BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI PHÙNG THỊ THẢO ðIỀU TRA TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI, CHẾ BIẾN MẬT ONG, SỰ TỒN DƯ MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG, HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ THU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
PHÙNG THỊ THẢO
ðIỀU TRA TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI, CHẾ BIẾN MẬT ONG,
SỰ TỒN DƯ MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG, HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ THUỐC KHÁNG SINH TRONG MẬT ONG TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ CHĂN NUÔI ONG Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
PHÙNG THỊ THẢO
ðIỀU TRA TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI, CHẾ BIẾN MẬT ONG,
SỰ TỒN DƯ MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG, HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ THUỐC KHÁNG SINH TRONG MẬT ONG TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ CHĂN NUÔI ONG Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Phùng Thị Thảo
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn PGS.TS Phạm Ngọc Thạch ñã tận tình giúp ñỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh ñạo Trung tâm Trung tâm Kiểm tra
vệ sinh thú y Trung ương I và các cơ sở chăn nuôi ong, chế biến mật ong tại 4 tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Bắc Giang, Hưng Yên ñã giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân trong gia ñình ñã luôn giúp ñỡ, ñộng viên tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Phùng Thị Thảo
Trang 51.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng ñến chất lượng mật ong 6 1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mật ong ở Việt Nam 6 1.3 Các yêu cầu ñể mật ong ñạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm 7 1.4 Tình hình sử dụng, quản lý thuốc thú y trong chăn nuôi nói chung
1.4.1 Tình hình sử dụng, quản lý thuốc thú y trong chăn nuôi nói chung 10 1.4.2 Tình hình sử dụng, quản lý thuốc thú y trong chăn nuôi ong 12
1.6 Tồn dư kháng sinh, hóa chất bảo vệ thực vật và kim loại nặng
1.6.1 Quy ñịnh về Giới hạn phát hiện và Giới hạn tồn dư tối ña 15
1.6.3 Tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong mật ong 21
Trang 61.6.4 Tồn dư kim loại nặng trong mật ong 22
3.1 Thực trạng ñiều kiện vệ sinh thú y tại một số cơ sở chăn nuôi ong
3.1.1 Thực trạng ñiều kiện vệ sinh thú y tại cơ sở chăn nuôi ong 30 3.1.2 Thực trạng ñiều kiện vệ sinh thú y tại cơ sở chế biến mật ong 32 3.1.3 Tình hình dịch bệnh trên ñàn ong và sử dụng thuốc trong ñiều trị
3.2 Tồn dư một số kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật và thuốc
3.2.2 Tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong mật ong 42
3.3 Giải pháp ñảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản xuất mật ong 49 3.3.1 Nhóm giải pháp truyền thông giáo dục ñối với người chăn nuôi 49 3.3.2 Nhóm giải pháp về kiểm soát, giám sát sản xuất, lưu thông, buôn
bán, sử dụng hóa chất, kháng sinh trong chăn nuôi ong 50 3.3.3 Nhóm giải pháp về kiểm tra, thanh tra và kiểm soát chất lượng
3.3.4 Nhóm giải pháp thay thế sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi 51
Trang 73.3.5 Nhóm giải pháp nhằm hạn chế sử dụng kháng sinh trong phòng
Trang 8
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ATTP : An toàn thực phẩm
AOZ : Furazolidone (3-amino-2-oxazolidone)
AMOZ : Furaltadone (5-methylamorfolino-3-amino-2-oxazolidone) AHD : Furaltadone (1-aminohydantoin)
CAP : Chloramphenicol
Cd : Cadimia
EU : Cộng ựồng Châu Âu
FAO : Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc
(Food and Agriculture Organisation)
HCBVTV : Hóa chất bảo vệ thực vật
Hg : Thủy ngân
KCS : Kiểm tra chất lượng sản phẩm
LOD : Giới hạn phát hiện
MRL : Giới hạn dư lượng tối ựa
Pb : Chì
SEM : Nitrofurazone (Semicarbazide)
TACN : Thức ăn chăn nuôi
USD : đô la Mỹ
WHO : Tổ chức y tế thể giới (World Health Organization)
ELISA : Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay
LC/MS/MS :Liquid Chromatography/Mass Spectometry/Mass Spectometry GC/MS :Gas Chromatography/Mass Spectometry
AAS :Atomic Absorption Spectrometer
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1.3 So sánh về quy ñịnh tồn dư kháng sinh trên mật ong 19
2.2 Giới hạn phát hiện của một số kháng sinh, hóa chất bảo vệ thực
3.1 Thực trạng ñiều kiện vệ sinh thú y tại cơ sở chăn nuôi ong thuộc
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Tỷ lệ tồn dư các chất trong mật ong vượt ngưỡng hành ñộng
Hình 3.3 Mô hình cơ sở chế biến mật ong an toàn Chỉ tiêu ñánh giá 66
Trang 11
MỞ ðẦU
1 ðặt vấn ñề
Việt Nam là một nước nhiệt ñới có thảm thực vật, nguồn hoa phong phú, các sản phẩm ong ñược coi là chất bổ cho sức khoẻ con nguời, là tiền ñề cho nghề nuôi ong
Trong những năm gần ñây, nghề nuôi ong có xu hướng tăng trưởng rõ rệt: số lượng ñàn, sản lượng mật và lượng mật xuất khẩu tăng khá nhanh Thị trường xuất khẩu chủ yếu hiện nay là Hoa Kỳ sau khi bị EU ra lệnh tạm ngưng từ 6/2007 và vừa chính thức mở trở lại vào ngày 28/3/2013 (Hồng Anh, 2013), mặc dù vậy năm 2012 Việt Nam ñã xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ khoảng 24.800 tấn mật ong, kim ngạch ñạt khoảng 35 triệu USD Sự sống còn của ngành ong Việt Nam phụ thuộc vào ñòi hỏi khắt khe của thị trường nước ngoài với trên 80% sản lượng dành cho xuất khẩu
Vùng sản xuất mật ong chủ yếu ở Nam Bộ, Tây Nguyên như: Bình Dương, Bình Phước, Long An, ðồng Nai, ðăk Lăk,… với các cây nguồn mật chính ở ñây bao gồm: cao su, cà phê, ñiều, keo, tràm Tuy nhiên không thể bỏ qua vùng sản xuất ong phía Bắc: Sơn La, Hòa Bình, Bắc Giang, Hưng Yên,… với các cây nguồn mật: nhãn, vải, táo,… ðiều kiện về tự nhiên, khí hậu và cây nguồn mật ở miền Bắc Việt Nam rất thuận lợi cho sự phát triển của con ong và sản xuất mật, chính vì vậy một số cơ sở chăn nuôi ong từ phía Nam ñã ñưa ong ra miền Bắc ñể tranh thủ các cây nguồn mật Nghề nuôi ong tại một
số tỉnh miền Bắc ñang có xu hướng phát triển trong những năm gần ñây Tuy nhiên, ña số người nuôi ong thiếu kiến thức cơ bản vì không qua ñào tạo nên trình ñộ quản lý và phòng trừ dịch bệnh cho ong kém và sai, sử dụng kháng sinh, hóa chất bảo vệ thực vật chưa ñúng, khai thác khi mật chưa chín nên hiệu quả kinh tế vừa thấp, sản phẩm ong vừa có dư lượng kháng sinh, hóa chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng và chất lượng lại không ổn ñịnh
