Mục đích Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Gustor XXI Poultry trong thức ăn đến sự sinh trưởng và phát triển của gà Tam Hoàng nuôi thịt từ 21 ngày tuổi đến khi xuất chuồng..
Trang 1TÓM TẮT KHOÁ LUẬN
Đề tài có tên: Khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Gustor XXI
poultry lên sự sinh trưởng và phát triển của gà Tam Hoàng nuôi thịt từ 21 ngày tuổi đến khi xuất chuồng
Thí nghiệm đã được thực hiện tại trại gà Phú Sơn thuộc công ty cổ phần chăn nuôi Phú Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Thời gian từ tháng 02/2008 đến tháng 05/2008
Thí nghiệm được bố trí theo mẫu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố
Thí nghiệm được thực hiện 1 lần
Thí nghiệm được chia làm 2 lô, mỗi lô gồm 600 con gà đồng đều về lứa tuổi và giới tính:
Lô đối chứng: Cho ăn thức ăn của trại Phú Sơn tổ hợp
Lô thí nghiệm: Cho ăn thức ăn của trại phú sơn tổ hợp có bổ sung chế phẩm sinh học Gustor XXI poultry với tỷ lệ 2kg/tấn thức ăn
Với điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng như nhau đã cho kết quả như sau:
• Trọng lượng bình quân khi kết thúc thí nghiệm: Lô thí nghiệm là 1,424kg thấp hơn lô đối chứng là l,500kg
• Tăng trọng trung bình: Lô thí nghiệm là 23,16 (g/con/ngày) thấp hơn lô đối chứng là 23,9 (g/con/ngày)
• Chỉ số biến chuyển thức ăn: Lô thí nghiệm là 2,155 (kg TĂ/tăng trọng) cao hơn lô đối chứng là 2,02 ( kg TĂ/tăng trọng )
• Lượng thức ăn trung bình tiêu thụ hàng ngày: Lô thí nghiệm là 77,22 (g/con/ngày) cao hơn lô đối chứng là 76,34 (g/con/ngày)
• Tỷ lệ chết: Lô thí nghiệm là 3,83 % cao hơn lô đối chứng là 2,67 %
• Chi phí TĂ trên 1kg tăng trọng: Lô thí nghiệm là 22800 (đ/kg tăng trọng) cao hơn lô đối chứng là 20600 (đ/kg tăng trọng)
Trang 2MỤC LỤC
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt khóa luận iii
Mục lục iv
Danh sách các bảng vii
Danh sách các biểu đồ và hình viii
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2: TỔNG QUAN 3
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ TIÊU HOÁ GIA CẦM 3
2.2 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA GÀ THỊT 6
2.2.1 Giống 6
2.2.2 Giống gà Tam Hoàng .7
2.2.2.1 Nguồn gốc 7
2.2.2.2 Tình hình chăn nuôi gà Tam Hoàng ở Việt Nam .7
2.2.3 Dinh dưỡng 8
2.3 HỆ VI SINH VẬT ĐƯỜNG RUỘT 9
2.3.1 Hệ vi sinh vật tuỳ nghi 9
2.3.2 Hệ vi sinh vật bắt buộc 9
2.4 TỔNG QUAN VỀ AXIT HỮU CƠ 10
2.5 GIỚI THIỆU VỀ SẢN PHẨM GUSTOR XXI POULTRY 14
2.5.1 Tổng quan 14
2.5.2 Thành phần 14
2.5.3 Cơ chế tác động 14
2.5.4 Tác dụng 15
2.5.5 Liều lượng 15
Trang 32.5.6 Bảo quản và đóng gói 15
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 16
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 16
3.2 ĐỐI TƯỢNG THÍ NGHIỆM 16
3.3 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 16
3.4 CÔNG THỨC THỨC ĂN 17
3.5 QUI TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG 20
3.5.1 Chuồng trại 20
3.5.2 Chăm sóc và quản lý 21
3.5.3 Vệ sinh thú y 22
3.5.4 Thuốc sử dụng trong thí nghiệm 23
3.5.5 Lịch chủng ngừa 23
3.6 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 23
3.6.1 Trọng lượng bình quân (g/con/tuần) 23
3.6.2 Tăng trọng tuyệt đối (g/con/ngày) 24
3.6.3 Hệ số biến chuyển thức ăn (HSCBTĂ ) 24
3.6.4 Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày (g/con/ngày) 24
3.6.5 Tỷ lệ chết (%) 24
3.6.6 Tính giá trị hiệu quả kinh tế sau khi gà xuất chuồng 24
3.7 XỬ LÝ SỐ LIỆU 24
Chương 4:KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG 25
4.1.1 Trọng lượng trung bình của gà 25
4.1.2 Tăng trọng trung bình hàng ngày của gà 27
4.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN 28
4.2.1 Tiêu thụ thức ăn 28
4.2.3 Hệ số chuyển biến thức ăn (HSCBTĂ) 31
4.3 TỶ LỆ CHẾT 32
4.4 HIỆU QUẢ KINH TẾ 33
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
5.1 KẾT LUẬN 35
Trang 45.2 ĐỀ NGHỊ 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC 38
Trang 5DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các đặc điểm về giải phẩu - sinh lý tiêu hoá ở gia cầm 5
