1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang

61 506 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 4,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong những năm gần đây hệ thống đê bao khép kín đã gây ra những ảnh hưởng như: làm mực nước trên sông dâng cao, đất sản xuất trong vùng đê bao khép kín bị suy thoái và do vậy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

HUỲNH MINH THIỆN

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ

HỆ THỐNG ĐÊ BAO TẠI HUYỆN CHÂU PHÚ, AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN TH.S HUỲNH VƯƠNG THU MINH

Cần Thơ, 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

- -

HUỲNH MINH THIỆN

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ

HỆ THỐNG ĐÊ BAO TẠI HUYỆN CHÂU PHÚ, AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN TH.S HUỲNH VƯƠNG THU MINH

Cần Thơ, 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian thực hiện đề tài, em xin gởi lời cảm ơn đến

Cô Huỳnh Vương Thu Minh, thầy Văn Phạm Đăng Trí, anh Võ Quốc Thành đã dành thời gian, tận tình chỉ bảo, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt đề tài luận văn tốt nghiệp

Anh Trần Hữu Phúc ở Viện Nghiên cứu và phát triển Đồng bằng sông Cửu Long đã nhiệt tình giúp đỡ em thực hiện tốt các buổi PRA tại vùng nghiên cứu

Quý thầy cô trong Bộ môn Quản lý Môi trường và toàn thể quý thầy cô Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện cho em thực hiện đề tài

Tất cả anh (chị) trong Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, bạn bè lớp Quản

lý Môi trường khóa 34 đã động viên, hỗ trợ và giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Các cô, chú, anh, chị công tác ở Ủy ban sông Mê Công, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Trung ương, Chi cục Thủy lợi tỉnh An Giang, Phòng Nông nghiệp huyện Châu Phú Cảm ơn cán bộ và bà con nông dân xã Ô Long Vĩ, xã Vĩnh Thạnh Trung, xã Bình Phú đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, con được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân đã động viên giúp đỡ con trong suốt quá trình học tập

Chân thành và vô cùng biết ơn Chúc sức khỏe!

Sinh viên thực hiện

Huỳnh Minh Thiện

Trang 4

TÓM LƢỢC

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở hạ nguồn sông Mê Công và mỗi năm nhận một lượng lớn nước lũ từ phía thượng nguồn Nước lũ có ý nghĩa quan trọng với nền sản xuất nông nghiệp cũng như hệ sinh thái tự nhiên ở ĐBSCL Đồng bằng được

bổ sung một lượng phù sa đáng kể hằng năm sau mỗi mùa lũ, mang lại nguồn lợi thủy sản dồi dào, góp phần thao chua rửa phèn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, lũ cũng gây khó khăn trong thâm canh tăng vụ, gây thiệt hại mỗi khi lũ về sớm hoặc mực nước lũ dâng quá cao Để khắc phục những khó khăn do lũ gây ra, nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh đầu nguồn (An Giang, Đồng Tháp) đã được xây dựng đê bao khép kín Tuy nhiên, trong những năm gần đây

hệ thống đê bao khép kín đã gây ra những ảnh hưởng như: làm mực nước trên sông dâng cao, đất sản xuất trong vùng đê bao khép kín bị suy thoái và do vậy hiệu quả sản xuất thấp Huyện Châu Phú, tỉnh An Giang có hệ thống thủy lợi phát triển từ những

2000 và trong năm 2011, vùng này đã chịu ảnh hưởng lớn của lũ do bị vỡ đê cục bộ và

đã gây ra những tác động không nhỏ đối với đời sống và sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương Do vậy, đề tài được thực hiện nhằm đánh giá tổng quan hiện trạng hệ thống đê bao cũng như hiệu quả hệ thống đê bao đối với sản xuất nông nghiệp trên địa bàn vùng nghiên cứu Mối quan hệ giữa ngập lũ tại Long Xuyên và Cần Thơ trong năm 2011 và việc phát triển hệ thống đê bao vùng thượng nguồn ĐBSCL được phân tích dựa vào thay đổi mực nước các trạm thủy văn ở vùng ĐBSCL và Pakse (Lào) Từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống đê bao trong huyện

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM LƯỢC ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH BẢNG v

DANH SÁCH HÌNH vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

CHƯƠNG 1 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

1.4 Giới hạn đề tài 3

CHƯƠNG 2 4

2.1 Một số nghiên cứu trong nước 4

2.2 Cơ sở lý thuyết 6

2.2.1 Tổng quan về các trận lũ lớn ở ĐBSCL qua các năm 6

2.2.2 Phân cấp lũ 11

2.2.3 Hệ thống thủy lợi ĐBSCL 12

CHƯƠNG 3 18

3.1 Phương pháp nghiên cứu 18

3.2 Đối tượng nghiên cứu 19

3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19

3.3.1 Thời gian nghiên cứu 19

3.3.2 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu 19

3.4 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 22

3.4.1 Thu thập số liệu thứ cấp 22

3.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp 22

3.5 Phương pháp dùng trong xử lý số liệu 24

CHƯƠNG 4 25

4.1 Hiện trạng hệ thống thủy lợi huyện Châu Phú 25

4.1.1 Hiện trạng hệ thống kênh mương 25

4.1.2 Hiện trạng hệ thống đê bao 25

Trang 6

4.1.3 Công tác quản lý thủy lợi tại huyện Châu Phú 31

4.1.4 Những tồn tại về thủy lợi của huyện Châu Phú 32

4.2 Động thái của lũ trên sông Hậu trong năm 2000 và 2011 33

4.2.1 Động thái lũ trong năm 2000 và 2011 tại trạm Pakse và trên sông Hậu 33

4.2.2 Chế độ thủy triều ảnh hưởng tới mực nước tại Long Xuyên và Cần Thơ trong năm 2000 và 2011 36

4.3 Động thái và thiệt hại của lũ năm 2000 và 2011 tại vùng nghiên cứu 39

4.4 Hiệu quả hệ thống đê bao 40

4.5 Một số giải pháp đề xuất 41

CHƯƠNG 5 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Kiến nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

