Từ nội dung kiến thức đáp ứng khung chươngtrình đào tạo, nội dung tư tưởng phản ánh trong bài học, những kĩ năng HS cần nắm đếnphương pháp nào để truyền đạt kiến thức đó hiệu quả, làm th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM ĐỊA LÝ
MÃ SỐ: 16
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ThS LÊ VĂN NHƯƠNG
Cần Thơ, tháng 5/2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lại một chặng đường của cuộc đời tôi sắp bước qua – thời sinh viên với nhiều ước
mơ và khát vọng Lại một lần nữa tôi phải nói lời chia tay với thầy cô, bè bạn để bước vàocuộc sống xã hội với đầy đủ ý nghĩa của nó Bốn năm trên giảng đường Đại học, một giấc
mơ có thật của cô học trò nghèo mong ước trở thành cô giáo Gia đình, thầy cô, bè bạn đãluôn bên cạnh tiếp thêm sức mạnh để tôi thực hiện ước mơ của mình
Trên tay thầy cô và các bạn là quyển Luận văn tốt nghiệp, một công trình nghiêncứu nhỏ xuất phát từ những suy nghĩ, trăn trở của bản thân kết hợp vận dụng những kiếnthức đã được trang bị trên giảng đường Đây là kết quả của sự cố gắng không ngừng củabản thân cùng sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, thầy cô, bè bạn, Không thể nào quênnhững giọt mồ hôi của mẹ cha tần tảo sớm hôm để nuôi con ăn học, của người thầy trênbục giảng từng ngày, sự quan tâm, giúp đỡ của bạn bè mỗi khi gặp khó khăn,
Đầu tiên, xin ghi ân cha mẹ và những người thân đã lo lắng, động viên về vậtchất lẫn tinh thần trong suốt ngần ấy năm Đây có lẽ là động lực tinh thần lớn nhất đểtôi vững bước bước đi trên con đường mà mình đã chọn
Xin cảm ơn Trường Đại học Cần Thơ đã tạo môi trường thuận lợi để tôi học tập
và rèn luyện trong suốt thời gian qua Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giảng viên,đặc biệt là quý thầy cô Bộ môn Sư phạm Địa lí – Khoa Sư phạm nhà trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Lê Văn Nhương, người đã tận tìnhhướng dẫn, giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy môn Địa lí ở Trường THPT Trà Nóc,THPT Châu Văn Liêm, THPT chuyên Lý Tự Trọng (Cần Thơ) và các em HS đã nhiệttình đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn Quađây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy Lê Ngọc Sện – giáo viên Trường THPTNguyễn Đình Chiểu (Bến Tre) - người đã nâng bước tôi bằng cả nhiệt tâm của mộtngười thầy
Và xin cảm ơn rất nhiều, những thầy cô giáo trẻ của lớp Sư phạm Địa lí khóa 34niên khóa 2008 – 2012, những người bạn đã cùng tôi trãi qua nhiều kỉ niệm vui buồn,luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên, góp ý chân tình để tôi thực hiện luận văn này
Không thể nào kể hết những tình cảm đã gửi gấm vào đây! Một lần nữa, cho tôicảm ơn tất cả những tình cảm quý báu của gia đình, thầy cô, bè bạn,… đã dành cho tôitrong suốt thời gian qua Và tôi rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, góp ý củathầy cô, các bạn, quý đọc giả để luận văn có thể hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn và chúc sức khỏe!
Tác giả
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TẮT
TỪ ĐẦY ĐỦ
điện tử của sinh viên)
Organization (Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dụccủa Liên hợp quốc)
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Tam giác dạy học 13
Hình 1.2 Ngũ giác sư phạm .13
Hình 1.3 Sơ đồ mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học 13
Hình 1.4 Cấp độ 1- Portfolio as Storatge 28
Hình 1.5 Cấp độ 2 - Portfolio as Workspace 28
Hình 1.6 Cấp độ 3 - Portfolio as Showcase 29
Hình 2.1 Folder PORTFOLIO2 lưu trữ bộ sưu tập 50
Hình 2.2 Công cụ Layout 54
Hình 2.3 Công cụ Style 55
Hình 2.4 Hộp thoại cập nhật dữ liệu 57
Hình 2.5 Sản phẩm trang web thiết kế 58
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 7
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
6 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU 8
6.1 Quan điểm hệ thống 8
6.2 Quan điểm tổng hợp 8
6.3 Quan điểm lãnh thổ 9
6.4 Quan điểm lịc sử - viễn cảnh 9
6.5 Quan điểm thực tiễn 9
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
7.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu 10
7.2 Phương pháp phân loại 10
7.3 Phương pháp quan sát 10
7.4 Phương pháp điều tra giáo dục 11
7.5 Phương pháp thực nghiệm 11
NỘI DUNG Chương 1 – CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1.1 Cơ sở lí luận 12
1.1.1 Bản chất quá trình dạy học 12
1.1.2 Phương pháp dạy học địa lí 17
1.1.3 Phương tiện dạy học địa lí 19
1.1.4 Một số vấn đề về E-portfolio 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 35
1.2.1 Chương trình Địa lí 11 – THPT 35
1.2.2 Tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học địa lí ở trường THPT 40
1.2.3 Sự phát triển của các mạng xã hội 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
Chương 2 – XÂY DỰNG E-PORTFOLIO PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 – THPT (PHẦN ĐỊA LÍ KHU VỰC VÀ QUỐC GIA) 43
2.1 Các bước xây dựng E-portfolio 43
2.1.1 Xác định bối cảnh và mục tiêu của E-portfolio 43
2.1.2 Thiết kế E-portfolio 44
Trang 62.1.3 Phản ánh portfolio 45
2.1.4 Liên kết trong portfolio 45
2.1.5 Trình bày E-portfolio 46
2.2 Xây dựng E-portfolio Địa lí khu vực và quốc gia lớp 11 – THPT 48
2.2.1 Xác định bối cảnh và mục tiêu 48
2.2.2 Xác định nội dung và công cụ trình bày 49
2.2.3 Tìm kiếm tư liệu, lựa chọn và sắp xếp tư liệu (số hóa dữ liệu) 50
2.2.4 Hoàn thiện portfolio (liên kết tư liệu, thiết kế ứng dụng) 53
2.2.5 Trình bày E-portfolio trên trang web miễn phí jimdo.com 53
2.3 Kết quả xây dựng E-portfolio Địa lí khu vực và quốc gia lớp 11 57
2.3.1.Sản phẩm E-portfolio Địa lí khu vực và quốc gia lớp 11 58
2.3.2.Những thuận lợi, khó khăn trong quátrình xây dựng E-portfolio Địa lí khu vực và quốc gia lớp 11 59
2.3.3 Những bài học kinh nghiệm 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
Chương 3 – KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA E-PORTFOLIO PHỤC VỤ DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 62
3.1 Mục đích, ý nghĩa của việc khảo sát, đánh giá 62
3.2 Thời gian thực hiện khảo sát, đánh giá 62
3.3 Đối tượng và nội dung khảo sát, đánh giá 62
3.4 Tiến hành khảo sát, đánh giá 63
3.4.1 Sử dụng tư liệu sưu tập phục vụ giảng dạy TTSP 63
3.4.2 Khảo sát lấy ý kiến về E-portfolio đối với GV đang giảng dạy tại các trường phổ thông và các giáo sinh chuyên ngành Địa lí 64
3.5 Phân tích kết quả khảo sát, đánh giá 64
3.5.1 Những kết quả đạt được 65
3.5.2 Những hạn chế và đề xuất đối với việc khảo sát, đánh giá đề tài 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72
KẾT LUẬN 1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 74
2 Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 75
3 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bước vào đại học với biết bao điều bỡ ngỡ, tôi chưa thể nào hòa nhịp với các bạnsinh viên (SV) Việc sử dụng máy tính, tiếp cận các nguồn thông tin đa dạng,… đối vớitôi còn rất khó khăn trong khi đa số bạn bè đều rất năng động và thành thạo Tôi đã tựhỏi tại sao như vậy? Các bạn đã có những điều kiện gì, đã phấn đấu như thế nào để đạtđược kết quả như thế? Thì ra là ở trường phổ thông các bạn đã được thầy cô hướngdẫn, sử dụng thường xuyên trong các giờ học Còn tôi và một số bạn, do điều kiệntrường lớp còn hạn chế, chúng tôi chỉ được học trên lí thuyết, không có điều kiện thựchành, tiếp xúc với thực tế Nhờ thầy cô, bạn bè nhiệt tình giúp đỡ cùng với sự cố gắngcủa bản thân tự tìm tòi, học hỏi, tôi đã khám phá thêm rất nhiều điều mới lạ và bổ ích.Không còn bao lâu nữa tôi sẽ trở thành một người giáo viên (GV), sẽ đứng trênbục giảng và mang trên vai nhiệm vụ rất quan trọng - nhiệm vụ trồng người - trongnhững điều kiện và hoàn cảnh mới Học sinh (HS) cần được rèn luyện để trở thànhnhững người năng động, chủ động tiếp thu kiến thức và hoàn thiện các kĩ năng, đápứng yêu cầu của xã hội Tôi luôn nghĩ mình phải làm thế nào thông qua từng bài dạygiúp cho HS có kiến thức vững vàng, có những kĩ năng cần thiết để các em tự tin bướcvào cuộc sống
Suốt bốn năm trên giảng đường Đại học, mỗi bài báo cáo, thuyết trình tôi đều chuẩn
bị rất kĩ lưỡng Nhưng có lẽ việc chuẩn bị một giáo án trước khi lên lớp là sự chuẩn bịcông phu và đòi hỏi sự nhiệt tình, tâm huyết rất nhiều Môn tập giảng đã cho tôi cơ hội thửsức mình với những trang giáo án Để soạn được một giáo án hay, là tiền đề cho một tiếthọc hiệu quả GV phải chuẩn bị rất nhiều Từ nội dung kiến thức đáp ứng khung chươngtrình đào tạo, nội dung tư tưởng phản ánh trong bài học, những kĩ năng HS cần nắm đếnphương pháp nào để truyền đạt kiến thức đó hiệu quả, làm thế nào để HS hiểu và có thểvận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống – mục đích cuối cùng của việc dạy học -không phải chỉ trong một vài giờ mà cần có thời gian chuẩn bị chu đáo Thông thường,một giáo án có thể soạn trước từ 2 tuần nhưng GV vẫn thấy chưa hài lòng, mỗi lần suynghĩ lại có thêm những ý kiến mới, hoàn chỉnh hơn Nhất là đối với những giáo sinh,những SV vừa mới ra trường, chưa có nhiều kinh nghiệm, vốn kiến thức thì rộng lớn,phương pháp thì rất nhiều nhưng không biết nên lựa chọn như thế nào cho phù hợp, đảmbảo kiến thức và thời gian cho tiết dạy Những điều này đã làm tôi trăn trở rất nhiều mới
có thể thiết kế được giáo án của mình
Với những suy nghĩ đó, thôi thúc tôi tìm ra một phương pháp để có được nhữngtài liệu mà mình mong muốn, giúp cho việc soạn giáo án dễ dàng và truyền đạt kiến
Trang 8thức hiệu quả cho HS Không có gì tốt bằng mình chuẩn bị sẵn một kho lưu trữ, sắpxếp cẩn thận, khi cần là có thể sử dụng ngay, nhất là đối với những vấn đề rộng, phongphú, HS ít có điều kiện tiếp xúc thực tế.
Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ, các phương tiện dạy học(PTDH) ngày càng hiện đại, sẽ là một điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện mong muốncủa mình Những ứng dụng của công nghệ thông tin (CNTT) cho phép lưu trữ nhữngtài liệu tìm được một cách hiệu quả và rất thuận lợi trong việc tìm kiếm, sử dụng Đâycòn là quá trình giúp GV nâng cao trình độ kiến thức lẫn kĩ năng đáp ứng yêu cầu đổimới phương tiện và phương pháp dạy học theo hướng hiện đại
Ở mỗi khối lớp của chương trình địa lí trung học phổ thông (THPT) đều cónhững vấn đề riêng, có sức hấp dẫn riêng Những kiến thức về Địa lí các khu vực,quốc gia trong chương trình Địa lí 11 là một phần của sự mới mẻ mà các em chỉ đượchọc trên sách vở, chưa có điều kiện để được đến với những vùng đất này Nội dungnày là một cuộc hành trình du lịch đến với những quốc gia trên thế giới thông qua quátrình giáo dục Thời gian trên lớp thì luôn là một giới hạn lớn trong khi kiến thức vềnhững quốc gia này vô cùng phong phú, có sức hấp dẫn rất lớn đối với các em Chính
vì thế, tôi chọn đề tài “Xây dựng E-portfolio phục vụ dạy học Địa lí lớp 11 - THPT
(phần Địa lí khu vực và quốc gia)” để nghiên cứu và sưu tập những vấn đề liên quan
đến các khu vực và quốc gia trong chương trình Địa lí lớp 11, góp phần phục vụ tốthơn quá trình dạy học (QTDH) sau này Đề tài là sự kết hợp giữa hiểu biết về kiếnthức tích luỹ trong suốt quá trình học tập với các phương pháp giáo dục và việc ứngdụng các kĩ năng, trong đó có kĩ năng về sử dụng CNTT - một trong những kĩ năng rấtcần thiết để giúp sử dụng những tư liệu ấy hiệu quả Tôi luôn hi vọng rằng, tự mình cóthể tập hợp một số kiến thức căn bản cần thiết bước đầu làm tư liệu chuẩn bị cho côngtác biên soạn giáo án phục vụ cho việc giảng dạy ở trường phổ thông sau này Đókhông chỉ là tài liệu của riêng tôi, mà còn góp phần vào kho kiến thức chung trong quátrình đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng hiện đại và tích cực
2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nhiều nhà giáo dục khuyến khích việc sử dụng portfolio trong lĩnh vực giáo dụccho HS cũng như là GV Những nghiên cứu của một số tác giả: Helen Barrett, Lori A.Norton-Meier, Taru Jokinen, cho thấy sử dụng portfolio mang lại nhiều kết quả trongQTDH Tác giả Helen C Barrett (Hoa Kì) cho rằng việc ứng dụng portfolio trong dạyhọc thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển năng lực chuyên môn và khả năng học tập suốtđời đối với người dạy và người học.[13] Kết quả nghiên cứu của Dorman, Caroll &Parboosignh (2002) cho thấy sự phát triển năng lực cá nhân mang lại từ portfolio
Trang 9Người ta sử dụng nhiều chiến lược trong quá trình học tập, giải quyết những khó khăn,thách thức để tìm hiểu đầy đủ về một vấn đề Từ đó, portfolio giúp HS hiểu đượcnhững vấn đề trong quá trình học tập của mình và làm phong phú hơn những tư liệu,kiến thức trong suốt quá trình học tập Những tài liệu này đã phát huy được những tácdụng của nó khi được số hóa dưới dạng cơ sở dữ liệu điện tử (gọi là portfolio điện tửhay E-portfolio) E-portfolio đã được nghiên cứu ứng dụng ở nhiều trường đại học ởHoa Kì, Canada, Phần Lan, (trường Đại học của bang Kansas – Hoa Kì, GV đã tạo ra
hệ thống portfolio điện tử để giảng dạy cho SV (Norton-Meier, 516); nghiên cứu ở
Ở Việt Nam, một số trường đại học cũng đã tiến hành xây dựng những portfoliođiện tử để quản lí SV, sử dụng lưu trữ thông tin về các khóa học Không chỉ giảng viên
mà những SV cũng được hướng dẫn để xây dựng những bộ hồ sơ tư liệu phục vụ choviệc học tập của mình trên các trang web miễn phí Trường Đại học Đà Lạt đã tiếnhành xây dựng E-portfolio (hồ sơ điện tử SV - SELP) theo dạng trên và bước đầu ápdụng cho SV ngành tiếng Anh của trường Đây là bộ sưu tập cơ sở dữ liệu các côngviệc do SV thực hiện một cách khoa học và có tính hệ thống để thể hiện được các khảnăng chuyên ngành, quá trình phát triển của SV trong học tập và rèn luyện chuyênmôn Đây cũng là cơ sở dữ liệu điện tử để lưu trữ và trình bày các công trình chuyênmôn của SV rất hiệu quả, phục vụ cho mục đích trao đổi, thảo luận, nâng cấp và đánhgiá cuối khóa Nội dung của SELP bao gồm bài viết, phim ảnh, các bài giảng, câu hỏikiểm tra, đề thi về đề tài chuyên môn SV đang theo học
Xây dựng E-portfolio không chỉ được ứng dụng ở môi trường Đại học mà cần
mở rộng ở các bậc học phổ thông E-portfolio là một hình thức để GV và cả HS tậphợp và lưu trữ những nội dung cần thiết phục vụ dạy và học Trong hoạt động giáodục, chúng ta vẫn có quá trình sưu tập tư liệu, lưu giữ theo từng chủ đề, đó là những
bộ sưu tập tư liệu Tùy tính chất môn học mà bộ sưu tập có những nội dung khác nhau.Đặc biệt là đối với môn Địa lí, nhiều GV, giáo sinh đã rất quan tâm xây dựng những bộ
tư liệu dạy học các khối lớp Việc sưu tập tư liệu phục vụ giảng dạy không phải là vấn
đề mới mẻ Từ rất sớm, GV đã có những cách sưu tập những tài liệu, hiện vật để phục
vụ dạy học (các mẫu vật, tranh ảnh, bản đồ, ) Tuy nhiên, việc đảm bảo lưu giữ nhữngmẫu vật, tư liệu này gặp không ít khó khăn (dễ bị hư hỏng, thất lạc) Khi PTDH hiệnđại hơn, máy tính xuất hiện, người ta có những tư liệu lưu trữ trên máy, với các dạngtài liệu đa dạng hơn, phục vụ việc dạy học tốt hơn Việc xây dựng bộ hồ sơ điện tử rađời khi CNTT phát triển, với mạng máy tính kết nối internet, khi các hình thức truyềnthông đa phương tiện trở nên phổ biến Tác giả Vưu Nguyễn Thanh Tuyền, SV ngành
Sư phạm Địa lí khóa 30 trường Đại học Cần Thơ đã thực hiện đề tài “Xây dựng bộ tư
Trang 10liệu phục vụ thiết kế bài giảng điện tử - chương trình Địa lí lớp 10 cải cách - phần Địa
lí kinh tế xã hội (chương VII, VIII, IX)” Đề tài đã tiến hành xây dựng bộ tư liệu bao
gồm thông tin, hình ảnh, biểu đồ, bản đồ lưu trữ trên đĩa CD chuẩn bị cho thiết kế bàigiảng điện tử (kể cả giáo án thường) trong chương trình lớp 10 giúp GV rút ngắn thờigian tìm tòi, sưu tập tài liệu cho nội dung bài học, việc giảng dạy hiệu quả và tạo được
sự lôi cuốn đối với HS Ngoài ra còn có những đề tài thực hiện xây dựng những bộ sưutập chuyên đề về bản đồ, hệ thống câu hỏi, trong chương trình Địa lí THPT Những
đề tài này đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu, sưu tập trong đề tài của tôi
Chúng ta dễ dàng tìm thấy trên mạng internet những trang web về nội dung giáodục (giáo án, đề kiểm tra, trao đổi kiến thức, ) Đó cũng là hình thức của những bộsưu tập điện tử nhưng còn ở mức độ bao quát, phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau,nhiều môn học khác nhau Những tài liệu chuyên môn để giảng dạy thì còn nằm rải rác
ở nhiều nơi, đôi khi không có nguồn gốc rõ ràng, cơ sở khoa học vững chắc Ths LêVăn Nhương (bộ môn Sư phạm Địa lí – Khoa Sư phạm – Trường Đại học Cần Thơ)
cũng xuất phát từ thực tế này, đã thực hiện đề tài: “Xây dựng và sử dụng hồ sơ điện tử
dạy học địa lí 11 – THPT (tháng 12/2011)” Đề tài thực hiện xây dựng bộ tư liệu cho
chương trình Địa lí lớp 11, có thể sử dụng trên đĩa CD và nhất là tham khảo ngay trên
trang web http://dayhocdiali.jimdo.com Đề tài đã được thực nghiệm ở một số trường
phổ thông với kết quả bước đầu đã mang lại nhiều thuận lợi cho GV trong việc chuẩn
bị bài giảng cũng như kết quả học tập của HS được nâng lên
Tôi tiến hành xây dựng E-portfolio phục vụ dạy học Địa lí 11 – THPT khôngphải là một sự lặp lại trùng lấp với những gì đã nghiên cứu Ở phạm vi hẹp hơn (địa líkhu vực và quốc gia), tôi đã tiếp cận ở góc nhìn cụ thể hơn trong việc xây dựng hồ sơđiện tử phục vụ dạy học Dựa trên những nền tảng sẵn có, những kiến thức đã đượctích lũy, nghiên cứu những vấn đề cụ thể hơn để tạo ra sản phẩm cho riêng mình, gắnliền với thực tiễn ở trường phổ thông, có thể phục vụ việc giảng dạy sau này
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Với những kinh nghiệm ban đầu về việc soạn giáo án, những kinh nghiệm tíchlũy từ bạn bè, thầy cô, quá trình thực tập sư phạm (TTSP) để có thể thực hiện luận vănnày, tôi mong muốn kết quả cuối cùng sẽ là bộ sưu tập trên máy tính sau đó sẽ chuyểnlên web về địa lí khu vực và quốc gia, chương trình Địa lí lớp 11
- Đây sẽ là tư liệu tham khảo trong quá trình soạn giáo án, nhất là những GV mới
ra trường Nguồn tư liệu này giúp GV có nhiều cơ hội lựa chọn và sử dụng phươngpháp giảng dạy phù hợp, sinh động và hiệu quả hơn
Trang 11- Với những tư liệu sẵn có và tương đối đầy đủ các nội dung kiến thức trongchương trình sẽ rút ngắn được thời gian tìm kiếm, giúp GV có điều kiện đầu tư tìmhiểu, nghiên cứu sâu hơn, tạo ra nhiều sáng kiến kinh nghiệm góp phần đổi mớiphương tiện và PPDH.
