Rừng không những tạo ra các sản phẩm lâm sản hàng hóa và dịch vụ đóng góp cho nền kinh tế quốc dân; mà còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường như phòng hộ đầu nguồn, giữ đất,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
THẠCH ĐE
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ RỪNG Ở TRUNG TÂM HÒA AN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Cần Thơ, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
THẠCH ĐE
3083915
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ RỪNG Ở TRUNG TÂM HÒA AN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN THS TRẦN THỊ KIM HỒNG
Cần Thơ, 2012
Trang 3LỜI CẢM TẠ - -
Trong quá trình làm luận văn, tôi đã nhận được sự động viên và khích lệ của gia đình, nhất là sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy Cô và Bạn bè để cho tôi hoàn thành tốt
Thầy Ngô Thanh Bình, Chánh văn phòng Khoa Phát triển Nông thôn, Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ, chỉ dẫn và cung cấp rất nhiều thông tin
bổ ích cho em trong suốt quá trình em thực hiện đề tài
Chân thành cảm ơn:
Tất cả các Giảng viên của Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên nói riêng, Trường Đại học Cần thơ nói chung đã giảng dạy em trong suốt quá trình học tập tại trường
Các Bạn lớp Quản lý Môi trường Khóa 34, đã đóng góp một phần công sức
để giúp đỡ tôi hoàn thành tốt Luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, xin chúc tất cả quý Thầy, Cô, các Bạn trong Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên luôn thành công trong cuộc sống
Thạch Đe
Trang 4MỤC LỤC
- -
Trang LỜI CẢM TẠ i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 MỤC TIÊU CHUNG 2
1.2.2 MỤC TIÊU CỤ THỂ 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 TỔNG QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ NGÀNH LÂM NGHIỆP 3
2.1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 3
2.1.2 ĐẶC TÍNH CÂY TRÀM 5
2.1.3 HIỆN TRẠNG 5
2.1.4 DIỄN BIẾN RỪNG Ở VIỆT NAM 14
2.1.5 PHÂN LOẠI RỪNG 18
2.1.6 ĐẶC TRƯNG CỦA RỪNG 22
2.1.7 CẤU TRÚC RỪNG 22
2.1.8 TẦM QUAN TRỌNG CỦA RỪNG 24
2.1.9 CÁC LỢI ÍCH CỦA NGÀNH LÂM NGHIỆP 27
2.1.10 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH LÂM NGHIỆP 32
2.2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỪNG 34
2.2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ RỪNG 35
2.2.2 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 35
2.2.3 CÁC BAN HÀNH CỦA CHÍNH PHỦ VỀ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC BẢO VỆ RỪNG HIỆN NAY 45
Trang 5CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 47
3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 47
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
3.3.1 KHẢO SÁT CỘNG ĐỒNG 47
3.3.2 ĐIỀU TRA THỰC ĐỊA 47
3.3.3 XỬ LÝ SỐ LIỆU 49
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 51
4.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TRUNG TÂM HÒA AN 51
4.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ 51
4.1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH 52
4.1.3 CƠ CẤU TỔ CHỨC 53
4.1.4 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ MỤC TIÊU CHÍNH CỦA KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 55
4.1.5 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 55
4.1.6 CÔNG TÁC HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG 55
4.1.7 PHÂN KHU CHỨC NĂNG 56
4.2 KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG RỪNG Ở TRUNG TÂM HÒA AN 58
4.2.1 DIỆN TÍCH 58
4.2.2 ĐA DẠNG SINH HỌC 58
4.2.3 KẾT QUẢ ĐO ĐẾM Ô TIÊU CHUẨN 60
4.3 KHẢO SÁT CỘNG ĐỒNG 65
4.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG 67
4.4.1 CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỪNG Ở TRUNG TÂM HÒA AN 67
4.4.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG Ở TRUNG TÂM HÒA AN 70 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
5.1 KẾT LUẬN 73
5.2 KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1 1
PHỤ LỤC 2 3
Trang 6PHỤ LỤC 3 4
PHỤ LỤC 4 5
PHỤ LỤC 5 6
PHỤ LỤC 6 7
PHỤ LỤC 7 8
PHỤ LỤC 8 9
PHỤ LỤC 9 11
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
- -
Trang Bảng 2.1: Tổng diện tích đất có rừng và độ che phủ rừng phân theo Tỉnh, Thành phố, tính đến ngày 31/12/2010 9
Bảng 2.2: Diện tích đất có rừng toàn quốc phân theo loại rừng tính đến ngày 31/12/2010 11
Bảng 2.3: Diện tích rừng năm 1945 14
Bảng 2.4: Diện tích rừng bị rải chất độc hóa học 14
Bảng 2.5: Số liệu biến động tài nguyên rừng Việt Nam qua các giai đoạn 17
Bảng 2.6: Phân cấp độ tuổi rừng 24
Bảng 4.1: Kết quả đo GPS của 3 lô 61
Bảng 4.2: Kết quả tính toán ô tiêu chuẩn của 3 lô 61
Bảng 4.3: Kết quả thông tin chung 65
Bảng 4.4: Kết quả thông tin về công tác quản lý rừng ở Trung tâm Hòa An 66
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
- -
Trang Hình 2.1: Tình trạng phá rừng trên toàn cầu vẫn ở mức báo động Ảnh minh họa 7
Hình 2.2: Tổng diện tích đất có rừng phân theo vùng năm 2010 10
Hình 2.3: Diện tích rừng phân theo loại rừng năm 2010 11
Hình 2.4: Tỉ lệ rừng trồng với rừng tự nhiên năm 2010 12
Hình 2.5: Biến động tài nguyên rừng Việt Nam qua các giai đoạn 17
Hình 2.6: Củi vẫn còn là một nguồn thu nhập của người dân vùng cao 30
Hình 3.1: Các vị trí đo đường kính (D1,3) thân cây 48
Hình 3.2: Đo chiều cao cây bằng thước cây thẳng có khắc vạch 49
Hình 4.1: Cổng vàoTrung tâm Hòa An 51
Hình 4.2: Vị trí Trung tâm Hòa An 51
Hình 4.3: Sơ đồ quy hoạch Trung tâm Hòa An 57
Hình 4.4: Sơ đồ thể hiện diện tích rừng ở Trung tâm Hòa An 58
Hình 4.5: Hệ thực vật ở Trung tâm Hòa An 59
Hình 4.6: Vị trí đo đếm ô tiêu chuẩn (lô 1, lô 2, lô 3) 60
Hình 4.7: Mật độ cây tràm tại Trung tâm Hòa An 62
Hình 4.8: Chiều cao trung bình cây tràm tại Trung tâm Hòa An 62
Hình 4.9: Đường kính trung bình cây tràm tại Trung tâm Hòa An 63
Hình 4.10: Tiết diện ngang thân cây tràm tại Trung tâm Hòa An 63
Hình 4.11: Trữ lượng cây tràm tại Trung tâm Hòa An 64
Hình 4.12: Tỉ lệ phẩm chất cây tràm của 3 lô ở Trung tâm Hòa An 64
Hình 4.13: Phẩm chất cây tràm tại Trung tâm Hòa An 65
Hình 4.14: Mức độ quan tâm đến việc quản lý rừng của người dân 66
Hình 4.15: Đối tượng tham gia quản lý rừng 67
Hình 4.16: Người dân tham gia dọn vệ sinh khu rừng tràm 68
Hình 4.17: Khai thác tràm tại Trung tâm 69
Hình 4.18: Hệ thống PCCC 69
Hình 4.19: Áp phích tuyên truyền ở Trung tâm Hoà An 70
Trang 9DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
- - Tiếng Việt
CCR Chứng chỉ rừng
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CNQSDĐ Chứng nhận quyền sử dụng đất
ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long
KHLN Khoa học lâm nghiệp
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PTNT Phát triển Nông thôn
QLRBV Quản lý rừng bền vững
QLRBV Quản lý rừng bền vững
UBTVQH Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội
TTHA Trung tâm Hòa An
Tiếng Anh
CITES Convention on International Trade in Endangered Species of wild
fauna and flora – Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
CoC Chain of Costudy – Tiêu chuẩn về chuỗi hành trình sản xuất FAO Food and Agriculture Organization – Tổ Chức Lương Nông Liên
Hiệp Quốc
FSC Forest Stewardship Council – Hội đồng quản trị rừng quốc tế GDP Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm Quốc nội
GTF Global Tiger Forum – Diễn đàn Hổ toàn cầu
IUCN The International Union for Conservation of Nature – Liên minh
quốc tế bảo vệ thiên nhiên
IUFRO International Union of Forest Research Organizations – Liên
minh quốc tế các tổ chức nghiên cứu rừng
ODA Official Development Assistance – Hỗ trợ phát triển chính thức WWF World Wide Fund for Nature – Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên
nhiên
Trang 10CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước Năm 2010, độ che phủ rừng của Việt Nam là 39,5% diện tích toàn quốc Là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, lâm nghiệp có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và nông thôn và phát triển kinh tế - xã hội Rừng không những tạo ra các sản phẩm lâm sản hàng hóa và dịch vụ đóng góp cho nền kinh tế quốc dân; mà còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường như phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa khí hậu, chống sa mạc hóa , góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, đặc biệt đối với bảo vệ biên giới hải đảo; góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống, xóa đói, giảm nghèo cho người dân nông thôn và miền núi…
Theo Báo cáo Ngành Lâm nghiệp 2005, ngành lâm nghiệp đóng góp khoảng 1% cho Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tuy nhiên, theo ý kiến của một số nhà khoa học, nếu tính cả giá trị kinh tế và giá trị môi trường thì đóng góp thực tế của ngành lâm nghiệp vào GDP sẽ là khoảng 3-4% Trong những năm gần đây diện tích rừng đã không ngừng tăng trở lại (năm 2010 có độ che phủ rừng 39,5%, trong khi đầu những năm 90 chỉ còn khoảng 27-28%), giá trị xuất khẩu của ngành lâm nghiệp đã tăng
nhanh đáng kể, đạt khoảng 1,5 tỷ USD vào năm 2005
Trong những thập niên 40-80, do nhiều nguyên nhân khác nhau, diện tích rừng ở Việt Nam bị suy giảm nhanh chóng Cùng với sự mất diện tích rừng tự nhiên, môi trường sống của các loài động, thực vật rừng cũng biến mất hoặc bị thoái hóa nghiêm trọng Đây là nguyên nhân chính làm cho nhiều loài sinh vật rừng có nguy cơ bị tuyệt chủng, đa dạng sinh học bị suy giảm và đặc biệt là các hậu quả về điều kiện tự nhiên như lũ lụt, hạn hán, sạt lở đất…
Trong suốt mấy thập kỷ qua, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực không ngừng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng, đất rừng và của ngành lâm nghiệp nói chung Vào những năm 90, Chính phủ đã có những biện pháp mạnh mẽ để hạn chế tỷ lệ mất rừng, tăng độ che phủ rừng thông qua việc thực hiện các chương trình, đề án về bảo vệ và phát triển rừng, như: Chương trình 327 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng cho giai đoạn 1998-2010 Cùng với mục đích này, Quốc hội Việt Nam đã sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020
Một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực quản lý của ngành đó là cải thiện hệ thống thông tin và số liệu sao cho có hệ thống, cập nhật và có độ chính xác cao Qua đó giúp cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách lập quy hoạch, kế hoạch khả thi hơn và xây dựng chính sách tốt hơn
Thực tế cho thấy, mặc dù con người đã có nhiều biện pháp quản lý nhưng vẫn không thể bảo vệ được diện tích rừng vốn có của nhân loại, nhất là các khu rừng tự nhiên Một trong những biện pháp quan trọng hiện nay được cả cộng đồng quốc tế cũng như từng quốc gia đặc biệt quan tâm, đó là “Quản lý rừng bền vững” Việt Nam cũng đã và đang thực hiện biện pháp này bước đầu khá thành công Trong quá trình phát triển lâm nghiệp, quan niệm quản lý rừng bền vững ở Việt Nam mới được hình thành từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 Từ đó đến nay, vấn đề quản lý rừng bền vững luôn là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam
Trang 11Nhưng lại có hàng loạt câu hỏi đang đặt ra, như: Phương thức trong quản lý rừng bền vững như thế nào cho phù hợp nhất? Có nên áp dụng phương thức này cho tất cả các loại rừng hay không? Những vấn đề nảy sinh trong quá trình quản lý rừng bền vững là gì? Khuôn khổ pháp lý nhằm quản lý rừng theo biện pháp này cần được xác lập như thế nào?
