ công ty này tác động hướng dân nông dân sản xuất các mặthàng riêng biệt, từ đó hình thành các khu chuyên canh cung cấp đầu vào chokinh doanh của mình
2.2.1.2 Thái Lan
Là một đất nước trồng cả rau nhiệt đới và ôn đới nên có thể nói chủngloại rau của Thái Lan rất phong phú Hiện nay có trên một trăm loại rau được
Trang 16trồng ở Thái Lan, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến.
Mức tiêu dùng rau bình quân tại Thái Lan là 53 kg/người/năm với cáckênh tiêu thụ rau chủ yếu trên thị trường là:
Loại kênh thứ nhất: Người sản xuất nhóm nông dân tự thành lập người bán buôn (tại Băng Cốc)/ người chế biến/ xuất khẩu/ - người bán buôn -người bán lẻ - người tiêu dùng
-Loại kênh thứ hai: Người sản xuất - người thu gom trên địa bàn trồngrau - thị trường bán buôn trung tâm - người bán buôn tại Băng Cốc - ngườibán lẻ - người tiêu dùng
Thông thường, phần lớn các thương lái gom rau trực tiếp tại nông hộ vàchở rau đi bằng xe bán tải Một số nông hộ cũng có thể bán trực tiếp ra chợbằng cách chuyên chở bằng xe tải riêng của gia đình Rau thường được vậnchuyển vào buổi chiều và được tiêu thụ chủ yếu ở các chợ bán buôn rồi đưađến các siêu thị và khuynh hướng này đang tăng dần trong cách tiêu thụ rau
an toàn của Thái Lan
Đối với thị trường giao dịch theo hợp đồng: Cục nội thương trực thuộc
Bộ thương mại thiết lập thị trường để thiết lập các giao dịch theo hợp đồnggiữa người nông dân hoặc tổ chức nông nghiệp với những người mua hàng.Cục nội thương đề ra tiêu chuẩn hàng hóa, đề ra, mẫu hợp đồng tiêu chuẩn,văn phòng thương mại của cục nội thương đặt tại các tỉnh để điều tiết các hoạtđộng ký kết giải quyết mâu thuẫn khi có tranh chấp Người bán (nông dân,nhóm nông dân, HTX) và người mua (nhà máy chế biến nông nghiệp, nhàxuất khẩu…) Mong muốn được ký kết hợp đồng để mua bán các nông dân sẽphải thông báo ý định đó cho Cục nội thương hoặc văn phòng thương mại làmcho hợp đồng theo sự quản lý và quy chế của văn phòng thay cho việc trướcđây người mua tự thiết kế hợp đồng Do kiến thức của nông dân hạn chế nên
bộ thương mại phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến kiến thức liên quanđến việc ký kết hợp đồng, thỏa thuận, và phân loại chất lượng nông sản Để
Trang 17khuyến khích việc ký kết hợp đồng mua bán nông sản giữa nông dân với cácdoanh nghiệp, Cục nội thương tổ chức hội nghị với sự tham gia của ngườimua, người bán và các đối tượng có liên quan đến việc ký kết hợp đồng.Đồng thời, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc chấp hành hợp đồng, hỗ trợtài chính cho người mua đã ký hợp đồng thỏa thuận trong trường hợp đặc biệt.Những loại nông sản có khả năng ký kết hợp đồng được xác định là cà chua,gừng, ngũ cốc, ngũ cốc non, măng tây, đu đủ….
2.2.2 Thực tiễn về vấn đề liên kết tại Việt Nam
Nhằm phát triển các vùng nguyên liệu bền vững tại nhiều địa phươngthì nhiều mô hình liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp vànhà nông đã xuất hiện Với mục đích là để có được những sản phẩm nôngnghiệp chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, tạo ra môi trườngkinh doanh lành mạnh, an toàn trong giai đoạn đầu hội nhập kinh tế quốc tếthì việc liên kết bốn nhà là vô cùng quan trọng Điển hình một số nơi đã thựchiện thành công mô hình này như: Bình Thuận, Nam Định
2.2.2.1 Tại Bình Thuận
Hiệu quả từ mô hình liên kết "bốn Nhà" để phòng trừ sâu bệnh trên lúa.