- Trong quá trình sưu tập, bản thân có thể tự nhìn nhận đánh giá lại vốn kiến thứccủa mình Từ đó có định hướng bổ sung, trau dồi những kiến thức, kĩ năng cần thiết đểphục vụ cho việc giảng dạy sau này
- Đối với các em HS, những tư liệu này sẽ là kho kiến thức kích thích các em họctập, khám phá nhiều hơn nữa những thông tin mà GV không có điều kiện truyền tảitrên lớp Thông qua việc gợi mở, nêu vấn đề, GV sẽ giúp các em chủ động, tích cựctiếp nhận không chỉ những kiến thức trên lớp mà còn tự bổ sung và hoàn thiện tri thứcthông qua các nguồn tư liệu
- Khi đã trở thành nội dung trên trang web, bộ sưu tập không còn là kiến thức củamột cá nhân mà đối tượng tiếp cận rất đa dạng (GV, HS, công nhân, nhà kinhdoanh, ) Đây là một trong những phương tiện giúp cho mọi người ở mọi lúc, mọi nơi
có thể tiếp cận vấn đề mình quan tâm
Tôi tin rằng thực hiện thành công đề tài này sẽ là quá trình tích lũy kiến thức chochính bản thân mình phục vụ việc giảng dạy sau này, là cơ hội để vận dụng nhữngPTDH hiện đại góp phần đổi mới PPDH cũng như là kênh chia sẻ thông tin với cácbạn đồng nghiệp với cả những độc giả quan tâm tìm hiểu địa lí các khu vực, quốc gia
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Việc xác định đối tượng của đề tài cũng là vấn đề rất cần thiết Trong đề tài này,tôi tập trung nghiên cứu làm thế nào để tạo ra một E-portfolio dễ sử dụng và có ýnghĩa thiết thực trong dạy học Địa lí Portfolio điện tử này sẽ được nghiên cứu thôngqua quá trình điều tra, khảo sát đối với GV Địa lí ở các trường phổ thông và SV sưphạm chuyên ngành Địa lí ở trường đại học
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Việc sưu tập, sắp xếp tài liệu phục vụ việc giảng dạy là hết sức cần thiết, hỗ trợrất nhiều cho GV, đặc biệt là những GV mới ra trường Tuy nhiên, do thời gian có hạnnên đề tài chỉ sưu tập tài liệu địa lí phần B (Địa lí khu vực và quốc gia) thuộc chươngtrình địa lí lớp 11 – THPT gồm các bài về Hoa Kì, Liên minh Châu Âu (EU), Liênbang Nga (LB Nga), Nhật Bản, Trung Quốc, Đông Nam Á và Ô-xtrây-li-a Nghiên cứu
Trang 12thực nghiệm việc sử dụng E-portfolio chủ yếu tại các trường trong Thành phố Cần Thơ
mà tôi đang TTSP (THPT Trà Nóc - Quận Bình Thủy) và có điều kiện dự giờ các bạngiáo sinh (THPT Châu Văn Liêm, THPT Chuyên Lý Tự Trọng - Quận Ninh Kiều)
6 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Quan điểm là cách thức nhìn nhận, đánh giá về sự vật hiện tượng Đề tài là mộtđịnh hướng về phương pháp trong quá trình thực hiện đổi mới PPDH Khi thực hiện đềtài này, tôi dựa trên nhóm quan điểm về phương pháp luận, trong đó chủ yếu là quanđiểm hệ thống, quan điểm tổng hợp lãnh thổ, quan điểm lịch sử, viễn cảnh để nghiêncứu lí luận của đề tài đồng thời sử dụng quan điểm thực tiễn để có thể đánh giá mộtcách chính xác, thuyết phục khả năng thực tế, sự phù hợp, hiệu quả của những vấn đềđược đề cập đến trong đề tài
6.1 Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống là cách tiếp cận đối tượng bằng phương pháp hệ thống đểtìm ra hệ thống cấu trúc của đối tượng Khi nghiên cứu đề tài cần nghiên cứu các hiệntượng giáo dục và các đối tượng địa lí một cách toàn diện để thấy được mối quan hệhữu cơ giữa các yếu tố Nghiên cứu dựa trên quan điểm hệ thống cho phép nhìn nhậnmột cách sâu sắc, toàn diện các hiện tượng, thấy được mối quan hệ giữa các đối tượngtrong hệ thống, với hệ thống lớn hơn Từ đó, xác định được con đường tổng hợp, khaithác, phát triển hợp lí
Khi nghiên cứu đề tài cần đảm bảo hình thành một hệ thống chặt chẽ các yếu tố địa lí tựnhiên, kinh tế – xã hội từng khu vực và quốc gia, sắp xếp theo một hệ thống hợp lí, vừa đảmbảo hệ thống kiến thức vừa đảm bảo tính khoa học, dễ dàng tìm kiếm Người sưu tập cần xácđịnh yêu cầu nội dung kiến thức, kĩ năng của chương trình Địa lí khu vực và quốc gia trongtoàn bộ hệ thống chương trình Địa lí THPT làm cơ sở cho quá trình tìm kiếm, chọn lọc, biênsoạn tư liệu, giáo án giảng dạy phù hợp, tránh lập lại các nội dung chồng chéo lên nhau
6.2 Quan điểm tổng hợp
Các đối tượng địa lí quốc gia dù có những đặc điểm riêng nhưng chúng khôngtồn tại riêng biệt, tách rời nhau mà có sự tác động qua lại với nhau, chịu sự chi phốicủa hoàn cảnh thực tế Đối với mỗi vấn đề, khi xem xét, chúng ta cần nhìn một cáchtổng thể, xem xét tất cả những yếu tố tác động, ảnh hưởng để có những nhận định,đánh giá hoặc đưa ra những ý kiến, giải pháp mang tính chính xác cao hơn Quan điểmnày cũng rất cần thiết trong quá trình sưu tập tài liệu Chúng ta cần có sự tổng hợp dựatrên những nguồn tư liệu tin cậy kết hợp với khả năng, kinh nghiệm tổng hợp của bản
Trang 13thân để lựa chọn, hoàn thiện nội dung kiến thức Khi phân tích đặc điểm địa lí khu vực
và quốc gia, chúng ta cần xem xét trong mối quan hệ tác động qua lại của các yếu tố tựnhiên, kinh tế - xã hội để đánh giá vấn đề một cách khách quan, chính xác và khoahọc Và khi chọn PPDH, PTDH thì cần xem xét cẩn thận, cần có sự phối hợp hợp lí đểnâng cao hiệu quả dạy và học
6.3 Quan điểm lãnh thổ
Sự vận động phát triển của thế giới là xu hướng chung, ứng dụng CNTT tronggiáo dục là một ví dụ Tuy nhiên, mỗi khu vực, quốc gia có những đặc điểm về tựnhiên, kinh tế xã hội riêng, trình độ phát triển không đồng đều, nên việc ứng dụngcũng có những mức độ khác nhau Ngay trên một quốc gia, các vùng miền cũng có sựkhác nhau về các điều kiện phục vụ giáo dục, nhất là giữa thành thị và nông thôn có sựchênh lệch khá rõ Khi thực hiện sưu tập, khảo sát, đánh giá đề tài cũng cần quan tâmđến những điều kiện này, có những định hướng giải quyết để có thể sử dụng tài liệumột cách hiệu quả, có khả năng thích ứng với các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau
6.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Quan điểm lịch sử – viễn cảnh giúp ta hiểu được quy luật tất yếu của giáo dục, từ
đó có những định hướng phù hợp đối với các thành tố của QTDH Trên cơ sở nhậnđịnh đúng đắn về những vấn đề của giáo dục trong thời gian tới, bản thân mỗi GV phảikhông ngừng thay đổi để đáp ứng những yêu cầu mà xã hội đặt ra (đổi mới phươngpháp, ứng dụng CNTT, đa dạng các hình thức đào tạo, )
6.5 Quan điểm thực tiễn
Lời nói đi đôi với việc làm thì người nghe mới tin tưởng, lí thuyết phải gắn liềnvới thực tiễn mới đánh giá được giá trị, khả năng vận dụng của vấn đề nghiên cứu.Nếu không đó chỉ là những lí thuyết suông mà thôi Trong quá trình nghiên cứu, chúng
ta dựa trên những cơ sở lí thuyết dự kiến những kết quả có thể xảy ra, đề ra cácphương hướng, giải pháp cho nội dung nghiên cứu Điều đó cần được vận dụng vàothực tế để kiểm nghiệm mức độ đúng đắn, chính xác, phù hợp Kết quả thực nghiệmtrong thực tế, vận dụng thực tiễn cho phép chúng ta đánh giá, khẳng định khả năng vậndụng của vấn đề được nghiên cứu, đồng thời có những định hướng, giải pháp cho phùhợp với tình hình thực tế (về việc xây dựng và sử dụng E-portfolio)
Trang 147 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
Tư liệu về địa lí các khu vực, quốc gia rất phong phú, đa dạng, từ nhiều nguồnkhác nhau (sách, báo chí, đĩa Encarta, internet, ) Để xây dựng E-portfolio về Địa líkhu vực và quốc gia, trước hết, cần nắm vững mục đích, định hướng những nội dungcủa bộ sưu tập Sau đó, chúng ta mới tiến hành tìm kiếm những tư liệu liên quan đếnnội dung (để tránh việc tìm kiếm lan man, ) Dựa trên những yêu cầu về nội dungchương trình, yêu cầu kiến thức cần cung cấp, người sưu tập chọn lọc những tư liệu cónội dung phù hợp, sau đó tổng hợp, sắp xếp những tư liệu đó thành hệ thống hợp lí để
dễ dàng tham khảo hoặc sử dụng Trong quá trình biên tập tài liệu, biên soạn giáo án,
GV không chỉ dựa trên những phân tích về nội dung chương trình, yêu cầu của bàihọc, PPDH dự định áp dụng mà chọn lọc những tư liệu phù hợp từ bộ sưu tập Từ đó,
GV có sự phân tích, đánh giá kết quả của việc biên soạn để rút kinh nghiệm, địnhhướng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
7.2 Phương pháp phân loại
Phương pháp phân loại là sự phân chia đối tượng theo những tiêu chí nhất định.Phương pháp phân loại cần vận dụng để thuận tiện trong việc tìm kiếm, sử dụng tàiliệu Tài liệu thu thập rất đa dạng (dạng văn bản, phim, video, hình ảnh, mô hình, ),chúng ta tiến hành phân loại và sắp xếp tư liệu theo những phân loại gắn với từng chủ
đề, đảm bảo tính khoa học, để khi cần có thể tìm kiếm dễ dàng
7.3 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin về quá trình giáo dụctrên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm cho ta những tài liệu sống về thựctiễn giáo dục để có thể khái quát những quy luật nhằm chỉ đạo tổ chức quá trình giáodục được tốt hơn Tôi sẽ sử dụng phương pháp này trong thời gian TTSP tại trườngphổ thông:
- Tiến hành quan sát hoạt động giáo dục ở trường phổ thông để thu thập thông tin
về đặc điểm, hiện trạng của việc dạy học bộ môn
- Quan sát QTDH (việc sử dụng tư liệu để dạy học, không khí lớp học, thái độhọc tập, tiếp thu kiến thức của HS) làm cơ sở đánh giá hiệu quả của việc sử dụng bộ tưliệu trong dạy học
Trang 157.4 Phương pháp điều tra giáo dục
Quan sát cho ta kết quả ban đầu về đối tượng nghiên cứu, nhiều khi mang tínhchủ quan Phương pháp điều tra thể hiện qua việc người nghiên cứu tác động trực tiếpvào đối tượng nghiên cứu thông qua hệ thống câu hỏi để có những thông tin cần thiết
về vấn đề cần nghiên cứu (số liệu, sự suy nghĩ, quan điểm) Từ đó, có thể phán đoán,tìm ra nguyên nhân, tính phổ biến hoặc biện pháp giải quyết
Đề tài tiến hành xây dựng hệ thống câu hỏi và thực hiện khảo sát GV, SV thựctập để thu thập những ý kiến về thực trạng dạy học môn Địa lí, sự cần thiết, khả năngứng dụng và những giải pháp, góp ý để xây dựng và khai thác hiệu quả portfolio
7.5 Phương pháp thực nghiệm
Để đánh giá bước đầu về việc áp dụng thực tiễn của đề tài, tôi tiến hành thựcnghiệm trong thời gian thực tập tại trường phổ thông Những tư liệu sưu tập sẽ được sửdụng trong quá trình biên soạn giáo án, giảng dạy của bản thân và các bạn giáo sinhcùng chuyên môn Qua đó, sẽ đánh giá cụ thể hơn về tính khoa học và khả năng vậndụng của đề tài, cũng như có những điều chỉnh để hoàn thiện hơn bộ sưu tập
Trang 16QTDH là một tổ hợp rất phức tạp và năng động những hành động của người dạy
và người học, gồm 2 hoạt động chủ yếu:
- Hoạt động dạy: là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS của người GVnhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học
- Hoạt động học: là quá trình tự giác, tích cực của HS nhằm lĩnh hội tri thức, kĩnăng, kĩ xảo, phát triển trí tuệ, thể chất và hình thành nhân cách của bản thân cho phùhợp với những yêu cầu của xã hội.[3 tr26]
Có thể hình dung dạy học là quá trình người dạy hướng dẫn, tổ chức, điều khiểncác hoạt động nhận thức giúp người học lĩnh hội những tri thức, kinh nghiệm, nhữngthông tin khoa học một cách có hệ thống, có phương pháp nhằm mục đích nâng caotrình độ văn hóa, năng lực trí tuệ và khả năng thực hành trong đời sống thực tế chongười học.[6 tr42]
1.1.1.2 Bản chất quá trình dạy học
