Với việc độc quyền phát hành tiền thì chính phủ có thể điều chỉnh được lượng tiền lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể tăng giảm lãi suất để tăng lượng cầu hay giảm lượ
Trang 1Bài thảo luận môn Thị trường tiền tệ
Nhóm 6 Lớp NHK-K9
Đề tài:
VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
I TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC
1 Ngân hàng trung ương là ngân hàng độc quyền phát hành tiền
2 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng.
3 Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của chính phủ
II VAI TRề ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ CỦA NHTW
1 Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
2 Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống liên ngân hàng
III THỰC TRẠNG
1 Chính sách tiền tệ trong điều tiết lượng tiền cung ứng của thị trường tiền tệ
2 Một số hạn chế, bất cập của thị trường tiền tệ
IV GIẢI PHÁP
Trang 2I - Tổng quan về vai trò của Ngân Hàng Nhà Nước.
1. Ngân hàng trung ương là ngân hàng độc quyền phát hành tiền
Độc quyền phát hành tiền cố nghĩa là NHTW là cơ quan duy nhất được phép phát hành tiền theo quy định của pháp luật hoặc được chính phủ phê duyệt nhằm bảo đảm thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thong tiền tệ quốc gia
Với việc độc quyền phát hành tiền thì chính phủ có thể điều chỉnh được lượng tiền lưu thông để
có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể tăng giảm lãi suất để tăng lượng cầu hay giảm lượng cầu ứng với mỗi thời điểm của nền kinh tế Do vậy NHTW phải có trách nhiệm xác định số lượng tiền cần phát hành, thời điểm, phương thức và nguyên tắc phát hành tiền để đảm bảo sự
ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế
2 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng.
a Ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của các ngân hàng trung gian
Vỡ các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính trong nước đều phải mở tài khoản và kí gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại Ngân hàng Trung ương nên các ngân hàng này có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng Trung ương Thông qua dịch vụ thanh toán bù trừ, Ngõn hàng Trung ương góp phần tiết kiệm chi phí thanh toán cho cácngân hàng trung gian và cho toàn xã hội, thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển vốn trong hệ thống ngân hang và phản ánh chính xác các quan hệ thanh toán giữa các chủ thể trong kinh tế Hơn nữa, thong qua hoạt động này Ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát sự biến động vốn khả dụng của từng ngân hang trung gian và có biện pháp điều chỉnh hợp lý
b Ngân hàng trung ương là ngân hàng quản lý dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân hàng trung gian Dự trữ bắt buộc là tiền mặt, và tỉ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu là tỉ lệ % tiền mặt trên tổng
số tiền mặt do nhân dân gửi vào mà các ngân hàng thành viên phải lưu lại trong kho tiền mặt của ngân hàng hay kí gửi tại ngân hàng trun
Dự trữ bắt buộc là tiền mặt, và tỉ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu là tỉ lệ % tiền mặt trên tổng số tiền mặt do nhân dân gửi vào mà các ngân hàng thành viên phải lưu lại trong kho tiền mặt của ngân hàng hay kí gửi tại ngân hàng trung ương, không được cho vay hết
Khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên, cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống ngân hàng thương mại
và tổ chức tài chính cũng giảm ngay tức khắc và ngược lại Bằng việc quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc ngân hàng trung ương quản lý một cách chặt chẽ tốc độ và cung ứng tiền ngân hàng của
