Để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, các DNV&N chủ yếu tiếp cận nguồn tín dụng của NH.. Trên cơ sở tiếp cận tín dụng theo chức năng hoạt động của NH, tín dụng được hiểu như sau: Tín
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc lưu thông dòng vốn của nền kinh tế Tại thời điểm này, bên cạnh một số ngân hàng quốc doanh, ngày càng có nhiều ngân hàng thương mại và nước ngoài tham gia, tạo nên sự phong phú về sản phẩm, đa dạng về dịch vụ cũng như nâng cao tính cạnh tranh trong ngành ngân hàng
Khách hàng là yếu tố quyết định sự thành công của ngân hàng So với khách hàng
cá nhân, khách hàng doanh nghiệp tuy ít hơn về số lượng nhưng do nhu cầu và mật độ sử dụng dịch vụ nhiều nên họ là đối tượng mang lại một nguồn thu đáng kể cho ngân hàng Ngoài ra, chính các dịch vụ của ngân hàng cũng có sự hỗ trợ rất lớn cho các doanh nghiệp, giúp cho hoạt động kinh doanh của họ nhanh chóng, hiệu quả hơn DNV&N được nhận định sẽ phát triển mạnh mẽ trong tương lai, sẽ trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế Chính vì vậy, đây là đối tượng ngày càng được các ngân hàng quan tâm đến Nắm bắt được thực tiễn đó, ngân hàng HSBC tại Việt Nam vừa giới thiệu sản phẩm ngân hàng trọn gói dành riêng cho khối DNV&N bởi lẽ đây là nhóm khách hàng tiềm năng mà họ muốn tập trung phát triển trong thời gian tới Ông Huỳnh Bửu Quang, Giám đốc toàn quốc dịch vụ Tài chính doanh nghiệp, cho biết: “Tập đoàn HSBC gần đây đã triển khai chiến lược toàn cầu để trở thành ngân hàng tốt nhất cho các DNV&N Việt Nam được chọn là một trong 30 thị trường trọng yếu mà tập đoàn muốn hướng đến trong những năm tới với mục tiêu là biến các tiềm năng kinh doanh của DNV&N thành hiện thực Điều này cho thấy xu hướng phát triển loại hình dịch vụ ngân hàng giúp các DNV&N có cơ hội tiếp cận nguồn vốn ngân hàng như các doanh nghiệp quy mô lớn” là xu hướng chung của các NHTM hiện nay và cũng là tất yếu của các nước trên thế giới
Với tầm quan trọng và tính cấp thiết như vậy, sau một thời gian thực tập tại NHNo
&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội, em đã chọn đề tài : “ Giải pháp mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNV&N tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
Trang 22 Mục đích nghiên cứu :
Khóa luận nghiên cứu những cơ sở lý luận cơ bản về DNV&N, thực trạng hoạt động tín dụng DNV&N tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội trong những năm gần đây để đề xuất những giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNV&N tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu : Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNV&N tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu : Hoạt động tín dụng đối với DNV&N tại chi nhánh các năm 2006,2007 và 2008
4 Phương pháp nghiên cứu :
Dựa trên các phương pháp : duy vật biện chứng, suy luận logic và kết hợp duy vật lịch sử, sử dụng số liệu thực tế để phân tích và luận giải
5 Kết cấu khóa luận :
Khóa luận gồm 3 phần : Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung gồm 3 chương :
Chương I : Những vấn đề chung về mở rộng tín dụng đối với các DNV&N tại
NHTM
Chương II : Thực trạng tín dụng Ngân hàng đối với các DNV&N tại
NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội
Chương III : Một số giải pháp nhằm mở rộng tín dụng đối với DNV&N tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội
Trang 3
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTM
1.1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ :
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ :
Doanh nghiệp là một tổ chức hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế, nhưng để đưa ra một khái niệm cụ thể về doanh nghiệp thì lại có nhiều quan điểm khác nhau Theo DLarue- Acitlat: “doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất và là một đơn vị phân phối… doanh nghiệp là một hệ thống mở, có mục tiêu và quản lý theo hướng tạo ra lợi nhuận hùng mạnh, vĩnh cửu…” Còn theo Luật doanh nghiệp hiện hành của Việt Nam: “ Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng kí kinh doanh theo qui định của phát luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh”
Như vậy doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức hoạt động kinh tế có tư cách pháp nhân, được thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một lĩnh vực nhất định với mục đích thu được lợi nhuận hoặc công ích
Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều doanh nghiệp ta có thể phân theo một số các tiêu thức:
- Theo qui mô sản xuất hoạt động: doanh nghiệp qui mô lớn, doanh nghiệp qui môvừa và nhỏ
- Theo cấp quản lý: doanh nghiệp trung ương, doanh nghiệp địa phương,
doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp
- Theo ngành kinh tế kỹ thuật: doanh nghiệp ngành công nghiệp, doanh
nghiệp ngành thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp ngành nông lâm nghiệp, doanh nghiệp ngành tài chính, doanh nghiệp ngành phi tài chính
DNV&N là 1 một hình thức DN, mang những đặc điểm chung giống như các loại hình DN khác nhưng lại có những đặc điểm riêng mà chỉ có ở những DN qui mô vừa và nhỏ Tùy vào điều kiện của từng nước khác nhau thì có các phân định DNV&N khác nhau nhưng để chính xác thường phải dựa vào vốn tự có, số lượng người lao động làm việc trong DN, giá trị tài sản cố định của DN Ví dụ theo quan điểm của Mỹ, mức lợi nhuận hàng năm dưới 150.000USD được coi là DNV&N, theo quan điểm của Thái Lan,
DN vừa là DN có từ 50 đến 200 lao động, DN nhỏ là DN có dưới 50 lao động Còn ở Việt Nam theo Nghị định 90/2001/NĐ- CP của Chính phủ ban hành ngày 23/11/2001 thì
DNV&N được hiểu: “DNV&N là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh
Trang 4doanh theo luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng, hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” Theo nghị định này thì DNV&N sẽ bao gồm các
DN hoạt động theo luật DN Nhà nước, các DN hoạt động theo luật DN, các hợp tác xã hoạt động theo luật Hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể
1.1.2 Đặc điểm của DNV&N:
DNV&N cũng là một tổ chức kinh tế, ngoài những đặc trưng vốn có của một DN thì nó cũng mang những đặc trưng riêng xuất phát từ chính khái niệm của nó:
Một là: DNV&N có vốn đầu tư ban đầu không lớn ( không quá 10 tỉ đồng), khả
năng thu hồi vốn nhanh
Theo qui định, để thành lập một DNV&N chỉ cần một số vốn ban đầu tương đối ít ( dưới 10 tỉ đồng) Đồng thời chu kì kinh doanh ngắn, diễn biến theo mùa nên thời gian hoàn vốn ngắn hơn so với những tổ chức kinh tế có qui mô lớn, không tồn tại tình trạng vốn ứ đọng quá lâu, dễ dàng chuyển hướng đầu tư dẫn đến hiệu quả kinh tế cao
Hai là: DNV&N có quy mô vốn và lao động nhỏ, năng lực tài chính thấp.
Theo kết quả khảo sát điều tra hơn 63 ngàn DN tại 30 tỉnh thành phố phía Bắc cho thấy số vốn của DNV&N còn rất thấp : 50% DN có vốn dưới 1 tỷ đồng, 75% DN có vốn dưới 2 tỷ đồng, 90% DN có vốn dưới 5 tỷ đồng Đa phần DNV&N luôn lâm vào tình trạng “ khát vốn” do vốn tự có thì ít, những kênh huy động vốn thì yếu kém Thêm vào
đó, hầu hết các DNV&N có quy mô kinh doanh không lớn, không có tài sản đảm bảo để vay vốn, việc chuyển giao quyền sở hữu về vốn góp bằng tài sản chưa rõ ràng minh bạch,
uy tín, hiệu quả sử dụng vốn thì chưa cao nên doanh thu, lợi nhuận, khả năng tính lũy cũng bị ảnh hưởng hạn chế Năm 2005, lợi nhuận bình quân của DNV&N là 240 triệu đồng, thấp hơn nhiều so với mức lợi nhuận bình quân/ DN của cả nước (khoảng 1,14 tỷ đồng) Năm 2006, các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận/ vốn và lợi nhuận/ doanh thu cũng thấp, ở mức 3 tỷ đồng và 2, 57 tỷ đồng so với mức bình quân chung của các DN cả nước
là 4,86 tỷ đồng và 5,99 tỷ đồng (Vneconomy, 2006) Do nguồn năng lực tài chính còn yếu nên chưa tạo lòng tin với nhà đầu tư
Ba là: DNV&N chủ yếu là DN ngoài quốc doanh, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và linh
hoạt
Số lượng lao động ít ( dưới 300 lao động), cơ cấu tổ chức đơn giản ít cấp bậc khiến cho DNV&N linh hoạt, dễ thay đổi cho phù hợp với nhu cầu thị trường Hơn nữa, chủ sở hữu của DNV&N thường cũng là người quản lí của DN nên họ sẽ được tự do hoạt động, nhanh chóng chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi và tự quyết những vấn đề mang tính định hướng và sống còn một cách nhanh chóng như thay đổi nhân sự, đổi hướng kinh doanh… Trong khi DN lớn thì thiếu sự linh động, khó phản ứng kịp với biến
Trang 5động của thị trường thì về mặt này DNV&N thể hiện tính ưu việt hơn cả Đồng thời do quy mô khiêm tốn của mình mà DNV&N có thể hoạt động trong cả những lĩnh vực mà nhiều DN lớn không muốn tham gia hoặc không thể vươn tới tạo ra một lượng cung hàng hóa đầy đủ, kịp thời dù là nhỏ nhất của xã hội.
Bốn là: Nguồn tài chính của các DNV&N còn hạn hẹp, thiết bị công nghệ lạc hậu.