Khảo sát hiện trạng rừng là công tác mở đường trong việc quản lý rừng để xây dựng và phát triển ngành lâm nghiệp Mục tiêu chủ yếu của khảo sát hiện trạng rừng là
để đánh giá tài nguyên rừng, điều tra nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, biến động của diện tích và trữ lượng rừng Ngoài ra, cung cấp cơ sở dữ liệu để xây dựng phương án quy hoạch phát triển rừng
Xuất phát từ yêu cầu trên, đề tài “Khảo sát hiện trạng và đề xuất giải pháp quản
lý rừng ở Trung tâm Hòa An” góp phần làm rõ hiện trạng, giải pháp quản lý, tiềm
năng, xu thế và những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển và quản lý rừng ở Trung tâm Hòa An, phù hợp với nhu cầu kinh tế, xã hội và những cấp bách trong việc quản lý tài nguyên rừng như hiện nay
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề xuất giải pháp quản lý rừng tại Trung tâm Hòa An, để phát triển thêm rừng cả
về số lượng và chất lượng phù hợp với nhu cầu phát triển rừng hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ NGÀNH LÂM NGHIỆP 2.1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
a) Rừng
Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt nam có nhiều định nghĩa khác nhau
về rừng nhưng đều dễ thống nhất rừng là một hệ sinh thái với những đặc trưng chủ yếu: Rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong hệ thống đó; Rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài
và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng; Rừng có khả năng
tự phục hồi và trao đổi cao; Rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác; Sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng Tuy vậy cần có một định nghĩa thống nhất và thực tế về rừng và ngành lâm nghiệp Việt nam
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 có đưa ra định nghĩa về rừng như sau:
“Rừng là một hệ sinh thái gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.” Tuy nhiên, định nghĩa này khó sử dụng vì nó không đưa ra các tiêu chí rõ ràng về rừng, chiều cao của cây rừng ở mức tối thiểu là 2-5 m Hơn nữa, với việc xác định diện tích đất có độ che phủ rừng từ 10% trở lên được coi là rừng thì các diện tích đất trống đồi núi trọc cây trồng phân tán hoặc không có rừng có thể được gọi là rừng Với cách phân loại như vậy thì sẽ rất khó quản lý và bảo vệ rừng
Tiêu chuẩn quốc tế không yêu cầu các quốc gia phải sử dụng các tiêu chí xác định rừng mở mức thấp nhất về độ che phủ rừng 10% và chiều cao cây rừng từ 2 m trở lên mà mỗi nước có thể áp dụng các tiêu chí phù hợp nhất với quốc gia đó Do vậy, Việt Nam đưa ra định nghĩa về rừng – là diện tích có độ che phủ rừng tối thiểu 30% và chiều cao cây rừng thấp nhất 5 m là phù hợp với đại đa số diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt của Việt Nam Định nghĩa này đã được Viện Điều tra Quy hoạch rừng sử dụng trước đây khi tiến hành đánh giá tài nguyên rừng
b) Ngành Lâm nghiệp
Theo định nghĩa của FAO được quốc tế công nhận như sau: “Lâm nghiệp là một ngành kinh tế, gồm các hoạt động kinh tế chính liên quan đến sản xuất hàng hoá từ gỗ (gỗ tròn phục vụ công nghiệp, gỗ trụ mỏ, gỗ xẻ, gỗ ván, bột giấy, giấy và đồ gỗ nội thất), sản xuất các sản phẩm phi gỗ và dịch vụ liên quan đến rừng”
Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 vận dụng định nghĩa này trong điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam như sau: “Lâm nghiệp là một ngành kỹ thuật đặc thù, gồm toàn bộ các hoạt động liên quan đến sản xuất hàng hoá và
Trang 13dịch vụ từ rừng như trồng rừng/trồng lại rừng, khai thác, vận chuyển, sản xuất và chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường liên quan đến rừng Ngành lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xoá đói giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, đồng thời góp phần làm ổn định xã hội
và bảo vệ an ninh quốc phòng”
c) Một số khái niệm khác
Độ che phủ rừng: là số đo tỷ lệ phần trăm diện tích có rừng so với diện tích tự nhiên của một vùng lãnh thổ Độ che phủ rừng hàng năm là số đo đánh giá diện tích rừng tăng hay giảm trong một vùng lãnh thổ
Rừng ngập mặn là một loại rừng đặc biệt ở vùng cửa sông, ven biển của các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Rừng ngập mặn sinh trưởng và phát triển tốt trên các bãi bùn lầy ngập nước biển, nước lợ có thủy triều lên xuống hằng ngày
Rừng đặc dụng: Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường
Rừng phòng hộ: Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường
Rừng sản xuất: Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường
Hệ sinh thái rừng: “Hệ sinh thái rừng là một hệ sinh thái mà thành phần nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (khí hậu, đất) Nội dung nghiên cứu hệ sinh thái rừng bao gồm cả cá thể, quần thể, quần xã và hệ sinh thái, về mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cây rừng và giữa chúng với các sinh vật khác trong quần
xã đó, cũng như mối quan hệ lẫn nhau giữa những sinh vật này với hoàn cảnh xung
quanh tại nơi mọc của chúng.” (E.P Odum 1986, G Stephan 1980)
Trang 142.1.2 ĐẶC TÍNH CÂY TRÀM
Cây tràm có tên khoa học là Melaleuca cajuputi thuộc họ Sim (Myrtaceae) Cây
gỗ cao 20-25 m Thân không thẳng Vỏ màu trắng xám, có thể bóc thành nhiều lớp mỏng, xốp, có mùi thơm
Lá đơn mọc cách, dày, cứng bong, màu lục sẫm, dài 4-8 cm, rộng 12 cm hình mác hoặc hình trái xoan hẹp, nhọn dần về cả hai đầu, có 3-7 gân hình cung
Hoa nhỏ, màu trắng vàng nhạt, hợp thành bông, dài 5-15 cm ở đầu cành Hoa không cuống Cánh đài hình trụ hoặc hình trứng, đầu chia 5 thùy ngắn Cánh tràng 5 Nhị đực nhiều hợp thành 5 bó, chỉ nhị hình sợi, bao phấn gần như vuông, thò ra ngoài bao hoa Đĩa mật chia thùy có lông Bầu dính gắn hết với ống dài, đỉnh có lông, 3 ô, nhiều noãn, vòi nhụy hình sợi, hình đĩa
Quả nang hình bán cầu hoặc gần tròn, đường kính 3-4 mm, mở 3 lỗ Hạt tròn hay
có mũi nhọn
Đặc điểm sinh trưởng của cây tràm: Cây ưa sáng hoàn toàn, tán lá thưa, sinh trưởng nhanh, tái sinh hạt tốt, khả năng đâm chồi mạnh Qua số liệu điều tra giải tích thân cây (1980-1987) cho thấy: tăng trưởng bình quân: D (đường kính) = 0,48-0,65 cm/năm; H (chiều cao) = 0,72-0,8 m/năm Khi tràm được 10-25 tuổi, bắt đầu giảm sinh trưởng cả 2 yếu tố D và H Sau 25 tuổi, tăng trưởng về chiều cao ổn định và tràm đạt đến tuổi thành thục (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004)
Đặc điểm tái sinh tự nhiên của rừng tràm: tràm có khả năng tái sinh hạt tốt và tái sinh chồi rất mạnh Qua điều tra cho thấy tái sinh hạt đạt kết quả như sau: mật độ cây trên đất than bùn ở 1 tuổi chiều cao thấp hơn 1 m là: 122 x 104 cây/ha; ở 2 tuổi, chiều cao 1-3 m là: 15,5 x 104 cây/ha (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004)
Tràm là cây trồng cạn, chịu được điều kiện ngập úng Tràm thường sinh trưởng trên đất phèn chua nặng, ẩm ướt, hay nơi bị ngập trên 10 cm đến vài mét vào tháng 7
và tháng 8 Thêm vào đó, tràm sinh trưởng tốt ngay khi độ a xit đất tăng trong mùa nắng hay khi đất bị ngập lũ
Tràm được trồng trên lớp bã mùn, không cắm rễ vào trong đất như trồng những loài cây khác Trong điều kiện ngập nước liên tục tràm sinh trưởng yếu, khi nước rút tràm mới ra lá non và phát triển nhanh Cây tràm tăng trưởng nhanh vào các tháng khô
và có khả năng chịu ngập từ 5-6 tháng/năm Tràm thích hợp ở đất chua ẩm ướt và không cần đầu tư để cải tạo đất
Tràm là có khả năng cung cấp chất hữu cơ cho đất Lá rụng và vỏ rơi xuống mỗi năm làm thành những lớp hữu cơ dày trên đất mặt và tích tụ làm đất càng phì nhiêu Những lớp này chứa nhiều chất hữu cơ hơn các lớp đất phèn hoạt động nằm kế bên dưới Kết quả, là các lớp đất này tác động đến phẩm chất nước trong rừng tràm
Trang 15Theo số liệu FAO (1982), năm 1978 diện tích rừng trên thế giới là 3.727 tỷ ha Hàng năm, thế giới đã phá hủy tới 17 triệu ha rừng so với thập niên 80 là 11,3 triệu ha Trong đó, khu vực châu Á – Thái Bình Dương với tổng diện tích rừng chỉ có 300 triệu
ha nhưng lại có mức độ tàn phá lên tới 3,7 triệu ha/năm Trung bình mỗi năm rừng già
trên toàn thế giới bị phá hủy từ 1-2% (Lê Huy Bá, 2006)
Năm 1995, diện tích rừng che phủ lục địa còn 27% (với diện tích là 3.727 triệu ha); trong số này, có 1.280 triệu ha rừng cây lá kim (chiếm 33% tổng diện tích rừng tự nhiên) tập trung ở vùng ôn đới, còn lại 2.557 triệu ha rừng cây lá rộng (chiếm 67%)
tập trung ở vùng Á nhiệt đới, nhiệt đới và xích đạo (Lê Huy Bá, 2006)
Tuy nhiên, theo nguồn tin từ Tamnhin.net, đăng ngày 06/2/2011 với chủ đề
“Trồng rừng và phá rừng” cho thấy máy năm gần đây diện tích rừng đang có xưu hướng tăng lên ở một số quốc gia:
“Tốc độ rừng biến mất trên toàn thế giới đã chậm lại, phần lớn là nhờ sự thay đổi từ việc chặt phá sang việc trồng rừng ở châu Á
Tại Trung Quốc, Việt Nam, Philippines và Ấn Độ, diện tích rừng đã được tăng lên Diện tích rừng cũng tăng lên ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng lại đang bị thu hẹp lại
ở châu Phi và Mỹ Latinh, do nhu cầu ngày càng tăng về thực phẩm và gỗ củi
Các kết quả được đưa ra trong bản phúc trình của Tổ chức Lương Nông của Liên hợp quốc (FAO) về tình trạng rừng trên toàn thế giới
Các nhóm vận động bảo vệ môi trường cảnh báo cần đặt ưu tiên hàng đầu cho các khu rừng già và cho sự đa dạng sinh học ở những nơi này, nhằm đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu và nhu cầu khai thác tài nguyên ngày càng tăng.”