Trang 12Hiện nay, chúng ta ựã có chương trình giám sát mật ong và bước ựầu có những hiệu quả tắch cực góp phần nâng cao chất lượng mật ong trong tiêu thụ nội ựịa và xuất khẩu Tuy nhiên, chương trình giám sát chủ yếu triển khai ở các tỉnh phắa Nam mà chưa thực hiện ở các tỉnh phắa Bắc - một vùng ngành nuôi ong ựang phát triển và có nhiều ựiều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của con ong
để nắm bắt ựược tình hình nuôi dưỡng, bảo quản và chế biến trong sản xuất mật ong, ựánh giá vệ sinh an toàn thực phẩm mật ong, ựưa ra các biện pháp góp phần nâng cao chất lượng mật ong tại các tỉnh phắa Bắc ựảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm, chúng tôi tiến hành ựề tài: ỔỔđiều tra tình hình chăn nuôi, chế biến mật ong, sự tồn dư một số kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật và thuốc kháng sinh trong mật ong tại một số cơ sở chăn nuôi ong
ở các tỉnh phắa Bắc Ợ
2 Mục tiêu nghiên cứu
- đánh giá ựược thực trạng ựiều kiện vệ sinh thú y tại các cơ sở chăn nuôi và chế biến mật ong
- Xác ựịnh sự tồn dư của một số kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật
và thuốc kháng sinh trong mật ong
- đề xuất các giải pháp ựể sản xuất mật ong ựạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Mật ong và ñặc tính cơ bản của mật ong
1.1.1 Mật ong
Trong quá trình tiến hoá, ong mật có khả năng thu mật hoa và các dịch ngọt tiết trên lá, nụ, búp non của các loại cây nguồn mật về tổ ñể luyện thành mật ong Sự ña dạng và phong phú của các loại cây nguồn mật ñã tạo nên các loại mật ong khác nhau như mật ong hoa vải, mật ong hoa nhãn, mật ong hoa bạch ñàn, mật ong hoa rừng (mật bạc hà, cỏ lào, chân chim, ) Các loại mật ong khác nhau có màu sắc, hương vị ñặc trưng riêng như mật hoa bạch ñàn có màu nâu ñỏ, mùi nếp lên men; mật hoa táo có mùi thơm dịu, màu vàng chanh; mật hoa bạc hà có mùi thơm hắc,
Mật ong là sản phẩm chính của nghề nuôi ong ðây là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, ñược sử dụng làm thức ăn bổ sung cho con người trong nhiều loại thực phẩm và là vị thuốc tự nhiên chữa ñược nhiều bệnh như viêm họng, bệnh ñường ruột, viêm gan,
Theo Tiêu chuẩn Việt Nam (1990) về mật ong tự nhiên, mật ong ñược phân loại theo nguồn gốc thực vật thành 03 loại là mật ong hoa, mật ong dịch
lá và mật ong hỗn hợp
+ Mật ong hoa: tuỳ theo lượng mật hoa do ong khai thác chủ yếu từ một hay nhiều loại hoa mà mật ong hoa ñược chia thành 02 loại là mật ong ñơn hoa và mật ong ña hoa Mật ong ñơn hoa gồm: mật ong hoa nhãn, mật ong hoa vải, mật ong hoa bạch ñàn, mật ong hoa táo, mật ong hoa cỏ lào,
Còn mật ong ña hoa gồm một số loại như mật ong vải nhãn, mật ong chôm chôm, cà phê, mật ong hoa rừng,
+ Mật ong dịch lá: là mật ong do ong khai thác từ mật của dịch lá, búp
Trang 14non của cây Ví dụ như mật ong cao su, mật ong ñay,
+ Mật ong hỗn hợp: là mật ong do ong khai thác từ cả mật của dịch lá
và mật của hoa Ví dụ như mật ong cao su - vải, mật ong cà phê - bạch ñàn - táo - ñay
1.1.2 Tính chất và thành phần hoá học của mật ong
* Tính chất của mật ong
- Mật ong là chất lỏng, có dạng từ ñặc sánh ñến kết tinh Kết tinh là hiện tượng tự nhiên bình thường, do tỷ lệ ñường khử gluocoza/fructoza >1 Mật ong kết tinh nhiều hay ít hoặc không kết tinh là tuỳ thuộc ở cây nguồn mật Theo Phùng Hữu Chính và Vũ Văn Luyện (1999), mật cao su, cỏ lào, bạc hà, chân chim thường dễ kết tinh; còn các loại mật như mật nhãn, mật vải, mật bạch ñàn, táo thì ít kết tinh hoặc không kết tinh Thời gian kết tinh có thể sau vài tháng thu hoạch mật Mật kết tinh do tỷ lệ nước trong mật thấp, tỷ lệ nước trong mật càng thấp thì mật kết tinh càng nhanh, mật kết tinh là dấu hiệu chắc chắn mật nguyên chất, tinh khiết, không bị pha chế
- Mật ong có màu sắc và mùi vị ñặc trưng cho từng loại hoa mà ong lấy mật Dựa vào tính chất này, người ta có thể nhận biết ñược nguồn gốc ñịa lý của mật ong thông qua phương pháp phân tích phấn hoa
- Hàm lượng các ñường hòa tan trong mật cao (> 65%), mật có tính hút
ẩm, hút mùi vì vậy tránh bảo quản mật ong ở những nơi ẩm thấp, tránh tiếp xúc với không khí và không ñể mật gần nơi có mùi xăng, dầu, hành tỏi
- Mật ong rất nhạy cảm với nhiệt ñộ và ánh sáng trực tiếp, do vậy nên ñựng mật ong trong những lọ, chai thuỷ tinh mờ và bảo quản ở những nơi thoáng mát (nhiệt ñộ không quá 36oC)
- Mật ong có tính chất lên men, khi tỷ lệ nước trong mật ong cao, vượt quá 21%, mật dễ bị lên men sinh ra khí CO2 làm cho mật bị chua, chất lượng mật giảm ðặc biệt, nếu sử dụng các ñồ ñựng mật bằng kim loại, mật có thể bị biến chất, gây ngộ ñộc cho người sử dụng vì trong mật ong có chứa axit hữu
Trang 15cơ và ñường, dưới tác dụng của men, sẽ sinh ra axit etylenic ăn mòn lớp kim loại và làm tăng thêm hàm lượng kim loại trong mật ong
* Thành phần hoá học của mật ong
Thành phần hoá học của mật ong khá phức tạp vì chứa ñến 80 các loại chất khác nhau có liên quan ñến dinh dưỡng Thành phần chính và tỷ lệ các chất hoá học quan trọng của mật ong ñược thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Thành phần hoá học của mật ong
3 ðạm (axit amin và protein) 0,04 0,00 – 0,13
Nguồn: Eva Crane (1990)
Ngoài ra, trong mật ong còn có chứa vitamin A, các vitamin nhóm B
(B1, B6, B12, PP), vitamin C, D, E, K, và các chất khoáng gồm có magiê, phốt pho, sắt, canxi, iốt, kẽm, mangan; protein; cacbonhydrat; axít organic; hóc môn; kháng sinh,… ðặc biệt, trong mật ong còn có một số enzim ñóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hoá và ñiều hoà các hoạt ñộng của
cơ thể Mật ong rất giàu năng lượng, một 100 g mật ong chứa khoảng 304 kcal (FAO, 2013)
Trang 161.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng ựến chất lượng mật ong
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng ựến chất lượng mật ong, trong ựó, một số yếu tố chắnh ảnh hưởng ựến chất lượng mật ong, ựó là:
- Cây nguồn mật: mỗi loại cây nguồn mật có hương vị và chất lượng ựặc trưng riêng Một số loại cây nguồn mật có hàm lượng ựường cao như mật hoa vải, hoa nhãn, hoa táo, hoa bạch ựàn, hoa chôm chôm,Ầ