Bệnh rầy nâu, vàng lùn và lùn xoắn lá (RN, VL&LXL) hại lúa lâu nay diễnbiến phức tạp trên địa bàn tỉnh ta Trong đó, huyện Đức Linh được coi là một
trong những điểm nóng của dịch bệnh
Mô hình liên kết “4 nhà” (gồm nhà nước, nhà khoa học, nhà doanhnghiệp và nhà nông), nhằm quản lý dịch bệnh lần đầu tiên thực hiện tại vùnglúa thị trấn Võ Xu (Đức Linh) Hội nghị tổng kết mới đây cho thấy rõ hiệuquả trong việc giảm tỷ lệ nhiễm bệnh, giảm chi phí giống và tăng năng suất sonhững vùng lúa không thực hiện mô hình này
Thực hiện mô hình liên kết “4 nhà” trong quản lý dịch bệnh, có đạidiện Sở Nông nghiệp & PTNT (Chi cục BVTV tỉnh và Trạm BVTV ĐứcLinh), Viện BVTV, Công ty CP BVTV An Giang và 13 hộ nông dân tham
Trang 18gia, trên diện tích 11,5 ha lúa vụ đông xuân 2008- 2009 Theo đánh giá củađịa phương, qua thời gian thực hiện (từ tháng 10/2008) đến nay đã cho hiệuquả rõ rệt Cụ thể, tỷ lệ nhiễm bệnh VL&LXL trong ruộng lúa của mô hình ởmức thấp so với những ruộng lúa ngoài mô hình, tiết kiệm chi phí giống(giảm 80-100kg/ha), nhưng năng suất lúa bình quân vẫn đạt khoảng 7 tấn/ha(ruộng ngoài mô hình chỉ đạt 5 tấn/ha) Qua hạch toán sơ bộ, lợi nhuận từruộng trong mô hình là 13 triệu đồng/ha, cao hơn 8 triệu đồng/ha so với ruộngngoài mô hình Trước những kết quả đó, các hộ nông dân thực hiện mô hìnhđều rất phấn khởi Phải nói rằng, để quản lý được diện tích lúa bị nhiễm bệnhtại vùng lúa Đức Linh là nhiệm vụ không dễ dàng Vì vậy, trong suốt thờigian thực hiện mô hình, sự liên kết giữa nhà khoa học, nhà doanh nghiệp vớingười dân đã thể hiện qua việc cán bộ kỹ thuật của Viện BVTV và Công ty
CP thuốc BVTV An Giang thường xuyên bám đồng Sau khi tìm hiểu và điềutra tình hình dịch bệnh đang diễn ra trên địa bàn, các cán bộ kỹ thuật đãhướng dẫn bà con thực hiện một số biện pháp như gieo sạ đồng loạt cho môhình, cải tạo đất, bón lót vôi trước khi trục và bón lót lân, xử lý hạt giốngnhằm chủ động giảm mật độ RN di trú ngay sau khi sạ Đồng thời, khuyếnkhích bà con gieo sạ hàng, với mật độ khoảng 150kg/ha, thực hiện giãn vụ,…Một cán bộ thuộc Công ty CP BVTV cho biết, mô hình liên kết “4 nhà” nằmtrong chương trình “cùng nông dân ra đồng” của Viện BVTV và Công ty CPBVTV An Giang phối hợp thực hiện, chúng tôi cùng ăn, cùng ở và cùng làmvới nông dân Ngoài ra, Công ty đã hỗ trợ các hộ dân thực hiện mô hình 20%chi phí thuốc BVTV và hướng dẫn kỹ thuật cụ thể cho từng bà con trong quátrình sản xuất lúa Qua đó, bà con nông dân đã nắm bắt được tầm quan trọngtrong việc chủ động phòng trừ RN bằng các biện pháp tổng hợp, cải tạo đất,
sử dụng phân bón hợp lý,… Tuy nhiên, 11,5ha lúa được khống chế RN, bệnhVL&LXL là con số còn quá nhỏ so với diện tích nhiễm bệnh mà huyện ĐứcLinh đang gánh chịu Vấn đề quan tâm hiện nay, là làm sao để duy trì và tiếptục phát triển mô hình rộng khắp trên địa bàn Từ đó, rút ra bài học để các địa
Trang 19phương khác thực hiện theo đạt hiệu quả Hy vọng rằng, từ kết quả đạt được
từ mô hình này, sẽ trở thành “đòn bẩy” để bà con Đức Linh nhanh chóng dậptắt được dịch bệnh hại lúa
2.2.2.2 Tại Nam Định
Để nền kinh tế nông nghiệp ngày càng phát triển và đứng vững trongthời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, tỉnh Nam Định đang nhân rộng mô hình liênkết "4 nhà" trong sản xuất, chế biến rau màu đặc biệt là các loại cây trồng vụđông nhằm phục vụ xuất khẩu
Mô hình này đã tạo ra một khối lượng lớn nông sản hàng hoá xuất khẩu,
do đó có sức cạnh tranh trên thị trường, giúp nông dân và các doanh nghiệpcùng làm giàu Mục tiêu của tỉnh là phấn đấu đến năm 2010 mở rộng diện tíchcây vụ đông phục vụ chế biến xuất khẩu lên 3.000 ha Trong đó, tỉnh tập trung ởcác huyện: Hải Hậu 900 ha, Ý Yên 600 ha, Nghĩa Hưng 400 ha, Vụ Bản 400ha để có sản lượng trên 72.000 tấn rau màu đưa vào chế biến sản phẩm xuấtkhẩu Nếu đạt được mục tiêu này thì đến năm 2010, hàng năm các huyện này sẽ
có thu nhập với giá trị 105 tỷ đồng từ cây vụ đông xuất khẩu
