1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tình tình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô

49 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 424,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài chính doanh nghiệp còn được hiểu là hệ thống các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của mỗi nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như môi trường kinh doanh, chiến lược kinh doanh, trình độ quản lý doanh nghiệp, trình độ quản lý quản lý tài chính doanh nghệp Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp đó là trình độ quản lý tài chính doanh nghiệp Một doanh nghiệp quản lý tài chính tốt không chỉ nắm vững tình hình tài chính của mình mà còn có khả năng xử lý các thông tin tài chính của thị trường một cách nhanh nhạy Đây là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp đưa ra các quyết định , chiến lược kinh doanh, ảnh hưởng rất lớn đến sự sống còn, đi lên của doanh nghiệp Trên thực tế, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp chưa thực sự chú trọng đến công tác phân tích tài chính, thậm chí còn không tách bạch giữa công tác phân tích tài chính và công tác kế toán

Xuất phát tư tình hình thực tế trên, thấy được tầm quan rọng của công

tác phân tích tài chính, em đã chọn đề tài : “Phân tích tình tình tài chính tại

công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô” làm đề tài chuyên

đề tốt nghiệp

Chuyên đề được trình bày qua 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp

Chương 2: Phân tích tài chính tại Công ty CP ĐT & XDCT Tây Đô

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tình hình tài chính tại công ty CP ĐT & XDCT Tây Đô

Trang 2

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH

TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1 Bản chất, chức năng của tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp

Một số khái niệm về tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là tài chính của các tổ chức sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân và là một khâu tài chính cơ sở trong hệ thống tài chính Vì tại đây diễn ra quá trình tạo lập và chu chuyển vốn gắn liền với qua trình sản xuất, đầu tư, tiêu thụ và phân phối

Tài chính doanh nghiệp còn được hiểu là hệ thống các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội Hay, tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh

1.1.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp bao gồm 3 chức năng sau:

- Huy động và phân phối nguồn vốn

- Chức năng phân phối

- Chức năng giám đốc

• Chức năng huy động và phân phối nguồn vốn :

Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh

Trang 3

nên có nhu cầu về vốn, tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà vốn được huy động từ những nguồn sau:

Nội dung của chức năng này:

- Căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất, định mức tiêu chuẩn để xác định nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh

- Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về vốn

Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng về vốn thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn ( tìm nguồn tài trợ với chi phí hợp lý, đảm bảo hiệu quả)

Nếu nhu cầu nhỏ hơn khả năng về vốn thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất hoặc tìm kiếm thị trường đầu tư mang lại hiệu quả

- Lựa chọn nguồn vốn và phân phối sử dụng vốn hợp lý sao cho với số vốn ít nhất nhưng mang lại hiệu quả cao nhất

• Chức năng phân phối

Thu nhập của doanh nghiệp từ hoạt động sản xuất kinh doanh và các nguồn thu nhập khác được tiến hành phân phối như sau:

Bù đắp hao phí vật chất, lao động đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm:

- Chi phí vật tư như nguyên vật liệu, nhiên liệu, công cụ lao động

Trang 4

- Chi phí khấu hao tài sản cố định

- Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương

- Chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí khác bằng tiền ( kể cả các khoản thuế gián thu )

Phần còn lại là lợi nhuận trước thuế được phân phối tiếp như sau:

- Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật định ( hiện nay tính bằng 28% trên thu nhập chịu thuế )

- Bù lỗ năm trước không được trừ vào lợi nhuận trước thuế ( nếu có )

- Nộp thuế vốn ( nếu có )

- Trừ các khoản chi phí không hợp lý, hợp lệ ( nếu có )

- Chia lãi cho các đối tác góp vốn

- Trích vào các quỹ doanh nghiệp

• Chức năng giám đốc

Giám đốc tài chính là việc thực hiên kiểm soát quá trình tạo lập

và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp

Cơ sở của giám đốc tài chính

- Xuất phát từ quy luật trong phân phối sản phẩm quyết định ( ở đâu có phân phối tài chính thì ở đó có giám đốc tài chính )

- Xuất phát từ tính mục đích của việc sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh Muốn cho đồng vốn có hiệu quả cao, sinh lời nhiều thì tất yếu phải giám đốc tình hình tạo lập sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp

Trang 5

Nội dung

- Thông qua chỉ tiêu vay trả, tình hình nộp thuế cho Nhà nước mà Nhà nước, Ngân hàng biết được tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp tốt hay chưa tốt