Bảng 2.2: Khoảng pH thích hợp cho sự phát triển của các mầm bệnh thường gặp 10
Bảng 2.3: Hệ số phân ly của các axít hữu cơ 11
Bảng 2.4: So sánh hiệu quả của từng axít đơn lẻ với các sản phẩm phối hợp được biểu thị bằng chỉ số nồng độ tối thiểu ức chế 12
Bảng 2.5: So sánh kết quả khi sử dụng axit hữu cơ 13
Bảng 2.6: Thí nghiệm hiệu quả của axít Lacdry trên gà thịt .13
Bảng 3.1: Bố trí thí nghiệm 16
Bảng 3.2: Công thức thức thức ăn của gà từ 4 – 6 tuần tuổi 17
Bảng 3.3: Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn gà 4 - 6 tuần tuổi 18
Bảng 3.4: Công thức thức ăn của gà vỗ béo 19
Bảng 3.5: Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn gà vỗ béo 20
Bảng 3.6: Thuốc sử dụng trong thí nghiệm 23
Bảng 3.7: Lịch chủng ngừa 23
Bảng 4.1: Trọng lượng trung bình của gà qua các tuần (g/con) 25
Bảng 4.2: Tăng trọng trung bình hàng ngày của gà qua các tuần (g/con/ngày) 27
Bảng 4.3: Tiêu thụ thức ăn của gà qua các tuần thí nghiệm 29
Bảng 4.4: HSBCTĂ và HSBCTĂ tích luỹ của gà qua các tuần thí nghiệm (kg TĂ/kg tăng trọng) 31
Bảng 4.5: Tỷ lệ chết của gà Tam Hoàng qua các các tuần thí nghiệm 32
Bảng 4.6: Hiệu quả kinh tế của 2 lô sau toàn bộ thời gian thí nghiệm 34
Trang 6DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1: Cơ thể học bộ máy tiêu hoá gia cầm 6
Hình 2.2: Tác dụng diệt khuẩn của axit hữu cơ 14
Biểu đồ 4.1: So sánh trọng lượng trung bình của gà qua các tuần thí nghiệm
27
Biểu đồ 4.2: Lượng thức ăn trung bình tiêu thụ hàng ngày của gà qua toàn bộ thời gian thí nghiệm 30
Biểu đố 4.3: Lượng thức ăn tich lũy của gà ở tuần 11 30
Biểu đồ 4.5: Hệ số biến chuyển thức ăn trung bình của gà 32
Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ chết của gà 33
Trang 7Cùng với sự phát triển về kinh tế thì nhu cầu đời sống của người tiêu dùng cũng được nâng cao Trong thực tế chăn nuôi ở nước ta từ trước đến nay các nhà chăn nuôi thường sử dụng kháng sinh trộn vào thức ăn để phòng bệnh Tuy nhiên việc sử dụng kháng sinh thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn, gây khó khăn cho việc điều trị ngăn ngừa dịch bệnh và làm giảm khả năng tăng trọng về sau của vật nuôi Mặt khác từ hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn có thể gây ra các
bệnh nguy hiểm trên người như: Ecoli, Samonella…Những loại vi khuẩn đã kháng
thuốc này sẽ gây nhiều trở ngại trong điều trị bệnh trên người Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý sẽ gây hiện tượng tồn dư kháng sinh trong sản phẩm gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng
Để tìm ra giải pháp khắc phục những khó khăn trên nhằm tạo ra những sản phẩm giá thành rẻ và an toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng Được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi - Thú Y, bộ môn Dinh Dưỡng trường đại học Nông Lâm TP HCM và công
ty Cổ Phần Chăn Nuôi Phú Sơn cùng với sự hướng dẫn của thầy PGS TS Dương
Thanh Liêm chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Gustor XXI Poultry lên sự sinh trưởng và phát triển của gà Tam Hoàng nuôi thịt từ 21 ngày tuổi đến khi xuất chuồng”
Trang 81.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Gustor XXI Poultry trong thức
ăn đến sự sinh trưởng và phát triển của gà Tam Hoàng nuôi thịt từ 21 ngày tuổi đến khi xuất chuồng
1.2.2 Yêu cầu
Thử nghiệm chế phẩm Gustor XXI Poultry vào thức ăn trên đàn gà Tam Hoàng thí nghiệm nuôi thịt từ 21 ngày tuổi đến khi xuất chuồng
Theo dõi và ghi nhận tình hình sức khoẻ, mức độ tăng trưởng, thức ăn tiêu thụ
và số gà chết ở cả hai lô thí nghiệm và đối chứng
Tính hiệu quả kinh kế sau khi xuất bán gà ở cả hai lô
Xử lý số liệu để đưa ra kết luận và đề nghị
Trang 9Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ TIÊU HOÁ GIA CẦM
Cơ quan tiêu hoá của gia cầm bao gồm xoang miệng, thực quản và diều, dạ dày tuyến (tiền mề), dạ dày cơ (mề), ruột non (tá tràng, không tràng và hồi tràng), ruột già
và lỗ huyệt
Khoang miệng của gia cầm không có răng và nghèo tuyến nước bọt nên thức