- Giống ong và cách quản lý ựàn ong khai thác mật cũng ảnh hưởng ựến chất lượng mật Nhiều ý kiến cho rằng, mật ong nội thơm hơn mật ong ngoại (có thể do men ong tiết ra) nhưng mật ong ngoại ựặc hơn mật ong nội do ựàn ong ngoại mạnh, khả năng quạt gió tốt đàn ong mạnh lên kế thì chất lượng mật tốt vì ựàn ong mạnh quạt gió tốt, lên kế làm cho tất các lỗ tổ chứa mật ựều ựược vắt nắp hoàn toàn Khi thu mật, chỉ thu ở cầu không, nhộng và ấu trùng ựược giữ nguyên trong ựàn nên mật trong hơn, ựàn lên kế số cầu nhiều,
số vòng quay ắt nên các chỉ tiêu chất lượng ựều cao
- Chất lượng thùng nuôi ong và ựiều kiện thời tiết có ảnh hưởng rõ ựến chất lượng mật Thùng nuôi ong hở có thể gây khó khăn cho việc ựiều hoà ẩm
ựộ, nếu ẩm ựộ bên ngoài cao, mật hút thêm nước, ựàn ong yếu dù có ựể lâu cũng rất khó vắt nắp, cầu cũ, dòn, khi quay mật ảnh hưởng rõ ựến chất lượng mật (Phùng Hữu Chắnh và Vũ Văn Luyện, 1999)
- Bên cạnh các yếu tố trên, dụng cụ thu mật, phương pháp quay mật, bảo quản và tinh lọc mật cũng ảnh hưởng khá lớn tới chất lượng mật Máy quay mật, các dụng cụ chứa mật bằng kim loại (dễ bị ăn mòn) làm cho mật có màu ựen Do vậy, sau khi lọc mật, nên chứa mật vào can, chai sẫm màu có nút kắn Không nên chứa mật trong các thùng miệng rộng vì mật dễ hút nước, nếu
ẩm ựộ bên ngoài cao, lượng nước trong mật có thể tăng 1-2% trong vài ngày
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mật ong ở Việt Nam
Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi (2010) thì sản lượng mật ong bình quân của các trại ong các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên cao hơn rất nhiều so
Trang 17với các tỉnh phía Bắc Năm 2010, sản lượng mật tại một trại ong của Tiền Giang gấp 6,6 lần Hưng Yên và 3,6 lần Sơn La Với các tỉnh ðồng bằng Sông Cửu Long, một năm có rất nhiều vụ mật, người nuôi ong có thể khai thác mật trên 10 tháng trong một năm; ngoài ra cả khu vực miền Nam và Tây Nguyên có rất nhiều diện tích cây nguồn mật tập trung với sản lượng khai thác lớn như cà phê, cao su, ñiều,… Còn các tỉnh phía Bắc, cây nguồn mật rải rác không tập trung và số lượng các loại cây nguồn mật chính ít hơn nhiều so với miền Nam và Tây Nguyên Ngoài yếu tố về cây nguồn mật thì số lượng ñàn ong quyết ñịnh lớn ñến sản lượng mật khai thác, quy mô trại ong của các tỉnh phía Nam cao hơn rất nhiều so với các tỉnh phía Bắc Ngoài ra, các tỉnh phía Nam nuôi ong ngoại là chính trong khi ñó với Hưng Yên thì ong nội là chủ yếu Năng suất mật của ñàn ong phụ thuộc chủ yếu vào nguồn hoa Các tỉnh phía Nam do ñặc ñiểm là cây nguồn mật phong phú và tập trung nên số lần khai thác mật trong một năm nhiều hơn, do vậy năng suất mật cao hơn các tỉnh phía Bắc
Sản phẩm sản xuất ra chủ yếu của ngành ong là mật ong Mật ong của Việt Nam sản xuất ra chủ yếu là xuất khẩu; Việt Nam hiện ñứng thứ sáu về xuất khẩu mật ong trên thế giới và thứ hai ở châu Á Theo thống kê của Hội ong Việt Nam, năm 2008, lượng mật tiêu thụ trong nước khoảng 3000 tấn (tương ñương 35 gam/người/năm) và kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm ong của cả nước ñạt 31 triệu USD Trong 6 tháng ñầu năm 2010, các doanh nghiệp xuất khẩu thu mua ñược khoảng 14.000 tấn, xuất ñược 8.600 tấn, thu
về khoảng 17,3 triệu USD Năm 2011, ngành nuôi ong sản xuất ñược trên 30.000 tấn mật ong, trong ñó xuất khẩu ñạt 27.000 tấn với kim ngạch gần 80 triệu USD Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ khoảng 24.800 tấn mật ong, kim ngạch ñạt khoảng 35 triệu USD
1.3 Các yêu cầu ñể mật ong ñạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm
ðịnh nghĩa của FAO (2013), mật ong là chất ngọt tự nhiên ñược thu bởi ong mật từ dịch mật của hoa hoặc từ các phần tiết của cây sống, ñược
Trang 18chuyển hóa và kết hợp với các chất ñặc biệt của con ong rồi ñược bảo quản ñến chín trong tổ ong Theo ñịnh nghĩa này, ñể ñạt yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm thì mật ong phải ñảm bảo các yếu tố sau:
- Nguyên chất: không pha trộn ñường
- Tự nhiên: chín tự nhiên, không dùng máy giảm thuỷ phần
- Không chứa tồn dư các chất: thuốc thú y, hóa chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng
- Sạch: không ô nhiễm trong quá trình sản xuất, vận chuyển, chế biến, ñóng gói, bảo quản
Chất lượng mật ong ñược ñánh giá qua các chỉ tiêu chính như tỷ lệ nước, ñường khử (ñường glucoza và fructoza), ñường sacarza, HMF (Hydroxy- methyl fufura), men diastaza và axit, màu sắc, hương vị và ñộ trong của mật, Một số chỉ tiêu ñánh giá chất lượng mật ñược thể hiện ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Chỉ tiêu ñánh giá chất lượng mật ong
Tiêu chuẩn Việt Nam
6 Chất rắn không tan trong
nước (%) < 0,1 < 0,1 < 0,1 < 0,1
7 Tỷ lệ HMF(ml/kg) < 80 < 20 < 40 < 30
- Tỷ lệ nước trong mật ñược ño bằng phương pháp khúc xạ, mắt thường ñánh giá bằng ñộ sánh của mật, các tác giả Phùng Hữu Chính và Vũ Văn Luyện (1999) cho biết, nếu cân 1 lít mật ong ≥ 1,4 kg là mật ñặc Theo
Trang 19tiêu chuẩn chất lượng mật ong của Việt Nam, tỷ lệ nước trong mật ong nhỏ hơn 23%, là cao hơn so với tiêu chuẩn quy ñịnh của FAO/WHO là 2% (Tuyết Hoa, 2004)
Khi tỷ lệ nước trong mật ong quá cao, mật dễ bị lên men, biến chất, thời gian bảo quản ngắn Theo Ngô ðắc Thắng (2002), khi thu hoạch mật ong chưa chín (chưa vít nắp) thì mật còn chứa nhiều nước, lượng enzim ít, các loại vi sinh vật hoạt ñộng mạnh, chuyển hoá ñường thành rượu và khí
CO2 làm mật bị chua, có bọt khí
- ðường khử (ñường ñơn) trong mật ong chủ yếu là ñường glucoza và fructoza Lượng ñường khử trong mật cao biểu hiện ong ñã luyện mật tốt, tỷ
lệ ñường khử trong mật ong khoảng từ 70 - 75% (Eva Crane, 1990)
Ngoài 2 loại ñường ñơn, trong mật ong còn có một phần nhỏ lượng ñường sacaroza (khoảng 5%), nếu lượng sacaroza thấp thể hiện ong luyện mật tốt Tuy nhiên, nếu lượng ñường sacaroza cao thì có thể do quay mật non, vòng quay gấp hoặc lẫn ñường kính cho ong ăn
- Chỉ số axit: trong quá trình luyện mật, ong tiết ra một số axit hữu cơ
có tác dụng làm cho các loại ñường khử trong mật ong không bị lên men, làm tăng tính sát khuẩn của mật Nhưng nếu quay mật non (mật chưa vít nắp) và bảo quản không tốt, mật ong sẽ bị lên men, sinh ra nhiều axit tự do, làm mật biến chất
