1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội

77 1,7K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý môi trường
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 600 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rác thải là bất kì loại vật liệu nào ở dạng rắn mà con người loại bỏ mà không được tiếp tục sử dụng như ban đầu

Trang 1

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ.Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương,

bộ mặt xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực Cho đến nay, nó không chỉphát triển ở các thành phố, khu đô thị lớn của nước ta mà đang mở rộng racác huyện lân cận

Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân được cải thiệnđáng kể Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sảnphẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thảisinh hoạt Rác thải sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng củacon người, được thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tựlàm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị ô nhiễm

Thanh Oai là một huyện nằm liền kề với quận Hà Đông, thành phố HàNội Huyện có đường giao thông thuận lợi, lại tiếp giáp với thủ đô nên các

cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp ngày càng được mở rộng thu hút mộtlượng lớn lao động ở các tỉnh, huyện khác Dân số trong huyện tăng lên nhucầu tiêu dùng của người dân cũng tăng theo Các chợ, quán xá, các dịch vụphục vụ người dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng dẫn đến lượng rácthải tăng lên rất nhiều

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là chưa có một giải pháp cụ thểnào về việc xử lý các nguồn rác thải phát sinh này Nếu có thì cũng chỉ là rácthải được thu gom tập trung ở một bãi rác lộ thiên, không tiến hành xử lý,chôn lấp, làm mất vệ sinh công cộng, mất mỹ quan môi trường, gây ô nhiễmmôi trường đất, nước, không khí Đặc biệt, những bãi rác này còn là nguy cơgây bệnh dịch, nguy hại đến sức khoẻ con người

Xuất phát từ thực trang trên, nhằm tìm ra biện pháp quản lý, xử lý phùhợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt, tôi tiến

Trang 2

hành thực hiện đề tài: “Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp

quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội”.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

+ Điều tra số lượng, thành phần của rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn.+ Điều tra công tác quản lý, vận chuyển, thu gom, công tác tuyên truyền vệsinh môi trường và nhận thức của người dân về rác thải sinh hoạt

+ Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt nhằm góp phầngiảm thiểu ô nhiễm môi trường

1.3 Yêu cầu.

+ Xác định được khối lượng và thành phần rác thải sinh hoạt hộ gia đình, lượngrác thải bình quân trên đầu người ( kg/người/ngày ) trên địa bàn thị trấn

+ Thống kê lượng rác thải sinh hoạt trung bình theo ngày (tấn/ ngày ) ở từng

tổ dân cư trên địa bàn thị trấn

+ Đề xuất được các biện pháp quản lý, xử lý rác thải để đạt được hiệu quả tốtnhất

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Một số khái niệm

2.1.1 Khái niệm rác thải

Rác thải là bất kì loại vật liệu nào ở dạng rắn mà con người loại bỏ màkhông được tiếp tục sử dụng như ban đầu [3]

Rác thải là các loại rác thải không ở dạng lỏng, không hòa tan đượcthải ra từ các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp Rác thải còn bao gồm cả bùncặn, phế phẩm nông nghiệp, xây dựng, khai thác mỏ…[5]

Rác thải là những vật chất ở dạng rắn do các hoạt động của con người

và động vật tạo ra Những “sản phẩm” này thường ít được sử dụng hoặc ít có

Trang 3

ít, do đó nó là “sản phẩm” ngoài ý muốn của con người Rác thải có thể ởdạng thành phẩm, được tạo ra trong hầu hết các giai đoạn sản xuất và trongtiêu dùng [4].

2.1.2 Rác thải sinh hoạt

Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt độngcủa con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Rác thải sinh hoạt có thànhphần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su,chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ,lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v…[1]

2.1.3 Quản lý chất thải

Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảmthiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải [6]

2.1.4 Quản lý môi trường

Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức, có phươnghướng và mục đích xác định của chủ thể ( con người, địa phương, quốc gia,

tổ chức quốc tế v.v… ) đối với một đối tượng nhất định ( môi trường sống )nhằm khôi phục, duy trì và cải thiện tốt hơn môi trường sống của con ngườitrong khoảng thời gian dự định [1]

2.2 Nguồn gốc, phân loại, thành phần rác thải

2.2.1 Nguồn gốc

Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự giatăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùngtrong các đô thị và các vùng nông thôn Trong đó các nguồn chủ yếu phátsinh chất thải bao gồm:

- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt)

Trang 4

- Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trìnhcông cộng.

- Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xâydựng

- Từ các làng nghề v v…[1]

Hình 2.1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải

(Nguồn: Huỳnh Tuyết Hằng, TP Huế, 08/2005)

2.2.2 Phân loại rác thải

Rác thải được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theocác cách sau:

- Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt ra rác thải trong nhà, rácthải ngoài nhà, rác thải trên đường, chợ…

Chính quyền địa phương

Trang 5

- Theo thành phần hóa học và đặc tính vật lý: người ta phân biệt theocác thành phần vô cơ, hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, da, giẻvụn, cao su, chất dẻo…

- Theo mức độ nguy hại:

+ Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độchại, rác thải sịnh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thảiphóng xạ, các rác thải nhiễm khuẩn, lây lan… có thể gây nguy hại tới conngười, động vật và gây nguy hại tới môi trường Nguồn phát sinh ra rác thảinguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp

+ Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa cácchất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tácthành phần

2.2.3 Thành phần của rác thải

Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tínhchất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Thông thườngthành phần của rác thải bao gồm các hợp phần sau: Chất thải thực phẩm,giấy, catton, vải vụn, sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá,gạch vụn…

Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số vùng năm 2000

(tính theo % trọng lượng)

Nguyên

Đà Nẵng

Hạ Long

Đất, đá,cát, gạch vụn 30,27 32,13 35,3 - 38,87

Trang 6

Độ trơ 15,9 13,17 17,15 10,9 11,0

(Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát của CEETIA, 2001)

2.4 Tác hại của rác thải

2.4.1 Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường

+ Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất

bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa

- Môi trường nước

+ Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơivãi sẽ theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh,

ra ao hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận

+ Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhângây mất vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặcchứa nhiều rác thì có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàmlượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầngnước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vậtthủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực

+ Ở các bãi chôn lấp rác chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ônhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suốilân cận Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đanước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt

Trang 7

- Môi trường không khí

+ Tại các trạm/ bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư là nguồngây ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúcrác, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyểnrác

+ Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn vấn đề ảnh hưởng đến môi trườngkhí là mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại.2.4.2 Tác hại của rác thải sinh hoạt đối với sức khỏe con người

- Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng củachúng lên các thành phần môi trường Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tácđộng đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn

- Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lýthích hợp, cứ đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớpphủ thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyềndịch bệnh, chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác co nguy cơ gây cácbệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏecộng đồng xung quanh

- Rác thải còn tồn đọng ở các khu vực, ở các bãi rác không hợp vệ sinh lànguyên nhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sứckhỏe con người Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệngười mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới15,25 % dân số Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ởphụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25 % [7]

2.4.3 Rác thải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị

- Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử

lý, thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ

Trang 8

lộ thiên… đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnhhưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm.

- Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra long lề đường

và mương rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi màcông tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ

2.5 Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt

2.5.1 Khái niệm về xử lý rác thải

Xử lý rác thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thảinhằm làm giảm ảnh hưởng tới môi trường, tái tạo lại các sản phẩm có lợicho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế, xử lý rác thải là một công tácquyết định đến chất lượng bảo vệ môi trường Hiện nay, ô nhiễm môi trường

và suy thoái môi trường là nỗi lo của nhân loại: môi trường đất, nước, khôngkhí ngày càng ô nhiễm nặng nề, nhất là những thành phố lớn tập trung dân

cư đông đúc, tài nguyên môi trường cạn kiệt [8]

2.5.2 Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt chủ yếu

2.5.2.1 Phương pháp chôn lấp

Phương pháp truyền thống đơn giản nhất là chôn lấp rác Phương phápnày có chi phí thấp và được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách dùng xe chuyên dụng chở ráctới các bãi đã xây dựng trước Sau khi rác được đổ xuống, xe ủi san bằng,đầm nén trên bề mặt và đổ lên một lớp đất, hàng ngày phun thuốc diệt ruồimuỗi, rắc vôi bột… theo thời gian, sự phân hủy của vi sinh vật làm cho ráctrở nên tơi xốp và thể tích của bãi rác giảm xuống Việc đổ rác lại được tiếptục cho đến khi bãi rác đầy thì chuyển sang bãi rác mới

Hiện nay việc chôn lấp rác thải sinh hoạt được sử dụng chủ yếu ở cácnước đang phát triển nhưng phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường

Trang 9

một cách nghiêm ngặt Việc chôn lấp rác có xu hướng giảm dần, tiến tớichấm dứt ở các nước đang phát triển.

Các bãi chôn lấp rác phải cách xa khu dân cư, không gần nguồn nướcngầm và nguồn nước mặt Đáy của bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc đượcphủ các lớp chống thấm bằng màn địa chất Ở các bãi chôn lấp rác cần phảithiết kế khu thu gom và xử lý nước rác trước khi thải vào môi trường Việcthu khí ga để biến đổi thành năng lượng là một cách để tận dụng từ rác thảirất hữu ích [8]

- Ưu điểm của phương pháp:

+ Công nghệ đơn giản, rẻ tiền và phù hợp với nhiều loại rác thải

+ Chi phí vận hành bãi rác thấp

- Nhược điểm của phương pháp:

+ Chiếm diện tích đất tương đối lớn

+ Không được sự đồng tình của người dân khu vực xung quanh

+ Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) cao

+ Tìm kiếm xây dựng bãi rác mới là việc làm khó khăn

2.5.2.2 Phương pháp đốt rác

Xử lý rác bằng phương pháp đốt là giảm tới mức tối thiểu chất thải chokhâu xử lý cuối cùng Nhờ thiêu đốt dung tích chất thải rắn được giảm nhiềuchỉ còn khoảng 10 % so với dung tích ban đầu, trọng lượng giảm chỉ còn25% hoặc thấp hơn so với ban đầu Như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi choviệc thu gom và giảm nhu cầu về dung tích chứa tại chỗ, ngay tại nguồn,đồng thời cũng dễ dàng chuyên chở ra bãi chôn lấp tập trung nếu cần Tuynhiên phương pháp đốt rác sẽ gây ô nhiễm không khí cho khu vực dân cưxung quanh, đồng thời làm mất mỹ quan đô thị, vì vậy phương pháp này chiidùng tại các địa phương nhỏ, có mật độ dân số thấp [1]

Trang 10

Phương pháp này chi phí cao, so với phương pháp chôn lấp rác, chi phí

để đốt một tấn rác cao hơn gấp 10 lần Công nghệ đốt rác thường sử dụng ởcác quốc gia phát triển vì phải có một nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp choviệc thu đốt rác sinh hoạt như là một dịch vụ phúc lợi xã hội toàn dân Tuynhiên việc đốt rác sinh hoạt bao gồm nhiều chất thải khác nhau sinh khóiđộc và dễ sinh khí dioxin nếu không giải quyết tốt việc xử lý khói Nănglượng phát sinh khi đốt rác có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc chongành công nghệ nhiệt và phát điện Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệthống xử lý khí thải tốn kém nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quátrình đốt gây ra

Hiện nay tại các nước Châu Âu có xu hướng giảm đốt rác thải vì hàngloạt các vấn đề kinh tế cũng như môi trường cần phải giải quyết Việc thuđốt rác thải thường chỉ áp dụng cho việc xử lý rác thải độc hại, rác thải bệnhviện hoặc rác thải công nghiệp và các phương pháp khác không xử lý triệt đểđược [8]

2.5.2.3 Phương pháp ủ sinh học

Ủ sinh học (compost) là quá trình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ đểhình thành các chất mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoahọc tạo môi trường tối ưu đối với quá trình

Quá trình ủ hữu cơ từ rác hữu cơ (sản xuất phân bón hữu cơ) là mộtphương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang pháttriển trong đó có Việt Nam Quá trình ủ được coi như quá trình lên men yếmkhí mùn hoặc hoạt chất mùn Sản phẩm thu hồi là hợp chất mùn không mùi,không chứa vi sinh vật gây bệnh và hạt cỏ Để đạt mức độ ổn định như lênmen, việc ủ đòi hỏi năng lượng để tăng cao nhiệt độ của đống ủ Trong quátrình ủ oxy sẽ được hấp thụ hàng trăm lần và hơn nữa so với bể aeroten Quátrình ủ áp dụng với chất hữu cơ không độc hại, lúc đầu là khử nước, sau là

Trang 11

xử lý cho đến khi nó thành xốp và ẩm Độ ẩm và nhiệt độ được kiểm trathường xuyên và giữ cho vật liệu ủ luôn ở trạng thái hiếu khí trong suốt thờigian ủ Quá trình tự tạo ra nhiệt riêng nhờ quá trình oxy hóa các chất thốirữa Sản phẩm cuối cùng là CO2, nước và các hợp chất hữu cơ bền vữngnhư: lignin, xenlulo, sợi…[1].

Công nghệ ủ có thể là ủ đống tĩnh thoáng khí cưỡng bức, ủ luống cóđảo định kỳ hoặc vừa thổi vừa đảo Xử lý rác làm phân hữu cơ là biện pháprất có hiệu quả, sản phẩm phân hủy có thể kết hợp tốt với phân người vàphân gia súc cho ta chất hữu cơ có hàm lượng dinh dưỡng cao, tạo độ tơixốp, rất tốt cho việc cải tạo đất

2.5.2.4 Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ ép kiện

Phương pháp ép kiện được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải tậptrung thu gom vào nhà máy Rác được phân loại bằng phương pháp thủ côngtrên băng tải, các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại,nilon, giấy, thủy tinh, nhựa… được thu hồi để tái chế Những chất còn lại sẽđược băng tải chuyền qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đíchlàm giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành cac kiện với tỷ số nén rất cao Các kiện rác đã nén ép này được sử dụng vào việc đắp các bờ chắnhoặc san lấp các vùng đất trũng sau khi được phủ lên các lớp đất cát Trêndiện tích này có thể sử dụng làm mặt bằng các công trình như: công viên,vườn hoa, các công trình xây dựng nhỏ và mục đích chính là làm giảm tối đamặt bằng khu vực xử lý rác