PHỤ LỤC 46

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Phân cấp lũ theo mực nước tại Tân Châu và Châu Đốc, An Giang 12

Bảng 2.2 Phân loại đê theo nhiệm vụ 13

Bảng 2.3 Phân loại kênh 17

Bảng 4.1 Danh mục vùng vỡ đê năm 2011 ở huyện Châu Phú 30

Bảng 4.2 Diện tích lúa vụ Thu Đông xạ lại huyện Châu Phú năm 2011 32

Bảng 4.3 So sánh động thái lũ năm 2000 và 2011 tại vùng nghiên cứu 39

Bảng 4.4 So sánh thiệt hại lũ năm 2000 và 2011 tại vùng nghiên cứu 39

Bảng 4.5 So sánh hiệu quả hai loại đê bao 40

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1.1 Lưu vực sông Mê Công 1

Hình 2.1 Mực nước lũ năm 1996 tại Tân Châu 6

Hình 2.2 Diễn biến mực nước lũ các năm 2000, 2001, 2002 tại Tân Châu 7

Hình 2.3 Vùng ngập lũ trong năm 2001 8

Hình 2.4 Vùng ngập lũ trong năm 2002 10

Hình 2.5 Mực nước lũ năm 2011 tại Tân Châu 11

Hình 2.6 Đê bao tháng 8 14

Hình 2.7 Nuôi tôm càng xanh trong mùa lũ ở An Giang 15

Hình 2.8 Đê bao khép kín tại An Giang 15

Hình 3.1 Quá trình thực hiện đề tài 18

Hình 3.2 Vị trí huyện Châu Phú 19

Hình 3.3 Nhiệt độ trung bình tháng từ năm 2002 – 2007 tại Châu Đốc 20

Hình 3.4 Lượng mưa trung bình theo tháng từ năm 2002 – 2007 tại Châu Đốc 21

Hình 3.5 Độ ẩm trung bình năm 2010 tại An Giang 21

Hình 3.6 Hoạt động trong buổi PRA tại xã Ô Long Vĩ 23

Hình 4.1 Đê bao khép kín năm 2000 26

Hình 4.2 Hiện trạng hệ thống thủy lợi huyện Châu Phú năm 2011 27

Hình 4.3 Hiện trạng cống trạm bơm huyện Châu Phú năm 2011 28

Hình 4.4 Lịch thời vụ lệch giữa hai vùng đê bao 29

Hình 4.5 Vùng vỡ đê tại huyện Châu Phú năm 2011 29

Hình 4.6 Quy hoạch hệ thống thủy lợi huyện Châu Phú đến năm 2015 31

Hình 4.7 Hệ thống tổ chức quản lý thủy lợi tại huyện Châu Phú 31

Hình 4.8 Thực trạng đoạn đê bị vỡ được gia cố 33

Hình 4.9 Mực nước năm 2000, 2011 tại trạm Pakse 33

Hình 4.10 Mực nước năm 2000 và 2011 tại trạm Châu Đốc và Long Xuyên 34

Hình 4.11 Mực nước năm 2000 và 2011 tại trạm Cần Thơ 35

Trang 9

Hình 4.12 Mực nước năm 2000 và 2011 tại trạm Pakse và Cần Thơ 36

Hình 4.13 Mực nước tại Rạch Giá, Long Xuyên trong năm 2000 và 2011 37

Hình 4.14 Mực nước tại Mỹ Thanh, Cần Thơ trong năm 2000 và 2011 38

Hình 4.15 Bùn thải ao nuôi cá tại xã Vịnh Thạnh Trung 41

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

PRA Participatory Rural Appraisal

TTKTTV QG Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia NGTK AG Niên giám thống kê An Giang

CCTL AG Chi cục thủy lợi An Giang

Trang 11

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Đặt vấn đề

Mê Công là sông lớn đứng thứ 12 trên thế giới (Pantulu, 1986) với chiều dài 4.350 km, bắt nguồn từ Cao Nguyên Tây Tạng ở độ cao 5.224 m Sông Mê Công chảy qua lãnh thổ 6 nước từ Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam Khi vào địa phận Việt Nam sông Mê Công phân thành hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, sau

đó đổ ra biển Đông qua 8 cửa, tạo ra một hệ sinh thái trù phú với diện tích 39.734 km2(Nguyễn Hữu Ninh, 2007) thuận lợi cho ngành nông nghiệp lúa nước, nuôi trồng thủy sản

Hình 1.1: Lưu vực sông Mê Công

Trang 12

như trong trận lũ năm 2000 xuất hiện hai đỉnh lũ, đỉnh lũ chính vụ đạt đỉnh lũ cao thứ

3 từ năm 1960 đến nay (tại Tân Châu đỉnh lũ đạt 5,06 m), khoảng thời gian giữa hai đỉnh là 51 ngày và đến sớm hơn 1 tháng so với trung bình các năm Theo thống kê của trung tâm khí tượng Thủy văn quốc gia, lũ năm 2000 gây ra những thiệt hại về người,

cơ sở vật chất, sản xuất nông nghiệp như: số người chết là 539 người trong đó hơn 300 trẻ em; 9.457 căn nhà bị hư hỏng hoàn toàn; 224.508 ha lúa và gần 86.000 ha gồm hoa màu, cây ăn trái, cây công nghiệp bị hư hại; hơn 14.000 ha nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại

An Giang là tỉnh biên giới và trực tiếp chịu ảnh hưởng nước lũ từ sông Mê Công và nước chảy tràn từ Campuchia chảy sang Trước năm 1995, người dân An Giang chỉ canh tác hai vụ lúa với năng suất mỗi vụ chỉ đạt 5,25 tấn/ha, khi có đê bao ngăn lũ, năng suất đã được cải thiện đạt 5,81 tấn/ha (2006) và sản xuất thêm được vụ Thu Đông (UBND An Giang, 2008) Đê được xây dựng ở An Giang có hai loại chính, đê bao tháng tám (đê bao lửng) và đê bao khép kín (đê bao triệt để) chủ yếu là bảo vệ lúa vụ

ba, cơ sở hạ tầng trong suốt mùa lũ Hai loại đê bao này có những hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường khác nhau từ việc lấy phù sa (do nước lũ chảy tràn), bảo vệ nông nghiệp qua mùa lũ