Tỉnh Nam Định đã thúc đẩy liên kết “4 nhà” trong trồng rau màu xuấtkhẩu”: triển khai các chính sách hỗ trợ người nông dân trồng các loại cây vụđông phục vụ xuất khẩu, đồng thời tổ chức cho các doanh nghiệp gặp gỡ vớinông dân để thoả thuận, ký kết hợp đồng trồng và tiêu thụ sản phẩm Bêncạnh đó, tỉnh cũng vận động các Ngân hàng Thương Mại tạo điều kiện thuậnlợi cho nông dân và các doanh nghiệp vay vốn đầu tư, mở rộng diện tích, chếbiến rau màu xuất khẩu
Đến nay đã có 10 doanh nghiệp thường xuyên ký kết với gần 50 địaphương trong tỉnh, nhằm phát triển trồng cây vụ đông xuất khẩu với tổng sốdiện tích hơn 1.000 ha Các doanh nghiệp còn ký kết hợp đồng với nông dâncác địa phương trong tỉnh cung cấp giống cây trồng có chất lượng cao và chủđộng đưa các giống cây mới vào đồng rộng
Trang 20Về phía người nông dân, họ đã đa dạng hoá cơ cấu cây trồng với nhiềuloại cây rau màu như cà chua, dưa chuột bao tử, ngô bao tử, ngô ngọt, ớt Thu nhập bình quân từ trồng cà chua nhót đạt 68 triệu đồng/ha/vụ, cà chuaquả to cho thu nhập 79,3 triệu đồng/ha/vụ, dưa chuột bao tử cho thu nhập 56,2triệu đồng/ha/vụ
Tuy vậy, theo các công ty chuyên chế biến rau màu xuất khẩu, nôngdân trong tỉnh vẫn chưa đáp ứng được việc cung cấp nguồn nguyên liệu raumàu chất lượng cao Với nhu cầu hiện nay tại Nam Định, các doanh nghiệpcần thu mua của nông dân ở các địa phương từ 5.000 đến 10.000 tấn sảnphẩm rau màu để chế biến xuất khẩu trong khi nguồn cung chỉ mới đáp ứngđược 30%
Nhằm khắc phục bất cập, yếu kém trong phát triển cây trồng vụ đông,tỉnh Nam Định đã có các giải pháp như: Các địa phương cần tổ chức rà soát,quy hoạch lại vùng chuyên canh cây vụ đông xuất khẩu; ưu tiên đầu tư xâydựng hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thuỷ lợi ở các vùng sản xuấtcây rau màu vụ đông; tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sảnxuất rau màu; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho nông dântrồng cây rau màu vụ đông; xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để khuyếnkhích nông dân phát triển trồng cây vụ đông đồng thời khuyến khích cácdoanh nghiệp lo đầu ra tốt cho sản phẩm rau màu vụ đông
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới và ở Việt Nam
* Tình hình sản xuất và ti êu thụ ngô trên thế giới
Ngô là một trong ba cây lương thực quan trọng nhất được sử dụng làmthức ăn cho người và gia súc Mặc dù chỉ đứng thứ ba về diện tích (sau lúanước và lúa mì) nhưng cây ngô đã năng suất cao nhất trong các cây cốc Hiệnnay trên thế giới có khoảng 140 nước trồng ngô với tổng diện tích khoảng 157triệu ha, sản lượng khoảng 766 triệu tấn, năng suất bình quân 4,9 tấn/ha(FAOSTAT, 2008) Do đó cây ngô là một cây lương thực quan trọng trongnền kinh tế toàn cầu
Trang 21Từ đầu thế kỷ XX đến nay, ngành sản xuất ngô trên thế giới liên tụctăng cả về diện tích, sản lượng và năng suất Hiện nay, cây ngô đứng thứ 3 vềdiện tích, thứ 2 về sản lượng và thứ nhất về năng suất.
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô trên thế giới một số năm
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
(Nguồn: FAOSTAT, USDA 2008)
Qua bảng 2.1 ta thấy năm 1961 diện tích trồng ngô là 104,8 triệu ha,năng suất là 2,0 tấn/ha, sản lượng là 204,2 triệu tấn Nhưng đến năm 2007diện tích trồng ngô là 157,0 triệu ha, năng suất đạt tới 4,9 tấn/ha, sản lượngđạt mức kỷ lục 766,2 triệu tấn tăng gấp 3 lần so với năm 1961 Như vậy chothấy ngành sản xuất ngô đã và đang phát triển rất mạnh Một trong nhữngthành tựu quyết định năng suất ngô ngày càng cao là chúng ta đã lại tạo thànhcông và sử dụng nhiều giống ngô lại vào sản xuất mang lại hiệu quả rất cao Ngôlại là sản phẩm của cuộc Cách Mạng Xanh nửa đầu thế kỷ XXI đã đóng góp lớnvào việc tăng năng suất, sản lượng lương thực giải quyết nạn đói ở các nướcđang phát triển vùng Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh
Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 140 nước trồng ngô, trong đó có
25 nước trồng ngô hàng đầu thế giới với 8 nước công nghiệp, 17 nước là cácnước đang phát triển (7 nước Châu Phi, 5 nước Châu Á va 5 nước từ châu Mỹ
La Tinh) Với 68% diện tích trồng ngô tập trung ở các nước đang phát triểnsong tong sản lượng thu từ các nước này chỉ chiếm 40%, năng suất bình quânchỉ đạt 3 tấn/ha, trong khi các nước phát triển như Mỹ, Trung Quốc, Italia…
Trang 22năng suất đạt từ 9 – 12 tấn/ha (ISAAA).
