1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20

57 1,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 852,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20

Trang 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Bảng:

Bảng 1-1: Tỷ lệ sở hữu cổ phần công ty cổ phần X20

Bảng 1-2- Sản lượng sản phẩm tính theo doanh thu

Bảng 1-3: Cơ cấu tài chính Công ty Cổ phần X20 từ năm 2007 đến năm 2011

Bảng 1-4: Kết quả sản xuất kinh doanh Công ty Cổ phần X20

Bảng 1-5: Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản

Bảng 2-6: Tài khoản sử dụng trong doanh nghiệp

Sơ đồ:

Sơ đồ 1-1: Công đoạn sản xuất

Sơ đồ 1-2: Quá trình sản xuất

Sơ đồ 1-3: Sơ đồ tổ chức công ty trước cổ phần

Sơ đồ 1-4: mô hình tổ chức hoạt động của công ty cổ phần X 20

Sơ đồ 2-5: Trình tự kế toán trên máy tính

Sơ đồ 2-6 : Hạch toán thanh toán với người bán

Sơ đồ 2-7: Hạch toán thanh toán với người mua

Sơ đồ 2-8: Hạch toán các nghiệp vụ chủ yếu về NVL

Sơ đồ 2-9 : Hạch toán TSCĐ

Trang 2

DANH MỤC VIẾT TẮT

GTGT : Giá trị gia tăng

CNV : Công nhân viên

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Tất cả các doanh nghiệp dù hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề nào cũng cần phải có một bộ máy kế toán có năng lực và làm việc có hiệu quả bởi kế toán chính là một công cụ hữu hiệu của doanh nghiệp Bộ máy kế toán có nhiệm

vụ hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tính giá thành và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Nhờ các thông tin tài chính của bộ máy kế toán, ban giám đốc có thể thực hiện tốt công tác quản lý tài chính và có cơ sở để ra các quyết định kinh tế quan trọng

Vì vậy, việc xây dựng một bộ máy kế toán hợp lí và hiệu quả có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Nhận thức tầm quan trọng của bộ máy kế toán và công tác kế toán đối với doanh nghiệp và đặc biệt, với tư cách là một sinh viên chuyên ngành kế toán - kiểm toán, em nhận thấy việc học hỏi về thực tế kế toán trong các doanh nghiệp

là một nhiệm vụ cấp thiết Vì vậy, em xin thực tập tại Công ty cổ phần X.20

Được sự hướng dẫn của tận tình của TS.Lê Kim Ngọc và thành viên

phòng Kế toán – Tài chính, em xin trình bày Báo cáo thực tập tổng hợp tại Công

Trang 4

Phần 3: Đánh giá thực trạng bộ máy kế toán và công tác kế toán tại Công

ty cổ phần X.20

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KĨ THUẬT VÀ TỔ CHỨC

BỘ MÁT QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA

CÔNG TY CỔ PHẦN X.20 1.1.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN X.20:

Tên công ty: Công ty cổ phần X20

Tên giao dịch viết tắt: X20.Co

Địa chỉ (trụ sở chính): Số 35 - Phố Phan Đình Giót - Phương Liệt - Thanh Xuân – Hà Nội

1.1.1 Giai đoạn 1: Từ năm 1957 đến năm 1961:

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời với những thách thức nặng nề và khó khăn chồng chất Ngoài những nhiệm vụ quan trọng bức bách hàng đầu như chống “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, công việc đảm bảo ăn, mặc cho Quân đội quốc gia Việt Nam cũng rất cần thiết Đảng, Chính phủ đã dựa vào dân, động viên nhân dân ủng hộ vật chất đảm bảo cung cấp cho bộ đội Trong nhân dân đã có các “Hợp tác xã may

Trang 5

mặc” Tuy nhiên do trình độ tay nghề và nhiều yếu tố khách quan nên các sản phẩm may mặc phục vụ cho quân đội lúc đó không đảm bảo được chất lượng và thiếu thống nhất Việc đảm bảo quân trang cho cand bộ thường bị động, lúng túng Trong điều kiện miền Bắc có hòa bình, quân đội thực hiện chính quy hóa, hiện đại hóa, nhu cầu về trang phục đòi hỏi có bước phát triển mới cho ngành quân trang Trước tình hình đó, từ năm 1956, lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục Hậu cần, Cục Quân nhu đã có dự định tổ chức một cơ sở may do ngành quân nhu trực tiếp quản lý.

