Mâu thuẫn này ban đầu được giải quyết thông qua hoạt động của ngân hàng với vai trò trung gian trong quan hệ vay mượn giữa người có vốn và người cần vốn... thông qua vai
Trang 11.2.2 Các thành viên tham gia vào thị trường tiền tệ 4
Các ngân hàng thương mại: 4
Ngân hàng trung ương: 4
Tổ chức tài chính phi Ngân hàng: 4
Các tổ chức phi tài chính (Các công ty sản xuất kinh doanh): 4
Các cá nhân: 4
1.2.3 Các loại thị trường tiền tệ.4
Phân loại theo cơ cấu tổ chức: 4
Phân loại theo đối tượng tham gia: 4
Phân loại theo công cụ nợ: 4
1.2.4 Các công cụ trên thị trường tiền tệ 4
Tín phiếu kho bạc: 4
Đấu thầu (qua NHNN): 4
Phát hành Tín phiếu Kho bạc trực tiếp thông qua Kho bạc nhà nước 4Phát hành thông qua đại lý: 4
Tín phiếu NHNN: 4
Thương phiếu: 4
Chấp phiếu Ngân hàng: 4
Chứng chỉ tiền gửi(CDs):4
Hợp đồng mua lại: 4
Đôla châu Âu: 4
Tiền Ngân hàng Trung Ương: 4
1.2.5 Mô hình thị trường tiền tệ ở Việt Nam 4
Phương thức giao dịch: 4
1.3 Thị trường vốn 4
2.1 Thực trạng thị trường tiền tên nước ta hiện nay.4
2.2 Những hạn chế của thị trường tiền tệ 4
Hạn chế về công cụ giao dịch, loại nghiệp vụ trên thị trường 4
Trang 2Hạn chế về thành viên tham gia thị trường 4
Hạn chế về lãi suất trên thị trường tiền tệ 4
2.3 Thực trạng thị trường vốn nước ta hiện nay 4
2.4 Hạn chế của thị trường vốn 4
Chương 3: Một số giải pháp 4
3.1 Một số giải pháp phát triển thị trường tiền tệ hiện nay 4
3.2 Một số giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường vốn 4
III KẾT BÀI 4
LờI Mở ĐầU
Thị trường tài chính là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, sự suất hiện và tồn tại của thị trường này xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng cung ứng vốn lớn trong nền kinh tế phát triển Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai trạng thái trái ngược nhau giữa một bên là nhu cầu và một bên là khả năng về vốn Mâu thuẫn này ban đầu được giải quyết thông qua hoạt động của ngân hàng với vai trò trung gian trong quan hệ vay mượn giữa người có vốn và người cần vốn Khi kinh tế hàng hóa phát triển cao nhiều hình thức huy động vốn mới linh hoạt hơn nảy sinh và phát triển góp phần tốt hơn vào việc giải quyết cân đối giữa cung và cầu giữa các nguồn lực tài chính trong xã hội, làm xuất hiện các công cụ huy động vốn như trái phiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp, trái phiếu của chính phủ …
Đó là những loại giấy tờ có giá trị, gọi chung là các loại chứng khoán.Và từ đó xuất hiện nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ sở hữu khác nhau của các loại chứng khoán Điều này làm xuất hiện một loại thị trường để cân đối cung cầu về vốn trong nền kinh tế thị trường tài chính
Cũng giống như các loại thị trường khác, thể chế thị trường phải được duy trì trong nền kinh tế tài chính Tức là, các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trên thị trường tạo ra cung và cầu về sản phẩm tài chính Trong cơ chế kinh tế bao cấp,việc kinh doanh do NN điều phối, các chủ thể hoàn toàn bị động trong ước muốn kinh doanh, dù biết hướng đó là mang lại
Trang 3lợi nhuận cao Còn trong sự thông thoáng của nền kinh tế thị trường, các chủ thể chủ động tìm đường đầu tư có lợi cho mình để đạt được hiệu quả tối ưu, đồng thời, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiệncác chủ thể thừa vốn và cũng có cả những người cần vốn.