b) Các nguyên nhân làm suy giảm diện tích và suy thoái rừng trên thế giới
Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO) hôm 14-11-2005 cho biết tình trạng phá rừng trên toàn cầu đang dần giảm đi nhưng rừng vẫn đang biến mất ở mức báo động
FAO cho biết trong bản đánh giá nguồn tài nguyên rừng toàn cầu rằng mỗi năm thế giới mất 7,3 triệu ha rừng, chiếm 0,18% diện tích rừng toàn cầu trong thời gian từ
2000 đến 2005
Tổ chức này cũng cho biết tỷ lệ này giảm so với thời gian từ năm 1990 đến năm
2000, với 8,9 triệu ha rừng bị biến mất hàng năm
Nam Mỹ là khu vực có tình trạng phá rừng diễn ra tồi tệ nhất do các hoạt động phá rừng trong 5 năm qua, làm mất 4,3 triệu ha rừng mỗi năm, theo sau là châu Phi với
4 triệu ha rừng biến mất hàng năm
Trang 16Hình 2.1: Tình trạng phá rừng trên toàn cầu vẫn ở mức báo động Ảnh minh họa
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến mất rừng trên thế giới, tập trung chủ yếu vào
các nhóm nguyên nhân chính sau đây:
Mở rộng diện tích đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu sản xuất lương thực, trong đó những người sản xuất nhỏ du canh là nguyên nhân quan trọng nhất Rowe (1992) cho rằng, có đến 60% rừng nhiệt đới bị chặt phá hàng năm là do nguyên nhân này
Nhu cầu lấy củi: Lượng gỗ sử dụng làm chất đốt trên thế giới đã tăng từ 600 triệu m3 năm 1963 lên 1.300 triệu m3
vào năm 1983 Hiện nay, vẫn còn khoảng 1,5 tỷ người chủ yếu dựa vào nguồn gỗ củi cho nấu ăn và sưởi ấm Riêng ở châu Phi đã có
180 triệu người thiếu củi đun
Chăn thả gia súc: Ở châu Mỹ Latinh, có khoảng 35% rừng bị chặt phá cho những người sản xuất nông nghiệp nhỏ Phần còn lại là chủ yếu do chăn thả gia súc Riêng ở Nam Mỹ, việc mở rộng diện tích các đồng cỏ cho chăn nuôi với tốc độ 20.000
km2/năm trong giai đoạn 1950-1980
Khai thác gỗ và các sản phẩm rừng: Hiện nay việc mua bán gỗ xảy ra mạnh
mẽ ở vùng Đông Nam Á, chiếm đến gần 50% lượng gỗ buôn bán trên thế giới Ở Malaysia, rừng nguyên sinh che phủ gần như toàn bộ đất nước vào năm 1900, nhưng đến năm 1960 đã có trên một nửa diện tích rừng bị khai thác gỗ cho mục đích xuất khẩu
Phá rừng để trồng cây công nghiệp và cây đặc sản: Ở Peru nhân dân phá rừng
để trồng coca, diện tích trồng coca ước tính chiếm 1/10 diện tích rừng của Peru
Cháy rừng: Năm 1997, đã xảy ra cháy rừng ở nhiều nước thuộc châu Âu, châu
Á và châu Mỹ Chỉ tính riêng ở Indonexia trong một đợt cháy rừng (1997) đã thiêu hủy gần 1 triệu ha rừng Còn ở Mỹ, trong năm 2000 đã có 2,16 triệu ha rừng bị cháy
Trang 17Ngoài ra, còn có nhiều nguyên nhân khác cũng trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng nhanh quá trình phá rừng trên thế giới Đó là chính sách quản lý rừng, chính sách đất đai, các dự án phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
2.1.3.2 VIỆT NAM
a) Số lƣợng
Hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà cả các nước trên thế giới, tài nguyên rừng đang bị thu hẹp về diện tích và tàn phá nặng nề Điều này đã tác động đến môi trường đến mức báo động, hướng biến động rừng cơ bản vẫn ở tình trạng suy thoái, còn xa mức ổn định và mức cần thiết để bảo vệ môi trường Vấn đề khắc phục và bảo vệ rừng
là đang được đặt ra nhằm giảm đến mức tối thiểu các ảnh hưởng của các vấn đề về môi
trường như trái đất nóng lên toàn cầu…
Nguyên nhân chủ yếu là nạn phá rừng làm nương rẫy, thai thác rừng bừa bãi, khai thác gỗ vượt chỉ tiêu cho phép, do sự vô y thức của một số người làm cháy rừng và một phần do lũ lụt tàn phá nặng nề Do sự phát triển quá “nóng” của kinh tế, cuộc sống khó khăn của người dân, sự tha hóa, buông lỏng trách nhiệm của những người có chức năng bảo vệ rừng… Thì quan niệm của nhiều người về những tác dụng của các lâm sản là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng phá rừng, tận diệt các lâm sản đặc biệt
Tuy một số diện tích rừng thứ sinh tự nhiên được phục hồi, nhưng nhiều diện tích rừng già và rừng trồng chưa đến tuổi thành thục đã bị xâm hại, đốn chặt, khai hoan Cháy rừng đã được hạn chế mạnh mẽ và việc khai thác gỗ trái phép đã kiểm soát được một phần, nhưng tình trạng mất rừng vẫn ở mức độ nghiêm trọng Rừng phòng hộ đầu nguồn trên lưu vực những con sông lớn ở nước ta vẫn đang bị phá hoại Tuy diện tích rừng trồng có tăng lên hàng năm, nhưng với số lượng rất khiêm tốn và phần lớn rừng được trồng lại với mục đích kinh tế, sản xuất cây lấy gỗ ngắn ngày, cây mọc nhanh mà chưa ưu tiên trồng rừng tại các khu vực đầu nguồn Nói đến tài nguyên rừng ta không chỉ chú đến vấn đề chúng bị tàn phá mà còn chú những tác động đến môi trường và cuộc sống của chúng ta
Có lẽ vì vậy mà vấn đề tài nguyên rừng đang được người dân và các cấp chính quyền địa phương quan tâm Điều quan trọng là phải đưa ra được các biện pháp nhằm hạn chế sự tàn phá rừng đến mức thấp nhất nhằm bảo vệ rừng, bảo vệ lá phổi xanh của thế giới
Sau đây là bảng các số liệu về hiện trạng rừng của Việt Nam tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010:
Trang 18Bảng 2.1: Tổng diện tích đất có rừng và độ che phủ rừng phân theo Tỉnh, Thành phố, tính đến ngày 31/12/2010
nhiên
Rừng trồng Tổng Cấp tuổi 1
Trang 19SôngHồng
BắcTrungBộ
DuyênHải
TâyNguyên
ĐôngNamBộ
TâyNamBộ
Hình 2.2: Tổng diện tích đất có rừng phân theo vùng năm 2010
Trang 20Theo hình 2.2 cho thấy diện tích đất có rừng chiếm phần lớn thuộc các vùng miền núi như vùng Đông Bắc, Tây Nguyên còn ở các vùng đồng bằng thì diện tích đất có rừng rất nhỏ như vùng Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long
Bảng 2.2: Diện tích đất có rừng toàn quốc phân theo loại rừng tính đến ngày 31/12/2010
(Theo Viện điều tra quy hoạch rừng, Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam)
Ở Việt Nam hiện nay loại rừng sản xuất chiếm diện tích lớn nhất so với các loại rừng còn lại
0 1.000.000 2.000.000 3.000.000 4.000.000 5.000.000 6.000.000 7.000.000
Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất Khác
Hình 2.3: Diện tích rừng phân theo loại rừng năm 2010
Trang 21Cho đến hết năm 2010 thì diện tích rừng tự nhiên chiếm 75% trong tổng diện tích đất có rừng và 25% là diện tích rừng trồng đó cũng là nhờ phần lớn chính sách của Nhà nước ta về việc phát triển rừng
75%
25%
Rừng tự nhiên Rừng trồng
Hình 2.4: Tỉ lệ rừng trồng với rừng tự nhiên năm 2010
b) Chất lƣợng
Việt Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần Xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và cũng do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao Một dải rộng các thảm thực vật bao gồm nhiều kiểu rừng phong phú đã được hình thành ở các độ cao khác nhau như các rừng thông chiếm ưu thế ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới, rừng hỗn loài lá kim và lá rộng, rừng khô cây họ Dầu ở các tỉnh vùng cao, rừng họ Dầu địa hình thấp rừng ngập mặn cây Đước chiếm ưu thế ở ven biển châu thô sông Cửu Long
và sông Hồng, rừng Tràm ở đồng bằng Nam bộ và rừng hỗn loại tre nứa ở nhiều nơi Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế kỷ, hệ thực vật rừng Việt Nam vẫn còn phong phú về chủng loại Cho đến nay đã thống kê được 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài rêu và 600 loài nấm Theo dự đoán của các nha thực vật học số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài, trong đó có khoảng 2.300 loài đã được nhân dân dùng làm nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu
và nhiều nguyên vật liệu khác Chắc chắn rằng hệ thực vật Việt Nam còn nhiều loài
mà chúng ta chưa biệt công dụng của chúng Cũng có thể có rất nhiều loài có tiềm năng như một nguồn cung cấp dược liệu hết sức quan trọng
Hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao Tuy rằng hệ thực vật Việt Nam không có các họ đặc hữu và chỉ có khoảng 3% số chi là đặc hữu (như các chi
Ducampopinus, Colobogyne) nhưng số loài đặc hữu chiếm khoảng 33% số loài thực
vật ở miền Bắc Việt Nam và hơn 40% tổng số loài thực vật toàn quốc (Thái Văn Trừng, 1970) Phần lớn số loài đặc hữu này tập trung ở bốn khu vực chính: khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao nguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực rừng mưa ở phần Bắc Trung Bộ Nhiều loài
là đặc hữu địa phương chỉ gặp trong một vùng rất hẹp với số cá thể rất thấp Các loài này thường rất hiếm vì các khu rừng ở đây thường bị chia cắt thành những mảnh nhỏ hay bị khai thác một các mạnh mẽ
Trang 22Bên cạnh đó, do đặc điểm cấu trúc, các kiểu rừng nhiệt đới ẩm thường không có loài chiếm ưu thế rõ rệt nên số lượng cá thể của từng loài thường hạn chế và một khi