Ngày 18 tháng 2 năm 1957, tại Thụy Khuê thuộc quận Ba Đình, Hà Nội, tên của nhà máy ra đời là :“Xưởng may đo hàng kỹ”, gọi tắt là X.20 được thành lập

Xưởng có nhiệm vụ may đo quân trang phục vụ cán bộ trung – cao cấp các

cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng – Tổng tư lệnh và các quân – binh chủng đóng quân trên địa bàn Hà Nội Xưởng có nhiệm vụ tham gia nghiên cứu chế thử và sản xuất thử nghiệm các kiểu quân trang, quân phục cho quân đội

Do khả năng tài chính lúc đó còn eo hẹp, bằng phương pháp vận động khéo léo, cán bộ, nhân viên đầu tiên của xưởng đã mua lại được của tư nhân 20 máy may, 1 máy vắt sổ, 1 máy thùa khuy đạp chân Đồng chí Đỗ Văn Minh, phó giám đốc xưởng may X.10 được Tổng cục điều về phụ trách X.20 Đoàn cán bộ, công nhân thuộc Tổng cục quân nhu về làm nòng cốt cho X.20

Biên chế ban đầu X.20 có trên 30 cán bộ, công nhân, đa số là mới tuyển theo chế độ hợp đồng, trong đó có 4 Đảng viên

Thời kì đầu, phương hướng tổ chức sản xuất của X.20 rất đơn giản, thủ công Mô hình sản xuất không khác gì một tổ hợp sản xuất Kế hoạch sản xuất

do Phòng Sản xuất trang dụng lập, trao nhiệm vụ trực tiếp cho xưởng Đồng chí

Trang 6

phụ trách xưởng giao việc cho từng tổ sản xuất, từng công nhân.

Để đảm bảo thu nhập cho công nhân, X.20 áp dụng hình thức trả lương theo phương pháp khoán sản phẩm đơn chiếc

Thời kì đầu, X.20 chú trọng đi sâu vào chất lượng, bảo đảm kỹ thuật sản phẩm, củng cố tay nghề cho công nhân

Năm 1957, X.20 đã hoàn thành tổng sản lượng quy ra bộ tiêu chuẩn là 16.520 bộ, đạt năng suất bình quân của một công nhân sản xuất công nghiệp là 109.125 đồng

Năm 1958, X.20 nhận nhiệm vụ may quân phục đại lễ cho cán bộ tham gia

lễ duyệt binh nhân ngày Quốc khánh 2-9-1958

Tháng 4 năm 1959, Đang ủy Tổng cục Hậu cần quyết định thành lập chi bộ X.20

Tháng 5 năm 1959 tổ chức công đoàn cơ sở được thành lập

Tháng 12 năm 1959 chi đoàn thanh niên lao động X.20 được thành lập.Năm 1960, X.20 chuyển trực thuộc Cục quân nhu Nhiệm vụ X.20 ngày càng nặng nề hơn Bên cạnh những kế hoạch sản xuất ngày càng tăng, X.20 được giao nhiệm vụ hoàn thành các kế hoạch đột xuất, bí mật: nghiên cứu, sản xuất các loại quần áo, trang dụng đặc biệt cho cán bộ chiến sĩ đi B

Tháng 4 năm 1961, X.20 phát động phong trào thi đua “Ba nhất” Qua 4 đợt thao diễn, năng suất tăng từ 116% lên 210%

Trải qua 5 năm vừa xây dựng vừa sản xuất, X.20 đã từng bước phát triển về nhiệm vụ, tổ chức và trang thiết bị kỹ thuật

1.1.2 Giai đoạn 2: Từ năm 1962 đến 1987:

Tháng 12 năm 1962, Tổng cục Hậu cần chính thức ban hành nhiệm vụ cho X.20 theo quy chế xí nghiệp quốc phòng X.20 chính thức được công nhận là xí

Trang 7

nghiệp quốc phòng.

Về tổ chức, lúc này xưởng đã có 77 cán bộ, công nhân, một chi bộ với 11 Đảng viên, một chi đoàn thanh niên và công đoàn cơ sở Các ban, phân xưởng chưa hình thành; nhưng đã có một tổ cắt, ba tổ may, một tổ hành chính bao gồm

cả bộ phận cửa hàng và tổ hậu cần

Theo nhiệm vụ mới do Tổng cục Hậu cần và Cục Quân nhu giao cho xí nghiệp, ngoài nhiệm vụ may đo cho cán bộ trung – cao cấp và bảo đảm kế hoạch đột xuất, xí nghiệp bắt đầu nghiên cứu tổ chức các dây chuyền sản xuất hàng loạt

và tổ chức mạng lưới may gia công ngoài xí nghiệp Nhiệm vụ của X.20 ngày càng được mở rộng Yêu cầu tổ chức quản lý ngày càng đòi hỏi cao hơn

Tháng 4 năm 1962, X.20 thực hiện trả lương theo sản phẩm đơn chiếc và chi tiết từng công việc cho công nhân sản xuất trực tiếp

Tháng 10 năm 1962, X.20 ban hành nội quy và chế độ làm việc cho cán bộ, công nhân

Tháng 12 năm 1965, xí nghiệp tiếp nhận trên 300 công nhân thuộc tổng đội

5 Lực lượng mới bổ sung gấp 3 lần quân số của xí nghiệp trước đây Chi bộ Đảng đã có 10 Đảng viên, chi Đoàn có 73 đoàn viên, Công đoàn đã hình thành 4

tổ Công đoàn và 1 ban chấp hành cơ sở Về tổ chức sản xuất có 3 tổ may tương đương phân xưởng, 1 tổ cắt và 1 tổ công tác giúp Giám đốc điều hành sản xuất, bảo đảm kỹ thuật vật tư