Qua bảng 2.2 ta thấy Mỹ là nước đứng đầu cả về diện tích, năng suất vàsản lượng trên toàn thế giới Năm 2006 với diện tích là 28,59 triệu ha và năngsuất bình quân là 9,36 tấn/ha và tổng sản lượng là 267,6 triệu tấn chiếm 39%sản lượng ngô toàn thế giới Theo nguồn tin của bộ nông nghiệp Mỹ thì ngoàisản xuất ngô làm lương thực thì Mỹ còn dùng ngô để sản xuất Ethanol.Không chỉ có sản xuất với khối lượng lớn, Mỹ còn là quốc gia có lượng tiêuthụ lớn chiếm 33,52% tổng lượng tiêu thụ ngô của thế giới là 702,5 đến 768,8triệu tấn, hơn thế sản lượng xuất khẩu của Mỹ cũng rất cao chiếm 64,41% sovới sản lượng xuất khẩu của thế giới là 82,6 đến 96,7 triệu tấn Tiếp theo Mỹ
là Trung Quốc, năm 2006 Trung Quốc sản xuất 27,14 triệu ha ngô với năngsuất bình quân 5,37 tấn/ha và tổng sản lượng là 145,63 triệu tấn Tăng trưởngdiện tích hằng năm là 2,1%, năng suất 1,9% và sản lượng là 4,9%
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô của một số nước năm 2006
Tên nước Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 232006 Trung Quốc sản xuất 27,14 triệu ha ngô với năng suất bình quân 5,37tấn/ha và tổng sản lượng là 145,63 triệu tấn Tăng trưởng diện tích hằng năm
là 2,1%, năng suất 1,9% và sản lượng là 4,9%
Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế toàn cầu cũng như xu hướngphát triển của cây ngô thì cây ngô sẽ không ngừng tăng lên về năng suất vàsản lượng Theo dự đoán của CIMMYT vào năm 2020 nhu cầu ngô trên thếgiới sẽ là 504 triệu tấn tăng 79% so với nhu cầu ngô năm 1995
* Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô ở Việt Nam
Ngô được đưa Việt Nam cách đây khoảng 300 năm Mặc dù là câylương thực đứng thứ 2 sau lúa, nhưng do truyền thống cây lúa nước cây ngôkhông được chú trọng nên chưa phát huy được truyền thống của nó ở ViệtNam Nhưng những năm gần đây nhờ có những chính sách khuyến khích củaĐảng, chính phủ va có nhiều tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt về giống ngô, do đócây ngô đã có những bước tiến đáng kể trong tăng trưởng về diện tích, năngsuất và sản lượng
Trong những năm 1945 – 1975 do điều kiện canh tác thâm canh còn lạchậu nên sản lượng liên tục giảm, sản xuất chủ yếu tập trung ở miền Bắc, năngsuất biến động từ 1 – 1,1 tấn/ha với diện tích 276 – 389,6 nghìn ha Lúc nàyvật liệu khởi đầu là các giống địa phương như ngô Đại Phong, gié Bắc Ninh,ngô Vạn Xuân… Cuối giai đoạn này có đưa vào một số giống ngô thụ phấn tự
do cải tiến, một số giống có nguồn gốc nhập nội như Xiêm (từ Thái Lan),Kim Hoàng Hậu (từ Trung Quốc), Ganga (từ Ấn Độ)…, tuy nhiên năng suấtbình quân vẫn rất thấp, xung quanh 10 tạ/ha
Sau năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nhiều nghị quyết Đạihội, nghị quyết Trung ương nhằm khôi phục đất nước sau chiến tranh và pháttriển kinh tế, nhờ đó nông nghiệp nói chung và cây ngô nói riêng đã liên tụcphát triển cả 3 chỉ tiêu là diện tích, năng suất và sản lượng đều tăng trưởngliên tục với tốc độ cao
Trang 24Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam qua một số năm
(1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
% diện tích ngô lại
kỹ thuật Trong giai đoạn 1975 – 1980 năng suất rất thấp do chủ yếu sử dụngcác giống địa phương Những năm 1981 - 1993 năng suất ngô đã có sự cảithiện do dùng các giống TPTD cải tiến Từ năm 1995 đến nay do tỷ lệ giốngngô lại đưa vào sản xuất ngày càng tăng đã tạo ra sự đột biến về năng suất từ15,5 tạ/ha lên tới 39,6 tạ/ha
Hiện nay, ngô được trồng ở hầu hết các vùng miền trong cả nước.Nhưng do tác động của các yếu tố đất đai, khí hậu, thời tiết nên năng suất có
Sản lượng (1000 tấn)
Trang 25Đông Bắc 217,6 28,2 612,6Trung du và miền núi phía bắc 440,5 33,7 459,3Bắc Trung Bộ và DH miền Trung 219,7 34,7 513,8
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2009)
Qua bảng 2.4 ta thấy các vùng ngô chính của Việt Nam là ĐBSH, TâyBắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Cây ngô đang ngày càngtăng lên về diện tích, năng suất, sản lượng và là cây lương thực có tiềm năngkinh tế cao
2.2.4 Những bài học rút ra từ liên kết “bốn Nhà” trong sản xuất và chế biến
- Liên kết kinh tế giữa các hộ nông dân và các doanh nghiệp muốn cóhiệu quả tốt cần phải có thêm sự tham gia của nhà nước và nhà khoa học Cầnliên kết chặt chẽ bốn nhà trên trong từng khâu trong quá trình sản xuất Cầnphải nhân rộng mô hình liên kết bốn nhà trong sản xuât nông nghiệp, để đảmbảo cho người dân yên tâm sản xuất, doanh nghiệp yên tâm đầu tư
- Trong quá trình liên kết phải thực hiện đúng những quy định đã đề ra,như vậy mới tạo nên mối liên kết lâu dài, đảm bảo lợi ích giữa các bên
- Xử lý đúng đắn, kết hợp hài hòa lợi ích giữa các bên trong quá trìnhliên kết Khi xảy ra rủi ro, bất khả kháng thì nhà nước cần can thiệp để đảmbảo cho cả người dân và doanh nghiệp cùng chia sẻ rủi ro đó
- Để quá trình liên kết có sức lan tỏa và đi sâu vào cuộc sống cần đẩymạnh công tác tuyên truyền Tuyên truyền phải là bước đi đầu tiên trong quátrình liên kết, phải làm cho họ hiểu được lợi ích của liên kết
2.2.5 Một số chủ trương, chính sách của nhà nước có liên quan
- QĐ 80/2002/TTg của Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụnông sản hàng hóa thông qua hợp đồng Quyết định 80 và việc liên kết bốn
Trang 26nhà là một chủ trương chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp pháttriển bền vững, là thực hiện vông nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn, tiến tới nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại.
