Việc ứng dụng công nghệ sinh học vào nông nghiệp để phát triển các giống cây trồng sạch bệnh có giá trị kinh tế cao đang là vấn đề cấp bách để sản xuất một số lượng hàng hoá lớn phục vụ
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC-04
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ DỰ ÁN
“ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VI NHÂN GIỐNG ĐỂ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CÂY TRỒNG CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ PHỤC
VỤ CHO CHƯƠNG TRÌNH NÔNG LÂM NGHIỆP
BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM”
Trang 2BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KC.04/06-10
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI/DỰ ÁN
“HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VI NHÂN GIỐNG
ĐỂ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CÂY TRỒNG CÓ GIÁ TRỊ KINH
TẾ PHỤC VỤ CHO CHƯƠNG TRÌNH NÔNG LÂM NGHIỆP
BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM”
(Mã số: KC 04 DA 08 /06 – 10)
Chủ nhiệm đề tài/dự án
(Kí tên) Cơ quan chủ trì đề tài/ dự án
(Kí tên và đóng dấu)
Ban chủ nhiệm chương trình
(Kí tên) Bộ Khoa học và Công nghệ
(Kí tên và đóng dấu khi gửi lưu trữ)
Hà Nội - 2010
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Báo cáo thống kê
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1
1.5.2 Lợi ích kinh tế, khả năng thị trường và cạnh tranh
2.2.3 Hoàn thiện quy trình vi nhân giống cam Xã Đoài,
bưởi Diễn
36
Trang 42.2.4 Quy mô triển khai SXTN để hoàn thiện hệ thống
sản xuất bạch đàn, keo lai, cây cam Xã Đoài, bưởi Diễn và các loại hoa lan
38
2.3 Liệt kê và mô tả nội dung, các bước công việc cần
phải thực hiện để giải quyết các vấn đề được dặt ra
kể cả đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công nhân kĩ thuật
áp đáp ứng cho việc sảm xuất thử nghiệm
38
2.3.1 Tuyển chọn các cây đầu dòng được sử dụng trong
dự án
38
2.3.2 Nội dung công việc để hoàn thiện hệ thống nhân
giống bạch đàn, keo lai, cây cam Xã Đoài, bưởi Diễn và các loại hoa lan
40
2.3.4 Đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kĩ thuật, các lớp
4.1 NỘI DUNG 1: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH
CÔNG NGHỆ NHÂN GIỐNG BẠCH ĐÀN KEO LAI
46
4.1.1 Quy trình nhân giống bạch đàn, keo lai bằng invitro 46
4.1.2 Hoàn thiện kĩ thuật chăm sóc cây con, nghiên cứu
cải tiến chế độ dinh dưỡng, phòng trừ sâu bệnh của cây bạch đàn, keo lai ngoài vườn ươm
58
4.1.3 Một số loại sâu bệnh hại trên 2 giống bạch đàn và
keo lai trong giai đoạn vườn ươm và biện pháp phòng trừ
66
4.2 NỘI DUNG 2: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH
NHÂN GIỐNG HOA LAN BẢN ĐỊA VÀ LAN CÔNG NGHIÊP
72
4 2 1 Quy trình nhân nhanh giống hoa lan bản địa và lan
công nghiệp bằng Invitro
72
4.2.2 Hoàn thiện kĩ thuật chăm sóc, cải tiến chế độ dinh
dưỡng cho cây lan giống ngoài vườn ươm
81
4.2.3 Nghiên cứu cải tiến các các giá thể khác nhau đưa
ra được các thông số về chế độ giá thể, dinh dưỡng phù hợp cho lan giống
83
Trang 54.2.4 Các loại bệnh lan và các biện pháp phòng trừ 87
4.3 NỘI DUNG 3: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH VI
GHÉP CÂY CAM XÃ ĐOÀI, VÀ BƯỞI DIỄN
89
4.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mắt ghép, thời vụ ghép
trong quá trình vi ghép mắt cây cam Xã Đoài và bưởi Diễn
89
4.3.2 Nghiên cứu kĩ thuật chăm sóc, cải tiến chế độ dinh
dưỡng và phòng trừ sâu bệnh cho cây cam Xã Đoài
và bưởi Diễn sau khi ghép ngoài vườn ươm
90
4.3.3 Các loại bệnh trên cây cam Xã Đoài, bưởi Diễn và
cách phòng trừ sâu bệnh
93
Trang 6MỤC LỤC BẢNG
Bảng 1: Ảnh hưởng của tuổi chồi lấy mẫu đến khả năng tái chồi của
mẫu cấy tại Thanh Trì, Hà Nội, năm 2008 46 Bảng 2: Ảnh hưởng của của tổ hợp BAP và α-NAA đến khả năng nhân
nhanh chồi (sau 20 ngày nuôi cấy) tại Hà Nội, năm 2008
47
Bảng 3: Ảnh hưởng của tổ hợp BAP và IBA đến khả năng nhân nhanh chồi
của các dòng bạch đàn, keo lai (sau 20 ngày) tại Hà Nội, năm 2008
49
Bảng 4: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng và phát triển của chồi
bạch đàn U6, PN2, PN14, bạch đàn trắng và keo lai BV10, BV33 invitro tại
Hà Nội, năm 2008
51
Bảng 5: Ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng đến sinh trưởng và phát
triển của chồi Bạch đàn U6, PN2, PN14, bạch đàn trắng và keo lai BV10,
BV33 invitro
52
Bảng 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng đến sinh
trưởng và phát triển của chồi bạch đàn U6, PN2, PN14, bạch đàn trắng và
keo lai BV10, BV33 invitro tại Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội năm
2008
53
Bảng 7: Ảnh hưởng của α-NAA tới khả năng ra rễ (sau 20 ngày nuôi cấy) tại
Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội năm 2008
55
Bảng 8: Ảnh hưởng của IBA tới khả năng ra rễ (sau 20 ngày nuôi cấy) tại
Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội năm 2008 57 Bảng 9: Ảnh hưởng các loại giá thể đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh
trưởng của bạch đàn và keo lai từ nuôi cây mô (sau 4 tháng ra ngôi) tại
Quốc Oai, Hà Nội năm 2009
60
Bảng 10: Ảnh hưởng của loại giá thể đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh
trưởng của bạch đàn và keo lai giâm hom tại Phù Ninh, Phú Thọ năm
2009
61
Bảng 11: Ảnh hưởng của điều kiện che sáng đến tỷ lệ sống và sinh
trưởng của cây bạch đàn và keo lai khi ra ngôi và giâm hom (sau 4 tuần theo dõi) tại Phù Ninh, Phú Thọ năm 2009
63
Bảng 12: Ảnh hưởng của độ ẩm đất bầu và không khí đến tỷ lệ sống và
sinh trưởng của các giống bạch đàn U6, PN14, keo lai BV10 và BV16
ở giai đoạn ra ngôi và giâm hom (sau 4 tuần theo dõi) tại Phù Ninh Phú
Thọ, năm 2009
64
Bảng 13: Ảnh hưởng của số lần bón phân N: P: K tỷ lệ: 5: 10: 15 trên
cây bạch đàn, keo lai tại Quốc Oai, Hà Nội năm 2009
65
Bảng 14: Kết quả điều tra tình hình sâu bệnh hại trên 2 giống bạch đàn
U6, PN14, tại vườn ươm ở Phú Lãm Quốc Oai – Hà Nội, năm 2009
Trang 7Bảng 17: Các loại thuốc bảo vệ thực vật dùng phòng trừ sâu bệnh cho
bạch đàn và keo lai giai đoạn vườn ươm
70
Bảng 18: Ảnh hưởng của môi trường MS, MS cải tiến, VW và VW cải
tiến đến khả năng tái sinh chồi và hệ số nhân chồi 2 giống lan Hồ Điệp
trắng môi đỏ, Hồ Điệp trắng môi vàng sau 8 tuần nuôi cấy tại Vĩnh
Quỳnh, Hà Nội năm 2008
72
Bảng 19: Ảnh hưởng của dịch chiết chuối xanh, dịch chiết khoai tây,
nước dừa đến khả năng phát sinh chồi mới và hệ số nhân chồi của 2
giống lan Hồ Điệp (sau 8 tuần nuôi cấy) tại Thanh Trì, Hà Nội năm
2008
74
Bảng 20: Ảnh hưởng của các loại môi trường đến khả năng phát sinh
chồi mới và hệ số nhân chồi 2 giống lan Kiếm Hồng Hoàng SaPa và
Xanh thơm Đà Lạt tại Thanh Trì, Hà Nội năm 2008
75
Bảng 21: Ảnh hưởng của dịch chiết khoai tây, dịch chiết chuối xanhvà
nước Dừa đến quá trình phát sinh chồi mới và hệ số nhân chồi 2 giống
địa lan Kiếm tại Thanh Trì, Hà Nội, năm 2008
76
Bảng 22: Ảnh hưởng của thời gian và cường độ chiếu sáng đến khả
năng phát sinh chồi, hệ số nhân chồi của các giống lan Hồ Điệp và lan
Xanh thơm Đà Lạt tại Thanh Trì, Hà Nội năm 2009
78
Bảng 23: Ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng đến tỷ lệ tái sinh cây
hoàn chỉnh, sinh trưởng và phát triển trên Hồ Điệp hoa trắng môi vàng
và Xanh Thơm Đà Lạt tại Thanh Trì, Hà Nội năm 2009
79
Bảng 24: Ảnh hưởng của nhiệt độ phòng nuôi cây đến khả năng tái sinh
protocorm, hệ số nhân và tái sinh cây hoàn chỉnh ở 2 giống hoa lan (8
tuần nuôi) tại Thanh Trì, Hà Nội năm 2009
80
Bảng 25: Ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đến tỷ lệ sống và
sinh trưởng của lan Hồ Điệp khi ra ngôi tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc năm
2009
85
Bảng 26: Ảnh hưởng của mắt ghép đến tỷ lệ sống sau ghép 89 Bảng 27: Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ sống của cây sau ghép 89 Bảng 28: Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến sinh
trưởng của cây cam Xã Đoài tại Đông Anh, Hà Nội năm 2009
91
Bảng 29: Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến sinh
trưởng của cây Bưởi Diễn tại Đông Anh, Hà Nôi năm 2009
91
Bảng 30: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến tỷ lệ cây ghép
sống và tỷ lệ cây xuất vườn của cây bưởi Diễn tại Đông Anh, Hà Nội
năm 2009
92
Bảng 31: Ảnh hưởng của độ tăng chiều dài và số lá đến các chỉ tiêu
sinh trưởng, tốc độ sinh trưởng của bạch đàn và keo lai tại lai tại xã Phú
Mãn Huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, 2009
98
Trang 8Hình 3: Các giống lan Hồ Điệp và địa lan đầu dòng 39
Hình 4: Nuôi cấy mô Bạch đàn ở các tuổi chồi khác nhau: 3 tháng, 6
Hình 6: Chế độ che sáng ở cây bạch đàn và keo lai 62
Hình 7: Các bệnh thường gặp ở cây keo lai và bạch đàn 72
Hình 8: Lan Kiếm và lan Hồ Điệp được nuôi cấy mô tế bào trước khi ra
Hình 9: Kĩ thuật ra cây lan vườn ươm 82 Hình 10: Cây địa Lan Kiếm và lan Hồ Điệp 2 tháng sau khi ra cây ở
vườn ươm được che sáng bằng 2 lớp lưới đen tại mô hình Tam Đảo,
Vĩnh Phúc
83
Hình 11: Lan kiếm được trồng trên các giá thể khác nhau tại Viện Di
Hình 12: Lan kiếm đóng bầu trên các giá thể khác nhau: dớn dương xỉ và
mụn xơ dừa tỷ lệ 1:1:1 tại vườn Tam Đảo, Vĩnh Phúc 2009-2010
84
Hình 13: Lan Hồ Điệp trồng trên rổ nhựa chứa giá thể xơ dừa, và rong
biển tỷ lệ 1:1 hay giá thể rong biển trộn với dớn dương xỉ theo tỷ lệ 1:1
tại Tam Đảo, Vĩnh phúc 2008-2009
86
Hình 14: Một số loại sâu bệnh thường gặp ở cây hoa lan 88
Hình 15: Kĩ thuật vi ghép mắt cây cam Xã Đoài, bưởi Diễn trong phòng
thí nghiệm
90
Hình 16: Một số loại sâu bệnh hại cam Xã Đoài và bưởi Diễn 94
Hình 17: Mô hình sản xuất bạch đàn và keo lai tại xã Phú Mãn Huyện
Quốc Oai, tỉnh Hà Tây và Xã Phù Ninh, Huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 102
Hình 18: Mô hình trồng Hoa lan tại Thị trấn Tam Đảo, Vĩnh Phúc 106
Hình 19: Mô hình cây cam Xã Đoài, bưởi Diễn tại là Hợp tác xã Tằng
My, xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 111
Trang 9
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Công nghệ sinh học là một lĩnh vực đang được nhiều người quan tâm,
vì đây là một công cụ quan trọng trong chương trình cải thiện giống cây trồng Ngày nay nhờ áp dụng công nghệ sinh học mà việc chọn tạo giống cây trồng được tiến hành nhanh hơn và có thể khắc phục được một số khó khăn
mà các phương pháp chọn giống truyền thống không giải quyết được hoặc phải mất thời gian rất dài mới đạt được kết quả
Công nghệ nuôi cấy mô và tế bào đặc biệt là nuôi cấy mô phân sinh đỉnh sinh trưởng được áp dụng ngày càng nhiều trong sản xuất nông, lâm nghiệp, đã trở thành một phương tiện để nâng cao sản lượng cũng như hiệu quả chương trình cải thiện giống cây trồng Những nền tảng khoa học và công nghệ của lĩnh vực này là hết sức cần thiết để phát triển công nghệ sinh học mà đỉnh cao là công nghệ di truyền, đây sẽ là một trong những ngành công nghệ quan trọng của thế kỷ 21 Việc ứng dụng công nghệ sinh học vào nông nghiệp
để phát triển các giống cây trồng sạch bệnh có giá trị kinh tế cao đang là vấn
đề cấp bách để sản xuất một số lượng hàng hoá lớn phục vụ phát triển nền nông, lâm nghiệp bền vững trước hết phải kể đến các loại cây như: bạch đàn lai, keo lai phục vụ cho các nhà máy giấy; các loại cây ăn quả: cam Xã Đoài, chất lượng cao; bưởi Diễn đặc sản để phục vụ nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu trong những năm tới Và đặc biệt là các giống hoa cao cấp như lan, địa lan, hoa lily…có giá trị kinh tế rất cao để phục vụ nội tiêu và xuất khẩu trong tương lai, hạn chế việc nhập hoa từ một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan đang là vấn đề cấp thiết trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Vì vậy trên cơ sở kế thừa phát triển tiếp những kết quả nghiên cứu về công nghệ tế bào và chương trình giống nông, lâm nghiệp giai đoạn 2001-
