GPR Ground Penetrating Radar - Radar xuyên đất là một phương pháp địa lý ứng dụng các nguyên lý của sóng điện từ ở dải tần số rất cao 1-1000MHz phát vào bên dưới mặt đất và thu lại sóng
Trang 1Quảng Dương Đại Vương
NGHIÊN CỨU CÁC KỸ THUẬT ĐIỀU CHẾ CHO HỆ
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
MỤC LỤC HÌNH ẢNH 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ RADAR XUYÊN ĐẤT 13
1.1 Lịch sử phát triển 13
1.2 Giới thiệu chung về radar xuyên đất 15
1.3 Nguyên lý hoạt động 16
Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA RADAR XUYÊN ĐẤT 19
2.1 Sóng điện từ - Phương trình Maxwell 19
2.2 Tính chất của vật liệu 21
2.3 Sự truyền sóng của trường điện từ 22
2.4 Tính chất của sóng 25
2.5 Phản xạ, tán xạ và truyền dẫn tại bề mặt 26
2.6 Độ phân giải và vùng tác động 28
2.7 Sự suy hao tán xạ 30
2.8 Vận tốc truyền 31
2.9 Tiêu chuẩn lấy mẫu 32
Chương 3. CÁC KỸ THUẬT ĐIỀU CHẾ TRONG RADAR XUYÊN ĐẤT
Trang 33.1 Các định nghĩa và các đặc điểm tần số vô tuyến 35
3.1.1 Dynamic range 35
3.1.2 Băng thông 35
3.1.3 Range resolution 36
3.1.4 Unambiguous range 36
3.1.5 Tiêu chuẩn thiết kế cho GPR 37
3.2 Pulse GPR 38
3.2.1 Tổng quan 38
3.2.2 Chu kỳ, độ rộng xung và băng thông 40
3.2.3 Các thông số thiết kế hệ thống 41
3.2.4 Ưu nhược điểm 43
3.3 FMCW GPR 43
3.3.1 Tổng quan 43
3.3.2 Băng thông, chu kỳ 45
3.3.3 Time-of-fly, tần số fB 46
3.3.4 Phổ tín hiệu IF 47
3.3.5 So sánh FMCW radar và Pulse radar 49
3.4 SFCW GPR 52
3.4.1 Tổng quan 52
3.4.2 Pha tần số 54
3.4.3 Băng thông 56
3.4.4 Bước tần số 56
3.4.5 So sánh SFCW radar với FMCW radar và Pulse radar 57
Trang 4Chương 4. CHƯƠNG TRÌNH MÔ PHỎNG THỰC HIỆN TRÊN MATLAB
60
4.1 FMCW GPR 61
4.1.1 Cơ sở lý thuyết 61
4.1.2 Sơ đồ khối FMCW radar 62
4.1.3 Chương trình mô phỏng matlab 63
4.2 SFCW GPR 66
4.2.1 Cơ sở lý thuyết 66
4.2.2 Sơ đồ khối 68
4.2.3 Chương trình mô phỏng matlab 68
4.3 Khảo sát SFCW GPR khi thay đổi các thông số khác nhau 71
4.3.1 Độ sâu 71
4.3.2 Công suất-độ sâu 75
4.3.3 Công suất-tần số 76
4.3.4 Bước tần số 77
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6
Hình 4-18: Mối quan hệ giữa công suất nhận theo tần số
Hình 4-19: Tín hiệu thu được qua mô phỏng SFCW GPR ở độ sâu 5m, Δf=1MHz Hình 4-20: Tín hiệu thu được qua mô phỏng SFCW GPR ở độ sâu 5m, Δf=4MHz Hình 4-21: Tín hiệu thu được qua mô phỏng SFCW GPR ở độ sâu 5m, Δf=8MHz Hình 4-22: Tín hiệu thu được qua mô phỏng SFCW GPR ở độ sâu 5m, Δf=15MHz
Trang 7Radar xuyên đất là một phương pháp địa vật lý thông dụng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực địa kỹ thuật, khảo cổ. Nó có nhiều thuận lợi như dễ di chuyển, không phá hủy, tốc độ xử lý nhanh, độ phân giải cao, … Một ưu điểm nổi trội nữa của Radar xuyên đất khiến nó trở thành tâm điểm của mọi sự lựa chọn đó là khảo sát, dò tìm nhưng không phá hủy và thâm nhập vào công trình khác với các phương pháp truyền thống. Các phương pháp truyền thống
Trang 8Những năm gần đây trong nước ta xảy ra rất nhiều hiện tượng địa chất, gọi là tai biến địa chất như sụp lún, vết nứt địa chất, sạt lở ở các bờ sông…, ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống xã hội. Thực tế đã xảy ra nhiều vụ sụp lún trong một số khu dân
cư như vụ sụp lún ở phường Phước Long A, quận 9, Thành Phố Hồ Chí Minh năm
2005 làm hàng chục nhà cửa và đất vườn bị sụp lún nghiêm trọng. Kế đến là hiện tượng sụp lún các công trình giao thông đô thị mà gần đây báo chí gọi là “hố tử thần”, đã gây ra những vụ tai nạn đáng tiếc cho người đi đường và người dân sống quanh đó. Các hố tử thần này vẫn xuất hiện ngày một nhiều hơn ở một số nơi ở Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh với mật độ dày hơn và nguy hiểm hơn. Biện pháp duy nhất để hạn chế sự xuất hiện của hố tử thần là phải rà soát, kiểm tra trên bề mặt, khảo sát các tuyến đường xem có vết nứt hay không, nước có ngấm xuống dưới hay không, …Radar xuyên đất được xem là một giải pháp tối ưu được sử dụng để khảo sát. Về lâu dài cần tìm được nguyên nhân và xác định được vị trí chính xác của các tai biến địa chất này, trước hết phải hiểu rõ các đặc tính môi trường địa chất, địa tầng, tính chất cơ, hóa, …Radar xuyên đất cũng là một giải pháp đầy hứa hẹn cho việc thăm dò khảo sát trong long đất, chỉ ra những dị thường trong lòng đất.