Tháng 4 năm 1968, Tổng cục Hậu cần ra quyết định (số 136/QĐ do đại tá

Vũ Văn Cẩn – Phó chủ nhiệm Tổng cục ký) xếp hạng 5 công nghiệp nhẹ cho xí nghiệp may 20 Xí nghiệp may 20 chính thức là một xí nghiệp công nghiệp quốc phòng được xếp hạng Mô hình phân xưởng sản xuất và các ban chuyên ngành giúp giám đốc điều hành sản xuất đang được hình thành Do hoàn thành xuất sắc

Trang 8

nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, năm 1968, xí nghiệp may 20 được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.

Tháng 1 năm 1970, xí nghiệp thành lập các ban nghiệp vụ và các phân xưởng thay thế các tổ nghiệp vụ và tổ sản xuất Cũng trong thời gian này, Tổng cục Hậu cần bổ sung cho xí nghiệp hơn 300 chiến sĩ ở một số đoàn an dưỡng Quân số xí nghiệp tăng vọt lên trên 700 người Năm 1970 tổng sản lượng đạt 166.503 bộ tiêu chuẩn Năng suất lao động phải đạt 4 bộ/ngày trên một đầu máy điện tự chế, 5 bộ/ngày trên 1 đầu máy điện, máy đo len dạ 1 bộ /ngày trên 1 đầu máy

Cuối năm 1974, Xí nghiệp may 20 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhì, do thành tích hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất được giao

Trong suốt thời kì kháng chiến chống Mỹ, Xí nghiệp may 20 vẫn luôn hoàn thành suất sắc nhiệm vụ được giao và ngày càng phát triển lớn mạnh hơn, trở thành một xí nghiệp Hậu cần có quy mô trung bình, có đủ điều kiện để tiến lên quy mô lớn

Sau năm 1975, Xí nghiệp may 20 chuyển sang chế độ hạch toán độc lập Được sự giúp đỡ của cấp trên, Xí nghiệp đã mạnh dạn đổi mới đầu tư trang thiết

bị máy móc, sản xuất hàng xuất khẩu, bắt đầu một giai đoạn mới Toàn bộ các dây chuyền đã được cơ khí hóa Xí nghiệp đã dần dần tự đảm nhiệm được khâu sửa chữa, phục hồi các trang thiết bị, máy móc của mình; đặc biệt đã tìm ra được một phương thức quản lý mới, yếu tố khoa học trong công tác quản lý đã xuất hiện Toàn xí nghiệp, từ Giám đốc đến công nhân thực sự làm việc theo chức trách, nhiệm vụ của mình

Đầu năm 1980, tổng quân số của xí nghiệp may 20 là hơn 1.000 người,

Trang 9

trong đó hơn 2/3 là nữ, Đảng bộ gồm 20 chi bộ với trên 200 đảng viên Công đoàn cơ sở gồm 11 công đoàn bộ phận, 64 tổ công đoàn và gần 1.000 đoàn viên.Năm 1987, xí nghiệp vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương quân công hạng nhì, và được nhận cờ thưởng luân lưu của Hội đồng Bộ trưởng.

1.1.3 Giai đoạn 3: Từ năm 1987 đến năm 1992:

Xí nghiệp tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ sang hạch toán kinh doanh, nâng cao chất lượng và đáp ứng kịp thời nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu, đưa sản xuất tiến lên một bước mới

Những lô hàng đầu tiên do công nhân xí nghiệp may 20 thực hiện gửi đi Liên Xô đã được thị trường chấp nhận và người tiêu dùng Liên Xô đã biết đến sản phẩm của xí nghiệp may 20 Chất lượng lô hàng đầu tiên đã khẳng định tiềm năng của xí nghiệp trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu, củng cố vị thế của xí nghiệp trong ngành may Việt Nam và đáp ứng được niềm tin của lãnh đạo Tổng cục Hậu cần đối với xí nghiệp

Sau 6 tháng nhập cuộc vào làng may xuất khẩu, Xí nghiệp may 20 đã có 2 đối tác: xí nghiệp may Bengrol và liên hiệp xí nghiệp may Tampop (Liên Xô) Năm 1987, xí nghiệp đã đạt tổng sản lượng 890.643.931 đồng, đạt 103% kế hoạch Trong đó, sản lượng thực hiện từ hàng xuất khẩu là 54.300.037 đồng

Xí nghiệp quyết định mua một số máy may công nghiệp của Nhật Bản để trang bị cho phân xưởng may hàng xuất khẩu Năm 1988, xí nghiệp được chấp nhận là thành viên của Confectimex và tham gia chương trình 19/5 về làm hàng gia công xuất khẩu cho bạn hàng Liên Xô

Trong một thời gian ngắn, xí nghiệp may 20 đã thực sự lột xác từ một đơn

vị hoạt động theo chế độ bao cấp đã chuyển hẳn sang hoạt động theo phương

Trang 10

thức hạch toán kinh doanh một cách vững chắc.

