1.1.2.2 Đặc điểm của tín dụng trung dài hạn ngân hàng Dựa trên tiêu thức phân loại, nhìn chung tín dụng trung dài hạn có các đặctrưng cơ bản sau: - Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hiện nay, tài chính ngân hàng là một trong những ngànhđóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia Với chức năng là trunggian tài chính, ngân hàng đóng vai trò như là chiếc cầu nối giúp cho nền kinh tế cóthể vận hành một cách trơn tru thông suốt Thời gian vừa qua, tình hình kinh tế thếgiới đã gặp rất nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu, Việt Nam tuy chỉ là một nước đang phát triển nhưng cũng không nằmngoài vùng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này; và ngân hàng là một trongnhững bộ phận của nền kinh tế chịu tác động lớn từ cuộc khủng hoảng này Nhưngnhờ những chính sách kịp thời nên trong năm 2009 tình hình kinh tế thế giới nóichung, mà cụ thể là Việt Nam cũng đã dần vượt qua được khó khăn; mặc dù vẫnchưa thể khắc phục được hoàn toàn những hậu quả do cơn bão tài chính để lại Tíndụng ngân hàng được xem là một trong những đòn bẩy quan trọng giúp cho nềnkinh tế có được sự phục hồi nhanh chóng như vậy
Nghiệp vụ tín dụng không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn có ýnghĩa quan trọng giúp ngân hàng có thể tồn tại và đứng vững qua giai đoạn khókhăn và cạnh tranh được với các ngân hàng khác trong tương lai Với đặc điểmhoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam, tín dụng luôn chiếm một tỷ trọng caotrong cơ cấu thu nhập của ngân hàng; do đó rủi ro trong hoạt động ngân hàng có
xu hướng hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay Tình trạng khó khăn
về tài chính của một ngân hàng thường phát sinh từ các khoản cho vay khó đòi,nguyên nhân chủ yếu là do việc quản lí yếu kém, cho vay không tuân thủ nguyêntắc tín dụng , chính sách cho vay chưa hợp lí… Đặc biệt là các khoản cho vaytrung dài hạn luôn tiềm ẩn những rủi ro rất lớn đối với ngân hàng
Trang 2Tuy chỉ mới thành lập từ năm 2005 đến nay, nhưng chi nhánh ngân hàng ÁChâu Chi nhánh Huế đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Dư nợ tín dụngtrung dài hạn tại ngân hàng chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng dư nợ Tuy nhiên
so với nhu cầu tín dụng trung dài hạn của các doanh nghiệp, nguồn vốn huy độngđược thì cho vay trung dài hạn của ngân hàng vẫn chưa thực sự tương xứng vớitiềm năng Bên cạnh đó chất lượng của tín dụng trung dài hạn cũng cần xem xétđến cùng với sự tăng trưởng của quy mô tín dụng Qua thời gian thực tập và tìmhiểu tại ngân hàng, với những kiến thức học được tại nhà trường , đọc được quasách báo, với sự giúp đỡ của các anh chị cán bộ trong ngân hàng Nhận thức thấy
vai trò của tín dụng trung dài hạn nên tôi đã chọn đề tài: “Phân tích thực trạng
và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Chi nhánh Huế” để làm nội dung cho đề tài tốt
nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận của chất lượng tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tíndụng trung dài hạn của ngân hàng
- Phân tích thực trạng hoạt động cho vay trung dài hạn tại Ngân hàng ÁChâu Chi nhánh Huế
- Đánh giá chất lượng và khả năng mở rộng hoạt động cho vay trung dài hạntại ngân hàng ACB Chi nhánh Huế
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động tín dụng trung dài hạn tạiNgân hàng Á Châu Chi nhánh Huế
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: thực hiện tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Trang 3- Về mặt thời gian: các tài liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ năm
2007 đến 2009
- Về mặt nội dung: chất lượng hoạt động cho vay trung dài hạn
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đềtài nghiên cứu thông qua các tài liệu như: sách báo, tạp chí, các tài liệu công văncủa ngân hàng, website…
- Phương pháp quan sát và phỏng vấn: tiến hành quan sát và phỏng vấn cáccán bộ, nhân viên tín dụng của ngân hàng trong suốt thời gian thực tập tại ngânhàng Á Châu Chi nhánh Huế
- Phương pháp so sánh: dựa vào các số liệu có được tiến hành so sánh về sốtuyệt đối và số tương đối
- Phương pháp phân tích: dựa trên những số liệu về tình hình hoạt động tíndụng của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng,tiến hành phân tích, đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng
- Phương pháp tổng hợp: tổng hợp lại những thông tin đã thu thập được saocho phù hợp với đề tài nghiên cứu
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
1.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng trung dài hạn của NHTM
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội loài người Tíndụng theo tiếng latinh là “Creditium”, có nghĩa là sự tín nhiệm, sự tin tưởng.Trong quan hệ tín dụng người cho vay sẽ cho người cần vốn vay với những điềukiện đã được hai bên thỏa thuận trước như thời hạn cho vay, thời gian vay, lãisuất … và người cho vay tin tưởng rằng người đi vay sẽ hoàn trả cả vốn và lãiđúng thời gian như đã thỏa thuận
Như vậy, tín dụng hiểu theo một cách đơn giản nhất là một quan hệ vaymượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả, bao gồm cả vốn lẫn lãi
Tín dụng ngân hàng là quan hệ bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một
tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cánhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa làngười cho vay Hay nói cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượngquyền sử dụng vốn giữa ngân hàng và khách hàng trong một thời hạn nhất địnhvới một khoản chi phí nhất định
Hoạt động tín dụng bao gồm những hoạt động chính như cho vay, chiếtkhấu, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính, tài trợ xuất nhập khẩu và các hoạtđộng tín dụng khác Trong đó cho vay là một bộ phận của tín dụng và luôn chiếmmột tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Đối với một số Chinhánh ngân hàng mới được thành lập, chưa hoàn thiện về cơ sở vật chất kỹ thuật,
Trang 5đội ngũ nhân viên, các sản phẩm tín dụng còn thiếu, thì hoạt động tín dụng ngânhàng cũng chính là hoạt động cho vay.