Xuất phát từ những vấn đề trên nên đề tài: “Khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả

hệ thống đê bao tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang” được thực hiện Với mục đích đánh giá hiện trạng công trình thủy lợi và hiệu quả của hệ thống đê mang lại về mặt sản xuất nông nghiệp, xã hội, môi trường Bên cạnh đó, nghiên cứu còn đề xuất một số giải pháp thích hợp góp phần tăng hiệu quả từng loại đê bao

1.2 Mục tiêu đề t i

 Khảo sát hiện trạng hệ thống đê bao tháng tám và đê bao khép kín của huyện Châu

Phú;

 Đánh giá động thái và thiệt hại của lũ cho năm 2000 và 2011;

 Đánh giá hiệu quả của hệ thống đê bao tới kinh tế, xã hội và môi trường;

 Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hệ thống đê bao

1.3 Nội dung nghiên cứu

 Thu thập số liệu thứ cấp về hiện trạng kênh rạch và các công trình thủy lợi bao gồm hệ thống cống cấp và thoát nước, hệ thống đê bao Tình hình sản xuất nông nghiệp bao gồm lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng và những thiệt hại do lũ năm 2000

và 2011;

 Triển khai điều tra nhóm nông hộ (PRA – Participatory Rural Appraisal) tại 03 khu vực nghiên cứu (đê bao tháng tám, đê bao khép kín và đê bao khép kín bị vỡ năm 2011) để tìm hiểu về động thái và ảnh hường của lũ tới tình hình sản xuất

Trang 13

nông nghiệp của vùng, hiệu quả của đê bao đối với sản xuất nông nghiệp và lịch thời vụ đối với từng vùng đê bao;

 Thu thập các thông tin có liên quan đến hệ thống cơ sở hạ tầng thủy lợi nhằm xây dựng hoàn chỉnh bản đồ hệ thống công trình thuỷ lợi huyện Châu Phú;

 So sánh mực nước tại các trạm quan trắc Pakse, Châu Đốc, Long Xuyên và Cần Thơ, nhằm chỉ ra sự thay đổi mực nước trong mùa lũ từ thượng nguồn đến hạ nguồn tronghai năm lũ lớn (2000 và 2011);

 So sánh động thái và những thiệt hại của lũ trong năm 2000 và 2011;

 Đánh giá hiện trạng và hiệu quả hệ thống đê bao vùng nghiên cứu và đề xuất một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống đê bao;

1.4 Giới hạn đề t i

Đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng và hiệu quả của hệ thống đê bao và các công trình thủy lợi trong huyện Châu Phú; so sánh động thái và ảnh hưởng của lũ đến tình hình sản xuất nông nghiệp trong vùng năm 2000 và 2011;

Trang 14

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Một số nghiên cứu trong nước

Ảnh hưởng của phù sa trên năng suất lúa v một số động thực vật thủy sinh chính tại An Giang (Trương Thị Nga, 1998) Nghiên cứu bước đầu nêu ra được

những tác động của phù sa trong mùa lũ như ảnh hưởng đến năng suất lúa, thành phần

và sản lượng thủy sản, cũng như thành phần và mật độ vi sinh vật trong nước Qua đó cũng gián tiếp nêu ra được mối tương quan giữa phù sa, đê bao, cường độ lũ Hàm lượng phù sa lơ lửng trong nước có mối tương quan mật thiết với đê bao

Khi tiến hành lấy mẫu nước khảo sát giữa vùng trong đê và vùng ngoài đê thì thấy vùng ngoài đê hàm lượng phù sa lơ lửng rất cao, và bề dầy lớp phù sa lắng tụ trên mặt đáy cũng lớn Trong mùa lũ, trung bình đạt 2,23 cm và biến động tùy từng vị trí khác nhau nhưng dao động từ 0,89 – 7,35 cm Vùng trong đê hàm lượng phù sa lơ lửng trong nước thấp và bề dầy lớp phù sa lắng tụ không đáng kể Khi khảo sát vùng không

có đê bao và đê bao lững thì thấy qua mùa lũ bên trong nội đồng có sự lắng tụ của phù

sa Sự lắng tụ này biến động theo hướng giảm dần từ đầu kênh đến cuối kênh Hàm lượng phù sa trong nước, bề dầy lớp phù sa lắng tụ và cường độ lũ mỗi năm có quan

hệ đồng biến Đê bao khép kín gây cản trở việc khuyếch tán của phù sa vào trong nội đồng

Kết quả của nghiên cứu đã tính ra được hàm lượng phù sa và trữ lượng dinh dưỡng trên một đơn vị diện tích là ha của vùng trong đê, ngoài đê, vùng đê bao lửng Song nghiên cứu vẫn còn những hạn chế như chưa đưa ra được số liệu thuyết phục về mối quan hệ giữa phù sa và năng suất lúa Nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế của nghiên cứu là do tập quán và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp không đồng nhất giữa các khu sản xuất

Điều khiển lũ ở vùng TGLX (Nguyễn Sinh Huy, 1997) là đề tài nghiên cứu với các

mục tiêu như bảo đảm an toàn cho vụ lúa Đông Xuân và Hè Thu, giảm bớt độ sâu ngập lụt và thời gian ngập lụt cho vùng TGLX, đưa nước lũ sớm về cải tạo các vùng đất chua phèn, hoang hóa vùng tứ giác Hà Tiên (TGHT), cải thiện chất lượng nước chua lưu cữu trong các kênh rạch vùng Kiên Giang, tăng cường lấy phù sa từ sông Hậu vào cải tạo vùng nội đồng TGLX và ngọt hóa vùng ven biển phía Tây

Nghiên cứu đã khái quát được động thái của lũ trên sông Mê Công, đưa ra được một

số biện pháp góp phần ổn định cuộc sống nhân dân và giảm thiệt hại trong mùa lũ vùng ĐBSCL, các biện pháp được đưa ra gồm có công trình và phi công trình Các biện pháp công trình gồm 4 cụm công trình kiểm soát lũ Cụm công trình thứ nhất dùng để kiểm soát lũ chảy tràn qua khu vực biên giới, hệ thống công trình ven biển