2005, đồng thời nhằm góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết nêu trên,
chúng tôi tiến hành thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm “Hoàn thiện quy
trình vi nhân giống để phát triển một số cây trồng có giá trị kinh tế phục
vụ cho chương trình nông, lâm nghiệp bền vững”
1 2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1 2.1 Cây bạch đàn và keo lai
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Từ năm 1987, Gupta và Mascarenha đã cho biết có trên 20 loài bạch đàn đã được nhân giống thành công bằng nuôi cấy mô và tạo được cây mô (Gupta và cs., 1987) Các nhà khoa học Ấn Độ đã tạo thành công cây mô từ
các cây trội bạch đàn E camaldulensis, E globolus, E tereticornis, E torelliana và cả từ cây trội có hàm lượng tinh dầu cao của Bạch đàn chanh E citriodora (Nguyễn Hoàng Nghĩa , 2000)
Cây mô còn ra hoa và tạo hạt ngay ở hai tuổi rưỡi Cây mô có nguồn gốc từ cây ưu việt sinh trưởng nhanh gấp 3 lần và đồng đều hơn là cây mọc từ hạt của cùng cây mẹ Tại Australia, nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy
mô đã được áp dụng để nhân nhanh các cây được chọn có tính chịu mặn trong
đất và đang được đưa vào sản xuất lớn cho loài E.camladulensis Vào năm
Trang 101987, có khoảng 20,000 cây mô của các dòng vô tính chịu mặn đã được tạo ra
để trồng lại rừng ở các mỏ Bauxite gần Perth, Tây Australia (Gupta, và cs., 1983)
Trung Quốc cũng là nước ứng dụng sớm và thành công cây nuôi cấy
mô vào trồng rừng diện rộng Cây được nhân thành công chính là E.urophylla
và một số dòng bạch đàn lai giữa E grandis với E.urophylla Đến năm 1991 ở
vùng Nam Trung Quốc, người ta đã sản xuất được trên 1 triệu cây mô của các cây và các dòng lai đã được chọn lọc (Ikemori, 1987)
Kỹ thuật nuôi cấy mô còn được sử dụng để vận chuyển các cây Bạch đàn và keo lai nuôi trong ống nghiệm trên một quãng đường dài mà không gây lên bất kỳ khó khăn nào Hơn nữa, với kỹ thuật này người ta còn có thể tuyển chọn được các cây có khả năng kháng bệnh, chịu mặn, chịu lạnh và các điều kiện khắc nghiệt khác của môi trường Ngoài ra, nuôi cấy mô tế bào còn tạo ra một nguồn biến dị mới, biến dị dòng soma, vì vậy làm tăng khả năng chọn tạo thành công giống mới cho tương lai
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước của cây bạch đàn, keo lai
a Nguồn gốc và xuất xứ của cây bạch đàn và keo lai
* Cây bạch đàn
Cây bạch đàn thuộc chi Eucalyptus không phải là loại cây mọc tự nhiên
trong các lâm phận Việt Nam Loài này xuất xứ từ nước Úc được dẫn giống bằng hạt đem về trồng ở đất nước ta vào khoảng thập niên 1950 và cho thấy một số loài rất thích hợp với thổ nghi và khí hậu của Việt Nam, nhất là có thể trồng tập trung thành rừng trồng phân tán trong đất thổ cư của nhân dân từ vùng đồng bằng cho đến các vùng bình nguyên và cao nguyên Tiên Khởi ở Miền Nam, cây bạch đàn mới du nhập được gọi là cây khuynh diệp vì có lá cong cong hình lưỡi liềm
Sau ngày 30-4-1975, cây khuynh diệp hay còn gọi là cây bạc hà được
Bộ Lâm Nghiệp đặt tên là cây bạch đàn, có tên khoa học là Eucalyptus spp thuộc họ Sim (Myrtaceae) Không phải chỉ có một cây bạch đàn mà tại tại nước Úc nơi xuất xứ , chi Eucalyptus (tức chi bạch đàn) có ít nhất hơn 70 loài
(species) mọc từ các vùng đồng bằng có độ cao ngang mực nước biển cho đến các vùng bình nguyên cao nguyên, từ các thung lũng đến đèo núi cao Ở Việt Nam chỉ du nhập khoảng 10 loại bạch đàn như:
+ Bạch đàn đỏ : Eucalyptus camaldulensis thích hợp vùng đồng bằng; + Bạch đàn trắng: Eu.alba, thích hợp vùng gần biển;
+ Bạch đàn lá nhỏ: Eu tereticornis, thích hợp vùng đồi Thừa Thiên -
Huế
+ Bạch đàn liễu: Eu exserta , thích hợp vùng cao miền Bắc Việt Nam + Bạch đàn chanh: Eu citriodora, thích hợp vùng thấp, lá có chứa tinh
dầu mùi sả;
+ Bạch đàn lá bầu: Eu globules, thích hợp vùng cao nguyên;
+ Bạch đàn to: Eu grandis, thích hợp vùng đất phù sa;
+ Bạch đàn ướt: Eu saligna, thích hợp vùng cao nguyên Ðà Lạt;
Trang 11+Bạch đàn Mai đen: Eu maidenii, thích hợp vùng cao như Lâm Đồng
v.v
Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla) có nguyên sản ở Indonesia, phân
bố từ 7o30 đến 10o vĩ nam và 122 - 127o kinh đông trên các dốc núi và trong các thung lũng trên các loại đất bazan, diệp thạch (schits) và phiến thạch, đôi khi mọc ở núi đá vôi Bạch đàn urô phân bố ở độ cao 300 - 2960 m trên mặt biển (chủ yếu là ở độ cao 1000 - 2000 m), lượng mưa trung bình hàng năm
600 - 2200 mm với 2 - 8 tháng khô Các đảo chính có bạch đàn Urô phân bố
tự nhiên là Flores (Egon và Lewotobi), Adona, Pantar, Alor, Wetar và Timor Nơi nguyên sản bạch đàn Urô có thể cao 25 - 45 m, cá biệt có thể cao 55 m, đường kính có thể đạt 1 - 2 m (Turnbull và Brooker, 1978; ldridge và c.s, 1993; Davidson, 1998) Ở những nơi thấp bạch đàn Urô có thể mọc lẫn với
bạch đàn E alba (Martin and Cossalter, 1975 - 1976) Bạch đàn Urô là loài
cây thích hợp với các lập địa có đất sâu ẩm ở các tỉnh miền Bắc, Bắc Trung
Bộ và Tây Nguyên Các xuất xứ có triển vọng nhất cho vùng Trung tâm miền Bắc là Lewotobi và Egon Flores (Nguyễn Dương Tài, 1994; Lê Đình Khả, 1996) Egon Flores cũng là một trong những xuất xứ có triển vọng nhất ở Mang Linh và Lang Hanh của vùng Đà Lạt (Lê Đình Khả, 1996; Phạm Văn Tuấn và cs., 2000) Còn ở vùng Đông Hà xuất xứ có sinh trưởng nhanh nhất trong cả khảo nghiệm là Lembata trong điều kiện canh tác chưa cao sau 8,5 năm xuất xứ này có chiều cao 13,2 m với đường kính ngang ngực 11,4 cm, thể tích thân cây 154,4 dm3
Khảo nghiệm loài/xuất xứ bạch đàn tương đối đồng bộ ở một số vùng sinh thái trong cả nước đã được thực hiện từ năm 1980 đến những năm gần
đây Đáng chú ý là tổng kết về khảo nghiệm xuất xứ bạch đàn Caman (E camaldulensis) và Bạch đàn têrê (E tereticornis) (Hoàng Chương, 1996),
khảo nghiệm xuất xứ bạch đàn Urô tại một số tỉnh vùng trung tâm miền Bắc (Nguyễn Dương Tài (1994), đánh giá tổng hợp các loài bạch đàn (Hoàng Chương, 1991; Lê Đình Khả, 1996; Phạm Văn Tuấn và cs, 2000) Khảo nghiêm xuất xứ bạch đàn được xây dựng vào năm 1991 tại Đông Hà tham gia
khảo nghiệm là các xuất xứ thuộc loài E urophylla, E cloeziana và E pellita, E.tereticornis, E camaldulensis và E grandis Đánh giá khảo nghiệm năm
1996 cho thấy sau 5 năm trồng các loài bạch đàn có triển vọng nhất trong
khảo nghiệm tại đây là E urophylla, E.cloeziana và E pellita, còn E grandis
tuy có sinh trưởng nhanh ở vùng cao Đà Lạt, song lại sinh trưởng tương đối chậm ở vùng thấp Đông Hà (Lê đình Khả, 1996)
* Cây keo lai
Keo lai là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng (Acacia mangium) và keo lá tràm (Acacia auriculiformis) Đây là giống có nhiều đặc
điểm hình thái trung gian giữa bố và mẹ, đồng thời có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng nhanh, có hiệu suất bột giấy, độ bền cơ học và độ trắng của giấy cao hơn hẳn các loài bố mẹ, có khả năng cố định đạm khí quyển trong đất nhờ các nốt sần ở hệ rễ
Ở Việt Nam có hơn 15 loài keo Acacia bản địa phân bố tại nhiều vùng
trong cả nước (Nguyễn Tiến Bân và cs., 2003), song hầu hết đều ở dạng cây
Trang 12bụi hoặc dây leo, ít giá trị kinh tế, trong lúc ở Australia (Úc) có đến hơn 660
loài keo Acacia (BoLand và cs.,), với nhiều loài cây gỗ lớn Một số nước như Papua New Guinea (PNG) cũng có các loài Acacia kích thước lớn, sinh
trưởng nhanh, dễ thích ứng với điều kiện đất trống đồi núi trọc ở nước ta Vì thế việc nhập nội một số loài Keo nhiệt đới từ các nước này để trồng khảo nghiệm nhằm chọn được loài và xuất xứ thích hợp với một số vùng sinh thái chính của nước ta là hết sức cần thiết Từ đầu những 1960, keo lá tràm
(Acacia auriculiformis) đã được nhập vào trồng thử ở vùng Đông Nam Bộ,
một số loài Keo khác cũng được trồng thử tại Đà Lạt, trong đó có loài
A.podariifolia mà về sau đã trở thành cây tượng trưng cho vùng Đà Lạt với
tên gọi quen thuộc là cây "Mimosa" Từ năm 1980, đặc biệt là từ đầu những năm 1990, một số loài Keo khác được tiếp tục nhập vào trồng thử và được đưa vào khảo nghiệm ở nước ta Các loài keo nhập vào Việt Nam được chia thành ba nhóm là các loài keo vùng thấp, các loài keo chịu hạn và các loài keo vùng cao Đến nay, sau khoảng 10 năm khảo nghiệm đã thấy được một số loài
và xuất xứ có triển vọng gây trồng ở một số vùng sinh thái của nước ta
Các loài keo vùng thấp là những loài có diện tích trồng rừng lớn nhất ở nước ta Có thể nói gần 40% diện tích trồng rừng ở vùng đồi thấp hiện nay là keo lá tràm và keo tai tượng, vì thế nghiên cứu chọn giống cho các loài keo vùng thấp từ khâu khảo nghiệm xuất xứ đến chọn lọc cây trội, lai giống và khảo nghiệm giống là có ý nghĩa rất thiết thực trong sản xuất lâm nghiệp Đầu
những năm 1980 bốn loài keo vùng thấp là keo lá tràm (A.ausiculiformit), keo tai tượng (A.mangium), keo lá liềm (A.crassicarpa), và keo nâu (A alaucocarpa) đã được nhập trồng thử tại Ba Vì (Hà Tây), Hóa Thượng (Thái
Nguyên) và Trảng Bom (Đồng Nai) Đánh giá sơ bộ năm 1991 đã thấy trong
4 loài Keo được trồng thử năm 1982 tại Ba Vì và năm 1984 tại Hóa Thượng thì ba loài Keo có sinh trưởng nhanh là keo tai tượng, keo lá liềm và keo lá tràm trong đó keo lá tràm là loài có sinh trưởng nhanh trong năm đầu (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1991)
- Chọn loài và xuất xứ thông qua các khảo nghiệm
+ Khảo nghiệm đồng bộ các xuất xứ của 5 loài keo
Trong các năm 1990 - 1991 thông qua các dự án UNDP một bộ giống
39 xuất xứ của 5 loài keo vùng thấp đã được khảo nghiệm nhằm tại Đá Chông (huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây), Đông Hà (Quảng Trị) và Đại Lải (Vĩnh Phúc) Đến nay một số khảo nghiệm vẫn còn được duy trì, một số khảo nghiệm không còn nữa Đá Chông thuộc huyện Ba Vì (Hà Tây) ở vĩ độ 21o07' Bắc, kinh độ 105o26' Đông, lượng mưa 1680 mm/năm, tháng có lượng mưa hơn
100 mm là các tháng 5- tháng 10, số giờ nắng là 1620 giờ/năm Đại Lải (Vĩnh Phúc) ở vĩ độ 21o10' Bắc, kinh độ 105o17' Đông, lượng mưa 1500 mm/năm, tháng có lượng mưa hơn 100 mm là các tháng 5- tháng 9, số giờ nắng là 1700 giờ/năm Đông Hà (Quảng Trị) ở vĩ độ 16o50' Bắc, kinh độ 107o05' Đông, lượng mưa 2370 mm/năm, tháng có lượng mưa hơn 100 mm là các tháng 8- tháng 12, số giờ nắng Tham gia các khảo nghiệm năm 1990 tai Đá Chông (Hà Tây) và tại Đông Hà là các lô hạt của CSIRO (Australia) gồm 13 xuất xứ
keo lá tràm (A auriculiformis), 9 xuất xứ keo tai tượng, 9 xuất xứ keo lá liềm
Trang 13+ Keo lá tràm (A.auriculiformis) có nguồn gốc từ Australia, Papua New
Guinea (PNG) và Indonesia (Indo), phân bố chủ yếu ở vĩ độ 8 - 16o Nam, ở
độ cao 100 - 400 m trên mặt biển, lượng mưa 1400 - 3400 mm/năm, song có thể chịu được lượng mưa 500 - 1000 mm/năm Doran và cs., 1997) Keo lá tràm thường có kích thước trung bình, thân ngắn nhiều cành nhánh, song trên các lập địa tốt loài này có thể cao 30 m với đường kính 80 cm và thân thẳng đơn trục (Pinyopusarerk, 1990), gỗ có tỷ trọng 0,5 - 0,6, thậm chí 0,7 nhiệt trị 4800- 4900 Cal/kg (Viện Hàn lâm khoa học Mỹ, 1984), có thể dùng làm gỗ củi, làm giấy, làm gỗ xây dựng và gỗ đồ mộc Keo lá tràm ở nước ta được trồng lần đầu ở Đồng Nai vào năm 1960, đến nay đã trở thành giống địa phương được dùng trồng rừng ở nhiều nơi
+ Keo tai tượng (A.mangium) có nguồn gốc từ Australia, Papua New
Guinea và Indonesia, chúng phân bố chủ yếu ở vĩ độ 8 - 18o Nam, độ cao 300