Xuất phát từ nguồn vốn nhỏ nên các DNV&N ở Việt Nam thường không có điều kiện trang bị máy móc, thiết bị hiện đại Theo ông Phùng Xuân Nhạ (2006), hệ thống máy móc của các DNV&N lạc hậu khoảng 20 năm đối với ngành điện tử, 25 năm so với ngành cơ khí, 70% công nghệ dệt may đã được sử dụng 20 năm Theo Bộ Lao động và thương binh xã hội thì 76% thiết bị máy móc tại các DNV&N hiện đang sử dụng là từ những năm 1950 hay 1960, hơn 70% đã khấu hao hết, gần 50% máy móc cũ được tân trang lại Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới Kết quả là năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, chi phí đầu vào cao dẫn đến giá thành cao, khó cạnh tranh Kết quả điều tra cũng cho thấy có 41,3% DN có kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trong năm tới, 52,4% DN
dự định giữ nguyên quy mô sản xuất kinh doanh như hiện nay và chỉ có 6,3% DN muốn thu hẹp sản xuất Điều này chứng tỏ DN luôn có nhu cầu mở rộng và đổi mới nhưng vấn
đề về vốn vẫn luôn là yếu tố cản trở khiến DNV&N đã cũ nay lại càng cũ hơn với tỷ lệ đổi mới chỉ ở mức 5-7 % /năm so với 20% của thế giới
Năm là: Trình độ quản lý của ban quản lý các DNV&N còn yếu kém, tay nghề của
người lao động chưa cao, khó có khả năng thu hút đc nhân tài
Như đã trình bày ở trên, hầu hết DNV&N đều có chủ sở hữu đồng thời là người quản lý Điều này có cái lợi mà cũng có cái hại cho bản thân DN vì theo điều tra thì trong tổng số các chủ DNV&N chỉ có 1% có trình độ sau đại học, 3% có trình độ đại học Điều này khiến đặt nghi vấn cho năng lực quản lý của chính những chủ DN chưa qua đào tạo, chưa có kinh nghiệm này Trong khi khả năng thu hút các nhà quản lý giỏi, nhân tài từ các lĩnh vực về với DNV&N là rất ít vì nguồn tài chính eo hẹp, sức hấp dẫn về môi trường làm việc là không lớn, những ưu đãi đối với nhân lực là gần như không có Bên cạnh đó, ngay cả người lao động trong các DN này thì chủ yếu đều là dân địa phương, tay nghề kém, ít được đào tạo, bồi dưỡng tay nghề do kinh phí eo hẹp Với thực trạng nguồn lực như thế đã và đang gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển giao và tiếp nhận quy trình
kỹ thuật đồng bộ hiện đại cần thiết
1.1.3 Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế:
Trang 6Tại nhiều quốc gia, kể cả những nước phát triển, những nước đang phát triển, những nước kém phát triển, tỷ trọng DNV&N thường là một con số đáng kể Với một nước có nền kinh tế phát triển như nước Mỹ có đến 99,7% tổng số hãng kinh doanh có thuê nhân công là DN nhỏ, tạo đc 75% số việc làm mới và chiếm 96% tổng số các nhà xuất khẩu hàng hóa Ở Thái Lan, năm 2002, DNV&N chiếm khoảng 95% tổng số DN công nghiệp, tuyển dụng từ 85% - 90% lực lượng lao động, đóng góp trên 50% GDP, có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và xuất khẩu, phát triển kinh tế ở các vùng lạc hậu ở Thái Lan Còn ở Việt Nam, theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiện nay Việt Nam có gần 350.000 DN, chiếm 96,5% trên tổng số DN Mỗi năm lại có khoảng 30.000 - 40.000 DN đăng ký và 100.000 - 200.000 hộ kinh doanh cá thể ra đời Có thể thấy tầm quan trọng của DNV&N đã được các nước thừa nhận, hoạt động và
sự phát triển của chúng đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng:
Thứ nhất : các DNV&N đóng góp quan trọng vào GDP, Ngân sách Nhà nước và
tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong thời gian qua, DNV&N đã đóng góp hơn 40% GDP, 29% tổng kinh ngạch xuất khẩu cả nước, 31% tổng sản lượng công nghiệp, đóng góp khoảng 17,46% tổng nộp ngân sách Có thể nhận thấy đây là một bộ phận góp phần không nhỏ vào tốc độ tăng sản lượng, đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế
Thứ hai : góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Bắt nguồn từ đặc điểm quy mô nhỏ, tính linh hoạt cao nên DNV&N có ưu điểm là
có thể hoạt động ở mọi nơi thậm chí cả những vùng chưa phát triển như vùng núi, hải đảo Tùy vào đặc điểm, thế mạnh của từng vùng lãnh thổ, các DN này hoạt động sản xuất các mặt hàng khác nhau để phục vụ người tiêu dùng Việc nhiều DN chủ yếu là DNV&N được thành lập ở các nông thôn, vùng núi, vùng sâu…đã góp phần chuyển hướng tỷ trọng ngành nông nghiệp, phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo sự cân đối trên toàn quốc theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Điều này được thể hiện rõ trong việc DNV&N tạo
ra khoảng 49% việc làm phi công nghiệp ở nông thôn
Thứ ba : tạo ra nhiều công ăn việc làm mới.
Với số dân đông khoảng hơn 80 triệu như ở Việt Nam hiện nay thì mục tiêu giải quyết công ăn việc làm là hết sức cần thiết và cấp bách Trong khi khu vực NN hàng năm còn đóng góp một phần lao động thất nghiệp tạm thời cho nền kinh tế thông qua quá trình tinh giảm biên chế, khu vực DNV&N mỗi năm cung cấp việc làm cho hơn 50% số lao động làm việc trong DN và mỗi năm tăng thêm nửa triệu lao động Đặc biệt bộ phận DN này đã giải quyết được phần lớn lao động thất nghiệp ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa…
Trang 7vừa tận dụng được nhân lực mà lại ổn định được kinh tế và công ăn việc làm cho con em trong địa phương DNV&N không những cung thêm nhiều cơ hội cho người lao động nông thôn mà còn góp phần xóa đói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, giảm thiểu hiện tượng di cư vào đô thị, giảm sức ép dân số tại các thành phố lớn.
Thứ tư : là tiền đề tạo ra nhiều DN lớn.
Trên thế giới có rất nhiều tập đoàn kinh tế lớn xuất phát từ những chi nhánh, những phân xưởng nhỏ nhưng với quá trình hoạt động, tích lũy vốn, kinh nghiệm để trở thành những DN lớn Điều đó chứng tỏ bản thân hai loại hình DN này đã có mối quan hệ chặt chẽ với nhau DNV&N là khởi nguồn của DN lớn, tập đoàn kinh tế lớn, cung cấp sản phẩm đầu vào, tham gia chế tác và đặc biệt là tạo ra mạng lưới phân phối sản phẩm của DN lớn Còn DN lớn đảm bảo vững chắc cho DNV&N về tài chính, công nghệ, thị trường và kinh nghiệm quản lý
Thứ năm : làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Các DNV&N góp phần làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế Với sự xuất hiện thêm nhiều DN trong cùng một ngành, cùng một lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộc các DN lớn, DN cũ phải chấp nhận cạnh tranh gay gắt hơn, phải liên tục đổi mới, nâng cao sản lượng, chất lượng, làm ăn có hiệu quả để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển
Và các DN lớn cũng không nằm ngoài cuộc Điều này đã tạo ra điều kiện cho nền kinh tế hoạt động lành mạnh và hiệu quả hơn khi mà mỗi cá thể trong nó đang phải tự hoàn thiện
1.1.4 Các nguồn huy động vốn của DNV&N:
a Nguồn tài chính phi chính thức:
- Vay từ người quen, người thân với lãi suất thường là thấp nhương
lượng vốn huy động không được nhiều và không có sẵn khi cần thiết
- Vay từ người cho vay nặng lãi, mặc dù không cần tài sản thế chấp và
có thể đáp ứng đủ, kịp thời cho nhu cầu vay nhưng hình thức này lại có chi phí rất cao
- Vay thông qua hình thức trả chậm, chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các
DN hoặc giữa các DN với nhà cung cấp các yếu tố đầu vào
Ưu điểm của hình thức huy động vốn này là đơn giản, linh hoạt, chi phí giao dịch thường thấp hơn so với hình thức còn lại, dựa trên cơ sở chữ tín giữa người đi vay và người cho vay nên thường không cần tài sản thế chấp Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm mỏng vốn và ít tài sản đảm bảo của DNV&N Tuy nhiên, nguồn tài chính này cũng có những hạn chế như người đi vay chỉ vay được một khối lượng nhỏ và chỉ vay
Trang 8trong ngắn hạn với chi phí phát sinh cao và khó dự đoán trước Do đó hình thức huy động vốn này chỉ đủ để tài trợ cho những hoạt động mua sắm tài sản cố định cố quy mô nhỏ, sửa chữa nhỏ Trong khi đó theo nghiên cứu thì có đến trên 50% DNV&N có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh với nhu cầu về vốn lớn Bởi vậy việc tiếp cận một nguồn tài chính chính thức là tự nhiên và cấp thiết.
b Nguồn tài chính chính thức:
- Nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức quốc tế thông qua
Ngân sách chính sách xã hội
- Nguồn vốn từ các quỹ : Quỹ hộ trợ phát triển, quỹ tín dụng nhân
dân ,quỹ phát triển nông thôn, liên hiệp hợp tác xã, quỹ hỗ trợ đầu tư quốc tế
- Các chương trình tín dụng của các tổ chức và chính phủ nước ngoài
như : hỗ trợ của công ty tài chính quốc tế IFC tại Việt Nam, Quỹ phát triển DNV&N cả cộng đồng châu Âu ( SMEFD), tín dụng hỗ trợ của ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản ( JBIC), Quỹ Mekong Enteprise Fund II (MEFII) thuộc Công ty Quản lý quỹ đầu tư Mekong, Tập đoàn Bank-Invest (Đan Mạch)…
- Nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán, các DN có thể huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán bằng cách niêm yết, phát hành cổ phiếu, trái phiếu Tuy nhiên, với các DNV&N thì hình thức này còn hết sức khó khăn vì điều kiện niêm yết, phát hành là hết sức chặt chẽ Trong khi các DNV&N vẫn bị hạn chế về kinh tế và tài chính dẫn đến việc lập báo cáo tài chính không chính xác, trung thực Thậm chí chỉnh bản thân DN đã cố tình chế biến số liệu để trốn thuế hoặc để khai khống lượng tài sản có trong tay làm mất lòng tin từ nhà đầu tư
- Nguồn vốn tín dụng từ các TCTD hiện hành bao gồm các NHTM quốc
doanh, NHTM cổ phần, NH liên doanh và chi nhánh NH nước ngoài, các quỹ tín dụng nhân dân và các công ty cho thuê tài chính Để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, các DNV&N chủ yếu tiếp cận nguồn tín dụng của NH Nhưng thực trạng hiện nay cho thấy nhu cầu vay vốn của các DN vẫn có trong khi chỉ có chưa đến 50% DN ngoài quốc doanh tiếp cận được vốn NH
1.2 Tín dụng Ngân hàng đối với DNV&N:
1.21 Khái niệm, đặc điểm của tín dụng NH :
a Khái niệm:
Trang 9Tín dụng ( credit ) xuất phát từ chữ Latinh credo, có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau hay nói cách khác là lòng tin Theo K.Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu
Trên cơ sở tiếp cận tín dụng theo chức năng hoạt động của NH, tín dụng được hiểu như sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay ( Ngân hàng và các định chế tài chính khác ) và bên đi vay ( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác ), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán
b Đặc điểm:
• Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tin tưởng giữa NH và các DNV&N :
Lòng tin là cơ sở đầu tiên có quan hệ tín dụng Ở đây cũng thế, NH phải tin tưởng
là DN sẽ sử dụng vốn vay có hiệu quả và hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian đã thỏa thuận Tuy nhiên, để có được lòng tin này thì NH sẽ căn cứ vào uy tín của DN, tài sản đảm bảo hay sự bảo lãnh của bên thứ ba
• Tính thời hạn :
Quan hệ tín dụng NH là quan hệ vay mượn có thời hạn Thời hạn trong quan hệ tín dụng phụ thuộc vào thỏa thuận giữa NH và DN Để xác định thời hạn vay NH căn cứ vào tính hợp lý giữa thời han đi vay và thời hạn cho vay vốn để giảm thiểu rủi ro thanh khoản Còn DN xác định dựa trên cơ sở chu kì sản xuất kinh doanh, thời điểm hình thành nguồn thu của mình
• Tính hoàn trả :
Quan hệ tín dụng NH chỉ nảy sinh khi NH kì vọng là sẽ nhận được một lượng lớn ngoài phần vốn gốc sau một thời gian thỏa thuận
• Tính rủi ro :
Quan hệ tín dụng NH với các DNV&N luôn bao hàm tính rủi ro Rủi ro có thể xảy
ra từ nhiều nguyên nhân khách quan như : khủng hoảng kinh tế, chiến tranh nhưng xác suất của những nguyên nhân này là ít mà chủ yếu là từ những nguyên nhân chủ quan như : rủi ro đạo đức khi DN không chịu chi trả, DN phá sản…
c Phân loại :
• Theo thời hạn cho vay :
Trang 10Tín dụng ngắn hạn : là loại tín dụng có thời gian dưới 1 năm Tín dụng ngắn hạn được dùng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của DN và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân.