Bản chất của QTDH cần được hiểu một cách sâu sắc vì nó có liên quan mật thiếtđến nhận thức của người dạy, người học cũng như việc nghiên cứu và cải tiến QTDHnhằm đạt kết quả tốt hơn Để hiểu rõ bản chất của QTDH, chúng ta cần hiểu rõ nhữngnội dung bên trong của nó bao gồm cấu trúc, tính chất, mối quan hệ quy luật của cácyếu tố cấu thành
Trang 17Môi trường kinh tế
xã hội của cộng đồng
a Cấu trúc quá trình dạy học
Cấu trúc QTDH bao gồm cấu trúc về mặt nội dung và cấu trúc về mặt quá trình.Trong cấu trúc về mặt nội dung, QTDH bao gồm 3 thành tố cơ bản: khái niệm khoahọc (nội dung của bài học), hoạt động dạy (truyền đạt và điều khiển) và hoạt động học
(lĩnh hội và tự điều khiển) được hiểu thông qua “Tam giác dạy học” gồm 3 thành tố
Thầy – Trò – Đối tượng ((gồm mục tiêu (MT), nội dung (ND) và phương pháp (PP))
“Tam giác dạy học” được mở rộng đầy đủ mối quan hệ giữa các thành tố thông qua
“Ngũ giác sư phạm” hay “Hệ thống sư phạm”:
Hình 1.1 Tam giác dạy học Hình 1.2 Ngũ giác sư phạm
Mối quan hệ giữa các thành tố của QTDH được biểu hiện đầy đủ qua sơ đồ:
Hình 1.3 Sơ đồ mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học
Môi trường giáo
MT
PP
TCĐG
PTND
MT: Mục tiêuND: Nội dungPP: Phương phápPT: Phương tiệnTC: Tổ chứcĐG: Đánh giá
Trang 18Cấu trúc về mặt quá trình trong dạy học (tương tác Thầy – Trò) bao gồm cácbước: sử dụng các phương tiện dạy học (PT) để kích thích động cơ, tổ chức hoạt độngdạy học (TC), kiểm tra và đánh giá (ĐG) kết quả so với mục đích đặt ra trong điềukiện kinh tế - xã hội cụ thể (môi trường giáo dục của nhà trường và môi trường kinh tế
xã hội của cộng đồng)
Mặt nội dung và mặt quá trình của dạy học có liên hệ với nhau rất chặt chẽ, nộidung tồn tại trong QTDH Cho nên, việc đảm bảo tính thống nhất giữa mặt nội dung
và quá trình sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
b Tính chất của quá trình dạy học
- QTDH là một quá trình xã hội Dạy học là sự tương tác giữa người với người,PTDH chính là những kinh nghiệm loài người đã tích lũy nhằm những mục đích do xãhội đặt ra mà người thầy – đại diện cho xã hội – được phân công thực hiện Người thầycần quan tâm đến môi trường sống cũng như điều kiện học tập thực tế của HS để xâydựng kế hoạch dạy học thích hợp, tạo mối liên hệ giữa học tập với đời sống và sảnxuất để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
c Quy luật của quá trình dạy học
Quy luật là mối liên hệ cơ bản, lặp đi lặp lại và tồn tại khách quan của các hiệntượng và quá trình Các quy luật dạy học là kết quả của quá trình nghiên cứu lí luận vàtổng kết kinh nghiệm thực tiễn Một số quy luật cơ bản nhất của QTDH hiện nay là:[3 tr31]
Trang 19- Quy luật về tính quy định của xã hội đối với hoạt động giáo dục và đào tạo.QTDH phải thỏa mãn các yêu cầu xã hội, đặc biệt là yêu cầu đào tạo nhân cách pháttriển toàn diện, có khả năng tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, khoa học xã hội
và văn hóa Dạy học đạt kết quả cao khi phối hợp một cách hài hòa, cân đối giữa cácyếu tố của QTDH với các điều kiện và môi trường bên ngoài
- Quy luật về sự thống nhất giữa các thành tố của QTDH QTDH có sự tương hỗvới nhau trong một QTDH hoàn chỉnh Các hình thức tổ chức dạy học phụ thuộc vàonhiệm vụ, nội dung và PPDH Mối liên hệ tương hỗ giữa các thành tố trong QTDHtrong những điều kiện thích hợp sẽ cho kết quả dạy học bền vững, tự giác và hiệu quả
- Quy luật về sự thống nhất giữa dạy học, giáo dục và phát triển Nội dung dạyhọc phụ thuộc vào nhiệm vụ dạy học, phản ánh nhu cầu xã hội, mức độ lôgíc phát triểncủa khoa học
- QTDH phụ thuộc một cách có quy luật vào khả năng học tập của HS, vàonhững điều kiện bên ngoài mà nó tồn tại,
Khi vận dụng các quy luật để giải quyết các vấn đề nhất định, cần đặt trong mốiliên hệ với môi trường, trong sự phối hợp và tác động tương hỗ lẫn nhau Vận dụngphối hợp các quy luật của QTDH một cách phù hợp, đúng mục đích sẽ góp phần nângcao chất lượng giáo dục trong nhà trường
1.1.1.3 Đặc điểm cơ bản của quá trình dạy học hiện nay
Cùng với sự phát triển đất nước, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, sự phát triểnkhông ngừng của xã hội, nền giáo dục nước ta cũng đang từng bước được đổi mới.QTDH hiện nay cũng có sự thay đổi và mang những đặc điểm cơ bản sau:
- Hoạt động của HS được tích cực hóa trên cơ sở nội dung dạy học ngày cànghiện đại hóa Trước đây, vai trò của người thầy hết sức quan trọng Người thầy giữ vaitrò chủ đạo, truyền đạt tất cả kiến thức cho HS, HS tiếp nhận một cách thụ động.QTDH truyền thống chưa phát huy được tư duy của người học, làm cho QTDH chỉxảy ra tác động một chiều Giáo dục hiện nay nhằm phát huy vai trò tích cực, chủ độnglĩnh hội tri thức của người học, lấy HS làm trung tâm của việc dạy học GV chỉ làngười hướng dẫn thông qua các hoạt động, HS chủ động nắm bắt tri thức, biến nóthành kiến thức của chính mình Nội dung giáo dục hiện nay cũng không ngừng đổimới để phù hợp với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đáp ứng nhu cầu thực tế của xãhội ngày càng hiện đại Vì khối lượng tri thức không ngừng tăng lên trong khi thờigian học tập của các em không thể nào tăng hơn nữa, cho nên bên cạnh những kiến
Trang 20thức trên lớp, HS cần phải có khả năng tư duy, năng lực tự nhận thức để tiếp nhậnnguồn kiến thức vô tận trong xã hội Người GV cũng phải luôn tìm tòi kiến thức và đổimới phương pháp để giúp cho HS của mình tích cực hóa tốt hơn.
- Trong QTDH hiện nay, HS có vốn sống và năng lực nhận thức phát triển hơn sovới trẻ cùng độ tuổi Chất lượng cuộc sống xã hội không ngừng được nâng lên, vì vậytrẻ em ngày nay được gia đình, xã hội chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện để học tậpđầy đủ hơn Các em sớm có điều kiện tiếp xúc với những tiến bộ của xã hội, các nguồnthông tin phong phú (ti vi, sách báo, nhất là mạng internet), được rèn luyện trong môitrường giáo dục tích cực góp phần làm tăng khả năng nhận thức của các em
- Trong quá trình học tập, HS có xu hướng vượt ra khỏi nội dung tri thức, kĩ năng
do chương trình quy định Các em có xu hướng khám phá những điều mới mẻ hơn,xảy ra ngay trong thực tế cuộc sống của các em Do đó, đòi hỏi QTDH phải đổi mới,giúp các em có khả năng tự nhận thức tốt hơn, biết tiếp thu và chọn lọc thông tin mộtcách hiệu quả, có thể phát huy, khai thác hết những tiềm năng của từng cá nhân
- QTDH được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và PTDH ngày càng hiệnđại Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, đựợc Nhà nước chú trọng đầu tư cơ sởvật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học đầy đủ và ngày càng hiện đại Các PTDH cũngkhông ngừng cải tiến, đáp ứng nhu cầu dạy học theo phương pháp mới, mang tính trựcquan cao hơn GV cần có phương pháp thích hợp để khai thác hết khả năng của cácPTDH, sử dụng phương tiện, thiết bị một cách hợp lí để phát huy cao nhất chất lượng
và hiệu quả dạy học
QTDH là quá trình tương tác qua lại giữa thầy và trò thông qua hoạt động dạy vàhoạt động học để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại Người GV đóng vai trò là người tổchức, điều khiển quá trình nhận thức của HS, giúp các em tích cực, chủ động, có khảnăng sáng tạo trong hoạt động nhận thức của mình nhằm thực hiện các mục tiêu giáodục QTDH có mối liên hệ mật thiết với các đặc điểm của môi trường kinh tế – xã hộixung quanh và tuân theo những quy luật nhất định Với mỗi điều kiện, hoàn cảnh thực
tế khác khau thì QTDH sẽ có những đặc điểm tương ứng phù hợp mới thực hiện đượccác mục tiêu giáo dục do xã hội đặt ra Đặc điểm của QTDH ngày nay đã có nhiềuthay đổi theo hướng hiện đại (cả về nội dung kiến thức, kĩ năng phương pháp vàphương tiện) Vì vậy, người dạy và người học cần thấy được những đặc điểm thay đổi
để có những định hướng phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong tình hình mới
Trang 211.1.2 Phương pháp dạy học địa lí
1.1.2.1 Phương pháp dạy học địa lí
PPDH là tổng hợp các cách thức phối hợp thống nhất giữa thầy và trò (trong đóthầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực, chủ động) nhằm thực hiện cácnhiệm vụ dạy học PPDH bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học
- Phương pháp dạy là cách thức GV trình bày tri thức, tổ chức và kiểm tra hoạtđộng nhận thức và thực tiễn của HS nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học Theo quanđiểm công nghệ dạy học, PPDH là là phương pháp thiết kế và góp phần thi côngQTDH của người GV
- Phương pháp học là cách thức tiếp thu, tự tổ chức và kiểm tra hoạt động nhậnthức và thực tiễn của HS nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học Cũng có thể nóiphương pháp học là cách thức tự thiết kế và thi công quá trình học tập của người HSnhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học.[2 tr24]
Mỗi môn học, do có nội dung và PTDH riêng nên cũng có những PPDH riêng(PPDH bộ môn) Đối với môn Địa lí, do có nhiều nội dung khác nhau về tự nhiên vàkinh tế – xã hội nên hình thành các PPDH đặc thù cho từng nội dung Đặc điểm củanội dung môn Địa lí luôn phải gắn với bản đồ, với việc quan sát trên thực địa nênPPDH môn Địa lí thường bao gồm: phương pháp bản đồ, phương pháp phân tích các
số liệu thống kê (SLTK) kinh tế theo lãnh thổ, phương pháp thực địa, [1 tr160, 3 tr100]
1.1.2.2 Phân loại
Đối với môn Địa lí, các đối tượng được phân bố cố định trong một không gianrộng lớn, HS không phải lúc nào cũng có thể tiếp xúc trực tiếp với chúng một cách dễdàng Cho nên, trong dạy học Địa lí người ta đã tích lũy và phân loại theo 3 nhómphương pháp, chủ yếu dựa vào nguồn tri thức:
- Nhóm phương pháp dùng lời (diễn giảng, giảng thuật, giảng giải, đàm thoại,nêu vấn đề, ) với mục đích mô tả, kể hoặc ghi chép lại những sự vật hiện tựơng, quátrình địa lí xảy ra trên các lãnh thổ khác nhau ở khắp nơi trên Trái Đất
- Nhóm phương pháp sử dụng phương tiện trực quan (phương pháp sử dụngtranh ảnh, bản đồ, phương pháp sử dụng quả cầu địa lí, ) với mục đích sử dụng cáctranh, ảnh, bản đồ, mô hình, tái tạo lại hình ảnh của các sự vật, hiện tượng địa lí mà
HS không có điều kiện quan sát trực tiếp và khai thác chúng với vai trò là nguồn cungcấp tri thức
Trang 22- Nhóm phương pháp thực tiễn: dựa vào việc quan sát trực tiếp các đối tựơngngoài thực địa.[1 tr164, 3 tr102]
Trong 3 nhóm phương pháp trên, có những phương pháp hoàn toàn lấy GV làmtrung tâm (diễn giảng, giảng thuật, giảng giải); nhưng cũng có những phương pháp lấy
HS làm trung tâm (quan sát ngoài thực địa, phương pháp bản đồ - nếu GV xác địnhđúng chức năng của bản đồ là nguồn tri thức) Ba nhóm phương pháp này được sửdụng từ lâu trong QTDH bộ môn Địa lí và đã trở thành những phương pháp truyềnthống, được sử dụng phổ biến trong nhà trường
Hiện nay, người ta cũng sử dụng khá phổ biến cách phân loại PPDH theo 2nhóm: nhóm các phương pháp lấy GV làm trung tâm và nhóm các phương pháp lấy
HS làm trung tâm
1.1.2.3 Đổi mới phương pháp dạy học địa lí theo hướng tích cực
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đòi hỏi nhà trường phải đào tạo
ra những con người mới, thông minh, sáng tạo, thích ứng được với yêu cầu mới củathời đại, có tri thức khoa học – công nghệ tiên tiến, có kĩ năng, kĩ x ảo vững chắc, có ý
thức nghề nghiệp để giải quyết “trúng, nhanh, sáng tạo” các nhiệm vụ thực tiễn đặt ra.