m trên mặt biển, lượng mưa 1500 – 3000 mm/năm (Doran, Turnbull, và cs., 1997) Tuy mới được đưa vào nước ta đầu những năm 1980, song Keo tai tượng đang được trồng rất phổ biến ở nhiền nơi Keo tai tượng có thân cây thẳng đẹp, sinh trưởng nhanh hơn keo lá tràm Gỗ keo tai tượng có tỷ trọng 0,45 - 0,50 ở giai đoạn sau 12 tuổi có thể đạt 0,59 (Razali & Mohd, 1992), thích hợp cho sản xuất gỗ lớn, gỗ dán, ván dăm, làm giấy Keo tai tượng đang được trồng ở nhiều nơi để làm nguyên liệu cho công nghiệp
+ Keo lá liềm (A.crasscicarpa) có nguồn gốc từ Australia, Papua New
Guinea và Indonesia, có phân bố ở vĩ độ 8 - 20o Nam, độ cao 5 - 200 m trên mặt biển, lượng mưa 1000 -3500 mm/năm, gỗ có tỷ trọng 0,6 - 0,7 thích hợp cho xây dựng, làm đồ mộc (Doran, Turnbull và cs., 1997) Keo lá liềm là loài cây mới được đưa vào trồng ở nước ta vào đầu những năm 1980, là loài có sinh trưởng nhanh nhất trong các loài keo ở vùng thấp, có thể gây trồng trên đất cát nội đồng có lên líp ở tỉnh Thừa Thiên Huế, đồng thời có thể sinh trưởng trên các lập địa đất đồi ở nhiều vùng trong cả nước
+ Keo nâu (A.aulacocarpa) có nguồn gốc từ Australia, Papua New
Guinea và Indonesia (Thomson, 1994) Những xuất xứ được nhập vào Việt Nam chủ yếu ở các nhóm thuộc vĩ độ 6 - 20o Nam, có lượng mưa 1000 - 3000 mm/năm (Thomson, 1994), trong đó nhóm xuất xứ Papua New Guinea có kích thước lớn, có thể cao 40m, nhóm ở Australia có thể có dạng cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ (Thomson, 1994) Gỗ keo nâu có tỷ trọng 0,6 - 0,7 (Keating và Bolza, 1982), có thể dùng để sản xuất giấy (Clark và cs., 1991), đóng thuyền
và làm đồ mộc (Keating và Bolza, 1982)
+ Keo quả xoắn (A.cincinnata) có nguồn gốc từ Australia, phân bố ở vĩ
độ 16 - 28o Nam, độ cao 150 - 800 m trên mặt biển, lượng mưa 2000 - 3500 mm/năm, có thể sống được ở nơi có lượng mưa 1200 - 1500 mm/năm, cây có
Trang 14thể cao 25 m, song ở những nơi khô hạn chỉ cao khoảng 10m (Doran và Turnbull, 1997), gỗ có tỷ trọng 0,5 - 0,6, rất thích hợp cho sản xuất bột giấy (Clark, và cs., 1991) Khảo nghiệm ở núi Đá Chông được trồng năm 1990 trên đất pheralit đỏ vàng phát triển trên sa thạch, đất tương đối sâu (trên 50 cm), theo khối 49 cây, lặp lại 3 lần ngẫu nhiên không đầy đủ
- Số liệu thu thập năm 1999 cho thấy tại Đá Chông ở Ba Vì ở giai đoạn
9 tuổi thể tích than cây trung bình của 5 loài keo được khảo nghiệm là:
+ Keo lá liềm có thể tích thân cây 221 dm3/cây,
+ Keo tai tượng có thể tích thân cây 191 dm3/cây,
+ Keo lá tràm có thể tích thân cây 192 dm3/cây,
+ Keo nâu có thể tích thân cây 103 dm3/cây,
+ Keo quả xoắn có thể tích thân cây 94 dm3/cây
Như vậy 3 loài cây có sinh tưởng nhanh và có triển vọng gây trồng ở các tỉnh phía Bắc là keo lá liềm, keo tai tượng và keo lá tràm
Khảo nghiệm so sánh một số xuất xứ keo tai tượng, keo lá tràm, keo lá
liềm, keo nâu (A.aulacocarpa) và keo quả xoắn (A cincinnata) cũng được
Trung tâm nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh xây dựng tại Mang Giang (Gia Lai) trên đất Bazan và đất đồi phân hóa từ đá granit năm 1992 (Mai Đình Hồng, Huỳnh Đức Nhân, Cameron, 1996) Số liệu đo đếm ở giai đoạn 4 năm tuổi (1996) cho thấy, keo lá liềm, keo tai tượng và keo lá tràm là những loài có sinh trưởng nhanh nhất Đánh giá sinh trưởng trên cả hai lập địa
đã thấy các xuất xứ Bloomfield (Qld) và Pongaki (PNG) có sinh trưởng nhanh nhất trong 4 xuất xứ của keo tai tượng Các xuất xứ Coen River (Qld) và King's Plain (Qld) có sinh trưởng nhanh nhất trong 4 xuất xứ của keo lá tràm Keo quả xoắn là loài có sinh trưởng kém nhất Keo lá liềm (xuất xứ Chili-Beach - Qld) chỉ được khảo nghiệm trên đất phân hoá từ đá granit và là loài
có sinh trưởng nhanh nhất ở đây Những xuất xứ có triển vọng này về cơ bản vẫn giống với những xuất xứ đã được đánh giá và đề xuất trước đây (Lê Đình Khả, 1996, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1997, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê Đình Khả,
1997, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê Đình Khả, 2000)
b Tình hình nghiên cứu nhân giống mô và hom đối với cây bạch đàn và keo lai
từ Trung Quốc Sau khi có kết quả khảo nghiệm Bộ NN&PTNT đã có quyết định công nhận một số dòng vô tính là giống tiến bộ kỹ thuật và cho trồng trên diện rộng ở những nơi có điều kiện tương tự Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu khảo nghiệm dòng vô tính cho các dòng đã được nhập hoặc chọn lọc nói trên
Trang 15- Chọn dòng vô tính bạch đàn urô (E urophylla)
Chọn lọc cây trội bạch đàn urô phối hợp với nhân giống sinh dưỡng và khảo nghiệm dòng vô tính đã được Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh thực hiện từ năm 1995 đến nay nhằm tạo các dòng vô tính có năng suất cao cho sản xuất nguyên liệu giấy Từ các cây trội được chọn Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh đã có hai đợt khảo nghiệm dòng vô tính trong các năm 1995-1998 và 1998-2003
Khảo nghiệm lần đầu được tiến hành trong các năm 1995-1998 cho 16
dòng bạch đàn urô được chọn lọc tại chỗ và nhân giống bằng hom như PN2, PN3, PN4, PN14, PN18, PN19, PN231, v.v., cũng như các dòng được nhập từ Trung Quốc như U16, GU, cây mô U16 và cây hạt lấy giống từ rừng sản xuất đại trà tại địa phương Kết quả khảo nghiệm dòng vô tính tại Sóc Đăng và Gia Thanh cho thấy sau hơn 3 năm (39 tháng) hai dòng bạch đàn urô có năng suất
và chất lượng cây cao nhất là PN2 và PN14 có thể tích thân cây 19,6-22,5
dm3/cây (tại Sóc Đăng) và 22,0-26,6 dm3/cây (tại Gia Thanh), trong khi các dòng được nhập từ Trung Quốc như U16 và GU chỉ đạt năng suất 14,5-16,0
dm3/cây tại Sóc Đăng và 13,8-14,4 dm3/cây tai Gia Thanh, còn thể tích thân cây của giống sản xuất mọc từ hạt của bạch đàn urô là 11,5-15,5 dm3/cây (Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh, 1998) Hai dòng bạch đàn PN2 và
PN14 đã được Bộ NN&PTNT công nhận là Giống tiến bộ kỹ thuật tại quyết
định số 3645 KHCC-NNNT ngày 28 tháng 12 năm 1998
Khảo nghiệm lần thứ hai được tiến hành trong các năm 1998-2003
được tiến hành cho 36 dòng gồm các dòng bạch đàn urô được chọn tại vùng Trung tâm miền Bắc gồm các giống GU1, GU8, U6, W4 và W5 cùng giống đối chứng là cây hạt của bạch đàn urô lấy từ sản xuất Kết quả khảo nghiệm dòng vô tính tại một số xã thuộc huyện Tam Nông và Đoan Hùng cho thấy sau 4- 5 năm ba dòng bạch đàn Urô PN10, PN 46 và PN47 là những dòng có thể tích thân cây tương ứng là 101, 127 và 103,6 dm3/cây với năng suất tương ứng là 23, 38 và 30 m3/ha/năm, trong giống đối chứng là cây hạt của bạch đàn urô chỉ có thể tích thân cây 41,4-43,8 dm3/cây và năng suất chỉ đạt 8-10
m3/ha/năm (Nguyễn Sỹ Huống, Huỳnh Đức Nhân, Nguyễn Thái Ngọc, Nguyễn Văn Thạnh, 2003) Các dòng bạch đàn PN10, PN46 và PN47 đã được
Bộ NN&PTNT công nhận là Giống tiến bộ kỹ thuật tại quyết định số 2722/KHCC-NNNT ngày 7 tháng 9 năm 2004 để phát triển ở vùng Trung tâm miền Bắc
Các nghiên cứu về cải thiện giống cho loài cây này đã được tiến hành
và bước đầu đã đạt được những kết quả rất triển vọng, như đã chọn lọc được
một số xuất xứ tốt là Lewotobi, Lembata và Egon; một số tổ hợp lai UC (E urophylla x E camaldulensis), UE (E urophylla x E exserta) có thể tích thân cây vượt từ 24 đến 140% so với xuất xứ tốt nhất (Lê Đình Khả và cs., 2003)
Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ chú trọng về cải thiện khả năng sinh trưởng và chất lượng thân cây mà chưa chú trọng nhiều đến cải thiện các tính chất gỗ như tỷ trọng gỗ, hàm lượng xenlulose Các nghiên cứu về ảnh hưởng của khả năng sinh trưởng và tính chất gỗ của bạch đàn đến hiệu quả của quá trình sản xuất cho thấy các tính trạng có ảnh hưởng lớn nhất đến nâng cao
Trang 16hiệu quả trồng rừng, cũng như giảm giá thành của quá trình sản xuất bột giấy
là sinh khối, tỷ trọng gỗ và hiệu suất bột giấy (Borallho và cs., 1993; Greaves
dm3/cây (Lê Đình Khả và cs., 2003) Điều đó cho thấy để có dòng vô tính năng suất cao phải tiến hành chọn lọc và khảo nghiệm cho nhiều cây trội
Chọn lọc và khảo nghiệm dòng vô tính bạch đàn Caman chống chịu
bệnh được nhóm đề tài chọn giống kháng bệnh phối hợp với Trung tâm khoa
học sản xuất Đông Nam Bộ thực hiện tại vùng Đông Nam Bộ và một số nới khác cho thấy từ 50 dòng vô tính có sức sinh trưởng mạnh và không bị bệnh được chọn trong khảo nghiệm năm 1998 tại vùng Sông Mây (Đồng Nai) đã chọn ra 10 dòng có sinh trưởng nhanh nhất và ít bị bệnh để khảo nghiệm lại tại Sông Mây, Bầu Bàng (Bình Dương) và ở Huế Đánh giá kết quả khảo nghiệm năm 2004 cho thấy chỉ có hai dòng SM16 và SM123 có thể tích thân cây tương ứng là 69,96 và 70,26 dm3/cây, có chỉ số bệnh là 1,06 và 0,17 (mức
bị bệnh cao nhất là điểm 4, khi hơn 75% số lá bị bệnh và hơn 75% số cành bị chết do bệnh), trong lúc các dòng còn lại nếu có chỉ số bệnh thấp thì thể tích thân cây chỉ đạt 37,59-55,62 dm3/cây hoặc cây có thể tích thân cây 68,56
dm3/cây thì chỉ số bệnh đến 1,43 (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phạm Quang Thu,
Nguyễn Văn Chiến, 2004) Hai dòng SM16 và SM23 đã được Hội đồng khoa
học Bộ NN&PTNT đề nghị công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật
- Lai giống một số loài bạch đàn
Từ năm 1991 Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng đã tiến hành chọn
lọc cây trội và ghép cho một số cây bạch đàn urô (E urophylla -U), bạch đàn Caman (E camandulensis -C) và bạch đàn liễu (E exerta -E) Sau đó, trong
các năm 1996 - 2000, đã nghiên cứu đặc điểm di truyền, cất trữ hạt phấn và tiến hành lai giống cho ba loài bạch đàn nói trên Bằng phương pháp thụ phấn
có kiểm soát (control pollination) đã tiến hành lai thuận nghịch (reciprocal hybridisation) và tạo ra hơn 70 tổ hợp lai (hybrid combination) gồm các cây lai khác loài (interspecific hybrids) và cây lai trong loài (intraspecific hybrids) Các tổ hợp lai được tạo ra gồm các nhóm UC, CU, UE, EU, CE, EC
và UU đã được khảo nghiệm tại các nơi có điều kiện lập địa khác nhau như
Thuỵ Phương (Hà Nội), Ba Vì (Hà Tây) và một số nơi khác ở Việt Nam
Trang 17Nghiên cứu tiềm năng bột giấy đã được thực hiện cho một số tổ hợp lai đại diện như E1C4, U29C4, U29E1, E1U29 và các bố mẹ của chúng là U29, E1, xuất xứ Kenendy River của bạch đàn trắng Caman, xuất xứ Egon Flores của bạch đàn urô v.v Các số liệu thu được cho thấy ở giai đoạn 3 tuổi cây lai
có tỷ trọng gỗ và hàm lượng cellulose tương đương hoặc cao hơn các loài bố
mẹ, trong lúc hiệu suất bột giấy và các tính chất cơ học của giấy như độ chịu kéo, độ chịu gấp, chỉ số xé và độ trắng của giấy lại tương tương với các loài cây bố mẹ Chứng tỏ cây lai không những sinh trưởng nhanh mà tiềm năng bột giấy cũng không kém các loài cây bố mẹ (Lê Đình Khả, Hoàng Quốc Lâm, Nguyễn Việt Cường, 2002) Từ khảo nghiệm giống lai đã chọn được hơn 30 cây lai tốt nhất thuộc 8 tổ hợp lai khác nhau được Bộ NN và PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật Sau khi nhân giống sinh dưỡng và khảo nghiệm dòng vô tính tại một số vùng sinh thái đã thấy một số dòng vô tính rất
có triển vọng Những giống này không những tiếp tục sinh trưởng nhanh hơn
các loài bố mẹ mà còn nhanh hơn các dòng E urophylla được chọn lọc PN2
và PN14 cũng như các dòng U6 và GU8 được nhập vào Việt Nam trong những năm gần đây Những dòng có sinh trưởng nhanh nhất là những dòng thuộc các tổ hợp U29E1, U29E2, U15E4, C2U17 và U29C3 được khảo nghiệm tại Tam Thanh Khảo nghiệm giống lai tại một số nơi khác cũng thu được kết quả tương tự (Nguyễn Việt Cường, 2003) Điều đó chứng tỏ lai nhân tạo có ý nghĩa to lớn trong cải thiện giống bạch đàn
Bạch đàn dòng U6 được ưa chuộng bởi tính vượt trội của nó, như sinh trưởng nhanh, dáng thon, tỉa cành tự nhiên tốt, độ che phủ của tán lá cao và chất lượng sợi gỗ đạt hiệu quả cao cho sản xuất giấy Độ tăng chiều cao có thể đạt tới 3,9m - 4,1m/năm Theo dự kiến dòng bạch đàn U6, sau 7- 8 năm sản lượng cây đứng có thể đạt từ 120-150m3/ha, nếu được trồng ở tầng đất sâu,
