1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Mỹ từ sau khủng hoảng 2007-2008

27 235 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 368,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài:TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG MỸ SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008 LỜI MỞ ĐẦU Đối với bất cứ quốc gia nào, hoạt động ngân hàng luôn là huyết mạch của nền kinh tế, sự ổn định và làn

Trang 1

Đề tài:

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG MỸ SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008

LỜI MỞ ĐẦU

Đối với bất cứ quốc gia nào, hoạt động ngân hàng luôn là huyết mạch của nền kinh

tế, sự ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng yếu trong việc ổn định

và phát triển nền kinh tế đất nước Ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi trong xã hội để đápứng vốn cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội Vì vậy, để đảm bảo ổn định vàlành mạnh hệ thống ngân hàng thì hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội(trong đó có chi tiêu của Chính phủ và tiêu dùng của cá nhân và doanh nghiệp) cũng phảiđược lành mạnh hóa Người vay tiền sử dụng đồng vốn không hiệu quả, những khó khăn đócũng sẽ đổ dồn gánh nặng cho ngân hàng Chính vì vậy, tái cấu trúc ngân hàng đạt hiệu quảphải gắn liền với tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế, trong đó đặc biệt quan tâm tái cấu trúc đầu

tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu gần đây nhất (2007-2009) xuấtphát từ việc cho vay “dưới chuẩn” của các NH, đặc biệt là ở Mỹ, buộc các quốc gia phảiquan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các NH Việc tái cấu trúc nân hàng trở nên phổbiến và cấp thiết ở mỗi quốc gia, đảm bảo cho các ngân hàng thích nghi được với nhu cầuphát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động Mỹ từ sau khủng hoảngđến nay đã thực hiện rất nhiều biện pháp nhằm tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, ổn định lại

nền kinh tế trong nước và đã đạt được nhiều tín hiệu khả quan Tìm hiểu đề tài ‘Tái cấu trúc

hệ thống ngân hàng Mỹ từ sau khủng hoảng 2007-2008” sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về

“Tái cấu trúc ngân hàng” – Một vấn đề hết sức nóng hổi trên các diễn đàn kinh tế trên thế

giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Việc nhìn nhận và đánh giá sự ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng đến Việt Nam; từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm, cũng như giải pháp làđiều thiết yếu Bên cạnh những thách thức còn có những cơ hội phát triển từ cuộc khủnghoảng này

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 3

I Tổng quan về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 3

1 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 3

1.1 Khái niệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 3

1.2 Các biện pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 3

1.4 Một số điểm đáng chú ý trong hoạt động tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 5

2 Cấu trúc hệ thống ngân hàng Mỹ 6

II - Khủng hoảng tài chinh 2007-2009 7

1 Hệ thống ngân hàng Mỹ trước khủng hoảng 7

2 Khủng hoảng tài chính 2007-2009 7

2.1 Diễn biến 7

2.2 Nguyên nhân: 9

III Tái cấu trúc hệ thống NH Mỹ sau khủng hoảng tài chính 2007- 2009 10

1 Mỹ thực hiện các biện pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 10

2 Thành tựu 19

3 Hạn chế của các biện pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Mỹ 20

IV - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 22

Tài liệu tham khảo 27

Danh sách thành viên Nhóm 3 27

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

I Tổng quan về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

1 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

Đối với bất cứ quốc gia nào, hoạt động ngân hàng luôn là huyết mạch của nền kinh

tế, sự ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng yếu trong việc ổn định

và phát triển nền kinh tế đất nước Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầugần đây nhất (2007-2009) xuất phát từ việc cho vay “dưới chuẩn” của các NH, đặc biệt là ở

Mỹ, buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các NH Việc táicấu trúc NH trở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi quốc gia, đảm bảo cho các NH thích nghiđược với nhu cầu phát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động

1.1 Khái niệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

Cụm từ "tái cấu trúc hệ thống ngân hàng" chỉ dùng khi có bằng chứng mất khả năng

thanh toán của một bộ phận trong hệ thống ngân hàng thương mại ở một quy mô nhất địnhnào đó, mà theo như một số tác giả thì tương đương với 20% tổng lượng tiền gửi trong hệthống ngân hàng Nếu ở quy mô nhỏ hơn thì cụm từ "tái cấu trúc ngân hàng" là chính xáchơn, liên quan đến việc xử lý khả năng mất thanh khoản của từng ngân hàng riêng biệt