Mục tiêu đặt ra là QTDH phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sángtạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học của người học, lòng say mê học tập và ý
mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết hiện nay
NQTW4 khóa VII đã ghi rõ “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả cấp học,
bậc học ( ) Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” NQTW2 khóa VIII tiếp tục
khẳng định phải “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học ” Đây là những điều
kiện thuận lợi để chúng ta tiến hành đổi mới PPDH
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo cho phù hợp với những yêu cầu mớicủa thời đại, PPDH địa lí đang được đổi mới theo hướng tích cực hóa QTDH và đẩymạnh việc ứng dụng CNTT vào QTDH
- Những năm gần đây, việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực, giáo dục lấy HSlàm trung tâm đã mang lại cho HS những cơ hội học tập tốt hơn PPDH tích cực đượcrèn luyện thông qua QTDH (chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tăng cường họctập cá thể, phối hợp học tập với hợp tác, kết hợp đánh giá của thầy với sự tự đánh giá
Trang 23của trò) giúp HS chủ động tiếp cận và lĩnh hội tri thức Một số PPDH tích cực đượcvận dụng trong dạy học Địa lí hiện nay: PPDH nêu và giải quyết vấn đề; phương pháphướng dẫn HS khai thác tri thức từ bản đồ; phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thứcqua các SLTK kinh tế và các biểu đồ; phương pháp thảo luận trong dạy học địa lí; PPDHhợp tác theo nhóm; phương pháp khảo sát, điều tra trong dạy học
Những PPDH truyền thống cũng có nhiều thay đổi (phương pháp diễn giảngđược thay thế bằng phương pháp nêu vấn đề, các phương tiện trực quan được dùng vớimục đích làm phương tiện để HS khai thác tri thức, tìm ra tri thức mới, ) Những thayđổi về mặt PPDH địa lí trên, phần nào đã có tác dụng đối với việc phát triển tư duy của
HS và phù hợp với xu thế phát triển của lí luận dạy học hiện đại
- Đổi mới PPDH theo nghĩa của CNTT là phương pháp làm tăng giá trị lượng tin,trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn Đổi mới phương pháp giảngdạy bằng CNTT là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trìnhtrước ngưỡng cửa thế kỉ XXI với mục tiêu học ở mọi nơi, mọi lúc, học suốt đời và dạycho mọi người Những mục tiêu này sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự hỗtrợ của những công nghệ mới (phần mềm biên soạn bài giảng, kiểm tra trắc nghiệm,máy chiếu overhead, máy chiếu đa chức năng, internet, ) Hai công nghệ hiện đại vàứng dụng có hiệu quả nhất cho giáo dục - đào tạo là công nghệ truyền thông đa phươngtiện Muldimedia và công nghệ mạng Networking, đặc biệt là mạng Internet
Chân lí bất hủ của nhà giáo dục Đức Distecvec: “Người giáo viên tồi là người
cung cấp cho học sinh chân lí, còn người giáo viên giỏi là người dạy cho học sinh đi tìm chân lí” đã khẳng định vai trò, trách nhiệm của người GV trong QTDH ngày nay.
GV là người hướng dẫn cho HS đi tìm chân lí chứ không cung cấp ngay cho các emnhững chân lí đó như trước đây Tích cực nghiên cứu đổi mới, vận dụng các PPDHtiến bộ để có thể phát huy tính tích cực, chủ động của HS, giúp các em phát hiện chân
lí, lĩnh hội tri thức của nhân loại một cách hiệu quả, rèn luyện khả năng tự học, tựnghiên cứu sau này là một trong những yêu cầu đặt ra đối với PPDH các môn học nóichung, trong đó có môn Địa lí trong nhà trường phổ thông
1.1.3 Phương tiện dạy học địa lí
1.1.3.1 Phương tiện dạy học địa lí
PTDH là những dụng cụ, máy móc, thiết bị, vật dụng (đối tượng vật chất) đượcngười dạy sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt độngnhận thức của người học, là phương tiện nhận thức của người học, thông qua đó mà
Trang 24thực hiện những nhiệm vụ dạy học.[5 tr7]
Các PTDH địa lí hiện nay bao gồm:[8 tr5]
- Các cơ sở vật chất tạo điều kiện cho việc giảng dạy bộ môn: phòng địa lí, vườnđịa lí, tủ sách địa lí;
- Toàn bộ các đồ dùng trực quan (tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, );
- Các tài liệu để cung cấp những tri thức cơ bản cho GV và HS (Sách giáo khoa(SGK) Địa lí, sách báo tham khảo, );
- PTDH địa lí được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm PTDH và thiết bị kĩ thuật dạyhọc Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, các thiết bị kĩ thuật hiện đại cũng đã đư ợcthừa nhận là những PTDH (máy tính điện tử, video, vô tuyến truyền hình, máy chiếuphim, )
1.1.3.2 Phân loại phương tiện dạy học địa lí
Có nhiều cách phân loại PTDH địa lí, trong đó, sự phân chia các PTDH địa líthành 2 loại: các PTDH truyền thống và các PTDH hiện đại được đề cập đến trong thờigian gần đây với ưu điểm là đơn giản và nêu được sự phát triển của PTDH qua thờigian
- Các PTDH truyền thống:
+ PTDH phản ánh trực tiếp đối tượng địa lí (các mẫu vật, bộ sưu tập);
+ PTDH nhằm tái tạo lại đối tượng địa lí bằng hình ảnh (các mô hình, tranh ảnh,hình vẽ);
+ PTDH phản ánh đối tượng địa lí bằng ngôn ngữ (bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, SGK,tài liệu tham khảo, );
+ PTDH nghiên cứu và học tập địa lí (các dụng cụ quan trắc, đo vẽ)
- Các PTDH hiện đại:
+ Các phương tiện nhìn (các loại phim không âm thanh);
+ Các phương tiện nghe nhìn (phim ảnh, phim video, máy tính điện tử, đĩa CD,phần mềm dạy học, );
Trang 25+ Truyền thông đa phương tiện (mạng máy tính, truyền hình).
1.1.3.3 Vai trò ý nghĩa của phương tiện dạy học địa lí
Việc khai thác nhằm đưa những PTDH trên vào QTDH là cần thiết và phù hợpvới quá trình nhận thức của con người Các PTDH có vai trò rất quan trọng trongQTDH đối với cả GV và HS
a Đối với HS
- PTDH là công cụ mà nhờ đó HS nhận thức được thế giới xung quanh CácPTDH giúp HS thu nhận thông tin về sự vật, hiện tượng một cách sinh động, cung cấpcho HS những kiến thức bền vững, chính xác, có khả năng kiểm tra tính đúng đắn củacác lí thuyết, tạo điều kiện hình thành biểu tượng địa lí cho HS Biểu tượng càng sáng
tỏ, càng đầy đủ thì việc nhận thức càng tốt hơn Qua đó, PTDH còn giúp làm thỏa mãn
- PTDH được GV sử dụng làm phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của
HS Nếu không có tài liệu khoa học dùng để dạy học thì các phương tiện đó chỉ làphương tiện kĩ thuật thuần túy Nhưng phương tiện dù có hiện đại đến đâu thì chúngcũng không thể thay thế người GV trong quá trình giáo dục
- PTDH khi được vận dụng đúng đắn sẽ đóng vai trò như là nguồn thông tin vàgiải phóng người GV khỏi nhiều công việc có tính chất kĩ thuật thuần túy trong tiết học.PTDH giúp cho GV có thêm những điều kiện thuận lợi để trình bày bài giảng một cáchtinh giản, đầy đủ, sâu sắc, nhờ đó rút ngắn thời gian thuyết trình, mô tả và đơn giảnhóa bớt những thao tác rườm rà không cần thiết GV còn có thể điều khiển hoạt độngnhận thức của HS, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập được thuận lợi, có hiệu quả hơn
Trang 26- PTDH cũng chính là phương tiện để GV tự tìm tòi, nâng cao năng lực chuyênmôn, khả năng ứng dụng CNTT trong QTDH.