ăn đi qua khoang miệng nhanh và hầu như không biến đổi mà di chuyển thẳng xuống thực quản và được chứa ở diều Thực quản có lớp niêm mạc dày, gấp nếp, tiết dịch làm trơn viên thức ăn và đẩy nó xuống diều, khi đói viên thức ăn được đẩy thẳng vào dạ dày Diều có chức năng lưu trữ thức ăn và tiết một ít dịch diều từ các tuyến nhày của thành phía trên tiếp giáp với thực quản Dịch thực quản và diều có thành phần tương tự như nước bọt, có chứa men musin và amylase giúp tinh bột trong thức ăn thuỷ phân thành đuờng Thời gian thức ăn lưu giữ trong diều tùy thuộc và tính chất và kích thước của thức ăn Thức ăn ở diều được làm mền ra, trộn đều và được tiêu hoá từng phần dưới tác dụng của các men và vi khuẩn trong thức ăn, sau đó di chuyển đến dạ dày tuyến, ở đó quá trình tiêu hoá thực sự bắt đầu
Dạ dày gia cầm gồm 2 phần là dạ dày tuyến và dạ dày cơ, thức ăn từ diều vào
dạ dày tuyến sau đó vào dạ dày cơ Dạ dày tuyến là dạng ống ngắn với vách dày, nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ Thành dạ dày tuyến cấu trúc bởi những tuyến hình túi tạo thành những thuỳ nhày tiết dịch đổ qua các lỗ trong những núm đặc biệt của các nếp gấp tuần hoàn trong lớp niêm mạc Dạ dày tuyến tiết dịch tiêu hoá có thành phần tương tự như dịch vị chủ yếu là axit chlohydric, pepsin và musin Thức ăn chỉ đi qua
dạ dày tuyến đủ thời gian thấm ướt dịch tiêu hoá sau đó phải di chuyển qua dạ dày cơ
Dạ dày cơ dạng đĩa với hai khối cơ dày, chắc cùng với lớp niêm mạc gồm lớp biểu bì sừng cứng và một lớp nhày đặc chắc từ mô liên kết có chức năng cơ học rõ rệt
là nghiền nát và trộn đều chúng với dịch vị, enzym và vi khuẩn trong thức ăn, thúc đẩy
Trang 10sự tiêu hoá thức ăn triệt để hơn Dưới tác dụng của axit chlohydric và pepsin protein bị cắt thành pepton và một phần thành axit amin Tinh bột bị phân giải thành các loại đường đơn và cơ thể hấp thu dễ dàng hơn với sự có mặt bởi một luợng nhỏ dịch tá tràng và dịch mật đi ngược lên dạ dày cơ Thức ăn ở dạ dày cơ được đẩy vào tá tràng từng phần nhỏ một cách điều hoà Vùng môn vị có dạng van, cấu tạo từ một hoặc hai nếp gấp hình bán nguyệt đóng mở một cách có phản xạ, cho phép thức ăn đi qua dễ dàng nhưng sỏi lớn và thức ăn kích thước lớn bị cản lại Dịch vị tinh khiết là chất lỏng không màu hoặc hơi trắng đục có pH 4,2 - 4,4 Độ pH của dạ dày tăng lên khi trong khẩu phần chứa nhiều chất kiềm, canxi, bột, giàu protein, do các chất kiềm trung hoà axit chlohydric tự do dẫn đến sự giảm hoạt động của pepsinogen, giảm sự tiêu hoá thức ăn Phương pháp cho ăn cũng ảnh hưởng đến sự tiết dịch và hoạt tính proteolit của dạ dày: khẩu phần nghèo hoặc đơn điệu, thiếu khoáng chất và vitamin, làm giảm
sự tiết dịch vị
Ở tá tràng dưới tác động của dịch ruột, dịch mật và dịch tuỵ, các chất dinh dưỡng trong thức ăn được phân giải thành những phân tử có kích thước nhỏ nhất như axit amin, triglycerit, đường đơn…Không tràng bắt đầu từ nơi đổ vào của ống mật đến nơi có vết tích của túi lòng đỏ, kế đến là hồi tràng kéo dài đến van hồi manh tràng Ruột non có lớp niêm mạc dày đặc các hệ thống nhung mao li ti có chức năng tiêu hoá
và hấp thu thức ăn Dịch ruột là chất lỏng đục có phản ứng kiềm (pH = 7,2) chứa các men tiêu hoá như protease, aminolyase, amylase, enterokinase
Ở gia cầm các quá trình tiêu hoá và hấp thu chất dinh dưỡng diễn ra rất tích cực trong ruột non cũng như trên bề mặt lớp nhung mao nhỏ của niêm mạc thành ruột Các phân tử lớn và các hợp chất lớn hơn mức phân tử được tiếp tục phân giải thành những tiểu phần nhỏ hơn Các sản phẩm nhỏ nhất có hoạt tính bề mặt được đưa vào vùng đường viền của tế bào biểu mô, trên các nhung mao nhỏ có một lớp men hoạt hoá tác động các phản ứng thuỷ phân xảy ra trong các nhung mao nhỏ và các sản phẩm cuối cùng thấm hút vào trong hệ thống mạch lympho và vào máu Sự hấp thu các chất dinh dưỡng như axit amin, gluxit, axit béo, các chất khoáng và các vitamin xảy ra chủ yếu trên toàn chiều dài ruột non
Trang 11
Ruột già của gia cầm gồm manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt Vai trò tiêu hoá của manh tràng còn nhiều điều chưa rõ, tuy vậy sự có mặt của vi sinh vật như