Tái cấu trúc ngân hàng là các biện pháp nhằm khắc phục các khiếm khuyết của hệthống ngân hàng, nhằm mục đích duy trì ổn định và hiệu quả chức năng trung gian tài chínhcủa hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng thanh toán và tín dụng,đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM

1.2 Các biện pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

Giả thiết rằng hệ thống ngân hàng đang trên bờ vực khủng hoảng, mất khả năngthanh toán do nợ xấu tăng mạnh và thiếu hụt thanh khoản (ở một số ngân hàng, và có khảnăng lây lan rộng và nhanh chóng), cần phải thực thi ngay việc tái cấu trúc nó Lúc này, tìnhhình đã vượt khỏi phạm vi trách nhiệm và can thiệp của NHNN

Chính phủ cần phải đưa ra một gói chính sách và giải pháp, bao gồm chuẩn đoán ởtầm vĩ mô các nguyên nhân gây ra rủi ro đổ vỡ hệ thống cũng như các giải pháp ở tầm vi mô

để tăng cường giám sát hoạt động ngân hàng, sửa chữa những thiếu sót trong hệ thống pháp

lý, luật lệ và trong công tác kế toán, kiểm toán, và cứu vớt hay giải thể các ngân hàng mấtkhả năng thanh toán Sự thành công của việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng phụ thuộc rấtnhiều vào một chiến lược toàn diện xử lý hữu hiệu tất cả các vấn đề này

Để tái cấu trúc thành công trong dài hạn cần sử dụng các phương pháp thỏa mãnđược các tiêu chí: tiết kiệm tối đa phí tổn, đơn giản khi thực hiện, phân bổ tổn thất một cách

Trang 4

công bằng, giảm thiểu gánh nặng tài chính cho khu vực công, tránh tạo ra thêm các rủi rođạo đức, và nâng cao chất lượng quản trị ngân hàng.

Về mặt pháp lý, quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng sẽ bao gồm 4 công việc có

liên quan đến nhau:

Thứ nhất, phục hồi lòng tin vào hệ thông ngân hàng (thông qua bảo lãnh tiền gửi,

củng cố cơ cấu thể chế, thi hành các chuẩn mực kiểm toán và kế toán quốc tế, nhất là chitiêu phân loại tài sản, thắt chặt công tác giám sát tuân thủ luật lệ, đào tạo cán bộ thanh tragiám sát của Chính phủ và nhân lực kiểm toán

Thứ hai, thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho can thiệp của Chính phủ nhằm đảm

bảo rằng hệ thống bảo hiểm tiền gửi có đủ vốn để xử lý khủng hoảng và có thể được sửdụng một cách nhanh chóng và hiệu quả, và Chính phủ có được một quy trình toàn diện vềtheo dõi và đánh giá liên tục tình trạng nợ xấu và mất thanh khoản trong hệ thống ngânhàng, tránh được tình trạng bị động

Thứ ba, thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho can thiệp của Chính phủ vào ngân hàng

mất khả năng thanh toán Quá trình can thiệp của Chính phủ sẽ làm nảy sinh một số vấn đề

về pháp lý liên quan đến việc nắm giữ cổ phần của các cổ đông hiện tại và vì thế cần có luậttương ứng để điều chỉnh Ví dụ, khi Chính phủ bơm vốn vào cho một ngân hàng và nếumuốn các cổ đông hiện tại phải rút bớt cổ phần tương ứng để Chính phủ trở thành cổ đôngchính có quyền bổ nhiệm người của mình vào các vị trí quản lý thì cần phải có một luật chophép Chính phủ làm như vậy nếu họ không tự nguyện xin rút

Thứ tư, thiết lập một cơ cấu để phục hồi tối đa các khoản nợ xấu Phần nợ xấu (đáng

kể) sau khi đã được phân loại thì chuyển giao xử lý cho (i) một bộ phận độc lập trong ngânhàng, chuyên trách về việc phục hồi tài sản; hoặc (ii) một cơ quan chuyên trách của Chínhphủ như công ty quản lý tài sản (ACM) chuyên tiếp nhận, quản lý và thanh lý tài sản xấu

Như vậy, có thể thấy quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là một quá trình lâudài, bao gồm nhiều biện pháp pháp lý triển khai theo từng bước từ những biện pháp khẩncấp lập lại lòng tin đến việc tạo dựng những cơ chế để xử lý những ngân hàng đổ vỡ và giảiquyết tài sản tồn đọng của chúng