ẩm, được chăm sóc tốt có thể rút ngắn chu kỳ, nó lại phù hợp với nhiều lập địa khác nhau Ngoài ra, trồng bạch đàn dòng U6 còn có tác dụng cải tạo môi trường đất, nước và không khí Nhiệt độ mặt đất dưới tán rừng U6 thấp hơn nơi đất trống 100C, thấp hơn 60C so với những tán rừng các cây khác Bạch đàn dòng U6 có tính vượt trội như vậy, nhưng khi nhân giống muốn giữ nguyên được tính chất của nó thì phải bằng con đường vô tính, tức là bằng công nghệ mô và hom Công trình khoa học nhân giống bạch đàn dòng U6 bằng công nghệ môvà hom đã được tặng nhiều giải thưởng như Huy chương Vàng hội chợ triển lãm Tuần Lễ Xanh Quốc tế -Việt Nam lần thứ 3, năm
2007 Năm 2008 lại được đề nghị tặng thưởng Cúp Vàng "Thương hiệu- Nhãn hiệu" lần thứ III
- Nhân giống bằng giâm hom và nuôi cấy mô
Nhân giống bằng hom (cutting propagation) là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới gọi là cây hom Nhân giống hom là phương thức nhân giống giữ được các biến dị di truyền của cây mẹ lấy cành cho cây hom, giữ được ưu thế lai của đời F1 và khắc phục được hiện tượng phân ly ở đời F2, rút ngắn chu kỳ sinh sản và thời gian thực hiện chương trình cải thiện giống cây rừng và là phương thức góp phần bảo tồn nguồn gen cây rừng Nhân giống bằng hom cũng là phương
Trang 18pháp có hệ số nhân giống lớn nên được dung phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả Tuy vậy nhân giống bằng hom có thể gặp hiện tượng bảo lưu cục bộ (topophisis) là hiện tượng mà cây hom tiếp tục phát triển theo các đặc tính của cành mang hom cả về tập tính sinh trưởng lẫn phát triển giai đoạn (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003)
Các nhân tố ảnh hưởng đến thành công của nhân giống hom là đặc điểm di truyền của loài, tuổi cây mẹ lấy cành, vị trí cành và tuổi cành, sự tồn tại của lá trên hom, các chất kích thích ra rễ, điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành, giả thể giâm hom, thời vụ giâm hom và các điều kiện ngoại cảnh khác như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm v.v (Lê Đình Khả, 2003) Các chất kích thích ra rễ được dùng chủ yếu là IBA (Indole butiric acid), IAA (indoleacetic acid), NAA (naphthyl acetic acid), 2,4-D (2,4-dichlorophenoxyacetic acid),v.v
Trước năm 1995 các chất này được dùng chủ yếu ở dạng dung dịch có nồng độ thấp, khoảng 50-300 ppm xử lý trong thời gian 3 giờ Từ năm 1996 đến nay thuốc bột (0,25- 1,0%) là dạng thuốc được dùng chủ yếu khi nhân giống hom ở quy mô sản xuất; ngoài ra, dạng dung dịch nồng độ cao 1000 -
3000 ppm cũng được dùng để xử lý hom giâm trong thời gian 1- 3 giây Nghiên cứu của nhiều tác giả đã thấy rằng thuốc giâm hom có hiệu quả nhất
và được dung phổ biến nhất là IBA dạng bột ở nồng độ 0,75 - 1,0%, tiếp đó là dạng thuốc nước nồng độ cao (1000 - 3000 ppm) Đây là những dạng thuốc rất tiện dụng trên quy mô lớn ở điều kiện sản xuất IBA đang được dùng làm thuốc gốc để sản xuất các chế phẩm dạng thuốc bột kích thích ra rễ trên thị trường thế giới (Lê Đình Khả, Đoàn Thị Mai, 2002) Giá thể giâm hom thường dùng là cát sông, hoặc hỗn hợp cát sông + than trấu, hoặc cát sông +
xơ dừa Độ ẩm giá thể thích hợp thay đổi theo từng loài cây, song thích hợp nhất thường là 50-70% Mùa giâm hom có tỷ lệ ra rễ cao nhất cho các loài cây
lá rộng thường là mùa mưa và thường là tháng 5 đến tháng 10 Đây cũng là
những tháng cây có khả năng ra chồi nhiều nhất, cắt được nhiều hom nhất
- Nhân giống bạch đàn bằng kĩ thuật nuôi cấy mô
Nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu và khảo nghiệm xuất xứ cũng như khả năng chọn cây trội bạch đàn từ giai đoạn còn nhỏ, thử nghiệm giâm hom bạch đàn bằng một số loại thuốc và nồng độ thuốc khác nhau
+ Trung tâm nghiên cứu nguyên liệu giấy Phù Ninh đã nghiên cứu xuất
xứ bạch đàn E.urophylla trong vùng nguyên liệu giấy sợi Bắc Bộ
+ Viện Khoa học Lâm nghiệp đã có nhiều công trình nghiên cứu về thử nghiệm thuốc giâm hom cho các loài bạch đàn khác nhau
+ Trường Đại học Lâm nghiệp trong những năm vừa qua đã có một số
đề tài và công trình nghiên cứu về thử nghiệm giâm hom loài bạch đàn và bước đầu đã có một số kết quả nhất định
+ Nguyễn Ngọc Tân và Trần Hồ Quang thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nghiên cứu nhân giống cây lai giữa bạch đàn liễu và bạch đàn trắng bằng phương pháp nuôi cấy mô Kết quả nghiên cứu cho thấy: việc nhân chồi bạch đàn lai đạt kết quả tốt trên môi trường MS có bổ sung 0,3-0,5 mg/l BAP và 0,2 mg/l Kinetin Môi trường ra rễ thích hợp là 1/2 MS + 1 mg/l
Trang 19IBA (tỷ lệ ra rễ đạt 80% sau 12 ngày) (Nguyễn Ngọc Tân, Hồ Trần Quang, 1996)
+ Mai Đình Hồng thuộc Trung tâm nghiên cứu nguyên liệu giấy Phù
Ninh (Phú Thọ) nghiên cứu nuôi cấy mô Bạch đàn E.urophylla Tác giả cho
rằng, môi trường nhân nhanh thích hợp là MS + 0,5mg/l BAP + 0,25 mg/l NAA, môi trường ra rễ tối ưu là 1/4 MS + 1mg/l IBA (Mai Đình Hồng, 1999; Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vinh , 1997)
+ Đoàn Thị Mai và các cs., 2004 thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp
Việt Nam nghiên cứu nuôi cấy mô bạch đàn lai E.urophylla x E camaldulensis Các tác giả cho rằng dùng riêng rẽ BAP tỏ ra thích hợp hơn so
với dùng phối hợp với Kinetin trong việc kích thích tạo chồi (Đoàn Thị Mai
và cs., 2004) Tuy nhiên tất cả các công trình nghiên cứu đã công bố ở trên hầu như mang tính chất thử nghiệm và đối tượng chủ yếu tập trung vào loài
bạch đàn trắng E camaldulensis Những nghiên cứu có liên quan đến đối tượng bạch đàn E.urophylla với mục tiêu phục vụ sản xuất còn ít và bị hạn
chế
* Cây keo lai
Giống lai tự nhiên đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam là giống lai giữa
bạch đàn Caman (E camaldulensis) với bạch đàn đỏ (E robusta) có thể tích
thân cây gấp 2-3 lần các loài cây bố mẹ (Lê Đình Khả, 1970) Tuy vậy, thành tựu nổi bật của công tác cải thiện giống cây rừng ở nước ta là sử dụng giống keo lai tự nhiên Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng
(A mangium) với keo lá tràm (A auriculiformis) Đến nay keo lai đã được
trồng trên 28 tỉnh và hai tổng công ty và đang được coi là một trong những giống cây trồng chính để làm nguyên liệu cho công nghiệp Năm 1995 diện tích trồng keo lai mới 160 ha thì đến hết năm 2004 diện tích trồng keo lai trong cả nước đã hơn 130.000 ha, riêng năm 2003 đã trồng 46.000 ha Đến nay diện tích trồng keo lai đạt gần 450.000 ha Keo lai của ta cũng đang được một số nước quan tâm gây trồng
- Nhân giống keo lai bằng giâm hom
Keo lai là giống lai đời F1 nên khi dùng hạt lấy từ cây keo lai để trồng rừng thì rừng trồng mới (tức đời F2) sẽ bị thoái hoá và phân ly không những
về hình thái mà cả sinh trưởng, làm cho năng suất rừng keo lai giảm xuống thấp hơn cả rừng trồng keo tai tượng (Lê Đình Khả, và cs., 1998) Vì thế ngay
từ năm 1997, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có khuyến nghị không dùng hạt keo lai để gây trồng rừng mới mà nên dùng phương pháp nhân giống sinh dưỡng bằng giâm hom hoặc cây nuôi cấy mô để tạo cây con keo lai cho trồng rừng Ngay khi keo lai được chọn tạo Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã nghiên cứu nuôi cấy mô và giâm hom thành công cho keo lai (Nguyễn Ngọc Tân, và cs., 1995; Đoàn Thị Mai, và cs., 1999; Lê Đình Khả và cs., 1999) và đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về kỹ thuật nhân giống hom cho hơn 40 tỉnh ở Việt Nam Hiện nay kỹ thuật nhân giống hom keo lai
đã được nhiều cơ sở trong nước áp dụng thành công Nhiều lâm trường và hợp tác xã đã có thể nhân giống keo lai bằng hom để trồng rừng
Trang 20- Nhân giống keo lai bằng nuôi cấy mô
Cùng với việc gây trồng keo lai là sự phát triển của kỹ thuật nhân giống bằng nuôi cấy mô và giâm hom, đặc biệt kỹ thuật nhân giống hom đã mở rộng đến tận các lâm trường và hợp tác xã Nuôi cấy mô keo lai ở nước ta người đầu tiên tiến hành nuôi cấy mô là Nguyễn Ngọc Tân và cs.,1995 Sau đó Đoàn Thị Mai và cs., 1998, 2004) đã hoàn thiện thêm một số khâu và đã chuyển giao kỹ thuật nhân giống keo lai bằng nuôi cấy mô cho nhiều cơ sở trong nước
Ngoài các dòng keo lai BV10, BV16 và BV32 là giống quốc gia cùng các dòng TB3, TB5, TB6, TB12 đã được công nhận trước đây, năm 2004 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận thêm dòng KL2 cho vùng Đông Nam Bộ Gần đây một số dòng keo lai mới cũng đang được một số đơn
vị chọn tạo và khảo nghiệm Cùng với keo lai tự nhiên chúng ta cũng tạo được một số tổ hợp và một số dòng keo lai nhân tạo sinh trưởng nhanh, làm phong phú thêm tập đoàn giống keo lai ở nước ta Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã thấy keo lai có hình thái lá, vỏ cây, quả và hạt cũng như có tỷ trọng gỗ trung gian giữa keo tai tượng và keo lá tràm (Lê Đình Khả
và cs., 1993), trong khi có sinh trưởng nhanh gấp 1,5-3,0 lần các loài keo bố
mẹ nên có tiềm năng bột giấy cao hơn (Lê Đình Khả, Lê Quang Phúc, 1995;
Lê Đình Khả, Lê Quang Phúc, 1999) Keo lai cũng có lượng nốt sần và có khả năng cải tạo đất cao hơn các loài keo bố mẹ (Lê Đình Khả, Ngô Đình Quế, Nguyễn Đình Hải, 2000) Tuy vậy đây là cây lai đời F1 vì thế nếu dùng hạt để trồng rừng thì ở đời F2 bị thoái hoá và phân ly (Lê Đình Khả, và cs., 1998) nên phải nhân giống sinh dưỡng bằng nuôi cây mô và giâm hom Nhờ áp dụng kỹ thuật nhân giống bằng nuôi cấy mô (Nguyễn Ngọc Tân, và cs., 1997; Đoàn Thị Mai, và cs., 1999) và giâm hom mà các dòng keo lai đã được đưa vào sản xuất trên quy mô lớn ở nước ta Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng
đã dùng thuốc bột TTG (tên viết tắt của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng) để nhân giống mô-hom cho keo lai Xử lý bằng thuốc bột TTG1 có thể làm cây mô ra rễ hơn 90% trên môi trường cát tinh và hom giâm ra rễ hơn 80% ở quy mô sản xuất
Những nơi keo lai sinh trưởng nhanh là Hàm Yên (Tuyên Quang), Bình Thanh (Hòa Bình), Đông Hà (Quảng Trị), Long Thành (Đồng Nai) sau 5-7 năm trồng có thể đạt năng suất 43- 45 m3/ha/năm Ngay tại nơi có đất nghèo dinh dưỡng và bị laterit hóa tương đối mạnh như ở Ba Vì, keo lai cũng có thể đạt năng suất 15 m3/ha/năm, trong khi năng suất cuả Keo tai tượng cũng chỉ đạt 9 m3/ha/năm (Nguyễn Ngọc Dao, 2003) Tại các tỉnh vùng Đông Nam Bộ
và được trồng thâm canh keo lai có thể cho năng suất 35 - 40 m3/ha/năm trên diện rộng (Lê Đình Khả, và cs., 1999, Nguyễn Ngọc Dao, 2003), vì thế keo lai đang được phát triển mạnh ở các tỉnh miền Trung và miền Nam nước ta Ngoài ra, một số thí nghiệm cũng cho thấy các biện pháp thâm canh cũng có vai trò rất trọng trong tăng năng suất giống (Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh, 1998)
Những dòng keo lai có sinh trưởng nhất cũng là những dòng có thân cây thẳng, đơn trục và cành nhánh nhỏ, chỉ số chất lượng thân cây cao nhất
Trang 21Những dòng keo lai sinh trưởng kém cũng là những dòng có chất lượng thân cây kém nhất Từ kết quả khảo nghiệm dòng vô tính đã chọn được 5 dòng keo lai BV10, BV16 BV29, BV32 và BV33 có năng suất và chất lượng thân cây cao nhất được Bộ NN&PTNT cho khảo nghiệm trên diện rộng ở một số vùng sinh thái chính trong nước từ năm 1996 Đây cũng là những dòng có khả năng chịu hạn khá hơn hoặc tương đương các loài keo bố mẹ, có hàm lượng cellulose cao, có hiệu suất bột giấy và độ bền cơ học của giấy cao hơn các loài keo bố mẹ, cũng như cao hơn bạch đàn Caman được trồng làm đối chứng Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã phối hợp với CSIRO xác đinh các alen trên các locus của các phân tử ADN bằng phương pháp "in dấu vân tay ADN" (DNA fingerprinting) theo 2 microsatelite A030 và A435 và đã thấy rằng các dòng vô tính này có các alen thật sự khác nhau (Butcher, 2001) Từ kết quả khảo nghiệm giống trong những năm qua, một số dòng keo lai đã được Bộ NN&PTNT công nhận giống là:
- Giống quốc gia gồm các dòng keo lai BV10, BV16 và BV32 (theo Quyết định số 132/ KHCNNNNT ngày 17 tháng 1 năm 2000)
- Giống tiến bộ kỹ thuật gồm các dòng keo lai TB03, TB05, TB06,
TB12 (theo Quyết định số 3118/ KHCN-NNNT ngày 9 tháng 8 năm 2000), KL2 (theo Quyết định số 2722/ KHCNNNNT ngày 7 tháng 9 năm 2004)
- Dòng keo lai KL2 do Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh khảo nghiệm tại Đại An (Đồng Nai) ở giai đoạn 4,5 tuổi cũng có thể tích thân cây
140 dm3/cây, trong lúc của keo tai tượng là 44 dm3/cây, còn của Keo lá tràm
là 37 dm3/cây (Nguyễn Sỹ Huống, Huỳnh Đức Nhân và cs., 2003) Ngoài các dòng keo lai được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận như BV5, BV16, BV32, TB3, TB5, TB6, TB12 và KL2, một số dòng keo lai khác
đã được chọn thêm và đưa vào khảo nghiệm Đến nay, sau 3 năm khảo nghiệm đã thấy rằng một số dòng như BV71, BV75 có năng suất và hiệu suất bột giấy tương đương các dòng keo lai BV10, BV16, BV32 (Nguyễn Đình Hải, 2002, Đoàn Văn Lâm, 2004) là có triển vọng cho trồng rừng
1.2.2 Cây hoa lan
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hoa lan là một loài hoa vương giả nhờ giá trị thẩm mỹ và giá trị kinh tế
to lớn của nó Chính vì vậy từ lâu nhiều nước trên thế giới đã tập trung vào
nghiên cứu toàn diện về hoa lan Vì hoa lan thuộc họ lan Orchidaceae có tới
25.000 đến 30.000 loài phân bố ở khắp nơi trên trái đất, rất đa dạng về mầu sắc, hương thơm và chủng loại Do đó người ta chỉ lựa chọn ra những loài có giá trị thẩm mỹ cao nhất và những loài có giá trị kinh tế cao nhất để thuần hóa, lai tạo giống và đặc biệt là đầu tư vào kỹ thuật nhân giống để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Theo thống kê của Trung tâm thương mại quốc tế từ những năm 50 của thế kỷ 20 mậu dịch hoa cây cảnh thế giới đạt 3 tỷ USD, đến năm 1985 đạt 15
tỷ USD, năm 1990 đạt 30,5 tỷ USD, đến nay đạt hơn 200 tỷ USD Trung Quốc phát triển nghề trồng hoa khoảng 20 năm trở lại đây với diện tích 336.000 ha chiếm 1/3 diện tích trồng hoa trên thế giới Năm 2000 đạt 2 tỷ cành, doanh thu hơn 1 tỷ USD Đài Loan sản xuất 13.000 ha, doanh thu đạt
Trang 22400 triệu USD trong đó hoa lan chiếm hơn 150 triệu USD tập trung chủ yếu
vào các loại hoa lan Hồ Điệp, lan Vũ Nữ và lan Kiếm Cymbidium Thái Lan
là nước trồng và xuất khẩu hoa lan lớn nhất thế giới với 610 loài và 1.000 giống trên diện tích 2.300 ha đạt tới 25.900 tấn và doanh thu đạt 500 triệu USD (ITC 2008)
Hiện nay, Thái Lan là nước xuất khẩu hoa lan đứng đầu thế giới, có
180 phòng nuôi cấy invitro hiện đại và hoa lan thương mại ở Băng Cốc và các vùng phụ cận (Đồng Văn Khiêm, 1995) Nhờ khả năng thực hiên công nghệ nuôi cây mô và lai tạo, năm 1993 Thái Lan cung cấp 80% cho thị trường Anh, 75% cho Hà Lan về hoa cắt cành, 5 triệu cành cho Nhật (Ngô Quang Vũ - Hoa cảnh T10, 2002) Ở Đài Loan do có điều kiện khí hậu thuận lợi nên có thể sản xuất hoa tươi quanh năm Đài Loan chú trọng nhiều vào sản xuất hoa lan Hồ Điệp, hiện nay nước này đã tạo ra một số giống lan Hồ Điệp qúy với nhiều màu sắc và hình dạng khác nhau
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam chúng ta diện tích trồng hoa cây cảnh cả nước là 15.000 ha bao gồm nhiều loại hoa chủ yếu là cúc, hồng, đồng tiền, cẩm chướng, lay ơn còn hoa lan thì rất ít khoảng 150-180 ha tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, SaPa… Doanh thu trồng hoa đạt từ 230 – 450 triệu đồng/ha Có những mô hình trồng hoa lan kết hợp nuôi cá cảnh, hay trồng hoa Lily đạt 1-2 tỷ đồng/ha Cả nước xuất khẩu chỉ được 25 triệu USD bằng 1/10
so với Singapo, 1/16 so với Đài Loan và bằng 1/20 so với Thái Lan Trồng hoa lan hiệu quả hơn 70-80 lần so với trồng lúa, nhưng đầu tư ban đầu lớn, trong đó chi phí nhập khẩu giống tới 70% vì giống ở trong nước còn thiếu, chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng mặc dù đã có hàng chục cơ
sở nuôi cấy mô nhưng qui mô nhỏ, công nghệ lạc hậu (Phạm S., 2009)
Đối với hoa lan, sản xuất của nước ta còn mới mẻ, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước và ngoài nước cả về số lượng và chất lượng, chủng loại hoa Hiện nay các phòng nuôi cấy mô nhân giống hoa lan bằng phương pháp gieo hạt trong phòng thí nghiệm hoặc nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, sau đó cấy chuyển và tạo cây hoàn chỉnh Từ năm 2004, Viện Khoa học kĩ thuật Nông nghiệp miền Nam đã phổ biến “Quy trình công nghệ cao sản xuất hoa lan”, quy trình tập chung cho 2 loài là lan Hoàng Thảo và lan Hồ Điệp (Lê Kim Đào và cs., 2009)
Nhằm cung cấp cây giống hoa lan cho sản xuất, các tác giả Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Thị Lý Anh tại Viện Sinh học Nông Nghiệp thuộc Trường Đại Học Nông Nghiệp I, Hà Nội đã nghiên cứu và hoàn thiện quy trình nhân giống lan Hồ Điệp bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào, quy trình này đã được Bộ NN&TPTNT công nhận là tiến bộ kỹ thuật và mỗi năm đơn vị đã cho ra đời hàng vạn cây giống hoa lan cho sản xuất Bên cạnh đó, các tác giả Đỗ Năng Vịnh, Đoàn Duy Thanh, Hà Thị Thúy và cs (2005-2010) của viện Di Truyền Nông Nghiệp cũng đã tập trung nghiên cứu ra các môi trường để sử dụng trong nhân giống invitro cây lan Hồ Điệp, cây lan Hoàng Thảo, cây lan Đai Châu để nâng cao tỷ lệ sống cũng như chất lượng cây giống khi ra ngôi ngoài vườn ươm
Trang 23Tại Trung tâm kỹ thuật Rau Hoa Quả, Hà Nội trong 2 năm trở lại đây, phòng nuôi cấy mô hoạt động cho ra đời mỗi năm hàng vạn cây giống lan Hồ Điệp và hàng vạn cây giống khác
Tại Viện Nghiên cứu Rau Quả, Đặng Tiến Đông và cs., 2009 đã tiến hành dự án KC-04-DA-09-06/10 hoàn thiện quy trình sản xuất hoa lan Hồ Điệp ở quy mô công nghiệp từ khâu nhân giống, ra cây, chăm sóc xử lí ra hoa theo ý muốn và đã rất thành công (Nguyễn Văn Tỉnh, Đặng văn Đông và cs., 2010)
Tại Viện Di Truyền Nông Nghiệp, Phạm Thị Liên và cs., 2010 đã tuyển chọn được 3 giống lan Hoàng Thảo chịu lạnh thích hợp với điều kiện trồng trọt ở các tỉnh phía Bắc là HT1; HT2; HT3 từ tập đoàn nhập nội của Thái Lan đồng thời tiến hành nhân giống bằng nuôi cấy mô, ra cây và hoàn thiện quy trình trồng hoa thương phẩm 3 giống hoa lan này
Nghiên cứu về các giá thể: Theo Việt Chương, Nguyễn Việt Thái (2002), Trần Duy Quý và cs., 2005 có thể sử dụng than hoa, dớn, xơ dừa, rễ lục bình, vỏ thông để trồng lan Hồ Điệp, còn đối với các loại địa lan Kiếm là các loại dớn, xơ dừa, xỉ than, bọt núi lửa đây là các vật liệu dễ kiếm ở Việt Nam Có thể dùng một lọai giá thể phối trộn các loại giá thể trên với nhau tùy thuộc vào điều kiện từng vùng và từng độ tuổi của lan
Nghiên cứu về về phân bón đã được tác giả Nguyễn Xuân Linh (1998) khuyến cáo nên tưới phân cho lan lúc sáng hay chiều mát, không nên tưới vào buổi trưa Bình thường tưới 1lần trên 1 tuần Nguyễn Công Nghiệp (2000) đã kết luận, mùa tăng trưởng của hoa lan nên dùng phân tổng hợp N: P: K loại 30:10:10 con khi cây chuyển sang giai đoạn hình thành, phân hóa chồi hoa và khi chớm nở hoa thì phải dùng phân có nồng độ lân cao để màu sắc hoa thắm và đậm hơn như phân N:P:K loại 6: 30: 30
1.2 3 Cây cam Xã Đoài (Citrus sinentis), bưởi Diễn (Citrus grandis)
1.2.3.1.Nguồn gốc của cây cam Xã Đoài và bưởi Diễn
Cam là loài cây ăn quả cùng họ với bưởi Nó có quả nhỏ hơn quả bưởi,
vỏ mỏng, khi chín thường có màu da cam, có vị ngọt hoặc hơi chua Loài cam
là một cây lai được trồng từ xưa, có thể lai giống giữa loài bưởi và quýt Nó là cây nhỏ, cao đến khoảng 10 m, có cành gai và lá thường xanh dài khoảng 4-
10 cm Cam bắt nguồn từ Đông Nam Á, có thể từ Ấn Độ, Việt Nam hay miền nam Trung Quốc Vương quốc của cam Xã Đoài chính là bốn xã Sông Con, Vân Du, Xã Đoài 1, Xã Đoài 2 của tỉnh Nghệ An một trong những vùng đặc chủng của cây ăn trái có múi nổi tiếng với có gần 8.000 ha trồng cam Ðây là loại cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế khá cao, nên được nhà vườn trồng nhiều trong những năm gần đây
Cam Xã Đoài không phải là giống cam bản địa của Việt Nam mà nó được người Pháp nhập nội đưa vào trồng từ những năm 40 của thế kỉ trước và trồng đầu tiên ở Thôn Xã Đoài, xã Nghi Diên, Nghi Lộc tỉnh Nghệ An nên được gọi là cam Xã Đoài Giống này có cây cao trung bình từ 3,5-4m, tán lá rộng 4-4,5 cm, phân cành tương đối thấp, ít gai và gai ngắn Lá to, chiều dài
lá 8-9 cm, rộng 5-6 cm và có cánh lá rộng, khung cành thưa hơn các giống khác Khối lượng quả nặng trung bình từ 250-300 gram, đường kính qủa trung
Trang 24bình 6,8-7,8 cm, vỏ mỏng dày chừng 3mm Năng suất> 45kg/cây, độ đồng đều và hình dạng kích thước quả (%)>80, tỉ lệ phần ăn được>80%, số lượng hạt/quả 10-15 hạt Hình dạng quả và màu sắc quả tròn đều, vàng da cam, nhẵn; màu sắc thịt quả là vàng đỏ, da cam; độ dai vách múi dòn và dễ tách; độ mịn và mọng nước của thịt quả là mịn, đồng nhất, mọng nước; hương và vị quả thơm, ngọt đậm Cam Xã Đoài có hai dạng quả, một là dạng quả hơi dẹt,
và một là dạng dạng quả hơi thuôn Người dân đánh giá quả hơi thuôn ngon hơn quả dẹt
Cam Xã Đoài đã trở thành thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam do người dân xứ Nghệ liên tục chọn lọc được các dòng thích nghi cao và cho năng suất quả, phẩm chất ngon không thua kém gì nơi xuất xứ Vì cam Xã Đoài thích ứng rất rộng đặc biệt là khi trồng ở các vùng núi cao có khí hậu mát như Mộc Châu, Sơn La hoặc các vùng núi như Hương Sơn, Hương Khê
Hà Tĩnh, mã quả rất đẹp và chất lượng ngon (Ngô Hồng Bình và cs., 2005)
Vì vậy trong dự án của chúng tôi tập trung vào nhân giống cam Xã Đoài quả hơi thuôn Những cây đầu dòng đang được lưu trữ tại Viện Rau quả và Viện
Di truyền Nông nghiệp thông qua kĩ thuật vi ghép mắt
Bưởi Diễn được trồng ở làng Phú Diễn (Từ Liêm, Hà Nội), ra hoa vào đầu Xuân, và khi Thu đến, những trái bưởi vàng rực đã lúc lỉu trên cành Theo các cụ lão làng của Đức Diễn kể lại, thì khoảng đầu thế kỷ 20, ông Lý Khang lên chơi Đoan Hùng, nhận thấy giống bưởi nơi đây ngon ngọt quá mới xin về trồng Cây bưởi gốc của nhà ông đã cho cành chiết tới hàng trăm nhà khác, nhưng giá trị trên thương trường thì chưa có ai khẳng định Tuy nhiên theo nghiên cứu của Khuất Hữu Trung và cs., 2009 trong đề tài KC-04-06-10 khi đánh giá về đa dạng di truyền tập đoàn bưởi bản địa của Việt Nam bằng các chỉ thị phân tử SSR đã khẳng định rằng giống bưởi Diễn và bưởi Đoan Hùng
là hai giống khác nhau về mặt di truyền Điều này đã loại bỏ giả thuyết mà dân gian lâu nay vẫn cho rằng bưởi Diễn có nguồn gốc từ bưởi Đoan Hùng
mà thực ra bưởi Diễn được người dân chọn lọc và biến thành loại quả đặc sản nổi tiếng của vùng Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội Điều này đã được khẳng định
là bưởi Diễn khi đem trồng ở những nơi khác thì không còn ngon bằng trồng tại chính Phú Diễn Sau ngày Cách mạng thành công, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm Phú Diễn, Bác trồng cây đa lưu niệm, căn dặn cán bộ nhân dân đẩy mạnh sản xuất, quan tâm tới trồng cây ăn quả Từ đó phong trào trồng cây ăn quả tại vườn nhà và vườn quả của người cao tuổi Phú Diễn ra đời Sau khi có chủ trương đổi mới kinh tế, Đảng Ủy Phú Diễn đã mạnh dạn đưa vào nghị quyết việc "chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng cây ăn quả, tập trung trồng bưởi - một giống cây đặc sản của địa phương." Thế là cây bưởi đã
từ vườn nhà trở thành hàng hóa chính