Streptococcus , Lactobacillus, trực khuẩn đường ruột… cho thấy trong manh tràng còn
có sự tiêu hoá protein, gluxit và lipit Hệ vi sinh vật phát triển rất nhanh và chúng tổng hợp các vitamin nhóm B cần thiết cho sự phát triển của chúng Một lượng nhỏ chất xơ được tiêu hoá ở manh tràng nhờ hệ vi sinh vật Manh tràng và trực tràng hấp thu chất dinh dưỡng không đáng kể Nhiều tác giả cho rằng ở trực tràng chủ yếu hấp thu nước, làm cho phân khô và định hình để thải phân ra ngoài
Bảng 2.1: Các đặc điểm về giải phẩu - sinh lý tiêu hoá ở gia cầm
Xoang miệng Mỏ thay môi, không
có răng, tiết 7 - 30 ml nước bọt/ngày
Tiêu hoá hoá học yếu Nghiền nát trộn lẫn thức ăn với dịch vị
1,4-5 1,7
6
Ruột già Hai manh tràng dài
20cm Đại tràng
Tiêu hoá do vi khuẩn
Lỗ huyệt Hội tụ các đường tiêu
hoá tiết niệu và sinh sản
Trang 12Hình 2.1: Cơ thể học bộ máy tiêu hoá gia cầm 2.2 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA GÀ THỊT 2.2.1 Giống
Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà thịt nói riêng, yếu tố đầu tiên quyết định năng suất vật nuôi chính là con giống, một con giống tốt sẽ hứa hẹn một năng suất cao trong tương lai nếu đảm bảo được các điều kiện chăm sóc hợp lý Gà hướng thịt phải có được những đặc tính tốt như trọng lượng cơ thể lớn, tốc độ sinh trưởng cao, hệ số biến chuyển thức ăn thấp,…và hiện nay thì vấn đề chất lượng thịt cũng rất được quan tâm
Theo Lâm Minh Thuận (2002), sự tăng trưởng nhanh trong những tuần đầu là
ưu thế của sức sản xuất thịt, hơn nữa có sự tương quan nghịch lớn giữa thể trọng và năng suất trứng Người ta thường sử dụng dòng trống nặng cân với những tính trạng tốt về sinh trưởng (tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ quày thịt cao, khả năng chuyển hoá thức ăn cao, phẩm chất thịt tốt…) và dòng mái có thể trọng trung bình với những tính trạng tốt về sức sản xuất trứng lai tạo với nhau để tạo ra con lai thương phẩm đạt được những phẩm chất mong muốn
Trang 13Mỗi giống gà đều có các đặc điểm riêng về màu sắc lông, hình dáng và trọng lượng cơ thể (Lâm Minh Thuận, 2002) Trọng lượng gà trưởng thành và thời gian gà đạt được trọng lượng trưởng thành cũng tuỳ thuộc vào giống gà như gà AA (Arbor Acrees) lúc 49 ngày tuổi con trống đạt trọng lượng 2,5 kg, con mái đạt 2,3 kg Đây là yếu tố khá quyết định đến năng suất, tuỳ vào điều kiện khí hậu từng địa phương mà chọn giống gà thích hợp để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
2.2.2 Giống gà Tam Hoàng
Ở vùng Giang Thôn (Quảng Châu, Trung Quốc) cũng có loại hình gà Tam Hoàng địa phương - Gà vàng Giang Thôn cùng với Thạch kỳ tạp Gà Giang Thôn được chọn lọc theo cá thể và theo gia đình qua 10 thế hệ tạo ra loại hình gà Tam Hoàng có bộ lông màu vàng sáng bóng, da, chân, mỏ, đều vàng, thịt vàng thơm, ngon, mềm, hương vị đậm đà, có lớp mỡ da ngon mềm Đến nay gà Tam Hoàng được nuôi phổ biến khắp duyên hải Quảng Đông sang cả Quảng Tây, Sơn Tây, Vân Nam, Quí Châu…và trong thực tiễn sản xuất cũng khó phân biệt được từng dòng một cách rõ ràng (Theo tác giả Hoài Anh, Viện chăn nuôi, 1995)
2.2.2.2 Tình hình chăn nuôi gà Tam Hoàng ở Việt Nam
Tháng 3 - 1992 được nhập vào Quảng Ninh
Tháng 10 - 1992 được nhập vào Nam Hà
Tháng 7 - 1993 được Trung tâm nghiên cứu - Viện chăn nuôi nhập thử 10 con
Trang 14Đến nay gà Tam Hoàng đã được nuôi phổ biến khắp cả nước ta và được nhân dân ưa chuộng Kết quả theo dõi nuôi cho thấy gà Tam Hoàng thích nghi tốt với mọi điều kiện chăn thả, sức đề kháng cao, phẩm chất quầy thịt cao, tận dụng được thức ăn
có sẵn, tạo điều kiện phát triển nông thôn
2.2.3 Dinh dưỡng
Thức ăn của gà nên chọn những thực liệu ổn định về chất lượng thì gà sẽ có tốc
độ tăng trưởng nhanh hơn, đặc biệt lưu ý đến hàm lượng độc tố trong thức ăn hạt như bắp, bánh dầu đậu phộng và các chất kháng dinh dưỡng (anti – trypsin) có trong đậu nành Bột thịt, bột cá có chất lượng cao, không bị nhiễm khuẩn, không bị nhiễm vi khuẩn, không bị hư hỏng, thối rữa Khi sử dụng dầu hay mỡ phải bổ sung chất chống oxy hoá (Lâm Minh Thuận, 2002) Thức ăn cân đối các axit amin giới hạn như lysine