1.1.4 Giai đoạn 4: từ năm 1992 đến năm 1997:

Ngày 12 tháng 12 năm 1992, Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 74b/QP, do thượng tướng Đào Đình Luyện ký) chuyển Xí nghiệp may 20 thành Công ty may

20 Công ty may 20 ra đời là một bước nhảy vọt quan trọng trong 35 năm xây dựng và trưởng thành của Xí nghiệp may 20

Công ty thực hiện hai nhiệm vụ: sản xuất quân trang phục vụ quân đội và làm hàng kinh tế xuất khẩu, tiến tới thực hiện xuất khẩu trực tiếp, trong đó lấy nhiệm vụ quốc phòng làm trọng tâm

Đến cuối năm 1993, về cơ bản công tác tổ chức của Công ty may 20 đã hoàn thành Năm 1993 là năm Công ty chính thức hoạt động theo mô hình quản

lý mới Công ty đổi mới toàn bộ thiêt bị cho xí nghiệp may 1 và đầu tư tiếp một dây chuyền may hàng loạt nữa Doanh thu năm 1993 đạt 36,3 tỷ đồng, tăng hơn năm trước gần bốn lần; trong đó tỷ trọng hàng quốc phòng vẫn chiếm 90% Lương bình quân của công nhân năm 1993 đạt 370.000 đồng một tháng

Năm 1994, Công ty tiếp tục đầu tư đổi mới trang thiết bị (1.740.000.000 đồng); đồng thời đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ đời sống của cán bộ, công nhân viên Nguồn vốn cho xây dựng cơ bản vẫn chủ yếu do Ngân sách Nhà nước và ngân sách quốc phòng cấp Tổng doanh thu năm 1994 là 64.082.951.382 đồng, đạt 101,14% kế hoạch đề ra Trong đó, thu từ quốc phòng

là 59.164.963.112 đồng, thu từ hàng xuất khẩu là 4.917.988.270 đồng Thu nhập bình quân đầu người là 537.000 đồng một tháng

Năm 1996, Công ty may 20 đã đầu tư trang thiết bị, công nghệ để thành lập

Xí nghiệp Dệt kim Từ khi đi vào sản xuất tới cuối năm 2001, Xí nghiệp Dệt kim

đã thực hiện 1,5 triệu sản phẩm mỗi năm, giải quyết cho hàng trăm người có việc

Trang 11

làm Xí nghiệp Dệt kim đã đánh dấu sự bắt đầu của quá trình đa dạng hóa ngành nghề, đa dạng hóa sản phẩm của Công ty.

Cuối năm 1997 thành lập Xí nghiệp Dệt vải

1.1.5 Giai đoạn 5: Từ năm 1998 đến năm 2007:

Ngày 17 tháng 3 năm 1998, đổi tên Công ty may 20 thuộc Tổng cục Hậu cần thành Công ty 20 Bổ sung ngành nghề cho Công ty 20 như sau:

- Sản xuất kinh doanh hàng dệt, nhuộm

- Kinh doanh vật tư, thiết bị nguyên liệu, hóa chất phục vụ ngành dệt, nhuộm

Mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của Công ty 20 vẫn không thay đổi: Luôn lấy nhiệm vụ phục vụ quân đội, phục vụ quốc phòng làm nhiệm vụ trung tâm, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải hướng tới việc duy trì và tăng cường năng lực làm nhiệm vụ quốc phồng cho đơn vị mình, đồng thời bằng hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình đóng góp vào sự nghiệp xây dựng nền kinh tế đất nước, tham gia giải quyết vấn đề đời sống xã hội, trên cơ sở tuân thủ luật pháp của Nhà nước và kỷ luật của quân đội

Trở thành một doanh nghiệp đa ngành nghề, Công ty 20 đã có hành lang hoạt động rộng hơn, có nhiều cơ hội trong sản xuất kinh doanh nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn thách thức to lớn hơn

Trang 12

- Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh.

Đầu tháng 7 năm 2001, Bộ quốc phòng ký quyết định điều Xí nghiệp 198

và Xí nghiệp 199 từ công ty 198 thuộc Cục quản lý hành chính – Bộ Tổng Tham mưu cơ quan Bộ Quốc phòng về Công ty 20 thuộc Tổng cục Hậu cần

Quý III năm 2003, công ty tiếp nhận thêm các xí nghiệp 20B, 20C từ Quân khu IV, và xí nghiệp may Bình Minh từ Quân khu I chuyển về

1.1.6 Giai đoạn 6: Từ năm 2007 đến nay.

Thực hiện các quyết định số 1360/QĐ-BQP ngày 01 tháng 07 năm 2005 của Bộ Quốc phòng về việc cổ phần hóa Công ty 20 thuộc Tổng cục Hậu cần, và