- Thông qua chỉ tiêu giá thành, chi phí mà biết được doanh nghiệp sử dụng vật tư, tài sản, tiền vốn tiết kiệm hay lãng phí

- Thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận mà biết được doanh nghiệp làm

ăn có hiệu quả hay không

1.2 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

1.2.1.1 Khái niệm về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra đối chiếu và so sánh những số liệu tài chính hiện hành với quá khứ Qua

đó đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh,đánh giá được tiềm năng cũng như rủi ro của doanh nghiệp trong tương lai giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định phù hợp

1.2.1.2 Ý nghĩa của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.

Việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa đối với những chủ thể sau:

a, Đối với nhà quản trị doanh nghiệp

Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội bộ Khác với phân tích tài chính bên ngoài do nhà phân tích ngoài doanh nghiệp tiến hành Do đó thông tin đầy đủ và hiểu rõ về

Trang 6

doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp có nhiều lợi thế

để có thể phân tích tài chính tốt nhất Vì vậy nhà quản trị doanh nghiệp còn phải quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, hạ chi phí thấp nhất và bảo vệ môi trường Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được mục tiêu này khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ

Như vậy hơn ai hết các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin nhằm thực hiện cân bằng tài chính, nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua

để tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyết định đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần

b, Đối với các nhà đầu tư

Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro Vì thế mà họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp Các nhà đầu tư còn quan tâm đến việc điều hành hoạt động công tác quản lý Những điều đó tạo ra sự an toàn và hiệu quả cho các nhà đầu tư

c, Đối với các nhà cho vay

Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp Qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới

số lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh để từ đó có thể

so sánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp

d, Đối với cơ quan nhà nước và người làm công

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, qua việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ

Trang 7

đó đưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước nữa hay không.

Bên cạnh các chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư người lao động có nhu cầu thông tin cơ bản giống họ bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ

Kết luận: Phân tích tình hình tài chính có thể ứng dụng theo nhiều chiều khác nhau như với mục đích tác nghiệp ( chuẩn bị các quyết định nội bộ) và với mục đích thông tin (trong hoặc ngoài doanh nghiệp ) Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động tài chính, từ đó xác định được nguyên nhân và mức

độ ảnh hưởng đến từng hoạt động kinh doanh Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh

Qua đó thấy được ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp mà công việc này ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, các

cơ quan quản lý, các tổ chức công cộng Nhất là, thị trường vốn ngày càng phát triển đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính thực sự có ích và cần thiết trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

1.2.2 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

Một số phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanh nghiệp:

Trang 8

đồng bộ để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính Như sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán Đồng thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh.

- Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước ) và có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân

-Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch

-Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian

Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:

+ So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay giảm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét

về xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp

+ So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức

độ phấn đấu của doanh nghiệp được hay chưa được

+ So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về lượng

và về tỷ lệ của các khoản mục theo thời gian

b, Phương pháp cân đối

Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế mà giữa chúng tồn tại mối quan hệ cân bằng hoặc phải tồn tại sự cân bằng

Phương pháp cân đối thường kết hợp với phương pháp so sánh để giúp người phân tích có được đánh giá toàn diện về tình hình tài chính

Trang 9

Phương pháp cân đối là cơ sở sự cân bằng về lượng giữa tổng số tài sản

và tổng số nguồn vốn, giữa nguồn thu, huy động và tình hình sử dụng các loại tài sản trong doanh nghiệp Do đó sự cân bằng về lượng dẫn đến sự cân bằng

về sức biến động về lượng giữa các yếu tố và quá trình kinh doanh

c, Phương pháp phân tích tỷ lệ

Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan

hệ tài chính

Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những

số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như:

+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán : Được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp

+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính

+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp

+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp

1.2.3 Nội dung phân tích

1.2.3.1 Phân tích bảng cân đối kế toán

1.2.3.2 Phân tích bảng báo cáo kết quả kinh doanh

Trang 10

1.2.3.3 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính cơ bản:

- Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán

Đây là nhóm chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Bao gồm:

Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành: là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó

Công thức tính:

Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn

Tỷ số khả năng thanh toán nhanh: cho biết khả năng hoàn trả các khoản

nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản tồn kho

Công thức tính:

Khả năng thanh toán nhanh=(TSLĐ- dự trữ)/ nợ ngắn hạn

Tỷ số dự trữ hàng tồn kho trên vốn lưu động ròng: cho biết dự trữ hàng tồn kho chiếm bao nhiêu phần trăm vốn lưu động ròng

- Nhóm chỉ tiêu khả năng hoạt động

Các tỷ số khả năng hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Bao gồm:

Vòng quay tiền =Doanh thu / tiền và các tài sản tương đương tiền

Vòng quay hàng tồn kho=Doanh thu / hàng tồn kho

Kỳ thu tiền bình quân=Các khoản phải thu × 360/doanh thu

Hiệu suất sử dụng TSCĐ=Doanh thu / tài sản cố định

Trang 11

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản=Doanh thu / tổng tài sản

- Nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn

Nhóm chỉ tiêu này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp Bao gồm:

Hệ số nợ = Nợ phải trả/ tổng tài sản

Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi/ lãi vay

- Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời

Nhóm chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu năng quản lý doanh nghiệp Bao gồm:

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = thu nhập sau thuế / doanh thu

Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) = thu nhập sau thuế / vốn chủ sở hữu.Doanh lợi tài sản (ROA) = thu nhập sau thuế / tổng tài sản

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng khác nhau, ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư, tài trợ Tuy nhiên, phân tích tài chính chỉ thực sự phát huy tác dụng khi nó phản ánh một cách trung thực tình trạng tài chính doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong ngành Muốn vậy, thông tin sử dụng trong phân tích phải chính xác, có độ tin cậy cao, cán bộ phân tích có trình độ chuyên môn giỏi Ngoài ra, sự tồn tại của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính

1.3.1 Nhân tố chủ quan

1.3.1.1 Chất lượng thông tin sử dụng

Trang 12

Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng phân tích tài chính, bởi một khi thông tin sử dụng không chính xác, không phù hợp thì kết quả mà phân tích tài chính đem lại chỉ là hình thức, không có ý nghĩa gì Vì vậy, có thể nói thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là nền tảng của phân tích tài chính.

Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài liên quan đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp, người phân tích có thể thấy được tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai

1.3.2 Nhân tố khách quan

Hệ thống các chỉ tiêu trung bình ngành: Phân tích tài chính sẽ trở nên đầy đủ và có ý nghĩa hơn nếu có sự tồn tại của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành Đây là cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hành phân tích Người ta chỉ có thể nói các tỷ lệ tài chính của một doanh nghiệp là cao hay thấp, tốt hay

Trang 13

xấu khi đem so sánh với các tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp khác có đặc điểm và điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự mà đại diện ở đây là chỉ tiêu trung bình ngành Thông qua đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản lý tài chính biết được vị thế của doanh nghiệp mình từ đó đánh giá được thực trạng tài chính doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.

Sự tương đối của hệ thống chỉ tiêu tài chính: trong một số trường hợp môi trường kinh doanh đặc biệt, một số chỉ tiêu đo lường tình hình tài chính thường không mang lại hiệu quả tốt nhất khi phân tích mà chỉ mang tính chất tham khảo

Trang 14

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI

CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TÂY ĐÔ

2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty ĐT & XDCT Tây Đô

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô tiền thân là công ty xây dựng nhà ở Tây Đô được thành lập năm 1993 Đến năm 2007 công ty đổi tên thành công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô, trụ sở chính tại số 3- 100/34 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội

Trong những năm qua, công ty với sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi, đảng bộ, ban giám đốc xí nghiệp cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên trong toàn đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất kinh doanh sản lượng năm sau cao hơn năm trước, đời sống cán bộ công nhân viên không ngừng được nâng cao, phúc lợi xã hội được đảm bảo, nội bộ đoàn kết thống nhất Công ty đã thi công và tham gia thi công nhiều công trình, hạng mục công trình lớn trên địa bàn khắp cả nước Công ty đã thi công nhiều công trình lớn

có giá trị lớn đạt chất lượng cao tạo được uy tín với các chủ đầu tư là các cơ quan của Nhà nước

Trong quá trình hoạt động kinh doanh , nhiều công trình và hạng mục công trình Công ty thi công đạt yêu cầu về kỹ, mỹ thuật được chủ đầu tư đánh giá cao được Bộ Xây Dựng và công đoàn ngành xây dựng Việt Nam tặng thưởng huy chương vàng