1.1.3.4 Những yêu cầu đối với phương tiện dạy học
Các PTDH được trang bị cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính sư phạm (giúp HS tiếp thu được các kiến thức, kĩ năng, kĩ x ảođặc trưng của môn học, tạo điều kiện cho HS củng cố và vận dụng những tri thức đó)
- Thúc đẩy việc sử dụng các PPDH hiện đại (học nhóm – báo cáo nhóm, PPDHnêu vấn đề, ) và các hình thức dạy học tiên tiến (dạy học từ xa, dạy học khám phá, )
- Đảm bảo tính trực quan (kích thước, màu sắc hài hòa, cân đối, bố cục hợp lí,chất lượng hình ảnh rõ nét, ) để HS dễ dàng theo dõi
- Đảm bảo tính thẩm mỹ cao để thu hút sự chú ý của HS, giáo dục óc thẩm mỹ vàtình yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp ở các em
- Đảm bảo tính khoa học (chính xác, thể hiện những thành tựu mới nhất của kiếnthức khoa học)
- PTDH được sử dụng trong nhà trường cần được bảo quản hợp lí để có thể sửdụng lâu dài Đồng thời cần chọn lọc những phương tiện cần thiết, số lượng vừa đủ đểtránh gây lãng phí tài sản công GV cũng có thể nghiên cứu tận dụng những PTDH gầngũi, dễ tìm trong đời sống để hạn chế chi phí đầu tư cho các phương tiện
Các PTDH là công cụ hỗ trợ không thể thiếu giúp cho việc dạy học môn Địa lí ởtrường phổ thông Với sự phát triển của khoa học công nghệ, các phương tiện hiện đạingày nay đã được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực giáo dục Máy tính điện tử và cácthành quả của CNTT, đặc biệt là internet và truyền thông đa phương tiện ngày càngđược sử dụng nhiều góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giảng dạy Vấn đề đặt
ra là chúng ta cần phải sử dụng các phương tiện đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ để
có thể khai thác tối đa kiến thức và rèn luyện thói quen tư duy cho HS
1.1.4 Một số vấn đề về E-portfolio
1.1.4.1 Khái niệm Portfolio
“Portfolio” là từ có nguồn gốc Latinh, có nghĩa là túi chứa đựng những tờ giấyhay túi giấy để đựng hồ sơ (a case for carrying loose paper) Theo từ điển The FreeDictionary, “portfolio” được dùng với các ý nghĩa:
Trang 27- Là túi lớn, mỏng, phẳng (bìa sơ-mi) để đựng những tư liệu thu thập (portfolio:
bộ tư liệu)
- Là một tập hợp những dữ liệu tiềm năng về một cá nhân hoặc tổ chức Nó được
xem như một bộ hồ sơ “giới thiệu” về những đối tượng Tùy mức độ thể hiện mà
“portfolio” có sức thuyết phục khác nhau (portfolio: hồ sơ cá nhân)
- Là một cơ sở dữ liệu chứa danh mục các mặt hàng, các sản phẩm, (portfolio:danh mục sản phẩm)
Grant Wiggins (chủ tịch tổ chức Đánh giá giáo dục Authentic Education, Hoa
Kì), đã định nghĩa “portfolio” là “sự trình bày lại bộ sưu tập công việc của một cá
nhân” Nghĩa gốc của từ cho thấy, giống như trong nghệ thuật, người ta trang trí, hoàn
thiện cho một đối tượng và mang nó từ nơi này đến nơi khác để trưng bày, triểnlãm.[14]
Các nhà giáo dục Tây Bắc Thái Bình Dương (Pecific Northwest) đã phát triển
định nghĩa “portfolio”là “bộ sưu tập có mục đích thể hiện sự nỗ lực, tiến bộ và những
thành tựu đã đ ạt được của người học về một hoặc một vài lĩnh vực”.[14] Theo đó,portfolio là bộ sưu tập các hiện vật phản ánh quá trình học tập, nghiên cứu và nhữngkết quả đạt được Các bộ sưu tập bao gồm sự lựa chọn nội dung, đưa ra những tiêu chílựa chọn, tiêu chí đánh giá và những sản phẩm thu thập được Các định dạng truyềnthống của portfolio giáo dục là trên giấy, các thư mục manila (manila folder), cácquyển sổ tay hoặc các thùng giấy lớn Các hiện vật (sản phẩm sưu tập) thường baogồm văn bản và hình ảnh trên giấy.[14]
Có thể hình dung “portfolio” là một bộ hồ sơ, bộ tư liệu của người sưu tập theomột chủ đề nhất định, nhằm những mục tiêu nhất định (thể hiện năng lực cá nhân, sựtâm đắc, hiểu biết kiến thức về một chủ đề), bao gồm những nội dung liên quan đến chủ
đề sưu tập và được sắp xếp một cách hợp lí theo những tiêu chí nhất định (trong bài viếtgọi tắt là bộ sưu tập)
1.1.4.2 E-portfolio và sự phát triển của E-portfolio
“E-portfolio” (electronic portfolio, digital portfolio) là bộ sưu tập ở dạng số(digital format) - trên đĩa quang (CD-ROM), hoặc bằng hình thức một trang web(internet site).[19]
E-portfolio sử dụng kĩ thuật điện tử, cho phép phát triển việc sưu tập, tổ chứcsắp xếp tư liệu, hiện vật của bộ sưu tập (văn bản, âm thanh, hình ảnh, video, ) thông
Trang 28qua các siêu liên kết Những liên kết này thể hiện rõ mối quan hệ giữa những tiêuchuẩn (mục tiêu) đặt ra, những tư liệu (hiện vật) đã sưu tập và sự phản ánh những tưliệu này, được sắp xếp hợp lí, thể hiện sự phát triển theo thời gian [14]Quá trình pháttriển của E-portfolio bao gồm sự phát triển của truyền thông đa phương tiện và sự pháttriển của portfolio.
- Sự phát triển của kĩ thuật truyền thông đa phương tiện gồm các bước:
+ Quyết định (Decide/Asess): tập trung đánh giá yêu cầu, mục tiêu, các công cụthích hợp cho việc trình bày portfolio
+ Thiết kế, lập kế hoạch (Design/Plan): tập trung vào tổ chức, thiết kế các nộidung trình bày Xác định nội dung phù hợp với đối tượng, phần mềm lưu trữ, trình tựtrình bày, thiết kế sơ đồ trình bày
+ Xây dựng và phát triển (Develop): Thu thập các nội dung đưa vào trình bày và
tổ chức sắp xếp bộ sưu tập, sử dụng các siêu liên kết, các tương tác đa phương tiệnthích hợp
+ Trình bày (Implement): trình bày portfolio đến các đối tượng dự định
+ Đánh giá (Evaluate): đánh giá hiệu quả trình bày, thiết kế (đánh giá khách quan
và chủ quan)
- Quy trình phát triển portfolio gồm các bước:
+ Thu thập tư liệu (Collection): tập hợp bộ sưu tập (những hiện vật đã lưu giữtrong quá trình dạy và học)
+ Lựa chọn (Selection): xem xét, đánh giá những hiện vật, lựa chọn những hiệnvật phù hợp với các tiêu chuẩn của người sưu tập portfolio
+ Phản ánh (Reflection): tự đánh giá, phản ánh những nội dung phù hợp vớinhững tiêu chuẩn đặt ra và những nội dung còn thiếu sót
+ Định hướng (Projection/ Direction): so sánh kết quả tự đánh giá, phản ánh của
họ với những tiêu chuẩn đặt ra và đặt mục tiêu cho tương lai (nội dung cần sưu tập,nghiên cứu tiếp theo) Đây là giai đoạn thúc đẩy sự phát triển năng lực chuyên môn vàquá trình học tập suốt đời
+ Trình bày (Presentation): chia sẻ portfolio với bạn học, đồng nghiệp Đây làgiai đoạn đưa portfolio vào sử dụng “công cộng”, tiếp nhận những ý kiến để phát triển
Trang 29chuyên môn nghiệp vụ và quá trình học tập suốt đời.
E-portfolio đã phát triển từ khi có sự ra đời của máy tính cá nhân với nhiều dạngkhác nhau: trên máy tính để bàn, xuất bản trên các phương tiện truyền thông quanghọc (đĩa CD và DVD) và cuối cùng là trên internet Với sự phát triển của internet,portfolio không chỉ là những tập tin được số hóa mà đã trở nên năng động hơn, cungcấp sự linh hoạt ở 3 khía cạnh quan trọng:[22]
- Tổ chức linh hoạt (tùy vào mục đích người thiết kế)
- Hiển thị linh hoạt nội dung và ý tưởng (cho phép người thiết kế trình bày nộidung và ý tưởng của mình một cách sinh động)
- Khả năng liên kết nội dung trình bày (sơ đồ trình bày) theo nhiều cách khác nhau.Máy tính và các thành quả của CNTT, đặc biệt là truyền thông đa phương tiện,internet cho phép nghiên cứu xây dựng các E-portfolio không chỉ là một “container”chứa đựng sản phẩm sưu tập mà là sự phát triển liên tục của một quá trình sưu tập,hoàn thiện và chia sẻ những sản phẩm đó E-portfolio thực sự đã làm thay đổi suy nghĩ
và hành động thông qua các phương tiện truyền thông và sự phản ánh quá trình học
tập Đây là “điểm khởi đầu” để xem xét ứng dụng E-portfolio trong QTDH.
1.1.4.3 E-portfolio trong giáo dục
a Nghiên cứu ứng dụng E-portfolio trong giáo dục
Có rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục ủng hộ việc sử dụng E-portfolio trong giáodục đối với cả GV và HS Sự phát triển và bùng nổ của công nghệ đã làm cho việc sưutập portfolio dạng giấy vốn phổ biến ở các bậc học phổ thông ngày càng giảm Mộtphần, việc lưu trữ các tài liệu, hiện vật đã chuyển sang dạng số hóa Tuy nhiên, côngviệc này chỉ tiến hành rời rạc, chưa khai thác hết những giá trị của nó Do đó, cần xemxét việc sử dụng E-portfolio như là một phần của quá trình đổi mới ở trường học (bậctiểu học và THPT) Cách tiếp cận này sẽ tập trung vào phát triển E-portfolio như làmột phương tiện phục vụ cho QTDH, đánh giá kết quả học tập của HS nhằm cải thiện
lưu trữ tư liệu phục vụ dạy và học, làm cơ sở dữ liệu theo dõi đánh giá kết quả dạyhọc, tiếp thị (giới thiệu) hoạt động giáo dục, Portfolio giáo dục được phản ánh thôngqua các “hiện vật” là kết quả học tập, bài viết, sản phẩm nghiên cứu giáo dục, Đây làmột bộ sưu tập về kiến thức, kĩ năng và thái đ ộ, kể cả kinh nghiệm cá nhân trong quátrình học tập được lựa chọn và lưu trữ theo thời gian Cách tiếp cận này sẽ tập trung
Trang 30vào phát triển E-portfolio như là một phương tiện phục vụ cho QTDH, đánh giá kết
- Xét theo mục đích xây dựng mà portfolio có các dạng: porftfolio học tập(Learning portfolio - hỗ trợ cho sự phát triển chuyên môn nghiệp vụ trong QTDH),portfolio đánh giá (Evalue portfolio - trong trường hợp cần sự tổng hợp, đánh giá),portfolio việc làm (Working portfolio - với mục đích tìm kiếm công việc phù hợp).Một số portfolio được ứng dụng phục vụ cho QTDH hiện nay: portfolio phục vụdạy học của GV, portfolio của HS, SV và portfolio của các đơn vị quản lí giáo dục
- Portfolio giảng dạy của GV (Teaching portfolio)
Những nghiên cứu của Herman và Winters (1994), Wolf, Whinery, Hagerty(1995), Carney (2001) đều có cùng mục tiêu tìm hiểu về portfolio giảng dạy Portfoliođược nhìn nhận là một công cụ để GV suy nghĩ phản ánh QTDH của mình Diez(1994) đã chỉ ra portfolio giảng dạy là một tấm gương phản ánh những sản phẩm sưutập (mirror), là công cụ để thiết lập kế hoạch (the map) nằm trong một cấu trúc chươngtrình (sonnet) GV có thể sử dụng portfolio là công cụ để phản ánh những tư liệu sưutập theo một cấu trúc nhất định Portfolio giảng dạy ngày có vai trò quan trọng trong
- Portfolio sinh viên (Student portfolio)