đã bị khai thác, nhất là khai thác không hợp lý thì chúng chóng bị kiệt quệ Đó là tình
trạng hiện nay của một số loài cây gỗ quý như Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa) Gụ mật
(Sindora siamensis) nhiều loài cây làm thuốc như Hoàng liên chân gà (Coptis chinensis), Ba kích (Morinda officinalis) thậm chí có nhiều loài đã trở nên hiếm hay
có nguy cơ bị tiêu diệt như Thông nước (Glyptostrobus pensilis), Hoàng đàn
(Cupressus torulosa), Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariaensis), Pơ mu (Fokiena hodginsii)…
Hệ động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú Hiện đã thống kê được 275 loài thú, 828 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái, 472 loài cá nước ngọt và thêm vào
đó có hàng chục ngàn loài động vật không xương sống ở cạn, ở biển và nước ngọt
(Đào Văn Tiến, 1985; Võ Quý, 1997; Đặng Huy Huỳnh, 1978) Hệ động vật Việt Nam
không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét độc đáo, đại diện cho vùng Đông Nam Á Cũng như thực vật giới động vật giới Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu: hơn 100 loài và phân loài chim và 78 loài và phân loài thú là đặc hữu Có rất nhiều loài dộng vật có giá trị thực tiễn cao và nhiều loài có ý nghĩa lớn về bảo vệ như: Voi, Tê giác Giava, Bò rừng, Bò tót, Trâu rừng, Bò xám, Nai cà tông, Hổ, Báo, Cu ly, Vượn, Voọc vá, Voọc xám, Voọc mũi hếch, Sếu cổ trụi, Cò quắm cánh xanh, Cò quắm lớn, Ngan cánh trắng, nhiều loài trĩ, cá sấu, trăn, rắn và rùa biển
Theo tài liệu “Review of the Protected Areas System in the Indo - Malayan Realm, MacKinnon, MacKinnon, 1986” thì Việt Nam khá giàu về thành phần loài và
có mức độ cao về tính đặc hữu so với các nước trong vùng phụ Đông Dương Trong số
21 loài khỉ có trong vùng phụ này thì ở Việt Nam có 15 loài, trong đó có 7 loài đặc
hữu của vùng phụ (Eudeyl 1987) Có 49 loài chim đặc hữu trong vùng phụ, ở Việt
Nam có 33 loài trong đó có 10 loài đặc hữu của Việt Nam, so với Miến Điện, Thái Lan, Malaixia, mỗi nơi chỉ có 2 loài, Lào một loài và Campuchia không có loài đặc hữu nào cả Khi xem xét về sự phân bố của các loài ở trong vùng phụ Đông Dương nói chung, số loài thú và chim và các hệ sinh thái có ngụy cơ bị tiêu diệt nói riêng và sự phân bố của chúng Chúng ta có thể nhận rõ rằng Việt Nam là một trong những vùng xứng đáng có ưu tiên cao về vấn đề bảo vệ Không những thế, hiện nay ở Việt Nam vẫn còn có những phát hiện mới rất lý thú Chỉ trong hai năm 1992 và 1994 đã phát hiện được ba loài thú lớn, trong đó có hai loài thuộc vùng rừng Hà Tĩnh là loài Sao la
(Pseudoryx nghetinhensis) và loài Mang lơn hay còn gọi là Mang bầm (Megamuntiacus vuquangensis), nơi mà trước đây không lâu đã phát hiện loài trĩ cuối
cùng trên thế giới, loài Gà lam đuôi trắng hay còn gọi là Gà lừng (Lophura
hatinhensis)
Ngày 21 tháng 10 năm 1994 một loai thú lớn mới thứ ba là loài (Pseudonovibos
spiralis) ở Tây Nguyên, tạm gọi là loài Bò sừng xoắn được công bố và năm 1997 một
loài thú lớn mới nữa cho khoa học được mô tả đó là loài Mang Trường Sơn
(Megamuntiacus truongsonensis) tìm thấy lân đầu tiên ở vùng Hiên, thuộc tỉnh Quảng
Nam ở khu vực Vũ Quang trong những năm gần đây phát hiện được thêm một loài cá
mới cho khoa học: (Opsarichthys vuquangensis) Chúng ta tin rằng ở Việt Nam chắc
chắn còn rất nhiều loài động, thực vật chưa được các nhà khoa học biết đến
Nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có về sinh giới này, có thể đáp ứng những nhu cầu hiện tại và tương lai của nhân dân Việt Nam trong quá trình phát triển, cũng như
đã đáp ứng những nhu cầu ấy trong quá khứ Nguồn tài nguyên thiên nhiên này không
Trang 23những là cơ sở vững chắc của sự tồn tại của nhân dân Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã qua mà còn là cơ sở cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam trong những năm sắp tới
2.1.4 DIỄN BIẾN RỪNG Ở VIỆT NAM
a) Giai đoạn trước 1945
Trong suốt thời gian dài trước năm 1945, chúng ta không có khả năng thực hiện việc điều tra rừng Thời kỳ này chỉ có số liệu về tài nguyên rừng được công bố trong công trình "Lâm nghiệp Đông Dương" của P Maurand và số liệu đó thường được xem
là tài liệu gốc để so sánh diễn biến rừng ở Việt Nam từ năm 1945 trở về sau Theo tài liệu và bản đồ của Maurand thì đến năm 1943, rừng Việt nam vẫn còn khoảng 14.352.000 ha, che phủ 43,7% diện tích lãnh thổ Thời kỳ đó, độ che phủ rừng ở Bắc
Bộ vào khoảng 68%, ở Nam Trung Bộ vào khoảng 44%, ở Nam Bộ khoảng 13%
Bảng 2.3: Diện tích rừng năm 1945
Khu vực Diện tích tự
nhiên (nghìn ha)
Diện tích rừng (nghìn ha)
Tỉ lệ (%) diện tích rừng
34% (Viện Điều tra quy hoạch rừng, năm 1976), bình quân mỗi năm mất đi 100.000
ha rừng Nguyên nhân chính là do chiến tranh tàn phá
Bảng 2.4: Diện tích rừng bị rải chất độc hóa học
Đơn vị: ha
Địa phương Diện tích tự
nhiên
Diện tích bị rải
Diện tích rừng/diện tích tự nhiên (%)
Trang 24c) Giai đoạn 1976 – 1990
Là thời kỳ tài nguyên rừng bị khai thác mạnh để phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước sau chiến tranh Diện tích rừng trong giai đoạn này tiếp tục giảm xuống còn 11 triệu ha Năm 1985, diện tích rừng còn 7,8 triệu ha (23,6%), đến năm
1989 chỉ còn 6,5 triệu ha (19,7%) (Viện điều tra quy hoạch rừng Việt Nam, 1989)
Năm 1990 chỉ còn chưa đầy 9,2 triệu ha với tỷ lệ che phủ chỉ đạt 27,8% Giai đoạn này cả nước mất 2,8 triệu ha, bình quân 140.000 ha/năm Trong đó 10% là rừng
nguyên sinh (Lê Văn Khoa, 2007)
d) Giai đoạn 1991 đến nay
Theo điều tra của năm 1993, nước ta còn khoảng 8,631 triệu ha rừng (trong đó có 5,169 triệu ha rừng sản xuất kinh doanh; 2,8 triệu ha rừng phòng hộ; 0,663 triệu ha
rừng đặc dụng) ( Lê Văn Khoa, 2007)
Năm 1995, diện tích rừng còn 8 triệu ha và tỷ lệ che phủ là 28% Theo kết quả của Viện Điều tra và Quy hoạch rừng (1995), thì trong thời gian 20 năm từ năm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên giảm 2,8 triệu ha Đặc biệt nghiêm trọng ở một
số vùng, như Tây Nguyên mất 440.000 ha, vùng Đông Nam Bộ mất 308.000 ha, vùng Bắc Khu IV cũ mất 243.000 ha, vùng Bắc Bộ mất 242.500 ha Theo thống kê, năm
1991 có 20.257 ha rừng bị phá, năm 1995 giảm xuống còn 18.914 ha và năm 2000 là 3.542 ha
Qua số liệu thống kê cho thấy, ở thời điểm kết thúc chu kỳ điều tra 1991-1995 đất
có rừng toàn quốc là 9.302,2 ngàn ha Trong đó, rừng tự nhiên là 8.252,5 ngàn ha,
rừng trồng là 1.049,7 ngàn ha (Lê Huy Bá, 2006)
Năm 1999, cả nước có 10,88 triệu ha rừng và độ che phủ là 33% (Jyrki và cộng
sự, 1999) Diện tích rừng bình quân cho một người là 0,13 ha (1995), thấp hơn mức
trung bình ở Đông Nam Á 0,42% (Lê Văn Khoa, 2007)
Năm 2000, nước ta có khoảng gần 11 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 9,4 triệu ha và khoảng 1,6 triệu ha rừng trồng; độ che phủ của rừng chỉ đạt
33% so với 45% của thời kì giữa những năm 40 của thế kỉ XX (http://xahoihock33.pro -forums.in )
Tuy nhiên, theo Báo cáo Hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000 thì có thể ước định rằng tỷ lệ mất rừng khoảng 120.000 đến 150.000 ha/năm và rừng trồng hàng năm khoảng 200.000 ha và mục tiêu là trồng càng nhanh càng tốt để đạt 300.000
ha/năm (http://www.taybacuniversity.edu.vn )
Theo thống kê năm 2003, diện tích rừng đến năm cuối 2002 đã đạt 35,8% diện tích tự nhiên Mức độ mất rừng khoảng 200.000 ha/năm, trong đó 60.000 ha bị chặt phá làm nông nghiệp không theo kế hoạch, 50.000 ha bị cháy, còn lại do khai thác gỗ,
củi,… (Trần Thị Kim Hồng, 2010)
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giai đoạn 1998-2005,
độ che phủ rừng của Việt Nam hiện đạt 36,7% tăng 3,5 % so với năm 1999 Độ che phủ rừng toàn quốc qua 5 năm (2002 - 2007) tăng bình quân gần 0,5% mỗi năm
Theo thống kê của các địa phương trong cả nước năm 2008, toàn quốc có trên 12,9 triệu ha rừng, bao gồm: 10,3 triệu ha rừng tự nhiên và trên 2,6 triệu ha rừng trồng;
độ che phủ đạt 38,27%
Trang 25Mặc dù tổng diện tích rừng toàn quốc tăng trong những năm qua, nhưng diện tích rừng bị mất còn ở mức cao Thống kê từ năm 1991 đến tháng 10/2008, tổng diện tích rừng bị mất là 399.118 ha, bình quân 57.019 ha/năm Trong đó, diện tích được Nhà nước cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất có rừng là 168.634 ha; khai thác trắng rừng (chủ yếu là rừng trồng) theo kế hoạch hàng năm được duyệt là 135.175 ha; rừng