Trên lãnh thổ Việt Nam, kể từ sau chiến tranh kết thúc tới nay, bom mìn vẫn còn chôn vùi trong lòng đất khá nhiều rải rác từ Nam ra Bắc, gây ra những tai nạn cho người dân vô tình đạp phải. Để giảm mức nguy hại do bom mìn gây ra cho người dân trong thời bình này, các nhà khoa học đã tiến hành đề xuất các robot dò bom mìn để phát hiện và gỡ bom mìn. Công nghệ radar xuyên đất một lần nữa lại khẳng định được vai trò và vị trí của nó trong việc dò tìm và phát hiện bom mìn. Tình hình chung ở Việt Nam hiện nay hầu hết các thiết bị máy móc đều được mua từ nước ngoài với giá thành khá cao hoặc mượn máy móc từ các tổ chức nước ngoài về kiểm tra, khảo sát. Điều này gây rất nhiều trở ngại về thời gian, tiền bạc
Trang 9cũng như tính chủ động trong công việc hay nghiên cứu. Nhằm mục đích góp phần vào nghiên cứu tính khả thi của việc chế tạo một máy dò tìm sử dụng kỹ thuật radar xuyên đất giá thành thấp hơn phù hợp với nhu cầu ở Việt Nam, học viên đã bắt tay vào tìm hiểu hệ thống radar xuyên đất và đặc biệt là các kỹ thuật điều chế dùng trong radar xuyên đất.
Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp, học viên đã nghiên cứu, tìm tòi, tham khảo các tài liệu khác nhau và xây dựng nên chương trình mô phỏng các kỹ thuật điều chế thường hay sử dụng trong radar xuyên đất bằng Matlab. Những nghiên cứ trong luận văn này góp phần đưa ra một cái nhìn tổng quan hơn về các kỹ thuật điều chế trong GPR và bước đầu thiết kế một bộ truyền phát tín hiệu dùng cho GPR trong những nghiên cứu sau này.
GPR (Ground Penetrating Radar) - Radar xuyên đất là một phương pháp địa
lý ứng dụng các nguyên lý của sóng điện từ ở dải tần số rất cao (1-1000MHz) phát vào bên dưới mặt đất và thu lại sóng phản hồi, từ đó ta phân tích các đặc tính vật chất bên dưới lòng đất. Có nhiều kỹ thuật điều chế khác nhau dùng trong radar xuyên đất như kỹ thuật radar xung, kỹ thuật FMCW, SFCW …Tác giả sẽ lần lượt giới thiệu từng loại kỹ thuật điều chế, các đặc tính của mỗi kỹ thuật, các ưu, nhược điểm và so sánh các kỹ thuật điều chế này với nhau, cuối cùng tác giả mô phỏng bằng chương trình matlab trong một ứng dụng quan sát vật chôn dưới mặt đất cụ thể.