Theo nghiên cứu của Văn phòng nghiên cứu Giáo dục và cải thiện, Bộ Giáo dụcHoa Kì năm 1993, portfolio SV là bộ sưu tập về những sản phẩm trong quá trình họctập của SV Nội dung của portfolio được xây dựng là chương trình giảng dạy và nhữngbài tập trên lớp tương ứng Những nội dung này được GV gợi ý, định hướng ngay từđầu khóa học SV sẽ phản ánh những nội dung kiến thức, kinh nghiệm, cũng có thể làsản phẩm, bài viết, hình ảnh, video, thành tích học tập trong suốt quá trình học tập củamình Portfolio là phương tiện giúp SV nâng cao nhận thức trong quá trình học tập.Kết quả sản phẩm phản ánh quá trình nhận thức, giúp SV có được những kĩ năng giải
Trang 31quyết một vấn đề, nghiên cứu một chủ đề, phân tích thông tin, hoặc mô tả những quansát riêng, Portfolio SV chính là bộ sưu tập cơ sở dữ liệu của các công việc do SVthực hiện một cách khoa học và có tính hệ thống thể hiện được các kĩ năng chuyênngành, quá trình phát triển của SV trong học tập và rèn luyện chuyên môn Đây cũng
là một trong những hình thức để đánh giá SV
- Portfolio quản lí giáo dục (Manage portfolio)
Các cơ quan quản lí trong giáo dục cũng rất cần các hình thức portfolio để thuậntiện trong việc quản lí các hoạt động giáo dục ở đơn vị mình Trước đây, portfolio quản
lí chủ yếu là những tập tin lưu trữ trên máy tính Hiện nay, dạng online của cácportfolio đã trở nên phổ biến Nhà trường, cơ sở giáo dục đưa những thông tin về nhàtrường, hoạt động học tập, kế hoạch giảng dạy, tuyển sinh ngay trên trang web Điềunày không chỉ là cơ sở dữ liệu quản lí, đánh giá chất lượng mà còn là kênh thông tin,quảng bá hình ảnh của trường đối với khách tham quan Trong portfolio quản lí giáodục, mỗi đơn vị, tổ chức bên trong cũng có những trang riêng (đoàn thanh niên, côngđoàn, tổ bộ môn, ) là những portfolio về quá trình hoạt động, thành tích, kinh nghiệm,định hướng hoạt động của đơn vị
c E-portfolio phục vụ dạy học của GV phổ thông
E-portfolio phục vụ dạy học của GV phổ thông là những bộ hồ sơ, tài liệu sưutập của GV với các dạng dữ liệu rất đa dạng (văn bản, video, âm thanh, hình ảnh, tưliệu đa phương tiện, ) phục vụ giảng dạy và học tập ở bậc phổ thông Những “hiệnvật” này không chỉ lưu trữ trên máy tính, các đĩa mềm mà chúng còn được đưa lên hệthống mạng trực tuyến (Elearning, blog, web, ) để tăng cường phục vụ các mục đích
về học tập, tìm kiếm tri thức, góp phần tăng khả năng học tập và nghiên cứu cho cả
GV và HS
Dưới đây là các cấp độ phát triển của E-portfolio, sử dụng Google Apps
- Cấp độ 1: Portfolio lưu trữ (portfolio as storatge/collection)
Ở cấp độ cơ bản này, GV tập hợp và chuyển đổi các tư liệu, hiện vật (văn bản,hình ảnh, âm thanh, video, ) sang dạng kĩ thuật số và lưu trữ trên các ứng dụng củaGoogle Apps
Trang 32Hình 1.4 Cấp độ 1- Portfolio as Storatge
- Cấp độ 2: Portfolio là một không gian lưu trữ cá nhân (Portfolio as Workspace)
Ở cấp độ này, portfolio là một không gian học tập, nghiên cứu và lưu trữ cá nhân,trong đó, blog liên kết với bộ sưu tập tư liệu đã số hóa Bên cạnh đó, blog còn là môitrường học tập và trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm Người học có thể tham khảo tư liệu vàphản ánh những ý kiến của mình thông qua cấu trúc hỗ trợ được thiết kế sẵn Ngườisưu tập có nhiệm vụ phản hồi những ý kiến của người học, hỗ trợ định hướng học tậpcho họ, thực hiện các giao tiếp xã hội (Social Network)
Hình 1.5 Cấp độ 2- Portfolio as Workspace
Trang 33- Cấp độ 3: Bộ sưu tập trình bày (Portfolio as Showcase)
Ở cấp độ này, tư liệu được sắp xếp trình bày dưới dạng các trang web siêu liênkết Đọc giả có thể tìm thấy tư liệu được trình bày trực quan trên trang web, chính làsản phẩm, những thành tựu sưu tập theo những mục tiêu đã đặt ra về từng chủ đề củangười sưu tập Đây cũng là nơi GV đánh giá tổng hợp quá trình học tập của SV
Hình 1.6 Cấp độ 3 - Portfolio as Showcase
E-portfolio được nghiên cứu trong dạy học cho HS các cấp lớp nhằm phát triểncác kĩ năng về công nghệ cho cả GV và HS cũng như những kinh nghiệm đối với quátrình học tập và đánh giá dựa trên portfolio GV và nhà trường có thể xây dựng từ cấp
độ tối thiểu (Cấp độ 1- Portfolio as Storage) và xây dựng ở mức cao hơn khi có kĩnăng về công nghệ và nắm vững quá trình sưu tập tư liệu (đưa bộ sưu tập lên Blog cánhân (xây dựng ở cấp độ 2 – Portfolio as Workspace) hoặc mở rộng đối tượng tiếp cậnbằng cách đưa lên trang web (xây dựng ở cấp độ 3 – Portfolio as Showcase)) Cấp độ 2
và 3 cho phép GV lưu trữ và trình bày nội dung bộ sưu tập đối với nhiều đối tượng(GV đồng nghiệp, HS, những đọc giả quan tâm) về sản phẩm sưu tập cũng như cáchình thức, công cụ hỗ trợ học tập Nội dung được trình bày có thể bao gồm:
− Nội dung sưu tập của chương trình môn học theo từng chủ đề nhất định kèmtheo hướng dẫn sử dụng và khai thác kiến thức từ E-portfolio (hướng dẫn đối với HS, phụhuynh HS, đọc giả);
Trang 34− Bài giảng, kế hoạch dạy học (giáo án), bài giảng điện tử tham khảo;
− Các dạng bài kiểm tra, ôn tập, củng cố kiến thức, kế hoạch đánh giá HS;
− Hình ảnh hoạt động HS;
− Những chia sẻ kinh nghiệm học tập, nghiên cứu, giảng dạy;
Những đối tượng tiếp cận có thể sử dụng tư liệu phục vụ học tập, nghiên cứu và traođổi, chia sẻ ý kiến của mình Tùy vào mục đích của việc sưu tập và sử dụng, khai thác
bộ tư liệu mà GV lựa chọn nội dung và hình thức trình bày E-portfolio phù hợp
d Vai trò của E-portfolio trong dạy học
- Góp phần tăng cường khả năng chuyên môn nghiệp vụ của GV và việc học tậpsuốt đời của HS Xây dựng và sử dụng portfolio góp phần thúc đẩy sự phát triển tưduy, khả năng suy nghĩ, chọn lọc, đánh giá thông tin, đầy đủ và sâu sắc hơn GV và
HS không ngừng trau dồi kiến thức của bản thân, cập nhật kiến thức mới kịp thời
- E-portfolio góp phần tăng cường tính hiện đại và hiệu quả giáo dục Nguồn tàiliệu portfolio là một trong những phương tiện hỗ trợ GV thiết kế giáo án giảng dạy,đặc biệt là các giáo án điện tử, góp phần khai thác và sử dụng hiệu quả các PTDH hiệnđại, ứng dụng CNTT trong dạy học Nếu GV sử dụng E-portfolio một cách hợp lí sẽgiúp HS có được vốn kiến thức phong phú hơn, hiệu quả giáo dục cao hơn Vì cùngnội dung đó các em không chỉ hình dung qua sự miêu tả mà còn thấy được âm thanh,hình ảnh, quá trình phát triển của đối tượng Với sự kết hợp thông tin và phương tiệntrực quan, sẽ giúp HS hình thành những biểu tượng về đối tượng, hiểu rõ những điềumới mẻ đang xảy ra xung quanh các em, giúp các em khắc sâu kiến thức hơn QTDHdiễn ra trên phạm vi rộng hơn, hình thức hiện đại hơn Việc học tập không chỉ trên lớp
mà có thể ở nhà, kết hợp giữa GV hướng dẫn và quá trình tự học của HS HS có thểtìm hiểu thêm những vấn đề GV đặt ra, những vấn đề các em quan tâm mà trên lớpkhông có thời gian và điều kiện để giải quyết hết Các em HS còn có thể tự rèn luyện,kiểm tra kiến thức của mình qua những bài tập, bài kiểm tra mà portfolio đã sưu tập vàcung cấp Chắc hẳn rằng với quá trình rèn luyện này vốn kiến thức của các em ngàycàng đầy đủ, vững vàng hơn, chất lượng và hiệu quả giáo dục cũng sẽ được nâng lên
- E-portfolio được sử dụng trong QTDH một cách hợp lí sẽ trở thành một loạiPTDH hiệu quả, là nguồn cung cấp tri thức cho GV và HS
- Giúp GV và HS tiếp cận thông tin hiệu quả hơn Những thông tin được cậpnhật, sưu tập tương đối đầy đủ về một chủ đề giúp GV, HS tiết kiệm thời gian tìm kiếm
Trang 35từ nhiều nguồn khác nhau.
- Thiết kế E-portfolio có thể giúp GV cũng như HS phát triển và làm mới những
kĩ năng, kinh nghiệm về CNTT:
+ Kĩ năng xử lí văn bản, đa phương tiện;
+ Kĩ năng thiết kế, trình bày nội dung khoa học, thẩm mỹ về hình thức;
+ Kĩ năng sưu tập tài liệu; chọn lọc, sử dụng nguồn tài liệu để khai thác kiến thứctrong dạy và học,
+ Tăng cường rèn luyện khả năng viết, diễn đạt Khi người GV thiết kế, khôngchỉ để riêng mình sử dụng mà còn giới thiệu cho HS, phụ huynh, đồng nghiệp, nêncần lựa chọn cách trình bày, diễn đạt phù hợp nhất
- Nội dung portfolio phản ánh mức độ nghiên cứu của cá nhân, là nơi “cá nhân
thiết lập thương hiệu”, khẳng định những thành tựu của bản thân về quá trình và kết
quả nghiên cứu, tìm hiểu Thông qua quá trình sưu tập và sử dụng, GV và HS có thểthấy được những điểm mạnh, điểm yếu, những kiến thức cần phải bổ sung để hoànthiện hơn vốn kiến thức của mình
1.1.4.4 Những ưu và nhược điểm của E -portfolio
So với phương pháp sưu tập truyền thống (portfolio dạng giấy), khi GV xây dựng
và sử dụng E-portfolio có những ưu điểm:[14]
- Cho phép sưu tập tư liệu dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng (văn bản,hình ảnh, video, ), đã được số hóa;
- Tăng cường các kĩ năng về CNTT trong quá trình số hóa dữ liệu, chọn lọc, trìnhbày và sử dụng tư liệu;
- Dễ dàng lưu trữ, hạn chế nguy cơ bị mất các tài liệu Nếu cất giữ bằng portfoliogiấy sau một thời gian, tài liệu có thể bị hư hỏng; máy tính bị sự cố về virut, lỗichương trình;
- Hạn chế tối đa dung lượng lưu trữ tài liệu (các trang web sẽ cho chúng ta mộtkhoảng không gian để lưu trữ, hạn chế việc lưu trữ trên máy tính hoặc USB với nhiềunội dung sẽ tốn khá nhiều dung lượng);
- Có thể tìm kiếm nhanh chóng, chỉnh sửa, thay đổi, cập nhật dễ dàng;
Trang 36- Tiết kiệm thời gian chuẩn bị đồ dùng dạy học (vẽ, thiết kế trên giấy);
- Hạn chế chi phí in ấn, mua vật dụng, dụng cụ;
- Có thể sử dụng, trao đổi, chia sẻ ở mọi nơi, mọi lúc không chỉ trên lớp học với
sự kết hợp nhiều phương tiện hiện đại (âm thanh, hình ảnh, video, );
- Phát huy tính sáng tạo của GV trong biên soạn, giảng dạy và tính tích cực, chủđộng của HS trong việc tiếp nhận kiến thức, chủ động lựa chọn nội dung kiến thức cầnthiết đối với bản thân để cập nhật phù hợp;
Tuy nhiên, xây dựng và sử dụng E-portfolio cũng có một số nhược điểm (hạn chế):
- Tốn nhiều thời gian chuẩn bị (sưu tập các nguồn tư liệu, chọn lọc, thiết kế);
- Phải có quá trình cập nhật liên tục (nếu không, tài liệu sẽ trở nên lạc hậu, khôngcòn phù hợp với thực tế, );
- Dễ bị lạm dụng trong QTDH, làm mất dần vai trò của người GV;
- Đòi hỏi kĩ năng về tin học và mạng máy tính đối với cả GV và HS;
- Đòi hỏi phải trang bị hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ (máy tính, hệthống mạng, máy chiếu) mới sử dụng được; cần có kinh phí để có thể lưu trữ trên CDhoặc truy cập mạng internet;
E-portfolio được xây dựng và sử dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục Đây là