Cũng như các quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nộidung:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang chongười sử dụng;
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính chất tạm thời;
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí
Ngân hàng với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, ra đời do sự pháttriển của nền sản xuất xã hội khi mà nhu cầu về vốn trong mọi lĩnh vực đều rấtlớn trong khi lại có một lượng tiền nhàn rỗi không ngừng tăng lên Hiện tượngthừa thiếu vốn phát sinh là do có sự chênh lệch về thời gian, số lượng giữa cáckhoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả các chủ thể, các ngành nghề kinh doanh trongquá trình tái sản xuất phải đòi hỏi được tiến hành liên tục Xuất phát từ nhu cầunội tại của nền kinh tế mà tín dụng ngân hàng đã ra đời nhằm khắc phục nhữngvấn đề về khối lượng cho vay, thời gian cho vay và phạm vi cho vay; trong đóngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay
Với tư cách là người đi vay, ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thờinhàn rỗi trong xã hội bằng các hình thức như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp,
tổ chức, các nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy độngnguồn vốn trong xã hội
Với tư cách là người cho vay, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các tổchức cá nhân khi có nhu cầu bổ sung vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh,vay vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và tiêu dùng
Có thể nói tín dụng ngân hàng ngày nay đã và đang là nhân tố quan trọngtrong việc thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, góp phần điều tiết và tăng tínhhiệu quả của vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường
Trang 61.1.2 Tín dụng trung dài hạn ngân hàng
Tín dụng ngân hàng có thể được sắp xếp phân loại theo từng nhóm dựa vàomột số vào những tiêu thức khác nhau Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học
là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quảntrị rủi ro tín dụng Phân loại tín dụng có thể dựa vào một số tiêu thức như:
Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Căn cứ vào phương thức cho vay:
Cho vay theo món vay
Cho vay theo hạn mức tín dụng
Cho vay theo hạn mức thấu chi
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
Cho vay không có bảo đảm
Cho vay có bảo đảm
1.1.2.1 Khái niệm tín dụng trung dài hạn ngân hàng
Tín dụng trung dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng, là hình thứctín dụng phân theo thời hạn Ta có thể định nghĩa tín dụng trung dài hạn: là hoạtđộng tín dụng cho khách vay vốn trung dài hạn nhằm thực hiện các dự án pháttriển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống Thời hạn cho vay của khoản tín
Trang 7dụng dụng được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khảnăng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng ỞViệt Nam, thời hạn tín dụng trung dài hạn được xác định cụ thể như sau:
- Tín dụng trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng nhà nước Việt
Nam, đây là các khoản tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm Tín dụngtrung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặcđổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự ánmới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm Tín
dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn nhưxây dựng nhà ở, xây dựng các nhà kho, công xưởng xí nghiệp mới, mua sắm cácthiết bị, phương tiện vận tải có qui mô lớn
1.1.2.2 Đặc điểm của tín dụng trung dài hạn ngân hàng
Dựa trên tiêu thức phân loại, nhìn chung tín dụng trung dài hạn có các đặctrưng cơ bản sau:
- Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm
Nếu như tín dụng ngắn hạn tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưu động củadoanh nghiệp và được hoàn trả trong thời gian ngắn thì tín dụng trung dài hạnchủ yếu được vay để tài trợ cho các dự án đầu tư lớn, mua sắm tài sản cố định,cải tiến đổi mới thiết bị công nghệ của doanh nghiệp Việc tài trợ này cần đòi hỏimột khối lượng vốn tín dụng lớn trong thời gian đầu tư dài (hơn 1 năm) Nhữngkhoản tín dụng trung dài hạn này thì nguồn trả nợ gốc, lãi chủ yếu dựa vào khấu
Trang 8hao và lợi nhuận thu được từ dự án đầu tư; khoản nợ gốc được chia ra làm nhiều
kì khoản với kí hạn đã được hai bên thỏa thuận khi kí hợp đồng tín dụng Ngânhàng phải bỏ vốn trong suốt thời gian xây dựng dự án và chỉ tiến hành thu hồivốn gốc và lãi khi dự án đi vào hoạt động và đạt kết quả, dẫn đến tốc độ thu hồivốn của ngân hàng chậm
- Giải ngân trong cho vay trung dài hạn
Đối với khoản vay trung và dài hạn có thể giải ngân một lần, hoăc nhiều lầnnhằm đảm bảo cho khách hàng sử dụng tiền vay đúng mục đích Ngân hàngkhông cho rút vốn khi các nhu cầu chi tiêu liên quan đến dự án chưa phát sinh.Ngân hàng và khách hàng thoả thuận rút hết toàn bộ tiền vay một lần trongtrường hợp vay để mua sắm máy móc, thiết bị Đối với các tài sản hình thànhtrong một thời gian dài thì việc giải ngân được thực hiện theo tiến độ công việchòan thành
- Độ rủi ro cao
Do khối lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, thời gian thu hồi vốnchậm nên độ rủi ro của một khoản tín dụng trung dài hạn cao hơn nhiều so vớicác khoản tín dụng ngắn hạn Sự phân tích và đánh giá của ngân hàng về các rủi
ro của khoản tín dụng này là khá hạn chế Các khoản tín dụng trung dài hạnthường đứng trước nhiều rủi ro bao gồm những rủi ro khách quan và rủi ro đến từkhách hàng như lạm phát, tỉ giá, thiên tai, suy thoái kinh tế, thay đổi chính sách,thị trường, sử dụng vốn sai mục đích… những rủi ro này khiến cho dự án bị thua
lỗ hoặc không có khả năng thu hồi vốn
Để góp phần hạn chế rủi ro đối với các khoản tín dụng trung dài hạn, cácngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo như văn tự bấtđộng sản, tài sản được hình thành từ vốn vay hay có sự bảo lãnh từ bên thứ ba.Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều rủi ro từ phần đảm bảo tín dụng như việc đánhgiá tài sản thế chấp không chính xác, tài sản thế chấp không chuyển nhượng hoặccấm lưu hành; hoặc bên bảo lãnh gặp khó khăn về tài chính, thiên tai…
Trang 9- Vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án, phương án
Cho vay trung và dài hạn với thời gian dài, độ rủi ro cao hơn với cho vayngắn hạn, để giảm bớt rủi ro thì ngoài việc qui định vay phải có tài sản đảm bảo,ngân hàng cho vay còn qui định khách hàng phải có vốn chủ sở hữu tham gia vàoquá trình sản xuất, kinh doanh và đời sống Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia vào dự
án cao hay thấp tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro và hiệu quả của dự án
- Lãi suất cho vay
Lãi suất các khoản cho vay tín dụng trung dài hạn thường cao hơn nhiều sovới lãi suất cho vay ngắn hạn Phần lãi suất tăng hơn đó dùng để bù đắp chonhững chi phí huy động vốn phục vụ cho các khoản vay trung dài hạn, chi phí bùđắp rủi ro và chi phí kiểm tra quản lý Lãi suất cho vay trung dài hạn có thể cốđịnh trong suốt thời kì vay vốn, hoặc có thể là lãi suất biến đổi tùy thuộc vào sựbiến động của thị trường Sự biến đổi của lãi suất có thể dựa trên lãi suất cơ bảncủa ngân hàng, hay lãi suất liên ngân hàng của một số thị trường như: LIBOR,SIBOR, VNIBOR… Việc thu tiền lãi có thể theo kì hạn tháng, quý, năm dựa vào
số dư ở mỗi kì hạn nợ và lãi suất cho vay Khách hàng có thể trả tiền lãi cùng nợgốc tại mỗi kỳ hạn trả nợ hay trả tiền lãi vào một thời điểm nào đó trong kỳ theothỏa thuận
1.1.3 Phân loại tín dụng trung dài hạn
1.1.3.1 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn trung dài hạn
- Cho vay trung dài hạn phục vụ cho tiêu dùng: là hình thứccho vay dành cho những đối tượng là cá nhân nhằm phục vụ cácnhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, các phương tiện sinhhoạt, phương tiện đi lại…
- Cho vay trung dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh: làhình thức cho vay dành cho đối tượng là các tổ chức kinh tế đểthực hiện việc sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá
1.1.3.2 Căn cứ vào đồng tiền vay vốn
- Tín dụng trung dài hạn bằng bản tệ: là việc cho vay bằng đồng nội tệ
Trang 10- Tín dụng trung dài hạn bằng ngoại tệ: là việc cấp tín dụng cho người vay
có nhu cầu thanh toán các công trình, dự án, các khoản chi phí có liên quan đếnnước ngoài bằng đồng ngoại tệ
1.1.3.3 Căn cứ vào phương thức cho vay
- Cho vay theo dự án: đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án khi
đã xem xét khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của dự án đó Hình thức chovay theo dự án có thể là cho vay đồng tài trợ hay cho vay trực tiếp theo dự án
+ Cho vay đồng tài trợ là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tíndụng cho một dự án; do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp vớicác bên đồng tài trợ để thực hiện nhằm phân tán rủi ro Hình thức nàythường được áp dụng đối với các dự án lớn có tính khả thi cao nhưngmức vay vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng hay những dự án có độrủi ro cao
+ Cho vay trực tiếp theo dự án: đây là hình thức tín dụng trung dài hạnphổ biến trông nền kinh tế thị trường NHTM tiến hành mọi hoạt động
và tự chịu trách nhiệm với dự án đầu tư của khách hàng
- Tín dụng thuê mua: là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp đồngtín dụng thuê mua, qua đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền sởhữu của mình cho người đi thuê sử dụng và người thuê có trách nhiệm thanh toántiền thuê trong suốt thời hạn thuê và có thể được quyền sở hữu tài sản thuê, đượcquyền mua tài sản thuê hoặc được quyền thuê tiếp theo các điều kiện đã được haibên thoả thuận
- Cho vay trả góp: là một hình thức cho vay, theo đó ngânhàng cho phép khách hàng trả nợ gốc làm nhiều lần trong thờihạn tín dụng đã thoả thuận Cho vay trả góp thường gặp rủi rocao do khách hàng thường thế chấp bằng tài sản hình thành từvốn vay Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn củakhách hàng, do đó số tiền trả nợ mỗi lần cần được tính toán chophù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng
Trang 111.1.4 Vai trò của tín dụng trung dài hạn trong nền kinh tế thị trường
1.1.4.1 Vai trò của tín dụng trung dài hạn đối với doanh nghiệp
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn tín dụng trung dài hạn chođầu tư phát triển, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ là rất lớn Mở rộng sảnxuất không phải là hoạt động mà doanh nghiệp có thể tiến hành một sớm mộtchiều Đó là hoạt động lâu dài và cần có một nguồn vốn dài hạn Nhưng khôngphải doanh nghiệp nào cũng đủ vốn để tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh
Do vậy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp rấtcần thiết
Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất Điều đó giúp doanh nghiệp thích nghi với tình
hình thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn Vềdài hạn, các doanh nghiệp luôn chú trọng đến việc mở rộng sản xuất, xây dựngnhà xưởng, mua sắm máy móc, đổi mới công nghệ để không ngừng nâng caonăng suất, chất lượng sản phẩm và giảm chi phí đến mức tối thiểu Đặc biệt đốivới nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn xây dựng cơ bản là rất lớn trongkhi các nhà kinh doanh chưa tích luỹ được nhiều, tâm lý đầu tư trực tiếp của côngchúng vào các doanh nghiệp còn hạn chế Do vậy các doanh nghiệp khi tiến hànhđầu tư chủ yếu phải dựa vào nguồn vốn tự có của mình và bộ phận chủ yếu cònlại phải dựa vào sự tài trợ của hệ thống ngân hàng
Tín dụng trung và dài hạn còn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong việc thoả mãn và chớp cơ hội kinh doanh Khi có cơ hội kinh doanh, các doanh
nghiệp có thể nhanh chóng vay vốn của Ngân hàng để mở rộng sản xuất kinhdoanh, gia tăng sản lượng để chiếm lĩnh thị trường
Nguồn vốn vay trung dài hạn có nhiều ưu điểm hơn so với nguồn vốn có được từ việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu Việc vay vốn trung và dài hạn ở
NHTM giúp cho doanh nghiệp có thể tự chủ và có khả năng kiểm soát độc lậpđược hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình mà không phải phân
Trang 12chia quyền kiểm soát với các cổ đông mới trong trường hợp phát hành thêm cổphiếu mới.