bị chặt phá trái phép là 68.662 ha; thiệt hại do cháy rừng 25.393 ha; thiệt hại do sinh vật hại rừng gây thiệt hại 828 ha
Như vậy, diện tích mất chủ yếu do được phép chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác theo kế hoạch chiếm 76%; diện tích rừng bị thiệt hại do các hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao – làm mất 94.055 ha rừng, chiếm 23,5% trong tổng diện tích rừng mất trong 7 năm qua, bình quân thiệt hại 13.436 ha/năm Từ năm 1995 đến tháng 10/2008, cả nước xảy
ra 10.444 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 75.318 ha rừng, bình quân mỗi năm bị cháy 5.380 ha
Và tính đến ngày 31/12/2009 Việt Nam có 13.258.843 ha đất có rừng, nhiều hơn 140.070 ha so với năm 2008, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.339.305 ha và rừng trồng là 2.919.538 ha Độ che phủ rừng tăng mạnh từ 37% năm 2005 lên 39,1% năm
2009
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, tính trên tổng diện tích rừng, đến hết năm 2009, nước ta có 1.992.316 ha rừng đặc dụng, 4.762.136 ha rừng phòng hộ và 6.020.649 ha rừng sản xuất, không kể 124.333 ha diện tích rừng khác ngoài 3 loại rừng trên
Cũng tính đến thời điểm 31/12/2009, diện tích rừng gỗ là 8.235.838 ha, như vậy trong năm 2009 đã có thêm 29.202 ha diện tích rừng này Tuy nhiên, diện tích rừng tre nứa trong năm 2009 đã giảm 11.809 ha, chỉ còn 621.454 ha; rừng ngập mặn trong năm 2009 cũng giảm 181 ha, còn 60.603 ha Rừng trồng cây đặc sản chiếm 206.730 ha, tức là trong năm 2009 có tăng được 4.591 ha
Trong khi đó, từ năm 2007 đến nay, tổng diện tích rừng bị cháy trên địa bàn cả nước lên đến 14.573 ha Trong đó, 4.746 ha diện tích rừng bị cháy năm 2007; riêng đầu năm 2010 diện tích rừng bị cháy 6.718 ha Như vậy, 10 tháng đầu năm 2010, diện tích rừng bị cháy trong cả nước đã cao gấp hơn 4,2 lần so với cùng kỳ năm 2009 Ngoài ra, trong vòng gần 4 năm qua, tổng diện tích rừng bị thiệt hại do phá rừng trái phép 7.110 ha, trong đó năm 2009 là năm có diện tích phá rừng cao nhất với 2.120 ha;
9 tháng đầu năm 2010 là hơn 1.550 ha ( http://tintuc.xalo.vn )
Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, tổng diện tích rừng của cả nước đến 2010 là 13.258.843 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.339.305 ha, rừng trồng chiếm 2.919.538 ha, độ che phủ 39,1% Trong số đó, hơn một nửa diện tích rừng tự nhiên của nước ta thuộc loại rừng nghèo hoặc tái sinh, trong khi rừng già và rừng tán kín chỉ chiếm trên 9%
Thống kê mới nhất của Cục Kiểm lâm thì đầu năm đến tháng 9 năm 2010 có 1.553,68 ha rừng bị chặt phá và 5.364,85 ha rừng bị cháy Diện tích rừng tự nhiên của nước ta đang suy giảm với tốc độ chóng mặt và độ che phủ của rừng ở khu vực miền Trung đã bị suy giảm nghiêm trọng Cho đến 2010 độ che phủ của rừng chỉ còn chưa
đầy 40%, trong đó diện tích rừng nguyên sinh chỉ còn 10% (http://vea.gov.vn )
Trang 26Bảng 2.5: Số liệu biến động tài nguyên rừng Việt Nam qua các giai đoạn
Năm Diện tích rừng (1000 ha) Độ che phủ (%) Ha/Đầu người
Hình 2.5: Biến động tài nguyên rừng Việt Nam qua các giai đoạn
Chúng ta thấy trong giai đoạn 1943-1990, diện tích rừng giảm xuống một cách nhanh chóng Trong giai đoạn từ 1990 trở lại đây thì diện tích rừng đã từ từ tăng lên đó
Trang 27cũng là nhờ một phần lớn sự quan tâm của Nhà nước và ý thức của người dân trong việc quản lý và phát triển rừng
Mặc dù có nhiều thành tựu trong khôi phục, bảo vệ và phát triển rừng trong những năm qua, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức trong công tác bảo vệ và phát triển rừng
Vườn quốc gia;
Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh;
Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh;
Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
c) Rừng sản xuất
Rừng sản xuất bao gồm:
Rừng sản xuất là rừng tự nhiên;
Rừng sản xuất là rừng trồng;
Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận
2.1.5.2 PHÂN LOẠI RỪNG THEO NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH
a) Rừng tự nhiên: là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên
Rừng nguyên sinh: là rừng chưa hoặc ít bị tác động bởi con người, thiên tai Cấu trúc của rừng còn tương đối ổn định
Rừng thứ sinh: là rừng đã bị tác động bởi con người hoặc thiên tai tới mức làm cấu trúc rừng bị thay đổi
+ Rừng phục hồi: là rừng được hình thành bằng tái sinh tự nhiên trên đất đã mất rừng do nương rẫy, cháy rừng hoặc khai thác kiệt;
+ Rừng sau khai thác: là rừng đã qua khai thác gỗ hoặc các loại lâm sản khác
Trang 28b) Rừng trồng: là rừng được hình thành do con người trồng, bao gồm:
Rừng trồng mới trên đất chưa có rừng;
Rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có;
Rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác
Theo thời gian sinh trưởng, rừng trồng được phân theo cấp tuổi, tùy từng loại cây trồng, khoảng thời gian quy định cho mỗi cấp tuổi khác nhau
2.1.5.3 PHÂN LOẠI RỪNG THEO ĐIỀU KIỆN LẬP ĐỊA
a) Rừng núi đất: là rừng phát triển trên các đồi, núi đất
b) Rừng núi đá: là rừng phát triển trên núi đá, hoặc trên những diện tích đá lộ
đầu không có hoặc có rất ít đất trên bề mặt
c) Rừng ngập nước: là rừng phát triển trên các diện tích thường xuyên ngập
nước hoặc định kỳ ngập nước
Rừng ngập mặn: là rừng phát triển ven bờ biển và các cửa sông lớn có nước triều mặn ngập thường xuyên hoặc định kỳ
Rừng trên đất phèn: là rừng phát triển trên đất phèn, đặc trưng là rừng Tràm ở Nam Bộ
Rừng ngập nước ngọt: là rừng phát triển ở nơi có nước ngọt ngập thường xuyên hoặc định kỳ
d) Rừng trên đất cát: là rừng trên các cồn cát, bãi cát
2.1.5.4 PHÂN LOẠI RỪNG THEO LOÀI CÂY
a) Rừng gỗ: là rừng bao gồm chủ yếu các loài cây thân gỗ
Rừng cây lá rộng: là rừng có cây lá rộng chiếm trên 75% số cây
+ Rừng lá rộng thường xanh: là rừng xanh quanh năm;
+ Rừng lá rộng rụng lá: là rừng có các loài cây rụng lá toàn bộ theo mùa chiếm 75% số cây trở lên;
+ Rừng lá rộng nửa rụng lá: là rừng có các loài cây thường xanh và cây rụng lá theo mùa với tỷ lệ hỗn giao theo số cây mỗi loại từ 25% đến 75%
Rừng cây lá kim: là rừng có cây lá kim chiếm trên 75% số cây
Rừng hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim: là rừng có tỷ lệ hỗn giao theo số cây của mỗi loại từ 25% đến 75%
b) Rừng tre nứa: là rừng chủ yếu gồm các loài cây thuộc họ tre nứa như: tre,
mai, diễn, nứa, luồng, vầu, lô ô, le, mạy san, hóp, lùng, bương, giang, v.v…
c) Rừng cau dừa: là rừng có thành phần chính là các loại cau dừa
d) Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa
Rừng hỗn giao gỗ - tre nứa: là rừng có cây gỗ chiếm > 50% độ tàn che;
Rừng hỗn giao tre nứa - gỗ: là rừng có cây tre nứa chiếm > 50% độ tàn che
Trang 292.1.5.5 PHÂN LOẠI RỪNG THEO TRỮ LƢỢNG
a) Đối với rừng gỗ
Rừng rất giàu: trữ lượng cây đứng trên 300 m3/ha;
Rừng giàu: trữ lượng cây đứng từ 201- 300 m3/ha;
Rừng trung bình: trữ lượng cây đứng từ 101 - 200 m3/ha;
Rừng nghèo: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100 m3/ha;
Rừng chưa có trữ lượng: rừng gỗ đường kính bình quân < 8 cm, trữ lượng cây đứng dưới 10 m3
Trang 31Rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi
để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của
sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng
Rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao
Rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi
hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác
Sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn tới
sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng
Trang 32Trong một khu rừng nếu một loài cây nào đó chiếm trên 95% thì rừng đó được coi là rừng thuần loài, còn rừng có từ 2 loài cây trở lên với tỷ lệ sấp xỉ nhau thì là rừng hỗn loài
Tổ thành của các khu rừng nhiệt đới thường phong phú về các loài hơn là tổ thành các loài cây của rừng ôn đới
b) Cấu trúc tầng thứ
Sự phân bố theo không gian của tầng cây gỗ theo chiều thẳng đứng, phụ thuộc vào đặc tính sinh thái học, nhu cầu ánh sáng của các loài tham gia tổ thành Cấu trúc tầng thứ của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới thước nhiều tầng thứ hơn các hệ sinh thái rừng ôn đới
Một số cách phân chia tầng tán:
Tầng vượt tán: Các loài cây vươn cao trội hẳn lên, không có tính liên tục
Tầng tán chính (tầng ưu thế sinh thái): Cấu tạo nên tầng rừng chính,có tính liên tục
Tầng dưới tán: Gồm những cây tái sinh và những cây gỗ ưa bóng
Tầng thảm tươi: Chủ yếu là các loài thảm tươi
Thực vật ngoại tầng: Chủ yếu là các loài thân dây leo