Tín dụng trung hạn : là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm Loại tín dụng này được dùng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kĩ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn : là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở
hạ tầng ( đường xá, bến cảng, sân bay…) , cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn
• Theo mức độ tín nhiệm với khách hàng :
Cho vay không bảo đảm : là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
sự bảo lãnh của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng
Cho vay có bảo đảm : là loại tín dụng dựa trên cơ sở các quan hệ bảo đảm như : cầm cố, thế chấp, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba
• Theo phương thức hoàn trả :
Tín dụng trả góp : là loại tín dụng mà khách hàng hoàn trả vốn gốc và lãi theo định
kỳ Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng trong cho vay bất động sản nhà ở thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ, cho vay để mua sắm máy móc thiết bị
Tín dụng phi trả góp : là loại tín dụng thanh toán một lần theo thời gian đã thỏa thuận
Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu : loại tín dụng không có thời hạn cụ thể NH có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ
Trang 111.2.2 Vai trò của tín dụng NH đối với sự phát triển của DNV&N :
Theo nghiên cứu vốn tự có của DNV&N chiếm tỷ trọng là 36,25%, vốn vay NH chiếm tỷ trọng 45,31%, còn lại vốn khác chiếm 18,44% Bình quân vốn vay của một DN
là 1,79 tỷ đồng lớn hơn hẳn vốn tự có bình quân của DN là 0,49 tỷ đồng Điều này cho thấy tín dụng NH đã và đang trở thành một phận không thể thiếu trong nguồn huy động của DN
•Tín dụng NH góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DN
Cơ cấu vốn tối ưu chính là sự kết hợp hợp lý nhất trong việc sử dụng vốn của DNV&N theo hướng có lợi nhất Hiện nay để thực hiện các quyết định đầu tư, DN có thể
sử dụng vốn tự có và vốn đi vay vì nguồn tài trợ gần như là không đến tận tay DN Trong khi việc sử dụng nguồn vốn tự có đối với DN là hết sức xa xỉ và đắt đỏ thì nguồn tín dụng từ NH được đánh giá tốt hơn cả Nếu DN sử dụng vốn tự có quá nhiều thì có thể dẫn đến hậu quả khó lường cho DN khi những cú sốc kinh tế xảy ra Hơn nữa, vốn tự có mỏng sẽ làm các nhà đầu tư mất lòng tin dẫn đến việc không thể mở rộng được nguồn vốn thông qua hình thức lên sàn chứng khoán Còn nếu DN sử dụng vốn vay quá lớn thì việc trả nợ sẽ trở thành áp lực lớn cho DN, phần lãi lớn phải trả sẽ làm tăng chi phí , ảnh hưởng đến lợi nhuận của DN Do vậy buộc DN phải tự tạo cho mình một cơ cấu vốn phù hợp trong việc sử dụng vốn tự có và vốn vay sao cho hợp lý nhất
• Tín dụng NH tạo điều kiện cho DNV&N sản xuất kinh doanh thường
xuyên, liên tục, mở rộng
Từ khi thành lập cho đến khi đi vào hoạt động, DNV&N đều có thể ở trong tình trạng thiếu vốn thuê mặt bằng, mua trang thiết bị, đổi mới công nghệ…dẫn đến không thành lập được Thậm chí ngay cả khi đã thành lập thì DN cũng không có đủ vốn để quay vòng sản xuất hay đổi mới thiết bị, đào tạo cán bộ khiến cho chất lượng sản phẩm kém, tính cạnh tranh thấp, chi phí cao, lợi nhuận và doanh thu thấp Tín dụng NH không những giúp DN mở rộng, phát triến mà còn chuyên môn hóa cho DN
• Tín dụng NH giúp các DNV&N tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu
quả từ đó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường
Trước hết, để vay được vốn của NH thì bản thân các DN phải có chỗ đứng trên thị trường Điều này là hết sức khó khăn với các DN nhỏ vì hầu như quy mô nhỏ bé mà thương hiệu thì chưa thể cạnh tranh với các DN lớn Bởi vậy họ chỉ có thể tiếp cận nguồn vốn NH bằng các dự án kinh doanh có hiệu quả và những con số thực sự tạo lòng tin cho
NH Vì vậy ngay từ khi lập phương án kinh doanh thì chính DN đã phải tự nghiên cứu phương án của mình và phân tích, xây dựng sao cho tính khả thi là cao nhất Tiếp đến,
Trang 12sau khi nhận được nguồn tài trợ từ NH thì các DN này lại nhận đc sự tư vấn và kiểm tra giám sát của NH nhằm đảm bảo việc sử dụng vốn đúng và hiệu quả Khi sử dụng vốn vay
NH, các DN không chỉ suy nghĩ sao cho sử dụng vốn có hiệu quả mà còn phải đảm bảo đồng vốn phải sinh được đồng lãi để vừa có lợi nhuận, vừa có lãi trả NH Trên cơ sở đó, các DNV&N ngày càng hoàn thiện hơn và nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường
Như vậy, DNV&N có thế ra đời, tồn tại và phát triển vững mạnh thì sự có mặt của tín dụng NH là cần thiết Bởi vậy việc mở rộng tín dụng NH đối với DNV&N là tất yếu
1.2.3 Sự tiếp cận vốn tín dụng NH của các DNV&N :
Theo số liệu điều tra của Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới đây cho thấy, ngay cả trong điều kiện lạm phát, trên 90% DNV&N vẫn có nhu cầu vay vốn Tuy nhiên, chỉ hơn 10% được vay 100% theo nhu cầu DN có cầu vay vốn trong khi cung từ phía NH là hạn chế Tính đến tháng 8/
2007, ước tính có đến 80% lượng vốn cung ứng cho DNV&N từ kênh NH Nhưng thực tế chỉ có 32,28% DNV&N có khả năng tiếp cận được các nguồn vốn của các NH, 35,24% khó tiếp cận và 32,38% không thể tiếp cận được Điều này được xác định là các nguyên nhân sau: thứ nhất là khả năng tài chính yếu của DNV&N, việc tiếp cận nguồn tín dụng
NH chưa cao Nguyên nhân là do năng lực quản lý kém, chưa chuẩn bị được các dự án khả thi, không được tín chấp Khảo sát cho thấy, đa số các công ty vay được vốn chủ yếu
là dựa vào tài sản thế chấp trong khi DNV&N lại khó đáp ứng được yêu cầu này Thứ hai, các NH hiện nay chưa chú trọng đến đối tượng DNV&N, một phần là do họ chưa có
hệ thống đánh giá đầy đủ, chính xác về đối tượng này Các nguyên nhân trên khiến cho DNV&N đã mỏng về vốn lại càng khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn từ NH Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, về phía các NH đã có những động thái hỗ trợ tích cực cho đối tượng khách hàng này Chẳng hạn cách chia nhỏ nguồn vốn, chốt hạn mức tín dụng ở một ngưỡng nhất định đối với một khoản vay để đáp ứng được nhiều nhu cầu nhỏ hơn Như NHTM Cổ phần ngoài quốc doanh (VPBank), ngoài các khách hàng truyền thống,
NH này sẽ từ chối các khoản vay mới trên 15 tỷ đồng để “chia” lượng tín dụng đó cho những khoản vay nhỏ hơn Với Vietcombank, từ một NH bán buôn cũng đã chuyển dần sang mô hình bán lẻ Theo đó, cơ hội tiếp cận vốn từ NH này cũng thuận lợi hơn Quy mô vốn cho DNV&N của NH này cũng đã tăng từ 500 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng…Nhưng qua khảo sát của phóng viên tại một số NHTM cổ phần và NHTM quốc doanh: trong 100
hồ sơ vay vốn ngẫu nhiên của các DNV&N thì chỉ có khoảng từ 35 – 40 hồ sơ có thể được chấp nhận cấp vốn, tức là chỉ có khoảng 30%-40% hồ sơ vay vốn được chấp nhận Như vậy, thực tế khả năng tiếp cận vốn NHTM của các DNV&N vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thực sự được như DN mong muốn
1.3 Mở rộng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ :
Trang 13mở rộng hơn nữa đối tượng khách hàng là DNV&N
Mở rộng tín dụng đòi hỏi NH phải đa dạng hóa đối tượng, đa dạng hóa các sản
phẩm tín dụng để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu hợp lý của khách hàng, trên cơ sở vẫn chú trọng đến chất lượng tín dụng đã cung cấp Do đó để mở rộng đối với DNV&N, NH sẽ phải mở rộng mạng lưới cấp tín dụng, tăng tỷ trọng tín dụng đối với DNV&N, tiến hành
mở rộng thị phần cho vay với DNV&N
• Tiềm năng của chính Ngân hàng :
Việc các Ngân hàng gia nhập WTO đã và đang tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho nền kinh tế nước ta Sự tăng trưởng GDP, kéo theo là sự tăng lên của nguồn vốn huy động được từ dân cư, đã làm mạnh thêm tiềm lực về vốn cho các NH Đồng thời, trong quá trình hội nhập, các NHTM tiếp cận với nền khoa học công nghệ hiện đại, giúp cho
NH đánh giá, nhận định về khách hàng tốt hơn, từ đó sẽ giảm được rủi ro và đây chính là
cơ sở cho việc mở rộng tín dụng đối với DNV&N
• Nhu cầu của khách hàng :
Hiện nay, như đã đề cập ở trên, nhu cầu tiếp cận với nguồn vốn tín dụng NH của các DNV&N là rất lớn Nhưng không phải tất cả các DNV&N có nhu cầu đều có thể tiếp cận được với nguồn vốn này Điều này khiến cho quá trình mở rộng tín dụng NH đối với DNV&N là hoàn toàn có thể thực hiện được
1.3.3 Sự cần thiết của mở rộng tín dụng Ngân hàng đối với DNV&N :
a Đối với ngân hàng :
Trong điều kiện khủng hoảng, các NH phải đối mặt với việc bị nhu cầu vay vốn tiêu dùng giảm mạnh Người dân không mặn mà với việc vay tiền để mua sắm, đầu tư…
Trang 14Thị trường chứng khoán sau những giai đoạn thăng hoa thì giờ lại trở lại đúng thực trạng, giá vàng và giá đôla thì diễn biến bất thường Điều này đã làm giảm đáng kể nguồn thu từ
NH và buộc NH phải tìm đến một đối tượng khách hàng khác Đó chính là DNV&N vì trong khi các DN lớn thì có thể tìm nguồn tài trợ trên thị trường chứng khoán thì các DNV&N lại luôn thiếu vốn và khát vốn Việc mở rộng này là hết sức có lợi cho NH NH không những giải quyết được vấn đề đầu ra của vốn mà còn thu hút thêm khách hàng cho những dịch vụ : tư vấn, thanh toán, đầu tư…Bởi DNV&N không chỉ có nhu cầu sử dụng vốn mà với sự quen biết, tín nhiệm, các DN này còn muốn sử dụng các dịch vụ khác của
NH Chính những nhu cầu này của khách hàng đã làm tăng đáng kể nguồn thu cho NH
Hơn nữa việc mở rộng tín dụng cho DNV&N tạo ra những mối quan hệ mới cho
NH, giúp NH quảng bá hình ảnh và thương hiệu trong thế giới các doanh nhân, giảm được chi phí tìm kiếm khách hàng, tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi theo hướng có ích
b Đối với DNV&N :
Đầu tiên, việc mở rộng tín dụng này sẽ giải quyết thêm nhiều nhu cầu vay vốn hơn cho DN DNV&N sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, mua mới hoặc tân trang thiết bị, máy móc hay thực hiện các dự án kinh doanh có tính khả thi cao nhưng thiếu vốn Từ đó, DN có thể tìm kiếm lợi nhuận, tồn tại, phát triển và nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường
Hơn nữa, đây là một động lực quan trọng giúp DNV&N nâng cao hiệu quả sử dụng vốn do DN phải thực sự nỗ lực hoạt động, phải minh bạch tài chính để có thể tạo lợi nhuận trả nợ và lãi cho NH, tạo uy tín lâu dài với bạn hàng, nhà đầu tư và NH Và hơn thế nữa là dưới sự kiểm tra, giám sát và tư vấn của NH thì DN có thể phát huy năng lực của mình
c Đối với nền kinh tế :
Việc mở rộng tín dụng NH sẽ giúp cả DN và NH giải quyết được bài toán về vốn
để cùng tìm kiếm lợi nhuận NH thì tìm kiếm thêm được một nguồn thu từ lãi, từ dịch vụ lớn làm cơ sở để đáp ứng nhu cầu cho vay các đối tượng khác, đầu tư sinh lợi nhuận, phát triển dịch vụ…Còn các DNV&N thì hoạt động có hiệu quả hơn, mở rộng sản xuất hơn, giải quyết được nhiều công ăn việc làm hơn và đóng góp nguồn thu đáng kể vào NSNN
Mở rộng tín dụng với DNV&N góp phần làm cho vốn được luân chuyển hiệu quả đến những nơi thực sự khát vốn trong nền kinh tế
Như vậy, có thể nói mở rộng hoạt động cho vay DNV&N của NHTM có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với bản thân NH và DN mà cho cả nền kinh tế Mở rộng hoạt động cho vay giúp NH nâng cao mức thu nhập đồng thời giúp cho các DNV&N khắc phục được những nhược điểm về vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và
Trang 15năng lực cạnh tranh trên thị trường từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và ổn định
xã hội
1.3.4 Các tiêu thức đánh giá mức độ mở rộng tín dụng Ngân hàng đối với DNV&N :
Việc đánh giá kết quả mở rộng tín dụng NH đối với DNV&N có thể dựa vào một
số tiêu thức sau :
a Tốc độ tăng trưởng khách hàng là DNV&N:
Số lượng khách hàng là
DNV&N tăng các năm =
DNV&N năm (t) – DNV&N năm (t-1) DNV&N năm (t-1) x 100%Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng về số lượng DNV&N năm nay so với năm trước là bao nhiêu
b Tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay đối với DNV&N :
Doanh số cho vay đối với DNV&N là tổng số tiền mà Ngân hàng đã thực sự giải ngân cho khách hàng được tính trong một thời gian nhất định
Mức tăng doanh số
cho vay DNV&N =
Tổng doanh số cho vay DNV&N năm ( t ) -
Tổng doanh số cho vay DNV&N năm ( t – 1 )
Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi về quy mô tín dụng đối với DNV&N.
c Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với DNV&N :
Dư nợ Tín dụng thể hiện quy mô của hoạt động Tín dụng tại một thời điểm nhất định
Trang 16Tỷ trọng dư nợ cho vay DNV&N = Dư nợ cho vay DNV&N
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ cho vay DNV&N chiếm bao nhiêu % trong tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng
Dư nợ cho vay DNV&N năm (t- 1)
Tỷ trọng dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay một DNV&N
d Các ngành nghề hoạt động của DN mà NH cho vay:
Với tiêu thức này thì xem xét trong những thời kỳ khác nhau thì các lĩnh vực hoạt động của DN mà NH cho vay có được mở rộng, bổ sung hay không Những lĩnh vực hoạt động đó bao gồm: công nghiệp, nông nghiệp, hay là dịch vụ
e Các loại hình DN mà NH cho vay:
Trên thực tế, có rất nhiều loại hình DN Vấn đề cần xem xét ở đây là các ngành nghề
có được bổ sung hay không Các loại hình DNV&N chủ yếu bao gồm: Công ty TNHH, Hợp tác xã, DN tư nhân…
f Các hình thức Tín dụng được mở rộng:
Cần quan tâm các Ngân hàng đã mở rộng tín dụng được theo những hình thức như thế nào? Các hình thức mở rộng Tín dụng chủ yếu bao gồm: cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh, thanh toán, chiết khấu…
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng tín dụng Ngân hàng đối với DNV&N :
a Các nhân tố khách quan :
- Môi trường pháp lý
Các yếu tố pháp lý trong nền kinh tế là điều kiện không thể thiếu để đảm bảo cho
sự phát triển xã hội Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động NH nói chung và hoạt động cho vay nói riêng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cho vay của
NH Pháp luật ban hành không hợp lý, đồng bộ sẽ gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh
Trang 17của các DN cũng như hoạt động của NH Ngược lại, hệ thống pháp luật đồng bộ và hợp
lý sẽ tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh; bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho NH và cả khách hàng, tiết kiệm được thời gian và chi phí cho NH và DN…
Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến quan hệ cho vay của NHTM như: Luật các tổ chức tín dụng, luật DN, Nghị định số 90/2001/ NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNV&N, Quyết định số 193/2001/TT-BTC ngày 29/09/2001 về thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNV&N, Thông tư số 01/2006/TT-NHNN ngày 20/02/2006 của Ngân hàng Nhà nước về hướng dẫn một số nội dung về thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNV&N…
- Môi trường kinh tế
Sự phát triển kinh tế của đất nước có tác động rất nhiều đến hoạt động cho vay bởi nhu cầu tín dụng của các DN phụ thuộc nhiều vào sự tăng trưởng kinh tế Một nền kinh tế
có mức tăng trưởng ổn định sẽ tạo điều kiện cho môi trường kinh doanh phát triển, nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng lên, đó cũng là cơ hội tốt cho các DN đầu tư mở rộng sản xuất, do đó nhu cầu tín dụng của DN cũng được tăng lên tương ứng tạo điều kiện cho các NHTM mở rộng hoạt động cho vay Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định làm cho giá cả
ổn định, tình trạng lạm phát ở mức kiểm soát sẽ tạo điều kiện cho NH mở rộng quy mô hoạt động và tránh được những thiệt hại cho NH do sự mất giá của đồng tiền từ đó tạo điều kiện nâng cao hiệu quả cho vay của NH Ngược lại, khi nền kinh tế trong giai đoạn trì trệ, suy thoái, sản xuất kinh doanh bị đình trệ, quy mô sản xuất bị thu hẹp, nhu cầu đầu
tư bị giảm mạnh, thua lỗ kéo dài dẫn đến các khách hàng của NH gặp khó khăn trong việc trả nợ, hiệu quả cho vay của NH bị giảm sút
- Môi trường chính trị - xã hội
Một quốc gia có môi trường chính trị - xã hội ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi và yên tâm cho các nhà đầu tư Xã hội có ổn định thì nền kinh tế mới phát triển được, bất cứ một sự biến động nào về chính trị hay xã hội cũng đều gây ra sự xáo động cho toàn bộ nền kinh tế Do đó, nó có tác động đáng kể tới các hoạt động của cả NH và DN
- Các chủ trương chính sách vĩ mô của Nhà nước
Các chủ trương chính sách của Nhà nước có tác động rất lớn đối với hoạt động cho vay của NH bằng việc Nhà nước đưa ra những định hướng, chính sách, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là chính sách tiền tệ quốc gia Bởi hoạt động cho vay của NHTM chịu tác động trực tiếp từ các công cụ của chính sách tiền tệ như: tỷ lệ dự trử bắt
Trang 18buộc, nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu và tái chiết khấu… Ngoài ra, các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu… có tác động đến mọi mặt của toàn bộ nền kinh tế, vì thế nó tác động trực tiếp đến các DN Nếu như các chính sách này không tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, gây khó khăn cho các DN trong sản xuất kinh doanh thì chắc chắn hiệu quả cho vay của các NHTM cũng sẽ
bị giảm sút
- Các yếu tố bất khả kháng
Các DN trong quá trình sản xuất kinh doanh có thể phải đối mặt với những yếu tố bất khả kháng như: thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, hoặc những thay đổi ở tầm vĩ mô… vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục đến người vay, tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay Trong nhiều trường hợp người vay có thể dự báo, thích ứng hoặc khắc phục được những khó khăn; đôi khi người vay bị tổn thất song vẫn có khả năng trả nợ cho NH đúng hạn đủ cả gốc và lãi Tuy nhiên, khi tác động của những yếu tố bất khả kháng đối với người vay là rất nặng nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của NH
b Các nhân tố chủ quan :
* Các nhân tố thuộc về bản thân NH
Là những nhân tố vô cùng quan trọng quyết định đến hoạt động cho vay của các NHTM Bao gồm:
- Chiến lược kinh doanh của NH
Chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của
NH Dựa trên cơ sở đưa ra các chiến lược kinh doanh đúng đắn thì NH mới có những kế hoạch triển khai phù hợp cho từng thời kỳ nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu đặt ra Những kế hoạch có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả cho vay như: kế hoạch tăng trưởng tín dụng, kế hoạch huy động vốn, kế hoạch Maketing NH…
- Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của một NHTM là hệ thống các biện pháp liên quan đến việc
mở rộng hay thu hẹp tín dụng để đạt được mục tiêu đã hoạch định của NH đó Chính sách tín dụng phản ánh hoạt động tài trợ của NH, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và nhân viên NH, tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời Chính sách tín dụng bao gồm: chính sách khách hàng, chính sách quy mô và giới hạn tín dụng, chính sách về lãi suất và phí suất tín dụng, chính sách về thời hạn và kỳ hạn
Trang 19nợ, chính sách về tài sản đảm bảo… Các chính sách này đảm bảo cho hoạt động tín dụng
đi đúng hướng, có ý nghĩa quyết định thành công hay thất bại của hoạt động tín dụng nói chung và của hoạt động cho vay nói riêng Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng vay vốn, đảm bảo khả năng sinh lời trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của Nhà nước Như vậy, một chính sách tín dụng hợp lý
sẽ đảm bảo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi vay vốn cũng như đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của NH
- Phân tích tín dụng
Tín dụng là hoạt động sinh lời cao nhất song cũng là hoạt động rủi ro nhất của NHTM Rủi ro này do rất nhiều nguyên nhân, có thể gây ra tổn thất làm giảm thu nhập của NH Do vậy, các NH cần cân nhắc kỹ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời khi đưa ra quyết định cho vay Đó chính là quá trình phân tích tín dụng Phân tích tín dụng phải được thực hiện trước, trong và sau khi cho vay Đây là một công việc hết sức quan trọng quyết định đến chất lượng của hoạt động cho vay Nếu việc phân tích tín dụng không thực hiện đầy đủ thì NH không nắm được những thông tin về khách hàng, không xác định được những rủi ro có thể xảy ra Do vậy, hiệu quả cho vay của NH có thể sẽ bị giảm sút
- Quy trình cho vay
Quy trình cho vay là thứ tự các bước mà cán bộ tín dụng và những người có liên quan, có thẩm quyền cần thực hiện trong quá trình cho vay Nó được bắt đầu từ khi tiếp xúc khách hàng để chuẩn bị lập hồ sơ vay vốn cho đến khi thu hồi được hết nợ và lưu lại các thông tin về khách hàng
Hiệu quả cho vay có được đảm bảo hay không phụ thuộc nhiều vào quy trình tín dụng của NH Việc thực hiện tốt các nội dung, quy định trong từng bước cùng với với việc phân tích tín dụng hiệu quả sẽ giúp NH tránh được rủi ro cũng như nâng cao được hiệu quả cho vay
Trong quy trình cho vay, NH cần chú ý đến một số bước quan trọng như: tiếp xúc tìm hiểu khách hàng, thẩm định, phân tích hồ sơ vay vốn, kiểm tra sử dụng vốn vay, thu
nợ gốc và lãi
+ Tiếp xúc tìm hiểu khách hàng là một khâu quan trọng trong quá trình cho vay Trong giai đoạn này nhân viên NH cần thu thập được đầy đủ thông tin, có được những thông tin đầy đủ, chính xác, trung thực để có được những đánh giá đầy đủ và tổng thể về khách hàng làm cơ sở cho việc quyết định cho vay và đề xuất hạn mức cho vay đối với khách hàng
Trang 20+ Thẩm định và phân tích hồ sơ vay vốn phải đảm bảo phân tích chính xác tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh, của các dự án đầu tư của DN cũng như khả năng sinh lời của dự án và hiệu quả kinh tế mà dự án mang lại… Hơn nữa, còn đảm bảo đánh giá đúng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của DN.