2.1.2 Đặc điểm quy trình công nghệ , kinh tế - kỹ thuật

Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô là công ty xây

Trang 15

lắp chuyên xây dựng các công trình xây dựng cơ bản, giao thông, thuỷ lợi

có kết cấu phức tạp, thời gian thi công kéo dài Các sản phẩm hoàn thành của công ty là các công trình có chất lượng và giá trị thẩm mỹ cao được các chủ đầu tư tín nhiệm

Để đạt được điều đó các công trình của công ty đều được xây dựng theo một quy trình công nghệ hiện đại, đồng bộ với sự giám sát chặt chẽ của các nhân viên kỹ thuật Quy trình công nghệ xây dựng bao gồm các máy móc thiết bị xây dựng , các thiết bị thi công công trình và phương tiện vận tải như máy ép cọc, khoan cọc nhồi, trạm trộn bê tông thương phẩm, cẩu tháp, vận thăng lồng nâng người, vận thăng nâng hàng, máy móc dụng cụ phục vụ thi công như máy trộn bê tông, máy đảo vữa, máy đầm, máy hàn, máy bơm nước, máy phun sơn, ôtô vận tải, cần cẩu các loại và xưởng thiết kế Máy móc thiết

bị đó có đặc điểm chung là chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố môi trường và

sự tác động của công trình xây dựng, vì nó dễ bị hư hỏng trong một thời gian nhất định nên cần phải tính khấu hao, bảo dưỡng sửa chữa định kỳ, sửa chữa thường xuyên nhằm đảm bảo và phục hồi chức năng nhiệm vụ của chúng trong quá trình thi công, tận dụng tối đa công suất cho phép, tăng tốc độ thi công và tăng năng suất lao động Nhìn chung quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty được khái quát theo sơ đồ:

Trang 16

Sơ đồ 2.1 Quy trình thi công công trình

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

Công ty CP ĐT & XD Tây Đô hoạt động theo mô hình trực tuyến chức năng, mỗi ban, đội hoạt động theo sự chỉ huy điều hành cao nhất là mảng quản lý riêng và chịu trách nhiệm trước giám đốc về hiệu quả công việc hoàn thành Bộ máy quản lý công ty được thể hiện qua mô hình sau:

Xây dựng thi công công trình

Xâylắp máy móc thiết kế

Ho n à thiện

B n à giao thanh toán

Khảo

sát Thiết

kế dự ánLập

Xử lý nền móng

Trang 17

Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy quản lý

tại công ty

Một số phòng ban chính:

 Ban giám đốc:

+ Giám đốc Công ty : Là người đứng đầu bộ máy lãnh đạo của công ty,

chịu trách nhiệm về đời sống của cán bộ công nhân viên Giám đốc công ty là chủ tài khoản của công ty , chịu sự giám sát của công ty và thực hiện nhiệm

vụ sản xuất kinh doanh theo đúng hướng mà đại hội công nhân viên chức đã

chính

Ban chính trị Lao động tiền lương

Ban hành chính quản trị

Phó giám Đốc chính trị

Trang 18

đề ra hàng năm.

+ Phó giám đốc kỹ thuật : Là người tham mưu giúp Giám đốc chịu trách

nhiệm về mặt kỹ thuật, chất lượng các công trình, tiến độ thanh quyết toán, chỉ đạo trực tiếp ban kế hoạch kỹ thuật về các mặt liên quan đến công tác: dấu thầu, tham gia dự thầu, chỉ đạo việc xây dựng các kế hoạch sản xuất hàng năm

+ Phó giám đốc chính trị : Là người tham mưu cho Giám đốc về các

mặt chính trị, tư tưởng, chịu trách nhiệm về công tác Đảng, công tác chính trị,

ra được Nghị quyết hàng tháng, hàng quý, hàng năm sát với tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, nắm bắt tư tưởng cán bộ, công nhân viên, chỉ đạo việc thực hiện công tác bổ nhiệm, thăng tiến, cất nhắc vị trí của cán bộ

 Các phòng ban trực thuộc:

- Ban Kế hoạch kỹ thuật : Có nhiệm vụ tham mưu, lập kế hoạch sản xuất

kinh doanh, theo dõi việc thực hiện kế hoạch của các đội sản xuất, tiến độ thực hiện các công trình, đôn đốc việc thu hồi vốn, thanh quyết toán các công trình, giám sát việc thực hiện quy trình, quy phạm kỹ thuật trong thi công, trực tiếp tổ chức, thực hiện công tác đấu thầu các công trình, lập hồ sơ tham gia đấu thầu, lập các biện pháp thi công bảo vệ kế hoạch sản xuất hàng năm