Trang 15

Tây, hệ thống kênh thoát lũ ra biển Tây, các công trình kiểm soát lũ từ sông Hậu vào vùng TGLX

Các giải pháp phi công trình gồm có thành lập bản đồ vùng ngập lụt tạo cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu phía sau Sau 3 mùa lũ thì các công trình kiểm soát lũ vùng TGLX

đã đạt được những hiệu quả nhất định Đập cao su Trà Sư, Tha La và đập tràn đã có những tác dụng rõ rệt trong việc kiểm soát lũ tháng 8, hạ mức lũ chính vụ xuống từ 20 – 25 cm, thời gian truyền lũ về phía hạ nguồn có xu hướng chậm hơn từ 1 - 3 ngày Các công trình kiểm soát lũ vùng TGLX đã bảo vệ được diện tích lúa Hè Thu trước cơn lũ sớm nhất trong lịch sử, trong khi các vùng khác bị tổn thất nặng nề Các công trình kiểm soát lũ đóng lại sớm sau mùa lũ vì vậy mà thời gian nước lũ trong nội đồng rút nhanh hơn, rút ngắn thời gian ngập lụt của vùng Nước ngọt mang phù sa từ sông Hậu vào sâu trong nội đồng tới những vùng mà từ trước đến giờ chỉ có nước phèn hoặc mặn, cung cấp nước ngọt cho vùng Kiên Lương, Hòn Đất, Kiên Giang Lần đầu tiên trong lịch sử cá Linh và Sếu đầu đỏ xuất hiện tại Kiên Giang

Nghiên cứu nhận dạng to n diện về lũ, dự báo, kiểm soát v thoát lũ phục vụ yêu cầu chung sống với lũ ở ĐBSCL – Tập bản đồ ngập lũ theo tần suất (Tô Văn Trường, 2005) Đây cũng là một nghiên cứu nổi bật về lũ tại ĐBSCL do phân viện

KSQHTL Nam Bộ làm chủ trì Với mục đính chính là xây dựng cơ sở dữ liệu không gian về lũ lụt tại ĐBSCL để đánh giá lũ tại đây qua đó phục vụ công tác quy hoạch chung cho toàn đồng bằng cũng như từng địa phương, thứ hai là xây dựng mối liên kết giữa kết quả tính toán thủy lực và hệ thống thông tin địa lý Nghiên cứu đã đạt được những thành quả hết sức quan trọng như xây dựng được bản đồ đường đẳng trị ngập lục qua từng năm lũ lớn tại ĐBSCL, đồng thời xây dựng được bản đồ tần suất ngập lục tại ĐBSCL tạo cơ sở thông tin dữ liệu cho các nghiên cứu sau này

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng hệ thống đê bao,

bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập ĐBSCL – Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của bao đê đến sự phát triển bền vững ĐBSCL (Trần Như Hối, 2005) Đây

là nghiên cứu cấp nhà nước, với mục tiêu đánh giá hiệu quả của hệ thống đê bao của ĐBSCL, thông qua sự so sánh giữa 3 khu vực không có đê bao, đê bao tháng 8, đê bao khép kín qua 3 giai đoạn trước khi có đê bao, đã có đê bao tháng 8, khi có đê bao khép kín hoàn toàn Từ đó chứng minh mặt tích cực và tiêu cực của từng loại đê bao Phương pháp PRA được sử dụng trong nghiên cứu này rất hiệu quả, nó giúp các nhà nghiên cứu thu thập một cách khách quan nhận định của người nông dân, nhà quản lý, nhà khoa học về ba hình thức đê bao nói trên

Trang 16

2.2 Cơ sở lý thuyết

2.2.1 Tổng quan về các trận lũ lớn ở ĐBSCL qua các năm

Nhìn chung ở ĐBSCL trước năm 2000 chu kỳ khoảng 4 năm thì có một trận lũ lớn xảy

ra Còn từ năm 2000 đến nay thì chu kỳ này không còn ổn định nữa, chẳng hạn trong năm 2000 và 2001 hai trận lũ lớn xuất hiện liên tục

a Lũ năm 1996

Đây là trận lũ khá đặc biệt, không những là trận lũ lớn thứ 3 xảy ra liên tục trong vòng

3 năm liền (năm 1991, 1994, 1996), mà còn có sự chuyển biến bất ngờ, phức tạp, xuất hiện khá muộn nhưng cường suất cao Do bị ảnh hưởng bởi mưa lớn vùng trung du và

hạ Lào nên mực nước vùng này dân cao, đạt đỉnh tại Pakse vào ngày 28/9 với mực nước đạt 13,01 m và đạt đỉnh tại Kratie vào ngày 29/9 với mực nước là 23,1 m Lũ năm này chỉ có một đỉnh tuy nhiên đỉnh lũ lại đến sớm hơn đỉnh lũ trung bình, đạt đỉnh

lũ cao nhất từ trước đến nay Đỉnh nhọn, tổng lượng 60 ngày là 225 tỷ m3 và tổng lượng 90 ngày max là 303 tỷ m3

Ở phía hạ nguồn lũ diễn biến lũ cũng rất phức tạp, đỉnh lũ đạt mức rất cao, thể hiện qua Hình 2.1

Hình 2.1: Mực nước lũ năm 1996 tại Tân Châu

(Nguồn: Đặng Ngọc Tịnh, 2011)

Tại Tân Châu, từ đầu tháng 8 mực nước luôn giữ ở mức 3,1 m đến 3,5 m, kể từ đó mực lũ lên ngày càng nhanh, đến ngày 01/10 thì tăng chậm lại từ 1 – 2 cm/ngày Mực nước lũ cao nhất tại Tân Châu là 4,97 m (ngày 07/10/1996) Thời gian duy trì mực

Trang 17

nước trên 4,5 m tại Tân Châu là 26 ngày Tại Châu Đốc, mực nước chịu ảnh hưởng bởi lượng nước từ thượng nguồn chảy về nên cũng tăng nhanh và đạt đỉnh 4,71 m