và methionine, cân bằng năng lượng và protein sẽ đem lại hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng sản phẩm (Lâm Minh Thuận, 2002)
Các chất dinh dưỡng từ thức ăn như nước, protein, lipid, glucid, chất khoáng và vitamin được đưa vào cơ thể qua quá trình tiêu hoá và hấp thu đều có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất, cụ thể là các phần tử chất dinh dưỡng được sử dụng
để tổng hợp thành mô cơ và các cấu trúc của các cơ quan, bộ phận của cơ thể (Lâm Minh Thuận, 2002) Do đó, nếu không cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng gà sẽ kém phát triển và không đạt được trọng lượng của giống
Theo Trần Công Xuân và ctv (1994) nghiên cứu ảnh hưởng của Protein đến tăng trọng của gà thịt Ross 208 cho thấy ở lô nuôi với mức protein 25 – 23 – 21 % thì trọng lượng lúc giết thịt là 2503,01 g, còn gà được nuôi với mức protein 23 – 21 – 19
Trang 152.3 HỆ VI SINH VẬT ĐƯỜNG RUỘT
Theo Nikolski (1986), Nguyễn Vĩnh Phước (1970) và nhiều tác giả khác, về cơ bản hệ vi sinh vật có thể chia thành hai loại
2.3.1 Hệ vi sinh vật tuỳ nghi
Đa số những vi sinh vật này là những vi sinh vật có hại, chúng thay đổi theo điều kiện thức ăn, môi trường đường tiêu hoá, sức đề kháng của cơ thể Như nấm
men, nấm mốc, Proteus, Salmonella, Klebsiella, E.coli, Clostridium, Shigella,
Staphylococcus…Đa số chúng thích nghi với môi trường pH trung tính đến kiềm Dưới những điều kiện môi trường thích hợp, chúng phát triển sản sinh độc tố, xâm nhập phá vỡ tế bào đường ruột, gây tổn thương thành ruột và gây hại cho gia súc gia
cầm
2.3.2 Hệ vi sinh vật bắt buộc
Đây là những vi sinh vật chịu được độ pH thấp, chúng phát triển ở trong đường ruột của gia súc, gia cầm và định cư vĩnh viễn Đa số chúng có khả năng giúp cơ thể động vật tiêu hoá thức ăn được tốt hơn nhờ vào hệ thống enzym của chúng và giúp phòng chống một số bệnh do vi sinh vật cơ hội sinh ra Hệ vi sinh vật bắt buộc gồm có:
• Vi khuẩn: Lactobacillus acidophilus, L.bulgaricus, Streptococcus lactis hiện nay gọi là Lactococcus lactis (Holt, 1992), S faecium, Baccillus subtilis,
Leuconostocmesenteroides, Carnobacterium, Bifidobacterium, Bacteriodes,
Ruminococcus, Cillbacterium, Cellulomonas, Eubacterium, Butyribrio…
• Nấm men: Saccharomyces cerevisiae, S boulardii, Debaryomyces hansenii…
• Nấm mốc: Aspergillus niger, A oryzae, A owamori, Mucor…
• Protozoa: Entodinium, Diplodinium, Isotrichs, Daysytrichs…
Trang 162.4 TỔNG QUAN VỀ AXIT HỮU CƠ
Trong hàng thập kỷ qua, các axit hữu cơ như axit lactic, axit propionic đã được
sử dụng với mục tiêu tiêu diệt mầm bệnh và nấm mốc hiện diện trong thức ăn Mặt khác axit như axit axetic, axit citric, axit fumaric, axit lactic, axit propionic đóng vai trò quan trong trong vấn đề dinh dưỡng thú như một chất tự nhiên và là thành phần trong quá trình biến dưỡng Những axit này được tin tưởng rằng sẽ kích thích tăng trọng của thú qua việc giảm pH dạ dày, tăng cường hoạt động của men pepsin giảm sự sinh sôi nảy nở của mầm bệnh, và gia tăng hoạt động tiêu hoá dinh dưỡng ở ruột
Khi được bổ xung thông qua hoạt động kháng khuẩn, điều hòa vệ sinh đường ruột, từ đó đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển miễn dịch đường tiêu hoá, ảnh hưởng đến sức khỏe và tăng trưởng của thú
Axít hữu cơ được sử dụng rộng rãi với mục đích ức chế mầm bệnh như
Salmonella trong nguyên liệu thô và cả thức ăn đã chế biến Hiệu quả bảo quản thức
ăn của axit hữu cơ nhờ vào sự thay đổi điều kiện vật lý của môi trường nhằm ngăn cản
sự phát triển và cả yếu tố gây chết của mầm bệnh Hoạt động kháng khuẩn của chúng thông qua một số cơ chế Đầu tiên là ảnh hưởng của pH, vi khuẩn sẽ bị ức chế bởi pH của môi trường chúng ở không thích hợp với khoảng pH tối ưu cho sự phát triển của chúng
Bảng 2.2: Khoảng pH thích hợp cho sự phát triển của các mầm bệnh thường gặp
Vi khuẩn Khoảng pH thích hợp cho sự phát triển của mầm bệnh
sự cân bằng giữa thể phân ly và không phân ly của từng axit