- Ban Tài Chính : Có nhiệm vụ tham mưu giúp ban Giám đốc về mặt

quản lý tài chính và thực hiện công tác hạch toán kinh doanh của công ty, cân đối các nguồn vốn đảm bảo hoạt động cho toàn công ty Quản lý chỉ đạo việc ghi chép ban đầu chế độ báo cáo thống kê, kế toán, báo cáo tài chính, chế độ kiểm kê định kỳ, thực hiện phân tích hoạt động kinh doanh, kiểm tra chấp hành việc thực hiện các nguyên tắc tài chính của cấp đội

- Ban Chính trị tổ chức - Lao động tiền lương : Tham mưu cho Ban

giám đốc về mặt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, công tác tổ chức lao động - Tiền lương, xây dựng các kế hoạch tiền lương, bố trí, sử dụng lực lượng lao động, tuyển chọn lực lượng lao động đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của đơn vị, tổ chức thi tay nghề cho công nhân, thực hiện các chính sách tiền lương, các chế độ về an toàn và vệ sinh lao động Tham mưu cho Đảng uỷ - Chỉ huy về công tác đảng, công tác chính trị, các đoàn thể quần

Trang 19

chúng: Công đoàn, Đoàn thanh niên, hội phụ nữ hoạt động có hiệu quả thúc đẩy sự phát triển chung của đơn vị Ban chính trị tổ chức - lao động tiền lương có nhiệm vụ tạo môi trường làm việc thuận lợi cho người lao động và chịu sự quản lý trực tiếp của phó giám đốc Chính trị.

- Ban vật tư: Có nhiệm vụ quản lý, cấp phát chủ động khai thác nguồn

hàng cho các đội, các công trình, cung cấp các vật tư, trang thiết bị thiết yếu phục vụ cho thi công Giám sát việc sử dụng chủng loại vật tư đúng quy cách, chất lượng theo yêu cầu của thiết kế Ban vật tư là mắt xích quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất nếu được kiểm soát chặt chẽ sẽ có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, chất lượng các công trình xây dựng

Do vậy trong quá trình tuyển chọn nhân viên làm công tác vật tư phải cẩn trọng và kỹ càng, chọn người năng động, đức tính trung thực ban vật tư chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp của Phó giám đốc kỹ thuật

Trung bình trong ba năm 2008, 2009 và 2010 số lao động của Công ty

là xấp xỉ 700 người , trong đó :

Trên Đại học : 10 người

Kỹ sư xây dựng : 78 người

Cử nhân kinh tế : 40 người

Trung cấp : 150 người

+ Trung cấp Xây dựng : 100 người + Trung cấp kinh tế : 50 ngưòiLao động trực tiếp : 422 người

2.2 Phân tích tình hình tài chính tại Công ty ĐT & XDCT Tây Đô

2.2.1 Phân tích bảng cân đối kế toán

Việc phân tích dựa trên cơ sơ dữ liệu bảng số cân đối kế toán ba năm

2008, 2009, 2010 được in trong phần phụ lục Để thấy rõ được sự biến động

về quy mô tài sản nguồn vốn của công ty, từ bảng cân đối kế toán ta lập bảng

về quy mô tài sản- nguồn vốn sau:

Trang 20

Bảng 2.1 Tình hình Tài sản - Nguồn vốn của công ty

Trang 21

Qua số liệu tính toán trong bảng trên cho thấy tổng tài sản của công ty tăng qua các năm, cụ thể năm 2009 tăng so với năm 2008 là 14.321 triệu đồng ứng với 23,27%, năm 2010 tăng so với 2009 là 6.622 triệu đồng ứng với 8,9% Trong đó, tài sản lưu động chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản công ty ( ≈ 90%) Từ bảng ta có thể thấy, năm 2009 và 2010 tỷ lệ tăng của TSLĐ & ĐTNH so với năm 2008 là khá lớn, nguyên nhân của việc này là do trong năm 2009 công ty đã nhận và thi công hai công trình lớn với thời hạn trên 5 năm do đó phần chi phí sản xuất kinh doanh dở dang tăng cao Trong

cả ba năm, công ty không có một khoản đầu tư tài chính ngắn hạn nào trong khi lượng tiền mặt của công ty là khá lớn ( > 10 tỷ đồng), điều này cho thấy công tác quản lý tài chính của công ty chưa tốt