- Hàm lượng men diastaza: trong mật ong có chứa một lượng men invertaza, hàm lượng men invertaza là một chỉ số cần thiết trong việc ñánh giá tiêu chuẩn chất lượng mật ong Tuy nhiên, do khó phân tích men invertaza nên người ta ñã dùng chỉ số men diastaza tỉ lệ thuận với men invertaza
Chỉ số men diastaza ñánh giá ñộ chín của mật ong Mật ong có chỉ số diastaza cao khi ñàn ong mạnh và có thời gian luyện mật thích hợp Eva Crane (1990) cho biết, vào vụ rộ hoa, ñặc biệt là vụ hoa vải và vụ hoa nhãn, ong ñi lấy mật về nhiều, không có thời gian luyện mật mà ñổ ngay vào ñầy lỗ
Trang 20tổ Do vậy, lúc này ta thu ñược mật hoa ñang trong giai ñoạn chuyển hoá thành mật ong chứ chưa phải là mật ong Mặt khác, thường thì vào những vụ
ít hoa, ong luyện mật kĩ hơn nên chất lượng mật cũng tốt hơn
- Hàm lượng HMF (Hydroxy - Metyl - Furfura) trong mật ong có giới hạn cho phép là 20 - 40 mg/kg Nếu thu hoạch mật chưa chín hoặc do bảo quản không tốt, lượng HMF tăng cao, mật có hiện tượng nổi váng bọt làm chất lượng mật giảm
- Màu sắc và hương vị mật: mỗi loại mật có một hương vị và màu sắc ñặc trưng cho từng loại hoa mà ong lấy mật Mật ong hoa nhãn có màu vàng nhạt, hoa vải có màu vàng chanh, mật hoa bạch ñàn có màu nâu ñỏ, mật ong hoa táo có màu vàng ñến nâu xẫm,… (Ngô ðắc Thắng, 2002)
- ðộ trong của mật: theo Phùng Hữu Chính và Vũ Văn Luyện (1999),
ñộ trong của mật phụ thuộc vào cây nguồn mật (mật hoa trong hơn mật lá) và phương pháp khai thác mật Khi lấy mật ở cầu mới, không lẫn ấu trùng, giữ
vệ sinh tốt, không lẫn tạp chất, lấy xong lọc cẩn thận rồi chứa vào dụng cụ bảo quản ñảm bảo ñúng quy cách thì mật trong
1.4 Tình hình sử dụng, quản lý thuốc thú y trong chăn nuôi nói chung và trong chăn nuôi ong nói riêng
1.4.1 Tình hình sử dụng, quản lý thuốc thú y trong chăn nuôi nói chung
Theo báo cáo của Chuyên gia tư vấn trong lĩnh vực thuốc thú y (Boisseau, 2002) thì việc sử dụng các sản phẩm thuốc thú y có chứa kháng sinh trong chăn nuôi ở Việt Nam như sau: trừ các trang trại quy mô lớn, việc quyết ñịnh sử dụng kháng sinh cho ñộng vật ốm, việc lựa chọn thuốc, liều lượng, ñường dùng thuốc, thời gian ñiều trị và sự kết hợp của các loại thuốc ñược người dân áp dụng dựa trên kinh nghiệm, kỹ thuật và thông tin thương mại ñược lưu hành bởi các công ty sản xuất thuốc thú y Người dân luôn sử dụng kháng sinh phổ rộng hoặc kết hợp các loại kháng sinh Sự kết hợp các loại kháng sinh, thậm chí có thể bao gồm cả kháng sinh phổ rộng cùng nhau
Trang 21Việc ñiểu trị cho ñộng vật ốm thường dừng lại khi các triệu chứng bệnh không còn Trong trường hợp các triệu chứng bệnh này không hết sau 3 ngày ñiều trị thì sẽ sử dụng kháng sinh khác ñể thay thế
Một khảo sát ñược tiến hành bởi Dinh et al (2003) tại 628 trang trại ở tỉnh Bình Dương cho thấy: nông dân sử dụng kháng sinh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm mà không cần bất kỳ sự hỗ trợ của kết quả xét nghiệm và giám sát thú y ðiều ñó dẫn ñến nhiều thất bại trong việc sử dụng liều lượng, rút ngắn thời gian ñiều trị Cuộc khảo sát cũng ñã phát hiện ra rằng các kháng sinh thường ñược sử dụng trong thức ăn ñộng vật sản xuất tại Bình Dương là tylosin (15%), colistin (13,2%), norfloxacin (10,0%), gentamycin (8,4%), tetracycline (7,9%) và ampicillin (7,2%)
Trong tài liệu tham khảo cho việc quản lý thuốc thú y, Boisseau (2002)
có chỉ ra rằng có hơn 3000 sản phẩm thuốc thú y có chứa kháng sinh từ 4000 cửa hàng thuốc thú y ñược bán trên thị trường Doanh thu quan trọng nhất là fluroquinolones (enrofloxacin và norfloxacin), aminoglycosides (gentamicin), tetracycline, sulfonamide, colistin (kết hợp với ampicillin) và marcrolides (tylosin và spiramycin) Báo cáo cũng ñã chỉ ra rằng trong hầu hết sản phẩm thuốc thú y có chứa kháng sinh thường xuyên ñược bán ra, thậm chí là kháng sinh phổ rộng như fluroquinolones ñược sử dụng như hoạt chất ñơn lẻ tại các nước phát triển, nhưng ở Việt Nam lại luôn ñược sử dụng kết hợp với một hoặc hai kháng sinh khác
Trong nuôi trồng thủy sản, các loại thuốc thú y cũng ñược sử dụng rộng rãi với 1893 sản phẩm, trong ñó ít nhất có 476 sản phảm thuốc thú y có chứa kháng sinh (Phan, 2004) Một cuộc khảo sát về việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản tại ðồng bằng sông Cửu Long phát hiện thấy có 90% sản phẩm ñược sử dụng cho dự phòng và ñiều trị Trong số 122 sản phẩm thuốc thú y có chứa kháng sinh ñược sử dụng thì 77, 34, 31, 29 có chứa các hợp chất của quinolone, aminoglycoside, nhóm polypeptide và sulfonamide tương
Trang 22ứng Bên cạnh ñó, một số kháng sinh mà ñã bị cấm trong chăn nuôi như nitrofuran và chloramphenicol vẫn ñược tìm thấy (Nguyen et al., 2004)
Boisseau (2002) ñã kết luận rằng toàn bộ hệ thống, bao gồm cả pháp luật, việc thực hiện các thủ tục hành chính, kiểm soát chất lượng, phân phối và quản lý thuốc thú y có chứa kháng sinh ở Việt Nam còn yếu Kết quả là số lượng kháng sinh ñược sử dụng ñể sản xuất một tấn thịt trong trang trại lợn nhỏ ñược ước tính cao hơn trong các trang trại lợn lớn 5 lần, ñó là cách nhanh nhất dẫn ñến một khả năng nhanh chóng tăng số lượng vi khuẩn kháng kháng sinh
1.4.2 Tình hình sử dụng, quản lý thuốc thú y trong chăn nuôi ong
Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi (2010), các bệnh chủ yếu thường gặp trên ong là ấu trùng tuổi lớn, ấu trùng tuổi nhỏ, ỉa chảy, chí lớn, chí nhỏ,…
Khi ñàn ong bị nhiễm chí lớn, chí nhỏ, người nuôi ong ñã áp dụng các biện pháp kĩ thuật như thay chúa, nhốt chúa, loại bỏ cầu nhộng,… người nuôi ong ở ðăk Lăk chủ yếu dùng axít hữu cơ ñể diệt hai loại kí sinh này
Cả ong ngoại và ong nội ñều bị bệnh ấu trùng tuổi lớn (bệnh do virus) gây hại nặng Người nuôi ong ñều biết bệnh ấu trùng tuổi lớn do virus gây ra nên họ chủ yếu dùng biện pháp kỹ thuật như thay chúa, nhốt chúa, loại bỏ cầu bệnh ñể ñiều trị bệnh này Tất cả người nuôi ong ñều không sử dụng biện pháp hóa học (như thuốc hoặc các loại kháng sinh) ñể ñiều trị bệnh này vì họ ñều biết sẽ không có tác dụng
ðối với bệnh ấu trùng tuổi nhỏ, thì thường gây hại cho ong nội nặng hơn ong ngoại Người nuôi ong các tỉnh phía Bắc phần lớn là sử dụng các loại thuốc kháng sinh như Streptomicine, Tetracyclines, Fluoroquinolones ñể ñiều trị và thậm trí một số người nuôi ong nội còn cho ăn phòng bệnh Tuy nhiên, nhiều người nuôi ong, ñặc biệt ở khu vực phía Nam không sử dụng thuốc kháng sinh ñiều trị bệnh này mà họ dùng biện pháp kỹ thuật như loại bỏ cầu bệnh cho ñàn ong ñông quân, thay chúa, chuyển ñiểm ñể ñiều trị bệnh vì mật ong của họ chủ yếu bán cho các công ty xuất khẩu mật nên nếu mật có tồn dư