Trang 17Bảng 2.3: Hệ số phân ly của các axít hữu cơ
Axít hữu cơ Hệ số phân ly
Dạng không phân ly của axit hữu cơ có thể xuyên qua màng và vào bên trong tế bào vi khuẩn Chúng phân cắt thành dạng lipid 2 lớp, phân tử axit hữu cơ sẽ làm rối loạn hoạt động của protein và enzyme màng tế bào Khi nồng độ đạt đến điểm thích hợp, sự phát triển của tế bào sẽ bị ức chế Các axít hữu cơ có độ phân ly cao như axít benzoic và axít fumaric có tính axít lớn sẽ có độ thâm nhập và tích tụ ở bên trong màng lipid cao hơn
Môi trường trung tính bên trong tế bào vi khuẩn sẽ làm cho phân tử axit hữu cơ phân ly thành ion H+ và anion Khi pH bị giảm nhanh, tế bào phải hoạt động liên tục đến cạn kiệt năng lượng của mình để đẩy ion H+ ra ngoài nhằm cân bằng pH
Protein bị biến dạng ở môi trường pH thấp dẫn đến việc vô hoạt các hoạt động của enzyme Hơn nữa anion axit sẽ phá huỷ và gây rối loạn hoạt động của ADN và sự tổng hợp protein làm chết tế bào vi khuẩn Thêm vào đó, sự khác nhau về cấu trúc các anion đưa đến sự khác nhau trong hoạt động kháng khuẩn của các axit hữu cơ có chỉ
số pKa tương đương Ví dụ: axit sorbic (pKa = 4,8) thì có hoạt lực kháng khuẩn cao hơn là axit propionic (pKa = 4,9) Axit nào tan trong nước tốt thì khi vào bên trong tế bào sẽ hoạt động hiệu quả hơn
Trang 18PH thấp trong đường ruột già đóng vai trò quan trọng Nó kích hoạt pepsinogen làm tốt hơn quá trình tiêu hoá protein và hấp thu amino axit, ngăn cản tối đa sự lên men những chất nền trong thức ăn khi đi qua phần cuối ruột, từ đó ức chế sự sinh sôi nảy nở của những mầm bệnh Thêm nữa, những axit hữu cơ có phổ kháng khuẩn rộng khi dùng trong sản phẩm phối hợp với axit benzoic thì sẽ có hiệu quả cộng hưởng và
có khả năng kháng khuẩn tốt hơn nhiều (axit LAC Premium, Sixtet chứa axit lactic, propionic, formic, citric, benzoic)
Bảng 2.4: So sánh hiệu quả của từng axít đơn lẻ với các sản phẩm phối hợp
được biểu thị bằng chỉ số nồng độ tối thiểu ức chế
Nồng độ tối thiểu ức chế Axít hữu cơ
tỷ lệ chuyển hoá thức ăn và kích thích tăng trưởng của các axit fumaric, propionic, sorbic và sartaric
Điều trị với muối của axit propionic và axit formic sẽ làm giảm rõ rệt lượng
Salmonella Typhimurium của manh tràng Những sản phẩm phối hợp tạo nên hiệu quả
cộng hưởng đã làm giảm đáng kể lượng vi khuẩn colifom ở ruột từ tá tràng đến đoạn cuối cùng của đường tiêu hoá và cả manh tràng nhưng không ảnh hưởng đến số lượng
Lactobacilus Bên cạnh việc ức chế sự sinh sôi nảy nở của các mầm bệnh trong thức
ăn, nước và đường tiêu hoá gia cầm, sản phẩm phối hợp còn hỗ trợ cho sự hiện diện của các vi sinh vật có lợi dẫn đến sự gia tăng rõ rệt sức khoẻ và tăng trọng gia cầm
Trang 19Bảng 2.5: So sánh kết quả khi sử dụng axit hữu cơ
Ảnh hưởng của thành phần thức ăn khi bổ sung acidifiers trên hệ vi sinh vật đường ruột cũng khác nhau, hiệu quả được nhận thấy trên lúa mì thì tốt hơn bắp hoặc lúa mạch Đồng thời các axit như là axit propionic, axit citric có thể làm gia tăng khẩu
vị thức ăn đối với gia súc
Bảng 2.6: Thí nghiệm hiệu quả của axít Lacdry trên gà thịt
So sánh với lô đối chứng (% khác biệt) Quốc gia
Trọng lượng Tỷ lệ chuyển hoá thức ăn Tỷ lệ chết
Trang 202.5 GIỚI THIỆU VỀ SẢN PHẨM GUSTOR XXI POULTRY
- Axit hữu cơ và axit vơ cơ (phosphoric axit, lactic axit và fumaric) 21 %
- Dẫn xuất của muối sodium của các acid butyric, propionic và fomic 35 %
- Silica dạng keo
- pH 10 %
- Tạp chất khơng cĩ
2.5.3 Cơ chế tác động
Ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật cĩ hại ở đường ruột
Hình 2.2: Tác dụng diệt khuẩn của axit hữu cơ
H +
Ngăn chặn sự tổng hợp DNA và RNA
RCOO
-Sự tổng hợp Protein
Sự nhân đôi tế bào
Aùp suất Thẩm thấu
Năng lượng
Vi khuẩn chết
Acid hữu cơ không phân ly:
Acid Butyric R-COOH
Tác dụng diệt khuẩn của acid hữu cơ
Dễ dàng xuyên thấm màng tế bào vi khuẩn nhờ trọng
lượng phân tử thấp
Trang 21Kích thích sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus: Các axit béo bay hơi điều
chỉnh quá trình lên men ở ruột non, ngăn ngừa sự kiềm hoá, kích thích sự phát triển của nhóm vi khuẩn sinh sản axit lactic giúp cân bằng sinh học với các nhóm vi khuẩn