Trang 12

Hình 2.2 Sơ đồ công nghệ xử lý rác bằng phương pháp ép kiện

(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Quản lý chất thải rắn đô thị, 2001)

2.5.2.5 Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Hydromex

Đây là một công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng ở Mỹ (2/1996).Công nghệ Hydromex nhằm xử lý rác đô thị (kể cả rác độc hại) thành cácsản phẩm phục vụ ngành xây dựng, vật liệu, năng lượng và sản phẩm dùngtrong nông nghiệp hữu ích

Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác sau đó polimehóa và sử dụng áp lực lớn để nén, định hình các sản phẩm

Rác thải được thu gom (rác hỗn hợp, kể cả rác cồng kềnh) đượcchuyển về nhà máy, không cần phân loại và đưa vào máy cắt nghiền nhỏ,sau đó đưa đến các thiết bị trộn bằng băng tải Chất thải lỏng pha trộn trongbồn phản ứng, các phản ứng trung hòa và khử độc thực hiện trong bồn Sau

đó chất thải lỏng từ bồn phản ứng được bơm vào các thiết bị trộn: chất lỏng

Rác

thải

Phễu nạp rác

Băng tải rác

Phân loại

Máy

ép rác

Băng tải thải vật liệu

Trang 13

và rác thải kết dính với nhau sau khi cho thêm thành phần polime hóa vào.Sản phẩm ở dạng bột ướt được chuyển đến máy ép cho ra sản phẩm mới.Các sản phẩm này bền, an toàn với môi trường [8].

Hình 2.3 Sơ đồ xử lý rác theo công nghệ Hydromex

(Nguồn: www.scribd.com/doc/6899000/4PP-xl-rac-thai-ran)

2.5.2.6 Xử lý rác bằng công nghệ Seraphin

Ban đầu rác thải được đưa tới nhà máy và đổ xuống nhà tập kết nơi có

hệ thống phun vi sinh khử mùi cũng như ozone diệt vi sinh vật độc hại Tiếpđến, băng tải sẽ chuyển rác tới máy xé bông để phá vỡ mọi loại bao gói Ráctiếp tục đi qua hệ thống tuyển từ (hút sắt thép và các kim loại khác) rồi lọtxuống sàng lồng

Trang 14

Sàng lồng có nhiệm vụ tách chất thải mềm, dễ phân huỷ, chuyển rác vô

cơ (kể cả bao nhựa) tới máy vò và rác hữu cơ tới máy cắt Trong quá trìnhvận chuyển này, một chủng vi sinh ASC đặc biệt, được phun vào rác hữu cơnhằm khử mùi hôi, làm chúng phân huỷ nhanh và diệt một số tác nhân độchại Sau đó, rác hữu cơ được đưa vào buồng ủ trong thời gian 7-10 ngày.Buồng ủ có chứa một chủng vi sinh khác làm rác phân huỷ nhanh cũng nhưtiếp tục khử vi khuẩn Rác biến thành phân khi được đưa ra khỏi nhà ủ, tới

hệ thống nghiền và sàng Phân trên sàng được bổ sung một chủng vi sinh đặcbiệt nhằm cải tạo đất và bón cho nhiều loại cây trồng, thay thế trên 50%phân hoá học Phân dưới sàng tiếp tục được đưa vào nhà ủ trong thời gian 7-

10 ngày

Do lượng rác vô cơ khá lớn nên các nhà khoa học tục phát triển hệthống xử lý phế thải trơ và dẻo, tạo ra một dây chuyền xử lý rác khép kín.Phế thải trơ và dẻo đi qua hệ thống sấy khô và tách lọc bụi tro gạch Sảnphẩm thu được ở giai đoạn này là phế thải dẻo sạch Chúng tiếp tục đi qua tổhợp băm cắt, phối trộn, sơ chế, gia nhiệt bảo tồn rồi qua hệ thống thiết bịđịnh hình áp lực cao Thành phẩm cuối cùng là ống cống panel, cọc gia cốnền móng, ván sàn, cốp pha

Cứ 1 tấn rác đưa vào nhà máy, thành phẩm sẽ là 300-350 kg seraphin(chất thải vô cơ không huỷ được) và 250-300kg phân vi sinh Loại phân nàyhiện đã được bán trên thị trường với giá 500 đồng/ kg

Như vậy, qua các công đoạn tách lọc - tái chế, công nghệ seraphin làmcho rác thải sinh hoạt được chế biến gần 100% trở thành phân bón hữu cơ visinh, vật liệu xây dựng, vật liệu sản xuất đồ dân dụng, vật liệu cho côngnghiệp Các sản phẩm này đã được cơ quan chức năng, trong đó có Tổng cụcTiêu chuẩn Đo lường chất lượng kiểm định và đánh giá là hoàn toàn đảmbảo về mặt vệ sinh và thân thiện môi trường Với công nghệ seraphin, Việt

Trang 15

Nam có thể xoá bỏ khoảng 52 bãi rác lớn, thu hồi đất bãi rác để sử dụng chocác mục đích xã hội tốt đẹp hơn [9].

2.6 Tình hình quản lý, xử lý rác thải trên thế giới và Việt Nam

2.6.1 Tình hình quản lý, xử lý rác thải trên thế giới

2.6.1.1 Phát sinh rác thải trên thế giới

Nhìn chung, lượng rác thải sinh hoạt ở mỗi nước trên thế giới là khácnhau, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng củangười dân nước đó Tỷ lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mứctăng GDP tính theo đầu người Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu người ở một

số thành phố trên thế giới như sau: Băng Cốc (Thái Lan) là1,6kg/người/ngày; Singapo là 2kg/người/ngày; Hồng Kông là2,2kg/người/ngày; NewYork (Mỹ) là 2,65kg/người/ngày [5]

Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhaugiữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc(Gao et al.2002); chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philipin và 37% ở NhậtBản, chiếm 80% ở nước ta Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, cácnước có thu nhấp cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải sinh hoạt trong toàn

bộ dòng chất thải rắn đô thị [11]

+ Các số liệu thống kê gần đây về tổng lượng chất thải ở Anh cho thấyhàng năm Liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó ước tính 46,6triệu tấn chất thải sinh học và chất thải dạng tương tự phát sinh ở Anh, 60%

số này được chôn lấp, 34% được tái chế và 6% được thiêu đốt Chỉ tínhriêng rác thải thực phẩm, theo dự án khảo sát được thực hiện từ tháng10/2006-3/2008, chất thải thực phẩm được thải ra từ hộ gia đình nhiều hơntới hàng tấn so với chất thải bao bì, chiếm 19% chất thải đô thị Tổng sốhàng năm các hộ gia đình ở Anh phát sinh 6,7 triệu tấn chất thải thực phẩm,chỉ riêng ở England là 5,5 triệu tấn, trong đó 4,1 triệu tấn là thực phẩm vẫn

Trang 16

có thể sử dụng được Trung bình mỗi hộ gia đình thải ra 276 kg chất thảithực phẩm/năm hay 5,3 kg/tuần, trong đó 3,2 kg vẫn có thể sử dụng được[15].