hệ thống ngân hàng trung gian c Ngân hàng trung ương
c Ngân hàng trung ương cung cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian
Trang 3Thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá ngắn hạn Mục đích của nghiệp vụ này là:
+ Phát hành thêm tền trung ương theo kế hoạch
+ Bổ sung them vốn khả dụng cho các ngân hàng trung gian một cách thường xuyên
+ Là cứu cánh cuối cùng khi các ngân hàng trung gian gặp những khó khăn bất khả kháng và
có nguy cơ lan tỏa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn hệ thống
Các điều kiên chiết khấu thường là chặt chẽ và được giới hạn bởi mức tái chiết khấu, các quy định về chất lượng và chủng loại chứng từ có giá được chấp nhận để chiết khấu
3 Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của chính phủ
NHTW có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho Chính phủ Bao gồm:
* Làm thủ quỹ cho Kho bạc Nhà nước Băng việc mở tài khoản của Kho bạc Nhà nước để ghi chép các khoản tiền gửi của Chính phủ, các khoản thu của Nhà nước… được gửi vào tài khoản này
Tạm ứng cho Ngân sách
* Làm đại lý tư vấn cho Chính phủ:
+ làm đại lý cho Chính phủ trong việc phát hành chứng khoán Chính phủ
+ bảo quản dự trữ quốc gia về ngọa tệ, vàng bạc và tài sản quý khác
+ Đại diện chính phủ tại các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế
+ Tham gia vào quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội
II - Vai trò của điều tiết vĩ mô của NHTW
Mọi họat động của ngân hàng trung ương đều ảnh hưởng mật thiết đến cung ứng tiền trong nền kinh tế Cung ứng tiền thay đổi làm biến động giá cả, sản lượng quốc gia, do đó một cách gián tiếp mọi họat động ngân hàng ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế Ảnh hưởng của cung ứng tiềnđến nền kinh tếSự khác biệt trong chính sách cung ứng tiền là khoảng cách giữa chính sách cung ứng nới lỏng và chính sách cung ứng thắt chặt.Giả sử vào thời điểm ta nghiên cứu nền kinh tế đang bình thường Bây giờ, cho rằng ngân hàng trung ương quyết định thắt chặt cung ứng tiền để hạn chế lạm phát trong khi nhu cầu tiền trong nền kinh tế vẫn không thay đổi Chính điều này đã làm cho lãi suất tăng vọt Lúc này tiền sẽ khan hiếm hơn (do lượng cung giảm) Tiền khan hiếm thì giá trị của đồng tiền sẽ tăng theo do đó lạm phát sẽ giảm.Ngược lại, giả sử sau một khoảng thời gian chống lạm phát với cái giá là sự suy thoái (tiền khan hiếm, lãi suất cao bên cạnh đó sự thắt chặt tiền tệ của ngân hàng khiến doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay), ngân hàng trung ương bắt đầu chuyển sang cung ứng tiền nới lỏng Tổng cung tiền tệ
Trang 4tăng lên, lúc này lượng tiền tệ tăng lên và lãi suất giảm xuống Lúc này thì nền kinh tế phải đối mặt với thách thức mới là lạm phát có thể gia tăng (do có quá nhiều tiền trong lưu thông) Vì thế cho nên mỗi lần áp dụng mức lãi suất hay lượng cung ứng tiền ngân hàng trung ương phải đắn đo suy nghĩ những tác hại thiệt hơn cho mỗi chính sách tiền tệ
Ảnh hưởng của cung ứng tiền đến nền kinh tế
Sự khác biệt trong chính sách cung ứng tiền là khoảng cách giữa chính sách cung ứng nới lỏng
và chính sách cung ứng thắt chặt
Giả sử vào thời điểm ta nghiên cứu nền kinh tế đang bình thường Bây giờ, cho rằng ngân hàng trung ương quyết định thắt chặt cung ứng tiền để hạn chế lạm phát trong khi nhu cầu tiền trongnền kinh tế vẫn không thay đổi Chính điều này đã làm cho lãi suất tăng vọt Lúc này tiền sẽ khan hiếm hơn (do lượng cung giảm) Tiền khan hiếm thì giá trị của đồng tiền sẽ tăng theo do
đó lạm phát sẽ giảm