Bên cạnh tính pháp lý, yếu tố con người cũng rất quan trọng Những cán bộ thanh tra

giám sát ngân hàng cần phải được đào tạo và trang bị các kỹ năng để thực thi các luật định,

và các nhà quản lý ngân hàng cần phải thấy được các lợi ích thiết thực khi tuân thủ nghiêmtúc các luật định phòng ngừa rủi ro và thi hành các tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán quốc tế.Nói cách khác, khuôn khổ pháp lý xung quanh viêc tái cấu trúc ngân hàng cần đảm bảo một

cơ cấu thưởng phạt nhất quán để trừng trị các hành động gian lận, đầu cơ, đồng thời tưởngthưởng thái độ tuân thủ pháp luật về phòng ngừa rủi ro

1.3 Các bước thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

Trang 5

Có thể nói, công cuộc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thành công đã tạo ra một môitrường thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng nói riêng và đóng góp vào sựphát triển kinh tế nói chung của cả nước Mỗi quốc gia với đặc điểm kinh tế, chính trị, xãhội riêng đã tạo ra những màu sắc tái cấu trúc riêng của chính mình nhưng tựu chung thựctiễn kinh nghiệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cho thấy quá trình tái cấu trúc hệ thốngngân hàng ở hầu hết các nước đều thực hiện các bước cơ bản là:

1.4 Một số điểm đáng chú ý trong hoạt động tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

Quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở một số quốc gia như Trung Quốc, HànQuốc… cho thấy một số điểm đáng chú ý sau:

- Tái cơ cấu ngân hàng cần được hoàn thành một cách nhanh chóng và rộng khắp đểgiúp cho thị trường tài chính có thể phục hồi chức năng trung gian một cách nhanh nhất.Quá trình tái cơ cấu diễn ra càng chậm thì nguy cơ khủng hoảng tín dụng càng lớn và hậuquả càng nghiêm trọng Các ngân hàng yếu kém sẽ có thể vẫn tiếp tục cho vay các doanhnghiệp và làm gia tăng nguy cơ nợ xấu, ảnh hưởng đến cả hệ thống ngân hàng

- Cần giảm thiểu rủi ro đạo đức khi giải quyết các ngân hàng có vấn đề, quyền lợi vàtrách nhiệm của cổ đông, người lao động và người quản lý cần được xem xét và điều chỉnhmột cách công bằng

- Tái cơ cấu ngân hàng cần được thực hiện đồng thời với việc minh bạch và côngkhai hóa thông tin

- Trong quá trình tái cơ cấu vai trò của Ngân hàng Trung ương sẽ tác động tới cácđơn vị tổ chức kinh doanh thông qua việc điều hành chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thịtrường Trong đó, Ngân hàng Trung ương có thể tham gia vào quá trình tái cơ cấu thông quamột số phương thức như: tạo ra một môi trường vĩ mô ổn định làm “vật truyền dẫn” cho quátrình tái cơ cấu; tạo tính thanh khoản cho thị trường để đảm bảo tính ổn định cho thị trườngtài chính; đóng vai trò trung gian trong quá trình tái cơ cấu; tăng cường hợp tác quốc tếnhằm cải thiện lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài…

- Những hạn chế của luật pháp như thiếu các quy định phù hợp về thanh lý tài sản,luật phá sản, việc chậm trễ và thiếu kinh nghiệm của tòa án với quá trình xử lý phá sản… làtrở ngại trong quá trình tái cơ cấu Do vậy, để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thành công cầnkết hợp các biện pháp tài chính với những cải cách quy định và luật pháp

- Cải cách quản trị công ty đóng vai trò quan trọng trong tái cơ cấu góp phần đảm bảothành công của công cuộc cải cách vì đây là biện pháp giải quyết những yếu kém căn bản

Trang 6

Hệ thống ngân hàng Mỹ

Cục dự trữ liên bang (Fed)

Hệ thống các ngân hàng thương mại

Hội đồng thống

đốc Ủy ban thị trường

12 ngân hàng dự trữ liên bang khu vực

Các ngân hàng thành viên

của hệ thống ngân hàng phụ thuộc nhiều vào các ngân hàng thương mại nhà nước và kémhiệu quả

- Tái cơ cấu ngân hàng nên đi đôi với tái cơ cấu doanh nghiệp

- Chế độ xã hội và đặc điểm tổ chức kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia có ảnh hưởngtới cách tiếp cận trong cải cách và tái cơ cấu, qua đó ảnh hưởng tới hiệu quả và tốc độ tái cơcấu