Việc trả nợ trung và dài hạn cũng được xây dựng theo một sự phân chia ổnđịnh và hợp lý do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợmột cách dễ dàng hơn Mặt khác, khi doanh nghiệp vay vốn trung dài hạn ngânhàng, ngân hàng sẽ có thể điều chỉnh được kỳ hạn nợ, nghĩa là doanh nghiệp cóthể trả nợ sớm hơn thời hạn trả nợ trong hợp đồng khi không có nhu cầu tiếp tục
sử dụng nguồn vốn vay trung dài hạn Khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việctrả nợ tại một thời điểm nhất định thì cũng có thể xin ngân hàng gia hạn nợ Cònviệc huy động vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu thìdoanh nghiệp luôn phải đối mặt với việc trả lãi trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi khicông việc kinh doanh gặp khó khăn
1.1.4.2 Vai trò của tín dụng trung dài hạn đối với ngân hàng
Tín dụng trung dài hạn là một bộ phận quan trọng của tín dụng ngân hàng.Tín dụng trung dài hạn cả về số lượng và chất lượng là hoạt động mang tínhchiến lược của các Ngân hàng Thương mại
Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chính là ngân hàng đang tạo ra
và duy trì khách hàng của mình trong tương lai Khi có được mối quan hệ tíndụng giữa ngân hàng và khách hàng, Ngân hàng có điều kiện lôi kéo khách hàng
sử dụng các dịch vụ khác do mình cung cấp Tạo điều kiện để Ngân hàng mởrộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị thế củamình trong nền kinh tế Mặt khác, khi Ngân hàng không đa dạng hoá hoạt độngcho vay, đa dạng hoá khách hàng, thời hạn vay tiền thì khả năng cạnh tranh củangân hàng sẽ bị hạn chế
Thông qua tín dụng trung dài hạn, ngân hàng thực hiện chức năng xã hộicủa mình Thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng đã thể hiện vai trò người tàitrợ lớn đối với toàn bộ nền kinh tế, góp phần mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sảnphẩm xã hội
Trang 13Ngoài ra, tín dụng trung và dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyếtnguồn vốn huy động còn dôi ra tại mỗi ngân hàng thương mại Nguồn vốn huyđộng được của các ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn Nhưng khi nguồnvốn huy động được của ngân hàng không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn ngắnhạn của khách hàng mà còn dôi ra, thì một trong những cách thức để sử dụngnguồn vốn còn dôi ra đó có hiệu quả đó là sử dụng để cho vay trung dài hạn
Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn để giải quyếtvấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, thu được lợi nhuận qua đó pháttriển hoạt động của mình, tăng cường khả năng cạnh tranh với các Ngân hàngkhác
1.1.4.3 Vai trò của tín dụng trung dài hạn của đối với nền kinh tế
Tín dụng trung và dài hạn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, điềuhoà lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế Với chức năng là trung gian tàichính, các Ngân hàng tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và chovay đối với các đối tượng có nhu cầu điều đó được thể hiện rõ trong hoạt động tíndụng trung và dài hạn của Ngân hàng, nó giúp các doanh nghiệp nói riêng và cảnền kinh tế nói chung hoạt động một cách liền mạch không ngắt quãng và là mộtkênh truyền dẫn vốn có hiệu quả Thông qua cho vay trung và dài hạn mà xâydựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, góp phần đẩy nhanh quá trình tái sảnxuất mở rộng, đầu tư phát triển nền kinh tế Hoạt động tín dụng thúc đẩy lưuthông hàng hoá, đẩy nhanh chu chuyển tiền tệ, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng.Tín dụng trung dài hạn đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, tăng tỷ trọng cácngành sản xuất vật chất là nền tảng cho phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng nhucầu trước mắt cũng như lâu dài Đầu tư cho vay trung dài hạn trực tiếp hay giántiếp góp phần phát triển khoa học công nghệ, tạo công ăn việc làm, ổn định lạmphát, nâng cao đời sống của dân cư, phát triển lực lượng lao động, giúp nền kinh
tế tăng trưởng ổn định
Trang 14Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế đốingoại Trong điều kiện hiện nay sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắnliền với thị trường thế giới, đặc biệt là từ khi Việt Nam chín thức gia nhập vào tổchức thương mại thế giới WTO Tín dụng trung và dài hạn đã trở thành một trongnhững phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau dưới các hình thức: tíndụng tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng hỗ trợ phát triển, cho vay viện trợ
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng là nhiệm vụ có ý nghĩa với sự pháttriển kinh tế trong cả hiện tại và tương lai Vấn đề này càng trở nên cấp thiết vớithực trạng nền kinh tế nước ta hiện nay: Nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá là rất lớn trong khi việc sử dụng vốn còn có nhiều bất cập, hiệuquả sử dụng vốn không cao, còn thất thoát và gây lãng phí lớn
1.2 Chất lượng tín dụng trung dài hạn
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng trung dài hạn
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, sự cạnhtranh giữa các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài ngày càng trở nênmạnh mẽ, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải không ngừngnâng cao vị thế của mình trên thị trường Chât lượng, giá cả, lượng hàng hóa là
ba chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức mạnh và khả năng của doanh nghiệp.Trong đó chất lượng chiếm vị trí quan trong hàng đầu quyết định đến sự thànhbại của doanh nghiệp, trong đó bao gồm cả các NHTM, với tư cách là một doanhnghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ
Trong tất cả các nghiệp vụ của ngân hàng, thì tín dụng là một nghiệp vụmang lại phần lớn lợi doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng, nhưng đồng thờiđây cũng là nghiệp vụ mang nhiều rủi ro nhất Ngay cả với một khoản vay có tàisản cầm cố, thế chấp thì khả năng xảy ra rủi ro vẫn rất cao Do đó việc nâng caochất lượng tín dụng ngân hàng là một nội dung quan trọng, quyết định đến hiệuquả kinh doanh của nghiệp vụ tín dụng cũng như của cả ngân hàng
Chất lượng sản phẩm hay dịch vụ, là một phạm trù rất rộng và phức tạp,phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế xã hội Do tính phức tạp của nó
Trang 15nên hiện nay có rất nhiều các quan niệm khác nhau về chất lượng Đứng trên cácgóc độ khác nhau và tuỳ theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp mà có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ người sảnxuất, người tiêu dùng, từ sản phẩm hay từ đòi hỏi của thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, người ta đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau
về chất lượng Những khái niệm này xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố
cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả… Theo hiệp hội tiêu chuẩnPháp thì chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoảmãn những nhu cầu của người sử dụng Còn theo Philip Crosby: “chất lượng là
sự phù hợp với yêu cầu”, bao gồm yêu cầu của người sản xuất và người sử dụng.Còn Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000,phần thuật ngữ 9000 đã đưa ra định nghĩa: "Chất lượng sản phẩm là mức độ thỏamãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu" Yêu cầu có nghĩa lànhững nhu cầu hay mong đợi được nêu ra hay tiềm ẩn
Từ cơ sở các quan niệm về chất lượng ở trên, có thể hiểu chất lượng tín
dụng ngân hàng như sau: Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách
tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận ngân hàng, phù hợp với sự phát triển kinh
tế xã hội
Trên góc độ hoạt động kinh doanh của ngân thì chất lượng tín dụng làkhoản tín dụng được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp vớichính sách tín dụng ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợinhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh củangân hàng trên thị trường
Trên góc độ lợi ích của khách hàng thì khoản tín dụng có chất lượng là phùhợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tụctín dụng đơn giản, thuận tiện
Trang 161.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng được ví như hệ thần kinhcủa toàn bộ nền kinh tế Hệ thống ngân hàng hoạt động thông suốt, lành mạnhhiệu quả tiền đề giúp cho nền kinh tế tăng trưởng một cách bền vững Trong đó,tín dụng ngân hàng là một sản phẩm chủ yếu và đóng vai trò then chốt trong hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một trong những nghiệp
vụ là mang lại doanh thu, lợi nhuận lớn cho ngân hàng nhưng đồng thời cũngchứa đựng rất nhiều rủi ro, đặc biệt là bộ phận tín dụng trung dài hạn ngân hàng
Do đó việc nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng, là đòi hỏi tất yếu của nềnkinh tế và cũng là nhu cầu thiết thực của chính các ngân hàng thương mại
Nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn là một yếu tố cần thiết để pháttriển kinh tế Cùng với sự phát triển và lưu thông hàng hóa, hoạt động tín dụngcũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp các phương tiên giao dịch để đáp ứngnhững nhu cầu sản xuất kinh doanh của xã hội Chất lượng tín dụng tốt tạo điềukiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tài chính trong nền kinh tế: nó
là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần điều hòa vốn trong nền kinh tế.Tăng cường chất lượng tín dụng đồng nghĩa với việc giảm thiểu lãng phí vốn dokhông sử dụng hết lượng tiền trong lưu thông; giải quyết mối quan hệ cung cầuvốn trên thị trường, điều hòa và ổn định lưu thông tiền tệ
Chất lượng tín dụng trung dài hạn tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch vụcủa các ngân hàng thương mại do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòngquay vốn tín dụng, góp phần thu hút được nhiều khách hàng sử dụng các sảnphẩm dịch vụ kèm theo Chất lượng tín dụng tốt làm tăng khả năng sinh lời củasản phẩm, dịch vụ ngân hàng nhờ giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp
vụ, các chi phí quản lý… Mặt khác nó còn đảm bảo khả năng thanh toán và lợinhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh, tạo thuận lợicho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng vì chất lượng tín dụng trung dài hạn sẽ tốttạo điều kiện cho ngân hàng có nhiều khách hàng trung thành và những khoản lợi
Trang 17nhuận để bổ sung vốn đầu tư Như vậy chất lượng tín dụng trung dài hạn gópphần củng cố các mối quan hệ xã hội của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền
tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia Thông qua cho vay chuyển khoản,thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trựctiếp làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông đồng thời mở rộng tiền ghi sổ gấpnhiều lần so vớii thực tế có nhờ vào khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng.Đây là nguyên nhân tiềm ẩn của lạm phát Do đó đảm bảo chất lượng tín dụngngân hàng sẽ giúp cho các ngân hàng cung cấp tổng phương tiện thanh toán phùhợp với yêu cầu của nền kinh tế, nhờ đó góp phần giúp cho nền kinh tế kiềm chếlạm phát, ổn định tiền tệ
Tín dụng trung dài hạn là công cụ thực hiện chủ trương của Đảng và Nhànước về phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực Thông qua sựđánh giá, phân tích hiệu quả của dự án đầu tư đã góp phần khai thác tốt mọinguồn lực về tài nguyên, lao động, tiền vốn… từ đó tăng cường năng lực sảnxuất, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, giải quyết công ăn việclàm, tăng thu nhập cho người lao đông Do đó nâng cao chất lượng tín dụng trungdài hạn sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đốigiữa các ngành, các vùng trong cả nước, ổn định và phát triển kinh tế một cáchbền vững
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn
1.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu định tính
Để đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn một cách đầy đủ và chínhxác, đứng trên góc độ là một ngân hàng, chúng ta cần phải đánh giá nó trên cảcác chỉ tiêu về mặt định tính và mặt định lượng Về mặt định tính, chất lượng tíndụng trung dài hạn thể hiện qua một số khía cạnh sau:
- Hoạt động tín dụng trung dài hạn phải đảm bảo mục tiêu cũng như địnhhướng phát triển của ngân hàng trong tương lai
Trang 18- Hoạt động tín dụng phải thực hiện hiện đúng quy trình tín dụng, đảm bảocác nguyên tắc về sử dụng vốn đúng mục đích, hoàn trả tiền vay đầy đủ và đúnghạn, các nguyên tắc TSĐB…
- Hoạt động tín dụng trung dài hạn phải đem lại được lợi nhuận cho ngânhàng
- Có biện pháp phòng ngừa, xử lý rủi ro phù hợp với tính pháp lý của từnghình thức tín dụng
1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng
Chất lượng tín dụng trung dài hạn là một vấn đề quan trọng và cũng rấtphức tạp Để đánh giá một cách chính xác chất lượng của tín dụng trung dài hạnthì cần xem xét đến nhiều chỉ tiêu khác nhau Dưới góc độ của một ngân hàng thìchất lượng tín dụng trung dài hạn có thể đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
- Doanh số cho vay trung dài hạn: phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã
giải ngân cho doanh nghiệp để đầu tư cải tiến máy móc thiết bị, thay đổi côngnghệ mới,… chỉ tiêu này thể hiện xu hướng hoạt động tín dụng trung dài hạn củangân hàng mở rộng hay thu hẹp Tuy nhiên việc doanh số cho vay tăng không cónghĩa là chất lượng tín dụng tốt và ngược lại doanh số cho vay này giảm khôngphải lúc nào cũng là xấu, mà nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiềm lực củangân hàng, điều kiện của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định
- Doanh số thu nợ trung dài hạn: phản ánh lượng vốn trung dài hạn mà
ngân hàng đã được hoàn trả trong một thời kỳ Doanh số này phản ánh khả năngthu nợ của ngân hàng, cũng như tình hình hoạt động của dự án đầu tư, tình hìnhhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn
- Dư nợ tín dụng trung dài hạn: đây là chỉ tiêu phản ánh lượng vốn trung
dài hạn của ngân hàng đã được giải ngân tại một thời điểm cụ thể Chỉ tiêu dư nợtín dụng được tính bằng số tuyệt đối:
Dư nợ năm i = dư nợ năm (i-1) + doanh số cho vay năm i – doanh số thu nợ năm i
Trang 19Dư nợ tín dụng trung dài hạn cao chứng tỏ ngân hàng cho vay được nhiều,
có khả năng thu hút được khách hàng Ngược lại, khi dư nợ thấp chứng tỏ ngânhàng không có khả năng mở rộng và phát triển cho vay, khả năng tiếp thị củangân hàng kém Mặc dù vậy không thể chỉ dựa vào chỉ tiêu này để đánh giá chấtlượng tín dụng trung dài hạn là cao hay thấp mà phải xem xét đến mức độ an toàn
và tính lành mạnh của các khoản tín dụng trung dài hạn
- Chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ tín dụng trung dài hạn
Tỉ lệ dư nợ trung dài hạn = Dư nợ tín dụng trung dài hạn
Tổng dư nợTổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng Tổng dư nợ cho vaycủa ngân hàng bao gồm: dư nợ cho vay ngắn hạn và dư nợ cho vay trung dài hạn