Ngược lại, giả sử sau một khoảng thời gian chống lạm phát với cái giá là sự suy thoái (tiền khan hiếm, lãi suất cao bên cạnh đó sự thắt chặt tiền tệ của ngân hàng khiến doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay), ngân hàng trung ương bắt đầu chuyển sang cung ứng tiền nới lỏng Tổng cung tiền tệ tăng lên, lúc này lượng tiền tệ tăng lên và lãi suất giảm xuống Lúc này thì nền kinh tế phải đối mặt với thách thức mới là lạm phát có thể gia tăng (do có quá nhiều tiền trong lưu thông) Vì thế cho nên mỗi lần áp dụng mức lãi suất hay lượng cung ứng tiền ngân hàng trung ương phải đắn đo suy nghĩ những tác hại thiệt hơn cho mỗi chính sách tiền tệ Chính sách cung ứng tiền nới lỏng làm cho tiền tệ trở nên dồi dào hơn Điều này kích thích tiêu dùng cho cuộc sống và cho đầu tư nhiều hơn Sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư làm sản xuất liên tục được mở rộng, tuyển mộ thêm công nhân, giảm thất nghiệp và gia tăng thu nhập quốc dân Nền kinh tế tăng trưởngvới giá cả tăng cao hơn trước
Chính sách cung ứng tiền thắt chặt làm cho chi phí để có tiền cao hơn và tiền trở nên khan hiếm Sản xuất thiếu vốn, người mua thiếu tiền buộc phải cắt giảm chi tiêu và đầu tư, điều này dẫn đến tổng cầu giảm và giá cả hạ Cái giá phải trả là sản xuất bị thu hẹp, thất nghiệp tăng, thu nhập quốc dân giảm và nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái.Do đó cung ứng tiền là sức mạnh đầy quyền lực của ngân hành trung ương Khi ngân hàng trung ương điều tiết cung ứng tiền tức là nó bắt đầu tiến hành điều tiết nền kinh tế
Do đó cung ứng tiền là sức mạnh đầy quyền lực của ngân hành trung ương Khi ngân hàng trung ương điều tiết cung ứng tiền tức là nó bắt đầu tiến hành điều tiết nền kinh tế
1 Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
a Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Trang 5* Hệ thống mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ
Mục tiêu trung gian
Khi xem xét mục tiêu trung gian này thực chất chỉ là phương tiện giúp cho NHTW đạt được mục tiêu là điều tiết nền kinh tế Xét về ngắn hạn lãi suất, dự trữ, tỷ giá thay đổi ảnh hưởng mộtcách nhanh chóng đến tiêu dùng và đầu tư và đến nền kinh tế Từ đó về mặt ngắn hạn các nhà kinh tế học xem ba tác nhân trên là những mục tiêu trung gian •
• Lãi suất
Lãi suất là tỉ lệ phần trăm giữa khoản tiền người vay trả cho người cho vay trên tiền vốn trong một khoảng thời gian nhất định như 1 năm, 1 tháng
Trang 6Giả sử lúc đầu lãi suất của thị trường tiền tệ là R0, ở mức lãi suất này nhu cầu tiêu dùng của nhân dân là AD0 và sản lượng quốc gia là Y0.Bõy giờ cho rằng ngân hàng trung ương và chínhphủ quyết định nâng lãi suất để giảm lạm phát Lãi suất cao hơn làm cho việc vay tiền trở nên khó khăn hơn do thế sản xuất không dám tiêu dùng nhiều vốn và sản xuất có xu hướng giảm
Trang 7sút Do lãi suất cao nên người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn và nhu cầu tiêu dùng giảm xuống Đường cầu AD0 dịch chuyển đến AD1 Tiêu dùng và đầu tư giảm làm giá cả giảm từ P0xuống P1, sản lượng tụt xuống Y1 và nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái Ngược lại khi lãi suất hạ xuống R2, sản xuất sẽ tiêu dùng nhiều vốn hơn, sản xuất được đẩy mạnh, lãi suất thấp người tiêu dùng sẽ tiết kiệm ít hơn và đầu tư và chi tiêu nhiều hơn do đó cầu sẽ tăng lên Giá cả cũng sẽ tăng và sản lượn
Bây giờ cho rằng ngân hàng trung ương và chính phủ quyết định nâng lãi suất để giảm lạm phát Lãi suất cao hơn làm cho việc vay tiền trở nên khó khăn hơn do thế sản xuất không dám tiêu dùng nhiều vốn và sản xuất có xu hướng giảm sút Do lãi suất cao nên người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn và nhu cầu tiêu dùng giảm xuống Đường cầu AD0 dịch chuyển đến AD1 Tiêu dùng và đầu tư giảm làm giá cả giảm từ P0 xuống P1, sản lượng tụt xuống Y1 và nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái
Ngược lại khi lãi suất hạ xuống R2, sản xuất sẽ tiêu dùng nhiều vốn hơn, sản xuất được đẩy mạnh, lãi suất thấp người tiêu dùng sẽ tiết kiệm ít hơn và đầu tư và chi tiêu nhiều hơn do đó cầu
sẽ tăng lên Giá cả cũng sẽ tăng và sản lượng quốc gia do đó cũng tăng lờn.• Dự trữ
• Dự trữ
Khi ngân hàng trung ương sử dụng tỷ lệ dữ trự bắt buộc như một công cụ, nó tác động trực tiếp đến cung ứng tiền Lúc đó dự trữ bắt buộc là công cụ mà việc cung ứng tiền là mục tiờu.Khi ngân hàng trung ương không sử dụng cách điều tiết trực tiếp bằng việc áp đặt tỷ lệ dự
Khi ngân hàng trung ương không sử dụng cách điều tiết trực tiếp bằng việc áp đặt tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nó có thể tác động đến dự trữ bắt buộc bằng cung ứng tiền Đó là cách điều tiết gián tiếp Bằng việc bán chứng khoán ra để thu tiền về (giảm lượng tiền trong lưu thông, tiền từ đó khan hiếm dần), từ đó mà lãi suất tăng lên và làm giảm việc cho vay Khi ngân hàng trung ươngxuất tiền ra để mua chứng khoán (tăng cung ứng tiền cho nền kinh tế, tiền dễ dàng để có hơn)
do đó làm giảm lãi suất, tăng khả năng cho vay
• Tỷ giá hối đoái( E ) Bằng việc thay đổi cung ứng tiền,
Bằng việc thay đổi cung ứng tiền, NHTW có thể làm tăng hay giảm giá đồng tiền nội địa so vớiđồng ngọa tệ Khi ngân hàng trung ương tăng cung ứng tiền tức là có quá nhiều đơn vị tiền nội địa trong sự so sánh với tiền nước ngoài, do vậy giá trị đồng tiền trong nước giảm từ Trong trường hợp ngược lại, khi NHTW thắt chặt tiền tệ, giảm cung ứng tiền xuống, đồng tiền trong nước trở nên khan hiếm hơn và từ đó giá trị đồng tiền trong nước tăng Tỉ giá trao đổi giảm xuống
Khi đồng tiền trong nước bị mất giá (tức là với một đơn vị ngọai tệ có thể đổi nhiều đồng nội tệhơn) lúc đó sẽ làm gia tăng xuất khẩu (bán hàng ra nước ngũai và thu tiền về bằng ngọai tệ, khi
Trang 8đổi ra nội tệ sẽ có lợi hơn do đồng nội tệ đã mất giá hơn trước ), do đó sẽ làm tăng GDP Và khiđồng tiền nội tệ tăng giá sẽ làm tăng nhập khẩu
Do những lý do trên tỉ giá hối đoái có tác động đến kinh tế vĩ mô và nắm được tỉ giá hối đoái này chính phủ cần NHTW điều tiết lượng cung ứng tiền
b Hệ thống công cụ chính sách tiền tệ
* Hệ thống công cụ trực tiếp
Là các quy định của NHTW nhằm tác động trực tiếp vào các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế khi hoạt động tài chính bị điều tiết chặt chẽ và các công cụ điều tiết gián tiếp chưa hoàn thiện, bao gồm: hạn mức tín dụng, ấn định lãi suất, tỷ giỏ…
* Hệ thống công cụ gián tiếp
- Dự trữ bắt buộc Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động trước hết vào khả năng mở rộng tiền gửi của hệ thống NHTM và đến lãi suất thị trường liờn ngân hàng Những thay đổi sau đó của mặt bằng lãi suất của nền kinh tế sẽ tác động đến tổng cầu và quyết định các mục tiêu vĩ mô
- Chính sách tái cấp vốn Bao gồm các quy định và điều kiện cho vay của NHTW đối với các NHTM thể hiện qua lãi suất tái cấp vốn, hạn mức tái cấp vốn đối với các chứng từ có giá được nhận tái cấp vốn NHTW có thể thay đổi một hoặc các điều kiện đó để tác động vào nhu cầu vay của hệ thong NHTM hoặc lãi suất thị trường lien ngân hàng, từ đó mà ảnh hưởng đến các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế
2.Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống liên ngân hàng