+ Theo số liệu thống kê mới đây của Bộ Môi trường Nhật Bản, hằngnăm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác côngnghiệp (397 triệu tấn) Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thảiphải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế Sốcòn lại được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Vớirác thải sinh hoạt của các gia đình, khoảng 70% được tái chế thành phân bónhữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón [12] + Mỗi ngày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác Rác ở Singapoređược phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp ) Nhờ vậy56% số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy để táichế Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốtthành tro Cuối cùng, mỗi ngày chừng 1.500 tấn tro rác cùng với 500 tấn ráckhông thể đốt được sẽ lên sà lan trực chỉ Semakau Landfill Như vậy về khốilượng, từ 16.000 tấn rác mỗi ngày, sau khi đốt rác Singapore chỉ cần bãi đổrác cho hơn 10% lượng rác đó, xấp xỉ 2.000 tấn Trong khi đó, mỗi ngàyTP.HCM thải ra khoảng 8.000 tấn rác (chỉ bằng 1/2 Singapore) nhưng lạiphải tìm chỗ chôn lấp cho ngần ấy số rác (gấp bốn lần Singapore).Chưa hết,nhiệt năng sinh ra trong khi đốt rác được dùng để chạy máy phát điện đủcung cấp 3% tổng nhu cầu điện của Singapore [13]

+ Ở Nga, mỗi người bình quân thải ra môi trường 300kg/người/nămrác thải Tương đương một năm nước này thải ra môi trường khoảng 50 triệutấn rác, riêng thủ đô Matxcova là 5 triệu tấn/năm [4]

Trang 17

Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinhkhoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm 2025, dự tính con số này

sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày

Bảng 2.1: Phát sinh chất thải rắn đô thị và sinh hoạt ở một số nước Châu ÁQuốc

gia

số(triệungười)

GDP/

người

Lượngphát sinhCTRĐT(kilôtấn/

năm)

Tỷ lệphát sinhMSW/người/ngày

LượngRTSH(nghìntấn/năm)

Tỷ lệ phátsinh

RTSH(kg/người/ngày)Trung

Trang 18

(Nguồn: Waste management and recycling in Asia, IGES, 2005)

Thành phần rác ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thunhập và mức sống của mỗi nước Đối với các nước có nền công nghiệp pháttriển thì thành phần các chất vô cơ trong rác thải phát sinh chiếm đa số vàlượng rác này sẽ là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế Hàng nămtoàn nước Mỹ phát sinh một khối lượng rác khổng lồ lên tới 10 tỷ tấn Trong

đó, rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ và khí chiếm 75%; rác thải từ quátrình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; rác thải từ hoạt động công nghiệpchiếm 9,5%; rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm 1%; rác thải sinh hoạtchiếm 1,5% [14]

Bảng 2.2 Thành phần và tỷ lệ rác thải ở Mỹ

Thành phần Tỷ lệ % các loại rác theo các nguồn khác nhau

Tại bãi rác Colombia Theo EPA Trung bình cả nước

2.6.1.2 Quản lý, xử lý rác thải trên thế giới

Vấn đề quản lý, xử lý rác thải ở các nước trên thế giới đang ngày càngđược quan tâm hơn Đặc biệt tại các nước phát triển, công việc này được tiếnhành một cách rất chặt chẽ, từ ý thức thải bỏ rác thải của người dân, quátrình phân loại tại nguồn, thu gom, tập kết rác thải cho tới các trang thiết bịthu gom, vận chuyển theo từng loại rác Các quy định đối với việc thu gom,vận chuyển, xử lý từng loại rác thải được quy định rất chặt chẽ và rõ ràng

Trang 19

với đầy đủ các trang thiết bị phù hợp và hiện đại Một khác biệt trong côngtác quản lý, xử lý rác thải của các nước phát triển là sự tham gia của cộngđồng.

+ Có thể nói, ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu trên thế giới hiệnnay Việc phân loại rác đã được thực hiện nghiêm túc ở Đức từ năm 1991.Rác bao bì gồm hộp đựng thức ăn, nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kimloại hay carton được gom vào thùng màu vàng Bên cạnh thùng vàng, còn cóthùng xanh dương cho giấy, thùng xanh lá cây cho rác sinh học, thùng đencho thủy tinh

Những lò đốt rác hiện đại của nước Đức hầu như không thải khí độc ra môitrường Das Duele System Deutschland (DSD) – “Hệ thống hai chiều củanước Đức” - được các nhà máy tái chế sử dụng để xử lý các loại rác thải vànăm vừa rồi, các nhà máy này đã chi khoản phí gần 1,2 tỷ USD để sử dụngcông nghệ trên Tại các dây chuyền phân loại, các camera hồng ngoại hoạtđộng với tốc độ 300.000km/s để phân loại 10 tấn vật liệu mỗi giờ Nhữngống hơi nén được điều khiển bằng máy tính đặt ở các băng chuyền có nhiệm

vụ tách riêng từng loại vật liệu Sau đó rác thải sẽ được rửa sạch, nghiền nhỏ

và nấu chảy Quá trình trên sẽ cho ra granulat, một nguyên liệu thay thế dầuthô trong công nghiệp hoặc làm chất phụ gia

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ nhỏ bắt đầu từ việc phân loại rác

là một trong những phương pháp mà những nhà quản lý tại Đức đã áp dụng.Rác được phân loại triệt để là điều kiện để quá trình xử lý và tái chế rác trởnên thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều Từ đó, khái niệm về rác thải dầnđược thay thế bằng nguồn tài sản tiềm năng, mang lại lợi nhuận đáng kể vớinhững ai biết đầu tư vào việc cải tiến công nghệ [16]

Trang 20

Hình 2.4 Sơ đồ hệ thống hoạt động tái chế ở Đức:

chất thải khác

rác thải bao bì

Đầu tư Đưa ra giá thu gom và tái chế

+ Tại Nhật, chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòngnguyên liệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệutheo mô hình 3R (reduce, reuse, recycle).Về thu gom chất thải rắn sinh hoạt,các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phânhủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và rác có thể tái chế Rác hữu cơđược thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost; loạirác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽ đưađến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được đưa cácnhà máy tái chế Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi

có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết ráccủa cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư.Công ty vệ sinh thành phố sẽ cho ô tô đến đem các túi rác đó đi Nếu giađình nào không phân loại rác, để lẫn lộn vào một túi thì ban giám sát sẽ báolại với Công ty và ngay hôm sau gia đình đó sẽ bị công ty vệ sinh gửi giấy

Người tiêu dùng

Chính quyền địa phương

Ngời tiêu dùng

Cơ quan trường

học

Trang 21

báo đến phạt tiền Với các loại rác cồng kềnh như tivi, tủ lạnh, máy giặt, thì quy định vào ngày 15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi ô tô đến chở đi,không được tuỳ tiện bỏ những thứ đó ở hè phố Sau khi thu gom rác vào nơiquy định, công ty vệ sinh đưa loại rác cháy được vào lò đốt để tận dụngnguồn năng lượng cho máy phát điện Rác không cháy được cho vào máy épnhỏ rồi đem chôn sâu trong lòng đất Cách xử lý rác thải như vậy vừa tậndụng được rác vừa chống được ô nhiễm môi trường Túi đựng rác là do cácgia đình bỏ tiền mua ở cửa hàng Việc thu gom rác ở Nhật Bản không giốngnhư ở Việt Nam Rác thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của Nhànước, còn từ các công ty, nhà máy cho tư nhân đấu thầu hoặc các công ty

do chính quyền địa phương chỉ định Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải

tự chịu trách nhiệm về lượng rác thải công nghiệp của họ và điều này đượcquy định bằng các điều luật về bảo vệ môi trường [12]

+ Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rácrất hiệu quả Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhàthầu Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn

cụ thể trong thời hạn 7 năm Singapore có 9 khu vực thu gom rác Rác thảisinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn Công ty thu gom rác sẽcung cấp dịch vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lýtheo chương trình Tái chế Quốc gia.Có thể nói Singapore được xem là mộtquốc gia có môi trường xanh - sạch - đẹp của thế giới, Chính phủ rất coitrọng việc bảo vệ môi trường Cụ thể là pháp luật về môi trường được thựchiện một cách toàn diện là công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo cho môitrường sạch đẹp của Singapore Thời gian đầu Chính phủ tổ chức giáo dục ýthức để người dân quen dần sau đó phạt nhẹ nhắc nhở và hiện nay các biệnpháp được áp dụng mạnh mẽ là là phạt tiền, phạt tù, bắt bồi thường và đối

Trang 22

với những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo lao động bắt buộc Ở Singapore vứtrác, hút thuốc không đúng nơi quy định bi phạt tiền từ 500 đô la Sing trởlên…[13].

Tại các nước đang phát triển thì công tác thu gom rác thải còn nhiềuvấn đề bất cập Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp

lý, trang thiết bị còn thiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệuquả lại thấp Sự tham gia của các đơn vị tư nhân còn ít và hạn chế So vớicác nước phát triển thì tỷ lệ thu gom rác ở các nước đang phát triển như ViệtNam và khu vực Nam Mỹ còn thấp hơn nhiều

Bảng 2.3 Hoạt động thu gom rác tại một số thành phố ở Châu Á

(triệu người)

Số trạm trungchuyển

Số chuyến vậnchuyển trongngày

Trang 23

Theo báo cáo Diễn biến môi trường Việt Nam 2004 cho biết, hầu hếtcác nước Nam Á và Đông Nam Á rác thải được chuyển đến các bãi chôn lấphoặc các bãi lộ thiên để tiêu hủy Các nước như Việt Nam, Bangladet,Hongkong, Srilanka Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc có tỷ lệ chôn lấp lớnnhất lên tới trên 90% Đối với chất thải hữu cơ, ủ phân compost là phươngpháp tiêu hủy chủ yếu Một số nước như Ấn Độ, Philippin, Thái Lan… ápdụng phương pháp này khá phổ biến Tuy nhiên, chưa có nước nào tận dụnghết tiềm năng sản xuất phân compost.

Bảng 2.4 Các phương pháp xử lý rác thải của một số nước ở Châu Á

(Đơn vị %)

Nước

Bãi rác lộthiên, chônlấp

Thiêu đốt Chế biến

phâncompost

Phương phápkhác

(Nguồn: Viện khoa học thủy lợi, 2006)

2.6.2 Tình hình quản lý, xử lý rác thải ở Việt Nam

2.6.2.1 Phát sinh rác thải ở Việt Nam

Theo số liệu điều tra năm 2007 của Tổng cục Môi trường (Cục Bảo

vệ Môi trường trước đây) chất thải rắn sinh hoạt trong cả nước phát sinh

Trang 24

khoảng 17 triệu tấn, trong đó rác thải sinh hoạt tại đô thị khoảng 6,5 triệu tấn(năm 2008 là 7,8 triệu tấn theo báo cáo của Bộ Xây dựng)

Ngoại trừ một số ít địa phương như Hà Nội, Thừa Thiên - Huế, TP Hồ ChíMinh, Đà Nẵng đang thí điểm phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn theo dự

án 3R, còn lại hầu hết rác thải sinh hoạt vẫn là một mớ tổng hợp các chấthữu cơ từ các gia đình cho tới nơi xử lý

Điều đáng lo ngại là tới thời điểm này, việc xử lý chất thải rắn vẫnchưa đi theo hướng tái chế như mong muốn Khoảng 70% chất thải sinh hoạt

đô thị được thu gom và khoảng 80% số chất thải này vẫn được xử lý theocách chôn lấp Còn rác thải nông thôn thì hầu như được đổ bừa bãi ra venlàng, ao hồ, bãi sông, bãi tạm hoặc tự đốt Hội Xây dựng Việt Nam cảnhbáo, trong số 91 bãi rác lớn trên cả nước chỉ có 17 bãi hợp vệ sinh, chiếmkhoảng 15%

Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang

có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, pháttriển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thịtỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), RạchGiá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệphát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số

đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thànhtrên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộgia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ cáccông sở, đường phố, các cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và cácnguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được

xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị

Trang 25

Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đôthị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ ChíMinh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất

cả các đô thị

Bảng 2.5 Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007

STT Loại đô thị Lượng CTRSH bình

quân trên đầu người(kg/người/ngày)

Lượng CTRSH đô thị phát

sinhTấn/ngày Tấn/năm

Nguồn: kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và báo cáo của các địa phương

Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đôthị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trởlên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượngphát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thịkhu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhấtchỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh

Trang 26

vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm(chiếm 3,68%) Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP Hồ ChíMinh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSHphát sinh ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày,Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày.

Bảng 2.6 Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2007

Trang 27

Nguồn: kết quả khảo sát năm 2006, 2007 và báo cáo của các địa phương

Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thịđặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại

II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người làtương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phátsinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày

Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thịphát triển du lịch như TP Hạ Long 1,38kg/người/ngày; TP Hội An1,08kg/người/ngày; TP Đà Lạt 1,06kg/người/ngày; TP Ninh Bình1,30kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân đầungười thấp nhất là TP Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày;Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum 0,35kg/người/ngày;Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quânđầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là0,73kg/người/ngày [18]

Theo số liệu của Bộ Xây dựng , tính đến năm 2009 tổng lượng chấtthải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21.500 tấn/ngày Dự báo của Bộ Xây dựng và Bộ TN&MT cho biết, đến năm 2015,khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37nghìn tấn/ngày và năm 2020 là 59 nghìn tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay.Như vậy, với lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị gia tăng nhanh chóng vàcác công nghệ hiện đang sử dụng không thể đáp ứng yêu cầu do điều kiệnViệt Nam mật độ dân số cao, quỹ đất hạn chế, việc xác định địa điểm bãichôn lấp khó khăn, không đảm bảo môi trường và không tận dụng được

Trang 28

nguồn tài nguyên từ rác thải Việc áp dụng các công nghệ mới hạn chế chônlấp chất thải rắn nhằm tiết kiệm quỹ đất, đảm bảo môi trường và tận dụngnguồn tài nguyên từ rác thải là cấp bách

Tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải không ổn định, rất biến độngtheo mỗi địa điểm thu gom rác, phụ thuộc vào mức sống và phong cách tiêudùng của nhân dân ở mỗi địa phương Tính trung bình, tỷ lệ thành phần cácchất hữu cơ chiếm 45% - 60% tổng lượng chất thải, tỷ lệ thành phần nilông,chất dẻo chiếm từ 6 - 16%, độ ẩm trung bình của rác thải từ 46 % - 52% Theo Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, tổng lượng chất thải rắn sinhhoạt (rác thải) của TP Hà Nội hiện nay ước khoảng 5.000 tấn/ngày, trong đó

có khoảng 3.500 tấn là chất thải sinh hoạt đô thị và khoảng 1.500 tấn chấtthải sinh hoạt nông thôn