Trang 13

quyết định số 3967/QĐ-BQP ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Bộ Quốc phòng về phê duyệt phương án và chuyển Công ty 20 thuộc Tổng cục Hậu cần thành Công

ty Cổ phần, từ 01 tháng 01 năm 2009, Công ty 20 chính thức hoạt động theo mô hình công ty Cổ phần với tên gọi mới là Công ty Cổ phần X.20

Quy mô công ty:

- Vốn điều lệ: 172.500.000.000 đồng (Một trăm bảy hai tỷ, năm trăm triệu đồng)

2.3 Cổ đông phổ thông (mua cổ

phần thông qua đấu giá công

khai)

(Nguồn: Hồ sơ mời thầu công ty cổ phần X20 năm 2010)

Số lao động hiện nay:

Gần 4000 cán bộ công nhân viên trong công ty với trình độ chuyên môn và tay nghề cao đang đóng góp cho sự phát triển toàn diện của Công ty Cổ phần

Trang 14

1.2.ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT – KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN X.20.

1.2.1.Nhiệm vụ, mục tiêu của Công ty Cổ phần X.20:

Công ty Cổ phần X.20, tiền thân là Công ty 20, là đơn vị kinh tế - quốc phòng thuộc Tổng cục Hậu cần – Bộ Quốc phòng, được thành lập vào năm

1957 Đến ngày 01 tháng 01 năm 2009, công ty chính thức hoạt động theo mô hình công ty Cổ phần Trong suốt quá trình 55 năm xây dựng và phát triển, Công

ty Cổ phần X.20 luôn hoàn thành suất sắc các nhiệm của mình, cả nhiệm vụ sản xuất để phục vụ Quốc phòng lẫn nhiệm vụ tiến hành tốt hoạt động sản xuất kinh doanh, trở thành đơn vị kinh doanh xuất sắc của nghành dệt may Việt Nam

Nhiệm vụ chủ yếu của công ty là:

- Chuyên sản xuất các sản phẩm Quốc phòng, chủ yếu là hàng dệt, nhuộm, may theo kế hoạch hàng năm và dài hạn của Tổng cục Hậu cần – Bộ Quốc phòng

- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm may, dệt may, nguyên phụ liệu dệt may phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu

- Kinh doanh xuất nhập khẩu các sản phẩm vật tư, thiết bị nghành may, dệt kim phục vụ cho sản xuất các mặt hàng dệt may của công ty

- Kinh doanh vật tư thiết bị, nguyên liệu hóa chất phục vụ cho nghành dệt và nhuộm

- Đào tạo công nhân, thợ bậc cao ngành may cho Công ty và toàn quân

- Kinh doanh bất động sản có hiệu quả và đầu tư một số lĩnh vực mới

Trang 15

Mục tiêu của Công ty

Công ty Cổ phần X.20 hoạt động nhằm các mục tiêu chính sau:

- Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả trong việc phát triển sản xuất kinh doanh trên lĩnh vực ngành nghề đã được đăng kí kinh doanh

- Tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhằm tạo ra được lợi nhuận tối đa, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, đóng góp các khoản theo đúng quy định vào ngân sách Nhà nước

- Xây dựng Công ty ngày càng ổn định và vững mạnh, khẳng định vai trò và vị thế của công ty trên trường quốc tế Các ngành nghề kinh doanh chính

1.2.2.Đặc điểm hoạt động sản xuất-kinh doanh của Công ty Cổ phần X.20:

Sản phẩm dịch vụ chủ yếu:

Sản phẩm dệt: vải mộc các loại, vải dệt kim các loại, bít tất, khăn

mặt

Sản phẩm may:

- Phục vụ Quốc phòng: quân phục mùa đông, mùa hè, dã ngoại, áo sơ

mi, quần áo chiến sĩ dân quân, áo thường phục chiến sĩ ra quân…

- Dân dụng: quần áo các loại gồm: mũ mềm, quần kaki, áo đờ mi, áo

nỉ, váy da, áo vest nữ, áo khoác nữ nhung, áo jacket, bộ vest nữ, áo sơ mi các loại, bộ comple nam, áo măngtô, complê trẻ em, đồng phục cho các tổ chức, đồng phục thể thao, bộ ký giả, quần các loại, cavát, màn tuyn cá nhân, khăn mặt,

áo mưa, tất, áo phông…

Trang 16

• Xuất khẩu các sản phẩm do Công ty sản xuất;

• Đầu tư tài chính, đầu tư phát triển hạ tầng, kinh doanh nhà và cho thuê văn phòng

Sản lượng sản phẩm qua các năm

Bảng 1-2- Sản lượng sản phẩm tính theo doanh thu

Sản

phẩm

Số lượng

Doanh thu (triệu đồng)

Số lượng

Doanh thu (triệu đồng)

Số lượng

Doanh thu (triệu đồng)

Số lượng

Doanh thu (triệu đồng)

Trang 17

1.2.3.Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty cổ phần X.20.