c) Cấu trúc tuổi
Cấu trúc về mặt thời gian, trạng thái tuổi tác của các loài cây tham gia hệ sinh thái rừng, sự phân bố này có mối liên quan chặt chẽ với cấu trúc về mặt không gian Trong nghiên cứu và kinh doanh rừng người ta thường phân tuổi lâm phần thành các cấp tuổi Thường thì mỗi cấp tuổi có thời gian là 5 năm, nhiều khi là các mức 10,
15, hoặc 20 năm tùy theo đối tượng và mục đích
Nesterop (1949), đã chia quá trình phát triển của rừng thành các giai đoạn: (chủ yếu áp dụng cho rừng trồng, rừng ôn đới)
Rừng non: Mối quan hệ giữa các cây gỗ là mối quan hệ hỗ trợ Chỉ xuất hiện mối quan hệ cạnh tranh giữ cây gỗ và cây bụi thảm tươi
Rừng sào: Rừng bắt đầu khép tán, xuất hiện quan hệ cạnh tranh gay gắt về ánh sáng và chiều cao giữa các cá thể cây gỗ Giai đoạn này cây gỗ phát triển mạnh về chiều cao
Rừng trung niên: Rừng khép tán hoàn toàn, sự phát triển về chiều cao chậm lại,
có sự phát triển về đường kính Rừng đã thành thục về tái sinh
Rừng gần già: Giai đoạn này có sự phân chia không rõ với 2 giai đoạn liền trước
và liền sau của nó Trong giai đoạn này cây rừng vẫn có sự ra hoa kết quả và tăng trưởng về đường kính
Rừng già: Trữ lượng cây gỗ đạt tối đa Có một vài cây gỗ già, chết Tán cây thưa dần, cây rừng vẫn ra hoa kết quả nhưng chất lượng không tốt
Rừng quá già: Cây tầng cao ngừng trệ sinh trưởng, ra hoa quả ít, chống đỡ bệnh tật kém,có hiện tượng rỗng ruột và dễ dàng gãy đổ
Trang 33Rừng tuổi cấp I (rừng non) 1 – 10 năm 1 – 20 năm
Rừng tuổi cấp II (rừng sào) 11 – 20 năm 21 – 40 năm
Rừng tuổi cấp III (rừng trung niên) 21 – 30 năm 41 – 60 năm
Rừng tuổi cấp IV (rừng gần già) 31 – 40 năm 61 – 80 năm
Rừng tuổi cấp V (rừng già) 41 – 50 năm 81 – 100 năm
Rừng tuổi cấp VI (rừng quá già cỗi) Trên 50 năm Trên 100 năm
d) Cấu trúc mật độ
Cấu trúc mật độ phản ánh số cây trên một đơn vị diện tích Phản ảnh mức độ tác động giữa các cá thể trong lâm phần Mật độ ảnh hưởng đến tiểu hoàn cảnh rừng, khả năng sản xuất của rừng Theo thời gian, cấp tuổi của rừng thì mật độ luôn thay đổi Đây chính là cơ sở của việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng
2.1.8 TẦM QUAN TRỌNG CỦA RỪNG
a) Rừng cung cấp năng lƣợng
Theo Ông Vương Văn Quỳnh (2006), rừng tự nhiên nhiệt đới Việt Nam giàu có trước hết bởi nguồn năng lượng dồi dào hình thành năng suất kinh tế và sinh thái cao Mỗi năm 1 m2 mặt đất ở hầu hết các vùng núi trung bình nhận được từ 1.200.000 đến 1.500.000 kcal, tương đương với năng lượng toả ra khi đốt cháy 1,2-1,5 tấn than đá
b) Rừng đối với khí quyển
Vai trò quan trọng nhất của rừng đối với khí quyển là sự cung cấp oxy, oxy là nhân tố đặc biệt quan trọng cho sự tồn tại của sinh vật Lượng oxy của khí quyển bị mất đi sẽ được hoàn trả lại bằng con đường quang hợp của cây xanh Rừng là nhân tố
chủ yếu tham gia vào việc giữ cán cân oxy trong thành phần của khí quyển
Ngoài vai trò cung cấp oxy cho khí quyển, rừng còn là màng lọc không khí trong lành như cản khói bụi, hạn chế nhiều loại vi khuẩn và siêu vi khuẩn gây hại cho con người và các động vật Ngoài ra rừng còn có vai trò quan trọng trong sự điều hòa khí hậu của quả đất Vì vậy, rừng được xem là lá phổi xanh của quả đất
c) Rừng đối với đất
Rừng và đất có mối quan hệ mật thiết với nhau thể hiện bởi rừng tham gia vào quá trình hình thành và phát triển đất; ngược lại đất là cơ sở duy trì sự tồn tại và phát triển của rừng Hệ thống đất - rừng đảm nhiệm chức năng quan trọng là yếu tố cần thiết cho sự sống của con người và các động vật khác
Rừng lấy chất dinh dưỡng từ đất để phát triển; các cành, lá rụng xuống sẽ được các vi sinh vật phân hủy thành mùn và mùn tiếp tục được khoáng hoá cho ra những
Trang 34chất dinh dưỡng mới cung cấp lại cho cây Quá trình sinh học giữa đất và rừng là liên tục, đảm bảo cho độ phì nhiêu của đất và cho cả năng suất sinh học của rừng Tuần hoàn sinh học trong hệ sinh thái rừng sẽ ở trạng thái cân bằng bền vững nếu như không
có sự can thiệp của con người
Tùy theo từng loại đất và điều kiện địa hình khác nhau sẽ hình thành nên những
loại rừng khác nhau Rừng ngập mặn ở vùng duyên hải có những loài cây khác hẳn với rừng đồi núi, mặc dù ở trong cùng một đai khí hậu nhiệt đới Ngoài ra, rừng còn bảo
vệ cho đất chống lại sự xói mòn
Điều kiện khí hậu thuận lợi cùng với sự tác động của thảm thực vật qua nhiều thế
hệ đã tạo nên những lớp đất vô cùng tươi tốt Hàm lượng mùn trung bình của đất dưới rừng ở Việt Nam dao động từ 6-10%, độ xốp lớp đất mặt từ 50-70%, độ ẩm đất quanh năm trên 25%.1
d) Rừng đối với nông nghiệp
Rừng và nông nghiệp đều có những đặc điểm tương đối giống nhau như: đất đai
và nước là điều kiện sản xuất chủ yếu không thể thay thế
Cây trồng, vật nuôi là cơ thể sống, là đối tượng sản xuất cơ bản Chu kỳ sản xuất của cây rừng và cây lâu năm của nông nghiệp (cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày) rất dài
Quá trình sản xuất chịu tác động trực tiếp của thời tiết, khí hậu, lượng mưa, bão
Rừng là yếu tố giữ nước, điều hòa nguồn nước, chống xói mòn, bảo vệ đất, cây trồng vật nuôi nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp cả trồng trọt và chăn nuôi đều cần phải có nước Ngày nay và cả sau này, dù qui trình sản xuất nông nghiệp có thay đổi
do ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học và kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, nước vẫn là yếu tố quan trọng hàng đầu Ảnh hưởng của yếu tố này thể hiện rõ nét nhất trong mùa mưa lũ Rừng đầu nguồn, nếu được bảo vệ tốt sẽ trở thành những lá chắn vững chắc ngăn dòng nước lũ đầu nguồn do các sông suối tạo nên, vừa giữ nước cho cây lâm nghiệp, vừa làm giảm dòng chảy của mưa lũ đối với vùng đồng bằng, giảm bớt thiệt hại do úng ngập gây ra cho cây trồng nông nghiệp và môi trường sống của đàn gia súc gia cầm Thực tế trong những năm qua cho thấy, những vùng, những địa phương làm tốt công tác bảo vệ rừng đầu nguồn, chăm sóc tốt rừng tự nhiên và rừng trồng, thì tình trạng thiệt hại do mưa lũ, nhất là lũ quét ở miền núi, vùng đất dốc giảm; đất nông nghiệp không bị xói mòn, sa mạc hóa, cây trồng vật nuôi được bảo vệ Ngược lại, những vùng những địa phương có nhiều diện tích rừng đầu nguồn bị tàn phá, rừng trồng không bị được chăm sóc đúng kỹ thuật, khả năng giữ nước và đìêu hòa nước bị hạn chế, dẫn đến đất nông nghiệp bị xói mòn, thậm chí sa mạc hóa, cây trồng, vật nuôi luôn bị đe dọa bởi lũ lụt trong mùa mưa và khô hạn trong mùa khô
1
Trang 35Rừng có vai trò chắn gió, chắn sóng ven biển, góp phần bảo vệ đất đai, cây trồng, vật nuôi, hạn chế thiệt hại do bão, lũ, cát gây ra Vai trò này được thể hiện rõ nét rừng phòng hộ vùng ven biển, vừa bảo vệ làng xóm ven biển, vừa bảo vệ độ phì nhiêu của đất đai, cây trồng vật nuôi, bảo vệ các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp Để phát huy vai trò đó, những năm qua nhà nước đã quy hoạch, đầu tư xây dựng và bảo vệ rừng phòng hộ chắn sóng ven biển để hạn chế sự tàn phá của bão lũ, cát bay, vệ sinh biển vào mùa bão lũ, mùa hè
Rừng có vai trò bảo vệ hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện khai thác, sử dụng đất nông nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả Vai trò này được thể hiện rõ nét
ở vùng rừng ngập mặn Cà Mau, như rừng tràm U Minh hạ, U Minh thượng, rừng đước Năm Căn, rừng sác Cà Mau… (đứng thứ 2 thế giới về tầm quan trọng và diện tích) Trong rừng ngập mặn, có nhiều loại cây trồng lâm nghiệp xen kẽ, thảm thực vật quý hiếm, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp sinh thái theo mô hình nông lâmngư kết hợp, tạo ra lợi thế về trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, quy mô lớn tốc
độ nhanh
Rừng và đất rừng là yếu tố thiên nhiên thuận lợi để chuyển dịch cơ cấu sản xuất,
cơ cấu lao động nông nghiệp, phân bố lại dân cư giữa các vùng theo hướng hàng hóa lớn Nước ta có trên 12,4 triệu ha đất lâm nghiệp có rừng Ngòai ra còn có 8,8 triệu ha đất chưa sử dụng, trong đó có một số diện tích đất có khả năng trồng rừng và trồng cây nông nghiệp, chủ yếu là núi đá, đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven sông, ven biển chua phèn mặn… Mật độ dân số ở các vùng rừng, và đất chưa có rừng thấp nên có điều kiện để xây dựng các vùng kinh tế mới, thu hút lao động dư thừa ở vùng đồng bằng Đây cũng là vùng có điều kiện thuận lợi để chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng đất rào, cây ấy nhằm tăng nông sản hàng hóa, tăng giá trị xuất khẩu trên một đơn vị diện tích đất Tây Nguyên là vùng đất đỏ bazan rộng lớn, rất thích hợp với các cây nông nghiệp lâu năm như cà phê, cacao, cao su, chè và nuôi gia súc quy mô lớn Vì vậy, trong 32 năm sau giải phóng, Tây Nguyên đã trở thành địa bàn thu hút hàng triệu dân của hầu hết các vùng trong nước đến khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới Hàng loạt nông lâm trường trang trại và hộ gia đình đã biến vùng đất lâm nghiệp Tây Nguyên, thành các vùng sản xuất cà phê, cao su, chè, mía, nuôi bò đàn Tương tự như vậy, vùng đất rừng ngập mặn ven biển Cà Mau, trong những năm gần đây, cơ cấu sản xuất trong khu vực nông lâm ngư nghiệp và thủy sản