Trang 23kháng sinh sẽ bị trả lại hoặc bị phạt do thiệt hại gây ra, hơn nữa với các hội ong khu vực phía Nam họ còn có cam kết về chất lượng mật ong với từng người nuôi ong trong Hội (như ðồng Nai, Tiền Giang) Do thiếu thông tin về tồn dư kháng sinh có hại cho người tiêu dùng nên người nuôi ong phía Bắc vẫn lạm dụng thuốc kháng sinh ñiều trị loại bệnh này vì việc bán mật ong cho thị trường tiêu thụ nội ñịa chưa ñược giám sát hoặc kiểm ñịnh chặt chẽ
Theo Thông tư số 52/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì chỉ có một số thuốc và nguyên liệu làm thuốc thú y ñược phép sử dụng trong chăn nuôi ong như: Formic acid, Acetic acid, Oxalic Acid, Lactic Acid, Herb Oil (tinh dầu thực vật), Perizin (Coumaphos), Bayvarol Strip (Flumethrin), Cymiazole,… Tuy nhiên, theo báo cáo của Cục Chăn nuôi (2010), khi ong bị nhiễm ngoại ký sinh (chí nhỏ và chí lớn), người nuôi ong ở các tỉnh phía Bắc không những dùng các loại hóa chất ñể ñiều trị như axit Focmic, tinh dầu thực vật mà còn dùng thuốc Manpu (thành phần chính là chất Fluvalilate) của Trung Quốc Người nuôi ong ở các tỉnh ñiều tra phía Nam không dùng thuốc Manpu của Trung Quốc ñể ñiều trị ký sinh mà
họ chỉ dùng các loại axít hữu cơ và tinh dầu thực vật
1.5 Hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp
1.5.1 ðịnh nghĩa Hóa chất bảo vệ thực vật
Hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) xuất phát từ thuật ngữ tiếng anh
“Pesticide” có nghĩa là chất ñể diệt loài gây hại (Từ ñiển Bách khoa Việt Nam, 2007) Dịch sang tiếng Việt, các tác giả sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như: thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất trừ sâu, hoá chất bảo
vệ thực vật Như vậy HCBVTV là danh từ chung ñể chỉ một chất hoặc một hợp chất bất kỳ có tác dụng dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sinh vật gây hại kể cả các vector gây bệnh cho người và ñộng vật, các loại côn trùng khác hay ñộng vật có hại trong quá trình sản xuất, chế biến, dự trữ, xuất khẩu, tiếp thị lương thực, sản phẩm trong nông nghiệp, sản phẩm của gỗ, thức ăn
Trang 24gia súc hoặc phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng (Nguyễn Trần Oánh và cs., 2007)
1.5.2 Tình hình sử dụng HCBVTV trong nông nghiệp
Hàng năm, Việt Nam sử dụng 15.000 - 25.000 tấn HCBVTV, gồm ba nhóm chắnh:
+ Nhóm Clo hữu cơ (Chlorinated hidrocacbon): bao gồm những hợp chất hữu cơ rất bền vững trong môi trường tự nhiên và thời gian bán phân huỷ dài (vắ dụ như DDT có thời gian bán phân huỷ là 20 năm, chúng ắt bị ựào thải
và tắch luỹ vào cơ thể sinh vật qua chuỗi thức ăn) đại diện của nhóm này là Aldrin, Dieldrin, DDT, Heptachlo
+ Nhóm Lân hữu cơ (Organic phosphates): bao gồm hai hợp chất là Parathion và Malathion Nhóm này có thời gian bán phân huỷ ngắn hơn so với nhóm Clo hữu cơ Tuy nhiên, chúng ựộc hơn và ựược sử dụng rộng rãi hơn Nhóm này tác ựộng vào thần kinh của côn trùng bằng cách ngăn cản sự tạo thành men Cholinestaza làm cho thần kinh hoạt ựộng kém, làm yếu cơ, gây choáng váng và chết
+ Nhóm Cacbamat: bao gồm những hoá chất ắt bền vững hơn trong môi trường tự nhiên, song cũng có ựộc tắnh cao ựối với người và ựộng vật đại diện cho nhóm này là các hợp chất có gốc Cacbamit axit như: Sevin, Furada, Bassa, Mipcin Khi sử dụng, chúng tác ựộng trực tiếp vào men Cholinestraza của hệ thần kinh Trong nhóm này thì Metylisoxianat hoặc MIC (CH3NCO) là chất gây ô nhiễm ựược toàn thế giới chú ý
Lượng hóa chất sử dụng trong nông nghiệp ở Việt Nam ngày càng tăng Trong ựó, phần lớn là hoá chất trừ sâu và còn lại là trừ cỏ, trừ bệnh, nhóm phot pho hữu cơ chiếm khoảng 56 %, phổ biến nhất là Wolfatox và Monitor
đó là những loại thuốc ựộc hại cho môi trường và con người Giai ựoạn gần ựây cơ cấu tỉ lệ các loại HCBVTV ựã ựược thay ựổi ựáng kể, nhiều loại hoá chất mới hiệu quả hơn, an toàn hơn với môi trường ựược nhập khẩu và sử
Trang 25dụng Năm 1991, hoá chất trừ sâu chiếm 83,3 %, hoá chất trừ nấm 9,5 %, hoá chất diệt cỏ 4,1 %, những loại khác 3,1 % (ðỗ Văn Hòe, 2005) ðến năm
2008, tỉ lệ là hoá chất trừ sâu chiếm 37,9%, hoá chất trừ nấm 21,12 %, hoá chất diệt cỏ 13,77 %, hoá chất diệt côn trùng 23,46 % và những loại khác 3,75 % Lượng HCBVTV tiêu thụ qua các năm tăng dần, kim ngạch nhập khẩu HCBVTV tăng mạnh (Trung tâm thông tin phát triển nông nghiệp nông thôn, 2009) Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2009), kim ngạch nhập khẩu HCBVTV và nguyên liệu năm 2007 là 382.830.015 USD tăng 25,4 % so với cùng kỳ năm 2006, năm 2008 là 473.760.692 USD tăng 23,8 % so với cùng kỳ năm 2007 Nguồn HCBVTV ñược nhập khẩu về trong năm 2008 chủ yếu từ: Trung Quốc (200.262.568 USD), Singapore (91.116.287 USD), Ấn ðộ (42.219.807 USD), kế tiếp là Nhật Bản (19.412.585 USD),… Hiện nay, số lượng
và chủng loại HCBVTV sử dụng ở nước ta tương ñối cao so với khu vực
1.6 Tồn dư kháng sinh, hóa chất bảo vệ thực vật và kim loại nặng trong mật ong
1.6.1 Quy ñịnh về Giới hạn phát hiện và Giới hạn tồn dư tối ña
1.6.1.1 Giới hạn phát hiện (LOD - limit of detection)
- Là một ñại lượng có liên quan ñến tính ổn ñịnh của phép ño, là số
lượng thấp nhất của một chất có thể ñược phân biệt với sự không có mặt cùa chất ñó (giá trị) trong giới hạn tin cậy nhất ñịnh (sai số1%)
- LOD phụ thuộc vào:
+ Cấp ñộ hiện ñại, ñiều kiện vận hành thiết bị (dao ñộng nhiệt ñộ, áp suất, ñiện áp, )
+ Phương pháp phân tích (xử lý mẫu, mất mát, nhiễm bẩn mẫu, nhiễu nền) + Tay nghề của phân tích viên
Trong thực tế thường gặp: LOD của thiết bị (giới hạn phát hiện của thiết bị - IDL: instrumental detection limit) và LOD của phương pháp (Giới hạn phát hiện của phương pháp - MDL: method detection limit):
Trang 26- Giới hạn phát hiện của thiết bị (IDL: instrumental detection limit) là giá trị nồng ñộ của cấu tử cần phân tích có thể tạo tín hiệu 5 lần tín hiệu nhiễu của thiết bị hoặc 3 lần ñộ lệch chuẩn (3σ) của mức nhiễu trung bình IDL cho phép ñánh giá thiết bị vận hành có ổn ñịnh hay không, nó bao gồm các loại nhiễu từ linh kiện cơ - ñiện tử của thiết bị, ñiều kiện vận hành máy và ñiều kiện môi trường xung quanh và thường ñược ước lượng qua các dung dịch chuẩn IDL ñược xác ñịnh bằng thực nghiệm