+ Kiểm tra sử dụng vốn vay: là bước giúp NH hàng nắm được diễn biến của khoản vốn đã cung cấp cho khách hàng để NH có những điều chỉnh, can thiệp kịp thời, sớm ngăn ngừa được rủi ro có thể xảy ra Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sử dụng vốn giúp NH thiết lập được hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, tránh được tổn thất cho NH
+ Thu hồi nợ gốc và lãi: là khâu rất quan trọng, cho biết hoạt động cho vay của NH
có thực sự mang lại lợi nhuận cho NH hay không? Sự nhạy bén của NH trong việc phát hiện kịp thời những biểu hiện bất lợi có thể xảy ra do doanh nghiệp mang lại và đưa ra những biện pháp xử lý kịp thời sẽ làm giảm tối thiểu những khoản nợ quá hạn, hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất cho NH
- Hệ thống thông tin tín dụng
Hệ thống thông tin hữu hiệu, nắm bắt kịp thời chính xác luồng thông tin về khách hàng là điều kiện để xem xét và đưa ra quyết định cho vay, đề phòng được những rủi ro
có thể xảy ra trong hoạt động cho vay của NH
Đối với các NHTM, việc xây dựng hoàn chỉnh một hệ thống thông tin tín dụng với nhiều kênh, nhiều nguồn cung cấp, xử lý thông tin kịp thời… là một trong những điều kiện quyết định sự thành công trong công tác kinh doanh và nâng cao hiệu quả cho vay của NHTM
- Hiệu quả công tác huy động vốn
Một trong những chức năng quan trọng của NH đó là chuyển tiết kiệm thành đầu
tư Do đó, NH có thực hiện tốt công tác huy động vốn thì mới mở rộng được hoạt động cho vay Nếu NH có một chính sách tín dụng hợp lý, có chiến lược khách hàng tốt, thu hút được nhiều khách hàng vay vốn có uy tín thì sẽ mang lại cho NH nguồn thu nhập đáng kể
- Công tác thanh tra, kiểm tra
Công tác này phải được thực hiện song song kết hợp giữa thanh tra - kiểm tra ngân hàng và kiểm tra, giám sát DN Việc thanh tra, kiểm tra phải được thực hiện một cách khách quan, trung thực có như vậy mới giúp NH tránh được những rủi ro do yếu tố chủ quan mang lại
Trang 21- Trình độ của cán bộ NH
Con người là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất cứ DN nào, hoạt động cho vay của NH cũng không nằm ngoài sự tác động đó Hiệu quả cho vay cao hay thấp phụ thuộc khá nhiều vào công tác tuyển chọn
và đào tạo đội ngũ cán bộ của mỗi NHTM Một NHTM với đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt thì sẽ thực hiện các nghiệp vụ NH nói chung và nghiệp vụ cho vay nói riêng một cách hệ thống, chuyên nghiệp và đạt hiệu quả cao hơn
* Các nhân tố thuộc về DN :
Đặc điểm chung của các DNV&N hiện nay là năng lực tài chính yếu kém, thiếu tài sản thế chấp, phương án sản xuất kinh doanh chưa có tính khả thi cao, thông tin kế toán chưa đáng tin cậy, trình độ quản lý của chủ DN yếu kém nên nhiều DN chưa đủ sức để cạnh tranh trên thị trường Điều này có thể dẫn đến việc sản xuất kinh doanh không hiệu quả, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho NH làm cho hoạt động cho vay của NH không
có hiệu quả Ngoài ra, do quy mô vốn nhỏ, DN thiếu tài sản thế chấp để vay vốn hoặc có nhưng không đủ điều kiện Các DNV&N chủ yếu tận dụng nguồn lao động tại địa phương nên trình độ chuyên môn, tay nghề của lao động thấp, kể cả chủ DN Nhiều DN chưa xây dựng được các phương án sản xuất kinh doanh, các dự án đầu tư có tính khả thi cao để thuyết phục các NH bỏ vốn đầu tư làm cho hoạt động cho vay DNV&N của NH kém hiệu quả
Đặc biệt trình độ yếu kém của DN trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ NH, chây lì… là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của NH Rất nhiều khách hàng sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao Để đạt được mục đích của mình, họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn ứng phó với NH như cung cấp thông tin sai, mua chuộc… Nhiều DN đã không tính toán kỹ lưỡng hoặc không có khả năng tính toán kỹ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh Trong trường hợp còn lại nhiều DN kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho NH đúng hạn
Họ hy vọng có thể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt
Sử dụng vốn là một trong những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả cho vay của NH DN sử dụng vốn của NH không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng với phương án, mục đích xin vay, thậm chí có một số DN còn sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản cố định hoặc kinh doanh bất động sản… làm cho vốn đầu tư của NH đứng trước rủi ro lớn, hiệu quả cho vay của NH bị giảm sút
Như vậy, DNN&V là đối tượng khách hàng lớn và đầy tiềm năng mang lại cho các
NH nguồn thu nhập đáng kể Hoạt động cho vay của NHTM có hiệu quả hay không không những phụ thuộc vào khả năng, trình độ chuyên môn của NH mà còn phụ thuộc nhiều vào bản thân các DN DN có hoạt động hiệu quả, thực hiện đúng nguyên tắc vay
Trang 22vốn thì cùng với đó hoạt động cho vay của NH mới có hiệu quả Điều đó thể hiện chất lượng của hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng được biểu hiện cụ thể qua các chỉ tiêu
có thể tính toán được như: kết quả kinh doanh, dư nợ, nợ quá hạn… và được trình bày cụ thể ở nội dung của chương tiếp theo
1.4 Kinh nghiệm mở rộng tín dụng đối với DNV&N ở một số quốc gia trên thế giới :
1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc :
Theo các chuyên gia, kinh nghiệm cho vay DNV&N của Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) là NH thực hiện việc hỗ trợ tài chính, còn chính quyền địa phương chịu trách nhiệm điều phối tín dụng Trung Quốc còn thành lập một hệ thống bảo lãnh tín dụng cho DNV&N, hợp tác với NH thế giới và các NH nhỏ khác thực hiện cho vay đối với các DN siêu nhỏ Điều này lý giải vì sao chỉ với 4.000 nhân viên, CDB có thể hỗ trợ tới 16.050 DNV&N hoạt động trên một địa bàn rộng lớn (549 quận - huyện) với dư nợ lên tới 16,79 tỷ nhân dân tệ
1.4.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản :
Kinh nghiệm của Công ty Tài chính DNV&N ở Nhật Bản (JASME) là mở rộng cho vay trên cơ sở xây dựng một hệ thống các tiêu chuẩn phân tích tình hình tài chính và mức độ rủi ro tín dụng của loại hình DN Theo đó, dựa trên hệ số tín nhiệm, JASME xem xét cho vay mà không cần có tài sản đảm bảo Đổi lại, JASME áp dụng một hệ thống tính phí bảo hiểm khoản vay dựa trên cơ sở rủi ro tín dụng Nhật bản đã thực hiện chương trình “ hiện đại hóa” DNV&N với hàng loạt các chính sách tập trung vào : xúc tiến hiện đại hóa hạ tầng kinh doanh cho các DNV&N, hiện đại hóa các thể chế quản lý, thành lập trung tâm hộ trợ DNV&N, cung ứng các hoạt động tư vấn cho DNV&N, áp dụng các giải pháp tài chính cho DNV&N…Các biện pháp trên dã giúp các DNV&N tiếp cận được nguồn vốn NH với sự giúp đỡ của 2 NH lớn : NH Shoko Chukin Bank ( SCB) và NH phát triển Nhật bản ( DBJ)
1.4.3 Kinh nghiệm của các nước châu Âu :
Các nước này đã áp dụng chính sách tín dụng hỗ trợ DN như : ngăn chặn việc các
DN lớn trì hãn thanh toán cho các DNV&N, hỗ trợ tài chính cho hiện đại hóa công nghệ thiết bị, hỗ trợ tài chính cho việc áp dụng công nghệ tin học và quản lý và phân tích kinh
tế, hỗ trợ tài chính cho các DNV&N phát triển mạng lưới thông tin tiếp thị, cho phép các quỹ đầu tư tham gia vốn vào các DNV&N Ngoài ra Chính phủ còn lập các NH để cung cấp tài chính cho các DNV&N thông qua các quỹ : quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ cho DNV&N, quỹ hỗ trợ DNV&N mới thành lập, quỹ bảo lãnh tín dụng nói chung cho DNV&N sử dụng và phát triển công nghệ mới, cho phép các DNV&N liên kết với nhau
Trang 23để hình thành quỹ tương trợ trên cơ sở cùng góp thêm vốn vào phần tài trợ ban đầu của Nhà nước để ngăn chặn tình trạng phá sản dây chuyền.
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam :
Thứ nhất : linh hoạt hình thức cho vay có đảm bảo.
Đây là hình thức mở rộng hình thức cho vay có bảo đảm bằng hàng hóa, dịch vụ
NH có thể giải ngân dựa trên phương án sản xuất kinh doanh, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, uy tín của DN Và đặc biệt là NH có thể phát triển hình thức cho vay có đảm bảo bằng các khoản sẽ phải thu của DN
Thứ hai : cần nhanh chóng triển khai mô hình quỹ bảo lãnh tín dụng.
Quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ đứng ra bảo lãnh các khoản vay không đủ điều kiện về thế chấp tài sản và cam kết trả nợ thay cho các DNV&N Chính thức được triển khai từ 10/2/2009, nguồn quỹ dự phòng rủi ro bảo lãnh vay vốn là 200 tỉ đồng được chính phủ giao cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam làm đầu mối (VDB) Những DN thuộc các thành phần kinh tế (kể cả hợp tác xã) có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng và sử dụng tối đa
500 lao động sẽ được bảo lãnh vay vốn Quy mô dự án, phương án sản xuất kinh doanh của DN tối thiểu là 100 triệu đồng, không nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng, không nợ thuế, có vốn chủ sở hữu tham gia tối thiểu 10% và sử dụng 100% giá trị tài sản hình thành từ vốn vay để thế chấp bảo đảm bảo lãnh Số tiền được bảo lãnh tối đa bằng 100%
số nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa hai bên với mức phí bảo lãnh tối đa bằng 0,5%/năm/số tiền bảo lãnh Điều này cho thấy biện pháp này đã bắt đầu được chú ý ở nước ta
Thứ ba : thực hiện chính sách khách hàng đặc biệt đối với các DNV&N.
NH phải xác định chiến lược hoạt động dành cho khách hàng là DNV&N Chính sách này phải hướng tới việc thu hút thêm nhiều DNV&N và ưu đãi đối với các DNV&N
có quan hệ tín dụng thường xuyên và tốt với NH Chẳng hạn như về chính sách tín dụng thì NH phải có sự hướng dẫn cho vay riêng biệt đối với đối tượng là DNV&N, mở rộng việc cấp tín dụng trên cơ sở cho vay theo dự án đầu tư : thương mại, dịch vụ, đổi mới máy móc thiết bị, cho vay theo phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ : cho vay bổ sung vốn lưu động mua nguyên, nhiên, vật liệu và các chi phí phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cho vay mua phương tiện vận chuyển, cho vay tài trợ thực hiện các hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa, cho vay các nhu cầu về tài chính : nộp thuế, mua cổ phần,
cổ phiếu , cầm cố, chiết khấu GTCG Ví dụ như chính sách mà NH MHB đã áp dụng đối với các DNV&N sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả, có quan hệ tín dụng với MHB từ 2 năm trở lên, trả nợ gốc, nợ lãi vay đủ đúng hạn, được MHB xem xét quyết định cho vay với lãi suất thấp hơn tối đa là 10% lãi suất cho vay cùng loại Trường hợp DNV&N vừa có quan hệ tín dụng với MHB vừa sử dụng các dịch vụ NH của MHB như
mở L/C, chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, mua bán ngoại tệ, nghiệp vụ bảo lãnh… có thể được MHB xem xét quyết định áp dụng chính sách khách hàng với lãi suất cho vay
Trang 24thấp hơn lãi suất cho vay cùng loại tối đa là 15%, hoặc giảm thu phí dịch vụ tối đa là 20%
phí dịch vụ cùng loại MHB chấp nhận các loại tài sản bảo đảm như bất động sản : đất
đai, nhà xưởng, động sản: máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển, nguyên vật liệu, hàng hóa, các giấy tờ có giá, cổ phiếu, trái phiếu, tài sản hình thành từ vốn vay, bảo lãnh của bên thứ ba
Thứ tư : góp phần đầu tư liên doanh, liên kết với DNV&N.