đã chuyển dịch nhanh theo hướng tăng tỷ trọng thủy sản lên từ 60,58% năm 1995 đến 84,41% năm 2005
Rừng đóng góp quan trọng trong điều hòa không khí, tạo môi trường thuận lợi cho cây trồng vật nuôi phát triển Không chỉ thể hiện ở vùng rừng núi ven biển mà còn phát huy tác dụng ở các vùng đồng bằng và đất lâm nghiệp Hệ thống cây xanh trồng ven đường giao thông nông thôn, ven bờ mương thủy lợi, ven bờ đê, bở ruộng, ven các trại chăn nuôi gia súc và gia cầm tập trung ở vùng đồng bằng không có rừng tự nhiên không chỉ cung cấp nguồn gỗ và lâm sản khác cho nền kinh tế mà còn có vai trò quan trọng trong điều hòa không khí, tạo môi trường thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi phát triển và tăng trưởng Chính vì lợi ích đó, trong những năm qua, hiện nay sau này Nhà nước đã đang và sẽ tăng cường chỉ đạo và hỗ trợ kỹ thuật, đầu tư cây giống để phát triển mạnh phong trào trồng cây phân tán khắp các vùng, các địa phương, nhất là vùng đồng bằng để hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và điều hòa không khí
Vai trò của rừng và đất rừng đối với sản xuất nông nghiệp là rất quan trọng và không thể thiếu Quá khứ, hiện tại và tương lai của sản xuất nông nghiệp Việt Nam
Trang 36phụ thuộc rất lớn vào quy mô và tốc độ trồng rừng, nuôi rừng và bảo vệ các loại rừng, đất rừng và trồng cây phân tán của các vùng địa phương Có thể khẳng định rừng, đất rừng là tiền đề, là điều kiện không thể thiếu để ngành nông nghiệp phát triển theo hướng tăng trưởng nhanh, bền vững, phù hợp với yêu cầu CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới
e) Rừng cung cấp nguồn gen quý
Trong thập kỷ 80, các nghiên cứu quốc tế về tài nguyên rừng cho thấy các tài nguyên động vật và thực vật quí của nhân loại phần lớn tập trung ở trong các rừng nhiệt đới (FAO, 1984), trong đó rừng nhiệt đới Châu Á có nhiều loại cây và con có giá trị quí giá nhất hay nói khác đi là rừng nhiệt đới là một ngân hàng tài nguyên gen to lớn và đa dạng
f) Rừng cung cấp gỗ
Rừng là nguồn cung cấp gỗ và các sản phẩm của gỗ: Làm vật liệu xây dựng, vật
liệu trang trí, là nguồn cung cấp các sản phẩm hóa học, cung cấp sợi dệt, làm bột giấy, lấy tinh dầu, nhựa cây, thuốc nhuộm
Tài nguyên rừng được khai thác chủ yếu là các loại gỗ và tre nứa
g) Các lợi ích khác của rừng
Trong các phần trình bày ở trên cho ta thấy được vai trò chung của rừng trong một số mặt chủ yếu Ngoài ra rừng còn có nhiều vai trò khác nữa trong cuộc sống của
con người: rừng là nguồn cung cấp và điều hòa nguồn nước ngọt: ở những vùng có
lượng mưa nhiều; vào mùa mưa, nước mưa được giữ lại trong thảm lá mục và trong lớp đất tơi xốp rồi trực tiếp đi xuống các tầng đất sâu hơn hình thành nên những mạch nước ngầm, nên ta có thể xem rừng là kho dự trữ nước và điều phối nguồn nước ngọt cho nhu cầu sinh hoạt và các hoạt động nông nghiệp của con người vào mùa khô hạn;
rừng là kho thực phẩm: Cung cấp những loài thực vật và động vật có thể sử dụng làm
nguồn lương thực và thực phẩm cho người; rừng còn là kho thuốc vô giá phục vụ sức khỏe của con người
2.1.9 CÁC LỢI ÍCH CỦA NGÀNH LÂM NGHIỆP
Ngành lâm nghiệp ra đời xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của xã hội đối với rừng Vai trò của xã hội đối với rừng thông qua chức năng quản lý, gìn giữ và phát triển rừng, cụ thể là không những tạo ra các sản phẩm lâm sản hàng hóa và dịch vụ đóng góp cho nền kinh tế quốc dân mà còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường như phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa khí hậu , góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống, xóa đói, giảm nghèo cho người dân nông thôn và miền núi và bảo vệ an ninh quốc gia, đặc biệt đối với bảo vệ biên giới hải đảo
2.1.9.1 VỀ KINH TẾ
Nói đến lâm nghiệp trước hết phải nói đến vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân thông qua việc cung cấp gỗ và lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư; cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản; cung cấp dược liệu quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người; cung cấp lương thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm phục vụ nhu cầu đời sống xã hội Như vậy, đối với nền kinh tế quốc dân, lâm nghiệp là một ngành kinh tế
kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch
Trang 37vụ từ rừng như gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và cung cấp các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng
Theo các số liệu và cách tính hiện nay, GDP lâm nghiệp chỉ bao gồm giá trị tạo ra
từ gây trồng, khai thác và một vài dịch vụ chiếm 1% tổng GDP quốc gia Tuy nhiên ngành lâm nghiệp còn có nhứng đóng góp lớn vào nền kinh tế quốc dân thông qua công nghiệp chế biến lâm sản xuất khẩu và các giá trị môi trường của rừng Trong giai đoạn 1995-2006, kim ngạch xuất khẩu hàng gỗ đã tăng từ 61 triệu USD năm 1996 lên 1.035 triệu USD năm 2004, 1.570 triệu USD năm 2005, 2.000 triệu USD năm 2006 và 2,5 tỷ năm 2007
Tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ hiện nay đạt gần 200 triệu USD/năm, dự kiến sẽ tăng bình quân 10-15% một năm, đạt 700-800 triệu USD/năm vào năm 2020 Ngành lâm nghiệp thúc đẩy quá trình xã hội hoá nghề rừng, phân cấp quản lý cho các địa phương và phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Giao đất giao rừng cho các thành phần kinh tế là biện pháp thực hiện đa thành phần trong sử dụng rừng nói chung và đa sở hữu trong
sử dụng rừng sản xuất nói riêng trong ngành lâm nghiệp Bên cạnh những đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân, ngành lâm nghiệp còn một số hạn chế như tăng trưởng thấp và chưa bền vững
Theo Tổng cục Thống kê, tốc độ phát triển của ngành lâm nghiệp năm 2000: 4,9%, năm 2001: 1,9%, năm 2002: 1,6%, năm 2003: 1,1%, năm 2004: 1,1%, năm 2005: 1,2% Lợi nhuận từ sản xuất kinh doanh lâm nghiệp thấp, sức cạnh tranh yếu, tiềm năng tài nguyên rừng chưa được khai thác hợp lý, nhất là lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ môi trường Rừng trồng cũng như rừng tự nhiên năng suất và chất lượng thấp, chưa đáp ứng được các yêu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nguyên liệu
gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu Ngành công nghiệp chế biến lâm sản phát triển nhanh nhưng chủ yếu là tự phát, chưa vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược, tính cạnh tranh chưa cao, sự liên kết và phân công sản xuất chưa tốt, chưa xây dựng được thương hiệu trên thị trường thế giới, thiếu vốn đầu tư cho phát triển và hiện đại hoá công nghệ; nguồn gỗ nguyên liệu chưa ổn định, phụ thuộc vào nhập khẩu
Theo cách tính của Tổng Cục Thống Kê năm 2005, giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp chỉ bao gồm giá trị sản xuất của các hoạt động trồng rừng, khai thác và một số dịch vụ lâm nghiệp với giá trị sản xuất toàn ngành là 9.496 tỷ đồng (giá thực tế) và 6.316 tỷ đồng (giá so sánh), trong đó khai thác chiếm tỷ trọng lớn nhất (79,5%), trồng rừng (14,8%)
Tổng trữ lượng gỗ toàn quốc năm 2005 là 811.678.000 m3 trong đó gỗ rừng tự nhiên chiếm 93,4% và gỗ từ rừng trồng chiếm 6,6% Ba vùng có trữ lượng gỗ rừng tự nhiên lớn nhất là Tây Nguyên (35,2%), Bắc Trung Bộ (22,6%) và Duyên hải Nam Trung Bộ (16,1%), trong khi trữ lượng gỗ từ rừng trồng lớn nhất ở các vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ
Tổng sản phẩm trong nước của ngành lâm nghiệp theo cách tính hiện hành chỉ chiếm 1,2% GDP quốc gia và 5,7% GDP của khối nông, lâm, thuỷ sản vào năm 2005 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của lâm nghiệp trong 2000-2006 là 0,8%/năm
là thấp do chu kỳ sản xuất lâm nghiệp dài, do không khai thác rừng tự nhiên và do cách tính GDP chưa đầy đủ cho ngành lâm nghiệp
Trang 382.1.9.2 VỀ XÃ HỘI
