Việc Chúa Nguyễn dần dần đặt ảnh hưởng của mình lên vùng đất mới rồi tiếp đến xác nhập vùng đất Nam Bộ được xem là vô chủ này vào lãnh thổ Đại Việt thì người được xem là có công lao lớn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
GVC.Ths: KHOA NĂNG LẬP LÊ VĂN SANG
MSSV: 6086345
Lớp: Sư phạm lịc sử Khóa: 34
Cần Thơ - 2012
Trang 2có ruộng đất, buộc họ phải vào đây khai phá, sinh sống và lập nghiệp, dần dần trở thành người dân bản địa
“…Đến đây xứ sở lạ lùng, Tiếng chim kêu cũng sợ! Tiếng cá vùng cũng kinh!”
Hay:
“Đồng Nai địa thế hãi hùng!
Dưới sông sấu lội, trên giồng cọp um”
Từ những câu ca dao xưa truyền lại ta thấy vùng đất Nam Bộ, nơi mà chúng ta sinh sống phồn hoa, nhộn nhịp bây giờ so với hiện cảnh ngày xưa thì đáng sợ như thế nào Người dân sinh sống trong thời đó khó khăn biết bao nhiêu
Thời nguyên thủy là vậy Vùng đất Nam Bộ khi đó được xem như vô chủ, vì điều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt nên hầu như không ai vào khai hoang, mở mang lãnh thổ
Vùng đất này thật sự trở mình và phát triển từ khi được sự cai quản của chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong
Chúa Nguyễn bằng những chính sách ngoại giao hợp lý và thiết thực dần dần mang tầm ảnh hưởng của mình đặt lên vùng đất mới này Theo qui luật của tự nhiên, chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã dần kiểm soát cả vùng đất này, đưa vùng đất mới này trở thành một phần lãnh thổ của nước Việt Xác nhập vào bản
đồ Việt Nam, đến thời Minh Mạng thì cơ bản lãnh thổ đã thống nhất kéo dài từ Lũng Cú đến mũi Cà Mau
Trang 3Việc Chúa Nguyễn dần dần đặt ảnh hưởng của mình lên vùng đất mới rồi tiếp đến xác nhập vùng đất Nam Bộ được xem là vô chủ này vào lãnh thổ Đại Việt thì người được xem là có công lao lớn nhất là Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh
Trong lịch sử dân tộc việc khai hoang vùng đất mới và mở mang bờ cõi thì đã
có từ khi Đại Việt trở thành một quốc gia độc lập
Đến đời Nguyễn Phúc Chu ông vẫn tiếp tục truyền thống xưa
Theo lệnh Chúa , Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đã vào kinh lược vùng đất mới Bằng tài năng và đức độ của một vị tướng lĩnh, ông tiến hành bình định và khai hoang cùng với những chính sách thiết thực và hợp lý đã thu phục được lòng dân bản địa nơi đây
Không quá khi nói ông đã biến vùng đất vô chủ, đất rộng người thừa, nhưng điều kiện tự nhiên hết sức khắc nghiệt, rừng rậm hoang vu, không thích hợp cho ngưới sinh sống, thành một nơi có cơ sở hành chính, có nhiều dân cư sinh sống, đô thi sầm uất mộc lên và làm cho vùng đất này phát triển rất nhanh chỉ trong một thời gian ngắn
Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đã để lại trong lòng của mỗi người dân ở những vùng đất nơi ông đến và đi qua một tình cảm thiêng liêng trân trọng đối với
vị tướng anh hùng này
Điều đó càng được thể hiện rõ ràng hơn khi hầu hết các tỉnh ở Nam Bộ đều có đền thờ của ông Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh Đặc biệt là ở An Giang, chỉ trong tỉnh này thôi đã có không dưới 3 đền thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh Qua đó cho thấy Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến vùng đất này Và công lao của ông đối với vùng đất này là không hề nhỏ, không kể hết được Tục ngữ có câu:
“ uống nước nhớ nguồn”
Hay
“ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
Cũng chính vì vậy mà trong bài báo cáo cuối khóa học, tôi chọn đề tài :” Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và những đóng góp cho vùng đất Nam Bộ” Để tìm hiểu và biết nhiều hơn về những đóng góp của ông cho vùng đất Nam Bộ, nơi mà chúng ta sinh sống và làm việc
Trang 4Dù đã cố gắng tìm kiếm tài liệu và xâm nhập thực tế nhưng với khả năng có hạn , đề tài còn có nhiều thiếu sót mong quý thầy cô thông cảm và đóng góp ý kiến
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chủ yếu dựa vào cuốn sách: “ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỷ XVII” của tác giả Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền Trong qua trình tìm kiếm tài liệu
để phục vụ cho đề tài thì chỉ có duy nhiều nhất nguồn tài liệu này nói nhiều đến vấn
đề cần nghiên cứu Còn ngoài ra những nguồn tài liệu khác chỉ viết sơ xài không chuyên sâu đến vấn đề cần phục vụ cho đề tài, cho đến nay thì những sách viết về nhân vật lịch sử thì nhiều nhưng, nói về vị khai quốc công thần, người khai sáng vùng đất Nam Bộ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh thì chỉ có Như hiên Nguyễn Ngọc Hiền với cuốn sách: “Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỷ XVII” là duy nhất viết chuyên sâu và tìm hiểu rất cận kẽ về vị Lễ Công
Cũng chính vì lý do này mà có lẽ thông tin về Thống Suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh trong miền Nam nói riêng và cả nước nói chung cũng còn có sự hạn chế Mong rằng sau này có nhiều tác giả viết và tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong lịch sử dân tộc việc kinh lược và khai phá vùng đất Nam Bộ thì đã có nhiều vị tướng nhà Nguyễn làm công việc này Do vậy trong đề tài này chỉ giới hạn nói đến công việc khai phá của Thống Suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh ở cuối thế kỷ 17 Đây cũng là phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ngoài phương pháp lịch sử và phương pháp logíc là chủ yếu luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: mô tả thực tế để phục vụ trong quá trình nghiên cứu
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Trang 52.1 LỄ THÀNH HẦU NGUYỄN HỮU CẢNH VỚI CÔNG CUỘC BÌNH
2.2 Lễ THÀNH HẦU VỚI CÔNG CUỘC BÌNH ĐỊNH CHÂN LẠP
2.3 LỄ THÀNH HẦU NGUYỄN HỮU CẢNH KINH LƯỢC XỨ ĐÔNG NAI
2.4 LỄ THÀNH HẦU VỚI CÔNG CUỘC DI DÂN KHAI HOANG XỨ ĐỒNG NAI
2.5 ĐÓNG GÓP CỦA LỄ THÀNH HẦU NGUYỄN HỮU CẢNH TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN XỨ ĐÀNG TRONG
CHƯƠNG 3:
SỰ TRI ÂN CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM ĐỐI VỚI BẶC KHAI QUỐC
CÔNG THẦN LỄ THÀNH HẦU NGUYỄN HỮU CẢNH
3.1 ĐỀN THỜ QUÊ HƯƠNG QUẢNG BÌNH
3.2 ĐỀN THỜ Ờ BIÊN HÒA VÀ Ờ THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH
3.3 ĐÌNH THỚI AN Ở Ô MÔN – CẦN THƠ VÀ TIỀN GIANG
3.4 ĐỀN THỜ Ở AN GIANG
Trang 6Sau khi Ức Trai bị kết án tru di tam tộc, xảy ra nhiều trường hợp ly tan, khiến các con cháu còn sống sót đã sinh trưởng ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam.Ngay những nơi xa xôi hẻo lánh, như vùng mạng ngược Cao Bằng, Lạng Sơn hiện nay di duệ mạng họ Bế Rõ ràng nhất, đông đảo nhất là ở những miền Hà Đông, Thăng Long, Thiên Trường, Thanh-Hóa, Thuận Hóa và Quảng Bình
Riêng việc di chuyển vào Gia Miếu Thanh Hóa của dòng Nguyễn Hữu thời Trịnh Nguyễn phân tranh đã thành thơ truyền tụng trong dân gian:
“… Huyện Tống Sơn đất lành chim đậu Làng Gia Miếu chiến hữu tùng cư…”
1.1.2 Xác định nơi sinh của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh
Dòng họ Nguyễn, trải qua rất nhiều thăng trầm! Đến đời Triều Văn Hầu Nguyễn Triều Văn, vì bất mãn với Chúa Trịnh Đàng Ngoài, Cụ đã di chuyển gia đình theo chúa Nguyễn vào Đàng Trong(1609) và định cư tại huyện Phong Lộc tỉnh Quảng Bình- Khi ấy con trai của cụ Văn là Nguyễn Hữu Dật 6 tuổi Vậy cho nên đến đời các con của ông Dật , tức hàng cháu nội của cụ Triều Văn, hẳn phải sinh ra trên đất Quảng Bình” theo Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền: Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khái sáng Miền Nam nước Việt cuối thế kỷ thứ XVII”