Kết quả đo đạt lượng nước tràn qua biên giới vào ĐBSCL lúc đỉnh lũ như sau trên sông Tiền (tại Tân Châu) 23.600 m3/s, sông Hậu (Châu Đốc) 8.150 m3/s

b Lũ năm 2000

Lũ năm 2000 là một trận lũ lớn trong lịch sử ĐBSCL Đây là trận lũ có hai đỉnh lũ, là dạng lũ ít gặp ở ĐBSCL, với khoảng thời gian cách nhau giữa hai đỉnh lũ là 51 ngày, lâu hơn những năm có lũ 2 đỉnh khác từ 10 ngày đến 20 ngày

Hình 2.2: Diễn biến mực nước lũ các năm 2000, 2001, 2002 tại Tân Châu

(Nguồn: http://ffw.mrcmekong.org)

Lũ tiểu mãn (hay còn gọi là lũ sớm) xuất hiện ngay từ đầu tháng 7, với đỉnh lũ tiểu mãn rơi vào ngày 02/08 đạt mực 4,2 m tại Tân Châu, mực nước lũ cao hơn mực nước cùng kỳ những năm lũ khác như lũ năm 1992, 1998 Sau đó mực nước lũ luôn được giữa ở mức cao với lưu lượng lớn gây ngập lục trên diện rộng trong thời gian dài Đỉnh lũ chính vụ xuất hiện vào ngày 23/9 với mực nước đo được trên sông Tiền tại Tân Châu là 5,06 m, trên báo động 3 (mức báo động 3 tại Tân Châu là 0,86 m, cao hơn đỉnh lũ 1996 đến 0,22 cm Qua Hình 2.2 cho thấy, đỉnh lũ tiểu mãn và chính vụ có xu hướng đến ngày càng sớm, lũ tiểu mãn đến sớm hơn trung bình 1 tháng và lũ chính vụ đến sớm hơn từ 7 – 10 ngày, chiều cao đỉnh lũ có xu hướng ngày càng cao

Do lũ năm 2000 là lũ lớn và kéo dài nên tổng lượng nước lũ là rất lớn đạt gần 420 tỷ

m3 nước trở thành năm có tổng lượng nước lũ lịch sử, trong khi trung bình các năm tổng lượng nước lũ chỉ dao động từ 144 tỷ m3 đến 320 tỷ m3

nước

c Lũ năm 2001

Trang 18

Sau năm 2000 thì năm 2001 ĐBSCL lại phải chịu ảnh hưởng của lũ lớn Trong lịch sử

lũ của ĐBSCL cũng có nhiều trường hợp lũ lớn xảy ra cách nhau 1 năm đến 2 năm liên tiếp, nhưng lũ lớn ở mức như 2 năm 2000 và 2001 thì không nhiều, trong đó chỉ

có hai năm 1939 và năm 1940 đều với 4,89 m là có thể so sánh với 2 năm 2000 và

2001 Như vậy đứng về số xuất hiện 2 năm lũ lớn liên tiếp trên mức 4,5 m tại Tân Châu, thì sự kiện lũ 2 năm 2000 và 2001 được xuất hiện ở tần suất khoảng 8%, nhưng nếu xét về độ lớn của cả 2 năm thì có trị số cao hơn cả Đây là năm đặc biệt nhất trong tài liệu gần 80 năm ở Tân Châu

Tuy không xuất hiện sớm và lớn bằng lũ 2000, song lũ 2001 cũng là năm lũ xuất hiện sớm và lớn so với trung bình, diện tích ngập lớn (Hình 2.3) Do ngay từ đầu tháng 7, lượng mưa ở thượng nguồn sông Mê Công xuất hiện sớm và lớn, nên mực nước trên sông Tiền và sông Hậu lên khá nhanh, cao hơn nhiều so với trung bình nhiều năm (50 – 70 cm) Mực nước ngày 10/7 tại Tân Châu là 2,79 m và Châu Đốc 2,24 m, tương đương với mực nước năm 2000 cùng kỳ Tuy nhiên, từ giữa đến cuối tháng 7, mực nước sông Tiền và sông Hậu lên rất chậm, cường suất chỉ 2 – 3 cm/ ngày, khác hẳn với mùa lũ năm 2000

Hình 2.3: Vùng ngập lũ trong năm 2001

(Nguồn: www.dartmouth.edu)

Nửa đầu tháng 8, mực nước lũ vẫn lên với cường suất chậm, mỗi ngày 3 cm đến 4 cm, đến ngày 15/8 thì mực nước tại Tân Châu là 3,43 m, Châu Đốc là 2,93 m Do ảnh

Trang 19

hưởng bởi ấp thấp nhiệt đới và mưa ở trung và hạ Lào, từ giữa tháng 8 trở đi nước lên nhanh, mỗi ngày lên từ 0,12 m đến 0,15 cm Lũ đạt đỉnh thứ nhất tại Tân Châu vào ngày 4 - 5/9 với mức 4,69 m và tại Châu Đốc vào ngày 5 – 6/9 với 4,44 m, đều cao hơn mức báo động 3 và đỉnh lũ chính ở mực nước 4,75 m tại Tân Châu vào ngày 20/9

và 4,47 m tại Châu Đốc vào ngày 21 – 22/9 Một điều đáng quan tâm là do đỉnh lũ rơi vào những ngày triều kém nên sau 1 ngày giảm nhẹ (2 cm) Như vậy, lũ 2001 có dạng

lũ 2 đỉnh, hai đỉnh cách nhau 15 – 16 ngày, đây là dạng lũ hiếm gặp ở ĐBSCL do 2 đỉnh rất gần nhau, hơn kém nhau chỉ 6 cm tại Tân Châu và 3 cm tại Châu Đốc, đỉnh chính xuất hiện sớm hơn trung bình 7 ngày đến 10 ngày Thời gian duy trì mực nước trên báo động 3 tại Tân Châu là 61 ngày và tại Châu Đốc là 58 ngày Thời gian duy trì mực nước trên 4,5 m tại Tân Châu là 46 ngày và tại Châu Đốc trên mực nước 4,2 m là