Tỷ lệ dư nợ trung dài hạn này phản ánh dư nợ trung dài hạn chiếm baonhiêu % so với tổng dư nợ ngân hàng trong thời kỳ Qua chỉ tiêu này, chúng ta cóthể so sánh được quy mô của tín dụng trung dài hạn so với tín dụng ngắn hạn củangân hàng Tỷ lệ dư nợ tín dụng trung dài hạn càng cao thể hiện sự chú ý pháttriển tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng, khả năng cho vay và phát triển dự
án đầu tư của ngân hàng đối với nền kinh tế Tuy nhiên nếu tỷ lệ này càng caocũng đồng nghĩa với việc rủi ro của ngân hàng cũng tăng lên do các khoản tíndụng trung dài hạn này luôn tiềm ẩn một rủi ro rất lớn
- Chỉ tiêu Tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo
do người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàngtheo đúng thời hạn đã thỏa thuận Để phản ánh tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn, ta
có thể sử dụng chỉ tiêu:
Tỷ lệ nợ quá hạn TDH = Nợ quá hạn TDH
Dư nợ tín dụng TDH
Tỷ lệ này cho biết nợ quá hạn của các khoản tín dụng trung dài hạn chiếm tỷ
lệ bao nhiêu phần trăm so với dư nợ tín dụng trung dài hạn Khi một khoản vaykhông được trả đúng hạn như đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị
Trang 20chuyển qua nợ quá hạn với lãi suất là 150% so với lãi suất ban đầu Trên thực tế,các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn Như vậy,
tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì các ngân hàng càng gặp khó khăn trong kinh doanh
vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, làm ảnhhưởng đến chất lượng tín dụng Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì chất lượng tíndụng càng giảm thấp Tuy nhiên trên thực tế thì nợ quá hạn là điều không thểtránh khỏi, do đó các NHTM luôn cố gắng để giảm thấp tỉ lệ này xuống mức thấpnhất có thể
- Chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trung dài hạn
Bất kỳ một khoản tín dụng nào cũng không thể xem là có chất lượng nếukhông đem lại lợi nhuận thực tế cho NHTM Bởi lẽ sự tồn tại và phát triển củangân hàng được quyết định phần lớn bởi nguồn lợi nhuận tạo ra từ hoạt độngkinh doanh của ngân hàng đó Ta có 2 chỉ tiêu để phản ánh sau:
Tỷ suất sinh lời của tín dụng TDH = Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng TDH
Dư nợ tín dụng TDH bình quânChỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng trung dàihạn của ngân hàng, cho biết mỗi đồng dư nợ cho vay trung dài hạn mang lại baonhiêu lợi nhuận Vì không có số liệu về dư nợ tín dụng TDH bình quân của Ngânhàng, nên đề tài sử dụng số liệu về dư nợ TDH cuối kỳ của Ngân hàng để tínhtoán chỉ tiêu này Do đó không thật sự phản ánh đúng tỷ suất sinh lời của cáckhoản tín dụng TDH
Mức đóng góp của tín dụng TDH = Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng TDH
Thu nhập thuần từ hoạt động tín dụngChỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng trung dài hạntrong toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng Nếu tỷ lệ này ở mức cao chứng
tỏ hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng đem lại hiệu quả cao, phảnánh chất lượng tín dụng khả quan nhưng cũng đồng nghĩa với việc ngân hàngchấp nhận đối mặt với nguy cơ rủi ro cao từ hoạt động tín dụng trung dài hạn
Trang 21Để đánh giá chất lượng tín dụng nói chung, cũng như chất lượng tín dụngtrung dài hạn nói riêng thì không thể chỉ căn cứ vào một chỉ tiêu đơn lẻ mà phải
sử dụng tổng hợp một hệ thống các chỉ tiêu để có thể đưa ra kết luận một cáchchính xác và xác thực nhất Các chỉ tiêu thường xuyên được kiểm tra và đánh giágiúp cho ngân hàng có thể nhìn nhận được mặt tốt cũng như hạn chế, từ đó cónhững biện pháp điều chỉnh kịp thời hoạt động của ngân hàng, đồng thời tránhđước các rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Việc áp dụng các chỉ tiêu vào xem xét chất lượng tín dụng cần đảm bảo yêucầu tính toán phân tích các chỉ tiêu trên cả hai mặt định tính và định lượng Bởi lẽvấn đề chất lượng tín dụng là một vấn đề mang tính phức tạp, vừa trừu tượng vừa cụthể nên hệ thống các chỉ tiêu đánh giá không thể mang tính tuyệt đối chính xác
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung dài hạn
1.2.4.1 Nhân tố từ phía ngân hàng
- Chính sách tín dụng
Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, thể hiện chiếnlược và đường lối của NHTM trong việc thực thi các hoạt động tín dụng, nó có ýnghĩa quyết định đến sự thành bại của một ngân hàng Một chính sách tín dụngđúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạtđộng tín dụng Bất cứ ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng cao đều phải
có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện của ngân hàng và thị trường
- Công tác tổ chức
Khả năng tổ chức của ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng, bao gồm
tổ chức các phòng ban, nhân sự và các hoạt động trong ngân hàng Ngân hàng cómột cơ cấu tổ chức khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhànggiữa các nhân viên, các phòng ban, và các ngân hàng với nhau trong toàn bộ hệthống Đảm bảo ngân hàng hoạt động nhịp nhàng, thống nhất, tạo điều kiện đápứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, từ đó góp phần nâng cao chất lượng tíndụng
- Chất lượng đội ngũ nhân viên ngân hàng
Trang 22Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên là yêu cầu hàng đầu đối với các ngânhàng, đây là yếu tố quyết định đến khả năng hoạt động của ngân hàng Chấtlượng đội ngũ nhân viên tốt, có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đạo đức và nănglực sẽ giúp cho việc thẩm định dự án, đánh giá tài sản đảm bảo, kiểm tra giám sátcác khoản cho vay và có các biện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi nợ vay hay xử
lý các tình huống phát sinh trong quan hệ tín dụng Đây là tiền đề góp phần giúpngân hàng giảm thiểu rủi ro, cũng như nâng cao chất lượng tín dụng
- Quy trình tín dụng
Bao gồm những giai đoạn, trình tự, các bước cần phải thực hiện từ việc xétđơn xin vay của khách hàng, đến việc kiểm tra giám sát và thu nợ, thanh lý hợpđồng vay nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Chất lượng tín dụng tùy thuộc vàotính logic khoa học của quy trình tín dụng và việc thực hiện tốt, nhịp nhàng cácbước của quy trình tín dụng Thực hiện tốt quy trình tín dụng sẽ giúp cho ngânhàng giảm thiểu được những rủi ro, hạn chế những khoản nợ quá hạn, bảo đảm
an toàn vốn, nâng cao chất lượng tín dụng
- Các thiết bị, phần mềm phục vụ cho hoạt động tín dụng
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, những thiết bị máymóc, phần mềm phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng ngày càng có ýnghĩa thiết thực Nó giúp cho ngân hàng có được những thông tin chính xác, kịpthời, đồng thời nó còn giúp cho việc xử lý thông tin trở nên nhanh chóng, kịpthời và chính xác hơn; trên cơ sở đó có những quyết định tín dụng đúng đắn, giúpcho quá trình quản lý tiền vay và thanh toán được thuận tiện, nhanh chóng vàchính xác
1.2.4.2 Nhân tố từ phía khách hàng
- Tình hình tài chính của khách hàng
Trang 23Để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro khi cho vay, các NHTM thường đặt ranhững tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại, chọn ra những khách hàng có thểđược cho vay Một trong những tiêu chuẩn đó là doanh nghiệp phải có tình hìnhtài chính vững mạnh, được thể hiện qua các chỉ tiêu như nhóm chỉ tiêu cơ cấuvốn, nhóm chỉ tiêu hoạt động, khả năng thanh toán, lợi nhuận… Một doanhnghiệp có tình hình tài chính tốt là điều kiện để ngân hàng có thể mạnh dạn trongviệc tài trợ vốn cho doanh nghiệp đó.