bộ sưu tập về những vấn đề phục vụ quá trình dạy và học, quá trình nghiên cứu của GV, HS,các nhà quản lí giáo dục, với những nội dung phong phú, đầy đủ, các hình thức đa dạng, cácphương tiện lưu trữ và trình bày ngày càng hiện đại giúp QTDH đạt hiệu quả cao hơn E-portfolio được xem là PTDH mới với nhiều ưu điểm mà GV có thể xây dựng và vận dụng đểphục vụ công tác dạy học và nghiên cứu ở các trường phổ thông
1.1.4.5 Sử dụng hiệu quả E-portfolio
Portfolio là nguồn tư liệu phong phú đối với cả GV và HS Sử dụng và khai tháckiến thức từ portfolio một cách hiệu quả (làm tư liệu phục vụ dạy học hoặc phươngtiện nghiên cứu mở rộng và hoàn chỉnh kiến thức) cũng là vấn đề cần được quan tâm
Trang 37a Sử dụng làm tư liệu dạy học địa lí
* Đối với GV
- Tư liệu thu thập đã được sắp xếp phù hợp giúp GV có thể sử dụng làm tư liệu
trong QTDH, giúp GV dễ dàng tìm kiếm, nắm bắt những thông tin liên quan đến mảngnội dung cần dạy Tuy nhiên, không phải tất cả những nội dung sưu tập đều đưa vàobài giảng mà cần có sự chọn lọc kĩ càng, chỉ đưa những nội dung cần thiết, tiêu biểu,phù hợp với đối tượng HS để tránh làm cho bài học bị lan man, dàn trải Nhất là đốivới những GV mới ra trường, muốn đưa thật nhiều kiến thức cho HS, để cho các emđược xem, được biết thật nhiều Kết quả là bài dạy trở thành một giờ trình chiếu,không đạt được hiệu quả mong muốn
- Song song với việc sử dụng là quá trình chọn lọc và đánh giá tư liệu, đòi hỏingười GV không chỉ biết vận dụng mà còn phải có trình độ chuyên môn, năng lựcnhận thức đầy đủ về những vấn đề cơ bản trong chương trình địa lí, kịp thời thấy đượcnhững bất cập (nếu có)
- Những nội dung kiến thức giống nhau nhưng cách sắp xếp và vận dụng vàoviệc biên soạn giảng dạy lại rất khác nhau Mỗi người GV lại có những phương phápkhác nhau, ý tưởng thiết kế khác nhau nên việc khai thác và sử dụng nguồn tư liệu banđầu vô cùng phong phú, đa dạng Portfolio cũng là nguồn tư liệu hữu ích để GV thamkhảo và xây dựng bộ tư liệu theo ý tưởng, mục tiêu của riêng mình
- Portfolio trở thành PTDH như các PTDH khác (bản đồ, tranh ảnh, quả cầu địalí, ) khi nó là phương tiện để HS khai thác tri thức GV cần sử dụng chọn lọc các tưliệu trong portfolio kết hợp với các PPDH khác theo hướng tích cực để HS có thể khaithác hiệu quả Có những nội dung GV chỉ sử dụng phương pháp gợi ý, nêu vấn đề đểcác em suy nghĩ, tự tìm ra kiến thức (PPDH nêu vấn đề, dạy học khám phá, ), có thểgiới thiệu địa chỉ tư liệu để HS tìm hiểu thêm ngoài giờ học
- Để tư liệu được sử dụng hiệu quả nhất, GV cần có sự chia sẻ và hợp tác vớithầy cô cùng chuyên môn ở đơn vị mình, với đồng nghiệp để tìm ra những phươngpháp sử dụng những tư liệu hiệu quả Thông thường, GV có thể chia sẻ, học hỏi kinhnghiệm thông qua trao đổi chuyên môn, dự giờ rút kinh nghiệm (vận dụng mô hìnhnghiên cứu bài học), hoặc trao đổi ngay trên trang web
- Từ việc đánh giá những kết quả đã sưu tập, định hướng cho những bước tìmhiểu sâu sắc hơn sẽ giúp cho GV có vốn kiến thức phong phú, vững chắc, giải đáphoặc có những hướng dẫn phù hợp với cả những HS năng động, thích khám phá nhiều
Trang 38nhất Đó là phương pháp tốt nhất để GV luôn là chỗ dựa, niềm tin cho HS của mình.
* Đối với học sinh
- Kiến thức là vô cùng phong phú, nhưng do giới hạn về thời gian lên lớp nên GV
không thể cung cấp tất cả kiến thức cho HS mà đòi hỏi các em phải tự tìm tòi, nghiêncứu để hoàn thiện kiến thức cho bản thân Đây cũng là quá trình rèn luyện tính tíchcực, chủ động của các em trong tiếp nhận thông tin, vận dụng vào thực tế cuộc sốngsau này
- Thông tin hiện nay có thể rất đa dạng đối với các em HS Hầu hết kiến thức các
em đều có thể tìm thấy, dựa vào các công cụ tìm kiếm (như google) Tuy nhiên, bêncạnh thuận lợi về tính đa dạng, phong phú, lượng thông tin lớn và phức tạp cũng làmcho các em gặp không ít khó khăn Portfolio là một trong những nguồn tài liệu đángtin cậy mà trong quá trình biên soạn GV đã kiểm chứng, kết hợp một số phương pháp
để giúp các em có thể tự học, kích thích tư duy của các em Thêm vào đó, những câuhỏi tư duy, những bài tập được giới thiệu trên portfolio sẽ giúp các em tự kiểm tra,đánh giá trình độ, từ đó có hướng bổ sung, hoàn thiện những chỗ hỏng kiến thức phùhợp Điểm khó ở đây là cả vấn đề và lời giải đều nằm ngay trên portfolio, HS cần phảichủ động suy nghĩ trước khi xem gợi ý Nếu HS có phương pháp học tập tốt không chỉkhai thác hiệu quả nguồn tri thức mà còn có thể tự tìm hiểu, khám phá những kiến thứcmới hơn, phong phú hơn Nếu không có quá trình suy nghĩ tự giác thì chính portfoliolàm cho các em trở nên lười hơn, ỷ lại vào nguồn tư liệu có sẵn
Tóm lại, portfolio được thiết kế góp phần cung cấp thêm nguồn tư liệu phục vụQTDH Cần sử dụng portfolio hiệu quả như một phương tiện để đổi mới PPDH, giúp
HS chủ động khai thác kiến thức và hình thành tư duy địa lí, khả năng tự nghiên cứutri thức
b Nghiên cứu mở rộng và hoàn chỉnh kiến thức
Portfolio là sản phẩm của một quá trình tìm kiếm, tích lũy trong một khoảng thời giannhất định, giá trị của nó được đánh giá trong một giai đoạn cụ thể, hoàn cảnh cụ thể Các tưliệu sưu tập dễ dàng thay đổi, lỗi thời, nhất là các đặc điểm về kinh tế - chính trị - xã hội.Các sự kiện thời sự cũng đang diễn ra, làm thay đổi thế giới từng ngày GV không chỉ sửdụng những gì sẵn có mà vẫn phải thường xuyên cập nhật, làm phong phú thêm bộ tư liệucủa mình Đây là quá trình GV tiếp tục tự hoàn chỉnh kiến thức, vốn hiểu biết của bản thânđáp ứng những yêu cầu của giáo dục trong tình hình mới Tính kế thừa của các portfoliocũng là quá trình hoàn thiện các phương tiện và PPDH
Trang 39Hơn nữa, portfolio không chỉ phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy mà nó cũng làtập hợp tài liệu quý để GV và HS tìm hiểu chuyên sâu về những vấn đề địa lí Đây lànguồn tài nguyên rất cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu muốn đi sâutìm hiểu những lĩnh vực liên quan có được những tư liệu cần thiết, phù hợp Đối vớimỗi người GV, ngoài nhiệm vụ dạy học và giáo dục, công tác nghiên cứu khoa họccũng là một vấn đề hết sức cần thiết Tùy mục đích, đối tượng và nội dung nghiên cứu
mà GV định hướng sưu tập, bổ sung và hoàn thiện portfolio phù hợp
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Chương trình Địa lí 11 – THPT
1.2.1.1 Mục tiêu chung
Chương trình Địa lí lớp 11 cung cấp cho HS kiến thức về đặc điểm tự nhiên, kinh
tế – xã hội, hoạt động (sống và sản xuất) của con người ở các khu vực, quốc gia khácnhau trên thế giới, giúp các em có nhận thức, thái độ đúng đắn và rèn luyện các kĩnăng địa lí, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế sản xuất và đời sống
- Về nội dung: Cung cấp cho HS những đặc điểm khái quát về tình hình thế giớihiện nay (sự phân chia bản đồ chính trị, những vấn đề toàn cầu), đặc điểm của những quốcgia, khu vực tiêu biểu (đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, định hướng phát triển, )
- Về kĩ năng: Rèn luyện cho HS các kĩ năng địa lí cơ bản (kĩ năng biểu đồ, kĩ năngbản đồ, kĩ năng phân tích các số liệu kinh tế - xã hội, kĩ năng nhận xét, tổng hợp, đánh giátrong địa lí, ); kĩ năng vận dụng kiến thức để giải thích các đặc điểm, hiện tượng địa líđang diễn ra trong cuộc sống Môn học cũng lồng ghép giáo dục cho các em HS các kĩnăng mềm trong cuộc sống (kĩ năng về sử dụng CNTT, các kĩ năng sống, )
- Về thái độ: Giúp HS có thái độ đúng đắn đối với môn học, với những vấn đềtrên thế giới hiện nay (vấn đề môi trường, bệnh tật, suy giảm kinh tế, ), giúp các emthấy được ý thức trách nhiệm của bản thân, có những suy nghĩ và hành động đúng đắnđối với tương lai của đất nước và những vấn đề mang tính toàn cầu
1.2.1.2 Cấu trúc và nội dung chương trình
Chương trình Địa lí lớp 11 cung cấp kiến thức về địa lí kinh tế - xã hội thế giới cóliên hệ trực tiếp với chương trình Địa lí bậc Trung học cơ sở Từ những kiến thức cơ bản
về thiên nhiên và con người ở các châu lục đã được biết, các em sẽ đi vào tìm hiểu kĩ hơnmột số đối tượng địa lí cụ thể trong chương trình Địa lí lớp 11 Chương trình cơ bản gồm
có 12 bài (xem thêm phụ lục 1), nội dung được biên soạn gồm có 2 phần:
Trang 40- Phần A: Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới
Phần A gồm 5 bài (6 tiết lí thuyết và 1 tiết thực hành) đề cập đến đề cập đếnnhững nét khái quát về bức tranh tổng quan của thế giới ngày nay, giúp HS thấy đượcnhững thay đổi sâu sắc và phức tạp về tình hình kinh tế – xã hội thế giới những nămgần đây (một số nguyên nhân, hệ quả chính):
+ Sự tương phản về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của thế giới dẫn đến sựphân hóa thành nhóm nước phát triển và nhóm nước đang phát triển có sự khác biệt vềnhững chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội
+ Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại với nhiều thành tựukhoa học mới tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến sự phát triển kinh tế xã hội toàn cầu.Nền kinh tế đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức
+ Xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới đang trở thành xuthế tất yếu Thế giới ngày nay phát triển theo xu hướng vừa hòa hoãn vừa đấu tranh,vừa hợp tác vừa cạnh tranh để đảm bảo sự phát triển kinh tế – xã hội và giải quyếtnhững vấn đề mang tính toàn cầu
+ Thế giới đang đối mặt với nhiều vấn đề: bùng nổ dân số, sự già hóa dân số, vấn
đề môi trường đang bị ô nhiễm dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng (biến đổi khí hậu,
ô nhiễm nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học, ); Thế giới vẫn tồn tại nhiều bất ổnchính trị do sự đối lập về mặt ý thức hệ (chính trị, tôn giáo, sắc tộc, ); chênh lệch vềtrình độ phát triển kinh tế, làm tình hình thế giới có nhiều biến động (chiến tranh, likhai, khủng bố, )
Một số vấn đề nổi trội hiện nay ở một số khu vực và châu lục trên thế giới được
+ Vấn đề giải quyết nguồn nước, xung đột chính trị, ở khu vực Trung Á
Đây là những vấn đề riêng của từng châu lục (hoặc khu vực) nhưng có ảnhhưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế – xã hội toàn thế giới, cần được sự quan