Các chủ thể cần nguồn tài chính:
Các doanh nghiệp: để có thể hoạt động SXKD mỗi doanh nghiệp điều có một lượng vốn tự có nhất định, nhưng con số này là có hạn đối với nhu cầu tăng qui mô sản xuất, đầu tư dự án mới hay đầu tư cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ…của doanh nghiệp Vì vậy, huy động nguồn tài chính là một nhu cầu thường xuyên của mỗi doanh nghiệp Nhà nước thông qua NSNN, cung cấp kinh phí để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình như:
Phân bổ nguồn tài chính quốc gia Kích thích phát triển sản xuất kinh doanh Định hướng hình thành cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển: cung cấp kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng công cộng, hình thành các ngành then chốt… Trợ giá Giải quyết các vấn đề xã hội: chi hoạt động bộ máy nhà nước, lực lượng công an,quốc phòng, giáo dục, y tế, hỗ trợ thất nghiệp, ủng hộ thiên tai… Tất cả đều chi từ nguồn NSNN có hạn Dovậy, để đầu tư dự án phát triển kinh tế- xã hội hay để bù đắp bội chi Nhà nước cũng cần huy động thêm nguồn tài chính từ các chủ thể khác
Ngoài ra, các tổ chức tín dụng cũng thường xuyên cần huy động nguồn tài chính để cho vay, các nhà đầu tư cần vốn cho dự án mới, các hộ gia đình, cá nhân cần nguồn tài chính để trang trải nhu cầu chi đột xuất
Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường cũng tồn tại những chủ thể thừa vốn:Doanh nghiệp: nguồn vốn đang thừa đó là những khoản thu nhập chưa có nhu cầu sử dụng (ngắn hạn hoặc dài hạn như doanh thu tiêu thụ chưa tới kì thanh toán, số tiền quỹ khấu hao cơ bản chưa dùng, lợi nhuận tái đầu tưchưa dùng ) những khoản này đều có thể cho vay Các hộ gia đình, cá nhân có tiền để dành, tiền được thừa kế, mặc dù số tiền mỗi cá nhân, hộ gia đình có được không phải lớn nhưng thành phần này lại chiếm tỉ trọng cao trong xã hội (khoảng 70%) nên nếu tập trung lại thì sẽ trở thành một nguồn tài chính vô cùng mạnh
Còn có quỹ tiền tệ của các tổ chức xã hội, quỹ bảo hiểm mà chưa sử dụngcũng là nguồn cung ứng vốn Các chủ thể thừa vốn không muốn để phí nguồn tài chính nhàn rỗi của mình, họ tìm kiếm lợi nhuận thông qua hoạt động đầu tư, còn các chủ thể thiếu vốn dùng nó để bổ sung vốn cho hoạt động SXKD và các nhu cầu đầu tư khác sao cho có hiệu quả và tiết kiệm Vấn đề là làm sao để cho đầu tư gặp được tiết kiệm; phải có nơi để tạo ra
sự gặp gỡ này Sự gặp gỡ này chính là quá trình giao lưu vốn hay nói khác hơn là cần tạo ra một nơi để cho những nguồn vốn nhàn rỗi không có chỗ đầu tư giao lưu với những nhà đầu tư đang cần vốn Ban đầu, việc vay và cho vay dựa trên sự quen biết, tín nhiệm (anh em, hàng xóm, bạn bè…) nên phạm vi và số lượng rất hạn chế Khi các chủ thể gặp nhau