2 Cấu trúc hệ thống ngân hàng Mỹ

Hệ thống ngân hàng ở Mỹ gồm Cục dự trữ liên bang và hệ thống các ngân hàngthương mại

-Cục dự trữ liên bang (Federal Reserve System – Fed) là ngân hàng trung ương của Hoa

Kỳ Bắt đầu hoạt động năm 1915 theo "Đạo luật Dự trữ Liên bang" của Quốc hội Hoa

Kỳ thông qua cuối năm 1913 Fed bề ngoài là ngân hàng của chính phủ, bao gồm Hội đồng thống đốc đóng tại thủ đô Washington được chỉ định bởi Tổng thống Hoa Kỳ, Ủy ban thị trường, 12 Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và các ngân hàng thành viên có sở hữu một

phần ở các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực Fed có các nhiệm vụ sau:

1 Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia bằng cách tác động các điều kiện tiền tệ và tíndụng với mục đích tối đa việc làm, ổn định giá cả và điều hòa lãi suất dài hạn

2 Giám sát và quy định các tổ chức ngân hàng đảm bảo hệ thống tài chính và ngânhàng quốc gia an toàn, vững vàng và bảo đảm quyền tín dụng của người tiêu dùng

3 Duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinhtrên thị trường tài chính

4 Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chứcchính thức nước ngoài, và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành

hệ thống chi trả quốc gia

- Hệ thống ngân hàng thương mại tại Mỹ về cơ bản thì ngân hàng thương mại được

tổ chức thành ba bộ phận lớn: Trực tiếp kinh doanh, Kế toán kho quỹ và Kế hoạchkiểm tra

Trang 7

II - Khủng hoảng tài chinh 2007-2009

1 Hệ thống ngân hàng Mỹ trước khủng hoảng

- Cuối năm 2001, khi nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái, FED đã liên tục cắt giảm lãisuất Chính sách tiền tệ mở rộng đã khuyếch trương các hoạt động kinh tế Đến giữa năm

2002, nền kinh tế đã thực sự phục hồi nhưng mối lo ngại về việc suy thoái có thể quay trở lại

đã khiến Chủ tịch FED, Alan Greenspan, và đồng nghiệp quyết định giữ nguyên lãi suất chỉđạo ở mức 1% trong suốt 2 năm 2003 và 2004 Căn cứ vào “tín hiệu” của ngân hàng trungương, lãi suất trên hầu khắp các thị trường tài chính đều đã giảm mạnh Đặc biệt, lãi suất đốivới khoản vay cố định 30 năm chỉ ở mức 4% đến 5%, thấp nhất trong vòng 40 năm qua

- Cuối năm 2002, hoạt động của thị trường nhà ở diễn ra sôi động nhờ thu nhập cánhân tăng, lãi suất cho vay thế chấp thấp và các khoản tín dụng dồi dào Điều này đã khiếncho tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều muốn tranh thủ kiếm lời Người dân đổ xô đimua nhà nhằm kiếm lời bởi họ tin tưởng rằng giá nhà sẽ tăng cao hơn

Chính phủ Clinton của Đảng Dân Chủ thời đó chủ trương trợ giúp người nghèo đượcmua nhà và áp đặt chính sách cho vay tiền dễ dãi đối với hai công ty lớn có sự bảo đảm củachính phủ là Freddie Mac và Fannie Mae Hai công ty này không trực tiếp cho người dânvay mà mua lại (mua sỉ) của nhà băng địa ốc khác Chính sách cho vay tiền mua nhà dễdàng đã khiến một số nhà băng áp dụng cách Sub-prime lending nghĩa là cho vay tiền muanhà với lãi xuất cao hơn bình thường nhưng bù lại với điều kiện rất thấp, sau đó bán lại choFreddie Mac và Fannie Mae

Để che dấu nguy cơ, các ngân hàng gom các món nợ địa ốc thành những MBS vàCDO bán lại cho các công ty Fannie Mae và Freddie Mac là những cơ sở cho vay địa ốcđược sự bảo trợ của chính phủ Chính quyền Mỹ dưới thời phe Dân Chủ lúc đó chủ trươngtạo điều kiện cho người dân có nhà nên sẵn sàng tài trợ cho những món nợ này Ngoài ra,nhằm giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng chủ nợ trao đổi CDS với các công ty bảo hiểm, chẳnghạn như công ty AIG