- Chỉ thị 25/2008/TTg : Việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sảnthông qua hợp đồng
- Thông tư số 77/2002/TT- BTC: Hướng dẫn một số vấn đề về tài chínhthực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướngChính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông quahợp đồng: Hỗ trợ về đầu tư và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, về tín dụng đầu
tư phát triển nhà nước, hỗ trợ tài chính vùng khó khăn, hỗ trợ chuyển giao kỹthuật và công nghệ, về chính sách thuế, hỗ trợ xuất khẩu và xúc tiến thươngmại
Trang 27PHẦN III ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Vĩnh Ninh nằm ở phía nam huyện Vĩnh Tường, là xã vùng bãi venSông Hồng, xã có chiều dài 3,5 Km chiều rộng bình quân 1Km
- Phía nam giáp với Sông Hồng
- Phía Bắc giáp xã Phú Đa, huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc
- Phía Đông giáp xã Đại Tự, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc
- Phía Tây giáp xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Phúc
3.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
Vĩnh Ninh là xã vùng bãi ven Sông Hồng, 1/3 diện tích của xã nằm ởphía ngoài đê (giáp bờ sông) Hàng năm số diện tích đất này bị nước SôngHồng làm ngập khoảng từ 20 ngày đến 30 ngày Do được ngập nước SôngHồng nên lượng phù sa bồi đắp hàng năm với một lượng đáng kể diện tíchcòn lại nằm ở phía trong đê cứ khoảng 10 năm thì có một đợt lũ to tràn qua
đê làm ngập phần diện tích này Tuy có thiệt hại về mùa màng nhưng lũ lụt lạibồi đắp cho đất một lượng phù sa rất tốt từ đó làm cho đất đai màu mỡ, rấtphù hợp cho các loại cây công nghiệp nhỏ như: mía, ngô, đỗ tương, dâu tằm
và các loại cây rau màu
3.1.1.3 Khí hậu
Xã Vĩnh Ninh nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng thuộctrào lưu khí quyển nhiệt đới gió mùa của miền Bắc Có hai mùa chính đó làmùa khô và mùa mưa, hàng năm chịu ảnh hưởng của 1 - 4 cơn bão, số giờnắng từ 1700 -1800 giờ, nhiệt độ trung bình xấp xỉ 230C, hàng năm có từ 15
Trang 28- 20 đợt gió mùa đông bắc tràn qua Lượng mưa xê dịch trong khoảng từ 1600– 1800 mm, tập trung cao độ vào mùa hè (chiếm khoảng 80% lượng mưa cảnăm), tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 và tháng 8 Độ ẩm trung bình
từ 85 – 90%.Tổng lượng bốc hơi cả năm từ 700 – 900 mm
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Đất chuyên dùng của xã tăng lên qua các năm từ 43,87 ha chiếm 9,68%năm 2007 lên 44,57 ha chiếm 9,84 % năm 2009 Nguyên nhân của sự tăng lên
là do sự mở rộng diên tích đất thổ cư Đất thổ cư tăng lên bình quân là 1,69ha/năm
Nhìn chung diện tích và cơ cấu của các loại đất của xã qua 3 nămkhông có biến động đáng kể, hiện tại quỹ đất chưa sử dụng của xã còn khálớn 139,67 ha chiếm 30,82% (năm 2009) diện tích đất tự nhiên, bao gồm diệntích mặt nước Sông Hồng và đất bãi cát ven sông Diên tích này xã cần sớmđược chuyển sang mục đích sử dụng và khai thác có hiệu quả trong thời giantới bằng cách đưa các loại cây trồng có khả năng thích nghi với điều kiện củavùng như các giống ngô mới cho năng suất cao, tăng thu nhập cho người dâncủa địa phương mình
Trang 29Chỉ tiêu
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
1.Đất thổ cư 17,85 40,69 18,25 41,22 18,55 41,62 102,24 101,64 101,69 2.Đất giao thông 15,65 35,67 15,65 35,35 15,65 35,11 100,00 100,00 100,00
Trang 303.1.2.2 Dân số - Lao động
Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội của xã năm 2009 dân số toàn xã
là 4344 khẩu, trong đó nhân khẩu nông nghiệp chiếm khoảng 99,19 % là xã
ổn định về dân số tỷ lệ tăng dân số hàng năm là 0,35%
Toàn xã có 863 hộ , trong đó hộ nông nghiệp chiếm 855 hộ, hộ phinông nghiệp chiếm 8 hộ chiếm 0,93% Bình quân nhân khẩu trên hộ của năm
2005 là 5,02 người/hộ Số hộ của xã tăng dần qua các năm Cũng dễ hiểu choviệc tăng lên của số hộ trong xã, đó là do sự tách ra thành cá hộ nhỏ, một nhucầu của xã hội hiện nay
Tổng số lao động toàn xã hiện nay là 1819 người nhưng chỉ có 0,99%lao động phi nông nghiệp Hàng năm lượng lao động nông nghiệp tăng bìnhquân 0,31% nhưng diện tích đất nông nghiệp giảm đi do vậy diện tích đấtnông nghiệp/lao động càng giảm theo Đây là vấn đề bất cập cần phải có cácgiải pháp để giải quyết tình trạng thất nghiệp và bán thất nghiệp của lao độngtrong địa bàn xã Vĩnh Ninh