Trang 4thông qua vai trò của người trung gian là Ngân hàng thì có sự dễ dàng hơn, việc luân chuyển vốn được nhanh chóng và đáng tin cậy hơn Nhưngphạm vi lựa chọn các phương án cho vay của Ngân hàng không được rộng lớn,lãi suất không phải lúc nào cũng hấp dẫn người gửi tiền vào để có tiềm lực mạnh, việc gửi và rút tiền gặp nhiều phiền hà, việc cho vay không phải lúc nào cũng dễ dàng với bất kì ai…
Có thể khẳng định rằng: một nền kinh tế muốn tăng trưởng thì phải có hoạt động đầu tư; trước khi muốn đầu tư, phải huy động vốn từ nguồn tiếtkiệm; đầu tư có hiệu quả sinh ra lợi nhuận lại làm tăng thêm nguồn tiết kiệm Bắt nguồn từ mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư và tiết kiệm, một yêu cầu đặt ra là cần có nhiều hình thức huy động vốn mới, nhanh chóng, linh hoạt hơn, góp phần giải quyết cân đối giữa cung và cầu về nguồn tài chính trong xã hội Các công cụ huy động vốn xuất hiện dưới nhiều hình thức để đáp ứng yêu cầu đó:
Các giấy tờ ghi nợ: Nhà nước phát hành trái phiếu công trình, công trái , doanh nghiệp phát hành thương phiếu, trái phiếu…
Các công ty cổ phần phát hành cổ phiếu để huy động vốn là giấy tờ ghi nợ, cổ phiếu gọi chung là chứng khoán (CK)
Khi CK xuất hiện thì cũng xuất hiện nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ sở hữu khác nhau: người này có nhu cầu rút vốn đầu tư hoặc
di chuyển vốn cần bán thì có người khác muốn mua CK đó Chính điều này làm xuất hiện một loại thị trường đặc biệt để cân đối cung cầu về vốntrong nền kinh tế là “thị trường tài chính”
Như vậy, thị trường tài chính (TTTC) ra đời là để giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế thông qua các công cụ tài chính đặc biệt là các loại CK
1.2 Thị trường tiền tệ
1.2.1 Khái niệm
Thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính, là thị trường vốn ngắn hạn Nó đóng vai trò là thị trường thứ cấp của các công cụ nợ dài hạn, là thị trường có độ an toàn cao và là thị trường bán buôn hữu hiệu Thị trường tiền tệ được biết đến như là một thị trường phi tập trung, sôi động và mang tính toàn cầu
Các giao dịch trên thị trường tiền tệ thường có thời hạn ngắn và rất ngắn, đặc biệt thị trường cho vay qua đêm rất phát triển và chiếm một tỷ trọng đáng kể trong doanh số hoạt động của thị trường tiền tệ Khởi nguồn từ hoạt động cho vay,đi vay giữa các ngân hàng, thị trường tiền tệ ngày càngphát triển đa dạng và linh hoạt Với mục tiêu ban đầu là thị trường để bảo đảm khả năng thanh khoản của các trung gian tài chính, thị trường tiền tệ
đã phát triển trở thành thị trường đầu tư vốn ngắn hạn, thị trường kinh doanh chênh lệch giá, thị trường của các công cụ phòng ngừa rủi ro và các thị trường phái sinh Thị trường tiền tệ là thị trường hết sức nhạy cảm
Trang 5với những sự kiện biến động về kinh tế, chính trị, xã hội vì vậy nó được coi như là thước đo của nền kinh tế.