- Giới hạn phát hiện của phương pháp (MDL: method detection limit) là giá trị nồng ñộ của thành phần cần phân tích ñược tiến hành phân tích theo một phương pháp, tạo ra một tín hiệu với xác suất 99% khác biệt với mẫu trắng
Quan hệ giữa IDL: MDL xấp xỉ 1: 4
1.6.1.2 Giới hạn tồn dư tối ña (MRL)
Giới hạn tồn dư tối ña (MRL) hay mức ñộ cho phép là nồng ñộ mà các chất hoá học hay thuốc trong mô (hoặc trứng, sữa) phải giảm ñến mức này ñể
mô của vật nuôi, trứng hoặc sữa ñược ñánh giá an toàn cho người tiêu dùng MRL ñược tính bằng hàm lượng chất tồn dư so với khối lượng mô (ñơn
vị tính là µg/kg hoặc IU/kg hoặc ppb – part per billion) Quy ñịnh về MRL cũng khác nhau giữa các nước và các tổ chức trên thế giới
* Codex
Tiêu chuẩn của Ủy ban Codex quy ñịnh liên quan ñến các chất gây ô nhiễm, ñiều kiện vệ sinh, dán nhãn mác và phương pháp phân tích Tiêu chuẩn Codex 12 – 1981 chỉ quy ñịnh về dư lượng thuốc trừ sâu và thuốc thú y trong mật ong và nói rằng các sản phẩm mật ong phải ñược kiểm tra MRLvề thuốc trừ sâu và thuốc thú y Tuy nhiên, không có MRL cho thuốc kháng sinh trong mật ong
* EU
Trong EU, các sản phẩm thuốc thú y dự ñịnh ñể sử dụng trong sản xuất thực phẩm ñộng vật phải ñược ñánh giá một cách khoa học theo yêu cầu an
Trang 27toàn thực phẩm cho người Sản phẩm ñã không ñược ñánh giá là an toàn theo các yêu cầu này thì không ñược phép sử dụng cho ñộng vật nuôi lấy thực phẩm Những chất mà cần MRL ñã ñược EU quy ñịnh (EU, 2009 và cũng theo quy ñịnh này, MRL là nồng ñộ tối ña của dư lượng một chất có hoạt tính dược lý ñược phép có mặt trong thực phẩm có nguồn gốc ñộng vật
Mỗi loại kháng sinh phải có một MRL trước khi nó ñược sử dụng cho ñộng vật nuôi lấy thực phẩm EU không có quy ñịnh MRL cho các loại thuốc kháng khuẩn hay thuốc kháng sinh trong mật ong và do ñó EU không cho phép
sử dụng kháng sinh ñể ñiều trị ong mật và như vậy các chất này không ñược phép có mặt trong mật ong Một số kháng sinh không có quy ñịnh MRL như chloramphenicol, dimetridazole, metronidazole, nitrofurance bao gồm furazolidone, ronidazole Nếu trong trường hợp mà EU không quy ñịnh MRL, sự
có mặt của bất kỳ dư lượng chất nào ñược phát hiện trong mật ong nhập khẩu vào EU sẽ có nghĩa là những lô hàng này không hợp pháp và ñược ñưa ra khỏi thị trường trong EU Tuy nhiên, EU cũng có quy ñịnh tạm thời MRL về các chất
có hoạt tính dược lý trong mật ong trong một thời hạn nhất ñịnh, ví dụ như MRL tạm thời của Oxytetracycline là 25 µg/kg Bên cạnh, ñó EU (2010) cũng ñưa ra quy ñịnh gọi là ñiểm tham chiếu cho hành ñộng ("Reference Points for Action" (RPAs) ) dành cho những chất mà MRL không ñược quy ñịnh; RPAs là nồng ñộ
dư lượng các chất có thể phát hiện ñược trong phòng thí nghiệm RPAs của Chloramphenicol là 0,3 µg/kg và Nitrofuran là 1,0 µg/kg Vì vậy, ñiều quan trọng là phương pháp phân tích ñược sử dụng trong việc kiểm soát dư lượng các chất ở các nước thứ ba cần nhạy cảm và ñáng tin cậy nhất, ñể ñảm bảo rằng mật ong xuất khẩu từ các nước thứ ba sang EU ñã tuân thủ quy ñịnh của EU
* Mỹ
Giới hạn dư lượng cho các loại thuốc thú y, phụ gia thực phẩm và chất gây ô nhiễm không thể tránh khỏi trong thịt, gia cầm và trứng ñược quy ñịnh bời Cục quản lý Dược và Thực phẩm của Mỹ Giới hạn dư lượng chỉ quy ñịnh
Trang 28cho các hợp chất ban ñầu (dạng hóa học ban ñầu của hợp chất ñược ñưa vào ñộng vật), hoặc dạng chuyển hóa của hợp chất (dạng hóa học của hợp chất ñược chuyển hóa bởi ñộng vật), hoặc dạng kết hợp của chất ban ñầu với chất chuyển hóa Tất cả mức giới hạn ñều ñược quy ñịnh bằng ñơn vị µg/kg (ppb) Tuy nhiên, không có quy ñịnh mức giới hạn dư lượng kháng sinh trong mật ong có nghĩa là kháng sinh không ñược phép có mặt trong mật ong
mà không ñược liệt kê trong tiêu chuẩn thì sẽ không ñược phép phát hiện thấy
dư lượng của chất ñó hoặc dạng chuyển hóa của nó trong thực phẩm
Úc chỉ quy ñịnh MRL cho Oxytetracycline trong mật ong là 300 µg/kg, còn các kháng sing khác không ñược phép có mặt trong mật ong
* Canada
Canada ñã ñưa ra quy ñịnh về giới hạn tồn dư tạm thời/giới hạn tồn dư tối ña (AMRLs /MRLs) cho thuốc thú y trong thực phẩm, bao gồm cả giới hạn tồn dư hành ñộng (WRLs) cho kháng sinh ñược sử dụng trong mật ong WRLs là mức ñề nghị dư lượng thuốc trong mật ong mà sẽ không gây hại cho sức khỏe con người WRLs cho mật ong ñược xây dựng dựa trên mức thấp nhất của AMRL /MRL quy ñịnh cho kháng sinh ñược phép sử dụng trong sản xuất thực phẩm ñộng Kháng sinh Chloramphenicol và Nitrofuran bị cấm sử dụng ở Canada AMRL cho Oxytetracycline ñược cố ñịnh ở mức 300 µg/kg
và WRL của Erythromycin là 30 µg/kg
So sánh về quy ñịnh tồn sư kháng sinh trên mật ong giữa các nước và
tổ chức trên thế giới thể hiện tại bảng 1.3
Trang 29Bảng 1.3 So sánh về quy ñịnh tồn dư kháng sinh trên mật ong
STT Nhóm
kháng sinh Loại kháng sinh
Ủy ban
1 Tetracycline Oxytetracycline Không
MRL
MRL tạm thời -
25 µg/kg
Không MRL
300 µg/kg MRL
300 µg/kg AMRL
2 Amphenicol Chloramphenicol Không
MRL
Không MRL RPA - 0,3 µg/kg
Không MRL Không MRL Không MRL
3 Macrolide Erythromycin Không
Không MRL Không MRL
5 Fluoroquinolones Enrofloxacin Không
Không MRL Không MRL Không MRL
Ciprofloxacin Không
Không MRL Không MRL Không MRL
Trang 301.6.2 Tồn dư kháng sinh trong mật ong
Do người nuôi ong sử dụng kháng sinh ñiều trị bệnh cho ñàn ong vào
vụ mùa khai thác mật hoặc quá gần vụ mùa, chất kháng sinh không kịp phân hủy hay ñào thải dẫn ñến tồn dư kháng sinh trong mật ong
Kết quả kiểm tra chất tồn dư trong vụ mật năm 2003 – 2004 của Công ty
Cổ phần ong mật ðăk Lăk (2005) cho thấy: có tới 15% số mẫu mật ong bị nhiễm chloramphenicol, 17% số mẫu bị nhiễm tetracycline và 27% bị nhiễm streptomycine Công ty Cổ phần ong mật ðồng Nai và Công ty Cổ phần ong mật thành phố Hồ Chí Minh cũng xác nhận ñã phát hiện có chloramphenicol, streptomycine và tetracycline có trong mật ong (Lê Minh Hoàng, 2005) Theo Phùng Hữu Chính và cs (2004), mật của Việt Nam ñã phát hiện thấy 5 loại kháng sinh là chloramphenicol, erytromycin, kanamycin, oxytetracycline và streptomycin ðiều tra nguyên nhân, ñược biết người nuôi ong ñã sử dụng các loại kháng sinh tùy tiện, người chăn nuôi tự mua thuốc về
ñể ñiều trị