- Trình độ, khả năng của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp
Đội ngũ lãnh đạo, quản lý có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm sẽ cókhả năng đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp với điều kiện của doanhnghiệp và tình hình yêu cầu của thị trường, giúp doanh nghiệp có thể đứng vững
và phát triển Trình độ năng lực của đội ngũ lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp
là một trong những điều kiện quan trọng được ngân hàng cem xét khi cấp tíndụng
- Vấn đề đạo đức của khách hàng
Sự trung thực của khách hàng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụngcủa ngân hàng, nhất là đối với những khoản tín dụng trung dài hạn Nhiều trườnghợp xảy ra khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng nhưng không cung cấp số liệumột cách chính xác, hay việc khách hàng sử dụng vốn vay không đúng đối tượng,phương án, mục đích kinh doanh như hồ sơ xin vay Điều này sẽ gây khó khăncho ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh và quản lý vốnvay của khách hàng, làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng
1.2.4.3 Nhân tố thuộc về môi trường kinh tế
Các điều kiện kinh tế trong từng thời kỳ có ảnh hưởng lớn đến chất lượngtín dụng, trong đó có tín dụng trung dài hạn Khi nền kinh tế ổn định, lạm phátthấp, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành có hiệu quả,doanh nghiệp có khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng đúng thời hạn Điều này
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân hàng phát triển, chất lượng tín dụngđược nâng cao Ngược lại trong thời kỳ suy thoái kinh tế, sản xuất kinh doanh bị
Trang 24thu hẹp, đầu tư tiêu dùng giảm sút, các khoản vay đã thực hiện khó có thể đem lạihiệu quả, sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng làm giảm sút
về quy mô và chất lượng
Ngoài ra, những sự biến động về lãi suất, tỷ giá thị trường cũng tác độngtrực tiếp đến hoạt động tín dụng của ngân hàng từ việc huy động vốn đến việctìm đầu ra cho nguồn vốn
1.2.4.4 Nhân tố thuộc về môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý thiếu chặt chẽ hoặc thường xuyên thay đổi gây ảnhhưởng rất lớn đến hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nóiriêng
Những yếu tố pháp lý ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng của ngânhàng, đó là sự đồng bộ thống nhất của hệ thống pháp luật, ý thức tôn trọng chấphành nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật và cơ chế đảm bảo cho sự tuânthủ pháp luật một cách nghiêm minh Hiện nay ở Việt Nam, hệ thống văn bảnpháp luật chưa đồng bộ, gây khó khăn cho ngân hàng khi kí kết thực hiện các hợpđồng tín dụng Luật ngân hàng vẫn còn chưa được hoàn chỉnh, chưa đồng bộ vớicác văn bản luật khác Điều này ảnh hưởng đến việc quản lý chất lượng tín dụngcủa ngân hàng
Sự thay đổi chính sách của nhà nước cũng góp phần gây ảnh hưởng đến khảnăng trả nợ của doanh nghiệp Những sự thay đổi này có thể gây xáo trộn tronghoạt động sản xuất kinh doanh, khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, hay chưa
có phương thức kinh doanh mới dẫn đến nợ quá hạn, nợ xấu, chất lượng tín dụngcủa ngân hàng bị giảm sút
Nghiên cứu và nắm vững những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tíndụng, từ đó tìm cách vận dụng trong từng điều kiện cụ thể sẽ góp phần nâng caochất lượng tín dụng trung dài hạn nói riêng và chất lượng tín dụng ngân hàng nóichung
Trang 25CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU
CHI NHÁNH HUẾ
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Huế
2.1.1 Sơ lược về Ngân hàng TMCP Á Châu Việt Nam
- Tên giao dịch Việt Nam: Ngân Hàng TMCP Á Châu
- Tên giao dịch quốc tế: Asia Commercial Bank
- Tên viêt tắt: ACB
- Website: www.acb.com.vn
- Trụ sở chính: 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, Tp Hồ Chí MinhNgân hàng thương mại cổ phần Á Châu được thành lập theo giấy phép số0032/NH-GP do thống đốc NHNNVN cấp ngày 24/04/1993, giấy phép số533/GP-UB do UBND TP Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993 Ngày04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động
Tính đến cuối năm 2009, Vốn điều lệ của ngân hàng ACB đã đạt được7.814 tỷ đồng, tăng hơn 22% so với năm 2008, thuộc hàng lớn nhất trong nhómcác ngân hàng TMCP Việt Nam Về mặt lợi nhuận, Tập đoàn ACB đã thực hiệnvượt mức kế hoạch với 2.838 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, cao hơn 138 tỷ đồng
so với kế hoạch Cơ cấu lợi nhuận của Ngân hàng cũng ngày một đa dạng hơnkhi tính đến hết ngày 31/12/2009 hoạt động tín dụng chiếm 20%, hoạt động dịch
vụ đạt 26% và hoạt động kinh doanh vốn, vàng và ngoại hối chiếm 37% trên tổnglợi nhuận trước thuế Về quản lý rủi ro, tỷ lệ nợ xấu của Tập đoàn cuối năm 2009chỉ là 0,4% Với kết quả này, ACB tiếp tục là ngân hàng duy nhất trong nhómcác NHTM cổ phần hàng đầu có tỷ lệ nợ xấu dưới 0,5%, nhờ đó Chất lượng tíndụng của ACB tiếp tục được khẳng định
Trong năm 2009, ngân hàng đã đạt được những thành tích:
+ Ngân hàng bán lẻ xuất sắc nhất Việt Nam 2009
Trang 26+ Doanh nghiệp ASEAN xuất sắc nhất trong đội ngũ lao động 2009
+ Đạt danh hiệu Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2009 do 6 tạp chí tàichính ngân hàng uy tín trên thế giới trao tặng: Euromoney, Asiamoney,FinanceAsia, Euromoney, Global Finance, The Asset và The Banker
2.1.2 Giới thiệu về ngân hàng ACB – CNH
2.1.2.1 Quá trình hình thành
Chi nhánh NHTM Cổ phần Á Châu Huế được thành lập theo quyết định số904/QĐ-BPC ngày 29/11/2002 Ngày 24/06/2005 Ngân hàng được cấp giấy phépkinh doanh và chính thức đi vào hoạt động ngày 22/07/2005
Tại thời điểm Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh huế ra đời, thì trên địabàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã có sự tham gia hoạt động của 4 ngân hàng Nhà nước
và một số ngân hàng TMCP khác, vì vậy Chi nhánh phải chịu áp lực cạnh tranhrất lớn Tuy nhiên vượt qua khó khăn từ lúc đầu mới thành lập, NHTM Cổ phần
Á Châu Chi nhánh Huế đã được thừa nhận và được nhiều người biết đến như làmột thương hiệu đáng tin cậy Hiện nay, ngân hàng đã có một mạng lưới chinhánh và phòng giao dịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế:
- Phòng giao dịch Big C huế
+ Địa chỉ : Tòa nhà Phong Phú Plaza, P.Phú Hội, TP.Huế
+ Điện thoại : 054.3883699
Trang 27Những nội dung hoạt động chính của ngân hàng TMCP Á Châu – ChiNhánh Huế:
- Huy động vốn ngắn hạn, trung, dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kỳhạn, không kỳ hạn; tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chứctrong nước; vay vốn của các TCTD khác
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; chiết khấu thương phiếu, hối phiếu,giấy tờ có giá; hùn vốn và liên doanh theo luật định
- Thực hiện dịch vụ thanh toán giữa các ngân hàng
- Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và các dịch vụ thanh toán quốc tế
- Các dịch vụ khác
2.1.2.2 Các sản phẩm tín dụng của ACB – CNH
Tại NHTM Cổ phần Á Châu các sản phẩm tín dụng được chia thành 2nhóm như sau:
Nhóm sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân bao gồm:
- Cho vay trả góp mua nhà ở, nền nhà, xây dựng sửa chữa nhà;
- Cho vay trả góp sinh hoạt tiêu dùng;
- Cho vay cầm cố cổ phiếu;
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ;
- Cho vay mua xe ô tô trả góp, cầm cố bằng chính xe mua;
- Cho vay du học;
- Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá do ACB phát hành;
- Phát hành thư bảo lãnh trong nước;