Thị trường tiền tệ là thị trường phi tập trung tại các phòng kinh doanh củangân hàng và các công cụ kinh doanh đầu tư chuyên nghiệp thông qua mạng lưới điện thoại, internet rộng lớn Các nghiệp vụ trên thị trường tiềntệ là nghiệp vụ chuyển giao vốn có khả năng thanh toán cao, ít xảy ra rủi
ro đối với người đầu tư
1.2.2 Các thành viên tham gia vào thị trường tiền tệ
Các ngân hàng thương mại:
Các NHTM là các đơn vị tham gia thị trường này tích cực nhất và thườngxuyên nhất thông qua các hoạt động huy động vốn, cho vay ngắn hạn, đầu
tư tài chính ngắn hạn nhằm mục đích bảo đảm khả năng thanh toán chi trảcủa ngân hàng Nhằm thu lợi nhuận và sữ dụng các khoản vốn dư thừa hiệu quả nhất
Ngân hàng trung ương:
NHTW mua bán tín phiếu kho bạc nhà nước, tín phiếu NHTW cho vay chiết khấu vói NHTM, tái chiết khấu các chứng từ có giá của NHTM nhằm mục đích điều hoà tiền tệ trong lưu thông và thực hiện mục tiêu củachính sách tiền tệ
Tổ chức tài chính phi Ngân hàng:
Khác với Ngân hàng là không được thanh toán cho khách hàng và không tham gia hoạt động tạo tiền Tham gia vào thị trường tiền tệ với mục đích giống như NHTM
Các tổ chức phi tài chính (Các công ty sản xuất kinh doanh):
Bộ phận kế toán của các tổ chức phi tài chính tham gia vào thị trường tiềntệ thường xuyên và tích cực
Các cá nhân:
Bất kỳ một cá nhân nào có một khỏan tiền gửi từ 12 tháng trở lại thì xem là tham gia vào thị trường tiền tệ
1.2.3 Các loại thị trường tiền tệ
Phân loại theo cơ cấu tổ chức:
Thị trường tiền tệ bao gồm: Thị trường tiền tệ cổ điển: là thị trườngvay vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng (TCTD) đặt dưới sự quản lý của ngân hàng trung ương (NHTW) Hàng ngày, tại Đây hình thành lãi suất chỉ đạo thị trường tiền tệ, như: lãi suất LIBOR trên thị trường tiền tệ London (London Inter Banking Offered rate), lãi suất PIBOR trên thị trường tiền tệ Paris (Paris Inter Banking Offered rate), SIBOR (thị trườngtiền tệ Singapore)…
Thị trường tiền tệ mới: đây là thị trường các trái phiếu ngắn hạn, cơ cấu của nó gồm 2 cấp:
- Thị trường tiền tệ sơ cấp: là thị trường tiền tệ chuyên phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn lần đầu
Trang 6- Thị trường tiền tệ thứ cấp: là thị trường tiền tệ tổ chức mua bán lại các trái phiếu đã phát hành ở thị trường sơ cấp.
- Thị trường mở (Openmarket operation): là thị trường mua bán cácloại chứng khoán nhà nước ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, nhằm điều tiết cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế Tức thông qua thị trường mở, NHTW có thể làm cho “tiền dự trữ” của các ngân hàng thương mại (viết tắt NHTM) tăng lên hoặc giảm xuống, từ đó tác động đến khả năng cung cấp tín dụng của NHTM làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền tệ của nền kinh tế
Phân loại theo đối tượng tham gia:
Thị trường tiền tệ bao gồm:
-Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các NHTM (hay thị trường liên ngân hàng – Interbank): Thị trường này dưới sự điều hành của NHTW nhằm mục đích điều tiết vốn trong hệ thống NHTM đồng thời tạo điều kiện cho NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng
-Thị trường các công cụ nợ ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi, các khế ước cho vay, … bao gồm cả thị trường phát hành và thị trường lưu thông, thị trường này biểu hiện cho sự phát triển thị trường tiền tệ
-Thị trường hối đoái: là thị trường giao dịch các loại ngọai tệ và các phương tiện thanh tóan có giá trị ngoại tệ, là một bộ phận quan trọng trong kết cấu thị trường tiền tệ Thị trường ngọai hối mang đặc trưng là tính quốc tế cao, hoạt động của nó đáp ứng những nhu cầu về thương mại,đầu tư ngắn hạn trên bình diện quốc tế, đặc biệt là tạo điều kiện can thiệp của NHTW nhằm đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia
Công cụ hoạt động thị trường hối đoái gồm: hợp đồng giao ngay (Spot), hợp đồng hoán đổi (Swap), hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồngquyền chọn (Option)… nhờ đó đáp ứng được phần lớn nhu cầu ngoại tệ cho các đơn vị, tổ chức và làm cho thị trường ngoại hối trở nên nhộn nhịphơn
Phân loại theo công cụ nợ:
- Thị trường liên ngân hàng: đây là thị trường vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng với nhau do ngân hàng Trung ương tổ chức để giải quyết nhu cầu vốn giữa các ngân hàng thương mại về bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng,…
- Thị trường hối đoái: thị trường diễn ra các hoạt động đầu tư, cho vay, bảo lãnh, mua bán các giao dịch khác về ngoại hối (ngoại hối là các ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài)
1.2.4 Các công cụ trên thị trường tiền tệ
Tín phiếu kho bạc:
Tín phiếu Kho bạc là giấy vay nợ ngắn hạn do Kho bạc Nhà nước phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách và là công cụ quan trọng
Trang 7để NHTW điều hành chính sách tiền tệ Chúng có tính thanh khoản cao, được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ Đây là công cụ chiết khấu điển hình , không có phiếu lãi suất Tín phiếu Kho bạccó mức rủi ro thấp nhất trong các công cụ trên thị trường tiền tệ Thu nhập từ tín phiếu kho bạc (chênh lệch giữa giá mua và giá hoàn trả) không bị đánh thuế về chúng không được coi là tài sản vốn.
Thời hạn của Tín phiếu Kho bạc thường là 3 tháng, 6 tháng, 1 năm Đây là công cụ ít rủi ro nhất trên thị trường tiền tệ vì nó được Nhà nước bảo đảm thanh toán và thời hạn nắn nên tác động của sự biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ không đáng kể
Trên thị trường sơ cấp, Tín phiếu Kho bạc được phát hành bằng nhiều hình thức: đấu thầu, phát hành trực tiếp qua hệ thống Kho bạc, phát hành qua đại lý
Đấu thầu (qua NHNN):
Trên cơ sở đơn dự thầu của các thành viên, NHNN sẽ xác định giá và khối lượng trúng thầu căn cứ vào khối lượng và lãi suất đặt thầu của các thành viên, khối lượng Tín phiếu Kho bạc dự kiến huy động NHTW có thể thực hiện phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất tùy theo điều kiện thị trường
Phương thức phát hành Tín phiếu Kho bạc qua đấu thầu tại NHTW có nhiều ưu điểm:
- Nhà nước tiết kiệm được nhiều chi phí vay nợ do xác định lãi suất một cách khách quan, tận dụng được mạng lưới khách hàng sẵn có, giảm đượccác chi phí in ấn và bán lẻ, kho bạc nhà nước chủ động kiểm soát được khối lượng phát ra và thu về cho ngân sách
- NHTW thống nhất chỉ đạo chính sách lãi suất, tạo lập thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thị trường mở
Sự kết hợp giữa bộ Tài chính và NHTW được thường xuyên, đồng bộ và kịp thời
Phát hành Tín phiếu Kho bạc trực tiếp thông qua Kho bạc nhà nước.Các đơn vị kho bạc ở các tỉnh, thành phố được trực tiếp tổ chức bán lẻ Tín phiếu Kho bạc cho các đối tượng như cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng…
Trước mỗi đợt phát hành, bộ Tài chính thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về kế hoạc phát hành như doanh số, thời hạn, lãi suất,mệnh giá, thời gian, địa điểm, phương thức thanh toán…
Vì phần lớn Tín phiếu Kho bạc phát hành dưới hình thức ghi sổ, người mua phải mở tài khoản chứng khoán và tiền mặt chỉ định để phát ảnh các khoản thanh toán tiền và chứng khoán phát sinh từ việc mua bán tín phiếu Mọi khoản lãi, gốc được thanh toán trực tiếp vào tài khoản tiền chỉđịnh của người mua
Phát hành thông qua đại lý:
Trang 8Kho bạc Nhà nước có thể phát hành Tín phiếu Kho bạc thông qua đại lý và các tổ chức tín dụng Các đại lý này phải đáp ứng một số điều kiện nhất định Các đại lý được hưởng một khoản phí do bộ Tài chính qui định.