gây hại ở đường ruột (clostridium, coliform, coccidia…)
Gia tăng sự hấp thu và sử dụng chất dinh dưỡng: kích thích sự tái tạo các tế bào đường tiêu hoá, gia tăng kích thước của các nhung mao, do đó gia tăng diện tích hấp thu ở đường ruột, giúp cải thiện việc sử dụng thức ăn
Cải thiện sức khoẻ vật nuôi: kích thích tuyến tụy sản sinh các enzym (amylase, protease và lipase), gia tăng sự tiết hormones insulin, glucagons vào trong máu
2.5.4 Tác dụng
Tăng sự ngon miệng cho gia cầm
Tăng lượng thức ăn ăn vào
Tăng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng
Tăng tỷ lệ tăng trọng bình quân trên ngày
Làm giảm chỉ số chuyển hoá thức ăn
Tăng cường sức đề kháng vật nuôi
Tăng chất lượng quầy thịt
Nâng cao lợi nhuận chăn nuôi
2.5.5 Liều lượng
Trộn đều Gustor XXI Poultry trong thức ăn
2 kg/tấn thức ăn (từ 21 ngày tuổi đến khi xuất chuồng)
2.5.6 Bảo quản và đóng gói
Bao gói: 25 kg/bao
Bảo quản: Bảo quản nơi khô ráo tránh ánh sáng mặt trời
Hạn dùng: 2 năm kể từ ngày sản xuất
Trang 22Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
Thời gian: Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 02/2008 đến tháng 05/2008
Địa điểm: Tại trại gà Phú Sơn thuộc công ty cổ phần chăn nuôi Phú Sơn huyện
Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Tổng quan về trại gà Phú Sơn
Trại gà Phú Sơn thuộc công ty cổ phần chăn nuôi Phú Sơn tỉnh Đồng Nai Trại được xây dựng năm 1978 Trước năm 2003 có tên là Xí Nghiệp Chăn Nuôi Đồng Nai Tổng diện tích của trại khoảng 5 ha Tổng số gà khoảng 50.000 con gồm gà thịt và gà
đẻ Đàn gà đẻ được lấy giống từ công ty giống gia cầm Miền Nam và một số ít được lựa chọn từ đàn gà thịt Trứng từ đàn gà đẻ được lựa chọn và đưa vào trạm ấp của trại
để ấp ra gà con Gà con được để nuôi thịt hoặc được bán ra ngoài
3.2 ĐỐI TƯỢNG THÍ NGHIỆM
Gà Tam Hoàng nuôi thịt 21 ngày tuổi được lựa chọn từ đàn gà của trại
Gà đưa vào các lô thí nghiệm đều khoẻ mạnh, đồng đều về lứa tuổi và giới tính
3.3 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
Thí nghiệm được bố trí theo mẫu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố
Thí nghiệm được thực hiện 1 lần
Bảng 3.1: Bố trí thí nghiệm
Trang 233.4 CÔNG THỨC THỨC ĂN
Bảng 3.2: Công thức thức thức ăn của gà từ 4 – 6 tuần tuổi
Tên thực liệu Số lượng (kg) Giá (đồng/kg thức ăn) Thành tiền (đồng) Bắp vàng
0,20 1,00 0,50 0,20
1078000
2710 4531,05 10245,56 23958,45 117278,57
Trang 24Bảng 3.3: Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn gà 4 - 6 tuần tuổi
Các chất dinh dưỡng Đơn vị Giá trị dinh dưỡng
Trang 25Bảng 3.4: Công thức thức ăn của gà vỗ béo
Tên thực liệu Số lượng (kg) Giá (đồng/kg thức ăn) Thành tiền (đồng) Bắp vàng
Trang 26Bảng 3.5: Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn gà vỗ béo
STT Các chất dinh dưỡng Đơn vị Giá trị dinh dưỡng
Chuồng úm gà con: Được làm ở một phần của chuồng nuôi Xung quanh được
bao bằng lưới kẽm, phần dưới chân khoảng 0,5 m được quây bằng cót tre để gà con không chui ra được Xung quanh và phía trên được bao bọc bằng bạt nhựa có thể cuộn lại được Nền chuồng được làm bằng ximen Trong chuồng úm có sẵn hệ thống sưởi
ấm bằng bóng đèn tròn, bóng đèn hồng ngoại (với 2 chế độ: chế độ ban ngày thì ít bóng hơn chế độ ban đêm) và chụp úm bằng ga Máng ăn dài 0,6 m có trống quay để
gà không nhảy vào máng bới đổ thức ăn và ỉa phân lẫn vào cám, định mức 25con/máng dùng cho gà ăn từ 4 - 14 ngày tuổi Máng ăn tròn P50 dùng cho gà lớn hơn 15 ngày tuổi
Chuồng gà thịt: Nền chuồng được làm bằng ximen, có rải chất độn chuồng
bằng trấu dày khoảng 3 - 5 cm Xung quanh có hành lang đi lại rộng 1 m Mái lợp
Trang 27bằng tôn ximăng Vách chuồng: 0,5 m sát với nền được xây bằng gạch, phần còn lại phía trên được làm bằng lưới kẽm Máng ăn tròn bằng nhựa P50, lúc đầu 40 - 50 con/máng sau đó giảm dần tuỳ vào tuổi và sức ăn của gà Máng ăn được treo lên bằng dây, độ cao được điều chỉnh phù hợp với tuổi của gà Máng uống dung loại bình mủ 5 lít, được kê bằng gạch đặt dưới sàn chuồng và cũng được điều chỉnh để phù hợp với tuổi của gà