a Bảo đảm sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Sự hoạt động thiếu ổn định cuar mỗi ngân hàng cũng đều gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế.Điều này làm giảm lòng tin của công chúng, từ đó hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ bị tiêu cực Do vậy, viờvj NHTW thực hiện quản lý và kiểm soát hoạt động của các tổ chức tín dụng làrất cần thiết để dảm bảo sự hoạt động của chúng luôn luôn được duy trì trong khuôn khổ luật pháp và góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ đã hoạch định
b Bảo vệ khách hàng
Việc thực hiện thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng của NHTW còn nhằm mục đích bảo đảm sự cụngg bằng và bình đẳng trong quan hệ giữa các tổ chức tín ụng với khách hàng Điều này thể hiện:
- Bảo vệ lợi ích hợp pháp của khách hàng với tư cách là người đi vay thông qua các quy định chuẩn mực về vây vốn…
Trang 9- Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và có hiệu quả thông qua quy định về chất lượng và sự cập nhật thông tin mà các ngân hàng có nghĩa vụ phải cung cấp cho những người tham gia thị trường.
III - Thực trạng.
1 Chính sách tiền tệ trong điều tiết lượng tiền cung ứng của thị trường tiền tệ Sự bựng
phỏt của lạm phát vào những tháng đầu năm 2008 ít nhất cũng mang lại cho chúng ta một khía cạnh tích cực - làm cho nhiều người giật mình về vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Lý thuyết được thực tiễn làm sáng tỏ
a) Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ quốc gia tập trung vào việc giải quyết khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và tín dụng đáp ứng vốn cho hoạt động kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những quỹ đạo đã định, kiểm soát hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tín dụng khác, cùng với việc xác định tỷ giá hối đoái hợp lý nhằm ổn định và thúc đẩy kinh tế đối ngoại, hướng tới mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá
Nội dung quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là việc cung ứng tiền cho nền kinh tế Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thể thông qua hoạt động của thị trường mở (mua bán giấy tờ có giá), thị trường hối đoái (mua bán ngoại tệ) và để điều tiết mức tiền cung ứng, NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc…
Chính vì thế mà chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế là một điều hiển nhiên Không khó khăn nếu muốn chứng minh về vấn đề này, nhất là trong giai đoạn gần đây - chính phản ứng của thị trường đối với những thay đổi của chính sách tiền tệ sẽ là biểu hiện rõ nhất về những tácđộng của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Những thông tin về sự suy giảm và khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ “đại dịch” về cho vay bất động sản ở Mỹ là minh chứng rõ nhất cho thấy những tác động từ chính sách tiền tệ không chỉ mang lại sự tăng trưởng kinh tế
mà còn có thể mang lại hiểm họa cho cả thế giới Tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đang có những dấu hiệu bất ổn, ngoài những nguyên nhân khách quan, chủ quan;
Trang 10trong nước, ngoài nước thì trong đó, chính sách tiền tệ cũng đóng một vai trò không kém phần quan trọng
b) Chính sách tiền tệ và những dấu mốc đáng nhớ
Giai đoạn từ 1998 đến 2007, để đạt mục tiêu tăng trưởng - mục tiêu được xếp hàng đầu trong nhiều năm liền, chính sách tiền tệ đã được nới lỏng liên tục theo hướng: lãi suất ổn định (từ 01/12/2005 - 01/02/2008, lãi suất cơ bản luôn giữ ở mức 8,25%/năm), tỷ giá cũng ổn định nhưng tín dụng thì mở rộng Trong thời gian 10 năm, từ năm 1998 đến hết năm 2007, bình quântốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm khoảng 25%, riêng năm 2007, con số này đạt kỷ lục (cao nhất trong 10 năm) là 37,8% Bên cạnh họat động tín dụng, tiền còn được đưa vào lưu thông