Bưởi Diễn có mùi thơm đặc biệt, đến vườn bưởi, chưa thấy bưởi đã thấy thơm ngan ngát Khi cây có tuổi từ 7 tuổi, năng suất >100 kg/cây; khối lượng quả trung bình từ 800-1000g; độ đồng đều và hình dạng, kích thước quả >70%; tỉ lệ phần ăn được >60%; số lượng hạt trên quả <50%; hình dạng
và màu sắc vỏ quả tròn, hơi dẹt, vàng cam nhẵn; màu sắc thịt quả vàng xanh;
độ dai của vách múi dòn, dễ tách; độ mịn mọng nước của thịt quả mịn, đồng
Trang 25Cam Xã Đoài và bưởi Diễn là cây ăn quả đặc sản ở nước ta, là loại cây xóa đói giảm nghèo và hiện nay thực chất nhiều hộ gia đình nông dân đã làm giàu từ các loại cây này Sản xuất cam Xã Đoài và bưởi Diễn đang là thế mạnh và rất phổ biến tại các tỉnh Bắc Trung bộ, vùng đồng bằng sông Hồng
và một số tỉnh miền núi phía Bắc Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới cũng đã được áp dụng góp phần cải thiện và nâng cao năng suất chất lượng quả đáng kể Ngay
từ khâu sử dụng cây giống, việc nhân giống bằng mắt ghép hầu như đã thay thế cây giống gieo từ hạt và cành chiết Cây giống tạo ra bằng phương pháp ghép khắc phục được sự truyền bệnh từ cây mẹ sang cây con, cây có bộ rễ khỏe chống chịu với ngoại cảnh và thời tiết khá hơn, thời gian cho quả nhanh Trừ các vườn cũ đã già cỗi, còn lại phần lớn các vườn trồng cam Xã Đoài, bưởi Diễn hiện nay đều sử dụng cây giống là cây ghép Cam Xã Đoài và bưởi Diễn mang lại hiệu quả kinh tế cao, tuy nhiên việc khai thác hết tiềm năng của các loại cây này vẫn cần phải khắc phục được những hạn chế, đặc biệt là công tác phòng trừ sâu bệnh, chúng không những làm giảm năng suất sản lượng quả mà còn làm giảm tuổi thọ của cây, rút ngắn chu kỳ kinh doanh vườn Vì vậy trong dự án này chúng tôi tập chung vào sản xuất các giống cam Xã Đoài
và bưởi Diễn sạch bệnh trong nhà lưới ở giai đoạn vườn ươm nhằm cung ứng một phần giống cây trồng này cho các trang trại, nhà vườn và các hộ nông dân hiện nay
1.2.3.1 Tình hình nghiên cứu sản xuất cây có múi trên thế giới
Cam, bưởi thuộc loại quả tươi cao cấp, có giá trị dinh dưỡng, giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao Trong suốt mấy thế kỷ qua, ngành sản xuất cây có múi trên thế giới không ngừng tăng nhanh và mức tiêu thụ quả của thị trường thế giới cũng ngày một cao hơn do trồng cây có múi chóng được thu hoạch và lãi suất luôn luôn cao Theo FAO, năm 2000 tổng sản lượng quả có múi của thế giới đạt trên 85 triệu tấn, tăng trưởng hàng năm 2,85% Bình quân trên thế giới khoảng 7kg/người/năm (FAO, 2010) Các nước sản xuất cam chính vụ, niên vụ 2009-2010 trên thế giới là Braxin 17,75 triệu tấn tăng so với niên vụ 2007/2008 là 16,85 triệu tấn Ở Mỹ niên vụ 2009/2010 đạt 7,4 triệu tấn, thấp hơn niên vụ 2007/2008 là 9,14 triệu tấn Còn ở Trung Quốc, niên vụ 2007/2008 là 5,45 triệu tấn, đứng tiếp theo là Ai Cập, Mexico, Nam Phi và Thỗ Nhĩ Kì (FAO, 2009/2010) Còn nước tiêu thụ quả tươi trung bình năm/người ở một số nước như Trung Quốc là ít hơn 1kg/người/năm trong khi
đó ở Nhật Bản là 18kg/người/năm, ở Mỹ là 6kg/người/năm so với mức bình chuẩn của thế giới là 7kg/người/năm (FAO, 2010)
Trên thế giới hiện nay tập chung rất mạnh vào cải tạo các giống cam, quýt, bưởi không hạt nhờ kết hợp kĩ thuật lai xa, cứu phôi, tạo dòng tứ bội để lai với lưỡng bội để tạo ra các dòng tam bội không hạt hay xử lý đột biến
Trang 26bằng các tia phóng xạ, hóa chất siêu đột biến hay kĩ thuật RNAi những kết quả bước đầu này rất khả quan Tuy nhiên cũng cần phải nhấn mạnh rằng các giống cam, quýt không hạt của thế giới tạo ra đang được thương mại hóa chủ yếu vẫn là từ việc lai xa khác loài, chọn dòng tứ bội với lưỡng bội và chọn lọc phôi vô tính, hoặc đột biến tự nhiên và tiếp tục chọn lọc các giống mới sạch bệnh (Đỗ Năng Vịnh và cs., 2010)
Ngoài các nghiên cứu và tạo giống cam quýt mới không hạt hoặc ít hạt,
ở các nước trồng cam, quýt trên thế giới còn tập trung nghiên cứu vào việc phòng trừ các loại sâu bệnh hại chính cam, quýt mà tiêu biểu là bệnh vàng lá
gân xanh Greening và bệnh tàn lụi Tristeza cũng như các phương pháp ghép
mắt và cải thiện tính kháng bệnh của gốc ghép hay tìm kiếm các loại gốc ghép mới
* Bệnh vàng lá gân xanh (Greening), bệnh tàn lụi (Tristeza) và các bệnh khác trên giống cây có múi
- Bệnh vàng lá gân xanh Greening
Hoanglongbin hay vàng lá gân xanh Greening đang lan rộng trên 50
quốc gia, và đe dọa nghiêm trọng đến nguồn gen cây có múi ở các nước châu
Á Bệnh vàng lá gân xanh Greening xuất hiện từ năm 1929 tại Trung Quốc,
mãi đến 1919 Reinking mới báo cáo về bệnh và bệnh trở nên trầm trọng từ
1926 và Lin, 1956 chứng minh bệnh truyền được qua mắt ghép Tác nhân gây
bệnh truyền qua dây tơ hồng đến cây dừa cạn (Catharanthus roseus L.)
(Garnier; Bové, 1984) và được khẳng định là một loại vi khuẩn nhuộm gram
âm Bové và cs.,1984 báo cáo rằng vi khuẩn gây bệnh vàng lá gân xanh
Greening ở Nam Phi là tác nhân không chịu nhiệt trong khi vi khuẩn này ở
Philippines và Ấn Độ chịu nhiệt tốt Theo Su và cs., 1993 cho rằng dùng kháng thể đơn dòng sản xuất ở Đài Loan, Việt Nam, Thái Lan và Malaixia trong khi Bové và cs., 1984 cũng sản xuất đoạn mồi (probe) tương tự và cần 2 gam lá cho một mẫu Các đoạn mồi ADN của Bové có thể nhận được cả
Liberobacter trong từng cá thể rầy Diaphorina citri
Bệnh vàng lá gân xanh Greening không ảnh hưởng đến mô gỗ nhưng
ảnh hưởng đến mô libe, sự vận chuyển đường đến các phần trên của cây bị cản trở Lá bị vàng héo, nhanh chết, quả mất chất lượng, sự phân chia tế bào luôn xảy ra khiến gân lá sưng lên Vi khuẩn cũng hiện diện nhiều ở cuống quả và quả bị lệch tâm, đồng thời bị giảm trọng lượng và độ đường dẫn đến giảm chất lượng (Aubert, 1987) Khảo sát bộ rễ cây đang bệnh, ta cũng thấy
do nghẽn mạch dẫn, rễ không được nuôi và không còn hoạt động tốt nên bị huỷ hoại nhiều, nhất là rễ tơ Cây bị rụng quả cùng với tiến triển của bệnh, cây sẽ chết sau 2-5 năm tuỳ mức độ nhiễm (Aubert, 1988)
- Bệnh tàn lụi Tristeza
Là do virus thuộc nhóm Closterovirus, dạng hình que kích thước 12x
2.000nm, gồm chuỗi RNA đơn, có vỏ protein bao bọc bên ngoài (Kitajima, 1964) Triệu chứng quan sát được trên cây có múi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường, ký chủ tự nhiên và dòng vi rút gây bệnh Dòng virút trên cam Valencia ở Indonexia, Trung Quốc, Đài Loan và dòng gây rỗ thân đã được mô
tả trước đây (Musharam và Whittle, 1991)
Trang 27Virút truyền qua rệp muội theo kiểu bán bền vững và thông qua mắt
ghép Toxoptera citricida truyền bệnh nhanh nhất và hữu hiệu gấp khoảng 10 lần so với Aphis grossipii, sau Aphis grossipii là loài A citricola và Toxoptera aurantii khả năng truyền bệnh không cao (Dodds và Bar-Joseph, 1983) Phát
triển và sử dụng kháng thể đơn dòng được thực hiện để phân loại các loài virut gây bệnh tác hại khác nhau (Tsai và Su, 1991)
Các yếu tố như cây ký chủ tự nhiên, dòng Virút được truyền và điều kiện môi trường như nhiệt độ, số lượng rệp trên cành có thể ảnh hưởng đến
quá trình truyền bệnh tàn lụi Tristeza (Raccah và cs., 1989)
- Cải thiện tính kháng bệnh đối với giống gốc ghép
Giống gốc ghép đánh giá tính kháng Phytophthora spp theo phương
pháp của Reddy và CTV, 1987 bao gồm thanh lọc trên rễ và thân Cam ba lá,
có dòng kháng như CRH-3, CRH-5 và CRH-4, Florida Rangpur 8747 kháng trung bình trong khi nhiều dòng giống khác đang thử nghiệm đều nhiễm (Reddy và cs.,, 1987) Cam ba lá được cho là gen kháng bệnh thối rễ và tuyến trùng (Prasad và Rao, 1983; Reddy và cs.,, 1983)
- Kỹ thuật cải thiện tính thuần cây gốc ghép
Aubert và Guy Vullin, 1998 đã tổng kết một số phản ứng đối với bệnh của một số giống gốc ghép như sau:
Cây cam đắng (Citrus aurantium) mẫn cảm với bệnh Malsecco, cây tạo
ra các tổ hợp mẫn cảm đối với virút Tristeza, nhất là trường hợp ghép với
Cam, Quýt và các loài cây lai của chúng hay bưởi chùm, nhưng đối với chanh hoặc cây cam Bergamot tạo ra các tổ hợp chống chịu bệnh cháy lá Cây cam đắng chống chịu tốt với các bệnh Viroid Cachexia, Exocortis, kháng đối với
bệnh chảy mủ Phytophthora spp., nhưng mẫn cảm với các loại tuyến trùng nhất là Tylenchus semipenetrans Cam ba lá (Poncitrus trifoliata) kháng rất tốt đối với bệnh chảy mủ Phytophthora spp., chống chịu tốt bệnh Viroid cachexia và các loại tuyến trùng, nhất là tuyến trùng Tylenchulus semipenetrans Cam ba lá khi dùng làm gốc ghép có thể tạo nên các tổ hợp chống chịu được bệnh tàn lụi Tristeza, nhưng lại mẫn cảm đối với bệnh vẩy
vỏ Exocortis
Citrange Troyer (Citrus sinensis x Poncirus trifoliata) có gen kháng đối với bệnh chảy mủ Phytophthora spp., nhưng ghép với quýt Clementine đôi
khi tại vết ghép xuất hiện các vết nứt rạn nhỏ, các vết này có thể bị
Phytophthora spp tạo khuẩn lạc tại đó và tạo nên những túi mủ khít ngay trên
điểm ghép
Citrange carrizo tạo được các tổ hợp chống chịu bệnh Tristeza và khả
năng kháng tuyến trùng hơn Troyer Carrizo ít mẫn cảm đối với một vài viroid, song lại tương đương với Troyer trên nhiều tính chất khác
Quýt Cleopat (Citrus reticulata BLanco), gốc ghép này được sử dụng
do chống chịu tốt bệnh Cachexia và Exocortis Quýt Cleopatra tạo nên các tổ hợp chống chịu phần nào bệnh Tristeza và bệnh cháy lá song giống này lại chỉ chịu các loại đất xốp và được tiêu thoát nước tốt
Citrus volkameriana: gốc ghép này chống chịu tốt với bệnh chảy mủ và tạo nên các tổ hợp kháng các bệnh Tristeza, Exocortis, Cachexia Đây là một
Trang 28gốc ghép đáng quan tâm trong trường hợp các nước chưa có một hệ thống sản xuất cây giống có múi chứng thực (Ollitrault và cs.,, 1990; Gmitter và cs.,1992, 1996 và 1997)
1.2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam nằm ở trung tâm phát sinh của rất nhiều giống cây ăn quả có múi (Võ Văn Chi và cs., 1997) Cùng với sự phân hóa về độ cao và địa hình tạo nên những tiểu vùng khi hậu đa dạng thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại cây ăn quả có múi như cam sành, cam bùi, cam Canh, bưởi Diễn, quýt Lý Nhân, cam Xã Đoài, Thanh Trà xứ Huế, bưởi Năm Roi, bưởi Phúc Trạch
Từ năm 1990-1995 mức sản xuất cam, quýt, chanh, bưởi tăng nhanh mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết và khí hậu, sâu, bệnh phá hại Các tỉnh vùng Khu bốn cũ là một vùng cam quýt có truyền thống với các giống nổi tiếng được chọn lọc qua nhiều đời, nên đến nay còn giữ được những nguồn gen quý: cam Bùi, cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch, hiện nay đã có diện tích gần 1,000 ha do kết quả dự án phát triển cây có múi của Bộ KHCN và Môi trường những năm thập kỷ 2000 Ở Phủ Quỳ qua nhiều lần phá đi, trồng lại hiện cũng
có hơn 2,000 ha Đây là vùng cam chanh có tiếng từ xưa, đã có năm diện tích toàn vùng lên tới gần 4,000 ha và năng suất điển hình tới 40-50 tấn/ha trên diện tích rộng hàng trăm ha Các tỉnh miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Hồng là những địa phương có nhiều tiềm năng cho việc phát triển cam quýt, bưởi Khí hậu ở miền Bắc, nơi có một mùa đông lạnh, có nhiệt độ, ẩm độ giảm thấp gần vụ thu hoạch nên cho phẩm chất tốt và màu sắc vỏ quả đẹp hơn Giống cam đường Canh và bưởi Diễn vùng đồng bằng sông Hồng những ngày giáp Tết có giá bán cao hơn cam quýt của Trung Quốc gấp 3 lần
Tại tỉnh Nghệ An, các vùng trồng cam trọng điểm của tỉnh đang gặp khó khăn trong việc phát triển diện tích trồng cam Năm 2007, tỉnh Nghệ An giao chỉ tiêu cho huyện Con Cuông - vùng trọng điểm trồng cam của tỉnh, trồng 50 ha nhưng đến nay mới trồng được 15 ha Phòng Nông nghiệp huyện cho biết, quy hoạch vùng trồng cam của huyện là 500 ha (thực hiện từ năm
2006 đến năm 2010), nhưng chưa năm nào huyện hoàn thành kế hoạch (năm