Công ty có quy trình sản xuất công nghệ sản xuất liên tục, bao gồm nhiều giai đoạn công nghệ cấu thành với hai hình thức sản xuất chủ yếu là gia công theo đơn đặt hàng và hình thức mua nguyên vật liệu tự sản xuất để bán

• Trong trường hợp gia công sản xuất thì quy trình công nghệ theo hai bước:

- Bước 1 : Nhận tài liệu kĩ thuật và sản phẩm mẫu do khác hàng gửi đến, phòng kĩ thuật sẽ nghiên cứu tài liệu và may thử sản phẩm sau đó khách hàng kiểm tra, nhận xét góp ý

Sơ đồ 1-1: Công đoạn sản xuất

- Bước 2 : Sau khi sản phẩm mẫu được khách hàng chấp nhận và sản phẩm mẫu mới được đưa xuống xí nghiệp để sản xuất sản phẩm theo mẫu hàng Đơn đặt hàng được khách hàng duyệt theo kế hoạch và hợp đồng đã được kí kết Quá trình sản xuất tại xí nghiệp được biểu diễn qua sơ đồ sau:

Bộ phận cắt và may ra sản phẩm mẫu

Gửi sản phẩm mẫu cho khách hàng kiểm tra

và duyệt

Trang 18

Sơ đồ1-2: Quá trình sản xuất

• Trong trường hợp sản xuất sản phẩm phục vụ cho như cầu quốc phòng thì áp dụng mẫu quy định, phòng kĩ thuật vẽ ra mẫu và gửi cho phòng cắt may Sản phẩm này chủ yếu là dùng trong nội bộ ( bộ Quốc phòng) với quy trình giống như trường hợp gia công

1.3.TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT- KINH DOANH CỦA CÔNG TY MAY 20.

1.3.1 Trước cổ phần:

Kho phụ liệu

Kỹ thuật ra sơ đồ cắt Tổ cắt

Xuất sản phẩm

Kho nguyên liệu

Kỹ thuật hướng dẫn Tổ may

Là hơi sản phẩm

KCS kiểm tra

Đóng gói và đóng hộp

Trang 19

Sơ đồ 1-3: Sơ đồ tổ chức công ty trước cổ phần

1.3.2 Sau cổ phần:

Công ty Cổ phần X.20 là đơn vị kinh tế hạch toán độc lập, có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí gọn nhẹ và linh hoạt, mang tính chuyên nghiệp cao Đặc biệt, ngay sau khi chuyển sang hoạt động theo hình thức Công ty Cổ phần, Công

ty đã đi ngay vào việc ổn định, sắp xếp lại mô hình tổ chức bộ máy theo hướng mới, thực hiện phân cấp quản lí nhằm giảm bớt sự tập trung và phân định quyền hạn rõ ràng, rộng rãi hơn cho các đơn vị thành viên

Công ty cũng quy định rõ ràng rằng trong quá trình hoạt động, ban lãnh đạo Công ty có thể điều chỉnh mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy sao cho phù hợp với định hướng phát triển, quy mô cũng như loại hình kinh doanh và trình độ quản lí

PHÒNG KT-CN

PHÒNG

KẾ HOẠCH TCSX

PHÒNG TÀI CHÍNH

XN

DỆT MAY

TT NGHIÊN CỨU MM-TT

XN

XN M9

XN M10

Trang 20

của Công ty, đáp ứng được yêu cầu phát triển và tính chủ động trong sản xuất kinh doanh của Công ty Hiện nay, cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty bao gồm:

- Đại hội đồng cổ đông;

Trang 21

Sơ đồ 1- 4: mô hình tổ chức hoạt động của công ty cổ phần X 20.

1.3.2.1 Đại hội đồng cổ đông:

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty Đại hội đồng cổ đông thường niên được tổ chức một năm một lần Đại hội đồng cổ đông thường niên sẽ quyết định những vấn đề mà Luật pháp và Điều lệ của công

ty quy định

1.3.2.2 Hội đồng quản trị:

Trang 22

Hội đồng quản trị của Công ty là cơ quan sẽ trực tiếp quản lí và chỉ đạo thực hiện hoạt động kinh doanh và các công việc của Công ty Ngoài ra, Hội đồng quản trị còn có trách nhiệm giám sát Tổng giám đốc điều hành và các thành viên quản lí khác.

Ngày 19 tháng 4 năm 2010 Công ty Cổ Phần X20 tổ chức đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010 Đại hội đồng cổ đông thành lập Công ty được tổ chức tại 35 Phan Đình Giót - Phương Liệt - Thanh Xuân - Hà Nội Đại hội đồng

cổ đông thành lập đã bầu ra Hội đồng quản trị Công ty bao gồm 7 đồng chí:

- Ông Chu Đình Quý - Chủ tịch Hội đồng quản trị

- Ông Nguyễn Đức Côn – Phó chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc

- Ông Nguyễn Hữu Tâm - Thành viên Hội đồng quản trị

- Ông Vũ Hữu Duyên - Thành viên Hội đồng quản trị

- Ông Đỗ Hoàng Sơn - Thành viên Hội đồng quản trị

- Ông Hoàng Văn Quế - Thành viên Hội đồng quản trị

- Ông Nguyễn Kim Khương - Thành viên Hội đồng quản trị

1.3.2.3 Tổng giám đốc điều hành Công ty và những cán bộ quản lí khác:

Bộ máy quản lí của Công ty gồm một Tổng giám đốc điều hành, một số Phó Tổng giám đốc điều hành và một Kế toán trưởng do Hội đồng quản trị bổ nhiệm.Tổng giám đốc điều hành là người tổ chức và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh thường nhật của Công ty, đề xuất những biện pháp nâng cao hoạt động quản lí của Công ty và thực thi các kế hoạch kinh doanh hàng năm do Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị thông qua

Các Phó TGĐ điều hành có nhiệm vụ giúp đỡ TGĐ phần công việc được giao, chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình

1.3.2.4.Ban kiểm soát:

Ban kiểm soát và các thành viên của ban kiểm soát có các quyền hạn và

Trang 23

trách nhiệm chủ yếu sau:

- Đề xuất ý kiến về việc chỉ định công ty kiểm toán

- Xin ý kiến tư vấn chuyên nghiệp độc lập hoặc tư vấn về pháp lí và đảm bảo sự tham gia của những chuyên gia bên ngoài Công ty với kinh nghiệm

1.3.2.6 Phòng Kỹ thuật chất lượng:

Là cơ quan tham mưu cho Giám đốc công ty về mặt công tác nghiên cứu, quản lý khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất, chất lượng sản phẩm, nghiên cứu các mẫu mốt, chế thử sản phẩm mới, quản lý máy móc thiết bị, bồi dưỡng và đào tạo công nhân kỹ thuật trong toàn công ty

1.3.2.7 Phòng Tài chính kế toán:

Là cơ quan tham mưu cho Giám đốc công ty về công tác tài chính, thực hiện chức năng quan sát viên của Nhà nước tại công ty, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty, cơ quan tài chính cấp trên và pháp luật về thực hiện nghiệp

vụ tài chính kế toán của công ty

1.3.2.8 Phòng xuất nhập khẩu:

Là cơ quan tham mưu cho Giám đốc công ty về phương hướng, mục tiêu kinh doanh xuất nhập khẩu, dịch vụ, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện các mục

Trang 24

tiêu, nhiệm vụ về kinh doanh xuất nhập khẩu, dịch vụ của công ty trong từng thời kỳ.

1.3.2.9.Văn phòng:

Là cơ quan giúp việc cho Giám đốc về các chế độ hành chính, văn thư, bảo mật, thường xuyên đảm bảo trật tự an toàn công ty, tổ chức phục vụ ăn ca trong tòan công ty, quản lý và bảo đảm phương tiện làm việc, phương tiện vận tải chung của công ty

- Xí nghiệp thương mại

Mỗi Xí nghiệp là đơn vị hành chính của Công ty, nơi thu thập các tài liệu ban đầu về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, mọi nhiệm vụ tổ chức sản xuất của Công ty cũng như phương tiện kỹ thuật đều được tiến hành qua các Phân xưởng và tổ chức sản xuất của các Xí nghiệp

1.4.TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN X.20.

1.4.1.Cơ cấu tài chính của công ty:

Trang 25

Thu thập số liệu của 4 năm gần đây về cơ cấu tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 1- 3: Cơ cấu tài chính Công ty Cổ phần X20 từ năm 2007 đến năm 2011

Giá trị (tr.đ)

Cơ cấu (%)

Giá trị (tr.đ)

Cơ cấu (%)

Giá trị (tr.đ)

Cơ cấu (%)

Giá trị (tr.đ)

Cơ cấu(%)

100

44,155,9

337.260

153.891183.369

100

45,654,4

425.436

246.787178.649

100

5842

457.260

178.880278.380

100

39,160,9

Căn cứ vào số liệu trong bảng phân tích trên ta thấy :

Tỷ trọng giữa TSLĐ và đầu tư ngắn hạn với TSCĐ và đầu tư dài hạn qua các năm của công ty có biến động nhưng không đáng kể Năm 2007, tỷ lệ TSLĐ

và đầu tư ngắn hạn chiếm 58,8% tổng tài sản, năm 2008 chiếm 62,1% tổng tài sản Tuy nhiến, đến năm 2009 tỷ lệ TSLĐ và đầu tư ngắn hạn lại giảm mạnh xuống còn 38,4% tổng tài sản Năm 2010 thì tỷ lệ TSLĐ và đầu tư ngắn hạn lại tăng lên 50,02% Mặc dù có sự biến động trong cơ cấu tài sản nhưng tổng giá trị