45 ngày Sau đỉnh lũ, mực nước cao được duy trì cho đến giữa tháng 10 Ở vùng ảnh hưởng của triều trung bình, do các đỉnh triều cũng đồng thời là đỉnh mực nước nên suốt trận lũ xuất hiện 7 – 8 đỉnh phụ theo các chu kỳ triều Tuy nhiên, mực nước cũng đạt trị số cao nhất vào khoảng thời gian đỉnh lũ thứ 2 và thứ 3 Ở vùng bị ảnh hưởng triều mạnh, do năm 2001 là năm có thủy triều rất cao, được đánh giá là khoảng 50 năm một lần, nên mực nước tại Cần Thơ, đạt đỉnh vào ngày 18/10 với đỉnh lũ đạt 1,98 m và tại Mỹ Thuận, mực nước cũng đạt đỉnh vào ngày 18/10 với đỉnh lũ đạt 1,84 m

Tại vùng ĐTM tuy mực nước cũng hình thành hai đỉnh lũ, tuy nhiên không còn rõ rệt, nhất là ở vùng hạ lưu Còn ở vùng TGLX do hoạt động hiệu quả của các công trình kiểm soát lũ mà đỉnh thứ nhất chỉ xuất hiện ngoài sông chính mà không thấy xuất hiện bên trong nội đồng Tại Tri Tôn, đỉnh lũ xuất hiện ngày 2 -3/10, chậm hơn Châu Đốc

10 – 11 ngày Tại Tân Hiệp, do ảnh hưởng triều Biển Tây nên xuất hiện một đỉnh cao

do lũ kết hợp với thủy triều vào ngày 09/10, sau Châu Đốc 19 ngày Những điều này cho thấy những hiệu quả mà công trình kiểm soát lũ mang lại

d Lũ năm 2002

Lũ năm 2002 có những diễn biến hết sức phức tạp, theo các nhà khoa hoc thì năm

2002 khả năng để lũ lớn xảy ra là rất hiếm Do theo dự đoán thì năm 2002 nằm vào năm bị ảnh hưởng bởi hiện tượng EINino, giống như năm 1997 và năm 1998, nghĩa là khả năng hạn hán cao hơn lũ lụt Tuy nhiên sau 10 ngày đầu tháng 7, do mưa lớn ở thượng nguồn , mực nước lên nhanh trong vài ba ngày và đạt xấp xỉ lũ 2001 vào ngày 10/10, tiếp tục lên cao hơn lũ 2001 và sau đó chựng lại để bám theo quá trình lũ 2001

để đạt đỉnh phụ thứ nhất vào ngày 30/8, xấp xỉ mực nước cùng ngày năm 2001 với 4,6

m Đến lúc này, trong khi lũ 2001 tiếp tục lên đạt đỉnh phụ vào ngày 04/9 với mức nước đạt 4,82 m, cao hơn đỉnh lũ 2001 là 4 cm và cách đỉnh phụ thứ nhất 32 ngày Từ đây, mực nước giảm dần với cường suất 0,03 – 0,04 cm/ngày

Trang 20

Hình 2.4: Vùng ngập lũ trong năm 2002

(Nguồn: www.dartmouth.edu)

Qua Hình 2.3 và Hình 2.4 cho thấy, diện tích ngập lũ của năm 2001 và năm 2002 gần như bằng nhau, diễn biến lũ trong nội đồng năm 2002 và 2001 khá giống nhau, với một thời kỳ lên chậm vào tháng 8, lên nhanh và đạt đỉnh vào tháng 8 Đỉnh lũ năm

2002 xuất hiện muộn hơn đỉnh lũ năm 2000 và 2001 chừng 15 ngày Trong năm 2002,

do Kiên Giang làm Hè Thu muộn hơn An Giang nên mãi đến đầu tháng 9 (ngày 5) cả hai đập Trà Sư, Tha La mới mở tháo nước vào đồng Điểm đặc biệt là nhờ vào hệ thống kiểm soát lũ mà mực nước trong đồng được kiểm soát khá tốt

Trang 21

e Lũ năm 2011

Lũ trong năm 2011 dâng cao và đạt đỉnh với mực nước lớn, thể hiện qua Hình 2.5

Hình 2.5: Mực nước lũ năm 2011 tại Tân Châu

(Nguồn: Đặng Ngọc Tịnh, 2011)

Lũ chính vụ đạt đỉnh là 4,86 m vào này 27/9 và giữ mực nước cao trên 4,5 m trong vòng gần 1 tháng Mực nước trên sông Hậu tại trạm Châu Đốc đạt đỉnh lũ vào ngày 8/10 với mực nước đạt 4,24 – 4,27 m và giữ mực nước trên 4 m đến ngày 30/10 Tại trạm Tân châu, đỉnh lũ năm 2011 thấp hơn đỉnh lũ năm 2000 là 0,2 m; tuy thiệt hại trong năm 2011 là khá nặng nề hơn năm 2000 do nhiều diện tích lúa mới vừa chuyển lên sản xuất vụ 3 nên năm 2011 có nhiều diện tích lúa vụ 3 tại An Giang bị vỡ đê

2.2.2 Phân cấp lũ

Dựa vào mực nước năm 1987 tại trạm quan trắc Tân Châu, tỉnh An Giang lũ ĐBSCL được tổng cục KTTV Việt Nam phân ra thành các cấp lũ như sau lũ nhỏ khi đỉnh lũ tại trạm Tân Châu đạt dưới 4 m, lũ trung bình khi đỉnh lũ tại trạm Tân Châu đạt từ 4 m đến 4,5 m, lũ lớn khi đỉnh lũ tại trạm Tân Châu đạt trên 4,5 m Ngoài ra lũ còn được phân thành các cấp báo động tại các trạm địa phương như trạm Châu Đốc, trạm Tân Châu, thể hiện qua Bảng 2.1

Trang 22

Bảng 2.1: Phân cấp lũ theo mực nước tại Tân Châu v Châu Đốc, An Giang

Tân Châu (Sông Tiền)