Mặt khác, theo Lê Minh Hoàng (2005), khi nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng cho mật ong và sữa chúa ñể xuất khẩu tại tỉnh ðăk Lăk ñã phát hiện thấy dư lượng kháng sinh trong mật ong và trong sữa ong chúa
Thêm vào ñó, số liệu báo cáo của Trung tâm Thú y vùng VI cho thấy: trong năm 2005 có 650 tấn mật ong nhiễm dư lượng kháng sinh chloramphenicol Năm 2006, có 162 tấn mật ong bị trả về do nhiễm dư lượng streptomycin trong tổng số 1.450 tấn mật xuất khẩu vào châu Âu
Báo cáo mới ñây của Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương I về kết quả phân tích các mẫu mật ong từ năm 2008 ñến năm 2011 cũng cho thấy: tuy tỷ lệ mẫu mật ong phát hiện thấy dư lượng kháng sinh thấp (khoảng 10%) nhưng ñã phát hiện ra nhiều loại kháng sinh thuộc nhóm B1 như enrofloxacin, tylosin, streptomycine, sulphadiazine, tetracyclines, oxy tetracycline, trong
ñó có một số mẫu phát hiện thấy hàm lượng kháng sinh rất cao, năm 2008
Trang 31phát hiện thấy hàm lượng sulphadiazine từ 316 - 384 µg/kg, oxy tetracyclines
từ 180 - 276 µg/kg, streptomycine từ 32 - 107 µg/kg; ñợt 1 năm 2009 phát hiện hàm lượng sulphadiazine ñã giảm xuống còn 32,5 - 39,8 µg/kg, không phát hiện thấy hàm lượng oxytetracyclines, hàm lượng streptomycin vẫn cao
từ 46,8 - 118,2 µg/kg tuy nhiên lại phát hiện thấy hàm lượng tylosin ở mức cao từ 42,7 - 348,1 µg/kg; ñến năm 2010 thì không phát hiện thấy hàm lượng tylosin, streptomycine ñã giảm xuống 32,5 - 84,7 µg/kg, hàm lượng enrofloxacin vẫn giữ mức ổn ñịnh qua các năm và dao ñộng từ 10 - 15 µg/kg; kết quả phân tích các mẫu mật ong năm 2011 không phát hiện ra hàm lượng kháng sinh nào, ñiều này chứng tỏ người chăn nuôi ong ñã tuân thủ tốt quy trình chăn nuôi ong và các quy ñịnh về dùng thuốc kháng sinh cho ong
1.6.3 Tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong mật ong
Hiện nay, ñang nổi lên vấn ñề về tồn dư chất Carbendazim trong mật ong, ñó là một loại thuốc trị nấm rẻ tiền ñược sử dụng trên cây ăn quả và cây trồng nông nghiệp Nó ñã từng ñược sử dụng thường xuyên và hợp pháp ở nhiều nước trên thế giới, trong ñó có cả Canada và nhiều nước ở châu Âu Cũng giống như các loại thuốc hóa học khác ñược sử dụng trong nông nghiệp,
có giới hạn dư lượng tối ña Carbendazim cho phép trong thực phẩm và ñồ uống Ở Châu Âu, dư lượng tối ña Carbendazim cho hầu hết các sản phẩm nông nghiệp là 200 µg/kg Ở Mỹ, không cho phép sử dụng Carbendazim trong nông nghiệp nhưng cho phép sử dụng thiophanate methyl, một hoạt chất có thể làm suy thoái tự nhiên hàm lượng Carbendazim trong cây trồng và môi trường
Ở Việt Nam, hàng ngàn tấn mật ong ñược thu hoạch từ ñiều, cà phê và cao su - những loại cây trồng thường ñược phun Carbendazim ñể trừ nấm, và
vì vậy, mật ong vô tình bị nhiễm hàm lượng Carbendazim từ mức 10-100 ppb Do ñó năm 2011, 24 lô mật ong của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ ñã bị trả lại ðây là lần ñầu tiên những người nuôi ong và các công ty xuất khẩu mật ong ở Việt Nam ñược thông báo về một quy ñịnh mới cho chất lượng
Trang 32mật ong với hàm lượng Carbendazim ít hơn 10 µg/kg (Nguyễn Quang Tấn
và cs., 2013)
Theo Bùi Thị Phương Hòa và Chử Văn Tuất (2012), trong thời gian từ năm 2007 - 2010 ñã nghiên cứu tồn tư hóa chất bảo vệ thực vật trong mật ong của 72 trại ong của các tỉnh phía Nam cho thấy: không phát hiện thấy hóa chất bảo vệ thực vật thuộc nhóm carbamat; nhóm clo hữu cơ phát hiện trong các năm là 2007 và 2008 và chỉ phát hiện chất DDT với hàm lượng từ 45 - 55 µg/kg Riêng nhóm photpho hữu cơ thì phát hiện ở tất cả các năm nghiên cứu, hai chất thuộc nhóm này ñược phát hiện là Chlorpyrifos (từ 15 - 75 µg/kg)
và Coumaphos (từ 60 - 80µ g/kg)
1.6.4 Tồn dư kim loại nặng trong mật ong
Bùi Thị Phương Hòa và Chử Văn Tuất (2012), khi nghiên cứu tồn tư kim loại nặng trong thời gian từ năm 2007 - 2010 tại 72 trại nuôi ong ở các tỉnh phía Nam ñã cho thấy: tồn dư hàm lượng các kim loại nặng như Pb, Hg, As,… giữa các năm nghiên cứu có sự dao ñộng như sau: Pb (154 - 167 µg/kg), Hg (13 - 18 µg/kg), Cd (0,14 - 0,18 µg/kg) và As (3 - 4 µg/kg) Việc phát hiện thấy dư lượng kim loại nặng trong mật ong chứng tỏ môi trường chăn nuôi ong ñã có sự ô nhiễm nhẹ
Theo Hội Nuôi ong Việt Nam (2010) thì hiện nay EU ñang cấm nhập khẩu mật ong từ Ấn ñộ với lý do mật hoa tự nhiên từ nước này bị nhiễm chì
và các chất tồn dư
Trang 33Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ðể khảo sát thực trạng ñiều kiện vệ sinh thú y cũng như xác ñịnh sự tồn
dư một số loại kháng sinh, hóa chất bảo vệ thực vật và kim loại nặng trong mật ong của một số cơ sở chăn nuôi ong và chế biến mật ong tại một số tỉnh phía Bắc, chúng tôi ñã tiến hành ñiều tra và lấy mẫu mật ong tại các cơ sở
chăn nuôi ong và cơ sở chế biến mật ong ở 4 ñịa phương khác nhau ðịa ñiểm
phát phiếu ñiều tra và lấy mẫu cũng như số lượng mẫu nghiên cứu ñược thiết
Kháng sinh nhóm B1
Hóa chất bảo vệ thực vật
Kim loại nặng
I Cơ sở chăn nuôi ong
vệ thực vật và kim loại nặng trong mật ong của từng phương pháp ñược thể hiện qua bảng 2.2
Trang 34Bảng 2.2 Giới hạn phát hiện của một số kháng sinh, hóa chất bảo vệ thực
vật và kim loại nặng trong mật ong
Nhóm
chất Chỉ tiêu
Phương pháp sàng lọc
Phương pháp khẳng ñịnh
Giới hạn phát hiện của phương pháp sàng lọc [µg/Kg]
Giới hạn phát hiện của phương pháp khẳng ñịnh [µg/Kg]
Ngưỡng hành ñộng [µg/Kg]
Trang 352.1 Nội dung nghiên cứu
* Nội dung 1: đánh giá thực trạng ựiều kiện vệ sinh thú y tại một số cơ sở chăn nuôi ong và chế biến mật ong
* Nội dung 2: Phân tắch dư lượng kháng sinh, hóa chất bảo vệ thực vật và kim loại nặng trong mật ong
Nội dung này ựược thực hiện dựa trên cơ sở kết hợp giữa kết quả phân tắch mẫu và kết quả Phiếu ựiều tra về ựiều kiện vệ sinh thú y tại một số cơ sở
chăn nuôi ong và một số cơ sở chế biến mật ong
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp lấy mẫu
Theo hướng dẫn của Cục Thú y (2010), ta có phương pháp lẫy mẫu như sau:
* Lấy mẫu tại tổ ong :
- Mỗi cơ sở lấy ắt nhất 05 vị trắ theo sơ ựồ (Phụ lục 2) Mỗi tổ ong lấy
từ 01 ựến 03 cầu mật ong ựưa vào quay ly tâm
- Mẫu ựược thu ngay tại vòi ở thùng quay mật và ựược chứa vào chậu
- Gộp tất cả các mẫu ban ựầu ựã lấy ở các cầu ong ựể có mẫu chung
- Dùng ựũa trộn ựều mẫu chung trong vòng 3 Ờ 5 phút