Qua bảng 3.2 có thể nhận thấy rằng: Qua 3 năm từ năm 2007 – 2009dân số của xã Vĩnh Ninh tăng chậm, số người tham gia sản xuất phi nôngnghiệp tăng nhanh hơn số người sản xuất nông nghiệp Điều đó chứng tỏ đang
có sự chuyến biển mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế của xã theo xu hướng giảmbớt tỷ trọng lao động nông nghiệp nâng cao tỷ trọng lao động phi nôngnghiệp Bình quân có khoảng 5 người trên một hộ, trong đó có 2 lao động
Trang 31Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã Vĩnh Ninh qua 3 năm (2007- 2009)
Chỉ tiêu Đơn vị tính
2007 2008 2009 So sánh (%) Số
lượng
Cơ cấu (%)
Số lượng
Cơ cấu (%)
Số lượng
Cơ cấu (%) 08/07 09/08 BQ
(Nguồn: Ban thống kê xã)
Trang 323.1.2.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống
Toàn xã tính đến thời điểm tháng 6 năm 2009 có đến 87,75% tổng số
hộ là nhà bán kiên cố, 11,25% hộ nhà kiên cố và không còn nhà tạm
Xã có khoảng 6,5 Km đường liên thôn liên xã hiện nay đã được bê tônghóa đã gốp phần làm thuận lợi cho việc đi lại của người dân trong xã Toàn
xã hiện nay có 1250 con bò, có 10 xe ô tô vận tải cỡ nhỏ Xã đã xây dựngđược 2 nhà lớp học kiên cố mỗi nhà có 8 phòng học cho 2 cấp học là trườngtiểu học và trường trung học cơ sở Riêng trường mần non vẫn chưa được xâydựng phải học nhờ ở các trung tâm của các thôn làng Đội ngũ giáo viên của 3cấp học đều được đào tạo chính quy, có chuyên môn vững và nhiệt tình trongcông tác từ đó đã tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục đàotạo ở địa phương
Hiện nay cả xã có 3 trạm biến thế điện với tổng công suất 480 KVA,đường dây tải điện đã được kéo đến khắp cả các thôn làng trong xã 100%người dân trong xã đều được dùng điện
Xã có 1 trạm y tế đã được xây dựng bán kiên cố với đội ngũ thầy thuốc
đủ về số lượng (4 người) theo biến chế và có chất lượng (1 bác sỹ, 3 y sỹ)đảm bảo việc khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân
Là xã ven Sông Hồng nên Vĩnh Ninh đến nay chỉ có 1 thôn đuợc hưởnglợi từ hệ thống thủy lợi của nhà nước, tuy nhiên số diện tích được tưới cũngrất thấp (25 ha) diện tích còn lại phụ thuộc hòa toàn vào điều kiện thời tiết,khí hậu tự nhiên Do đó làm mất đi tính chủ động trong chuyển dịch cơ cấumùa vụ, cây trồng làm cho năng suất cây trồng của người dân rất bấp bênh vàkhông ổn định
3.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã
3.1.3.1 Ngành trồng trọt
Đây là ngành sản xuất chủ yếu của xã, tình hình phát triển ngành trồngtrọt của xã qua 3 năm được phản ánh ở bảng 3.3
Trang 33Bảng 3.3 Tình hình phát triền trồng trọt của xã Vĩnh Ninh
08/07 09/08 BQ Cây lúa
-Diện tích gieo trồng Ha 25,05 25,05 25,05 100,00 100,00 100,00-Năng suất bình quân Tạ/ha 41,75 42,66 42,87 102,18 100,50 101,34-Sản lượng Tấn 104,58 106,86 107,39 102,18 100,50 101,34
(Nguồn: Ban thống kê xã)
Các loại cây trồng chính là cây ngô, đỗ tương, lúa, rau màu các loại vàcác cây công nghiệp như cây dâu tằm, mía, chuối…`
Trong 3 năm qua do áp dụng khoa học kỹ thuật mới, chuyển đổi cơ cấucây trồng đã giúp cho sản xuất của xã phát triển, năng suất cây lúa, ngô và câycông nghiệp đều tăng Xã Vĩnh Ninh là xã vùng bãi ven sông Hồng do đặcđiểm địa lý và diện tích cây lúa rất ít chỉ có 25,05 ha, cây ngô và cây côngnghiệp được người dân chú trọng phát triển Tuy nhiên, 3 năm trở lại đây diệntích gieo trồng cây công nghiệp đang bị người dân xoá dần và tăng tăng dầndiện tích cây ngô Năng suất ngô bình quân cả năm 2009 đạt 45,35 triệu đồng/
ha tăng 1,11% so với năm 2008
3.1.3.2 Ngành chăn nuôi
Cùng với ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi của địa phương cũng đượccán bộ và nhân dân chú trọng phát triển với các loại vật nuôi chính là bò, lợn,gia cầm do vậy tổng đàn bò của xã năm 2009 đạt 1250 con (trị giá 5 tỷ đồng)
Đàn lợn cũng luôn được tăng về số lượng và quy mô Chăn nuôi (1730
Trang 34Con năm 2007 lên 1860 con năm 2009) bình quân hàng năm tăng 1,46% Đànlợn nái được duy trì ở mức ổn định 140 con qua các năm.