Để thực hiện đề tài này, bước đầu tác giả đã nghiên cứu một cách toàn diện và chi tiết về cơ sở lý thuyết, nguyên tắc hoạt động của hệ thống Radar xuyên đất cũng như các ưu, khuyết điểm của phương pháp. Tiếp đến, tác giả đi tìm hiểu các phương pháp điều chế thường được sử dụng trong Radar xuyên đất trên thế giới hiện có. Để
có được những kiến thức này, tác giả tham gia hội nghị về Radar xuyên đất do Cty Mala tổ chức ở trường ĐHKHTN TPHCM nhằm có cái nhìn tổng quan hơn về Radar xuyên đất, bên cạnh đó tác giả tham gia cùng đi đo đạc thực tế cùng nhóm đo
Trang 10đạc dùng máy GPR khảo sát mặt đường trong TPHCM của Khoa Vật Lý Địa cầu trường ĐHKHTN TPHCM. Ngoài ra tác giả là một thành viên trong nhóm nghiên cứu về radar xuyên đất do Tiến Sĩ Bùi Hữu Phú lập ra. Sau đó, tác giả tiếp tục tìm tòi tài liệu, nghiên cứu cơ sở lý thuyết, nguyên lý hoạt động và đặc điểm của từng phương pháp như thế nào Cuối cùng là tiến hành xây dựng thuật toán thực hiện
và chương trình Matlab mô phỏng các phương pháp điều chế đó.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn này sẽ bao gồm những phần sau :
Chương 1: Tổng quan về GPR
Đây là chương giới thiệu tổng quan về Radar xuyên đất GPR, về lịch sử phát triển, cho người đọc có cái nhìn tổng quan về Radar xuyên đất. Ngoài ra, chương này cũng đưa ra sơ đồ tổng quát của một hệ thống Radar, các bộ phận cấu thành hệ thống. Sau đó, sẽ trình bày sơ lược về kỹ thuật Radar xuyên đất, nguyên tắc hoạt động, ứng dụng, tầm quan trọng, lợi ích của nó trong việc dò tìm các vật chất nằm dưới bề mặt trái đất.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết của GPR
Tín hiệu thu và phát của hệ thống Radar xuyên đất là tín hiệu điện từ trường nên khi truyền vào trong môi trường vật chất sẽ bị ảnh hưởng của các yếu tố phản
xạ, khúc xạ, tán xạ, suy hao, hấp thụ, … của các vật cản hay nguồn điện trường khác nhau xung quanh hoặc dưới lòng đất. Do đó, chương này sẽ trình bày một cách tổng quát cơ sở lý thuyết của phương pháp thăm dò bằng Radar xuyên đất bao gồm
lý thuyết về sóng điện từ, sự suy giảm của sóng điện từ trong môi trường và độ phân giải, vận tốc truyền dưới môi trường điện môi.
Chương 3: Các kỹ thuật điều chế dùng trong GPR
Chương này đi vào phân tích khái quát ba loại kỹ thuật điều chế thường được dùng trong radar xuyên đất hiện nay bao gồm các kỹ thuật: radar xung, FMCW,
Trang 11SFCW. Chương này chủ yếu trình bày về cơ sở lý thuyết, nguyên tắc hoạt động, các phép toán và sơ đồ tổng quan của các kỹ thuật điều chế, giúp cho việc thực hiện chương trình mô phỏng bằng Matlab trong chương sau.
Chương 4: Mô phỏng kết quả thực hiện trên Matlab
Chương này sẽ đi vào mô phỏng một ứng dụng cụ thể của GPR, quan sát một vật chôn sâu dưới lòng đất bằng Matlab. Các loại phương pháp điều chế ảnh hưởng tới kết quả tín hiệu thu được cũng như các yếu tố trong một phương pháp ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của hệ thống. Tác giả sẽ tập trung vào hai kỹ thuật thường hay dùng trong radar xuyên đất, đó là phương pháp FMCW, SFCW GPR. Tùy vào loại dữ liệu thu được trong miền thời gian hay miền tần số mà ta có thể phân ra thành hai loại là điều chế trong miền thời gian và điều chế trong miền tần
số. Radar có dữ liệu đạt được trong miền thời gian được biết đến là radar xung, và radar có dữ liệu đạt được trong miền tần số được biết đến là FMCW và SFCW. Đây
là phần nội dung chính của đề tài, là bước đầu để sau này phát triển thành một bộ thu phát tín hiệu dùng trong GPR.
Trang 12Quý thầy cô trong khoa Điện Tử - Viễn Thông, trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Thành Phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích trong suốt khóa học.
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VỀ RADAR XUYÊN ĐẤT
Đây là chương giới thiệu tổng quan về Radar xuyên đất, về lịch sử phát triển, cho người đọc có cái nhìn tổng quan về Radar xuyên đất. Ngoài ra, chương này cũng đưa ra sơ đồ tổng quát của một hệ thống Radar, các bộ phận cấu thành hệ thống. Sau đó, tác giả sẽ trình bày sơ lược về kĩ thuật Radar xuyên đất, nguyên tắc hoạt động, ứng dụng, tầm quan trọng, lợi ích của nó trong việc dò tìm các vật chất nằm dưới bề mặt trái đất.
và so sánh các biên độ của tín hiệu nhận được khi các cặp antenna liên tiếp được sử dụng để truyền và nhận. Bằng cách này, một hình ảnh thô có thể được hình thành trong khu vực bất kỳ trong mảng đó.
Các tác giả này mô tả một kỹ thuật thay thế, mà được sử dụng riêng biệt, bề mặt được gắn ăng ten để phát hiện các phản xạ từ một giao diện dưới bề mặt do nước ngầm hoặc quặng của một quặng sắt. Một phần mở rộng của kỹ thuật này đã dẫn đến một biểu thị độ sâu của một giao diện vật được chôn, thông qua kiểm tra giao thoa giữa các sóng phản xạ và rò rỉ trực tiếp giữa các ăng-ten trên mặt đất. Tính năng chính của việc này, cụ thể là hoạt động sóng liên tục CW (Continuous Wave), sử dụng che chắn hoặc các hiệu ứng nhiễu xạ do các tính năng dưới đất, và
Trang 14sự phụ thuộc vào các biến thể dẫn xuất tạo ra tán xạ, đã được đưa ra trong một số bằng sáng chế khác, bao gồm một số dành cho các ứng dụng ngập nước hoàn toàn trong hầm mỏ.