Trang 71.1.2.1 Sơ lược về tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình (các tên gọi cũ khu vực này gồm: Lâm Bình, Tiên Bình, Tân Bình) là một tỉnh duyên hải thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam Quảng Bình nằm
ở nơi hẹp nhất theo chiều Đông-Tây của dải đất hình chữ S của Việt Nam (50 km theo đường ngắn nhất tính từ biên giới Lào ra biển Đông) Tỉnh này giáp Hà Tĩnh về phía bắc với dãy Hoành Sơn là ranh giới tự nhiên; giáp Quảng Trị về phía nam; giáp Biển Đông về phía đông; phía tây là tỉnh Khăm Muộn của Lào với dãy Trường Sơn là biên giới tự nhiên
Thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, Quảng Bình thuộc
bộ Việt Thường.Thời Hán, Quảng Bình thuộc quận Nhật Nam Sau khi Champa giành được độc lập và lập nước Lâm Ấp (thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay)các triều vua Champa thường vượt đèo Hải Vân tiến ra cướp phá đất Nhật Nam và Cửu Chân và họ đã làm chủ vùng đát từ đèo Ngang trở vào khi nhà Tấn (Trung Quốc) suy yếu Từ đó Quảng Bình là vùng đất địa đầu của Champa đối với các triều đại Trung Hoa cũng như các triều đại Việt khi người Việt đã giành được độc lập
Năm 1069, Lý Thánh Tông - vua của Đại Việt đánh Champa bắt được vua Champa đưa về Thăng Long, để được tha vua Champa đã dâng đất (Địa Ly, Bố Chính, Ma Linh) tương ứng với tỉnh Quảng Bình và các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, bắc Hướng Hóa của Quảng Trị ngày nay cho Đại Việt và Quảng Bình chính thức thuộc về Đại Việt từ năm 1069
Đời Lê Trung Hưng có tên là Tiên Bình Năm 1604 đổi tên là Quảng Bình Chúa Nguyễn Phúc Khoát chia Quảng Bình thành 3 dinh: dinh Bố Chính (trước là dinh Ngói), dinh Mười (hay dinh Lưu Đồn), dinh Quảng Bình (hay dinh Trạm) Tỉnh được thành lập năm 1831, đặt phủ Quảng Ninh, sau đặt thêm phủ Quảng Trạch
Năm 1976 ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên hợp nhất thành tỉnh Bình Trị Thiên, đến năm 1990 lại tách ra như cũ
Thật không phải ngẫu nhiên mà có nhiều nhân tài! Hãy xét sơ qua về địa chí Quảng Bình qua câu đối chỉ ghi chép toàn tên các Phủ, Huyện, Làng, xã ở đó mà thành:
Trang 8“ Sơn Hà Cảnh Thổ Văn Võ Cổ Kim”
Quảng Bình là một tỉnh địa hình thiên nhiên có rất nhiều phong cảnh quí hiếm,
dễ thắm tình người như: Động Phong Nha, Động Phủ, Hàng Vòm, Vườn Dầu Đá Nhảy, núi Thần Định, Đấu Mậu…; Xa hơn nữa có Hòn Gió tục gọi là Hòn Ông( nay là đảo Chim, đảo hải Âu) Về sông thì có: Sông Gianh, sông Nhật Lệ… Xem địa thế ấy và ngẫm từ cổ đến kim thì phải nhận thức rằng:” Quảng Bình là miền vương địa của nhà Nam Đã đứng vào vị trí trung tâm của đất nước; Rất dễ dàng nhận lãnh sinh khí của cả hai miền Nam Bắc
Địa linh Quảng Bình hầu như đã góp phần nung đúc tinh hoa trở thành những bậc nhân kiệt của Tổ Quốc cả võ lẫn văn:
“… Quê ta có lắm tướng tài Hữu Dật, Hữu Cảnh mấy ai dám bì…”
là không ai mà không nhớ đến vị tướng anh dũng và tài ba này
1.2.1 Nguồn gốc Nguyễn Tộc
Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vốn là di duệ của đệ nhất khai quốc công thần Ức trai Nguyễn Trãi (1380-1442) Còn khởi tổ của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là Định Quốc Công Nguyễn Bặc (904-979), vị công thần khai quốc Nguyễn Huân triều nhà Đinh quán ở Hoa Lư,Châu Đại Hoàng ( sau là Đại Hữu Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình).Nhưng dòng dõi của khởi tổ Nguyễn Bặc về sau này lại có quê ở Gia Miêu Ngoại Trang, Tống Sơn tỉnh Thanh Hóa Hiện ở Từ đường khởi Tổ Nguyễn Bặc vẫ còn bức Hoành Phi có 3 chữ đại từ “Khởi Đại Đường” dịch nghĩa:
Từ đường khởi đầu ( họ Nguyễn), chung quanh bái đường cũng còn treo thờ rất nhiều câu đối, thơ văn từ đời Lê Thánh Tôn (1460- 1494) đã truy tặng
Trang 910-Nguyễn Ưng Long
Định Quốc Công, công thần khai quốc nguyên huân triều nhà Đinh (ngài bị giết vì chống Lê Hoàn)
Đô Kiểm Hiệu phò 3 triều: Đinh, Lê, Lý (đến khi cha là Nguyễn Bặc bị sát hại, ông đã cùng em là Nguyễn Đạt
bỏ trốn qua Bắc Giang, dần dần lập nên 2 chi họ Nguyễn
ở Kinh Bắc và Sơn Nam (Hà Đông)
Tả Quốc Công Tham tri chính sự nhà Tiền Lê
Tả Đô Đốc đời Lý-Anh-Tông 1145
Đời Lý (1210) đi ở ẩn ở chùa Phù Dực kinh Bắc, Đời Trần được phong Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương, lấy Công Chúa Ngoạn Thiềm nhà Trần
Đô Hiệu Điểm triều Trần 1225-1257
Bình Nam Đại tướng quân triều Trần qua các niên kỷ từ 1314-1377
Hữu Hiệu Điểm cuối triều Trần (cụ Công Luật còn có tên là Phi Loan) sau bị nhà Hồ giết hạ thân quyến
Quản quân Thiết Hổ (Trần phế đế 1398-1399) bị giết năm 1399, trong vụ thảm sát ở thàn Tây Đô
Phi Khanh 1355(Ất mùi) quê ở Chi ngại Hài dương,đỗ tiến sĩ đời Trần Duệ Tông 1374.Khi đỗ rồi ông vẫn đi dạy học.Sau được bổ chức Kiếm chính (một chức quan nhỏ đời nhà Trần).Năm 1401 làm quan đời nhà Hồ Khi
Trang 10giặc Minh xâm lăng ông bị bắt qua Yên Kinh giam tại Vạn Sơn Điếm (Hồ Bắc,Trung Quốc) Truyền khi mất, ông được an táng tại quê nhà phía nam núi Bái
Vọng,Chi Ngại,Hải Dương
Cuối đời tiền Tổ là Nguyễn Ứng Long, tiếp đến đầu đời hậu Tổ là Nguyễn Trãi, quãng thời gian này trong phả khởi nguyên đường có ghi:”… Từ vụ án Lệ Chi Viên! Để giữ bí mật dòng dõi của hậu Tổ Nguyễn Trãi, nên mỗi khi viết tộc phả, từng chi phải tùy tiện chép sai, cố tình ghi sai lệch cả thế thứ; thậm chí có nhiều chi phái còn ém gia không chép tiếp nữa; hoặc hiều ngành đã bôi hẳn tên Nguyễn Ứng Long và Nguyễn Trãi, hoặc lấy tên Tổ khác điền vào( Theo Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền: Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng Miền Nam nước Việt cuốc thế kỉ XVII)
1.2.2 Phả hệ dòng Nguyễn Hữu
Tính từ hậu Tổ Ức trai Nguyễn Trãi 1380 đến Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh 1650: được 270 năm, tiếp 9 thế hệ phần đông được sinh ra và làm quan dưới triều Lê, đều có công to,danh lớn; nhưng đến 3 thế sau kể từ đời Triêu Văn Hầu Nguyễn Triều Văn lại phò Chúa Nguyễn Trải 6 triều chúa, từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng(1558-1613) đến Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu 1691-1725 Trong thời gian
142 năm, tất cả ông cháu,cha con, anh em dòng Nguyễn Hữu đã lập nên nhiều công nghiệp thật kỳ vĩ,nêu những thành tích rạng rở núi sông Nhất là Đàng Trong, miền Nam nước Đại Việt ở cuối thế kỷ 17
Trang 11
Bảng Lược Phả Dòng Nguyễn Hữu
1 Nguyễn Trãi
2 Nguyễn Công Duẫn Nguyễn Anh Võ
( Hoàng Quốc Công) ( Sùng Quốc Công)
Ông Anh Võ có 7 con trai Con đầu là Nguyễn Tạc
3 Nguyễn Đức Trung
( Trình Quốc Công triều Lê)
4 Nguyễn Hữu Vinh Nguyễn Thị Hằng
( Hùng Quốc Công) ( Chánh hậu vua Lê Thánh Tông 1460) Tức Hoàng Hậu Trường Lạc
5.Nguyễn Hữu Đạc (Tức Đạo hay Nguyễn Hữu Thích)
(Tùng nhơn Hầu hay Tùng dương Hầu)
6.Nguyễn Hữu Dẫn
(Cẩm hoa Hầu triều Lê)
7.Nguyễn Triều Văn
(Triều Văn Hầu triều Lê và Nguyễn sơ)
8.Nguyễn Hữu Dật
(Chiêu vũ Hầu triều Nguyễn sơ)
9.Nguyễn Hữu Hào Nguyễn Hữu Cảnh (Kính) (Hào Lương Hầu (Lễ Thành Hầu
Hào Đức Hầu) Nguyễn Phước Lễ)
Trang 12Theo gia phả Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là cháu nội của quan Tham Chiến Triều Văn Hầu Nguyễn Triều Văn, cha của Lễ Thành Hầu là Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật và mẹ là bà Nguyễn Thị Thiện
Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật có tài kiêm toàn văn võ; Ông là danh thần Triều Chúa Sãi, là tác giả thi tập “ Hoa Vân Cáo Thị” ở tiền hậu bán thế kỉ 17 Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh có 4 anh em cùng cha cùng mẹ là:
Anh trưởng, Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào,( còn gọi là Nguyễn Hữu Bang), Ông cũng là một danh tướng triều Chúa Nguyễn và là tác giả thi phẩm “ Song Tinh Bát Dạ” ở đầu thế kỉ 18
Như vậy theo gia phả Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là
Hậu duệ 19 đời của khởi Tổ Nguyễn Bặc
Hậu duệ 9 đời của Tổ Nguyễn Trãi
Cháu bàng hệ 7 đời của Tổ Nguyễn Trác
Cháu bàng hệ 5 đời của Tổ Nguyễn Kim
Cháu nội của Triêu Văn Hầu Nguyễn Triều Văn
Con trai thứ 3 của Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật
Em ruột của Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào
Nhìn vào 2 bảng gia phả thì Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vốn sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm quan, có cống hiến rất nhiều cho các triều đại phong kiến Việt Nam Đến đời của Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh,Ông tiếp tục nối tiếp truyền thống của dòng họ mình Cũng chính vì sinh trong một gia đình
có truyền thống như vậy nên trong con người của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh
đã sớm nhận thức được trách nhiêm của mình, cũng từ đó đã hình thành nên những tính cách và phẩm chất cao đẹp của Ông vậy
1.3 CUỘC ĐỜI
1.3.1 Tên thật, năm sinh
Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh tên thật Nguyễn Hữu Thành húy là Kính ( Cảnh)
Phần đông người Viêt hay kiêng tên húy Do đó Kính được gọi chệch ra là Cảnh Về sau nhân dân miền Nam quá trọng vọng Ông, họ đã tự động húy cả hai tên: Kính gọi là Kiến hoặc Kiếng,Cảnh gọi là Kiểng( Chợ Tân Kiểng, chậu Kiểng)
Trang 13Mãi khi ông mất rồi, người đời sau chép tiểu sử mới dám viết rỏ tên ông là Nguyễn Hữu Cảnh.Như bây giờ thường thấy tên Ông được ghi trước các đền thờ Ông khắp ở miền Nam là Nguyễn Hữu Cảnh Còn tên húy là Kính chỉ được nêu ở quê hương Quảng Bình
Theo truyền thống dân gian xưa Ông cũng có một tộc danh là Lễ.Vì thế, khi ở chức Cai Cơ, Ông được Chúa ban tước Hầu đặt là Lễ Tài Hầu, Lễ Thành Hầu; Đây
là lần đầu tiên thấy tên Thành của Nguyễn Hữu Cảnh đã được Chúa lấy đặt tước là
Lễ Thành Hầu; tước vị này có từ 1692
Nhân đó để tỏ lòng kính trọng Ông, dân chúng trong vùng Đàng Trong ngày ấy đều xưng tụng Ông là Lễ Công Sau này danh tước Lễ lại được đại chúng hóa một cách vừa thân thương vừa tôn quí như: Chưởng Dinh Lễ, Ông Chưởng Lễ, Thượng Đẳng Lễ
Ngày xưa, khi còn trong quân ngũ, ông cũng có một biệt danh là Hắc Hổ, tục truyền vì ông có tướng mạo hùng dũng với nước da đen;Hợp lý hơn vì ông tuổi Dần, cầm tinh con hổ
Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh sinh năm 1650 năm canh Dần tại một nơi
mà sau này gọi là thôn Phước Long, xã Chưởng Tín, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình.Ông mất năm canh Thìn năm 1700 tại Rạch Gầm,( Ngã Ba Tiền Giang) Đình cữu tại Cù Lao Phố Đồng Nai( Biên Hòa) thọ 51 tuổi được truy tặng Đặc Tấn Chưởng Dinh Tráng Hoàn Hầu, thụy là Trung Cần( gia phả, ghi tước và thụy được truy tặng lần sau chót là Vĩnh An Hầu, thụy Cương Trực)
1.3.2 Thuở thiếu thời- đường võ nghiệp
Truyền thuyế kể rằng: Khi Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh còn nhỏ mà đã có tính khí ngang tàng, ưa mạo hiểm; nhất là tinh thần thượng võ đã sớm nảy nở ở trong Ông
Ông rất tâm đắc về khu Vườn Dầu ở phía sau thôn nhà, nên Ông thường rủ bạn
bè đến múa võ Tục truyền hỡi khi nào chia phe đấu vật, Ông chỉ thích đấu với bạn nào nhỉn hơn mình một chút,nhưng về khí giới thì nhất thiết phải dùng ngang nhau Mỗi khi thách thức, Ông thường rất tháng phục những bạn nào có tính anh hùng, nhưng thường chế nhạo những người nhút nhát!
Tuy vậy, với nếp sống khuôn khép của gia đình, Ông cùng các anh em chịu sự giáo huấn của cha mẹ về mọi lẽ cương nhu ở đời, cũng như theo nền đạo lý nếp nhà
Trang 14Từ niên thiếu đến trưởng thành Ông học cũng thông võ lại càng giỏi Gia đình thấy rỏ Ông sớm rành võ thuật, cha Ông thường xuyên khuyến khích, cho tập tành xong pha các trận mạc, nên Ông lại thêm phần gan dạ và am tường mọi binh pháp Nhiều khi chỉ riêng mình đối phó, Ông cũng đã tự lập khá nhiều chiến công; Được Chúa Nguyễn Phúc Chu cử giữ chức Cai Cơ
Chính thời kỳ này Ông đã nghiên cứu kế sách “ dẫn thủy nhập điền”, làm lợi cho nông dân bản hạt Sau khi suy tính nhắm vị trí kỹ càng suốt từ Nguồn Trạm (
do sông Nhật Lễ chảy vào) đến miền khô Vạn Xuân , Ông lập tức ra kế hoạch hô hào cho khởi động đào một nhánh Hói dài từ Đập Thâm Mưng thông qua Phá Hạc Hải, chạy ra xóm Giữa đến khe Đá Xanh( Khe Phủ, gọi là Hói Phước Lương; còn
có thêm Hói Bến Đá; Hói Chooc )
Ông còn góp ý với người em khác mẹ là Nguyễn Hữu Dũng tạo lập nên 2 làng
Bồ Mừng và Thanh Quít tại xứ Gò Bồ( khu rừng quít ở Quảng Nam xư; đến nay còn di tích)
Riêng về sở học Võ Công của Ông xưa kia còn truyền tụng rằng: môn võ gia truyền đã tạo cho Ông một thế đứng vững vang từ thuở hoa niên Dần dần Ông trở thành vị Sư Tổ đã dày công khai sáng ra một môn phái, ấy là môn “ Võ Bạch Hổ”; danh hiệu Bạch –Hổ- Sơn- Quân- Phái đã khét tiếng một thời ở Xứ Đàng Cựu
Về mặt đạo đức, Ông rất giống Cha và anh trưởng Hữu Hào.Đây là điểm son nổi bật của dòng Nguyễn Hữu trong tất cả mọi hoàn cảnh, trường hợp và thời điểm Như thân phụ Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật xưa đã vang danh là người nhân từ phúc hậu Khi mất Chiêu Vũ Hầu được nhân dân quanh vùng tôn vinh là Phật- Bồ- Tát; lại như bào huynh Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào, sinh thời Ông Hào cũng rất đạo đức nhân hậu, đến khi mất được Chúa tặng hiệu Đôn Hậu Quận Công, thụy
là Nhu Từ
Năm Nhâm Thân (1692) Chúa phái Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống Binh an định bờ cõi Tại vùng ven biển, trải hai năm liền Ông đã tích cực phấn đấu gặt hái được nhiều kết quả khả quan và nhất là để lại nhiều dấu ấn nhân hậu:
- Ổn định phủ Bình Thuận
- Hòa đồng sắc tộc Chăm - Việt
- Cải cách hài hòa nền văn hóa hợp chúng
Trang 15Qua thành tích trên, Ông được thăng chức Chưởng cơ, làm Trấn phủ dinh Bình Khương (Khánh Hòa ngày nay)
Xuân Mậu Dần 1698, Chúa lại cử ông làm Thống suất kinh lược xứ Đồng Nai (gồm cả Sài Côn Bến Nghé)
Thuở ấy Ông cho đóng đại bản doanh tại Cù Lao Phố còn gọi là Đông Phố (Đồng Nai) Ngoài mỏm đất này ra chung quanh toàn là rừng núi âm u: phần đất đai hoang hóa đầy hiểm trở, sông rạch thì chằng chịt, gai góc ngút ngàn, đầy rẫy hang ổ của các loài mãnh thú, ác ngư
“ Đồng Nai địa thế hãi hùng Dưới sông sấu lội, trên giồng cọp um ’’
Phần nhân chủng tuy gồm các sắc tộc: Khơme, Chăm, Việt, Hoa nhưng lại quá ít ỏi vắng vẻ, đời sống sinh hoạt còn quá thô sơ nghèo nàn Với ý chí quả cảm
và lòng yêu nước thương dân, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh kiên quyết vượt gian nguy, vạch ra kế sách cấp thiết cùng quân dân gấp rút liên tiếp thi hành:
- Khai hoang mở cõi
- Dàn xếp biên cương
- Bảo vệ chủng dân và vùng đất mới
- Thiết lập cơ sở hành chính thôn xã có quy củ
- Lập phủ Gia Định và chính thức cho sát nhập vào bản đồ Đại Việt
- Đề xuất công trình chiêu mộ lưu dân và khuyến nông
Tận tâm tận lực trong vòng chưa đầy một năm, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh
đã thành công rực rỡ trước mọi phương án do ông đề ra Riêng công trình di dân đã được đa số dân chúng miền Phú Xuân Ngũ Quảng hưởng ứng, nhất là nhân dân vùng Bố Chánh Quảng Bình đã sốt sắng đáp lời kêu gọi của bậc lãnh tướng đồng hương mà họ hằng kính yêu, nên đã hăng hái rủ nhau vào Đồng Nai lập nghiệp rất đông - Điển hình bằng cả những câu ca dao thời ấy, ví dụ:
“Làm trai cho đáng nên trai Phú Xuân cũng trải Đồng Nai cũng từng”
Chốn rừng rậm đầm lầy quanh vùng Đồng Nai Bến Nghé đã nhanh chóng trở thành phủ Gia Định rộng lớn, đầy sinh khí , mà Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh
đã là vị Thống suất kinh lược có công đầu trong lớp người khai sơn ra phủ Gia
Trang 16Định, là ân nhân mở đường đưa dân chúng đến cuộc sống hạnh phúc ấm no tại vùng đất mới này:
"Nghĩa nhân chủng hằng tâm đắp xây Đại Việt,
Ơn biển trời lao khó gầy dựng Đồng Nai"
Không những ông là vị tướng khai biên xuất, nhà chính trị tài giỏi mà còn là người giàu đức tính, đầy lòng nhân hậu, và có một tâm hồn thuần phác ’’Uống nước nhớ nguồn", với lòng yêu, quê hương Tổ Quốc thiết tha Đặc biệt, Ông đặt nặng tình lưu luyến chân thành với sinh quán Quảng Bình của ông Ông đã đem từng tên của hai huyện Phước Long Tân Bình ở tận Quảng Bình vào đặt tên cho vùng đất mới khai hóa này, mà đến nay phần lớn vẫn còn Trước hết là hai huyện Phước Long (vùng Đồng Nai) và Tân Bình (vùng Sài Côn Bến Nghé) Rồi còn biết bao thôn xã khóm ấp được mang tên Bình hoặc Tân như: Bình Dương, Bình Đông, Bình Tây, Bình Tiên, Bình Trị, Bình Long, Bình Quới, Bình Hòa, Bình Điền, Bình Phước, .Tân Định, Tân Hưng, Tân Khai, Tân Thuận, Tân Mỹ, Tân Phước, Tân Thạnh
Do công nghiệp ấy, ân đức ấy, Ông đã được nhân dân trong vùng kính trọng,
họ tỏ lòng tôn kính uy danh ông, không dám gọi tên húy luôn cả hai tên Kính và Cảnh mà chỉ tôn xưng bằng chức tước của ông là Quan Chương Cơ, quan Thống Suất và tôn quý gọi là Lễ Công, Đức Ông
Hai năm sau, Triều đình tái cử ông đi dẹp yên biên cương với chức Thống binh Lần này, ông cũng dùng chính sách ôn hòa, đem nhân tâm thu phục lòng người là chính
Công cuộc an định biên cương mau chóng hoàn tất, Ông hạ lệnh dong thuyền xuôi dòng Cửu Long về Dinh Trấn Nhưng khi về đến ngã ba Tiền Giang - Rạch Gầm (tục còn gọi quãng này là Sầm Giang) Ông bị bệnh mất đột ngột! Khi ấy nhằm ngày 9-5 Canh Thìn (1700) Quan quân bàng hoàng xao động, âm thầm đưa linh cữu của ông về đình cữu và huyền táng cạnh dinh Trấn Biên Đồng Nai, thuộc thôn Bình Hoành, Cù Lao Phố
Trang 172.1.1 Sơ lược Quốc gia Chămpa
Vương quốc Chăm Pa là một quốc gia độc lập, tồn tại liên tục qua các thời kỳ
từ năm 192 đến năm 1832 qua các tên gọi Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành và cuối cùng là Chăm Pa trên phần đất nay thuộc miền Trung Việt Nam Cương vực của Chăm Pa lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam và từ biển Đông cho đến tận miền núi phía Tây của nước Lào ngày nay Văn hóa Chăm Pa chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ,Campuchia và Java đã từng phát triển rực rỡ với đỉnh cao nghệ thuật mà nhiều
di tích đền tháp và các công trình điêu khắc đá, đặc biệt là các hiện vật có hình linga vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay cho thấy ảnh hưởng của Ấn giáo và Phật giáo là hai tôn giáo chính của chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa Chăm Pa hưng thịnh nhất vào thế kỷ thứ 9 và 10 và sau đó dần dần suy yếu dưới sức ép Nam tiến của các vương triều Đại Việt từ phía Bắc và các cuộc chiến tranh với Đế quốc Khmer Năm 1471, Chăm Pa chịu thất bại nặng nề trước Đại Việt
và bị mất phần lớn lãnh thổ miền bắc vào Đại Việt Phần lãnh thổ còn lại của Chăm
Pa tiếp tục bị các chúa Nguyễn thôn tính lần hồi và đến năm 1832 toàn bộ vương quốc chính thức bị sáp nhập vào Việt Nam
Nhà nước của người Chăm
Lịch sử vương quốc Chăm Pa được khôi phục dựa trên ba nguồn sử liệu chính Các di tích còn lại bao gồm các công trình đền tháp xây bằng gạch còn nguyên vẹn cũng như đã bị phá hủy và cả các công trình chạm khắc đá
Trang 18 Các văn bản còn lại bằng tiếng Chăm và tiếng Phạn trên các bia và bề mặt các công trình bằng đá
Các sách sử của Việt Nam và Trung Quốc, các văn bản ngoại giao, và các văn bản khác liên quan còn lại
Vương quốc Chăm Pa không phải là một quốc gia có thể chế chính trị "Trung ương tập quyền" mà là một dạng nhà nước liên bang gồm tộc người Chăm chiếm đa
số và một số tộc người nhỏ hơn ở vùng núi Tây Nguyên Có những nguồn tài liệu cho biết Chăm Pa có thể được kết hợp từ bốn tiểu quốc là Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga Mỗi Tiểu quốc đều có thể chế chính trị theo hình thức tự trị và có quyền ly khai khỏi liên bang để xây dựng quốc gia riêng độc lập Vương quốc Chăm Pa đã trải qua nhiều triều đại với nhiều lần dời đô từ Bắc vào Nam và ngược lại
Dân tộc chính của Chăm Pa là tộc người Chăm được chia thành hai nhóm: Chăm ở phía Bắc và Chăm ở phía Nam Nhóm người Chăm ở phía Nam thuộc bộ tộc Cau (Kramuta Vanusa) và Nhóm người Chăm ở phía Bắc thuộc bộ tộc Dừa (Naeikela Vanusa) Hai bộ tộc này vừa liên minh với nhau, vừa cạnh tranh nhau quyền đứng đầu Vương quốc Chăm Pa
Thời tiền sử
Người dân Chăm Pa có nguồn gốc Malayo-Polynesian di cư đến đất liền Đông Nam Á từ Borneo vào thời đại văn hóa Sa Huỳnh ở thế kỷ thứ 1 và thứ 2 trước Công nguyên Qua quan sát đồ đất nung, đồ thủ công và đồ tùy táng đã phát hiện thấy có một sự chuyển đổi liên tục từ những địa điểm khảo cổ như hang động Niah
ở Sarawak, Đông Malaysia Các địa điểm văn hóa Sa Huỳnh rất phong phú
đồ sắt trong khi nền văn hóa Đông Sơn cùng thời kỳ ở miền Bắc Việt Nam và các nơi khác trong khu vực Đông Nam Á lại chủ yếu là đồ đồng Ngôn ngữ Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian)
Văn hóa Sa Huỳnh
Văn hóa Sa Huỳnh là xã hội tiền sử thuộc thời đại kim khí tại khu vực ven biển miền Trung Việt Nam Năm 1909, đã phát hiện khoảng 200 lọ được chôn ở Sa Huỳnh, một làng ven biển ở nam Quảng Ngãi Từ đó đến nay đã phát hiện được rất nhiều hiện vật ở khoảng 50 địa điểm khảo cổ Sa Huỳnh có đặc điểm văn hóa thời đại Đồng Thau rất đặc trưng với phong cách riêng thể hiện qua các hiện vật như rìu,
Trang 19dao và đồ trang sức Việc định tuổi theo phương pháp phóng xạ carbon đã xếp văn hóa Sa Huỳnh đồng thời với văn hóa Đông Sơn, tức khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên Người Chăm bắt đầu cư trú tại đồng bằng ven biển miền Trung Việt nam từ khoảng năm 200 sau công nguyên Lúc này người Chăm đã tiếp thu các yếu tố của văn hóa tôn giáo và chính trị của Ấn Độ Các nghiên cứu khảo cổ học của các tác giả Việt Nam đã cho thấy người Chăm chính là hậu duệ về mặt ngôn ngữ và văn hóa của người Sa Huỳnh cổ Các hiện vật khảo cổ của người Sa Huỳnh
đã cho thấy họ đã là những người thợ thủ công rất khéo tay và đã sản xuất ra nhiều
đồ trang sức và vật dụng trang trí bằng đá và thủy tinh Phong cách trang sức Sa Huỳnh còn phát hiện thấy ở Thái Lan, Đài Loan và Philippines cho thấy họ đã buôn bán với các nước láng giềng ở Đông Nam Á cả bằng đường biển và đường bộ Các nhà khảo cổ cũng quan sát thấy các hiện vật bằng sắt đã được người Sa Huỳnh sử dụng trong khi người Đông Sơn láng giềng vẫn còn chủ yếu sử dụng đồ đồng
Vị vua đầu tiên được mô tả trong văn bia là Bhadravarman, cai trị từ năm 349 đến 361 ở kinh đô Kandapurpura thuộc Huế ngày nay Tại thánh địa Mỹ Sơn, vua Bhadravarman đã xây dựng nên ngôi đền thờ thần có tên là Bhadresvara, cái tên là sự kết hợp giữa tên của nhà vua và tên của thần Shiva, vị thần của các thần trong Ấn Độ giáo Việc thờ vua như thờ thần, chẳng hạn như thờ với tên thần Bhadresvara hay các tên khác vẫn tiếp diễn trong các thế kỷ sau đó