Nhiều tổ chức tài chính (như Citigroup, Goldman Sachs, Bank of America) đã thiếtlập các chi nhánh (affiliates) có tên gọi là Các Phương tiện Cấu trúc Đầu tư (StructuredInvestment Vehicles, SIV) Những tài sản rủi ro cao (hầu hết liên quan đến vay thế chấp)được chuyển giao đến các SIV, sau đó SIV thâm nhập vào thị trường thương phiếu tìmnguồn tài chính Khi các chứng khoán thế chấp “rơi tự do”, thị trường thương phiếu đã mất

300 tỷ USD vào cuối năm 2007 Nhiều SIV đã không thể đảo hạn được các thương phiếucủa họ (nợ ngắn hạn, được gia hạn hàng ngày hoặc hàng tuần)

Trang 8

Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ tình trạng bong bóng của thị trường nhà đất ở Mỹ (tìnhtrạng này diễn ra khoảng năm 2005 - 2006) với những khoản vay dưới chuẩn có nguy cơ rủi

ro cao và các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh Từ vài năm trước đó, giá nhà tăng caocùng với việc được phép vay với điều kiện rất đơn giản, nhiều khách hàng đã tranh thủ tiềncủa các ngân hàng đầu tư để đầu cơ vào bất động sản với hi vọng kiếm được nhiều tiền từcác khoản mua bán chênh lệch

Điểm lại những mốc sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như thếnào:

• Năm 2002-2004: Giá cả ở các bang Arizona,California, Florida, Hawaii, và Nevada tăng

trên 25% một năm Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu

• Năm 2005: Bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ vào tháng 08/2005 Thị trường bất động sản tạm

gián đoạn trên một vài bang ở Mỹ vào cuối mùa hè năm 2005 khi tỷ lệ lãi suất tăng từ 1%lên đến 5.35% do có nhiều nhà kinh doanh bất động sản đã đánh giá thấp thị trường

• Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Giá giảm, kinh doanh bất động

sản, dẫn đến một lượng nhà dư thừa đáng kể Chỉ số Xây dựng Nhà ở tại Mỹ hồi giữa tháng

08 giảm hơn 40% so với một năm trước đó

• Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng nhà tồn ước tính cao

nhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vaydưới chuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu để thế chấp nợ,tăng 79% từ năm 2006 Thư ký bộ tài chính Mỹ gọi bong bóng bất động sản lần này là “mốinguy hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế”

• Năm 2008 với những mốc đáng nhớ sau:

- Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu đểtránh phá sản Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để trợ giúp các khoản lỗ củaBear Stearn

- Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báo cáo thua lỗlên đến 435 tỷ đôla

- Ngày 07/09: Cục dự trữ liên bang dành quyền kiểm soát hai tập đoàn Fannie Mae vàFreddie Mac

- Ngày 14/09: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ đô la

- Ngày 15/9: Lehman Bothers tuyên bố phá sản Ngay sau đó, 3 loại chỉ số ở Mỹ bao gồmchỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể từ sau sự kiện 11/9/2001

- Ngày 17/09: Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công ty này tránhphá sản

- Ngày 19/09: Kế hoạch giải cứu tài chính của bộ trưởng tài chính Paulson trị giá 700 tỷ

đô la được công bố sau một tuần bất ổn trên thị trường tài chính và nợ tín dụng Tuy nhiên,quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này

- Ngày 26/9: Ngân hàng Washington Mutual – ngân hàng tiết kiệm lớn nhẩt Mỹ đượcchính phủ tiếp quản và sau đó được bán lại cho JP Morgan Chase& Co với giá 1.9 tỷ đôla

Trang 9

- Ngày 29/09: Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ do bộ Tàichính Mỹ đề xuất.

- Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân hàng cho vaydưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ cho đối thủ Citigroup

2.2 Nguyên nhân:

Cho vay dưới chuẩn

Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation)để biếncác khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS,CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường

Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhàthì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất độngsản làm tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làmgiá bất động sản càng giảm Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu cànggiảm và rủi ro tín dụng càng tăng

Mua bán khống

Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho vay dướichuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên một áp lực giảmgiá lớn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, họ sẽ mua và trả lại nơicho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn

Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (naked short sale), tức làkhông thèm vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh xuống” vì lợi dụng khe

hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu Bộ trưởng Tư pháp bang New York, AndrewCuomo than: “Họ giống như kẻ hôi của sau một cơn bão”

Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ

Có tiền, các công ty cứ thoải mái cho người vay bằng tiền của các ngân hàng đầu tư cungcấp thông qua mua lại danh mục cho vay của các công ty này Các ngân hàng này trên cơ sởdanh mục cho vay vừa mua lại sẽ phát hành CK để vay tiền Danh mục cho vay được chia

ra, ít rủi ro, rủi ro cao, tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểmcủa mình Có loại CK không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũnglớn

Như vậy, rủi ro trong cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tài chính sang NHđầu tư Nhà đầu tư lắm tiền trên thế giới đã đổ tiền mua CK này, nhờ vậy đã cung cấp mộtlượng vốn khổng lồ cho thị trường BĐS ở Mỹ tăng nóng

Khủng khoảng niềm tin

Trang 10

Theo GS Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu tư sự sụp đổ thảm khốc của niềm tin.Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản Những giao dịchphức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị tài sản thực củangân hàng Đây là một trò chơi mà con người ta khi bắt đầu cảm nhận thấy mùi của sự thua

lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ xuất hiện, cả thị trường xuống dốc và tất cảmọi người đều bị thua lỗ

Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xói mòn,xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy đã xuống mộtmức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục

III Tái cấu trúc hệ thống NH Mỹ sau khủng hoảng tài chính 2007- 2009

1 Mỹ thực hiện các biện pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.

- Fed kiểm tra năng lực tài chính của các Ngân hàng lớn

- 5/2009, báo cáo cuối cùng về kết quả cuộc kiểm tra tình hình tài chính của 19 ngân

hàng lớn nhất nước Mỹ chính thức được công bố 10 trong số 19 ngân hàng này phải tăngvốn để duy trì hoạt động, các ngân hàng còn lại vẫn còn đủ khả năng trụ vững qua thời suythoái, tính tới giờ phút này

Các ngân hàng đang có tình hình tài chính tốt nhất theo kết quả cuộc kiểm tra của Fed

là Ngân hàng New York Mellon với tỷ lệ vốn cấp 1 là 13,1%, State Street Corp với 12,5%

và American Express với 10,8%

Theo kết luận của Fed, tổng số vốn các ngân hàng cần phải bổ sung lần này lên tới74,6 tỉ USD Trong đó, Bank of America cần 33,9 tỉ USD Sau đó là Wells Fargo cần cóthêm 13,7 tỉ USD nữa, GMC LLC cần thêm 11,5 tỉ USD, Citigroup cần 5,5 tỉ USD, MorganStanley cần 1,8 tỉ USD 5 ngân hàng cần tăng vốn còn lại là các ngân hàng cấp vùng Số liệucho thấy, chỉ trong có vài tuần, số vốn 65 tỷ USD đã được các ngân hàng lớn nhất nước Mỹhuy động thành công

- 3/2012, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cho biết 15 trong 19 doanh nghiệp sở hữu

ngân hàng lớn nhất Mỹ đã vượt qua cuộc kiểm tra năng lực tài chính (stress test) áp dụng đểxem liệu các tổ chức tài chính hàng đầu có khả năng chịu được một cuộc suy thoái kinh tếnghiêm trọng khác hay không Kết quả cho thấy đa số các ngân hàng lớn nhất của Mỹ sẽtiếp tục đáp ứng được kỳ vọng quản lý an toàn vốn dù tổn thất lớn trong một kịch bản kinh

tế giả định cực kỳ bất lợi JPMorgan Chase, Wells Fargo và American Express dễ dàng vượtqua cuộc kiểm tra 4 ngân hàng không vượt qua được stress test là Citigroup, Ally Bank,Sun Trust và MetLife Bank, một đơn vị thuộc hãng bảo hiểm khổng lồ MetLife

- Tập trung xử lý nợ xấu

+ Hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ thông qua việc bơm vốn, tung ra chính sách chứng khoán hóa các khoảng nợ xấu của các NHTM.