Tại các vùng ngoại thành Hà Nội, lâu nay xuất hiện tình trạng rác thảisinh hoạt đổ tràn lan khắp các ngõ xóm, đường quốc lộ, tỉnh lộ, gây ô nhiễmmôi trường và ảnh hưởng đến cảnh quan Mặc dù biết rõ việc ô nhiễm vàảnh hưởng đến đời sống của người dân, nhưng do thiếu nguồn kinh phí vàkhông có kế hoạch thu gom nên chính quyền đành đứng “nhìn”

Phần lớn các khu vực ngoại thành Hà Nội hiện nay chưa có các điểmtập kết rác thải sinh hoạt, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Những bãi rácđược xả “vô tư” ra đường mà không hề được thu gom, tập kết để xử lý Tìnhtrạng ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan đô thị do rác thải trên những trụcđường quốc lộ, tỉnh lộ là hệ quả tất yếu của việc không có các điểm tập kếtrác để xử lý Thậm chí, các đống rác ven các đường quốc lộ, tỉnh lộ đang lấnchiếm diện tích canh tác

2.6.2.2 Quản lý, xử lý rác thải tại Việt Nam

2.6.2.2.1 Quản lý rác thải tại Việt Nam

Trang 29

Quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố như

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng… đang là thách thứclớn đối với các nhà quản lý Tốc độ tăng rác thải không chỉ vì dân số đô thịtăng, sản xuất, dịch vụ tăng, mà còn vì mức sống của người dân đang ngàymột tăng lên Tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở các quận nội thành đạtkhoảng 95%, còn các huyện ngoại thành tỷ lệ này chỉ đạt 60%; Lượng CTRcông nghiệp được thu gom đạt 85-90% và chất thải nguy hại mới chỉ đạtkhoảng 60-70%

Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựavào kinh phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thànhphần kinh tế tham gia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp,người dân chưa thực sự chủ động tham gia vào hoạt động thu gom cũng nhưchưa thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp kinh phí cho dịch vụ thu gom rác thải

Có thể nói, hiện nay trên địa bàn của các đô thị nhỏ vẫn chưa có hệthống thu gom, vận chuyển chất thải rắn một cách có hệ thống xuyên suốttoàn tỉnh, mà tuỳ theo yêu cầu bức xúc của các huyện, thị và mỗi địaphương, hình thành một xí nghiệp công trình công cộng hoặc đội vệ sinh đểtiến hành thu gom rác thải sinh hoạt và một phần rác thải công nghiệp tại cáckhu trung tâm nhằm giải quyết yêu cầu thu gom rác hàng ngày

Theo nghiên cứu của URENCO thì Ở nhiều nước đang phát triển trênthế giới, chi phí cho công tác quản lý CTR đô thị chiếm xấp xỉ 20% tổng chingân sách đô thị Ở nước ta, các nhà chuyên môn đánh giá, tổng chi choquản lý CTR cũng chiếm khoảng 6,7% tổng chi phí ngân sách đô thị Tuynhiên vẫn có từ 5 - 7% lượng chất thải sinh hoạt hàng ngày chưa được thugom, xử lý Hơn nữa, các biện pháp xử lý rác thải hiện nay vẫn chủ yếu làchôn lấp Nhưng bãi rác Nam Sơn cũng chỉ xử lý được khoảng 1.603tấn/ngày (xử lý bằng phương pháp chôn lấp).Các nhà khoa học đã đưa ra

Trang 30

nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTR ở Hà Nội, trong đóviệc đầu tư sản xuất phân compost từ chất thải được đặt lên hàng đầu.

Tại các thành phố, việc thu gom và xử lý chất thải đô thị thường doCông ty Môi trường đô thị (URENCO) đảm nhận Tuy nhiên đã xuất hiệncác tổ chức tư nhân tham gia công việc này Việc thu gom chất thải rắn sinhhoạt và quét dọn đường phố thường làm vào ban đêm để tránh nắng nóngban ngày và tắc nghẽn giao thông

URENCO cho biết, trung bình mỗi ngày công ty thu gom hơn 2.000tấn rác thải, trong đó, thành phần rác hữu cơ nếu được phân loại tốt sẽ tậndụng được tới 40% Hiện nay, công nhân của Công ty này tự phân loại được

100 tấn rác hữu cơ/ngày để làm phân bón ở nhà máy xử lý rác thải CầuDiễn Theo tính toán của cơ quan chuyên môn, nếu thực hiện tốt mô hình 3Rmỗi tháng thành phố Hà Nội sẽ tiết kiệm được gần 4 tỷ đồng chi phí xử lýrác

URENCO đưa ra mục tiêu từ 2010 đến 2020, rác sinh hoạt trên địa bànthành phố Hà Nội sẽ được phân loại tại nguồn và phấn đấu đến 2010 sẽ tậndụng được 30% rác Như vậy, mỗi người dân đều có thói quen phân loại rácngay tại nhà thì sẽ tận dụng được rác để tái chế, tiết kiệm được tài nguyên,tiết kiệm được sức người

2.6.2.2.2 Xử lý rác thải tại Việt Nam

Việc xử lý chất thải rắn đô thị cho đến nay chủ yếu vẫn là đổ ở các bãithải lộ thiên không có sự kiểm soát, mùi hôi và nước rác là nguồn gây ônhiễm cho môi trường đất, nước và không khí Theo báo cáo của sở khoahọc công nghệ và môi trường các tỉnh, thành và theo kết quả quan trắc của 3vùng, mới chỉ có 32/64 tỉnh, thành có dự án đầu tư xây dựng bãi chôn lấphợp vệ sinh, trong đó 13 đô thị đã được đầu tư xây dựng Tuy nhiên, trừ bãi

Trang 31

chôn lấp chất thải rắn tại Khu Liên hợp Xử lý chất thải Nam Sơn, Hà Nội vàbãi chôn lấp chất thải rắn tại thành phố Huế đang hoạt động trong sự tuânthủ các yêu cầu đảm bảo môi trường một cách tương đối, còn các bãi khác,

kể cả bãi chôn lấp rác thải hiện đại như Gò Cát ở thành phố Hồ Chí Minh,cũng đang ở trong tình trạng hoạt động không hợp vệ sinh

Hoạt động tái chế, giảm lượng chất thải sinh hoạt được tập trung chủyếu vào đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến rác thành phân hữu cơ Tuynhiên do chưa có những khảo sát chi tiết về khả năng chấp thuận của cộngđồng đối với sản phẩm phân vi sinh, đồng thời do kỹ năng phân loại trongquá trình sản xuất của các nhà máy này còn thấp, nên hiệu quả hoạt động củacác nhà máy này chưa cao