Trang 26

tài sản của công ty vẫn tăng theo từng năm, từ năm 2007 đến năm 2008 tăng 17.973 triệu đồng, đặc biệt, từ năm 2008 đến năm 2009 tổng giá trị tài sản của công ty tăng 88.176 triệu đồng, từ năm 2009 đến năm 2010 tăng 31.824 triệu đồng Theo đó lượng tổng nguồn vốn cũng tăng tương ứng qua các năm Cơ cấu của tổng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn có một số biến động Năm 2007, tỷ lệ tổng nợ phải trả là 44,1%, năm 2008 tỷ lệ này tăng lên 45,6%, đến năm 2009, tỷ

lệ này là 58%, đến năm 2010 tỷ lệ tổng nợ phải trả giảm còn 39,1% Cơ cấu trong tổng nguồn vốn và tổng tài sản của Công ty có biến động nhưng không nhiều qua các năm là do thị trường Quân đội của Công ty là ổn định qua các năm, mà thị trường này lại chiếm tới trên 70% trong thị trường kinh doanh của Công ty Cùng với sự tăng lên của tổng tài sản, giá trị của TSCĐ và đầu tư dài hạn cũng tăng lên tương ứng

Từ năm 2007 đến 2010, tổng tài sản của Công ty tăng 43,2% cho thấy kết quả kinh doanh tiến triển khá thuận lợi

Chuyển sang hoạt động dưới hình thức Công ty Cổ phần, tính đến ngày 01/01/2009, vốn điều lệ của Công ty là 172.500.000.000 VND ( Một trăm bảy mươi hai tỷ năm trăm triệu VND chẵn)

Tổng số vốn điều lệ của công ty được chia thành 17.2500.000 cổ phần, với mệnh giá mỗi cổ phần là 10.000 VND

1.4.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong giai đoạn từ năm

2007 đến năm 2010

Bảng1- 4: Kết quả sản xuất kinh doanh Công ty Cổ phần X20

Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2007 Năm 2008 Năm

2009

Năm 2010

Trang 27

955,65821,5643,1690,93

715,29549,5972,3793,33Lợi nhuận Tỷ đồng 56,32 63,08 84,26 68,25Nộp ngân sách Tỷ đồng 16,33 20,56 25,55 53,10Thu nhập bình

quân

Nghìn đồng 1.408 2.250 3.002 3.893

Biểu đồ 1- 1: Biểu đồ thể hiện doanh thu của công ty năm 2007-2010

Căn cứ vào biểu đồ ta thấy doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng đều qua các năm Năm 2008 doanh thu của công ty tăng 154,39 tỷ đồng Năm 2009 doanh thu tăng 402,61 tỷ đồng Tuy nhiên, năm 2010 do mức độ cạnh tranh gay gắt từ thị trường nội địa cũng như thị trường xuất khẩu nên doanh thu của công

ty giảm 240,36 tỷ Do 70% doanh thu của công ty là từ mặt hàng Quốc phòng đã

kí hợp đồng với Tổng cục Hậu Cần là luôn ổn định qua các năm,nên hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cũng khá ổn định Lợi nhuận của công ty cũng

Trang 28

ổn định qua các năm Năm 2008 lợi nhuận của công ty tăng 6.72 tỷ, năm 2009 lợi nhuận của công ty tăng 21,18 tỷ, năm 2010 lợi nhuận giảm 16,01 tỷ.

Bảng 1-5: Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản

Các chỉ tiêu Đơn vị

tính

Năm 2007

Năm 2008

Năm2009

Năm 20101.Chỉ tiêu về khả năng thanh

45,683,9

58138,1

39,164,3

3 Chỉ tiêu về năng lực hoạt

+ Hệ số Lợi nhuận sau

thuế/Doanh thu thuần

Ngày đăng: 21/11/2015, 21:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1-1: Tỷ lệ sở hữu cổ phần công ty cổ phần X20 - Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20
Bảng 1 1: Tỷ lệ sở hữu cổ phần công ty cổ phần X20 (Trang 13)
Bảng 1-2- Sản lượng sản phẩm tính theo doanh thu - Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20
Bảng 1 2- Sản lượng sản phẩm tính theo doanh thu (Trang 16)
Sơ đồ 1-1: Công đoạn sản xuất - Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20
Sơ đồ 1 1: Công đoạn sản xuất (Trang 17)
Sơ đồ 1-3: Sơ đồ tổ chức công ty trước cổ phần - Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20
Sơ đồ 1 3: Sơ đồ tổ chức công ty trước cổ phần (Trang 19)
Sơ đồ 1- 4: mô hình tổ chức hoạt động của công ty cổ phần X 20. - Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20
Sơ đồ 1 4: mô hình tổ chức hoạt động của công ty cổ phần X 20 (Trang 21)
Bảng 1- 3:  Cơ cấu tài chính Công ty Cổ phần X20 từ năm 2007 đến năm 2011 - Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20
Bảng 1 3: Cơ cấu tài chính Công ty Cổ phần X20 từ năm 2007 đến năm 2011 (Trang 25)
Sơ đồ 2- 5: Bộ máy kê toán của công ty may 20 - Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20
Sơ đồ 2 5: Bộ máy kê toán của công ty may 20 (Trang 31)
Bảng 2-6: Tài khoản sử dụng trong doanh nghiệp - Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20
Bảng 2 6: Tài khoản sử dụng trong doanh nghiệp (Trang 36)
Bảng cân đối - Báo cáo thực tập tổng hợp tại công ty cổ phần x20
Bảng c ân đối (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w