Vào khoảng những năm 620, các vua Lâm Ấp đã cử nhiều sứ thần sang nhà Đường và xin được làm nước phiên thuộc của Trung Quốc Các tài liệu Trung Quốc ghi nhận cái chết của vị vua cuối cùng của Lâm Ấp là vào khoảng năm 756 sau
Trang 20Công nguyên Vào cuối thời kỳ này, sử sách Trung Quốc vẫn ghi Chăm Pa là Lâm
Âp, tuy nhiên, những cái tên như vậy đã được người Chăm sử dụng muộn nhất là từ năm 629, và người Khmer đã dùng muộn nhất là từ năm 657
Hoàn Vương
Vào năm 757, trung tâm chính trị của Chăm Pa đã chuyển từ Trà Kiệu xuống khu vực Panduranga và Kauthara, với kinh đô Virapura gần Phan Rang ngày nay và thánh địa tôn giáo ở quanh quần thể đền tháp là Tháp Po Nagar ở Nha Trang ngày nay nơi để thờ nữ thần đất Yan Po Nagar Năm 774, người Java đã phá hủy Kauthara, đốt đền thờ Po Nagar, và mang đi tượng Shiva Vua Chăm là Satyavarman đã đuổi theo quân giặc và đánh bại chúng trong một trận thủy chiến Năm 781, Satyavarman đã dựng bia tại Po Nagar, tuyên bố đã chiến thắng và kiểm soát toàn bộ khu vực và đã dựng lại đền Năm 787, người Java tấn công kinh đô Virapura và đốt phá đền thờ Shiva ở gần Panduranga
Chiêm Thành
Năm 875, vua Indravarman II đã xây dựng nên triều đại mới ở Indrapura (làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam ngày nay) Indravarman là vị vua Chăm đầu tiên theo Phật giáo Đại thừa và xem đây là tôn giáo chính thức Ở trung tâm của Indrapura, ông đã xây dựng một tu viện Phật giáo (vihara) để thờ bồ tát Lokesvara Các vua của triều đại Indrapura đã xây dựng ở Mỹ Sơn một số đền tháp vào thế kỷ thứ 9 và thứ 10 Thời kỳ Phật giáo ảnh hưởng ở Chăm Pa kết thúc năm 925, bắt đầu nhường bước với sự phục hồi của đạo thờ thần Siva, với sự chuyển đổi tôn giáo từ Phật giáo trở về Siva giáo vào khoảng thế kỷ thứ 10, trung tâm tôn giáo của người Chăm cũng chuyển từ Đồng Dương trở về Mỹ Sơn, đây là thời kỳ văn minh Chăm Pa đạt đến đỉnh cao
Cương vực
Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 15, lãnh thổ của vương quốc Chăm Pa có nhiều biến động về biên giới phía bắc với Đại Việt Lãnh thổ Chăm Pa ban đầu là vùng mà ngày nay bao gồm các tỉnh từ Quảng Bình, Quảng Trị cho đến Ninh Thuận, Bình Thuận Đến năm 1069, vua Rudravarman (Chế Củ) của Chăm Pa đã nhượng ba châu Địa Lý (Lệ Ninh, Quảng Bình ngày nay), Ma Linh (Bến Hải, Quảng Trị ngày nay) và Bố Chính (các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình ngày nay) cho vua Lý Thánh Tông của Đại Việt và lãnh thổ
Trang 21Chăm Pa chỉ còn từ Thừa Thiên - Huế ngày nay trở xuống Đến năm 1306, vua Jayasimhavarman III (Chế Mân) nhượng hai châu Ô, Lý cho nhà Trần Nhà Trần đổi hai châu này thành hai châu Thuận và châu Hóa nay là vùng từ Thừa Thiên – Huế cho đến Đà Nẵng Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông sau khi đánh bại quân Chiêm và sáp nhập phần lớn lãnh thổ Chiêm đã xác lập lãnh thổ Chiêm chỉ bao gồm các tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa và Ninh Thuận – Bình Thuận ngày nay
Về phía Tây, tuy lãnh thổ Chăm Pa bao gồm cả Tây Nguyên và đôi khi còn mở rộng sang tận Lào ngày nay, nhưng người Chăm vẫn duy trì lối sống của những người đi biển với các hoạt động thương mại đường biển, và chỉ định cư ở khu vực đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam Năm 1471, vua Lê Thánh Tông tách phần đất thuộc Tây Nguyên ngày nay thành nước Nam Bàn và từ đây miền đất này không còn thuộc cương vực của Chăm Pa
Các địa khu
Vương quốc Chăm Pa trong lịch sử bao gồm bốn địa khu với tên gọi xuất phát
từ lịch sử Ấn Độ Vị trí và lãnh thổ của các khu vực này như sau:
Amaravati: Nay là thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi Địa khu này có hai trung tâm là thành phố Indrapura nằm ở khu vực Đồng Dương, thuộc địa phận huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam và thành phố Simhapura nằm ở Trà Kiệu huyện Duy Xuyên, Quảng Nam ngày nay Và thánh địa Mỹ Sơn nằm ở cách Trà Kiệu khoảng 25km về hướng tây nam, nơi vẫn còn nhiều di tích đền tháp của người Chăm Địa khu này lúc mở rộng nhất bao gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, và Thừa Thiên–Huế ngày nay
Vijaya: Thủ phủ cũng là thành phố cùng tên Vijaya mà trong sách sử của người Việt gọi là Chà Bàn (thời Lê) mà sách sử Việt viết nhầm thành Đồ Bàn nằm
ở gần Qui Nhơn thuộc tỉnh Bình Định ngày nay Địa khu này là toàn bộ khu vực tỉnh Bình Định ngày nay
Kauthara: Thủ phủ là thành phố Kauthara, nay là Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa Địa khu này bao gồm hai tỉnh mà ngày nay là Khánh Hòa và Phú Yên
Panduranga: Thủ phủ là thành phố Panduranga ngày nay là thị xã Phan Rang thuộc tỉnh Ninh Thuận Địa khu này bao gồm hai tỉnh mà ngày nay là Ninh Thuận và Bình Thuận Panduranga là lãnh thổ Chăm Pa cuối cùng bị Đại Việt sáp
Trang 22nhập Dưới thời các chúa Nguyễn cũng như đầu thời Nguyễn được gọi là Thuận Thành
2.1.2 Lễ Thành Hầu nguyễn Hữu Cảnh vơi công việc bình định an dân đất Chămpa
2.1.2.1 Giao hiếu giữa Chămpa và Đại Việt
Năm 1390, sau thời gian cực thịnh của nhà Chăm( Champa).Họ bị tướng La Khải lên tiếm vị, con trai của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan chạy sang nhà Nam cầu cứu vua Trần Từ đấy giữa hai lân bang lại có sự trợ giúp, hòa giải và trao đổi
Dân Vệt từ Nghệ An, Thuận Hóa được phép đến Chiêm Động, Cổ Lụy chung sống với người Chăm, và ngược lại
Năm 1631, Chúa Nguyễn Phúc Nguyễn đã bằng lòng gã con gái công chúa Ngọc khoa cho vua Chiêm là Pô-rô-mê
Đây là lần thứ hai Chăm và việt giao hảo thông gia Sau lần công chúa Huyền trần lấy vua Chế Mân(1306) Tình Lân bang đã khởi nguồn tương đối tốt đẹp Ở vào thời gian này, dù muốn dù không, giữa hai nền văn hóa Việt- Chăm đương nhiên có ảnh hưởng lẫn nhau, dễ dàng nhất là âm nhạc và vũ điệu Đặc biệt, người Chăm đa
số vẫn giữu tính ngưỡng: Đạo Bà Xế(Brasaih: Bà la Môn), họ lễ hội ka- té và Chabur ở các Chùa Thấp cổ
Về mặt ngoại giao lân bang, kèm theo tình thông gia nên sự thần phục bên ngoài của Chăm đối với nhà Đại Việt có phần nào e dè, lắng dịu thế nhưng do sự dần co ở biên cương nên cũng khó giữ nổi ổn thỏa lâu dài! Nếu nghĩ rộng thì đầy đã như định luật chung của tạo hóa, vì xét xưa nay kể cả tiền sử, sơ sử thì ở khắp các nước trên thế giới, nhất là thời đại phong kiến, độc tôn thấy rằng không một lân bang nào thoát khỏi nạn giao tranh biên giới đi đến thôn tính lẫn nhau Trong đó có Việt Nam cũng đã từng bị ách đô hộ nhiều phen! Chỉ khác chăng- Ở tinh thần quật khởi- Ở lòng kiên trì giữ nước với một truyền thống nhân bản
2.1.2.2 Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh bình định Champa
Trong những năm 1690,1691 Lúc này người nối ngôi vua Champa là Kế Bà Tranh, ông ta nuôi ý đồ bạo động, bỏ bang giao đêm quân qua biên giới sạt hại dân
cư phủ Diên Ninh( Diên Khánh) ở mỗi độ xuân về