Nghiên cứu của Hiilsenbeck năm 1926 đưa ra đầu tiên sử dụng kỹ thuật xung
để xác định cấu trúc các vật được chôn. Ông lưu ý rằng bất kỳ sự thay đổi chất điện môi, không nhất thiết liên quan đến dẫn xuất, cũng sẽ tạo ra sự phản xạ dễ dàng hơn trên các nguồn hướng, có lợi thế hơn các phương pháp địa chấn.
Kỹ thuật xung được phát triển từ những năm 1930 trở đi như một phương tiện thăm dò độ sâu đáng kể trong băng, nước ngọt, quặng muối, cát sa mạc và các vật
có hình dạng đá. Thăm dò than đá cũng đã được nghiên cứu bởi Cook, Roe và Ellerbruch, mặc dù độ suy giảm cao hơn trong các tài liệu sau này, có nghĩa là có độ sâu lớn hơn vài mét đã không thực tế. Một phần mở rộng hơn lịch sử của Radar xuyên đất GPR (Ground Penetrating Radar) và sự phát triển của nó cho đến giữa thập niên 1970 được đưa ra bởi Nilsson.
Sự quan tâm đổi mới trong các chủ đề được đưa ra trong đầu những năm 1970 khi nghiên cứu mặt trăng và đổ bộ lên mặt trăng đã được tiến hành. Đối với các ứng dụng này, một trong những lợi thế của GPR hơn kỹ thuật địa chấn đã được khai thác, cụ thể là khả năng sử dụng từ xa, bộ chuyển đổi không tiếp xúc của năng lượng bức xạ, thay vì mặt đất liên hệ với các loại cần thiết cho điều tra địa chấn.
Từ những năm 1970 cho đến ngày nay, một loạt các ứng dụng đã được mở rộng đều đặn, bao gồm xây dựng và thử nghiệm cấu trúc không phá hủy, khảo cổ học, đường xá và đánh giá chất lượng đường hầm, vị trí của khoảng trống và các vật chứa, đường ống và phát hiện dây cáp, cũng như viễn thám bằng vệ tinh… Mục đích xây dựng thiết bị cho mỗi các ứng dụng này đang được phát triển và người sử dụng hiện nay có một lựa chọn tốt hơn các thiết bị và kỹ thuật.
Trang 151.2 Giới thiệu chung về radar xuyên đất
Khả năng phát hiện ra các đối tượng được chôn dưới đất từ lâu đã được quan tâm qua nhiều thế kỷ. Một kỹ thuật mà có thể làm sáng tỏ vật dưới bề mặt đất là một thử thách đáng kể hấp dẫn các nhà khoa học nỗ lực nghiên cứu các kỹ thuật để
đề ra phương pháp thăm dò phù hợp.
Có nhiều phương pháp khác nhau dùng để quan sát các vật dưới lớp bề mặt đất như phương pháp địa chấn, điện trở suất, độ phân cực, khảo sát trọng lực, khảo sát
từ, phương pháp nucleonic, bức xạ, thermographic và phương pháp điện từ…, mỗi phương pháp có ưu điểm riêng.
Phương pháp Radar xuyên đất GPR (Ground Penetrating Radar) dùng để thăm dò lớp dưới bề mặt trái đất là một lựa chọn đặc biệt thu hút đối với các kỹ sư
và các nhà khoa học ứng dụng ở điểm nó bao trùm một loạt các chuyên ngành như truyền sóng điện từ, điện suy hao trong truyền thông, công nghệ anten ultra wideband và thiết kế các hệ thống radar, xử lý tín hiệu dạng sóng và xử lý hình ảnh biệt thức. Hầu hết các GPR là một ứng dụng cụ thể của công nghệ radar ultra wideband impulse.
Thuật ngữ “Ground Penetrating Radar (GPR)”, hay “Groud Probing Radar”, hay “sub – surface radar” hoặc “surface-penetrating radar (SPR)” đều đề cập cho một loạt các kỹ thuật điện từ trường được thiết kế chủ yếu cho xác định vị trí của đối tượng hoặc các vật được chôn bên dưới bề mặt của trái đất hoặc nằm trong một cấu trúc nhìn không rõ. Các công nghệ của GPR phần lớn được ứng dụng theo định hướng và thiết kế triết lý tổng thể, cũng như các phần cứng, thường phụ thuộc vào loại mục tiêu và nguyên liệu của các mục tiêu và môi trường xung quanh nó. Phạm
vi của các ứng dụng cho phương pháp GPR rộng và sự tinh tế của các kỹ thuật phục hồi tín hiệu, thiết kế phần cứng và hoạt động thực tiễn gày càng nâng cao khi công nghệ ngày càng hoàn thiện.