Để mở rộng tín dụng, NH không nhất thiết chỉ cho DN vay vốn mà có thể lựa chọn xem DN nào làm ăn có hiệu quả, có triển vọng thì NH có thể thỏa thuận ký hợp đồng liên doanh, liên kết với những DN đó để cùng sản xuất, kinh doanh Như vậy, NH không những mở rộng được tín dụng mà còn có điều kiện xâm nhập thị trường, đồng thời trực tiếp giám sát, quản lý vốn cho vay
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI
2.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội
2.1.1 Vài nét về tình hình kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội trong năm2008 :
Năm 2008, GDP tăng 10,58% so năm 2007, trong đó ngành công nghiệp tăng 11,7%, dịch vụ tăng 10,8% và nông, lâm, thuỷ sản tăng 2,7% Ước tính cả năm 2008, Hà Nội thu hút được khoảng 300 dự án với vốn đầu tư đăng ký khoảng trên 5 tỷ USD (tăng 53,3%); trong đó cấp mới 270 dự án, với vốn đầu tư ước tính 4,4 tỷ USD (tăng 54,9%),
bổ sung tăng vốn 30 dự án (tăng 3,4%) với khoảng 0,6 tỷ USD (tăng 42,2%) Dự kiến vốn đầu tư xã hội năm 2008 là 97.697 tỷ đồng, tăng 19,3% so năm 2007, trong đó vốn đầu tư Nhà nước giảm 22,1%, vốn đầu tư của DNNN tăng 12,9%, vốn đầu tư của kinh tế ngoài Nhà nước tăng 29,2%, dân cư đầu tư tăng 37,9% và vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,1% Tổng mức và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước tăng 28,2% so với năm
2007, trong đó tổng mức bán lẻ tăng 31,2% Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so tháng trước giảm 1,3%, tăng 22,92% so với năm 2007, chỉ số giá vàng tăng 32,72%, chỉ số giá Đôla Mỹ tăng 3,25% Tổng nguồn vốn huy động là 428.092 tỷ đồng, tăng 6,45%
so tháng trước và tăng 10,6% so cùng kỳ năm trước, trong đó tiền gửi dân cư tăng 15,34% và 15,8%, tiền gửi của tổ chức kinh tế tăng 0,3% và 7,01% Tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng 12 năm 2008 đạt 258.869 tỷ đồng, tăng 23,48% so tháng trước và tăng 27% so cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ ngắn hạn tăng 19,81% và 25,03%, dư nợ trung và dài hạn tăng 29,22% và 30,09%
Trang 25Năm 2008, kinh tế Hà Nội tiếp tục tăng trưởng từng bước phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, ổn định và bền vững, tăng trưởng đồng đều ở các thành phần kinh tế.
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội :
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam Chi nhánh Bắc Hà Nội
là một Chi nhánh cấp 1 trong mạng lưới Chi nhánh của NHNo&PTNTVN Chi nhánh Bắc Hà Nội được thành lập theo quyết định số 342/QĐ/HĐQT-TTCB của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNTVN ngày 05 tháng 9 năm 2001
Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu như sau :
1 Huy động vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với nhiều hình thức như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành kỳ phiếu, tín phiếu chứng chỉ tiền gửi với lãi suất hấp dẫn và phương thức thanh toán linh hoạt; Chiết khấu các loại chứng từ có giá với mức chi phí hợp lý
2 Đầu tư vốn tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với lãi suất thích hợp: Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và cho vay chiết khấu các loại giấy tờ có giá, cho vay tài trợ theo chương trình, dự án, cho vay đồng tài trợ với các NHTM bạn, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay dài hạn các dự án lớn, cho vay khép kín các chu trình sản xuất - lưu thông, cho vay các chương trình chỉ định của Chính phủ
3 Thanh toán bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ: Thanh toán chuyển tiền điện tử trong cả nước, thanh toán Quốc tế qua mạng SWIFT, TELEX, thanh toán L/C, thanh toán tiền gửi và các giấy tờ có giá, thanh toán biên giới
4 Bảo lãnh bằng đồng Việt Nam ngoại tệ: Bảo lãnh thư tín dụng hoặc tái bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh đấu thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh hợp đồng, bảo lãnh, tái bảo lãnh hoặc đồng bảo lãnh cho các doanh nghiệp, tổ chức tài chính tín dụng trong nước và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
5 Kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng đối ngoại: Tiếp nhận và triển khai các dự án uỷ thác vốn, dự án tài trợ kỹ thuật, dự án làm dịch vụ giải ngân, dự án uỷ nhiệm cho các chi nhánh thực hiện, dự án nâng cao năng lực
6 Đầu tư dưới các hình thức hùn vốn, liên doanh, mua cổ phần, mua tài sản và các hình thức đầu tư khác với các doanhnghiệp và các tổ chức tài chính tín dụng
7 Cầm cố động sản
8 Kinh doanh, xuất nhập khẩu mỹ nghệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý
9 Làm đại lý cho các tổ chức tài chính tín dụng trong nước, nước ngoài và quốc tế
Trang 2610 Dịch vụ cho thuê tài chính: Nhập khẩu máy móc thiết bị cho thuê, tư vấn, nhận bảo lãnh về những hoạt động dịch vụ có liên quan đến nghiệp vụ cho thuê tài chính.
11 Kinh doanh mua bán chứng khoán, làm môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư vốn của khách hàng, tư vấn chứng khoán, lưu ký và đăng ký chứng khoán
12 Cung ứng các dịch vụ đào tạo cho các tổ chức và cá nhân: Giảng dạy, học tập tham quan, khảo sát nghiên cứu khoa học
13 Cung úng các dịch vụ công nghệ thông tin: Cung cấp thiết bị tin học, dịch vụ ITCA như phân tích thết kế lắp đặt hệ thống, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa dịch vụ mạng, dịch vụ hỗ trợ hệ thống
14 Cung ứng các dịch vụ: Bảo hiểm, quản lý nợ và khai thác tài sản, cho thuê két sắt, cất giữ bảo quản chứng khoán, giấy tờ có giá bằng tiền và tài sản quý, chi trả tiền lương tại các tổ chức và DN, chi trả kiều hối, chi trả tại gia…
2.1.3 Cơ cấu tố chức của NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà N
NHNo&PTNT Chi nhánh Bắc Hà Nội có trụ sở đăt tại số 217 Phố Đội Cấn Quận
Ba đình Hà Nội Sau 6 năm hình thành và phát triển đến nay Chi nhánh Bắc Hà Nội đã ngày càng hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của các phòng ban cũng như của các chi nhánh trực thuộc
Mạng lưới của Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT Bắc Hà Nội có:
Phòng ban:
- Phòng Kế toán - Ngân quỹ
- Phòng tín dụng
- Phòng Nguồn vốn và Kế hoạch tổng hợp
- Phòng Thanh toán quốc tế
- Phòng Kiểm tra Kiểm toán
- Phòng Hành chính Nhân sự
- Phòng thẻ và phát triển sản phẩm dịch vụ
Các Chi nhánh trực thuộc địa chỉ và Quyết định thành lập:
- Chi nhánh Hoàng Quốc Việt địa chỉ tại 95 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Quận Cầu Giấy, Hà Nội Thành Lập theo quyết định số 69/QĐ/HĐQT-TCCC ngày 8 tháng 4 năm 2003 của Chủ tịch HĐQT NHNo&PTNTVN( tiền thân là phòng giao dịch
số 1- NHNo&PTNT Bắc Hà Nội)
Trang 27- Chi nhánh Kim mã địa chỉ 129 đường Kim Mã, phường Kim Mã quận Ba Đình Hà Nội Thành lập theo quyết định số 280/QĐ/HĐQT-TCCC ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Chủ tịch HĐQT NHNo&PTNTVN.
- Chi nhánh Nguyễn Văn Huyên địa chỉ Lô B1-DN17, khu đất2, đường Nguyễn văn Huyên, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội Thành lập theo quyết định số 127/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 17 tháng 5 năm 2005 của Chủ tịch HĐQT NHNo&PTNTVN
Các Phòng giao dịch trực thuộc:
- Phòng giao dịch số 2 địa chỉ số nhà 59-61 phố Hàng Giấy, phường Đồng xuân, quận Hoàn Kiếm Hà Nội Thành lập theo quyết định số 283/QĐ-HCNS ngày 17 tháng 5 năm 2002 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
- Phòng giao dịch số 4 địa chỉ lô 6 dãy E khu D74Công Binh, phường Ngọc Hà, Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội Thành lập theo quyết định số 547QĐ/HCNS ngày 07 tháng 10 năm 2003 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
- Phòng giao dịch số 5 địa chỉ số 65A Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba đình,
Hà Nội.Thành lập theo quyết định số 276QĐ/HCNS ngày 20 tháng 5 năm 2004 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
- Phòng giao dịch số 1 trực thuộc chi nhánh Hoàng quốc Việt,địa chỉ số 97, đường Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội Thành lập theo quyết định số 18/HCNS ngày
05 tháng 1 năm 2006 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
Đến 31/12/2008, toàn chi nhánh có 152 lao động trong đó có 56 lao động nam và
96 lao động nữ
Số lượng người cụ thể của các phòng ban và tại các chi nhánh trực thuộc là:
Ban Giám đốc: 4
Phòng Kiểm tra Kiểm toán: 4
Phòng Thanh toán Quốc tế: 5
Trang 28Chi Nhánh Nguyễn Văn Huyên: 23
Phòng giao dịch số 2: 5
Phòng giao dịch số 4: 7
Phòng giao dịch số 5: 6
Đào tạo: đào tạo và đào tạo lại cán bộ là nhiệm vụ sống còn và thường xuyên của
Chi nhánh Chi nhánh đã tổ chức và vận động toàn bộ CBCNV thường xuyên học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, trình độ tin học, ngoại ngữ…bằng mọi hình thức và khả năng có thể, đặc biệt chú trọng đến chất lượng học tập và có chế độ khuyến khích những người học tập đạt kết quả cao Đến nay toàn chi nhánh có 2 lao động có trình độ tiến sỹ, 7 lao động là thạc sỹ, 113 lao động có trình độ Đại học, 8 lao động trình
độ Cao đẳng,18 lao động trình độ trung cấp và 4 lao động chưa qua đào tạo ( lái xe)
Bảng 2.1 : Trình độ cán bộ nhân viên toàn chi nhánh
Biên chế Số cán bộ nhân viên Cơ cấu so với toàn chi nhánh
Mặc dù mới hoạt động được 6 năm, nhưng NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội
đã nỗ lực và hoàn thành xuất sắc kế hoạch đặt ra Trên cơ sở tiếp tục thực hiện định hướng kinh doanh đã lựa chọn, điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế, đảm bảo tăng trường đều và vững mạnh, chi nhánh thực hiện mở rộng quy mô gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh, đa dạng các hình thức
Trang 29huy động vốn, từng bước nâng cao tỷ trọng nguồn vốn có tính ổn định, có mức lãi suất đầu vào hợp lý Đồng thời, thực hiện cho vay có chọn lọc trong phạm vi kiểm soát, ưu tiên cho vay tiêu dùng, cho vay hộ gia đình sản xuất và cho vay DNV&N Đến cuối năm
2008, Chi nhánh đã cơ bản đạt được những mục tiêu đã đề ra :
Bảng 2.2 : Kết quả tài chính trong năm 2006, 2007, 2008
( Nguồn : Phòng Kế hoạch – Nguồn vốn )
Qua bảng trên ta thấy :
• Về tổng thu : tổng thu của NH trong năm 2008 đạt 412.320 tỷ VNĐ, giảm so vớinăm 2007 là 74.529 tỷ đồng, trong đó dịch vụ đạt 9.504 tỷ (chiếm 2,3% tổng thu nhập ) Nguyên nhân là do cuộc chạy đua lãi suất từ các NH, cuộc khủng hoảng kinh tế Trong điều kiện lãi suất cao và kinh tế gặp khó khăn, nhu cầu vay và sử dụng các dịch vụ bị thu hẹp
Xét về cơ cấu nguồn thu, thu từ lãi vẫn là nguồn thu chính từ NH Tổng thu từ dịch vụ đã có đóng góp tương đối vào tổng thu Điều này cho thấy các sản phẩm của NH
có sức thu hút với người sử dụng Ngoài các hoạt động huy động tiền gửi và tín dụng, NH còn mở rộng và phát triển thêm nhiều dịch vụ khác như : thanh toán, bảo lãnh, dịch vụ chuyển tiền nhanh – Weston Union, kiều hối, giữ hộ tài sản, cho thuê tài chính, thanh toán quốc tế và đặc biệt là gói dịch vụ Mobile Banking ( SMS banking, dịch vụ chuyển khoản siêu nhanh qua tin nhắn, dịch vụ nạp tiền cho thuê bao di động trả trước…) Nhưng tính hiệu quả của những dịch vụ này là chưa cao Điều này có thể thấy rõ trong xu
Trang 30thế giảm về cơ cấu của tổng thu dịch vụ so với tổng thu từ 2,8% năm 2007 xuống 2,3% năm 2008 Đây là xu hướng không tốt đối với hoạt động của NH.