2006 chỉ trồng được 3 ha/30ha theo kế hoạch) Tại vùng trồng cam xã Nghi Diên (huyện Nghi Lộc), nơi có giống cam Xã Đoài nổi tiếng trong nước, hàng trăm hộ nông dân có nhu cầu trồng nhưng không thực hiện được Theo ngành nông nghiệp Nghệ An, để trồng 1ha cam cần vốn đầu tư ban đầu 70 triệu đồng, sau 4 năm sẽ cho thu hoạch, đạt thu nhập ít nhất 110 triệu đồng/ha Mặc
dù thu nhập từ cây cam cao như vậy, nhưng hiện nay nông dân Nghệ An đang gặp khó khăn trong việc phát triển loại cây trồng này Nguyên nhân khiến nhiều nông dân phát triển cây cam gặp khó khăn là do thiếu giống cam sạch bệnh, thiếu vốn đầu tư Hiện cam giống trên địa bàn tỉnh có giá bán từ 12.000 đồng đến 15.000 đồng/bầu, tuy nhiên những cây cam giống này không rõ nguồn gốc, chủ yếu được các nhà vườn tự sản xuất nên nguy cơ phát sinh bệnh sau khi trồng rất cao Trong khi đó, vườn ươm giống cam sạch bệnh của ngành nông nghiệp và các nông trường trong tỉnh chưa đủ để cung ứng ra thị trường Để khắc phục tình trạng này, từ năm 2008 tỉnh Nghệ An có kế khoạch
Trang 29sẽ đầu tư từ 400 triệu đến 600 triệu đồng/1năm để xây dựng các vườn ươm giống cam sạch bệnh và đề ra cơ chế hỗ trợ nông dân vốn, giống, kỹ thuật khi tham gia trồng cam trong vùng quy hoạch của tỉnh
Các bậc cao tuổi vùng đất đỏ Phủ Quỳ còn rất tiếc một thời cam Xã Đoài đã vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia để đi sang các nước trong khối XHCN anh em Có thể gọi lúc đó là "thời hoàng kim" nhất của cam Xã Đoài bởi chất lượng thơm ngọt đặc trưng, sản lượng ổn định đạt từ 7000 -
9000 tấn Rồi chính những đặc tính ưu việt của cam Xã Đoài gồm độ ngọt (có thể dùng độ Brix hoặc %), độ chua, kích thước quả tròn, đều mẫu mã đẹp, không tồn dư thuốc bảo vệ thực vật dễ dàng lan tỏa, đi vào trong tâm trí người tiêu dùng các vùng trong nước Họ đến và dùng cam Xã Đoài như một
sự "hữu xạ tự nhiên hương" nhưng rồi cũng thất vọng bởi sự thoái hóa, biến chất của nó Quả nhỏ, chua, màu sắc kém đã làm cam Xã Đoài dần mất vị thế của mình, nhường chỗ cho một số thương hiệu cam khác như cam Bố Hạ, cam Hà Giang, cam Canh Năm 2001, đã có một cuộc khảo sát thị trường cam và lý giải nguyên nhân vì sao cam Xã Đoài mất ngôi do sự phối hợp của Đài THVN và một số đơn vị trồng, đại lý kinh doanh, tiêu thụ cam Xã Đoài Câu trả lời khá đầy đủ cho thấy sở dĩ như vậy là bởi người trồng cam do yếu
tố tâm lý, chụp giựt thị trường nên thu hoạch cam quá sớm khi quả đang xanh,
độ đường chưa ổn định Về mặt kỹ thuật trồng thì giai đoạn này đang thời kỳ cuối, tận thu của một chu kỳ cây cam (chu kỳ 15 năm) nên chất lượng cây cũng như quả đều kém Song có thể thấy bao trùm vẫn là các nông trường trong thời kỳ chuyển đổi hoạt động kém hiệu quả nên các cơ chế chính sách, đối xử với cây cam vẫn không được như mong muốn Rồi hiện tượng loại cam Xã Đoài hay còn gọi là "hàng nhái" cam Xã Đoài không có chủ cũng gây khó khăn không nhỏ cho thương hiệu này đứng vững trên thị trường
Những năm gần đây, nhiều vườn cam, bưởi có năng suất, chất lượng cao đã phải chặt bỏ do vườn cây bị sâu bệnh cằn cỗi, nhiều vườn cây năng suất, chất lượng giảm nhanh Một trong những trở ngại đối với sản xuất cây
có múi là bệnh vàng lá gân xanh Greening, một số bệnh virut và tương tự
virut khiến sản lượng và chất lượng quả bị giảm sút Trong những năm 1967 –
1968, Viện Bảo vệ Thực vật đã tiến hành điều tra cơ bản sâu bệnh hại cây trồng ở các tỉnh phía Bắc và sau ngày thống nhất đất nước những năm 1977 –
1978, 1997 – 1998 trên cây trồng và trên cây ăn quả Riêng trên cây có múi đã ghi nhận được 19 loại bệnh do nấm, 2 loại bệnh do vi rút, 2 loại do bệnh vi khuẩn, 2 loại bệnh tuyến trùng, 4 loại do thực vật thượng đẳng và 4 loại bệnh
sinh lý Trong đó bệnh vàng lá gân xanh Greening, tàn lụi Tristeza, Loét, chảy
Gôm, phấn trắng được xem như những loại bệnh hại nguy hiểm trên cây có múi Bệnh lây lan nhanh và tàn phá nặng ở các vườn tập trung, các vườn hộ gia đình do hệ thống quản lý giống, biện pháp canh tác không tốt, côn trùng môi giới truyền bệnh dẫn đến cây sinh trưởng kém đã gián tiếp làm giảm hiệu quả phòng trừ hoặc hầu như không phòng trừ môi giới Mặt khác cây sinh trưởng kém làm sức đề kháng của cây yếu, tăng khả năng nhiễm bệnh Tác hại trực tiếp của rầy chổng cánh, rệp muội không lớn nhưng tác hại gián tiếp
Trang 30là truyền bệnh vàng lá gân xanh Greening và tàn lụi Tristeza thì cực kỳ nguy
hiểm
Theo Hà Minh Trung; Su và cs., 1995 chuyến khảo sát về bệnh đã ghi
nhận sự hiện diện của hai đối tượng bệnh vàng lá gân xanh Greening, Tristeza
tại các vùng trồng cam, quýt phổ biến như Hà Nội, Hà Giang, Tuyên Quang, Nghệ An Năm 1997 – 1998 với sự trợ giúp của Trung tâm lương thực và phân bón vùng Châu Á – Thái Bình Dương (FFTC) và tổ chức CIRAD – Pháp đã chuyển giao cho Viện Bảo vệ thực vật kỹ thuật chẩn đoán bệnh vàng
lá gân xanh Greening, tàn lụi Tristeza bằng phương pháp PCR, ELISA
Kết quả điều tra phân bố và mức độ gây hại của bệnh vàng lá Greening
ở miền Bắc Việt Nam năm 1990 – 1991 cho thấy bệnh lan tràn và nhiễm trên hầu hết các vùng trồng cam, quýt và gây hại ở mọi lứa tuổi của cây, làm giảm tuổi thọ, năng suất và chất lượng quả (Hà Minh Trung, Phạm Văn Lầm, Ngô Vĩnh Viễn, 1993) Biểu hiện đặc trưng và diễn biến triệu chứng của bệnh trên cây có múi ở phía Nam cũng được tác giả mô tả và ghi nhận (Hà Minh Trung
và cs., 1995) Các nghiên cứu về tuyển chọn giống thông qua con đường nhập nội cũng như tạo giống mới không hạt bằng con đường lai các dòng tứ bội với
lưỡng bội tạo dòng tam bội không hạt hay xử lí đột biến bằng tia gamma đã
được các tác giả như (Đỗ Năng Vịnh, Hà Thị Thúy và cs., 2009; Nguyễn Hồng Chiên và cs., 2009) của Viện Di truyền Nông Nghiệp (2000-2010); Phạm Thị Mười và cs., 2010; Trần Thị Oanh Yến và cs., 2010) của Viện nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam tiến hành và đã thu được những kết quả bước đầu rát đáng khích lệ như cam Valencia V2 không hạt được tuyển chọn
từ tập đoàng nhập nội Các dòng bưởi đường lá Cam ít hạt chất lượng quả được cải thiện do chiếu xạ tia Gamma, các dòng cây trội đầu dòng của bưởi
da xanh, bưởi Năm Roi được phát triển mạnh tại Bến Tre, Vĩnh Long phục vụ nội tiêu và xuất khẩu Vì vậy đến nay, diện rích trồng cây ăn quả của nước ta tăng tới 95.600 ha, diện tích cho sản phẩm là 65000 ha, năng suất cây ăn quả
có múi đạt 11,73 tấn ha và sản lượng đạt 683.000 tấn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn., 2009) Cùng với nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhu cầu tiêu thụ cây ăn quả có múi còn chưa đủ cần nên hàng năm nước ta phải nhập một số lượng quả có múi khá lớn từ Trung Quốc và một số nước khác (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2009)
1 3 Mục tiêu của Dự án
1.3.1 Mục tiêu chung của Dự án
Hoàn thiện một số quy trình vi nhân giống bằng công nghệ nuôi cấy
mô tế bào để nhân nhanh một số giống cây trồng rừng mới được chọn tạo, một số cây hoa cao cấp, một số cây ăn quả sạch bệnh phục vụ phát triển nông lâm nghiệp bền vững có giá trị kinh tế hàng hoá, đáp ứng được nhu cầu nội tiêu và xuất khẩu
1.3.2 Mục tiêu cụ thể của Dự án
- Quy trình nhân nhanh 2 giống cây lâm nghiệp mới được chọn tạo: keo lai và bạch đàn;
Trang 31- Quy trình nhân nhanh giống hoa lan bản địa: quy trình nhân giống Địa Lan bản địa, quy trình nhân giống lan bản địa, quy trình nhân giống lan lai công nghiệp;
- Quy trình vi ghép một số cây cam Xã Đoài và buởi Diễn;
- Sản xuất được 1.455.000 cây con và mắt ghép sạch bệnh Cụ thể là: + 1.000.000 (2 giống cây lâm nghiệp)
+ 300.000 cây giống Phong lan;
+ 100.000 cây giống Địa lan;
+ 50.000 cây giống cam Xã Đoài;
+ 5.000 cây giống bưởi Diễn
1.4 Xuất xứ của Dự án
- Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế xã hội để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng: tiếp tục đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi đóng vai trò đặc biệt quan trọng
- Căn cứ vào Quyết định số 169/QĐ -BKHCN ngày 16/8/2007 của Bộ học và Công nghệ về việc phê duyệt các danh mục đề tài/dự án Khoa học công nghệ cấp nhà nước để tuyển chọn, xét chọn thực hiện trong năm 2008 thuộc Chương trình Khoa học Công nghệ cấp nhà nước giai đoạn 2006 – 2010: Nghiên cứu và phát triển Khoa học công nghệ mã số KC.04/06-10;
- Căn cứ vào kết quả nghiên cứu và nghiệm thu của đề tài Khoa học công nghệ cấp nhà nước mã số KHCN -02-02 do Viện Di truyền Nông nghiệp chủ trì 1996 – 1998 “Ứng dụng công nghệ tế bào để nhân nhanh một số giống cây ăn quả, giống cây lâm nghiệp, giống hoa cao cấp và cây dược liệu” được Hội đồng Khoa học công nghệ cấp nhà nước đánh giá xuất sắc;
- Căn cứ vào kết quả nghiên cứu và nghiệm thu của đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp nhà nước mã số KC-04-19 do Viện Di truyền Nông nghiệp -
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện 2003-2006 “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ phôi vô tính, hạt nhân tạo trong nhân nhanh một số cây có giá trị kinh tế cao” đã được Hội đồng Khoa học công nghệ cấp nhà
nước nghiệm thu đạt loại B ngày 9/4/2006;
- Căn cứ kết qủa nghiên cứu và nghiệm thu của đề tài nghiên cứu công nghệ sản xuất và phát triển cây có múi sạch bệnh tại các tỉnh phía Bắc phục
vụ đa dạng hoá cây trồng do Viện Bảo vệ thực vật chủ trì có phối hợp với Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện nghiên cứu rau quả thực hiện 2001 – 2005
đã được Hội đồng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nghiệm thu vào loại khá
- Từ kết quả khảo nghiệm giống trong những năm qua, một số dòng keo Lai, bạch đàn vô tính đã được Bộ NN&PTNT công nhận giống là:
+ Giống quốc gia được sản xuất rộng rãi gồm các dòng keo lai: BV10, BV16 và BV32, bạch đàn: U6, PN2, PN14, các giống được tiếp tục khảo nghiệm rộng là bạch đàn: U29E1, U29E2, UE 27, UE 24, các giống keo lai: BV5, BV27, BV29, BV33 (theo Quyết định số 15/QD/BNN/ KHCN ngày 15 tháng 3 năm 2005)
Trang 32- Theo đường lối chủ trương của Chính phủ đã phê duyệt hai chương trình quan trọng về việc phát triển Nông, Lâm Nghiệp bền vững là: Chương trình phát triển rau hoa quả từ nay đến năm 2010 và 2015, Chương trình phát triển lâm nghiệp từ nay đến năm 2010 và 2015 Mục đích của hai Chương trình này là phát huy lợi thế của một nước nông nghiệp nhiệt đới, ứng dụng nhanh các tiến bộ Khoa học công nghệ cả trong nước lẫn nhập nội, đặc biệt là những tiến bộ của công nghệ sinh học và giống cây trồng để tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao trên thị trường trong nước và quốc tế nhằm đảm bảo sức cạnh tranh của những sản phẩm nông lâm nghiệp của nước ta phấn đấu đưa giá trị xuất khẩu rau quả của nước ta đạt 1tỉ USD vào năm 2010 và các mặt hàng lâm nghiệp gỗ, sản phẩm từ gỗ là 3 tỉ USD đến 2015 Vì vậy trên cơ sở của những kết quả nghiên cứu và cơ sở pháp lý này, chúng tôi đã
đăng ký và được phép thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm: “Hoàn thiện
quy trình vi nhân giống để phát triển một số cây trồng có giá trị kinh tế phục vụ cho chương trình nông, lâm nghiệp bền vững của Việt Nam”
1.5 Tính cấp thiết, khả thi và hiệu quả kinh tế của Dự án
1.5.1 Công nghệ lựa chọn của Dự án
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và nghiệm thu của các đề tài