Trang 161.3 Nguyên lý hoạt động
Radar xuyên đất - GPR là một phương pháp địa lý ứng dụng các nguyên lý của sóng điện từ ở dải tần số rất cao (1-1000MHz) để nghiên cứu cấu trúc và các đặc tính của vật chất bên dưới lòng đất mà không phải đào bới, phá hủy cấu trúc của nó. Thiết bị Radar xuyên đất sử dụng các sóng vô tuyến tần số cao để thu thập thông tin phản hồi từ dưới lòng đất. Năng lượng phát ra từ ăngten phát, lan truyền vào trong lòng đất với vận tốc phụ thuộc vào đặc tính điện môi của môi trường, khi gặp vật dị thường sẽ tạo ra các sóng phản xạ và được ăngten thu ghi lại các tín hiệu phản xạ này một cách liên tục, xử lý và tái tạo thành một hình ảnh.
Hình 1-1: Sơ đồ hoạt động tổng quát Radar xuyên đất
Do các sóng phản xạ này được tạo ra từ những mặt ranh giới trung gian môi trường địa chất, nên các sóng phản xạ thường liên quan đến những điều kiện tạo thành tự nhiên trong cấu trúc địa chất như: ranh giới đá móng, các lớp vật liệu trầm tích có tính vật lý khác nhau, nồng độ sét, những khuyết tật, các khe nứt nẻ, các khối xâm thực cũng như các vật liệu bị chôn vùi do nhân tạo hoặc các khối bê tông, các vật thể không đồng nhất liên quan tới vị trí hang hốc, hàm ếch, tổ mối,…
Một trong những vấn đề lớn nhất của Radar xuyên đất là phản xạ từ mặt đất quá lớn, với hằng số điện môi cao giữa mặt đất và không khí chỉ cho phép một lượng nhỏ năng lượng truyền qua mặt phân cách, phản xạ vào mục tiêu và đi qua mặt phân cách đến Ăngten nhận.
Trang 17
Độ sâu thẩm thấu của các phương pháp phụ thuộc vào tần số của Ăngten phát-thu tín hiệu và phụ thuộc vào tính chất của đất đá trong môi trường địa chất. Các loại Ăngten thông thường được sử dụng để khảo sát cấu trúc địa chất có tần số là 12,5: 25; 100; 200;400 MHz và độ sâu khảo sát 40- 0,1 m.
Sau đây là hình ảnh minh họa cho quá trình truyền, bị phản xạ, khúc xạ của sóng điện từ khi đi vào trong lòng đất:
Hình 1-2: Quá trình truyền và nhận của sóng GPR khi đi vào lòng đất
Hình dưới đây là đường cong chỉ thời gian truyền từ bộ phát đến bộ nhận của mỗi dạng sóng ở trên.
Hình 1-3: Đường cong thời gian truyền của mỗi dạng sóng
Khi sóng được phát từ nguồn phát đi đến các mục tiêu trong lòng đất thì bộ
Trang 18thu sẽ nhận các sóng đến gồm các loại khác nhau như sau: sóng đến trực tiếp từ trong không khí và trong lòng đất, sóng phản xạ và sóng khúc xạ. Đường đi của sóng khúc xạ là xa nhất, và gần nhất là sóng đến trực tiếp.
Tóm lại, chương này đã cho người đọc thấy được cái nhìn tổng quan như thế nào về Radar xuyên đất, về cơ sở hình thành phát triển của nó cũng như những hiệu quả mà nó mang lại cho công tác nghiên cứu, khảo sát trên thực tế. Do đó, để bắt tay vào việc nghiên cứu và phát triển, trước hết ta cần nắm các cơ sở lý thuyết mấu chốt của sóng điện từ, là tín hiệu truyền và phát trong các hệ thống Radar xuyên đất.
Trang 19Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA RADAR XUYÊN ĐẤT
Tín hiệu thu và phát của hệ thống Radar xuyên đất là tín hiệu điện từ trường nên khi truyền vào trong môi trường vật chất sẽ bị ảnh hưởng của các yếu tố phản
xạ, khúc xạ, tán xạ, suy hao, hấp thụ, … của các vật cản hay nguồn điện trường khác nhau xung quanh hoặc dưới lòng đất. Do đó, chương này sẽ trình bày một cách tổng quát cơ sở lý thuyết của phương pháp thăm dò bằng Radar xuyên đất bao gồm
lý thuyết về sóng điện từ, sự suy giảm của sóng điện từ trong môi trường và độ phân giải, vận tốc truyền dưới môi trường điện môi.
2.1 Sóng điện từ - Phương trình Maxwell
Cơ sở của GPR nằm ở lý thuyết trường điện từ EM (Electromagnetic), phát minh bởi Jackson (1962) và Smythe (1989).
Phương trình toán học Maxwell diễn tả các tính chất vật lý của trường EM và các mối quan hệ của các tính chất vật liệu. Kết hợp hai cơ sở này dùng để mô tả tín hiệu GPR.
Trường EM được biểu diễn bằng các biểu thức sau:
B E
Trang 20của điện tích cưỡng bức trong cấu trúc vật liệu để tạo thành một điện trường. Độ
Trang 21trường.