• Về tổng chi : tổng chi năm 2008 đạt 332.601 tỷ giảm so với năm 2007
là 112.291 tỷ, tốc độ giảm là 25,24% Trong đó chi trả lãi : 260.511 tỷ, chiếm 78% trong tổng chi Quan sát trong cơ cấu tổng chi ta thấy, chi từ lãi và chi khác đều giảm mạnh góp phần làm giảm tổng chi
• Chênh lệch thu nhập – chi phí : 79.719 tỷ, tăng so với năm 2007 là 37.762 tỷ Đây
là kết quả của sự nhanh nhẹn và ứng biến kịp thời, tính toán chính xác của NH trong điều kiện khó khăn hơn Việc tiết kiệm, giảm chi phí với tốc độ giảm lớn là nguyên nhân chênh lệch tăng như trên
2.2 Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội :
2.2.1 Về công tác huy động vốn :
Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội cụ thể như sau :
Bảng 2.3 : Tình hình huy động vốn tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội
( Đơn vị : tỷ đồng )
2006 2007 2008
Số tiền
Cơ cấu Số tiền Cơ cấu Số tiền Cơ cấu
Trang 31( Nguồn : Phòng Kế toán – Nguồn vốn)
Qua bảng số liệu về tình hình huy động vốn của chi nhánh ta thấy :
• Tổng vốn huy động của chi nhánh trong năm 2008 là 5.641 tỷ Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của chi nhánh năm 2008 so với năm 2007 là 4,29%, tỷ lệ này là không cao so với năm 2007 ( tăng 18,67%) nhưng vẫn là khả quan trong điều kiện như hiện nay Công tác huy động vốn tiền gửi của chi nhánh gặp rất nhiều khó khăn nhất là do
sự cạnh tranh hết sức gay gắt giữa các NHTM trên địa bàn thành phố Hà Nội Bên cạnh việc huy động vốn bằng các biện pháp huy động truyền thống, NH đã nỗ lực tìm mọi biện pháp tranh thủ và thu hút tiền gửi thanh toán, vốn tạm thời nhàn rỗi: đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo rộng rãi về sản phẩm trên các phương tiện truyền thông, để sẵn nơi giao dịch và phát đến tận nhà dân những tờ rơi giới thiệu sản phẩm, nhằm tăng số lượng khách hàng, người dân biết đến chi nhánh Bắc Hà Nội, tăng cường phát hành các giấy tờ
có giá như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu cho các đơn vị, đưa vào sử dụng thêm
3 máy ATM mới, mua mới và lắp đặt 10 thiết bị EDC để phát triển thêm kênh thanh toán thẻ và giảm tải cho các máy ATM, thực hiện tốt các đợt triển khai tiết kiệm dự thưởng…Những sản phẩm nói chung vẫn chưa thực sự đa dạng nhưng đã giúp NH duy trì tốc độ tăng trưởng nguồn vốn so với năm trước Nhưng vẫn đề ở đây không phải chỉ là huy động nhiều là tốt mà quan trọng là phải đảm bảo được cơ cấu hợp lý
• Phân tính cơ cấu nguồn vốn huy động :
Trang 32- Theo loại tiền :
Nguồn vốn huy động bằng VNĐ chiếm tỷ trọng rất cao (khoảng 80,5% tổng nguồn vốn huy động ) Nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ là 19,5% tổng nguồn vốn huy động Có thể nhận thấy, năm 2007 thì tỉ trọng huy động vốn bằng ngoại tệ không lớn Điều này xuất phát việc đồng USD đang giảm giá so với VNĐ, khiến cho nhiều DN lẫn người dân quay lưng lại với đồng đôla Mỹ Nhưng đến năm 2008, đồng USD có xu hướng chiếm tỉ trọng lớn hơn trong tổng nguồn vốn huy động Nguyên nhân có thể do lượng kiều hối vẫn đổ vào nước là 9 tỉ USD, tăng 19% dù điều kiện kinh tế khó khăn, do lãi suất tiền gửi ngoại tệ cao hơn so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ, hoặc do tâm
lý của dân cư lo ngại trước sự biến động bất thường của giá vàng và đô la trên thị trường nên việc thu hút ngoại tệ từ dân cư tăng hơn so với năm trước
- Theo thành phần kinh tế :
2006 2007 2008
Số tiền
Cơ cấu Số tiền Cơ cấu Số tiền Cơ cấu
Trang 33Tỷ trọng tiền gửi của các tổ chức tín dụng trong tổng nguồn vốn có sự tăng đáng
kể từ 184 tỉ năm 2007 lên 531 tỷ năm 2008 với tốc độ tăng là 188,7% và chiếm 9,42% tổng nguồn vốn huy động
Với các thành phần khác, tuy có sự sụt giảm trong tỷ trọng nhưng tiền gửi của các
tổ chức tín dụng và tổ chức kinh tế đều tăng lên về mặt giá trị và vẫn chiếm một tỷ trọng cao Năm 2008, tiền gửi dân cư chiếm 10,44% tổng nguồn vốn huy động và có xu hướng giảm liên tục về tỷ trọng trong 3 năm liên tiếp Trong khi đó, nguồn vốn tiền gửi, tiền vay
từ các tố chức tín dụng lại tăng cao Điều này cho thấy sự bất hợp lý trong cơ cấu huy động vốn của NH NH chưa khai thác được nguồn vốn từ dân cư với chi phí thấp mà lại
có sự tăng nhanh về nguồn từ các tổ chức tín dụng với lãi suất bỏ ra rất cao Nguyên nhân
sự hoán đổi này là do kinh tế gặp khó khăn, người dân thu hẹp tiết kiệm để tiêu dùng những nhu cầu không đổi, sản phẩm của NH chưa thực sự đến được với người dân Các
tổ chức kinh tế cũng gặp khó khăn tương tự khiến cho nguồn vốn huy động không đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng dư nợ dẫn đến mức vay nợ trên thị trường liên NH của chi nhánh tăng cao Đây là điểm bất lợi về lâu về dài vì nguồn từ các tổ chức tín dụng vừa đắt lại chỉ mang tính tạm thời
- Theo thời gian :
Trong năm 2008, nguồn vốn huy động không kỳ hạn giảm mạnh từ 2.252 tỷ, chiếm 57,92% xuống 2.010 tỷ, chiếm 35,63% tốc độ giảm là 10,75% Trong khi đó nguồn vốn ngắn hạn tăng từ 669 tỷ lên 740 tỷ ( tăng 71 tỷ với tốc độ 10,6%), nguồn vốn trung và dài hạn tăng mạnh từ 2.488 tỷ năm 2007 đến 2.891 tỷ năm 2008 với tốc độ tăng
là 16,2%
Xét về thời thời hạn thì nguồn vốn ngắn hạn và trung dài hạn đều có xu hướng tăng bên cạnh sự thu hẹp mạnh của nguồn vốn không kỳ hạn Trong 3 năm qua, có thể nhận thấy nguồn vốn trung và dài hạn có xu hướng tăng nhiều nhất và ngày càng chiếm
tỷ trọng cao hơn Năm 2008, NH có sự hoán đổi vị trí giữa nguồn không kỳ hạn và nguồn trung dài hạn Nguồn trung và dài hạn trở thành nguồn chiếm tỷ trọng cao nhất ( 51,25% tổng nguồn vốn huy động ) Nguyên nhân là do trong các năm qua, chi nhánh đã làm tốt các đợt huy động vốn như tiết kiệm, dự thưởng, phát hành chứng chỉ tiền gửi…Sự tăng lên của nguồn trung và dài hạn giúp cho chi nhánh phần nào tạo lập được một nguồn vốn
ổn định, lâu dài cho quá trình đầu tư và cho vay
2.2.2 Về tình hình sử dụng vốn :
Nghiệp vụ sử dụng vốn được đánh giá là nghiệp vụ quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NH Chính vì thế các NH luôn đặt ra mục tiêu sao cho sử dụng vốn được tối đa và có hiệu quả nhất Bởi có thể nhận thấy trong bảng nguồn thu từ lãi là nguồn thu
Trang 34quan trọng nhất, có tỷ trọng chiếm tới 97,8% tổng thu của chi nhánh Do đó, chi nhánh Bắc Hà Nội đã rất quan tâm, chú trọng tới nghiệp vụ này và đạt được kết quả cụ thể như sau :
Bảng 2.4 : Tình hình sử dụng vốn tại NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội
( Đơn vị : tỷ đồng )
Số tiền Cơ cấu Số tiền Cơ cấu Số tiền Cơ cấu
( Nguồn : Phòng Kế toán – Nguồn vốn )
Qua bảng số liệu trên ta thấy :
• Tổng doanh số cho vay năm 2008 đạt 2.319 tỷ, giảm so với năm 2007
là 757 tỷ, tốc độ giảm là 24,61%
Trang 35• Tổng doanh số thu nợ năm 2008 đạt 2.286 tỷ, giảm so với năm 2007
là 229 tỷ, tốc độ giảm là 9,11%
• Tổng dư nợ năm 2008 đạt 2.107 tỷ, tăng so với năm 2007 là 55 tỷ, tốc
độ tăng là 2,68%
Tình hình chung là doanh số cho vay và doanh số thu nợ của NH đều giảm với tốc
độ tương đối trong khi tổng dư nợ lại có xu hướng tăng Tình trạng này là do kinh tế khó khăn, lãi suất NH đợt đầu năm lại tăng cao khiến cho chi phí trả lãi của người vay là lớn, giá cả thì vẫn ở mức cao khiến cho nhu cầu vay giảm xuống rõ rệt, khả năng thanh toán
cả gốc và lãi của người vay cũng sụt giảm
• Phân tích theo cơ cấu dư nợ :
- Dư nợ theo thời gian :
Dư nợ ngắn hạn : đã giảm từ 1.150 tỷ năm 2007 xuống 1.093 tỷ năm 2008, tốc độ giảm 4,96% chiếm tỷ trọng 51,87% tổng dư nợ cho vay
Dư nợ trung và dài hạn : đã tăng từ 902 tỷ năm 2007 lên 1.014 tỷ năm 2008, tốc độ tăng 12,42%
Xét về tỷ trọng thì cả dư nợ ngắn hạn và dài hạn chiếm tỷ trọng tương đương trong tổng dư nợ Nhưng dư nợ ngắn hạn trong 3 năm có xu hướng giảm nhẹ Trong khi đó, bù lại sự tăng của dư nợ trung và dài hạn với tốc độ tăng lớn đã kéo dư nợ năm 2008 tăng lên Điều này cho thấy, NH hướng tới việc giải quyết những khoản vay trung và dài hạn Nguyên nhân của tình hình này là thời gian qua, Chi nhánh Bắc Hà Nội đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu dư nợ theo hướng mở rộng cho thành phần kinh tế vừa và nhỏ ( đặc biệt là DN), trong đó chủ yếu hướng tới giải quyết các khoản vay : mở rộng sản xuất, chuyển hướng đầu tư…mang tính dài hạn
- Dư nợ theo thành phần kinh tế :
Dư nợ thành phần DNNN đạt 327 tỷ, giảm 21 tỷ so với năm 2007, tốc độ giảm là 6,03%
Dư nợ thành phần ngoài quốc doanh là 1.780 tỷ, chiếm 85% tổng dư nợ, tăng 76 tỷ
so với năm 2007 Trong đó, yếu tố quyết định là sự gia tăng về dư nợ của DNNQD, chiếm 57,71% tổng dư nợ
Trong 3 năm, xu hướng chung là sự mở rộng về tỷ trọng cho vay DNNQD, sự thu hẹp về tỷ trọng của DNNN Nguyên nhân là do NH đã thực hiện đúng định hướng của NHNNo&PTNT là đa dạng hóa khách hàng, tìm đến những thành phần hoạt động có hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh…Và sự lựa chọn của chi nhánh chính là DNNQD và
Trang 36DN có vốn đầu tư nước ngoài Điều này là hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của hầu hết các NH Bởi khối dân doanh này đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và hoạt động có hiệu quả Một điều đặc biệt là trong năm 2008, tốc độ tăng dư nợ của DN có vốn đầu tư nước ngoài có tăng nhưng rất nhỏ là 2,71% trong khi tốc độ tăng của năm 2007 là 95,29% Điều này cho thấy, NH cũng e dè hơn trong việc cho vay các DN có vốn đầu tư nước ngoài do lo ngại ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng.