Trang 11

Chính phủ Mỹ mua nợ xấu của một số ngân hàng, sau đó tái cấp vốn cho nhiều ngân hàng dưới hình thức mua cổ phiếu ưu đãi, ngay cả khi một số ngân hàng không muốn

nhận tiền cứu trợ Một vài ngân hàng lớn đã bị ép phải nhận tiền cứu trợ của Chính phủMỹ

• FED đã mua hơn 2.000 tỉ đôla trái phiếu của Hoa Kỳ và các khoản cho vay thế chấpmua nhà kể từ cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008

• Bộ Tài chính, Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) và Cục Dự trữ liênbang Mỹ (FED) của Hoa Kỳ đã cho ra đời ngân quỹ (dưới dạng các gói tiền 200 tỷUSD, 500 tỷ USD hay thậm chí là 700 tỷ USD) nhằm bảo lãnh cho việc chứng khoánhóa các khoản nợ xấu Mục đích chính là giảm bớt sự mất mát của các công ty này vàtrút vốn vào hệ thống tài chính để khôi phục niềm tin và đẩy lui cuộc khủng hoảng tíndụng có nguy cơ đẩy nền kinh tế lún sâu vào trì trệ

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) quyết định bơm 700 tỷ USD Lượng tiền này đượcphân bổ một phần để mua lại nợ xấu ngân hàng thương mại, một phần dùng để giảiquyết thanh khoản tạm thời cho những đơn vị yếu kém Phần còn lại - nhưng chiếm tỷtrọng lớn - là để mua cổ phiếu ưu đãi của các ngân hàng

FED lựa chọn mua cổ phiếu ưu đãi thay vì loại phổ thông Cổ phiếu ưu đãi được hưởngmức cổ tức cố định, không phụ thuộc vào khả năng sinh lời nhưng lại không có quyềntham gia vào việc điều hành ngân hàng FED chỉ muốn đẩy một ít dòng tiền để ngânhàng có vốn đầu tư và thoát khỏi tình trạng tồi tệ - về mặt bản chất chính là FED chovay - nhưng họ chủ trương nắm quyền kiểm soát các ngân hàng nên việc họ chọn loại

cổ phiếu ưu đãi

• Mỹ trong quá trình tiến hành xử lí nợ xấu đã nhận thấy sau khi bong bóng vỡ, thịtrường bất động sản èo uột là nguyên nhân dẫn đến việc thu hồi vốn chậm của các cánhân doanh nghiệp, sâu xa hơn là các NHTM Chính vì thế, chính phủ nước này mạnhtay tung gói cứu trợ 300 tỷ USD nhằm giúp đỡ 400.000 người dân trước nguy cơ mấtnhà Ngoài ra, gói cứu trợ 14,5 tỉ USD nhằm giảm thuế nhà đất để kích thích cầu đấttrong thị trường Đó là chưa kể những động thái mua lại các NHTM thua lỗ, điển hình

là việc tập đoàn tài chính Countrywide Financial – tập đoàn cho vay thế chấp lớn nhất

Mỹ đã được ngân hàng Bank of America mua lại sau khi Countrywide rơi vào tìnhtrạng “mất tiền” do khách hàng thua lỗ không hoàn vốn

+ Thành lập công ty quản lý tài sản (Asset Management Company - AMC) để thu mua nợ xấu Cơ quan này sẽ đứng ra mua lại các khoản nợ xấu ngân hàng, sau đó xử lý để bán lại các khoản nợ đã mua này.

Công ty mua bán nợ do bộ Tài chính quản lý và thành lập một định chế tài chính độc lập để

xử lý việc này

Trang 12

AMC (một cơ quan thu hồi nợ xấu tập trung xử lý các khoản nợ lớn và phức tạp; phầncòn lại do các ngân hàng tự giải quyết theo thỏa thuận của ngân hàng với Bộ Tài chính)Các khoản nợ xấu sẽ được tách khỏi bảng cân đối của ngân hàng Các khoản nợ xấu củangân hàng sẽ được chuyển sang một công ty quản lý tài sản hoặc một cơ quan quản lý vềthanh khoản ngân hàng để các đơn vị này phụ trách việc thu hồi các khoản nợ xấu Công tyquản lý tài sản được thành lập dưới hình thức này trong giai đoạn đầu hoạt động chủ yếu làcác doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.

Bộ Ngân Khố sẽ giúp tài trợ một số quỹ công-tư hợp-đầu- tư (Public-private investmentfunds) để mua hết các tài sản độc hại dưới dạng chứng khoán (securities) hay trái phiếu(bonds)

Các khoản nợ xấu sẽ được phân loại và được các công ty nợ xấu hoặc các tổ chức tương tựmua lại Động thái này một mặt tạo vốn cho các NHTM để hoạt động trong thời gian cấpbách, một phần khiến các nhà đầu tư lạc quan hơn, kích thích kênh đầu tư tạo cơ hội cho nềnkinh tế tái hoạt động Để bổ trợ cho giải pháp này, các công ty nợ xấu còn giúp nhữngNHTM yếu kém giải quyết các vấn đề thanh khoản tạm thời nhằm tạo động lực cho việc táicấu trúc hệ thống