Các tính chất của vật liệu cũng có thể phụ thuộc vào trường tới trước đó.
0
sẽ thâm nhập vào độ sâu lớn. Trong thực tế, điều kiện độ tổn thất điện thấp là không phổ biến. Các môi trường giàu đất sét hay các khu vực nước ngầm nhiễm mặn có thể tạo điều kiện cho tín hiệu GPR thâm nhập rất hạn chế.
Các vật liệu trái đất là các tổng hợp không thay đổi của nhiều vật liệu hay thành phần. Nước và băng là một số ít trường hợp có một thành phần là chủ yếu. Một bãi cát đơn giản là một hỗn hợp của các hạt đất, không khí, nước và các ion
Trang 22hòa tan trong nước. Sự hiểu biết về các tính chất vật lý của hỗn hợp là một yếu tố quan trọng trong việc giải thích một đáp ứng GPR.
Mặc dù các thành phần của hỗn hợp là phức tạp, tổng quan quan điểm của GPR là đơn giản hơn. Trong dải tần số 10 – 1000 MHz, có hay không có nước trong vật liệu ảnh hưởng đến đáp ứng GPR, với tổng quan chung như sau:
Khoáng sản lớn và các hỗn hợp thường được cách ly điện môi tốt. Các vật liệu này thường có một hằng số điện môi trong khoảng từ 3-8 (tùy thuộc vào loại khoáng chất và độ chặt) và được cách điện với độ dẫn điện hầu như là zero.
Đất, đá, các vật liệu cấu tạo có khoảng trống giữa các hạt (lỗ trống) có chứa không khí, nước hay các vật liệu khác.
Nước là vật liệu tự nhiên, phân cực nhất (hằng số điện môi cao K~80)
Nước trong các lỗ trống thường chứa các ion, và tính dẫn điện của nước liên quan với các ion di động thường là yếu tố chính trong việc xác định tính dẫn điện của vật liệu lớn. Kết quả tính dẫn điện của đất và đá thường là trong khoảng 1-100mS/m.
Do nước luôn hiện diện trong lỗ trống của vật liệu tự nhiên, ngoại trừ trong các trường hợp duy nhất là chân không khô hoặc một vài cơ chế khác đảm bảo hoàn toàn không có nước, nó có ảnh hưởng rất lớn vào các tính chất điện.
2.3 Sự truyền sóng của trường điện từ
GPR sử dụng đặc tính sóng của các trường điện từ. Phương trình Maxwell mô
tả một cặp trường điện từ và từ trường như thế nào khi các trường đó thay đổi theo thời gian. Tùy thuộc vào mức độ tổn hao năng lượng tương ứng (liên quan đến độ dẫn điện) với năng lượng lưu trữ (liên quan tới hằng số điện môi và thẩm từ), các trường có thể khuếch tán hoặc truyền như sóng. GPR khả thi khi các điều kiện thỏa đáp ứng giống như sóng.
Trang 23Hình 2-2: Phương truyền của sóng
Phương trình sóng truyền được đưa ra như ở hình trên. Trường điện từ và từ trường là trực giao với nhau từng đôi một và có thể trực giao với chiều không gian của trường di chuyển K.
Với GPR, trường điện từ là trường được đo đạc bình thường và nó có dạng sau:
Trang 24 ( , )
Hình 2-3: Quá trình truyền sóng EM tại một vận tốc xác định và có biên độ giảm
dần
Trong nhiều công thức, các thảo luận được đưa ra trong số hạng của kích thích hình sin và tần số gốc ω . Trong dạng sau:
Trang 25Tất cả các tính chất sóng có hoạt động tương tự nhau. Tại tần số thấp, các tính chất sóng phụ thuộc vào , biểu thị cho trường khuếch tán. Tại tần số cao, các tính chất sóng trở thành độc lập so với tần số (nếu ε, µ, và σ là độc lập so với tần số). Hoạt động ở tần số cao là đặc tính quan trọng nhất của GPR.
Sự chuyển từ khuếch tán sang truyền xuất hiện khi dòng điện chuyển từ ưu thế dẫn (tích điện tự do) sang sự thay thế ưu thế hiện thời (tích điện cưỡng bức ). Với vật liệu đơn giản, tần số chuyển được xác định như sau:
1
c v
k
Trang 27R và I được xác định bởi định luật Snell, trường điện từ và từ trường trong bề mặt mặt phẳng là liên tục, và dòng điện và dòng mật độ từ trường trên bề mặt phải bằng nhau trên cả hai mặt.
Trang 282.6 Độ phân giải và vùng tác động
Giả sử rằng GPR phân tích mục tiêu tại một khoảng cách, độ chính xác mà mục tiêu có thể có được xác định và gốc độ của nó có thể được rút ra từ dạng hình học của mục tiêu là bao nhiêu? Độ phân giải cho biết giới hạn tin cậy trong việc xác định vị trí và dạng hình học của mục tiêu (như kích thước, hình dạng, và độ dày) và được điều khiển bởi quá trình quan sát.