qua đường chi tiêu ngân sách, thu mua ngoại tệ… Vì vậy, đã đẩy tổng phương tiện thanh toán mỗi năm tăng thêm hơn ẳ số tiền của năm trước (từ 1996 đến hết năm 2007 tổng phương tiện thanh toán tăng thêm bình quân năm là 26,2%, riêng năm 2007 con số này là 37%) trong khi bình quân mỗi năm GDP chỉ tăng lên khoảng 7,2% (GDP từ 1997 đến hết năm 2007 tăng bình quân năm là: 7,2%) Suốt khoảng thời gian dài, khoảng cách giữa tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tốc độ tăng GDP luôn ở mức trên dưới 20%, mà trong đó, tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán luôn ở biên độ cao hơn so với GDP Qua đó cho thấy, cũng trong suốt thời gian ấy, rất nhiều tiền đã được đưa vào lưu thông nhưng đã không tạo ra một lượng GDP tương ứng Mà có lẽ thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán trong những năm qua đã trở thành kênh dẫn cho lượng tiền đó và vì thế, cho đến khi hai thị trường này bị thắt lại, lượng tiền thừa thực sự phát huy tác dụng - nếu không lạm phát mới là hiện tượng lạ (thị trường bất động sản bắt đầu phát triển từ những năm 1997, 1998 và mạnh mẽ nhất vào năm 2007 Còn thị trường chứng khoán mới có sức hút tiền trong khoảng 3 năm gần đây) (Xem biểu đồ)
Biều đồ: Tốc độ tăng cung tiền và GDP của 3 nước, lấy mốc năm 2004 bằng 100%, cung tiền
đo bằng M2
Trang 11Biều đồ: Tốc độ tăng cung tiền và GDP của 3 nước, lấy mốc năm 2004 bằng 100%, cung tiền đo bằng M2
Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi (tính từ đầu năm 2005 cho đến hết tháng 6/2007), GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền lên đến 110% Trong cùng một khoảng thời gian, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50% Chênh lệch này ở Thái Lan hầu như không đáng kể
Hai quý đầu của năm 2008, cùng với những bất ổn trên thị trường tài chính thế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến hết sức phức tạp Giá cả tăng cao, cộng với sự dồn tớch khỏ lõu về lượng tiền thừa đã làm cho thị trường hàng hoá Việt Nam có hiện tượng “bốc hoả” về giá So với tháng 12 năm 2007, giá tiêu dùng tăng 17,18%, mức cao nhất so với nhiều năm trở lại đây Trong đó đáng quan tâm nhất là hai nhóm hàng lương thực và thực phẩm: lương thực tăng 59,44%, thực phẩm tăng 21,83%, đã góp phần đẩy chỉ số lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm lên mức 2,86%/tháng Đến cuối tháng 6, chỉ số lạm phát tuy có tăng chậm lại nhưng vẫn ở mức cao nhất so với tháng 6 của nhiều năm trước (2,14%)
Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc và thị trường mở được sử dụng đồng thời cùng với những quy định siết chặt thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản… đã tác động mạnh đến thị trường Và phản ứng của thị trường cũng thật mạnh mẽ: các hoạt động cho vay gần như co cụm lại, lãi suất tăng vọt, luồng tiền gửi trở lên bất ổn, thị trường bất động sản đang ở trong cơn sốt bỗng đóng băng và trở lên lạnh giá, thị trường vàng như con ngựa bất kham, giá cả hàng hoỏ thỡ tăng vọt… Chính sách tiền tệ bộc lộ thật rõ sức mạnh của nó
Những dấu mốc đáng ghi nhớ trong việc sử dụng các công cụ để điều hành chính sách tiền tệ vào những tháng đầu năm 2008:
- Ngày 16/01/2008, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 1% (Quyết định 187/QĐ-NHNN)
- Ngày 30/01/2008, điều chỉnh tăng các loại lãi suất: Lãi suất cơ bản tăng 0,5%, tái cấp vốn tăng 1,0%, lãi suất chiết khấu tăng 1,5% (Quyết định 305/QĐ-NHNN)
- Ngày 13/2/2008, thông báo về việc phát hành tín phiếu bắt buộc, thực hiện vào ngày 17/3, với tổng giá trị tín phiếu phát hành là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,8%/năm (Quyết định 346/QĐ-NHNN)