Châu Đốc (Sông Hậu)

a Quá trình hình th nh đê bao ở An Giang

Đê bao ở Việt Nam hình thành từ thời phong kiến đến nay, được xây dựng ven các hệ thống sông lớn có chế độ thủy chiều phức tạp, chủ yếu là ven các hệ thống sông lớn phía Bắc như ven sông Hồng, sông Thái Bình các đê bao này chủ yếu là bảo vệ mùa màng và dân cư sống ven sông khi thủy triều lên Kênh cũng hình thành từ rất lâu,

từ việc đào đất lấy làm đê bao thì kênh cũng hình thành theo, kênh có nhiệm vụ dẫn nước từ sông cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp

Ở Miền Nam, kênh và đê bao có từ những phong kiến, như kênh Vĩnh Tế được khởi đào vào 1820 dưới thời tướng Nguyễn Văn Nhơn mãi đến năm 1832 mới được hoàn thành, giúp cho giao thông thủy được tiện lợi hơn, cải thiện chế độ thủy văn cho nông nghiệp Trong khoản thời gian này đê bao cũng được hoàn thành Qua tấm bia “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương Lý” cho biết đê Châu Đốc núi Sam được xây dựng vào 1827 dài 5000 m, đê giúp ngăn dòng lũ từ Campuchia đổ vào vùng TGLX

Qua nhiều năm nhân dân tích lũy nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực sống chung với lũ

và xây dựng đê bao chống lũ kết hợp với giao thông nông thôn, từ đó đê bao hình thành dần Năm 1995 đã có 57 vùng đã có đê bao tháng tám với diện tích là 64.805 ha Đến năm 1996, thực hiện theo chủ trương của tỉnh, An Giang đã xây dựng quy hoạch thủy lợi và phương án phòng chống lũ với mục đích bảo toàn tính mạng và tài sản của nhân dân trong vùng chịu ảnh hưởng của lũ, góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng

Trang 23

cuộc sống trong vùng Kết quả đến năm 2003, An Giang đã có gần 200.000 ha đất sản xuất nông nghiệp được bao đê trong đó có 72.391 ha được bao đê triệt để và 133.029

ha có đê bao tháng 8 (CCTL An Giang, 2011)

b Đê bao

Phân loại đê bao

Do vị trí của ĐBSCL vùa giáp biển vừa nằm ở hạ nguồn sông Mê Công nên hình thức các công trình thủy lợi rất phong phú Có loại dùng để ngăn mặn từ biển xâm nhập vào đất liền vừa ngăn lũ từ thượng nguồn chảy tràn vào Việt Nam Khi đề cập đến vấn đề

đê bao, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì đê bao được phân loại như Bảng 2.2

Bảng 2.2: Phân loại đê theo nhiệm vụ

Đê sông Ngăn nước lũ của sông

Đê cửa sông Chuyển tiếp giữa đê sông với đê biển hoặc bờ biển

Đê bao Bảo vệ một khu vực riêng biệt

Đê bối Bảo vệ cho một khu vực nằm ở phía sông của đê sông

Đê chuyên dùng Bảo vệ cho một loại đối tượng riêng biệt

(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010)

An Giang có hai loại hình đê bao chính là đê bao tháng 8 và đê bao khép kín Mỗi loại hình có cơ cấu và nhiệm vụ riệng Đê bao tháng 8 với bờ bao cao và lớn, có thể bảo đảm vụ Hè Thu không bị ngập và có thể ngăn nước xuống giống sớm trong vụ Đông Xuân, sau khi thu hoạch lúa Hè Thu vào khoảng tháng 8 nước lũ sẽ chảy tràn vào đồng ruộng, thể hiện qua Hình 2.6

Trang 24

Hình 2.6: Đê bao tháng 8

Đứng trên quan điểm khoa học, có nhiều nhà khoa học ủng hộ đê bao tháng tám hơn

đê bao khép kín do đê bao tháng tám rất thích hợp cho phát triển bền vững, thể hiện qua các lợi ích mà nó mang lại như:

- Đê bao tháng 8 giúp đảm bảo an toàn cho vụ Hè Thu và giúp xuống giống sớm

vụ Đông Xuân Với vùng đê bao 8 thì vụ Hè Thu thường thu hoạch vào cuối tháng 7 đến đầu tháng 8, do chiều cao mực nước trong giai đoạn này chưa cao nên đê bao tháng 8 có thể giữ an toàn cho nông dân thu hoạch lúa Hè Thu Vụ Đông Xuân thường được bắt đầu vào cuối tháng 11 khi mực nước lũ rút, nông dân lợi dụng đê bao để bơm nước ra khỏi đồng và tiến hành xạ sớm (Trần Như Hối, 2005)

- Khi so sánh giữa vùng không đê, đê bao tháng 8 và đê bao khép kín thì đê bao tháng tám là một môi trường rất thích hợp để nuôi trồng thủy sản trong mùa lũ so với hai hình thức còn lại (Hình 2.7) Do nguồn nước luôn được thay đổi nên môi trường nước trong khu vực đê bao tháng 8 luôn trong sạch giảm khả năng dịch bệnh và cung cấp một lượng thức ăn tự nhiên cho loài thủy sản trong khu vực nuôi Với bờ bao cao từ 2,5 – 3 m là một rào chắn sóng hiệu quả bảo vệ an toàn cho khu vực nuôi, giảm hao hục Chính vì vậy đê bao tháng tám là môi trường nuôi trồng thủy sản thuận lợi nhất trong mùa lũ so với hai hình thức đê bao còn lại

Trang 25

Hình 2.7: Nuôi tôm c ng xanh trong mùa lũ ở An Giang

Dựa vào một số tiêu chí chính yếu như: tầm quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh

tế - xã hội, diện tích bảo vệ khỏi ngập lụt, số dân được bảo vệ, lưu lượng lũ thiết kế, độ ngập sâu trung bình các khu dân cư so với mực nước lũ thiết kế Từ đó tiến hành phân

cấp đê: cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV, cấp V (Luật đê điều, 2007) Tuy nhiên khi phân

Trang 26

loại đê, có thể tăng hoặc giảm cấp đê cho phù hợp góp phần tăng hiệu quả quản lý dựa vào mức độ tính chất quan trọng của con đê

a Kênh

Kênh là một loại công trình thủy lợi có nhiệm vụ dẫn nước để tạo nguồn nước tưới, tiêu, tháo chua, rửa phèn phục vụ sản xuất, dân sinh và giao thông thủy Theo Quyết