• Nợ xấu :
Đến ngày 31/12/2008, tổng nợ xấu của toàn chi nhánh là 67 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 3,18% tổng dư nợ, thấp hơn so với mục tiêu toàn ngành là 0,72% ( mục tiêu 4%) và thấp hơn so với kế hoạch giao đầu năm là 3,72% ( kế hoạch giao là 7%) Trong đó nợ quá hạn thực trong nhóm nợ xấu là 39,798 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,8%/ tổng dư nợ Tỷ lệ nợ quá hạn của NH không quá lớn chứng tỏ hoạt động thu hồi nợ của NH diễn ra tương đối tốt Công tác kiểm tra, kiểm soát được chi nhánh coi trọng và thực hiện nghiêm túc Trong năm 2008, ngoài việc tổ chức các cuộc kiểm tra thường lên theo đề cương của NHNo&PTNT, thanh tra thành phố, chi nhánh còn tự kiểm tra theo một chương trình riêng trong một số lĩnh vực như: tín dụng, kế toán, ngân quỹ Các đối tượng được quan tâm là : phát sinh chậm lãi, nợ gia hạn, nợ quá hạn…Tuy nợ xấu và nợ quá hạn có tăng so với năm 2007 nhưng hầu hết đều có khả năng thu hồi được Việc tăng dư nợ quá hạn này được giải thích là do kinh tế khó khăn khiến cho người vay vốn chậm trả tiền nên những khoản nợ này bị chuyển sang nhóm nợ quá hạn
• So với kế hoạch ta có bảng sau :
Bảng 2.5 : Tình hình thực hiện kế hoạch năm 2008
( Đơn vị : tỷ đồng )
( Nguồn : Phòng Kế hoạch – Nguồn vốn )
Như vậy , về nguồn vốn huy động, chi nhánh đã thực hiện vượt kế hoạch đề ra là 12,82% Đây là dấu hiệu khả quan cho thấy khả năng thu hút vốn của chi nhánh vẫn tăng
dù điều kiện kinh tế trở lên khó khăn Tuy nhiên, về tổng dư nợ chưa đạt được kế hoạch
đề ra ( mới thực hiện được 98,26% kế hoạch ) mặc dù chi nhánh đã sử dụng tăng thêm sản phẩm mới, thêm 3 máy ATM để hỗ trợ giao dịch của khách hàng nhưng nói chung là hiệu quả thu hút là chưa cao Nguyên nhân là do chính bản thân người có nhu cầu vay
Trang 37vốn thì cũng phải đắn đo khi lãi suất NH tăng cao trong đợt đầu năm 2008, mạng lưới giao dịch của NH còn chưa nhiều, thái độ của cán bộ tín dụng đối với người vay còn có hạn chế Những vẫn đề này cần phải được quan tâm và giải quyết để có thểm nâng cao sức mạnh cạnh tranh của chi nhánh.
2.3 Thực trạng hoạt động tín dụng Ngân hàng đối với các DNV&N tại
NHNo & PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội :
2.3.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội :
Tại thủ đô Hà Nội, theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, trong tổng số trên 26.000DN của Hà Nội, có tới 90% là DNV&N đang hoạt động, tồn tại ở mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh tế Số DNV&N có quy mô ít hơn 300 lao động chiếm tới 96%, số
DN có vốn đầu tư nhỏ hơn 10 tỷ đồng chiếm 36%, lớn hơn 20 tỷ đồng chiếm 17%
Trong số các DNV&N thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, với hơn 12.000
DN, số DN hoạt động ở ngành nghề thương mại, dịch vụ chiếm 50%, hoạt động ở ngành công nghiệp nhẹ chiếm 22%, còn lại là các DN hoạt động ở ngành nghề xây dựng, kinh doanh khách sạn, nhà hàng…Các DN này tăng trưởng khá đồng đều ở hầu hết các ngành nghề và đang có dấu hiệu phát triển mạnh mẽ
Thêm vào đó, Hà Nội hiện có 5 khu công nghiệp tập trung với tổng diện tích đất tự nhiên là gần 700 ha ( KCN Nội Bài, KCN Sài Đồng B, KCN Hà Nội – Đài tư, KCN Thăng Long, KCN Nam Thăng Long ) và 18 dự án cụm công nghiệp này có vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 3.000 tỷ đồng Đồng thời tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn được đăng
ký đầu tư thực hiện trên 60%, điều đó chứng tỏ môi trường các nhà đầu tư tại các KCN
Hà Nội được thực hiện rất có hiệu quả Tất cả các khu công nghiệp – cụm công nghiệp vừa và nhỏ này đều được thành phố ủng hộ, khuyến khích phát triển trong khuôn khổ cho phép, vừa để tạo nên sự đa dạng hóa, vừa là đòn bẩy cho sự tăng trưởng kinh tế của thành phố Với một số lượng DNV&N nhiều như vậy, nhu cầu về vốn để các DN này hoạt động trở nên vô cùng cấp bách, nhất là nhu cầu về vốn lưu động, phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh thường xuyên là rất lớn Chính vì thế, các DN này rất cần có sự hỗ trợ từ phía
NH Hoạt động trên một địa bàn với nhịp độ tăng trưởng mạnh mẽ và có nhiều thuận lợi như vậy, việc mở rộng tín dụng đối với các DNV&N thực sự rất có tiềm năng phát triển
Trang 382.3.2 Tình hình hoạt động tín dụng đối với DNV&N tại NHNo & PTNT
Qua bảng số liệu trên ta thấy :
• Số lượng DNV&N có quan hệ tín dụng với chi nhánh đã tăng lên qua
những năm gần đây Nếu như năm 2006 chỉ có 305 DNV&N có quan hệ tín dụng với chi nhánh, năm 2007 có 520 DNV&N thì tới năm 2008, con số này đã tăng lên tới 580, tăng
60 DN so với năm 2007 ( trong đó chủ yếu tăng số lượng các công ty CP và công ty TNHH ) Nếu tính theo tỷ lệ thì tốc độ tăng tổng số khách hàng tín dụng là DNV&N năm
Trang 392007 so với năm 2006 là 70,49% và của năm 2008 so với năm 2007 là 11,54% Có thể thấy xu hướng tăng của năm 2008 thấp hơn nhiều so với năm 2007.
Biểu đồ 2.1 : Tỷ trọng cơ cấu khách hàng DNV&N phân theo thành phần kinh tế năm 2007- 2008
• Phân tích theo cơ cấu :
Loại hình DNNN chiếm tỷ trọng rất nhỏ (chỉ có 6 DNNN, chiếm 1,03% trong tổng
số DNV&N) Xét trong 3 năm thì khối DNNN có quan hệ tín dụng với NH không có xu hướng thu hẹp như nhiều NH khác nhưng tốc độ tăng là không lớn
Loại hình DNNQD chiếm tỷ trọng cao, đạt 570 DN, chiếm 98,27% trên tổng DNV&N Trong đó, công ty CP và công ty TNHH chiếm lần lượt 46,21% và 52,07% DN
có quan hệ tín dụng với chi nhánh Năm 2008, có sự tăng nhẹ về số lượng DN có VĐTNN là 1 DN, con số không đáng kể trong tổng DNV&N Đây chính là kết quả của cuộc khủng hoảng kinh tế, việc lãi suất cho vay NH tăng cao đợt đầu năm khiến cho các công ty và DN giảm lượng tiền dư thừa tham gia hoạt động huy động vốn, đắn đo trong
Trang 40việc cho vay Nhưng ngay cả khi nền kinh tế khó khăn, số lượng công ty CP có quan hệ tín dụng với NH lại tăng tương đối với tốc độ 14% so với năm 2007, đóng góp 32 DN vào 60 DNV&N tăng lên trong năm 2008 Nguyên nhân do quá trình cố phần hóa nhanh chóng, các DN chuyển đổi từ DNNN sang các công ty CP làm tăng số lượng công ty CP Bên cạnh đó, sự tăng lên của các công ty TNHH cũng góp phần lớn vào 60 DNV&N tăng lên Mặc dù tốc độ tăng của 2 thành phần này là không lớn ( 14% và 9,35% ) nhưng lại chiếm chủ yếu trong cơ cấu DNV&N có quan hệ với chi nhánh Điều này cũng cho thấy chính sách đa dạng khách hàng của DN đã giúp chi nhánh thu hút thêm được một lượng khách hàng là các công ty CP, công ty TNHH Và đây là đối tượng chủ yếu mà NH hướng tới trong số những DNV&N vì thành phần này ngày càng thể hiện vai trò và tính hiệu quả trong hoạt động của mình bởi tính độc lập và sự chịu trách nhiệm tuyệt đối của
họ khiến họ có ý thức hơn trong hoạt động kinh doanh
Trên đây là kết quả mà chi nhánh đạt được từ việc không ngừng mở rộng mạng lưới hoạt động của mình Tuy nhiên so với số lượng các DNV&N đang hoạt động trên địa bàn
Hà Nội thì đây vẫn là những con số nhỏ Vì vậy chi nhánh cần phải có những biện pháp thích hợp để có thể mở rộng tín dụng đối với DNV&N trên địa bàn Hà Nội cũng như các khu vực lân cận
2.3.2.2 Tình hình hoạt động tín dụng đối với các DNV&N tại NHNo &
PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội :
a Doanh số cho vay đối với DNV&N :
Theo chỉ đạo của NHNo & PTNT trong việc chuyển dịch cơ cấu cho vay theo hướng mở rộng cho vay các thành phần kinh tế vừa và nhỏ, trong những năm qua, đi đôi với việc tiếp tục duy trì quan hệ tín dụng với những khách hàng truyền thống, có uy tín chi nhánh không ngừng mở rộng quan hệ tín dụng với những DNV&N mới Điều này có thể thấy qua bảng 2.6 với sự tăng lên của đối tượng khách hàng là DNV&N tại chi nhánh Nhưng khi phân tích kĩ ta nhận thấy, tỷ trọng doanh số cho vay đối với DNV&N trong 3 năm qua liên tục suy giảm :
Bảng 2.7 : Doanh số cho vay đối với các DNV&N