Độ phân giải (resolution) của GPR gồm có hai thành phần, đó là độ phân giải chiều dọc (khoảng cách hay độ sâu) và độ phân giải mặt bên (góc hay độ di chuyển ngang) như mô tả ở hình dưới:
Trang 29Hình 2-6: Độ rộng xung tại một nữa biên độ
Bằng cách lấy đặc tính của một xung ở độ rộng của nó tại một nửa biên độ W, hai xung được phân biệt nếu tách biệt một nửa của “phân nửa độ rộng”.
Độ phân giải bán kính được biểu diễn như sau:
4
Wv r
Độ rộng xung và vận tốc trong vật liệu cho biết độ phân giải. Độ phân giải bán kính độc lập với khoảng cách từ nguồn là lý tưởng. Trong thực tế, tại khoảng cách lớn hơn độ suy giảm và phân tán xung sẽ ảnh hưởng độ phân giải bán kính.
Độ phân giải mặt bên được biểu diễn như sau:
2
vrW l
với r là khoảng cách tới mục tiêu.
Độ phân giải mặt bên phụ thuộc vào vận tốc, độ rộng xung cũng như khoảng cách từ hệ thống. Khoảng cách càng lớn thì độ phân giải bên càng lớn.
Trang 30Với GPR, độ rộng xung W liên quan trực tiếp tới băng thông B và tần số trung tâm fc
Trang 316 4
C là hằng số có đơn vị 1/m4HZ4, a là bán kính hình cầu, và f là tần số.
Suy hao tán xạ phải được đưa vào suy hao vật liệu để xác định tổng suy hao của tín hiệu GPR khi qua một môi trường điện môi tổn hao phức hợp.
total ohmic scattering
2.8 Vận tốc truyền
Từ lý thuyết sóng điện từ, ta có thể thiết lập biểu thức của vận tốc truyền trong môi trường điện môi.
Vận tốc truyền được định nghĩa như sau:
1( / )
Vận tốc của ánh sáng trong chân không:
Trang 320 0
13.10 ( / )
c v
2.9 Tiêu chuẩn lấy mẫu
Mục tiêu nghiên cứu của GPR là thu thập thông tin về cấu trúc dưới bề mặt bằng cách dùng sóng điện từ. Trường EM là một hàm của không gian và thời gian được lấy mẫu và giữ lại. Việc nghiên cứu thiết kế phải tuân theo các tiêu chuẩn lấy mẫu cơ bản.
Một sóng hình Sin có tần số f, khoảng lấy mẫu thời gian và không gian Δt và
Δx phải tuân theo:
12
t f
Trang 33v x f
để thỏa tiêu chuẩn lấy mẫu Nyquist. Với tín hiệu GPR thời gian ngắn có tỉ số băng thông trên tần số trung tâm là đồng nhất, dẫn tới
1
3 c
t f
3 c
v x f
Tiêu chuẩn trên là lý tưởng, và dùng giá trị bằng một nữa độ lớn là thích hợp hơn:
1
6 c
t f
6 c
v x f
Trang 34Chương 3 CÁC KỸ THUẬT ĐIỀU CHẾ
TRONG RADAR XUYÊN ĐẤT GPR
Có một số loại GPR khác nhau, sự khác biệt nằm trong cách đạt được dữ liệu,
cả trong miền thời gian và miền tần số. Radar xung và Radar sóng liên tục là hai loại thông dụng mà ta thường hay gặp. Radar xung hoạt động trong miền thời gian trong khi radar sóng liên tục CW (continuous wave) hoạt động trong miền tần số. Continuous wave radar (CW) và stepped frequency radar (SF) được phát triển trong khoảng một thập kỷ qua (1994). Bên cạnh đó còn có các kỹ thuật cải tiến khác như Ultra Wideband (UWB), synthetic aperture radar (SAR), noise source …được áp dụng vào GPR. Ở đây ta chỉ tập trung vào kỹ thuật radar xung và radar sóng liên tục.
Radar xuyên đất sử dụng các sóng vô tuyến tần số cao để thu thập thông tin phản hồi từ dưới lòng đất. Năng lượng phát ra từ ăngten phát, lan truyền vào trong lòng đất với vận tốc phụ thuộc vào đặc tính điện môi của môi trường, khi gặp vật dị thường sẽ tạo ra các sóng phản xạ và được ăngten thu ghi lại các tín hiệu phản xạ này một cách liên tục, xử lý và tái tạo thành một hình ảnh.
Trong khuôn khổ bài luận văn này, tác giả chỉ đi vào nghiên cứu các phương pháp tín hiệu được điều chế để truyền đi và thu lại trong GPR. Để hiểu rõ hơn các nội dung trong các chương sau này, trước hết ta cần nắm một số định nghĩa về Dynamic range (khoảng động), băng thông, Range resolution (độ phân giải khoảng cách hay gọi là độ phân giải) và Unambiguous range (khoảng cách xa nhất có thể phân tích).