Chỉ tiêu số xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 phản ánh gián tiếp tình hình kinh tế xã hội tại các vùng lâm nghiệp trọng điểm và cũng là các xã cần quan tâm đối với các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo và phát triển lâm nghiệp và nông thôn Chương trình 135 giai đoạn 2006-2010 tập trung vào 1644 xã đặc biệt khó khăn,
xã biên giới thuộc 287 huyện, 45 tỉnh trong cả nước, trong đó các xã đặc biệt khó khăn tập trung hầu hết ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Số liệu giao và cho thuê rừng và đất lâm nghiệp cuối năm 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy các tổ chức và doanh nghiệp nhà nước đang quản lý và
sử dụng trên 65% diện tích đất lâm nghiệp, trong khi các hộ gia đình chỉ quản lý và sử dụng khoảng 31% Cộng đồng dân cư thôn chỉ quản lý bảo vệ 581.000 ha rừng và đất lâm nghiệp là quá ít so với tổng số trên 10 triệu ha rừng tự nhiên hiện có, trong khi diện tích giao cho UBND xã quản lý chiếm trên 2,8 triệu ha, mà thực chất là chưa có chủ Số liệu về tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cuối năm
2004 cho thấy cả nước mới cấp gần 1 triệu giấy CNQSDĐ cho các hộ gia đình và tổ chức với 43,6% diện tích đất lâm nghiệp, trong đó cho các hộ gia đình là 2 triệu ha và
tổ chức là 3 triệu ha (đến 30/9/2007 được 62%)
Thu nhập bình quân đầu người một tháng chung, cho khu vực thành thị/nông thôn
và cho mỗi vùng đều liên tục tăng từ năm 1996 đến nay Số liệu điều tra mức sống hộ gia đình cho thấy thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2003-2004 đạt 484.000 đồng và thu nhập của nhóm có thu nhập thấp nhất chỉ bằng 1/8 thu nhập của nhóm có thu nhập cao nhất Thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 1,27% (2002) và gần 1% (2004) của tổng thu nhập bình quân
Việc thống kê số việc làm được tạo ra trong ngành lâm nghiệp là tương đối khó
và hiện chỉ có thể thực hiện gián tiếp hoặc thông qua các chương trình, dự án Số liệu thống kê năm 2005 của dự án 6612 cho biết cả nước có 389.500 hộ tham gia các hoạt động của dự án 661 Số liệu thống kê của Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối (Bộ NN & PTNT) cho thấy cả nước có trên 250.300 người tham gia các hoạt động chế biến gỗ, trong đó số lao động ở các tỉnh, thành phố ở phía Nam chiếm 229.100 người (91,5%)
Ngành lâm nghiệp Việt Nam đã và đang thực hiện các hoạt động quản lý và sản xuất lâm nghiệp trên diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nước; đây cũng là nơi sinh sống của 25 triệu người với nhiều dân tộc ít người,
có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn nhiều khó khăn Rừng luôn là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dân cư, điều tiết lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội
Mối quan hệ giữa xoá đói giảm nghèo và nghề rừng ở Việt Nam là một mối quan
hệ nhân quả giữa những biến đổi sinh kế nông thôn và những thay đổi về độ che phủ rừng Luận giải các mâu thuẫn và tương đồng giữa giảm nghèo và trạng thái rừng được phân tích bằng mô hình “Tứ diện”: Được - Được: nghĩa là giảm nghèo và bảo vệ môi trường được thừa nhận là đi đôi với nhau; Được - Mất: nghĩa là thành công trong công tác giảm nghèo gây ra suy giảm rừng và đa dạng sinh học; Mất - Được: nghĩa là an
2
Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính
Trang 39toàn sinh kế của người dân không còn nữa vì họ không được phép sử dụng rừng; Mất - Mất: nghĩa là cả người dân địa phương và môi trường đều bị thua thiệt3
Đời sống của người dân miền núi luôn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn hàng hoá
và dịch vụ môi trường từ rừng tự nhiên Ngay cả khi người dân bị mất rừng thì họ cũng vẫn có những lợi ích lớn thông qua việc chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp Hiện nay, rất nhiều người nghèo nhất trong số những người nghèo ở Việt Nam đang sống trong và gần rừng Vì vậy để thực hiện được công cuộc xoá đói giảm nghèo cần phải quan tâm thích đáng đến việc sử dụng tài nguyên rừng Ngược lại, bất kỳ chính sách nào của Nhà nước thắt chặt việc khai thác sử dụng rừng cần phải chú trọng đến các tác động đối với người nghèo Việc giảm nghèo ở nông thôn trên diện rộng phải gắn với kế hoạch trồng rừng ở quy mô tương đương
Hình 2.6: Củi vẫn còn là một nguồn thu nhập của người dân vùng cao
Thực tiễn hiện nay cho thấy, ngành lâm nghiệp đã tham gia tích cực vào việc tạo thêm việc làm, tăng thu nhập từ rừng cho người dân, nhất là đồng bào các dân tộc ít người và đáp ứng phần lớn nhu cầu gỗ gia dụng và củi cho tiêu dùng nội địa Đảng và Nhà nước tiếp tục kiên trì cải thiện sinh kế của người làm nghề rừng thông qua xã hội hóa và đa dạng hóa các hoạt động lâm nghiệp Xã hội hóa được coi là phương thức và công cụ để đạt mục tiêu tạo thêm 2 triệu việc làm mới trong lâm nghiệp; tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo 70% (2005) số hộ trong các vùng lâm nghiệp trọng điểm như đã xác định trong Chiến lược lâm nghiệp quốc gia
3
William D Sunderlin và Huynh Thu Ba, 2005 Giảm nghèo và Rừng ở Việt Nam Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) và Trường Lâm nghiệp và Khoa học Môi trường, Đại học Tổng hợp
Trang 40Xác lập lại quyền sử dụng tài nguyên rừng hướng tới các cộng đồng nông thôn, đặc biệt là nông thôn miền núi là những đóng góp quan trọng của ngành lâm nghiệp Trong giai đoạn vừa qua ngành lâm nghiệp có những kết quả đáng khích lệ trong việc thu hút các hộ nông dân, cộng đồng tham gia làm nghề rừng Theo số liệu công bố của
Bộ Tài Nguyên và Môi trường, đến ngày 01 tháng 01 năm 2005, cả nước có 1.180.465 người sử dụng đất lâm nghiệp, trong đó của hộ gia đình và cá nhân: 1.173.829; UBND xã: 1.245; tổ chức kinh tế: 1.365; các tổ chức khác: 3.105; liên doanh với nước ngoài:
6 và 3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 100% Nhà nước khuyến khích phát triển hình thức sản xuất lâm nghiệp hộ gia đình, trang trại bằng các giải pháp giao đất giao rừng, tăng cường công tác khuyến nông khuyến lâm; phát triển quản lý rừng cộng đồng,và hợp tác xã lâm nghiệp kiểu mới
Tuy nhiên, tác động của ngành lâm nghiệp đối với xoá đói, giảm nghèo còn hạn chế, chưa tạo ra được nhiều việc làm; thu nhập của người làm nghề rừng còn thấp và chưa ổn định (Ví dụ: tại Thanh Hoá, thu nhập bình quân từ lâm nghiệp của nhóm hộ khá đạt khoảng 786 nghìn đồng/người/năm, nhóm hộ thoát nghèo đạt 461 nghìn đồng/người/năm, nhóm hộ nghèo đạt 241 nghìn đồng/người/năm), đa số người dân miền núi chưa thể sống được bằng nghề rừng, đời sống của cán bộ, công nhân viên lâm nghiệp còn rất khó khăn Việc thực hiện xã hội hóa lâm nghiệp chưa có những chuyển biến rõ rệt, quản lý rừng và đất rừng còn nhiều bất cập, tiến độ giao đất, giao rừng chậm; nhiều địa phương chưa mạnh dạn tổ chức giao rừng tự nhiên và rừng trồng cho dân, đặc biệt cho cộng đồng, hộ gia đình và tư nhân
2.1.9.3 VỀ MÔI TRƯỜNG
Do Việt Nam nằm trải dài dọc theo bờ biển Thái Bình Dương trong vùng nhiệt đới gió mùa và điểm hình thành của các cơn bão lớn, nên Việt nam luôn phải đối mặt với thiên tai và khí hậu thời tiết bất thường; mặt khác do địa hình đa dạng, dốc và chia chia cắt nên rừng càng có vai trò quan trọng trong phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, được thể hiện trên các mặt sau:
- Phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn, rửa trôi, thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện;
- Phòng hộ ven biển, chắn sóng, chắn gió, chống cát bay, chống sự xâm nhập của nước mặn bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven biển ;
- Phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị, làm sạch không khí, tăng dưỡng khí, giảm thiểu tiếng ồn, điều hòa khí hậu tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển;
- Phòng hộ đồng ruộng và khu dân cư: giữ nước, cố định phù sa, hạn chế lũ lụt
và hạn hán, tăng độ ẩm cho đất ;
- Bảo vệ khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch ;
- Rừng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi
dự trữ sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm
Một ha rừng hàng năm tạo nên 300-500 tấn sinh khối, 16 tấn ôxy, đối với rừng thông có thể lên tới 30 tấn Mỗi người một năm cần 4.000 kg O2 tương ứng với lượng oxy do 1.000-3.000 m² cây xanh tạo ra trong một năm Nhiệt độ không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3-5°C Rừng còn là tác nhân bảo vệ và ngăn chặn gió bão Lượng đất xói mòn của vùng đất có rừng chỉ bằng 10% lượng đất