Trang 23Năm Nhâm thân ( 1692) vua Chiêm là Kế Bà Tranh đem quân đắp lũy, cướp giết nhân dân phủ Diên Ninh, dinh Bình Khương báo lên Với tình hình đó vào tháng 8 năm Nhâm thìn Chúa Nguyễn đã phái Lễ Tài Hầu Nguyễn Hữu Kính làm thống binh cùng vói tham mưu Nguyễn Đình Quang đem quân Chánh dinh cùng quân Quảng Nam và Bình Khương đi đánh Tháng giêng năm sau ,( năm Quí Dậu 1693), quân Việt đánh bại Chiêm Thành Vua Chiêm là Kế Bà Tranh bỏ chạy, đến tháng 3 thì bắt được Kế Bà Tranh cùng một viên quan là Tả Trà Viên Kế Bà Tử và một người trong hoàng gia Chiêm là Nàng Mi Bà Ân Chúa Nguyễn ben sai sát nhập nước Chiêm vào bản đồ nước mình, đặt làm một trấn tên là Thuận Thành Tháng 7 năm ấy Thống binh Nguyễn Hữu Kính đưa bọn Bà Tranh về nộp, Chúa sai giam ở núi Ngọ Thản( Hòn Chén) Hàng tháng cấp cho tiền gạo, vải lụa Năm sau Giáp Tuất (1694) Kế Bà Tranh mất Chúa sai hậu tán
Chưa Kịp ngơi tay lại có nhóm người Thanh , đưng đầu là Aban xúi giục bè đảng dấy loạn, giết hại lẫn nhau Nhân dân vô cùng thống khổ
Người Chiêm nổi dậy chống đối kịch liệt Viên quan Chiêm Hữu Trà Viên Ốc Nha Thác Liên kết với một người Tàu ở Thuận Thành tên là A Ban Khi vua Chiêm
Bà Tranh bị bắt thì hai người chạy về đất Địa Đồng mưu nổi loạn Ở đây A Ban đổi tên là Ngô Lãng, tự xưng mình có phép hô phong hoáng vũ, gươm đao không đọng đến được Một người Chiêm tên là Chế Vinh đốc suất nhiều dân Chiêm theo y Cuối năm Quí Dậu, Ngô Lãng đem đồ đảng cướp Phố Hài, Cai đội Nguyễn Tri Thăng đuổi theo, bị phuc binh giết chết Cai đội dinh Bà Rịa là Dực và thư kí là Mai ( đều không rõ họ) đem quân cứu viện, đều bị giết chết cả Ngô Lãng bèn mưu đánh Phan
Rí Ở đây Ngô Lãng đã dùng mưu kế đã đánh bại được Nguyễn Tấn Lễ chiếm Phan
Rí Ngô Lãng lại đem quân đến đánh Phan Rang, Chu Kiềm Thắng tự thủ.Tháng giêng năm Giáp Tuất (1694) Ngô Lãng lại bị vây ở Phan Rang.Ngô Lãng tiến quân
về giữ Ô Liêm.Bị quân Chúa Nguyễn vây đánh Ngô Lãng chạy về Phố Châm, quân Chúa Nguyễn đuổi sát, Ngô Lãng Chạy về Thượng Dã là biên giới Cao Miên Chúa Nguyễn sai cai cơ Nguyễn Hữu Kính và Văn chức Trịnh Tường tuy nghi
xử trí Cai cơ Nguyễn Thắng Hổ đem quân tiến đánh, mới dẹp yên được bọn Ngô Lãng
Sau khi dẹp xong bon Ngô Lãng đem lại sự bình yên cho nhân dân bản hạt Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh thực hiện chính sách ôn hòa, Ông luôn cư xử, mềm
Trang 24dẻo lấy nhân đức hướng tới sự hòa đồng sắc tộc.Theo truyền ngôn dịa phương… “ Buổi đó quân lính của Thống Binh Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh rất thạo nghề nông Mỗi khi rảnh việc binh, bất kì đâu, họ đều phải tham gia việc đồng ruộng giúp dân ở đó.Khi ấy ai nầy đều quan tâm làm lụng sinh hoạt bình thường” Đây là một
kế sách an dân tuyệt hảo của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, vì thế mà sao khi Ông mất, Ông đã được mọi chủng dân lập đèn thờ ở rất nhiều nơi
2.2 LỄ THÀNH HẦU NGUYỄN HỮU CẢNH VỚI CÔNG CUỘC BÌNH ĐỊNH CHÂN LẠP
2.2.1 Sơ lược quốc gia Chân Lạp
Đầu Tây lịch kỉ nguyên, nước Phù Nam,( Founan) là một trong những quốc gia
cổ có tổ chức mạnh vững ở Đông Nam Á Châu, kinh đô ở Vyadhapura( gần thành phố BaNam ngày nay) ở đông bắc kampot, tây bắc Châu Đốc ngày nay
Lãnh thổ nươc Phù Nam gồm miền nam nước Cao Miên cùng xứ Nam Bộ ngày nay,và có lẽ cả bán đảo Malacca.Người Phù Nam( trong đó gồm người Chân Lạp) thuộc giống người Úc Á, tự xưng là giống người Khmer, đã đến ở bán đảo Đông Dương từ vài thế kỉ trước tây lịch kỷ nguyên
Thâm nhiễm văn hóa Ấn Độ, theo tôn giáo, dùng chữ viết, pháp luật Ấn Độ Quan niệm vương quyền theo Ấn Độ giáo Nước Phù Nam có đời sống kinh tế hoạt động, ngoài canh nông họ còn buôn bán với ngoại quốc, thuyền buôn của nước Ân
Độ, Trung Quốc, Mã Lai và La Mã đã tới lui Óc Eo, cửa biển chánh của nước ấy Thế kỉ thứ III, Phù Nam đã giao thiệp với Trung Quốc, gởi sứ giả sang cống, năm
484 vua là Jayavarman đương đánh Lâp Ấp, gởi phẩm vật sang Trung Quốc để cầu viện
Sau khi vua là Rudravarman chết, thế kỉ thứ VI, thì các tiểu vương chư hầu không thân phục nữa Một tiểu vương chúa Rudravarman, trị vì ở phía bắc Phù Nam, tại miền Sambor là nước Kambuja ( do đó có tên là Cam Bôt, Tàu và ta gọi là Chân Lạp, ta còn gọi là Cao Miên) đêm quân xuôi dòng sông Cửu Long(Mekong), chiếm kinh đô Vyadhapura, lên ngôi vua,lấy hiệu là Bhava-Varman(550-600); quyền uy ở lưc vực sông Cửu Long đã từ Phù Nam truyền sang vua kambuja, tức vua Chân Lạp
Trang 25Những bi kí cũ nhất tìm được ở Chân Lạp ra đời từ thời gian này Trong thế kỉ sau Chân Lạp chia làm hai là Lục Chân Lạp, đất của miền Trung Lào và Hạ lào ngày nay và Thủy Chân Lạp ở phía nam là miền sông ngòi của lưu vực sông Cửu Long cho đến biển Ở Thủy Chân Lạp có lúc có hai triều vua Hậu bán thế kỉ thứ VIII, Chân Lạp bị bon cướp biển Java đến cướp phá, phải thần phục Java
Năm 802 JayaVarman 11 thống nhất Chân Lạp, thoát li Java, và đạt nền tản cho Đế Quốc Khmer
Ở các thế kỷ sau, Chân Lạp lại chiến tranh với Chiêm Thành, đã có lúc đến kinh đô Vijaya của Chiêm Thành, cũng đã có lúc người Chiêm Thành đến chiếm kinh đô Angkor của Chân Lạp vào thế kỷ thứ XII, cuộc chiến tranh kéo dài một thế
kỷ, kinh đô Angkor phải làm đi làm lại ba lần vì chiến tranh tàn phá, chiến tranh nội hoặc với chiến tranh với Chiêm thành
Thời vua Jayavarman VII (1181-1201) là thời kì lãnh thổ Chân Lạp mở rộng nhất trong lịch sử: Ngoài đất Chân Lạp,một phần đất Chiêm Thành, các tỉnh Hạ Lào, Trung Lào, các tỉnh phía đông Tiêm La, một phần đất Miến Điện, bán đảo Ma Lai, đều thuộc quyền của Chân lạp
Tuy Ấn Độ giáo là quốc giáo,nhưng phật giáo Đại Thừa từ thế kỉ thứ X, cũng
đã được chính phủ bảo vệ
Theo thể chế, vua là người đứng đầu hoàng gia, dưới vua có ba tước vị:
- Upayuvareach, tức là Thượng hoàng, vị vua thoái vị, dùng lọng 6 tầng
- Obareach, tức là đệ nhất hoàng thân, hoặc phó vương, dùng lọng 5 tầng; thường Obareach được kế vị vua sau khi băng hà
- Bà Mẫu hậu hoặc là đệ nhất hoàng nữ, dùng lọng 4 tầng
Đến thế kỷ XIV xảy ra cuộc cách mạng quan trọng về chính trị và tông giáo Một viên quan giữ vườn tên là Ta Chay giết vua rồi được tôn lên làm vua (1336-1340) Không như các triều vua trước, tự cho mình thuộc dòng dõi thần, làm môi giới giữa trời và dân, và sau khi chết, sẽ hỗn đồng với thần, triều đại mới không còn tính cách thần thánh nữa mà gần dân hơn Phật giáo tiểu thừa được công nhân là quốc giáo, vì vậy không xây dựng những đền đài đồ sộ bằng đá theo quan niệm Bà
La Môn là những công trình vừa tốn kém bao nhiêu tiền của nhà nước, bao nhiêu
mồ hôi, nước mắt của người dân mà chỉ xây cất những ngôi chùa với vật liệu nhẹ
Trang 26Tuy vậy, trong triều vẫn giữ những giáo sĩ Bà La Môn, là vì tôn trọng cổ truyền trong sự cúng lễ và những kí tái, chữ pali được thay cho chữ sanscrit
Trong cuộc cách mạng mang chính trị và tôn giáo này có những hậu quả tai hại lớn lao về kinh tế Chính sách với những hồ nước lớn, những đường mương, con đê
mà các vua trước, với uy quyền tập trung, áp dụng trong 15 thế kỷ, đã làm cho nghề nông thịnh vượng, nay nền quân chủ ấy sụp đổ, chính quyền trung ương suy yếu, hệ thống dẫn thủy tan rã, ruộng chỉ làm mỗi năm một mùa, so với 3,4 mùa trước kia, nền sản xuất giảm, dân số sụt, tiếp theo là những thất bại quân sự những cuộc bắt người đem về của quân Tiêm La mỗi khi thắng trận Chân Lạp đi vào con đường suy vong, không sao ngăn cản được
Dưới triều Ta Chay và con là Nippean Bat(1340-1346) Chân Lạp đã mất các thuộc địa ở Tiêm La ở Ai Lao và các miền ở lưu vực thượng lưu sông Menam
Và từ đó trong cung đình thường xuyên xảy ra những cuộc tranh ngôi, cũng từ
đó trong sử kí Chân Lạp,những cuộc nối ngôi, những niên đại không được ghi chép đầy đủ, người ta nhờ những đoạn sử của Tiêm La, Ai Lao, Trung Quốc có liên quan với Chân Lạp và những văn thư của các giáo sĩ, thương gia Bồ Đào Nha, Hà Lan, I Pha Nho đã đến nước này trong thế kỷ XVI để tìm biết lịch sư Chân lạp trong thời gian này