Trang 353.1 Các định nghĩa và các đặc điểm tần số vô tuyến
max min
Dynamic Range của hệ thống sẽ ảnh hưởng tới khoảng cách lớn nhất (maximum range) có thể dò tìm được. Thông thường radar sẽ có dynamic range của
hệ thống lớn hơn dynamic range lấy mẫu. Dynamic range của một bộ ADC bằng 20log(2N), với N là số bit, hay xấp xỉ N lần 6dB. Do vậy ADC 16 bit sẽ có dynamic range lý thuyết là 96dB.
Trang 36res
r
c R
repetition interval) ký hiệu T r. Nghịch đảo PRI ta được PRF (pulse repetition
frequency) ký hiệu f r.
Với GPR xung thì unambiguous range được xác định:
2
r unam
r
cT R
Trang 37xa hơn trộn với tín hiệu trở về của mục tiêu gần, do đó khó xác định khoảng cách. Hiện tượng này liên quan trực tiếp tới định lý lấy mẫu và tốc độ Nyquist. Trong stepped frequency CW radar, unambiguous range có thể được tính bằng biểu thức sau:
( 1)2
p
P G P
Trang 38PR phải lớn hơn mức tín hiệu nhỏ nhất có thể phân tích được của hệ thống. Các tính chất của mặt đất, như loại đất sỏi hay đất chứa nước, ảnh hưởng tới tổn thất truyền, và tổn thất truyền không phải lúc nào cũng là một hàm tuyến tính với độ sâu. Để giảm tổn thất đường truyền và tăng khoảng cách thì tần số hoạt động
có thể thấp, tuy nhiên điều này sẽ làm giảm băng thông, ảnh hưởng tới độ phân giải.
Độ phân giải cao là mục tiêu mong muốn đạt được của hệ thống GPR. Nếu băng thông giảm thì độ phân giải sẽ giảm theo. Để dung hòa giữa tần số hoạt động và băng thông là thách thức lớn cho người thiết kế GPR. Bên cạnh đó, kích thước antenna tăng do tần số tăng. PRF, tốc độ lấy mẫu và định thời cũng được xem xét để đạt được khoảng cách lớn.
3.2 Pulse GPR
3.2.1 Tổng quan
Pulse GPR là loại kỹ thuật đơn giản nhất và thường hay được sử dụng trong GPR thương mại. Pulse GPR có dữ liệu đạt được trong miền thời gian được biết đến như là xung. Một xung miền thời gian được truyền và năng lượng phản xạ nhận được là một hàm của thời gian. Kết quả dạng sóng xác định biên độ của năng lượng tán xạ từ vật dưới bề mặt và thời gian. Dựa vào thời gian tín hiệu từ anten phát tới
mục tiêu và phản xạ ngược trở lại anten thu (gọi là time of flight) để biết được thông
tin về khoảng cách.
Phần lớn hệ thống GPR kết hợp chặt chẽ kỹ thuật xung gửi đi một xung tới antenna và tạo ra sóng điện từ trường EM. Đặc tính của antenna xác định tần số trung tâm của sóng EM và liên quan tới băng thông mà được xác định bởi độ rộng xung.
GPR kết hợp chặt chẽ kỹ thuật xung được đầu tiên sản xuất cho mục đích thương mại được đưa ra vào giữa thập niên 1970. GPR xung hiện đại lấy mẫu số hóa sóng phản xạ cho việc hiển thị, lưu trữ dữ liệu, và xử lý.
Trang 39Pulse GPR hoạt động dựa trên nguyên lý phát đi một chuỗi xung vào môi trường tới mục tiêu. Một Pulse GPR kết hợp chặt chẽ một bộ định thời thời gian (timing control), bộ tạo xung (pulse generator), anten, và mạch lấy mẫu số hóa như ADC ở phía nhận. Bộ định thời sẽ bắt đầu một tín hiệu tới bộ tạo xung, và tạo ra một xung ngắn DC đưa vào anten.
Sơ đồ hoạt động của một Pulse GPR được đưa ra ở hình 3-1. Tín hiệu dạng
xung được tạo ra từ bộ tạo xung (pulse generator) được đưa tới anten phát khuếch tán vào môi trường. Khi tín hiệu gặp mục tiêu sẽ phản xạ ngược trở lại tới anten thu, sau đó tín hiệu sẽ được đưa vào bộ lấy mẫu (sampling). Bộ định thời (timing control) sẽ so sánh tín hiệu thu và phát để xác định thời gian trễ giữa hai tín hiệu. Tiếp theo tín hiệu được chuyển sang dạng số qua bộ A/D cho việc lưu trữ dễ dàng
Trang 403.2.2 Chu kỳ, độ rộng xung và băng thông
Pulse GPR phát đi một chuỗi xung lập lại với chu kỳ T. Chu kỳ xung T là khoảng thời gian một xung được lập lại, được gọi là IPP (Inter Pulse Period). IPP thường hay được gọi là khoảng xung lập lại PRI (Pulse Repetition Interval). Lấy nghịch đảo của PRI ta được tần số lập lại PRF (Pulse Repetition Interval), được ký hiệu là f r.