KC-04-02 (1996-1998), và đề tài KC-04-19 (2003 – 2006), đề tài nghiên cứu công nghệ sản xuất cây có múi sạch bệnh ở các tỉnh miền núi phía Bắc (2002-2005), dự án DA.15 sưu tầm các nguồn gen cây trồng nông lâm nghiệp của các viện thành viên của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam như: Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Nghiên cứu rau quả, Viện Bảo vệ thực vật, Viện nghiên cứu Lâm Nghiệp Việt Nam., nhiều giống cây trồng đã được thu thập, khảo nghiệm và đánh giá như các dòng bạch đàn lai: UE24, UE27, U6, PN2, PN12, bạch đàn trắng, keo lai như: AH9, AH15, AH1, BV10, BV16, BV33 các giống bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi…, cam ít hạt như: Valencia 2, cam Xã Đoài… Một số quy trình nuôi cấy mô để nhân nhanh các giống cây lâm nghiệp, các giống hoa cây cảnh; kỹ thuật chẩn đoán bệnh virut, bệnh do nấm…ở các cây nêu trên bằng kỹ thuật Eliza, PCR….đã được nghiên cứu và đề xuất quy trình và thử nghiệm
Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức độ trong phòng thí nghiệm hoặc ở nhà lưới, hay ở các mô hình nhỏ, nên cần phải tiếp tục đầu tư hoàn thiện công nghệ để áp dụng cho những quy mô sản xuất lớn phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững ở nước ta Do đó, trong các biên bản của Hội đồng nghiệm thu cấp nhà nước hoăc cấp Bộ đều kiến nghị phải tiếp tục đầu tư dự án sản xuất thử nghiệm cho các nghiên cứu nêu trên
Ngoài ra Hội đồng cũng khẳng định rằng qua những kết quả của các đề tài nêu trên cũng như những công bố kết quả từ các đề tài này đều có tính mới, tính sáng tạo độc đáo của Việt Nam, có tính ưu việt với nước ta, có khả năng đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước để phục vụ cho Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Dự án phát triển các vùng cây có múi đặc sản sạch bệnh, chương trình rau hoa quả phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu Đặc biệt các công nghệ mà các dự án này lựa chọn là công nghệ nuôi cấy mô tế bào, tạo
Trang 33phôi nhân tạo để nhân nhanh các đối tượng cây trồng trong dự án là đạt trình
độ tiên tiến của khu vực, kỹ thuật này đã được cải tiến và hoàn thiện hơn nhiều so với giai đoạn 1995-2000 trở về trước Do đó, các kỹ thuật và công nghệ sử dụng trong dự án này là hiện đại và đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng của sản phẩm cho sản xuất ở các địa phương,
doanh nghiệp và trang trại
1.5.2 Lợi ích kinh tế, khả năng thị trường và cạnh tranh của sản phẩm
số xí nghiệp của Trung tậm chọn giống cây rừng - Viện nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp xong vẫn chưa đủ cung cấp cho nhu cầu trồng rừng hiện nay Điểm này đảm bảo cho thị trường của dự án
Sản phẩm thứ hai của dự án các loài cây lan bản địa và lan công nghiệp như: lan Hồ Điệp các màu, các loại địa như: Hồng Hoàng SaPa và Xanh Thơm Đà Lạt bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào có thể nhân ra hàng loạt cây con có chất lượng cây giống cao để cung cấp cho các trang trại, nhà vườn sản xuất và kinh doanh hoa lan Điều khác biệt ở đây là các giống do dự án sản xuất là những giống lan bản địa có nhiều đặc tính quý như hương thơm, thích ứng tốt với điều kiện Việt Nam Hơn hẳn các giống hoa lan nhập nội ở hương thơm và khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất thuận của môi trường Mặt khác giá lại rẻ hơn cây nhập nội từ 1,000 đ – 2,000 đ Do đó đảm bảo được sự cạnh tranh và mở rộng thị trường của đối tượng này trong cả nước Điều đó cũng đảm bảo tính khả thi của dự án
Sản phẩm thứ ba đó là các giống bưởi Diễn và cam Xã Đoài đã được đánh giá chọn lọc từ cây đầu dòng, lấy mắt ghép sạch bệnh nhờ các kỹ thuật chuẩn đoán chính xác như Eliza, PCR cả mắt ghép với gốc ghép Từ đó sử dụng các kỹ thuật vi ghép đỉnh sinh trưởng và kỹ thuật chăm sóc trong khu nhà cách ly nên chất lượng cây giống tốt bảo đảm sức cạnh tranh với các giống cây có múi bán tràn lan hiện nay không rõ nguồn gốc, kém phẩm chất, nguy hại cho sức khoẻ và chương trình phát triển cây có múi hiện nay ở nước
Trang 34Giá thành sản xuất cây giống 5,000 – 10,000/cây, giá bán 10,000 – 15,000 đ/cây Nếu nhập cây giống tương đương về Việt Nam từ 3-5 USD/cây, cao gấp 2 – 3 lần cây sản xuất trong nước Sở dĩ có được giá phải chăng như vậy là nhờ Việt Nam đã tiếp cận được các kỹ thuật tiên tiến, các phòng thí nghiệm đã được trang bị trang thiết bị hiện đại, nhà lưới, nhà kính xây dựng phù hợp với Việt Nam Mặt khác vật tư, nguyên liệu và nhân công đều rẻ hơn
so với các nước khác Nhờ đó sản phẩm làm ra có đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại Mặt khác các giống nhập nội lại phải khảo nghiệm, đánh giá, thuần hoá nên hiệu quả của sản xuất phải mất 5 – 7 năm sau mới đánh giá được Còn cây giống tự sản xuất chỉ cần 3 - 5 năm là cho kết quả tốt trong sản xuất đại trà
1.5.3 Tác động của kết quả Dự án đến kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng
Các sản phẩm của Dự án sản xuất ra có tác dụng tích cực đến kinh tế -
xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước Cụ thể các giống cây lâm nghiệp tạo
ra hàng triệu cây hàng năm sẽ giúp cho chương trình trồng rừng được 150 –
200 ha Cây ăn quả từ 60 – 70 ha, cung cấp giống hoa lan cho các nhà vườn
có qui mô 5.000 m2 trở lên Do đó, góp phần thực hiện được chương trình trồng rừng của cả nước, tạo được những vùng cây ăn quả cũng như phát triển những vùng hoa chuyên canh, tạo được cảnh quan môi trường xanh sạch đẹp, tạo được công ăn việc làm cho người dân, tăng thêm thu nhập cho người lao động, góp phần đảm bảo an ninh xã hội của nước ta
Cụ thể các sản phẩm của dự án có thể tạo công ăn việc làm cho vài trăm lao động: trồng rừng thu được 40 – 70 triệu đồng/ha khi cây đến tuổi khai thác (5-7 năm), trồng cây ăn quả cho 80 – 100 triệu đồng/ha sau 4-5 năm, trồng Hoa có thể tới 500 – 800 triệu đồng/ha sau 3- 5 năm, đồng thời tạo sự ổn định
về mặt xã hội nhờ có việc làm và có thu nhập Vì vậy kết quả của dự án góp phần tác động tích cực đến kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước
1.5.4 Năng lực thực hiện dự án
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (Viện KHNNVN) là cơ quan
chủ trì thực hiện dự án là một Viện đầu ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vừa được thành lập theo Quyết định số 930CP 9/9/2005 và Quyết định số 220TTG ngày 9/9/2005 của Thủ Tướng Chính Phủ nhằm sắp xếp lại hệ thống các Viện nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam gồm 12 thành viên, có 1776 cán
bộ, trong đó có 28 giáo sư và phó giáo sư, 142 tiến sĩ, 303 thạc sĩ và 911 cán
bộ đại học Viện có nhiều phòng thí nghiệm hiện đại về vi sinh vật, công nghệ
tế bào, công nghệ gen, công nghệ hoá sinh… các vườn và trạm, trại thí nghiệm
Ở các Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện Bảo vệ Thực vật, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm …có các phòng thí nghiệm được nhà nước trang bị hệ thống thiết bị phòng thí nghiệm trọng điểm như Phòng công nghệ tế bào và thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp được đầu tư 52 tỉ đồng có đủ các phương tiện nuôi cấy mô tế bào, hạt nhân tạo, pilot….Các phòng công nghệ vi sinh, bệnh học phân tử… xác định độ sạch
Trang 35Mặt khác Viện KHNNVN lại có khả năng tập hợp các chuyên gia giỏi
về lĩnh vực thực vật học, lâm nghiệp, trồng trọt trên cả nước, đặc biệt là Viện gắn kết với các doanh nghiệp có kinh nghiệm sản xuất, chế biến cũng như thương mại hoá các sản phẩm nên đã phát huy thế mạnh của việc liên kết 4 nhà theo Nghị định 80CP của Chính Phủ để sản xuất và nâng cao giá trị kinh
tế của việc trồng rừng, cây có múi và ngành hoa Vì vậy, năng lực thực hiện
dự án sẽ được huy động tối đa cả về nguồn lực con người, cơ sở vật chất kỹ thuật và tài chính để thực thi các nội dung của dự án đã được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt
1.5.5 Khả năng ứng dụng, chuyển giao, nhân rộng kết quả của dự án
Trong quá trình thực hiện dự án và sau khi dự án kết thúc, dự án đã hoàn thành công việc đào tạo và tập huấn cho người dân, các chủ trang trại thiết kế và trồng rừng, phương pháp ra ngôi và chăm sóc ngoài vườn ươm cũng như chuyển giao các kỹ thuật trồng, chăm sóc, ra quả cho cây có múi cho các trang trại, doanh nghiệp có đủ năng lực để sản xuất hàng hoá phục vụ nội tiêu và xuất khẩu trên phạm vi cả nước,cho nên sau khi kết thúc dự án các đơn vị được chuyển giao sẽ tiếp tục được nhân lên để phục vụ sản xuất Nông Lâm Nghiệp bền vững của nước ta
Trang 36a SƠ ĐỒ QUY TRÌNH NHÂN NHANH GIỐNG BẠCH ĐÀN VÀ KEO
LAI INVITRO
Đây là sơ đồ chung tổng quát quy trình nhân giống bạch đàn và keo lai
đã được một số tác giả trước đây nghiên cứu và thử nghiệm ở quy mô phòng thí nghiệm hay Pilot (Nguyễn Ngọc Tân và cs., 1996; Ngô Quang Tề và cs., 1997; Mai Đình Hồng và cs., 1999; Đoàn Thị Mai và cs., 2004) Tuy nhiên mỗi tác giả đều nghiên cứu trên những loài và dòng bạch đàn, keo lai cụ thể
Do đó, muốn áp dụng thì phải dựa vào nguyên lý chung của sơ đồ này và phải dò lại các môi trường có bổ sung một số chất điều hòa sinh trưởng cho phù hợp với đối tượng của mình Điều này sẽ được trình bày ở phần sau
Tạo chồi con In-vitro
Tạo và nhân cụm chồi
Tăng trưởng chồi
Tạo rễ
Vào mẫu
(Các chồi từ cây đầu dòng)
Tạo cây hoàn chỉnh
Ra vườn ươm
Tách chồi invitro
Tách chồi
Tách chồi
Xuất cây giống
Huấn luyện cây
Trang 37b SƠ ĐỒ QUY TRÌNH GIÂM HOM CÂY BẠCH ĐÀN VÀ KEO LAI
Cây trội được chọn
Lấy hom giâm, xử lý bằng IBA
Chăm sóc ở vườn giâm hom
Giâm hom trên mặt tầng đất đỏ tầng B có 1% lân+5% than bùn phơi khô tán nhỏ
Vườn cây giống dòng vô tính
Đối với Bạch đàn Hom dài: 5-7cm; 3-4 lá thật
Đối với Keo Lai:
Trang 38SƠ ĐỒ QUY TRÌNH NHÂN NHANH GIỐNG HOA LAN
Đây là sơ đồ tổng quát để nhân giống bất kì loại hoa lan nào Tuy nhiên tùy từng loài hoặc mỗi bước đều cụ thể hóa như môi trường, thành phần bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng, các chất hữu cơ tự nhiên như nước dừa, dịch chiết chuối xanh, khoai tây, hay cà rốt
Chồi đỉnh, chồi
ngủ, hạt lai F1
Tạo và nhân protocorm
Tạo cây hoàn chỉnh
Tạo cây con
Tạo chồi con Invitro
trên môi trường MS
Tách chồi
Huấn luyện cây
Xuất vườn
Trang 39đã có hợp đồng với dự án
Đỉnh sinh trưởng của các
cây đầu dòng Gốc Cam Ba lá 15 ngày tuổi gieo trên môi trường MS
Vi ghép mắt kiểu chữ T hoặc
chữ V
Cấy trong môi trường MS+
0,5 gam than hoạt tính
tuổi
Giám định cây loại bỏ cây dương tính
Cây sạch bệnh
Chăm sóc ngoài vườn
ươm Xuất vườn
Trang 402.2 Phân tích những vấn đề Dự án cần giải quyết công nghệ
Quy trình công nghệ nhân giống bạch đàn, keo lai, các giống hoa lan, các giống cam Xã Đoài, bưởi Diễn bằng nuôi cấy mô, giâm hom, vi ghép được ứng dụng trong Dự án là các kết quả của các đề tài Khoa học cấp Nhà nước, về quy mô ở dạng thí nghiệm hoặc ở dạng pilot, về tính phù hợp của công nghệ có thể phù hợp với một số vùng hoặc tiểu vùng, khi áp dụng vào sản xuất đại trà ở các vùng trong nước cần phải được hoàn thiện cho phù hợp với từng địa phương, thực hiện dự án nhằm làm chủ quy trình về các thông
số kĩ thuật, ổn định chủng loại và chất lượng sản phẩm, số lượng sản phẩm cần đạt được để khẳng định công nghệ phát triển Do vậy dự án cần giải quyết các vấn đề cụ thể sau đây:
2.2.1 Hoàn thiện quy trình nhân giống bạch đàn và keo lai
STT Nội dung hoàn thiện Quy trình cũ Nội dung nghiên cứu
để hoàn thiện quy
trình
1 Bước 1: Vào mẫu
- Cơ quan nuôi cấy Mô đỉnh, đoạn
- Môi trường vào mẫu MS MS cải tiến
2 Bước 2: Tạo chồi con
4 Bước 4: Tăng
trưởng cụm chồi MS+ 0,5mg/l BA+ nước Dừa MS+ có BA 1,0mg/l + 0,5mg/l NAA
5 Bước 5: Tạo rễ MS + 0,5mg/l IBA
+ 0,5mg/l NAA
MS + 1,0mg/l IBA + 1,5mg/l NAA
6 Bước 6: Huấn luyện
cây
Nhiệt độ 25- 300C, 1500-2000lux, trong 10 ngày
nhiệt độ 30-350C, 2000-3000lux, trong
14 ngày
7 Bước 7: Vườn ươm
- Chế độ chiếu sáng
- Giá thể - Cát sông, đất đồi
- Điều kiện nhiệt độ,
ánh sáng, nhà lưới
- Cải tiến các giá thể:
Giá thể phù hợp nhất
để ra ngôi Bạch đàn