Tiêm La quyết ý đánh Chân Lạp, nên năm 1350, dời đô đến Ayuthya cho gần Năm 1351 quân Tiêm La chiếm kinh đô Angkor, đến 1357 thì Chân Lạp lấy lại Đời vua BaromRâma (1363-1373), được yên ổn giao hảo với nhà Minh, Tiêm La cũng không gây sự Nhưng đến năm 1373, vua Tiêm Ramesuen lại gây chiến tranh với Chân lạp, một cuộc chiến tranh kéo dài 50 năm Ramesuen chiếm được Angkor, bắt
70000 tù binh đem về, giết vua Chân Lạp cho con mình là Ento lên làm vua Chân Lạp(1394) Nhưng rồi Ento bị một người trong hoàng thân Chân Lạp sai người giết hoàng thân này là ChauPonhea lên ngôi vua ở Srei Santhor, đấy binh đánh quân Tiêm và sai sứ giao hảo với Trung Hoa Chau Ponhea mất con là Ponhea Yat tiếp tục chiến tranh trong 20 năm đuổi hết quân Tiêm ra khỏi nước, và lên ngôi vua năm
1432 hiệu là Soryopor (1432- 1467) Bấy giờ những vùng gần kinh đô Angkor đã
bị chiến tranh tàn phá, dân cư thưa thớt, nếu quân Tiêm trở lại xâm lăng thì không
đủ người để làm lính, nên năm 1434 Soryopor dời đô đến Chaturmakha, tức Phnom Penh (Nam Vang) ngày nay là nơi giàu có, đông dân Vua tăng cường sự phòng thủ
Trang 27các thành lũy, sai sứ giao hiếu với Trung Quốc; an ninh, trật tự được vãn hồi trong một thời gian hơn 30 năm Nhưng sau khi Soryopor mất thì trong hoàng gia chia rẻ, tranh giành, ai muốn được lên ngôi phải kêu cầu người Tiêm, và vua Tiêm tùy theo lợi ích cho mình mà đem quân giúp phe này hay đánh phe nọ, vì đó đã chiếm được
dễ dàng những đát đai Chân Lạp là Thommo Reachea, vốn đã theo phe Tiêm La trong các cuộc tranh giành vừa qua , được vua Tiêm giúp, lên làm (1474-1494) Thommo Reachea thần phục Tiêm, nhường hai tỉnh Korat và Chan Taboun cho Tiêm ấy là vị vua Chân Lạp đầu tiên do vua Tiêm đặt lên và bảo hộ
Sau khi Thommo Reachea mất, hoàng gia lại chia rẻ, tranh giành, người làm vua ở vùng này, kẻ xưng vương ở miêng khác
Năm 1505, một hoàng thân là Ang Chan I lánh nạn ở Tiêm trở về, đánh dẹp vua soán nghịch và lên ngôi vua
Vua Tiêm cho răng Chân Lạp là thuộc quốc của mình, đòi nạp cống AngChan
I không chịu, nên năm 1510, quân Tiêm chiếm tỉnh Angkor, nhưng liền bị Ang Chan I đánh đuổi Để dễ tránh sự công kích của quân Tiêm hơn, Ang Chan I lập một kinh đô mới là Loveek, có thành bằng đá bao bọc ba mặt, mặt đông liền với vùng sình lầy, quân tấn công không thể vượt qua được
Trong thời gian này, ngươi Âu Châu bắt đầu đến Cao Miên Ấy là những giáo
sĩ, thương nhân, thanh niên phiêu lưu, người Bồ Đào Nha, I Pha Nho Họ được vua Chân Lạp tiếp đãi tử tế, nhưng vì hoàn cảnh và thời gian không thuận tiện nên họ không thành công trong việc giảng đạo và buôn bán
Năm 1560, vua là Barom Reachea thu hồi được các tỉnh Korat, Chantabuon, nhưng đến năm 1853, quân Tiêm lại chiếm Battambang, Pursat, rồi Lovek, phá tan cung điện nhà vua đốt hết thư tịch
Người kế thừa hợp pháp ngôi vua Chân Lạp là Soryopor bị quân Tiêm băt đem về nước trong trận đánh chiếm Lovek Năm 1603, triều thần Chân Lạp và vị giáo chủ của giáo sĩ Bà La Môn yêu cầu Tiêm cho Soryopor về nước.Soryopor lên ngôi (1603-1618) khiến các tỉnh đều qui phục và nhờ Tiêm giúp đỡ, bình định được các đât duyên hải vịnh Tiêm La Vua này thần phục Tiêm La, buộc các đại thần ăn mặc áo dài màu vàng như người Tiêm La và áp dụng nghi lễ như ở triều đình Ayuthya Nước Chân Lạp đã bình định , nhưng lại rơi vào ảnh hưởng Tiêm La Sự phản ứng không thể tránh khỏi Năm 1618 Soryopor phải thoái vị nhường ngôi cho
Trang 28con là Chey Choetha ( hoặc Chey Chesdha II,) 1618-1628 Em Chey Choeatha là Prehoutey làm Obbareach Vua này phục hồi triều nghi Chân Lạp không thần phục Tiêm La nữa và để bài tỏ ý trí phục hưng và độc lập, dời cung điện đến Oudong; Oudong trở thành kinh đô của Chân Lạp cho đến năm 1867
2.2.2 Nội tình nước Chân Lạp
Năm 1628, vua Chey Chetta II từ trần, triều đình Chân Lạp liên tục xảy ra các cuộc tranh chấp ngôi giữa những hoàng thân Nhiều nhà vua bị anh em họ, rể, cháu giết chết một cách thê thảm
Theo Biên Hòa sử lược toàn biên (Quyển 2) thì Ngọc Vạn sống với vua Chey Chetta II, đã sinh được một trai là Chan Ponhéa Sô và một gái tên là Neang Nhéa Ksattrey
Sau khi Chey Chetta II mất, liền xảy ra việc tranh quyền giữa chú và cháu Chú là Prea Outey, em ruột của Chei Chetta II, giữ chức Giám quốc và cháu là Chan Ponhéa Sô (ở ngôi: 1628-1630) , con của Chey Chetta II và Công nữ Ngọc Vạn
Trước đây, lúc vua Chei Chetta còn sống đã định cưới Công chúa Ang Vodey cho Hoàng tử Chan Ponhéa Sô Nhưng chẳng may, khi nhà vua vừa mất thì Préa Outey, tức là chú ruột của Chan Ponhéa Sô, lại cưới nàng Công chúa này trong khi Hoàng tử còn đang ở trong tu viện Sau khi rời tu viện, Chan Ponhéa Sô lên ngôi và trong một buổi tiếp tân, nhà vua trẻ gặp lại nàng Ang Vodey xinh đẹp Sau đó, cả hai đã mượn cớ đi săn bắn để gặp gỡ, nhưng không ngờ Préa Outey biết được liền đuổi theo và giết chết hết vào năm 1630, sau khi làm vua mới được hai năm
Người con thứ hai của Chey Chetta II lên thay với vương hiệu là Ponhea Nu (ở ngôi: 1630–1640) Năm 1640, Ponhea Nu đột ngột băng hà, Phụ chính Préah Outey liền đưa con mình lên ngôi tức quốc vương Ang Non I Nhưng Ang Non I cũng chỉ làm vua được hai năm (ở ngôi: 1640-1642) thì bị người con thứ ba của Chey Chetta
II là Chau Ponhea Chan (Nặc Ông Chân Mẹ ông là người Lào) dựa vào một số người Chăm và người Mã Lai, giết chết cả Préah Outey và Ang Non I để giành lại ngôi vua
Nặc Ong Chân lên ngôi (ở ngôi: 1642-1659), cưới một Công chúa người Mã Lai theo đạo Hồi (Islam) làm Hoàng hậu và nhà vua cũng bỏ quốc giáo (Phật giáo Tiểu thừa) để theo đạo của vợ Điều này cùng với việc cho người Mã Lai và người
Trang 29Chăm được nhiều ưu đãi, đã gây bất bình trong giới hoàng tộc và dân chúng Chân Lạp
Năm 1658, con của Préah Outey là So và Ang Tan dấy binh chống lại Nặc Ông Chân nhưng thất bại Nghe lời khuyên của Thái hậu Người Việt, So và Ang Tan cầu cứu chúa Nguyễn Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần liền sai Phó tướng dinh Trấn Biên (Phú Yên) là Nguyễn Phước Yến dẫn 3000 quân đến thành Hưng Phước (bấy giờ là Mỗi Xuy, tức Bà Rịa), phá được thành rồi tiến vào bắt Nặc Ông Chân bỏ vào cũi đem về giam ở Quảng Bình
Năm sau (1659), Nặc Ông Chân chết chúa Nguyễn phong cho So làm vua Chân Lạp, hiệu là Batom Reachea (ở ngôi: 1660-1672) Từ đó, lưu dân Việt đến Gia Định, Mỗi Xuy (Bà Rịa), Biên Hòa ngày càng đông để khai khẩn đất đai
Năm 1672, vua Batom Reachea bị một người vừa là rể vừa là cháu là Chey Chetta III giết chết, em là Ang Tan (Nặc Ông Tân) chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn Nhưng ngay sau đó Chey Chetta III cũng bị người của Nặc Ông Chân sát hại
Ang Chei (Nặc Ông Đài, ở ngôi: 1673-1674) con trai đầu của vua Batom Reachea lên ngôi Ông Đài cho đắp thành lũy ở địa đầu Mỗi Xuy, nhờ Xiêm cứu viện để chống lại chúa Nguyễn
Bị quân Xiêm đánh đuổi, Ang Tan cùng cháu là Ang Nan (Nặc Ông Nộn) chạy sang Sài Côn kêu cứu chúa Nguyễn Năm 1674, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Nguyễn Dương Lâm và Tham mưu Nguyễn Đình Phái chia quân làm hai cánh cùng tiến lên Chân Lạp Nặc Ông Đài bỏ thành Nam Vang chạy vào rừng, để rồi bị thuộc hạ đâm chết