Số lượng gia cầm hàng năm bình quân tăng lên là 6,67% Lượng giacầm phát triển chủ yếu là gà vịt Do tình hình cúm gia cầm phát triển trongnăm 2008 và 2009, tuy nhiên địa phương không bị mắc bệnh dịch nhưng vìgiá cả trên trị trường, biến động giá thấp nên bà con nông dân không pháttriển thêm đàn gia cầm
Bảng 3.4 Tình hình phát triển chăn nuôi của xã Vĩnh Ninh qua 3 năm (2007-2009)
Chỉ tiêu
Số lượn g (con)
Giá trị (Triệ u đồng)
Số lượn g (con)
Giá trị (Triệ u đồng)
Số lượn g (con)
Giá trị (Triệ u đồng)
08/07 09/08 BQ
9
104,1 7
106,6 3
2 Lợn
5
103,3 3
103,6 9
0
100,0 0
100,0 0
100,0 0
106,6 7
(Nguồn: Ban thống kê xã)
3.1.3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh chung của xã
Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm được thể hiện trên bảng 3.5
Trang 35Bảng 3.5 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2007 – 2009)
Chỉ tiêu
Số lượng (Triệu đồng)
Cơ cấu (%)
Số lượng (Triệu đồng)
Cơ cấu (%)
Số lượng (Triệu đồng)
Cơ cấu (%)
Trang 36Tổng giá trị sản xuất hàng năm của xã tăng bình quân 7,94% Năm
2009 đạt giá trị sản xuất là 23378,2 triệu đồng, trong đó: nông nghiệp đạt64,08%, tương ứng là 14982,4 triệu đồng Do vĩnh Ninh là một xã thuần nôngnên cơ cấu kinh tế của xã tỷ trọng nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ khá cao Quabảng 3.4 ta thấy muốn đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế của địa phương cầnquan tâm phát triển các ngành nghề truyền thống và thương mại dịch vụ Đốivới sản xuất nông nghiệp cũng cần có sự đầu tư nhiều hơn nữa về khoa học kỹthuật, vốn để chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi, đưa các loại cây trồng
có giá trị kinh tế cao theo hướng sản xuất hàng hóa
Tuy nhiên cũng qua biểu thống kê ta thấy việc phát triển dịch vụthương mại của địa phương cũng đã có sự chuyển biến đáng kể, tăng trưởngbình quân qua các năm đạt 20,08% năm 2009 đã đạt 8395,8 triệu đồng chiếm
tỷ trọng bằng 35,92% tổng giá trị sản xuất Nếu địa phương chú trọng đầu tưthì đây là hướng giải quyết việc làm rất hiệu quả, tạo được nhiều việc làm chongười dân, hỗ trợ đắc lực cho công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại xã Vĩnh Ninh, huyệnVĩnh Tường, tỉnh VĩnhPhúc Đây là xã có điều kiện đất đai rất phù hợp với sự sinh trưởng và pháttriển của cây ngô
3.2.2 Thu thập số liệu
3.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Nguồn tài liệu thứ cấp bao gồm các số liệu được công bố qua sách báo,công văn, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế xã hội của xã qua các năm, các sốliệu thống kê xã, các bài báo cáo tốt nghiệp, các bài nghiên cứu khoa học,niên giám thống kê, tạp chí, ấn phẩm, qua Internet… Các tài liệu này cungcấp các thông tin lý luận về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản hànghoá, các chủ trương chính sách, kinh nghiệm về liên kết trên thế giới và ở
Trang 37Việt Nam, điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội của xã Vĩnh Ninh, cácchỉ tiêu về cơ cấu, diện tích, năng suất, sản lượng ngô… Các tài liệu này đượcthu thập theo phương pháp kế thừa và có chọn lọc.
3.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Chúng tôi tiến hành điều tra phỏng vấn trực tiếp các tác nhân (ngườisản xuất, người gom, cán bộ khuyến nông, Hội nông dân, cán bộ xã,…) Căn
cứ vào việc thống kê của xã và các thôn về số lượng các tác nhân, chúng tôixây dựng phiếu điều tra bao gồm những nội dùng sau:
+Những thông tin cơ bản của các tác nhân: tên tuổi, giới tính, số nhânkhẩu, số lao động, đất đai, vốn…
+ Thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh như các loại chi phí, kếtquả sản xuất hộ nông dân : doanh thu, thu nhập…
+ Những thông tin về ý kiến, dự định, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích,những thuận lợi và khó khăn của các tác nhân, các yếu tố tác động đến mối liênkết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ ngô như đất đai, kỹ thuật, vốn, giá các sảnphẩm liên quan, thời vụ, các loại chi phí, chất lượng và số lượng sản phẩm…làm
cơ sở đề ra hướng khắc phục, góp phần phát triển bền vững kinh tế nói chung vàphát triển mối liên kết kinh tế sản xuất và tiêu thụ ngô nói riêng
- Phương pháp điều tra: chúng tôi tiến hành điều tra 70 hộ nông dântrong đó có 35 hộ liên kết và 35 hộ không liên kết trong sản xuất và tiêu thụngô ở 4 thôn của xã Vĩnh Ninh nhằm tìm hiểu về các hoạt động liên quan đếnsản xuất (diện tích, năng suất, sản lượng, tình hình đầu tư của hộ, tình hìnhliên kết của hộ với cá tác nhân …) Tiến hành phỏng vấn trực tiếp theo phiếuđiều tra đã lập sẵn để ghi lại nhưng thông tin thu được, đồng thời kết hợp vớiphỏng vấn câu hỏi mở để trao đổi thông tin, tham khảo ý kiến các tác nhân.Đầu tiên, trên cở sở bảng câu hỏi được thiết kế, sau khi phỏng vấn thử rồichỉnh sửa bảng câu hỏi và tiến hành phỏng vấn toàn bộ mẫu đã chọn để thuthập toàn bộ số liệu chưa công bố
Trang 38Toàn bộ số liệu thu thập chúng tôi xử lý phần mềm Excel, phân tích và sosánh các kết quả có được Từ đó, đưa ra những kết luận về thực trạng liên kếtkinh tế trong sản xuất – tiêu thụ ngô của xã và đề ra những giải pháp, kiến nghịnhằm phát triển mối liên kết kinh tế trong sản sản xuất – tiêu thụ ngô của xã.