- Rút ra 01 mẫu trung bình có khối lượng từ 300 gam ựến 600 gam
* Lấy mẫu từ dụng cụ chứa mật ong:
- Khuấy ựều mật ong tự nhiên có trong các dụng cụ chứa ựựng
- Dùng ống lấy mẫu ựưa thẳng từ trên xuống tận ựáy, bịt tay vào ựầu trên của ống, nhấc ống lên và cho mẫu ban ựầu vào cốc hoặc chậu thủy tinh
- Gộp tất cả các mẫu ban ựầu ựã lấy ở các dụng cụ chứa ựựng ựể có mẫu chung
- Dùng ựũa trộn ựều mẫu chung trong vòng 3 Ờ 5 phút
- Rút ra 01 mẫu trung bình có khối lượng từ 300 Ờ 600 gr
* Bảo quản mẫu:
- Các mẫu phải ựược niêm phong và có chữ ký của người lấy mẫu
Trang 36- Mẫu lấy phải có biên bản lấy mẫu và ñược mã hóa theo số thứ tự của biên bản lấy mẫu (Phụ lục 1)
- Mẫu mật ong phải ñược ñể trong thùng kín tránh ánh sáng ñảm bảo không làm thay ñổi trạng thái và chất lượng của mẫu ở thời ñiểm lấy mẫu
- Mẫu mật ong phải ñược bảo quản ở nhiệt ñộ phòng, nơi khô ráo và không có ánh sáng
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
Việc thu thập thông tin ñể xác ñịnh thực trạng ñiều kiện vệ sinh thú y của cơ sở chăn nuôi ong và chế biến mật ong ñược thực hiện bằng các Phiếu ñiều tra thiết kế sẵn (Phụ lục 3)
Việc thu thập thông tin cũng ñược tiến hành ñồng thời khi lấy mẫu tại
cùng nơi lấy mẫu
2.2.3 Phương pháp phân tích mẫu
2.2.3.1 Phương pháp ELISA:
ELISA (Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay) là một kỹ thuật sinh hóa ñể phát hiện kháng thể hay kháng nguyên dựa trên miễn dịch học, ñược dùng rất phổ biến trong lĩnh vực y học, dược học, sinh học, thú y, kiểm nghiệm thực phẩm,… ELISA có nhiều ưu ñiểm như dễ thực hiện, tốc ñộ nhanh, chi phí thấp, dễ sản xuất, an toàn với ñộ nhạy và ñộ ñặc thù chấp nhận ñược
Tiền thân của ELISA là kỹ thuật miễn dịch học phóng xạ (RIA) ðể thay cho kỹ thuật miễn dịch học phóng xạ người ta ñã sử dụng kỹ thuật liên kết kháng nguyên hoặc kháng thể với một enzyme (enzyme-linked) có khả năng thực hiện một phản ứng nhận biết như ñổi màu
Theo nguyên lý miễn dịch học, mỗi kháng nguyên (antigen) có nhiều yếu tố kháng nguyên (epitope) và mỗi một yếu tố kháng nguyên có khả năng kết hợp với một kháng thể (antibody) tương ứng với nó Sự xuất hiện của kháng nguyên trong cơ thể sẽ kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể ñơn dòng ñặc hiệu ñể chống lại kháng nguyên ñó Thông qua việc xác ñịnh kháng thể này người ta có thể xác ñịnh ñược kháng nguyên trong cơ thể Dựa trên cơ
Trang 37sở đĩ, kỹ thuật ELISA được thiết lập nhằm chẩn đốn sự hiện diện của một kháng nguyên hay kháng thể ðể xác định một yếu tố cần chẩn đốn (dư lượng kháng sinh) trong thực phẩm, người ta sử dụng một loại kháng thể cĩ phản ứng đặc hiệu với kháng sinh đĩ Yếu tố phát hiện này được đánh dấu bằng enzyme sao cho phản ứng miễn dịch với yếu tố cần chẩn đốn sẽ tạo nên
sự thay đổi cĩ thể nhận biết được khi cho cơ chất của enzyme đánh dấu vào
Trong quá trình thực nghiệm, người ta đã khơng ngừng cải tiến để đưa
ra các phương pháp mới phù hợp với từng điều kiện và đối tượng mẫu khác nhau Trong kĩ thuật ELISA gồm ba thành phần tham gia phản ứng là kháng nguyên, kháng thể và chất tạo màu, thực hiện qua hai bước:
+ Phản ứng miễn dịch học: là sự kết hợp giữa kháng nguyên và kháng thể + Phản ứng hĩa học: thơng qua hoạt tính xúc tác của enzyme giải phĩng oxy nguyên tử [O] từ H2O2 để oxy hĩa cơ chất chỉ thị màu, do đĩ làm thay đổi màu của hỗn hợp trong dung dịch thí nghiệm
2.2.3.2 Phương pháp HPLC và LC/MS/MS
HPLC (High Performance Liquid Chromatography) là phương pháp chia tách trong đĩ pha động là chất lỏng và pha tĩnh chứa trong cột là chất rắn đã được phân chia dưới dạng tiểu phân hoặc một chất lỏng phủ lên một chất mang rắn, hay một chất mang đã được biến bằng liên kết hĩa học với các nhĩm chức hữu cơ Phương pháp này ngày càng được sử dụng rộng rãi và phổ biến vì nhiều
lý do: cĩ độ nhạy cao, khả năng định lượng tốt, thích hợp tách các hợp chất khĩ bay hơi hoặc dễ phân hủy nhiệt Phạm vi ứng dụng của phương pháp HPLC rất rộng, được ứng dụng để phân tích các hợp chất như thuốc kháng sinh, các chất phụ gia thực phẩm trong lĩnh vực thực phẩm, dược phẩm, mơi trường,…
Hệ thống sắc ký lỏng ghép khối phổ đầu dị 3 tứ cực (Liquid Chromatography/Mass Spectometry/Mass Spectometry) bao gồm hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC và đầu dị khối phổ MS (Mass Spectometry) Trong đĩ MS là phương pháp nghiên cứu các chất bằng cách đo, phân tích
Trang 38chính xác khối lượng phân tử của chất ñó dựa trên sự chuyển ñộng của các ion nguyên tử hay ion phân tử trong một ñiện trường hoặc từ trường nhất ñịnh Tỉ số giữa khối lượng và ñiện tích (m/z) có ảnh hưởng rất lớn ñối với chuyển ñộng này của ion Nếu biết ñược ñiện tích của ion thì ta dễ dàng xác ñịnh ñược khối lượng của ion ñó
2.2.3.3 Phương pháp GC/MS
Phương pháp Sắc ký khí ghép khối phổ (GC/MS-Gas Chromatography/Mass Spectometry) là một trong những phương pháp sắc ký hiện ñại hiện nay với ñộ nhạy và ñộ ñặc hiệu cao và ñược sử dụng trong các nghiên cứu và phân tích về dư lương HCBVTV Thiết bị GC/MS ñược cấu tạo thành 2 phần: phần sắc ký khí (GC) dùng ñể phân tích hỗn hợp các chất và tìm ra chất cần phân tích, phần khối phổ (MS) mô tả các hợp phần riêng lẻ bằng cách mô tả số khối Sau khi các cấu tử tách ra khỏi nhau sẽ lần lượt ñi vào buồng ion hóa, tại ñây chúng bị va chạm với dòng electron mang năng lượng cao làm các phân tử mẫu trung hoà bị bật ra các electron và phá vỡ phân tử thành các mảnh ion, mảnh gốc hay phân tử trung hoà nhỏ Các mảnh ion hình thành có khối lượng (m) và ñiện tích của ion (z) Sau ñó chúng ñược gia tốc ở trong ống tứ cực, ñược tách biệt khỏi nhau nhờ bộ phận thiết bị riêng
là một nam châm có từ trường hoặc kèm thêm một ñiện trường Sau ñó các ion ñược phát hiện bởi các detector MS Tại ñó chúng ñược chuyển thành tín hiệu ñiện Dựa vào các mảnh có khối phổ ñặc thù làm cơ sở ñể khẳng ñịnh sự
có mặt của chất cần phân tích có trong mẫu còn diện tích mảnh ñặc thù lựa chọn là thước ño ñịnh lượng cho chất cần phân tích
2.2.3.4 Phương pháp AAS
AAS (Atomic Absorption Spectrometer) là phương pháp dựa trên
nguyên lý hấp thu của hơi nguyên tử Người ta cho chiếu vào ñám hơi nguyên
tử một năng lượng bức xạ ñặc trưng của riêng nguyên tử ñó Sau ñó ño cường
ñộ còn lại của bức xạ ñặc trưng này sau khi ñã bị ñám hơi nguyên tử hấp thụ,