Phần tài sản cố định và đầu tư dài hạn của công ty chiếm tỷ trọng thấp

và biến động không nhiều qua ba năm 2008, 2009 và 2010.Cụ thể, năm 2009, tài sản cố định và đầu tư dài hạn giảm 6,68% ứng với 555 triệu đồng, năm

2010 tăng 23,53% ứng với 1.374 triệu đồng

Nợ phải trả của công ty năm 2009 tăng so với năm 2008 là 14.321 triệu đồng (28,7%), năm 2010 tăng so với năm 2009 là 4.749 triệu đồng (7,4%) Trong đó, các khoản nợ ngắn hạn chiếm phần lớn trong nợ phải trả của công ty

2.2.2 Phân tích bảng báo cáo kết quả kinh doanh

Từ các số liệu trong bảng báo cáo kết quả kinh doanh (in trong phần phụ lục) ta lập bảng về tình hình biến đổi qua ba năm:

Trang 22

Bảng 2.2 Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Đơn vị tính: triệu đồng

2008

Năm 2009

11 Lợi nhuận sau thuế 1.492 1.773 2.264 +281(18,83%) +491(27,7%)

Năm 2008, công ty đạt mức doanh thu là 98.464 triệu đồng, năm 2009 doanh thu đạt 116.973 triệu đồng tăng 18.509 triệu so với năm 2008 tương ứng 18,8% Năm 2010, doanh thu đạt 152.425 triệu đồng, tăng 35.452 triệu đồng so với năm 2009 tương ứng 30,3% Có thể nói doanh thu của công ty có mức tăng trưởng tương đối cao Từ đó, kéo theo sự tăng lên của lợi nhuận sau thuế cũng đạt mức khá cao Năm 2009, lợi nhuận sau thuế của công ty đạt 1.773, tăng 281 triệu đồng (18,83%) so với năm 2008 , năm 2010 tăng 491 triệu đồng (27,7%) so với năm 2009 Nhìn chung tình hình kinh doanh của công ty khá tốt với mức tăng dần lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước

2.3 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính cơ bản

a, Khả năng thanh toán

Trang 23

Để xem xét khả năng thanh toán của công ty, ta lập bảng xem xét các

hệ số thanh toán của công ty sau:

Bảng 2.3.1 Hệ số khả năng thanh toán của công ty

2008

năm 2009

năm 2010

Tăng trưởng

2009/2008 2010/2009

Tài sản lưu động 53946 68545 73793 +14.599(27%) +5.248(7,65%)

Nợ ngắn hạn 46720 62565 69434 +15.845(33,9%) +6.869(10,98%)Hàng tồn kho 2502 39069 47301 +36.567(1461%) +8.232(21%)Khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán

Tỷ lệ dự trữ/ VLĐ ròng 0,346 6,53 10,85 +1787% +66%

Khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty năm 2009 giảm so với năm

2008, cụ thể năm 2008 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,155 đồng tài sản lưu động thì đến năm 2009 được đảm bảo bằng 1,096đ, và đến năm

2010 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,063đ tài sản lưu động Nguyên nhân là do tốc độ tăng của tài sản lưu động thấp hơn tốc độ tăng của

nợ ngắn hạn, cho thấy công ty đã dần tăng mức độ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn Tuy nhiên khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty vẫn được giữ ở mức tốt, trong cả 3 năm 2008, 2009 và 2010 hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty đều > 1

Từ bảng số liệu tính toán, ta thấy khả năng thanh toán nhanh của công

ty có xu hướng giảm dần qua năm 2009 và 2010 Cụ thể, năm 2009 khả năng thanh toán nhanh của công ty giảm từ 1,1 xuống 0,47 tương ứng 57%, năm

2010 giảm so với năm 2009 19% còn 0,38 Trong cả 2 năm 2009 và 2010, khả năng thanh toán nhanh của công ty ở mức quá thấp Với xu hướng như vậy công ty đang gặp những khó khăn về khả năng thanh toán nhanh Nguyên

Trang 24

nhân của điều này là do năm 2009 và 2010 công ty đã nhận những công trình

có nguồn vốn đầu tư khá lớn làm tăng chi phí SXKD dở dang rất nhiều Cũng

vì nguyên nhân này, tỷ lệ dự trữ trên vốn lưu động ròng của công ty tăng đột biến qua các năm 2009 và 2010

b, Khả năng hoạt động.