Theo số liệu của Bộ Xây dựng, gần đây, đã có một số công nghệ trongnước được nghiên cứu, phát triển với nhiều ưu điểm như khả năng phân loạirác tốt hơn, đặc biệt là đã tái chế, tái sử dụng được phần lớn lượng chất thải,đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường như công nghệ SERAPHIN, ANSINH-ASC và MBT-CD.08 với sản phẩm là phân hữu cơ, các sản phẩm nhựa táichế và viên nhiên liệu, đã được triển khai áp dụng tại Nhà máy xử lý rácĐông Vinh (Nghệ An), Nhà máy xử lý rác Sơn Tây, (Hà Nội); Nhà máy xử

lý rác Thủy Phương (TT-Huế); Nhà máy xử lý rác Đồng Văn (Hà Nam),bước đầu đã đạt kết quả nhất định Tuy nhiên, các công nghệ trong nước đều

do doanh nghiệp tư nhân tự nghiên cứu phát triển nên việc hoàn thiện côngnghệ cũng như triển khai ứng dụng trong thực tế còn gặp một số khó khăn

Vì vậy, vừa qua, Bộ Xây dựng đã xây dựng Chương trình xử lý chấtthải rắn sinh hoạt áp dụng công nghệ hạn chế chôn lấp giai đoạn 2009 -

2020, với quan điểm kết hợp đầu tư của Nhà nước và khuyến khích, huyđộng các thành phần kinh tế tham gia đầu tư trong lĩnh vực xử lý chất thải

Trang 32

rắn sinh hoạt đô thị, đảm bảo đáp ứng mục tiêu đến năm 2020 các địaphương đều được đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt

áp dụng công nghệ xử lý hạn chế chôn lấp, đặc biệt đối với các khu xử lýchất thải rắn có tính chất vùng bằng các nguồn vốn khác nhau nhằm giảiquyết triệt để vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường do chất thải rắn sinhhoạt đô thị trong toàn quốc

Giai đoạn 2009 đến 2015 sẽ có 85% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt

đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đókhoảng 60% được tái chế, tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơ hoặc đốt rác thuhồi năng lượng Giai đoạn 2016 đến 2020 sẽ có 90% tổng lượng chất thảirắn sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường,trong đó 85% được tái chế, tái sử dụng, sản xuất phân hữu cơ hoặc đốt rácthu hồi năng lượng

Việc thực hiện Chương trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt áp dụng côngnghệ hạn chế chôn lấp giai đoạn 2009 - 2020 có ý nghĩa to lớn đối với nước

ta trong giai đoạn hiện nay nhằm phát huy mọi nguồn lực tham gia giảiquyết những bức xúc về chất thải rắn, góp phần thực hiện chủ trương xã hộihóa công tác quản lý chất thải rắn trong cả nước Các nhà máy xử lý rác thảicủa chương trình được xây dựng sẽ góp phần thực hiện mục tiêu hạn chếchôn lấp rác thải, tiết kiệm kinh phí, đất đai, hạn chế gây ô nhiễm môitrường và giải quyết triệt để vấn đề rác thải hiện đang gây bức xúc tại các

Trang 33

chuyển lên ô tô chuyên dụng tại các ngã tư, góc đường… Việc rác thải chưađược phân loại tại nguồn cũng gây khó khăn cho việc vận chuyển, xử lý Năng lực của các xí nghiệp môi trường đô thị về thiết bị, phương tiệnthu gom vẫn còn thiếu, tải trọng nhỏ, cũ, hỏng…chưa theo kịp các yêu cầuthực tế Đối với khu vực ngoại thành thì lại có đặc điểm diện tích rộng, dân

cư không tập trung, thành phần rác thải “phong phú hơn” do hoạt động nôngnghiệp: các loại bao bì phân bón, vỏ hộp thuốc trừ sâu…khó thu gom do ýthức người dân chưa cao và hệ thống vận chuyển bị hạn chế cả về nhân lực

Hiện nay, chỉ tính riêng Hà Nội vẫn còn 66% số xã chưa có nơi chônlấp hoặc xử lý rác thải Khu vực ngoại thành có 361/435 xã, thị trấn đã thànhlập tổ thu gom rác; trong đó có 148 xã đã tổ chức chuyển rác đi xử lý, chônlấp tại bãi rác tập trung của thành phố (đạt tỉ lệ 34%), còn lại vẫn chủ yếu tổchức chôn lấp hoặc đổ ra các bãi đất trống công cộng ngay tại địa phương.Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Nội cho biết: Đểnâng cao đời sống vật chất cho người dân khu vực ngoại thành, Hà Nội đặtmục tiêu đến năm 2015, 100% số xã ở khu vực ngoại thành có xử lý rác thảisinh hoạt và đến năm 2020, 100% làng nghề bị ô nhiễm nặng được xử lýchất thải

Theo đó, trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2010, thành phố sẽ đầu tư

mở rộng các khu xử lý rác thải tập trung ở Nam Sơn (Sóc Sơn) và NúiThoong (Chương Mỹ); chuẩn bị đầu tư xây dựng một số khu xử lý rác tập

Trang 34

trung xa trung tâm thành phố như khu Đồng Ké (huyện Chương Mỹ), khuChâu Can (huyện Phú Xuyên) Các huyện có điều kiện thuận lợi về địa lýnhư: Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Mê Linh và một số

xã thuộc các huyện: Quốc Oai, Chương Mỹ, Phú Thọ, Thạch Thất…sẽ tổchức thu gom và vận chuyển rác thải đến các khu xử lý tập trung của Thànhphố Ở các khu vực còn lại, UBND các huyện quy hoạch và bố trí ngân sách

để đầu tư, xây dựng ở mỗi huyện 1 bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh quy mô cấphuyện

Trong giai đoạn từ 2011 đến 2015, Hà Nội sẽ hoàn thành việc xâydựng các khu xử lý rác thải sinh hoạt quy mô cấp thành phố; nâng cấp và cảitiến dây chuyền công nghệ tại các khu xử lý hiện có và tổ chức vận chuyểnrác để đi xử lý tập trung cho tất cả các xã còn lại để đảm bảo 100% số xãđược xử lý rác thải sinh hoạt

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu về hiện trạng rác thải sinh hoạttrên địa bàn thị trấn Kim Bài (nguồn phát sinh, thành phần, khối lượng rác)

và hiện trạng quản lý rác thải tại đây ( tình hình thu gom, vận chuyển, xửlý…)

Trang 35

+ Phạm vi nghiên cứu: thị trấn Kim Bài.

3.2 Nội dung nghiên cứu

+ Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Thanh Oai

 Đặc điểm điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý; địa hình, địa mạo; khí hậu,thủy văn, các nguồn tài nguyên

 Đặc điểm kinh tế, xã hội: Tốc độ tăng trưởng kinh tế; dân số, laođộng, việc làm và thu nhập; sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịchvụ; cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội

+ Quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài:

 Thực trạng phát sinh rác thải sinh hoạt của thị trấn: thành phần rácthải sinh hoạt, lượng bình quân…

 Lượng rác thải của hộ gia đình (kg/người/ngày )

 Điều tra công tác quản lý và xử lý rác thải trên địa bàn thị trấn: hoạtđộng quản lý, thu gom, thái độ của nhà quản lý, công nhân thu gom,các hộ gia đình…

 Những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý rác thải sinh hoạttrên địa bàn thị trấn hiện nay

+ Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải phù hợp với tìnhhình thực tế của thị trấn

3.3 Phương pháp nghiên cứu:

3.3.1Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

+ Thu thập, tổng hợp tài liệu có liên quan như: điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội của địa phương; hiện trạng rác thải sinh hoạt, công tác thugom, vận chuyển thông qua các cơ quan của huyện Thanh Oai