định số 55/2010/QĐ-UBND An Giang thì kênh được chia thành nhiều loại dựa vào các

yếu tố như kích thước dòng dẫn, khả năng cấp nước, tiêu úng, vị trí, nhiệm vụ của từng

Trang 27

Bảng 2.3

Trang 28

Bảng 2.3: Phân loại kênh

lấy từ sông, rạch hoặc có thể từ nguồn khác

có năng lực phục vụ trên 5.000 ha và qui

mô bề rộng mặt kênh trên 30 mét

lấy từ sông, rạch, kênh cấp 1 hoặc có thể từ nguồn khác, có năng lực phục vụ từ 500 ha đến 5.000 ha và qui mô bề rộng mặt kênh từ

20 mét đến 30 mét

Kênh cấp 2 lớn Là công trình kênh cấp 2 không đạt tiêu chí

của kênh cấp 1 nhưng có một số tiêu chí lớn hơn kênh cấp 2

lấy từ kênh cấp 2 hoặc có thể từ nguồn khác, có năng lực phục vụ từ 100 ha đến

500 ha và qui mô bề rộng mặt kênh từ 6 mét đến 20 mét.

tiểu vùng đê bao.

Kênh ranh (tỉnh, huyện, xã) Là công trình kênh giáp ranh giữa 02

đơn vị (tỉnh, huyện, xã).

Kênh liên đơn vị (huyện, xã) Là công trình kênh liên thông với nhau,

đi qua địa giới hành chính từ hai đơn vị (huyện, xã) trở lên.

(Nguồn: Quyết định số 55/2010/QĐ-UBND An Giang)

Trang 29

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp nghiên cứu

Hình 3.1: Quá trình thực hiện đề t i

Xác định vấn đề cần nghiên cứu

Khảo sát thực địa

Thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập số liệu sơ

cấp

Xử lý

số liệu

Xác định mục tiêu nghiên cứu

Lược khảo tài liệu

Đánh giá kết quả nghiên cứu

Báo cáo đề tài nghiên cứu

Số liệu thu thập: Hiện trạng thủy lợi, khí tượng thủy văn, thiệt hại của lũ qua các năm

Nguồn cung cấp: Chi cục Thủy lợi An Giang, Phòng Nông nghiệp Châu Phú

Chọn vùng nghiên cứu

PRA Phỏng vấn cán bộ tại các sở, ban ngành

Sử dụng phần mềm MapInfo biên tập lại bản đồ hiện trạng thủy lợi

Trang 30

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Hệ thống đê bao của huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; Trong đó, đối tượng khảo sát chính là đê bao tháng 8 và đê bao khép kín

3.3 Thời gian v địa điểm nghiên cứu

3.3.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ 1/2012 – 5/2012

3.3.2 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu

Ngày đăng: 23/11/2015, 08:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Lưu vực sông Mê Công - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 1.1 Lưu vực sông Mê Công (Trang 11)
Hình 2.3: Vùng ngập lũ trong năm 2001 - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 2.3 Vùng ngập lũ trong năm 2001 (Trang 18)
Hình 2.4: Vùng ngập lũ trong năm 2002 - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 2.4 Vùng ngập lũ trong năm 2002 (Trang 20)
Hình 2.6: Đê bao tháng 8 - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 2.6 Đê bao tháng 8 (Trang 24)
Hình 2.7: Nuôi tôm c ng xanh trong mùa lũ ở An Giang - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 2.7 Nuôi tôm c ng xanh trong mùa lũ ở An Giang (Trang 25)
Hình 3.4: Lƣợng mƣa trung bình theo tháng từ năm 2002 – 2007 tại Châu Đốc - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 3.4 Lƣợng mƣa trung bình theo tháng từ năm 2002 – 2007 tại Châu Đốc (Trang 32)
Hình 4.1: Đê bao khép kín năm 2000 - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 4.1 Đê bao khép kín năm 2000 (Trang 37)
Hình 4.2: Hiện trạng hệ thống thủy lợi huyện Châu Phú năm 2011 - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 4.2 Hiện trạng hệ thống thủy lợi huyện Châu Phú năm 2011 (Trang 38)
Hình 4.3: Hiện trạng cống trạm bơm huyện Châu Phú năm 2011 - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 4.3 Hiện trạng cống trạm bơm huyện Châu Phú năm 2011 (Trang 39)
Hình 4.4: Lịch thời vụ lệch giữa hai vùng đê bao - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 4.4 Lịch thời vụ lệch giữa hai vùng đê bao (Trang 40)
Hình 4.6: Quy hoạch hệ thống thủy lợi huyện Châu Phú đến năm 2015 - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 4.6 Quy hoạch hệ thống thủy lợi huyện Châu Phú đến năm 2015 (Trang 42)
Hình 4.8: Thực trạng đoạn đê bị vỡ đƣợc gia cố  4.2  Động thái của lũ trên sông Hậu trong năm 2000 và 2011 - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 4.8 Thực trạng đoạn đê bị vỡ đƣợc gia cố 4.2 Động thái của lũ trên sông Hậu trong năm 2000 và 2011 (Trang 44)
Hình 4.10: Mực nước năm 2000 và 2011 tại trạm Châu Đốc và Long Xuyên - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 4.10 Mực nước năm 2000 và 2011 tại trạm Châu Đốc và Long Xuyên (Trang 45)
Hình 4.12: Mực nước năm 2000 v  2011 tại trạm Pakse v  Cần Thơ - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 4.12 Mực nước năm 2000 v 2011 tại trạm Pakse v Cần Thơ (Trang 47)
Hình 4.13: Mực nước tại Rạch Giá, Long Xuyên trong năm 2000 v  2011 - khảo sát hiện trạng và đánh giá hiệu quả hệ thống đê bao tại huyện châu phú, an giang
Hình 4.13 Mực nước tại Rạch Giá, Long Xuyên trong năm 2000 v 2011 (Trang 48)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w