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
3.2.3.1 Phương pháp phân tích định tính
PRA không chỉ hữu ích trong thu thập những thông tin cần thiết mà còn
là một phương pháp cùng nông dân tham gia chia sẻ, thảo luận phân tích kiếnthức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để từ đó tìm ra cách giảiquyết vấn đề
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp PRA trong phântích các kết quả thu thập được từ các công cụ sau:
Thảo luận nhóm các hộ nông dân: bao gồm các nhóm hộ liên kết vànhóm hộ không liên kết với mục đích phân tích điều kiện sản xuất của cả hainhóm hộ, tình hình đầu tư cho 1sào/vụ ngô trong một năm, phân tích kết quả
và hiệu quả kinh tế mà hai nhóm hộ đạt được để làm rõ hơn lợi ích của việcliên kết Qua đó, tổng hợp các nguyện vọng, nhu cầu của người nông dân khitham gia liên kết, cùng họ tham gia chia sẻ, thảo luận và lắng nghe những khókhó khăn mà họ đang gặp phải từ đó làm cơ sở để đưa ra các giải pháp có căn
3.2.3.2 Phương pháp phân tích định lượng
- Phương pháp thống kê mô tả
Trang 39Vận dụng các chỉ tiêu như số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc
độ phát triển bình quân, để phân tích mức độ và xu hướng biến động trongphát triển sản xuất ngô, cũng như hiệu quả của các tác nhân, nhóm tác nhântrong quá trình tham gia liên kết tại địa phương
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Phương pháp này chúng tôi tiến hành thu thập có chọn lọc ý kiến đánhgiá của những người đại diện trong từng lĩnh vực như cán cấp xã, các nhàkhoa học, các chuyên gia về ngô và các nhà kinh tế Từ đó đưa ra những nhậnxét và đánh giá chung về thực trạng mối liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêuthụ ngô của xã Vĩnh Ninh – Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc
- Phương pháp phân tích SWOT
Từ thực trạng làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trongphát triển sản xuất và tiêu thụ ngô của xã
- Phương pháp phân tích kinh tế
Phân tích kinh tế với mục đích là đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tếsản xuất với các chỉ tiêu như: Giá trị sản xuất (GO); Chi phí trung gian (IC);Giá trị gia tăng (VA); Thu nhập hỗn hợp (MI); Giá trị sản xuất (GO)/côngLĐ; Giá trị gia tăng (VA)/công LĐ Thông qua các chỉ tiêu náy sẽ tính đượcthu nhập hỗn hợp/ngày công lao động của hộ Đây là chỉ tiêu quan trọng đánhgiá mức thu nhập của hộ trên ngày công lao động là cao hay thấp
Trang 403.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Thông tin, số liệu được nhập, xử lý trên Excel, Microsoft Word Cách
sử lý số liệu bằng cách tính số bình quân số học đơn giản và số bình quân sốhọc gia quyền Từ đó, đưa ra những đánh giá, phân tích chính xác nhất về mốiliên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ ngô của địa phương
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
- Tổng chi phí sản xuất, giá trị sản lượng, cơ cấu giá trị sản phẩm của
hộ, cơ sở; quy trình sản xuất và kênh tiêu thụ sản phẩm ngô, các hình thứcliên kết (lợi ích của các hợp đồng miệng); tỷ lệ hộ, cơ sở tham gia liên kết, giátrị và hiệu quả các hình thức liên kết, sự phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị(lợi ích kinh tế) Trong đó:
+ Giá trị sản xuất (GO): Là giá trị tính bằng tiền của toàn bộ các loại sảnphẩm trên một đơn vị diện tích
GO =
n i
QiPi
1
+ Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ các chi phí vật chất thường xuyênnhư: nguyên liệu, nhiên liệu, dịch vụ…được sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Giá trị gia tăng(VA): Là phần chênh lệch giữa giá trị sản xuất ra trên mộtđơn vị diện tích và phần chi phí vật chất thường xuyên sử dụng trong quá trình sảnxuất
VA = GO – IC + Thu nhập hỗn hợp: Là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất
MI = VA – (A + T)+ Giá trị sản xuất (GO)/IC: Là tỷ số giá trị sản xuất của sản phẩm thuđược tính bình quân trên một đơn vị diện tích với chi phí trung gian của mộtđơn vị diện tích
+ Thu nhập hỗn hợp (MI)/ IC: Bằng tỷ số thu nhập hỗn hợp thu đượctính bình quân trên một đơn vị diện tích trên tổng chi phí trung gian