Nhóm sản phẩm tín dụng dành cho khách hành doanh nghiệp bao gồm:
- Tài trợ thương mại trong nước: giúp doanh nghiệp thanh toán tiền muanguyên vật liệu, hàng hóa của các nhà cung cấp trong nước và các chi phí sảnxuất khác của doanh nghiệp;
- Tài trợ xuất nhập khẩu;
Trang 28- Cho vay đầu tư tài sản cố định, đầu tư dự án;
- Cho vay đồng tài trợ;
- Dịch vụ bảo lãnh: đây là sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng doanhnghiệp cần có sự bảo lãnh của ngân hàng trong hoạt động giao dịch, kinh doanh
để công việc được thuận lợi;
- Bao thanh toán;
- Các sản phẩm cho vay đặc biệt khác: Cho vay thấu chi, Cho vay mua xe ô
tô chế chấp bằng chính xe mua, Cho vay bổ sung vốn kinh doanh…
Trên cơ sở những sản phẩm tín dụng chung của NHTM Cổ phần Á Châu,tùy vào điều kiện cụ thể tại từng Chi nhánh để có thể áp dụng hết tất cả các sảnphẩm hay một số sản phẩm tín dụng chung đó
2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức
Ban giám đốc: Điều hành toàn bộ hoạt động của chi nhánh, xây dựng, thực
hiện, kiểm tra các chương trình hành động để hoàn thành kế hoạch do Tổng giámđốc giao cho
Bộ phận hành chính: Với các chức năng chính là xây dựng các quy chế tổ
chức ngân hàng, quản lý về số lượng, chất lượng, hồ sơ toàn bộ cán bộ, nhân viêntrong ngân hàng; xây dựng kế hoạch lao động tiền lương; quản lý quỹ tiền lươngtrong ngân hàng, xây dựng nội quy lao động, thoã ước lao động tập thể
Trang 29: Quan hệ hỗ trợ
: Quan hệ trực tiếp
Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức Ngân hàng ACB – CNH
GIÁM ĐỐC
BP THẨM ĐỊNH TÀI SẢN
NV HÀNH
CHÍNH
PHÓ GIÁM ĐỐC
BP HÀNH
BP HỖ TRỢ TÍN DỤNG
BP GD NGÂN QUỸ
VĂN THƯ PFC CA Bộ phậnTrưởng
RA
CA
LSO
KSV TÍN DỤNG
KẾ TOÁN TRƯỞNG
KSV GIAO DỊCH
Giao dịch viên
Kiểm toán nội bộ
BP DỊCH VỤ KHÁCHHÀNG
BP PHÁP LÝ CHỨNG TỪ
BP XỬ LÝ NỢ
Trang 30Bộ phận hổ trợ tín dụng : Thực hiện các chức năng hổ trợ công tác nghiệp
vụ chuyên môn cho các bộ phận : Theo dõi hồ sơ vay, quản lý khách hàng, tư vấnsản phẩm cho khách hàng tiền vay và tiền gửi, lập và thực hiện hợp đồng, thẩmđịnh tài sản, xử lý nợ quá hạn,
Bộ phận tư vấn tín dụng cá nhân (PFC): Mục đích đảm nhận chuyên môn
về khách hàng cá nhân, với các nhiệm vụ cụ thể là: tìm kiếm và đánh giá kháchhàng, thu thập các thông tin ban đầu để phục vụ việc thẩm định sau này, giới thiệucho khách hàng các sản phẩm dịch vụ và quảng cáo thương hiệu của Ngân hàngcũng như của Chi nhánh
Phòng giao dịch – Ngân quỹ: Gồm hai bộ phận chính là Kế Toán và Ngân
Quỹ Thực hiện các chức năng như tiếp xúc, giao dịch với khách hàng, thực hiệncông việc thu chi (VNĐ, vàng, các loại ngoại tệ) và trực tiếp hạch toán kế toán,hạch toán thống kê và thanh toán theo quy định
Bộ phận kiểm toán nội bộ : do hội sở chính cử đến để thực hiện các công
việc sau: giám sát các hoạt động tại đơn vị, kiểm tra nghiệp vụ, lập báo cáo …
2.1.2.4 Tình hình sử dụng lao động
Bất cứ một doanh nghiệp hay tổ chức nào, dù hoạt động trong lĩnh vực nàothì nhân tố con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành công.Công tác quản trị nguồn nhân lực, phân công bố trí lao động một cách hợp lý ảnhhưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đội ngũ laođộng có năng lực, trình độ chuyên môn tốt là cơ sở để đảm bảo chất lượng tíndụng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Qua bảng số liệu ta thấy, tình hình lao động của chi nhánh đều tăng lên trong
3 năm Năm 2007 số lao động là 40 người, đến năm 2009 đã tăng lên 50 người.Trong đó, số lao động nữ chiếm tỉ trọng lớn hơn so với số lao động nam, số laođộng có trình độ đại học và trên đại học ngày càng tăng lên
Trang 31Lực lượng lao động đều tăng chứng tỏ chi nhánh rất quan tâm đến việc tuyểndụng lao động để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô hoạt động, tạo nhiều sản phẩmtín dụng đa dạng, phong phú.
Bảng 1: Tình hình lao động tại Ngân hàng ACB – CNH
Đơn vị: Triệu đồng
Số lượng % Số lượng % Số lượng %
(Nguồn: Phòng hành chính ngân hàng ACB – CNH)
- Xét theo trình độ học vấn:Tỷ lệ số lao động tại chi nhánh có trình độ đại học
và trên đại học chiếm một tỷ trong lớn, và ngày càng tăng lên Đây là điều kiệngiúp cho nhân viên ngân hàng có thể đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng caocủa tính chất công việc, dễ dàng tiếp thu nhanh khoa học công nghệ được ứngdụng ngày càng nhiều trong lĩnh vực ngân hàng Có được điều này là nhờ bêncạnh việc chú trọng tuyển dụng tuyển dụng những lao động có trình độ cao, chinhánh cũng rất chú ý đến việc đào tạo, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho cáccán bộ công nhân viên của mình
Đội ngũ cán bộ công nhân viên còn trẻ, có sự năng động, sáng tạo, chăm họchỏi cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng về chuyênmôn nghiệp vụ Do đó, Chi nhánh việc thường xuyên tổ chức những khóa học đểnâng cao chuyên môn nghiệp vụ tại hội sở, tạo điều kiện cho nhân viên có thể tiếptục học lên cao
- Xét theo giới tính: số lượng lao động đều tăng lên qua 3 năm, nhưng số laođộng nữ vẫn chiếm tỷ cao hơn, đây là do đặc thù của ngành ngân hàng Số lao
Trang 32điều chỉnh cơ cấu bình đẳng giới tại NH TMCP ACB – CNH Như vậy, việc phânchia lao động theo giới tính của NH TMCP ACB – CNH là khá phù hợp với đặcthù của ngành ngân hàng hiện nay.
2.1.2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của ACB – CNH trong thời gian qua
Qua báo cáo kết quả kinh doanh của Ngân hàng ACB – CNH, ta có thể thấyngân hàng đã có sự tăng trưởng khá đồng đều và ổn định trong những năm qua.Trong năm 2008, tổng thu nhập của ngân hàng là 62.151 triệu đồng, tăng14.536 triệu đồng so với năm 2007 tương ứng với tốc độ tăng là 30,53% Có đượcđiều này là nhờ trong năm 2008, tổng thu nhập từ lãi có sự tăng lên rất lớn, tăng13.585 triệu đồng ,tương ứng với 30,55% Nguyên nhân là do trong năm này, tìnhhình kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có khá nhiều biến động.Nền kinh tế lâm vào tình trạng lạm phát, kéo theo đó là mức lãi suất huy độngcũng như lãi suất của các khoản cho vay cũng tăng lên ,có thời điểm lãi suất chovay lên tới 21%/năm Ngoài ra, các khoản thu từ hoạt động dịch vụ, kinh doanhngoại hối và các khoản thu khác tuy chỉ chiếm một tỷ trọng khá nhỏ nhưng cũng
đã đạt được những mức tăng đáng kể, đóng góp vào tổng thu nhập của ngân hàng
Trang 33Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng ACB – CNH
- Trả lãi phát hành giấy tờ có giá 5.367 6.879 8.373 1.512 28,17% 1.494 21,72%
3 Chi phí hoạt động kinh doanh ngoại hối 443 577 692 134 30,25% 115 19,93%
III Tổng lợi nhuận trước thuế 7.495 10.022 11.697 2.527 33,72% 1.675 16,71%
(Nguồn: Phòng kế toán Ngân hàng ACB – CNH)
Trang 34Trong năm 2008 nền kinh tế chịu ảnh hưởng của lạm phát, lãi suất tăng, làmcho chi phí huy động vốn của ngân hàng cũng tăng lên; tăng hơn 10.351 triệu đồng
so với năm 2007, tương ứng với 29,7% Khoản mục chi phí huy động vốn tăng caochịu ảnh hưởng một phần từ việc tăng lãi suất huy động vốn và một phần là do sựtăng lên về số lượng vốn huy động để đáp ứng nhu cầu cho vay của ngân hàng.Thêm vào đó là việc mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ đểtăng nguồn thu cũng đòi hỏi cẩn 1 chi phí lớn Do những nguyên nhân đó, nên bêncạnh sự tăng lên của tổng thu nhập ngân hàng, thì tổng chi phí của ngân hàng trongnăm 2008 này cũng có sự tăng lên rất đáng kể, tăng 12.009 triệu đồng, tương ứngvới 29,93% Thu nhập của ngân hàng tăng có tốc độ tăng lớn hơn so với chi phí, nhờvậy lợi nhuận trước thuế năm 2008 của ngân hàng đạt 10.022 triệu đồng, tăng 2.527triệu đồng so với năm 2007, tăng tương ứng với 33,72%