3.5.2 Chăm sóc và quản lý
Trước khi xuống gà, chuồng úm được vệ sinh, rửa sạch bằng vòi nước áp lực mạnh Sau đó nền chuồng và phần chuồng được sát trùng bằng dùng dịch vôi sống Nền chuồng được rải trấu dày khoảng 3 – 5 cm và được sát trùng bằng dung dịch formol 0,5 % Chuồng úm được sưởi ấm trước khi xuống gà
Sau khi xuống gà cho uống kháng sinh, sau khoảng 4 giờ cho ăn cám gà con 1 ngày tuổi, cám được rải đều trên tấm lót, cho ăn nhiều lần trong ngày, đến ngày thứ 3 thì cho ăn bằng máng nhựa tròn Nước uống thì sử dụng nước giếng của trại đã được khử trùng bằng chloramin T Từ 1 - 3 ngày tuổi: buổi sáng cho uống kháng sinh, chiều cho uống vitamin A, D, E, C và Bcomplex Cho gà ăn đều và thức ăn luôn mới, vừa quan sát theo dõi mỗi khi cho gà ăn
Gà mới nở có thân nhiệt chưa ổn định, thân nhiệt thấp hơn gà trưởng thành (38oC) khả năng điều tiết thân nhiệt kém Với lớp lông tơ mỏng manh và khả năng sinh nhiệt kém gà con dễ mất nhiệt dẫn đến giảm thân nhiệt và chết vì lạnh Trong những tuần đầu gà con phải làm quen với thức ăn, nước uống và các điều kiện ngoại cảnh khác xa với môi trường máy ấp Trong giai đoạn đầu gà con có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất đời chúng, lớp lông tơ được thay bằng lớp lông phủ nên nhu cầu dinh dưỡng của gà con cao và giảm dần ở lứa tuổi sau Vì vậy để gà con có mức sinh trưởng cao, sức sống cao cần tạo mọi điều kiện để gà con thích nghi nhanh chóng với điều kiện bên ngoài
Nhiệt độ úm gà con trong tuần đầu là 33 - 35 oC, sau mỗi tuần nhiệt độ giảm đi
2 oC Quan sát sự phân bố của gà con trong chuồng có thể đánh giá tình trạng nhiệt độ Nếu nhiệt độ đã tối ưu thì gà con phân tán đều trong chuồng, hoạt bát nhanh nhẹn và khi đó gà con sẽ ăn nhiều và mau lớn Nếu nguồn nhiệt chưa đủ ấm thì gà con nằm tụm dưới nguồn nhiệt, ăn ít, uống ít do gà bị lạnh Lúc này chúng ta cần tăng cường
Trang 28nguồn nhiệt Nếu nguồn nhiệt quá nóng thì gà nằm tụm xa nguồn nhiệt, thở nhanh, ăn
ít và uống nước nhiều Chúng ta cần giảm bớt nhiệt để gà phát triển tốt hơn
Ẩm độ trong chuồng úm gà con tốt nhất ở mức 60 - 70 % Với mức ẩm độ như vậy hơi nước trong phân bay nhanh, nếu phân khô gà sẽ khoẻ mạnh
Chế độ chiếu sáng: bóng đèn vừa là nguồn nhiệt vừa đảm nhận chức năng chiếu sáng, ánh sáng cần để gà nhận biết và lấy thức ăn Trong quá trình thí nghiệm gà được chiếu sáng 24/24 giờ trong suốt quá trình úm và nuôi Mật độ úm gà còn được giảm dần theo tuổi của gà: 1 ngày tuổi đến 2 tuần mật độ úm là 50 con/m2, 2 - 4 tuần tuổi mật độ úm là 25 con/m2
Sau khi được úm gà được chuyển sang chuồng nuôi gà thịt Giai đoạn này quy trình chăm sóc không nghiêm ngặt như giai đoạn úm gà Gà được cho ăn và uống 2 lần trong ngày Bình nước uống và máng ăn được vệ sinh thường xuyên Tuỳ thời tiết: nếu trời quá nóng thì vén mành che quanh chuồng; nếu có gió hoặc trời mưa lạnh thì phải thả mành xuống Hàng ngày phải quan sát gà xem có hiện tượng gì khác thường hay không để có biện pháp xử lý kịp thời Trang thiết bị chuồng trại luôn phải được kiểm tra phát hiện những hư hỏng để sửa chữa kịp thời Điều chỉnh độ cao của máng ăn và máng uống cho thích hợp để cho gà ăn uống dễ dàng Khi thời tiết thay đổi, nóng bức hoặc khi luân chuyển gà chúng ta pha lẫn vitamin C vào nước uống để gà giảm strees
và tăng sức đề kháng
3.5.3 Vệ sinh thú y
Sau khi gà đã bán hết thì phân và chất độn chuồng được thu gom hết, nền chuồng, vách chuồng và trần chuồng được phun rửa dưới vòi nước áp lực mạnh rồi để khô Sau đó phun vôi sống hòa tan với nước lên nền chuồng Sau khi chuồng đã được rửa sạch thì trấu được rải đều dày khoảng 3 – 5 cm trên nền chuồng và được sát trùng bằng dung dịch formol 0,5 % Để trống chuồng một thời gian rồi tiếp tục đưa gà mới vào nuôi
Tất cả các dụng cụ chăn nuôi được rửa sạch, phơi khô sau đó được sát trùng bằng formol 0,5 %
Hành lang và khu vực xung quanh chuồng hàng ngày được quét dọn, làm cỏ để tạo sự thông thoáng sạch sẽ và hạn chế chuột và côn trùng