+ Các số liệu thu thập thông qua các cơ quan của UBND thị trấn KimBài

+Tìm hiểu qua sách báo, mạng internet…

Trang 36

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

+ Phương pháp khảo sát thực địa để thấy được tình hình chung về rácthải trên địa bàn

+ Phỏng vấn bằng phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của các hộ giađình về tình hình quản lý rác thải sinh hoạt tại địa phương

3.3.3 Phương Pháp chuyên gia:

+ Hình thức thực hiện phương pháp này thông qua các buổi gặp gỡ,trao đổi và thảo luận với các cán bộ tại địa phương và giáo viên hướng dẫnnhằm tháo gỡ những thắc mắc

3.3.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

+ Tổng hợp tất cả các số liệu thu thập được từ các phương pháp trên + Xử lý số liệu bằng Excel

Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN THANH OAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Thanh Oai là một huyện đồng bằng nằm ở phía Tây Nam của thành phố HàNội, có vị trí địa lý liền kề với thành phố Hà Đông, với trung tâm kinh tế - chínhtrị là thị trấn Kim Bài cách thành phố Hà Đông khoảng 14km, cách trung tâmthành phố Hà Nội 20 km về phía Bắc Toàn huyện có 20 xã và 1 thị trấn, có tổngdiện tích tự nhiên của huyện tính đến tháng 1/2009 là 12.385,56 dân số 169.344người Địa giới hành chính bao gồm:

- Phía Đông giáp huyện Thường Tín, huyện Thanh Trì;

- Phía Tây giáp huyện Chương Mỹ;

- Phía Nam giáp Ứng Hoà và huyện Phú Xuyên;

Trang 37

- Phía Bắc giáp thành phố Hà Đông và huyện Hoài Đức;

Với vị trí nằm liền kề với thành phố Hà Đông và trung tâm thành phố

Hà Nội, Thanh Oai có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, giaolưu buôn buôn bán đặc biệt thuận lợi trong việc tiêu thụ các sản phẩm nôngsản và các sản phẩm sản xuất từ các làng nghề truyền thống

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Thanh Oai có địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng với hai vùng

rõ rệt là vùng đồng bằng sông Nhuệ và vùng bãi sông Đáy, có độ dốc từ Tâysang Đông và từ Bắc xuống Nam Điểm cao nhất là xã Thanh Mai với độcao 7.5m so với mặt nước biển và điểm thấp nhất là xã Liên Châu có độ cao1.5m so với mặt nước biển

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm 23,80C, nhiệt độ cao nhấtvào tháng 7 có ngày lên tới 38 - 390C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng giêng cóngày chỉ có 10-120C

- Lượng mưa:

Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa bình quân hàng năm là

1600 – 1800 mm, cao nhất có năm đạt 2.200 mm, song có năm thấp nhất chỉđạt 1300 mm Lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 6,7,8 với cường

độ lớn (chiếm hơn 80%) nên thường gây ra úng lụt cục bộ tại những vị tríven sông Đáy gây thiệt hại cho mùa màng

Trang 38

Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa này thiếu nướcnghiêm trọng, cây trồng và vật nuôi bị ảnh hưởng của thời tiết lạnh.

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình 80% Tổng lượng nước bốc hơi

cả năm 700 – 900 mm, lượng nước bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 12, tháng 01năm sau, lớn nhất vào tháng 5 – 6

- Nắng: Số giờ nắng trung bình cả năm là 1700 – 1800 giờ, số giờnắng cao nhất trong năm là 2000 giờ, số giờ nắng thấp nhất trong năm là

1500 giờ

Hình 4.1 Biểu đồ diễn biến một số yếu tố khí hậu huyện Thanh Oai

4.1.1.4 Thuỷ văn

Hệ thống thuỷ văn của huyện gồm hai sông lớn là sông Đáy, sông Nhuệ

và hệ thống hồ, đầm lớn tập trung ở các xã Thanh Cao, Cao Viên, Cao Dương…

Sông Đáy chạy dọc phía Tây của huyện có chiều dài khoảng 20,5 kmvới độ rộng trung bình 100 – 125m, hiện tại bề mặt sông đã bị người dân

Lượng Mưa Nhiệt Độ

Ngày đăng: 23/04/2013, 09:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Hình 2.1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải (Trang 4)
Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số vùng năm 2000 - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số vùng năm 2000 (Trang 5)
Hình 2.3 Sơ đồ xử lý rác theo công nghệ Hydromex - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Hình 2.3 Sơ đồ xử lý rác theo công nghệ Hydromex (Trang 13)
Bảng 2.1: Phát sinh chất thải rắn đô thị và sinh hoạt ở một số nước Châu Á Quốc - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Bảng 2.1 Phát sinh chất thải rắn đô thị và sinh hoạt ở một số nước Châu Á Quốc (Trang 17)
Bảng 2.2 Thành phần và tỷ lệ rác thải ở Mỹ - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Bảng 2.2 Thành phần và tỷ lệ rác thải ở Mỹ (Trang 18)
Bảng 4.1 Tổng giá trị sản xuất của huyện trong 3 năm 2007, 2008, 2009 - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Bảng 4.1 Tổng giá trị sản xuất của huyện trong 3 năm 2007, 2008, 2009 (Trang 41)
Bảng 4.2 Dân số huyện Thanh Oai tính đến 30/12/2009 - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Bảng 4.2 Dân số huyện Thanh Oai tính đến 30/12/2009 (Trang 43)
Hình 4.3. Tỷ lệ rác hữu cơ và vô cơ tại các thôn của thị trấn Kim Bài - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Hình 4.3. Tỷ lệ rác hữu cơ và vô cơ tại các thôn của thị trấn Kim Bài (Trang 51)
Bảng 4.6 Phân bố dân cư và lượng rác thải sinh hoạt của thị trấn Kim Bài - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Bảng 4.6 Phân bố dân cư và lượng rác thải sinh hoạt của thị trấn Kim Bài (Trang 52)
Hình 4.4 Khối lượng RTSH của các thôn tại thị trấn Kim Bài - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Hình 4.4 Khối lượng RTSH của các thôn tại thị trấn Kim Bài (Trang 53)
Bảng 4.8 Lượng người, tần suất và tiền công của người thu gom rác - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Bảng 4.8 Lượng người, tần suất và tiền công của người thu gom rác (Trang 59)
Hình 4.5 Tỷ lệ % cách xử lý rác thải của người dân thôn Cát Động - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Hình 4.5 Tỷ lệ % cách xử lý rác thải của người dân thôn Cát Động (Trang 60)
Hình 4.6 Tỷ lệ % cách xử lý rác thải của người dân thôn Kim Bài - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Hình 4.6 Tỷ lệ % cách xử lý rác thải của người dân thôn Kim Bài (Trang 61)
Hình 4.8 Tỷ lệ % cách xử lý rác thải của người dân khu Phố - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Hình 4.8 Tỷ lệ % cách xử lý rác thải của người dân khu Phố (Trang 64)
Bảng 4.9  Dự báo dân số thị trấn Kim Bài đến năm 2015 - Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Bảng 4.9 Dự báo dân số thị trấn Kim Bài đến năm 2015 (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w