+ Kết hợp với DN tư nhân giải quyết nợ xấu

Hoa Kỳ ngoài sự can thiệp chính phủ đã mở rộng kênh giải cứu nền kinh tế Điển hình nhất

là việc kết hợp với doanh nghiệp tư nhân giải quyết nợ xấu Chính phủ Hoa Kỳ rót tiền hỗtrợ vào các ngân hàng lớn nhằm gián tiếp khuyến khích mua lại các NHTM yếu kém và các

tổ chức tính dụng sắp phá sản Điều này giúp chia nhỏ những món nợ khổng lồ, chia nhỏ rủi

ro và áp lực lên vai ngân hàng nhà nước

Cơ quan Federal Deposit Insurance Corporation FDIC sẽ đứng ra giám sát một chương trìnhbán những món “tài sản độc hại” (toxic assets) của các nhà băng cho giới đầu tư, chẳng hạnnhư các quỹ đầu tư hay các nhà băng khác Những món nợ này được bán đấu giá và điểmquan trọng là chính phủ sẽ cho vay 85% giá trị đầu tư Ngoài ra, Bộ Ngân Khố sẽ bỏ vàothêm một đồng cho mỗi đồng mà giới đầu tư bỏ ra Như vậy, giới đầu tư chỉ phải bỏ ra 7,5%tiền đầu tư, nếu sau này có lãi thì cưa đôi với chính phủ mà lỗ thì chính phủ lãnh gần đủ

Bộ Ngân Khố có thể sẽ bơm thêm $1 ngàn tỷ nữa qua chương trình Term Asset-BacketSecurities Loan Facility (TALF) trước đây nhằm khuyến khích vay mượn của giới tiêu thụ

và doanh nghiệp, nay mở rộng ra tài trợ giới đầu tư địa ốc luôn, kể cả những tài sản độc hại

Trang 13

+ Fed áp dụng chính sách thả lỏng tiền tệ, cắt giảm tối đa lãi suất căn bản xuống mức chưatừng thấy là 0 - 0.25% nhằm cung cấp tín dụng dồi dào cho doanh nghiệp để kích thích hoạtđộng.

+ Các gói cứu trợ nới lỏng định lượng cuả FED

QE là gì?

(QE là 1 công cụ tiền tệ được các NHTW sử dụng để kích thích nền kinh tế Đây là 1 công

cụ mới, khác với các công cụ thông thường và hiện nay vẫn gây nhiều tranh cãi Thông thường, khi nền kinh tế lâm vào suy thoái hoặc tăng trưởng rất chậm chạp trong 1 thời gian quá dài, Fed sẽ giảm lãi suất ngắn hạn để có thể đẩy mạnh cho vay và chi tiêu Tuy nhiên, hiện nay, Fed đã cắt giảm lãi suất xuống mức thấp nhất có thể nhưng nền kinh tế vẫn chật vật Lãi suất đã ở mức gần 0 và Fed không thể đi xa hơn được nữa

Bởi vậy, thay vào đó, NHTW có thể dùng đến các gói QE Fed có thể mua vào các tài sản dài hạn như trái phiếu kho bạc hoặc các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS) từ các ngân hàng thương mại và các định chế tài chính khác Lượng tiền này được bơm vào nền kinh tế và sẽ khiến lãi suất dài hạn giảm xuống trong tương lai Khi lãi suất dài hạn giảm xuống, nhà đầu tư có nhiều lựa chọn hơn trong việc tiêu tiền

Tính đến nay, Fed đã ba lần thực hiện chương trình mua tài sản, cái được gọi với tên

“chương trình nới lỏng định lượng” :

QE1 = 1,700 tỷ USD (tháng 12/2008) : Được thực hiện cuối năm 2008 khi cuộc khủng

QE2 = 600 tỷ USD (tháng 08/2010) : Ngày 03/11/2010, FED quyết định bơm thêm 600 tỷ

USD cho chương trình nới lỏng định lượng lần thứ 2 (QE2) để mua trái phiếu chính phủ dàihạn từ 2-10 năm

Khi gói QE được tung ra, khả năng thị trường hàng hóa toàn cầu sẽ tăng giá dữ dội hơn Chiphí nguyên liệu đầu vào tăng mạnh khiến ngành sản xuất gặp khó khăn, buộc lòng phải tăng

Ngày đăng: 21/11/2015, 00:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w