Để phân tích khả năng hoạt động của công ty ta phân tích các chỉ tiêu

về khả năng hoạt động được trình bày qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.4 Hệ số khả năng hoạt động của công ty

Đơn vị: lần

2008

năm 2009

năm 2010

Qua bảng số liệu phân tích, ta thấy tình hình kinh doanh của công ty có những biến động tích cực Vòng quay tiền năm 2010 đã tăng lên đáng kể so với năm 2009 và năm 2008 Năm 2009, vòng quay tiền tăng 0,7 vòng đạt 7,95%, năm 2010 tăng lên 13,87 vòng so với năm 2009 đạt 146% Nhìn vào bảng ta thấy vòng quay hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân của công ty qua

2 năm có những biến động giảm đáng kể so với năm 2008 Tuy nhiên, công ty

là một doanh nghiệp xây dựng, hàng tồn kho chủ yếu là chi phí sản xuất kinh

Ngày đăng: 21/11/2015, 00:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Lưu Thị Hương(1998), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Trường ĐH KTQD- NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tài chính doanh nghiệp
Tác giả: TS. Lưu Thị Hương
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
2.PGS.TS Nguyễn Hữu Tài, Lý thuyết tài chính tiền tệ, Nhà xuất bản Trường ĐH KTQD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tài chính tiền tệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Trường ĐH KTQD
3.Ths. Nguyễn Phú Giang(1999),Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh
Tác giả: Ths. Nguyễn Phú Giang
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
5. Kế toán- Kiểm toán và phân tích tài chính doanh nghiệp. NXB Tài chính Hà Nội- 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán- Kiểm toán và phân tích tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Tài chính Hà Nội- 1996
6. Josetts Peyard, Phân tích tài chính doanh nghiệp, Đỗ Văn Thuận dịch, NXB Thống Kê- 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Thống Kê- 1997
7. PGS- PTS Phạm Thị Gái(1997),Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh,Trường ĐH KTQD. NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh
Tác giả: PGS- PTS Phạm Thị Gái
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1997
8. PTS- Nguyễn Năng Phúc(1998),Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ĐH KTQD- NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tác giả: PTS- Nguyễn Năng Phúc
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1998
9. PTS- Nguyễn Thế Khải (1997), Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp
Tác giả: PTS- Nguyễn Thế Khải
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 1997
10. PGS.TS Lê Văn Tâm(2002) , Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Thống kê
11. PTS Nguyễn Văn Công(1996), Phân tích tài chính công ty, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính công ty
Tác giả: PTS Nguyễn Văn Công
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
4. PTS Lưu Thị Hương (1998),Tài chính Công ty, NXB Giáo dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1 Quy trình thi công công trình - Phân tích tình tình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô
Sơ đồ 2.1 Quy trình thi công công trình (Trang 16)
Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy quản lý - Phân tích tình tình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô
Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy quản lý (Trang 17)
Bảng 2.1  Tình hình Tài sản - Nguồn vốn của công ty - Phân tích tình tình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô
Bảng 2.1 Tình hình Tài sản - Nguồn vốn của công ty (Trang 20)
Bảng 2.2. Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - Phân tích tình tình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô
Bảng 2.2. Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Trang 22)
Bảng 2.3.1 Hệ số khả năng thanh toán của công ty - Phân tích tình tình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô
Bảng 2.3.1 Hệ số khả năng thanh toán của công ty (Trang 23)
Bảng 2.4 Hệ số khả năng hoạt động của công ty - Phân tích tình tình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô
Bảng 2.4 Hệ số khả năng hoạt động của công ty (Trang 24)
Bảng 2.5 Hệ số khả năng sinh lời của công ty - Phân tích tình tình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô
Bảng 2.5 Hệ số khả năng sinh lời của công ty (Trang 26)
Bảng 2.6  Các chỉ tiêu về cơ cấu tài chính - Phân tích tình tình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô
Bảng 2.6 Các chỉ tiêu về cơ cấu tài chính (Trang 27)
Bảng cân đối kế toán - Phân tích tình tình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng công trình Tây Đô
Bảng c ân đối kế toán (Trang 42)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w