Cuối cùng sau khi Nặc Ông Đài mất, người em là Nặc Ông Thu (Ang Sor) ra hàng Để giải quyết tình trạng "nồi da xáo thịt" dai dẳng này, chúa Nguyễn cho Nặc Ông Thu làm Chính vương, đóng đô ở Phnom pênh (Nam Vang), cho Nặc Ông Nộn làm Đệ nhị vương, đóng đô ở khu vực gò Cây Mai (thuộc Sài Côn, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) Mong dễ bề nhờ cậy uy thế của triều đình Đại Việt, chờ cơ hội đánh Nặc Thu Nội tình của họ lúc ấy vô cùng gay go Riêng về mặt ngoại giao với lân bang thì cả Chánh Vương lẫn Đệ Nhị Vương điều tỏ ra cung thuận nhà Nguyễn
2.2.3 Công việc bình định Chân Lạp của Lễ Thành Hậu Nguyễn Hữu Cảnh
Qua thời gian khá yên tĩnh giữa Việt-Miên Năm Mậu Dần 1698 triều Chân Lạp muốn tái diễn gây rối Họ viện cớ hận Đại Viết từ thời trước đã dung túng Nặc
Trang 30Nôn Thế là Nặc Thu cho đấp lũy Bích Đôi và Cầu Mang( Nam Vang); mục đích họ dùng hai nơi này làm thế chắn vững vàng cho việc ẩn núp, để cướp bóc dân buôn, bất kể người Miên, Hoa hay Việt Phía Hoa thương thiệt hại khổ sở nhiều nhất, được thế họ xua quân qua đốt nhà dân cư ven biển, tiến đến phá phách đồn lũy Đại Việt Khi ấy tại, tại Trấn Doanh Châu( Vĩnh Long) vẫn có tướng Long Môn là Trần Thượng Xuyên( người Hoa) Không chống nổi phải cấp báo về triều đình Phú Xuân Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất cùng Phó tướng Phạm Cẩm Long, Tham tướng Nguyễn Hữu Khánh đem quân lính từ Dinh Bình khương Cho giong 7 thuyền chiến của thuộc binh Quảng Nam vào Trân Biên, thuyền chiến hợp cùng tướng Trần Thượng Xuyên lo việc đánh dẹp và an dân bảo vệ biên cương.Tháng 2 năm Canh Thìn quan quân tiến đóng Rạch Cá( Ngư Khê): “ có sách viết ở Tân Châu” Dò xét tình hình quân địch.Tháng 3 Trần Thượng Xuyên giao chuyến với Chân Lạp mấy trận đều thắng, rồi quan quân tiến đến lũy Bích Đôi và NamVang Nặc Thu lui trước, quân Chân Lạp, quan quân tiến đánh hạ đồn Bích Đôi.Tháng 4 Nặc Thu vua Chân Lạp ra đầu hàng Nguyễn Hữu Kính sử dụng chính sách đoàn kết các dân tộc,
an ủi, không phân biệt đối xử dù là Khmer, Hoa hay Việt, khuyến khích giữ gìn tình thân thiện, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc gặp khó khăn, hoạn nạn, dân chúng tin theo
Truyền tụng lần hành quân này, ngoài thời giờ luyện binh, thì bất cứ lúc nào, làm gì … và ở đâu Lễ Công cũng luôn để tâm quan sát đến đất từng vùng, lấy việc khuyến nông, để thường xuyên an ủi vổ về chúng dân, nêu gương tình quân dân cá nước riêng tình cảm đồng đội quân ngũ, Ông tỏ ra rất thân thiện, thấu đáo mọi hoàn cảnh; Ngược lại các sĩ tốt đều kính trọng mến phục tài năng đức độ của ông- Thế nhưng về mặt binh quyền vị Thượng Tướng lại rất thẳng thắn trong việc thưởng phạt, còn kỉ luật thì tuyệt đối nghiêm minh Lại truyền rằng, mỗi khi đến một nơi nào, Ông hằn nhắc nhở binh lính phải kính già yêu trẻ, luôn giữ vững tinh thần: “ Dĩ binh vi nông, dĩ nông vi binh”, mỗi khi cần đến, phải thi hành ngay Do vậy quan quân Đại Việt rất được lòng dân chúng ở mọi nơi mọi chốn
Xét về địa hình tại chổ, Thống Binh Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh quan sát rât nhăm lẹ cho cả việc hành quân thiết yếu lẫn việt lưu thông của địa phương Hơn nữa Ông còn tập trung mũi nhọn vào công việc canh tác, rõ ràng về vấn đề canh tác đã là chính sách của Ông trong mọi tình huống Vẫn theo truyền tụng địa
Trang 31phương: “ vào thời điểm Ông lớn: suốt vùng này ngoài cây lúa chính sớm, các dân đinh thường rủ nhau vào rừng đốn tràm- Đào mương giữ nước mưa, lấy đất nền nhà, lấy tràm dựng liều ở tạm.” Sau đó từng bước họ còn dò dẫm sình thổ, chông tràm, nước mặn, nước phèn Hoặc có nơi rừng núi còn mịt mù… thì họ thận trọng hơn nữa…
Mau chóng nắm được tình hình, Thống Binh Nguyễn Hữu Cảnh lập tức ra quyết định cho quân sĩ vét sâu, khơi rộng thêm nhánh sông Tiền rẽ ngang xuống sông Hậu và ra đề án trổ vài mương phụ tiếp với các mương mà dân đã đào Dòng nước ngọt lưu thông đến tân nơi Làng, Ấp mới, đang khai khẩn
Ngay từ buổi khởi công,ngay từ khi khởi công, dân chúng đều nhân rõ ích lợi thiết thức cho bản hạt họ Nhất là dân tộc Miên cư ngụ tít phía sau sông( tục gọi là sông “ Dắt Cây Sung”) Khi đó thảng hoặc đã có chổ cả hai dân tộc Việt Miên ở lẫn lộn với nhau.Thấy vậy họ cũng tự động hăng hái tham gia công việc này Bỗng nhiên tất thảy trở thành những cở, đội phù đào vét lòng sông dài từ khúc phía Nam huyện Đông Xuyên gần ( gần bờ Vàm Thủ Ngự Hùng Sai đến Vàm Cái Hồ Đổ xuống Hậu Giang)
Công việc nhanh chóng hoàn toàn: Sông sâu, lòng rộng- thuyền bè qua lại dễ dàng, đến việc giao lưu vần công chuyển canh rất mau chóng tiện lợi Nhất là có dòng nước ngọt quí giá cho người và cho việc tưới tắm hoa màu Thật là một phương sách tuyệt hảo dành cho nhà nông Nhân dân ở đây tiếp tục đào thêm nhiều mương rạch khác; nước ngọt luân lưu khắp nơi, có từ xóm nọ qua xóm kia họ cũng chèo ghe; Ngay cả người Miên, họ đã làm thêm thuyền ngo dạng nhỏ bé để lại, giao dịch, đổi chác mọi vật dụng hàng ngày Nhờ vậy tình thân thiện giữa các dân tộc có
sự hòa hợp hơn.Tình quân dân ngày càng đậm đà hơn
Dân chúng trong vùng đều nhận rỏ việc làm của mình được che chở thỏa đáng,
ai nấy đều hân hoan phục tùng vị thống lĩnh Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh; và niềm kính trong bậc huân hiền này Họ đã cùng nhau gia sức bồi đấp thảm lúa đồng Cửu Long, ngày thêm xanh tốt trĩu hạt vàng…Truyền rằng sau đó ít lâu, vùng này
đã xuất hiện rất nhiều câu ca dao, đại ý diễn tả sự việc nêu trên Cho đến bây giờ nhiều câu ca dao đã trở thành khúc hát truyền khẩu địa phương
“ Anh đi lục tỉnh giáp vòng
Tới đầy trời khiến đem lòng thương em…”
Trang 32“… Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Công người xa xứ lạc loài tới đây
Tới đây thì ở lại đây
Bao giờ bén rễ xanh cây thì “dzề”( về)…”
2.3 LỄ THÀNH HẦU NGUYỄN HỮU CẢNH KINH LƯỢC XỨ ĐÔNG NAI 2.3.1.Nguyên thủy vùng Đồng Nai
Xưa, một thời đã là nước Thù Nại, sát cạnh lại có nước Bà Lị Về sau cả hai nước này đều bị nước Phù Nam kiêm tính cả
Qua thế kỷ thứ 6, đến lượt nước Phù Nam bị xóa tên bởi Tiểu Vương Kambuja (Chân Lạp) vốn người Khmer, từ miền Sombor về chiếm kinh đô Vyadhapura, lên ngôi vua (550-600) Từ đó quốc gia Kambuja ra đời (ta gọi là nước Chân Lạp hay Cao Miên)
Triều đình Chân Lạp thuở đó với bộ máy nhà nước khá quy cũ chung quanh có phố xá sầm uất, dân chúng đông vui Nhưng hầu hết chỉ tập trung ở phía Bắc; bởi suốt vùng này cao ráo…, đồi gò thoai thoải, thung lũng quảng khoát, sông nước hiền lành; (quãng này thuộc phần Trung và Hạ Lào ngày nay) được gọi là Lục Chân Lạp
Sau này ở Lục Chân Lạp cũng đã có vài sắc dân đến tụ hội buôn bán, làm ruộng; như người Việt chẳng hạn Về bản tính người Việt ưa hài hòa, dễ hòa đồng nên thường được lòng mọi chủng dân hơn Người Việt đã mở xưởng chuyên đóng tàu cho chính quyền Kambuja rất được tín nhiệm
Còn một miền thấp trũng hoang phế nằm phía Nam thuộc hạ lưu sông Cửu Long (Mekong) là phần đất của miền Nam Việt Nam hiện nay, xưa gọi là Thủy Chân Lạp, (ta gọi là Đàng Thổ) chung quanh nơi này có biển cả bao bọc chiếm già nửa! Sự thật vùng này thời đó chỉ là vùng hoang dại, gần như vô chủ, đất đai trũng úng sình lầy, sông rạch chằng chịt âm u, nơi sinh trưởng rất thích hợp của các giống
ác ngư như kình, sấu…Phần cạn thì toàn là rừng rú hiểm trở, gai góc ngút ngàn; đấy lại là nơi quyến rũ muôn loài ác thú như: Hùm, Beo, Gấu, Sói tụ về
Cả vùng hoang hóa này từ 3 thế kỷ trước ấy, ngoài danh từ đặt cho lấy là Thủy Chân Lạp hay Đàng Thổ ra thì chưa có một dấu vết gì gọi là dính líu cục bộ hành