Trong những tháng đầu năm 2009 là thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính thếgiới xảy ra từ cuối năm 2008 bắt đầu có ảnh hưởng rõ rệt đến nền kinh tế Việt Nam,đặc biệt là ngành tài chính ngân hàng Khủng hoảng khiến nền kinh tế lâm vào tìnhtrạng giảm phát, hoạt động sản xuất kinh doanh bị trì trệ, nhu cầu vay vốn để mởrộng sản xuất của các doanh nghiệp là rất thấp, lãi suất cho vay cũng bị giảm mạnh.Tuy vậy trong năm 2009, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng Á Châu chi nhánh huếvẫn đạt mức 11.697 triệu đồng, tăng 1.675 triệu đồng, tương ứng với 16,71% so vớinăm 2008 Có được thành tích như vậy là nhờ những chính sách hỗ trợ kịp thời củanhà nước trong việc kích cầu tiêu dùng, chương trình hỗ trợ lãi suất… thêm vào đó
là sự nỗ lực của bản thân ngân hàng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng, quản
lý rủi ro để ngân hàng có thể vượt qua được giai đoạn khó khăn này
Lợi nhuận của ngân hàng trong 3 năm gần đây đều tăng, đây là một dấu hiệutốt cho ngân hàng, nhất là trong giai đoạn nền kinh tế đang gặp nhiều biến động vàphải chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ các ngân hàng trên địa bàn
Trang 352.1.2.6 Quy trình tín dụng của Ngân hàng ACB – CNH
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếpnhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân,thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng
Bước 1: Hướng dẫn thủ tục vay vốn và tiếp nhận hồ sơ
Tại Sở giao dịch hoặc các Chi nhánh, khách hàng có nhu cầu vay vốn sẽ đượctiếp nhận và hướng dẫn thủ tục vay vốn:
- Đối với khách hàng doanh nghiệp tại Phòng Khách hàng doanh nghiệp
- Đối với khách hàng cá nhân tại Phòng Khách hàng cá nhân
- Tại Phòng Kinh doanh tại Sở giao dịch hoặc các Chi nhánh
- Tại Phòng Giao dịch trong hệ thống ACB
Bước 2: Thẩm định hồ sơ vay và lập tờ trình
Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ vay vốn từ khách hàng, nhân viên phân tích tín dụng(CA) tiến hành thẩm định các nội dung sau:
- Thẩm định về năng lực pháp lý của khách hàng (năng lực hành vi dân sự,năng lực pháp luật dân sự)
- Thẩm định về năng lực hoạt động, tình hình sản xuất kinh doanh, tình hìnhtài chính, tình hình công nợ của khách hàng
- Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư; thẩm định khoảnvay và khả năng trả nợ của khách hàng
- Thẩm định các biện pháp đảm bảo tiền vay: nhân viên định giá tài sản (AA)tiến hành thẩm định để định giá tài sản đảm bảo và lập tờ trình
Các hồ sơ tín dụng bắt buộc phải có ý kiến của phòng phân tích tín dụng Saukhi tiến hành thẩm định khách hàng và TSĐB, tiến hành lập tờ trình phân tích tíndụng theo mẫu
Trang 36Bước 3: Quyết định cho vay và thông báo kết quả cho khách hàng
- Quyết định cho vay: Sau khi lập tờ trình thẩm định khách hàng, trình cấp cóthẩm quyền xem xét và ký vào tờ trình thẩm định khách hàng, tiến hành gửi
hồ sơ cho các thành viên HĐTD đánh giá, xem xét quyết định cho vay
- Thông báo kết quả cho khách hàng: Tối đa 2 ngày làm việc kể từ ngàyHĐTD ra quyết định cho vay hoặc không cho vay, phải thông báo kết quảbằng văn bản cho khách hàng
Bước 4: Hoàn tất thủ tục pháp lý về TSĐB nợ vay
- Căn cứ vào kết quả phê duyệt cho vay của HĐTD, AO chuyển giao toàn bộ
hồ sơ cho Loan CSR để chuẩn bị hồ sơ giải ngân
- Loan CSR chuyển hồ sơ TSĐB kèm phúc đáp thông báo kết quả xét duyệtkhoản vay cho nhân viên pháp lý chứng từ và quản lý tài sản (LDO) đểhoàn tất các thủ tục pháp lý về TSĐB cho khoản vay, sau đó tiến hành thủtục nhận và quản lý TSĐB
- Đối với việc cho vay bằng chứng thư bảo lãnh của Ngân hàng, chứng thưbảo lãnh của công ty mẹ, … sẽ do AO tiến hành kiểm tra tính xác thực vàhợp pháp của chứng thư bảo lãnh, tiến hành sao (photo) thư bảo lãnh, bảnsao lưu vào hồ sơ theo hướng dẫn của Ngân hàng Bản chính thư bảo lãnhcho vào phòng bì và lưu vào kho
Bước 5: Lập Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ
- Khi khách hàng có nhu cầu rút tiền vay, căn cứ nhu cầu thực tế của kháchhàng và nội dung phê duyệt của HĐTD đã được thực hiện hoàn tất, LoanCSR tiến hành soạn Hợp đồng tín dụng
- Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ sau khi đã soạn xog, Loan CSRchuyển cho khách hàng và bên có liên quan ký, sau đó trình cấp có thẩmquyền ký
Trang 37Bước 6: Tạo tài khoản vay và giải ngân
- Căn cứ Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ, Loan CSR chịu trách nhiệmthực hiện thủ tục tạo tài khoản vay thích hợp cho khách hàng
- Sau khi tài khoản vay đã có đầy đủ các thông tin và nối kết về TSĐB, LoanCSR phối hợp với Nhân viên kiểm soát hiệu lực hóa khoản vay
- Nhân viên giao dịch tài khoản (Teller) thực hiện giải ngân
Bước 7: Kiểm tra, theo dõi khoản vay, thu nợ, xử lý những vấn đề phát sinh
- Theo dõi quá trình trả lãi, vốn và đôn đốc thu hồi nợ (gốc và lãi)
+ Thường xuyên theo dõi tình hình trả nợ, kỳ hạn nợ của khách hàng thôngqua màn hình TCBS (The Complete Banking Solution) hoặc bảng kê cáckhoản nợ gốc, lãi vay đến hạn phát sinh trước 05 ngày
+ Tiến hành nhắc nhở, đôn đốc khách hàng trả nợ và đề xuất ý kiến xử lý khinhận thấy khách hàng có dấu hiệu bất ổn trong thanh toán hoặc có những thayđổi làm ảnh hưởng đến khoản vay Đối với các khoản nợ chuyển nợ quá hạn,Loan CSR lập thư báo cho khách hàng về việc chuyển nợ quá hạn, đồng thờilập biên bản bàn giao hồ sơ vay bộ phận xử lý nợ để theo dõi, khởi kiện thu
nợ vay
+ Nếu trong Hợp đồng tín dụng có quy định về việc thay đổi lãi suất, LoanCSR lập thông báo việc thay đổi và thời gian thay đổi lãi suất cho khách hàngbiết
- Kiểm tra thường xuyên tình hình hoạt động của khách hàng
+ AO phải kiểm tra thường xuyên việc sử dụng vốn vay và tình hình sản xuấtkinh doanh, tình hình tài chính, thu nhập, công nợ của khách hàng Khi kiểmtra phải lập biên bản kiểm tra theo mẫu
+ Nếu khách hàng vay vốn không đúng mục đích hoặc nếu tình hình hoạtđộng ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của khách hàng, AO lập tờ trình báo
Trang 38cáo và đề xuất hướng xử lý trình cấp có thẩm quyền xem xét và ký vào tờtrình.
- Kiểm tra, đánh giá lại tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh (gọi chung làTSĐB): tiến hành đánh giá lại hiện tượng và giá trị TSĐB nợ vay cho ngânhàng
+ Đối với bất động sản: Việc đánh giá lại TSĐB được thực hiện 12 tháng/lần.+ Đối với động sản: Việc đánh giá lại TSĐB được thực hiện 6 tháng/lần
+ Đối với trường hợp món vay được thế chấp bằng hàng hóa thì việc đánh
giá lại TSĐB phải thực hiện theo quy định về cho vay cầm cố, thế chấp hànghóa đó
- Xử lý các vấn đề phát sinh như: Khách hàng có nhu cầu trả nợ trước hạn sovới thời hạn trong hợp đồng tín dụng, khách hàng có nhu cầu cơ cấu lại thờihạn trả nợ, khách hàng xin miễn giảm lãi vay…
Lưu ý: thực hiện tái đánh giá lại các dự án trung, dài hạn đã tài trợ với mục đích
để cập nhật chính xác và kịp thời các thông tin của khách hàng về việc đảm bảo sửdụng vốn vay đúng mục đích, khả năng hoàn trả nợ vay, cũng như hạn chế tối đa các
rủi ro có thể xảy ra Thời gian thực hiện tái thẩm định: khi có yêu cầu Sau khi thực
hiện tái đánh giá và phải lập tờ trình thẩm định để trình HĐTD
Bước 8: Thanh lý/ tất toán khoản vay
- Hồ sơ vay được thanh lý khi khách hàng thanh toán đầy đủ vốn vay lãi vay vàcác chi phí khác có liên quan
- Sau khi tất toán khoản vay, tiến hành thủ tục giải chấp TSĐB theo mẫu vàtrình cấp có thẩm quyền phê duyệt
Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệtquan trọng đối với một ngân hàng thương mại