Trên thị trường thứ cấp Tín phiếu Kho bạc được mua bán vào bất cứ lúc nào (thị trường OTC) Các giao dịch này được tiến hành bằng điện thoại, telex, qua các trạm máy giao dịch Các nhà kinh doanh Tín phiếu Kho bạcchính là các nhà tạo thị trường và các nhà môi giới đóng vai trò trung gian cho khách hàng của mình Các Tín phiếu Kho bạc thường được trao đổi khối lượng lớn giữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp
Khối lượng phát hành mỗi lần rất lớn, số lần phát hành nhiều và với mạnglưới các nhà giao dịch linh hoạt trên thị trường thứ cấp của các chứng khoán chính phủ đã mang lại khả năng thanh toán rất cao cho thị trường này Các chứng khoán chính phủ Mĩ hấp dẫn đối với công dân Hoa Kì vì tiền lãi từ các chứng khoán này là đối tượng không phải chịu thuế tiểu bang mà chi phải chịu thuế liên bang
Tín phiếu Kho bạc là công cụ có tính thanh khoản cao nhất, chính vì vậy Tín phiếu Kho bạc chủ yếu do các ngân hàng thương mại nắm giữ
Tín phiếu Kho bạc không những quan trọng do ý nghĩa về số lượng mà còn vì nó được NHTW cũng như nhiều tổ chức tài chính và phi tài chính sử dụng để thực hiện chính sách tiền tệ Tín phiếu Kho bạc là công cụ truyền thống để điều chỉnh thanh khoản của các ngân hàng thương mại Ngoài ra, Tín phiếu Kho bạc còn có tầm quan trọng khác, và là hàng hóa chủ yếu của thị trường mở
Tín phiếu NHNN:
Ở một số nước, trong khi điều hành chính sách tiền tệ, NHTW có thể pháthành ra tín phiếu của mình gọi là Tín phiếu NHNN Đây là loại chứng khoán ngắn hạn do NHNN phát hành để tạo ra công cụ trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Mệnh giá tín phiếu nàythường là lớn, ví dụ ở VN là 100 triệu hoặc bội số của 100 triệu Tín phiếu NHNN là công cụ chiết khấu được NHTW bán với giá thấp hơn mệnh giá và thanh toán theo mệnh giá của tín phiếu khi đến hạn Phần chênh lệch giữa mệnh giá và giá bán là tiền lãi của tín phiếu Tham gia vào thị trường Tín phiếu NHNN là các TCTD như NHTM, công ty bảo hiểm…
Tín phiếu NHNN được tự do mua bán, chuyển nhượng, cầm cố giữa các TCTD, được cầm cố để vay vốn hay chiết khấu tại NHTW, được sử dụng làm công cụ cho nghiệp vụ thị trường mở
Thương phiếu:
Thương phiếu là giấy nhận nợ ngắn hạn do các doanh nghiệp lớn, có uy tín phát hành để tài trợ nhu cầu vốn tạm thời Nó có thể được đảm bảo hoặc không đảm bảo Thương phiếu được bán với giá chiết khấu
Trang 9Thông thường, để giải quyết những lúc kẹt tiền mặt đột xuất trong thươngmại vì hàng hóa của doanh nghiệp chưa bán kịp, vì nhu cầu nhập hàng mới, các công ty có thể ký quĩ và xin phép ngân hàng bảo trợ để phát hành CP vay tiền Công ty được phép phát hành một số lượng CP nhỏ hơn tái sản ròng của họ (thường nhỏ hơn hoặc bằng 75%) để khi đáo hạn mà công ty không trả được tiền cho người mua CP, NHTM sẽ căn cứ theoluật trả tiền cho dân bằng cách mua lại CP đồng thời phát mại tài sản để thu nợ.
CP có thể được phát hành trực tiếp hoặc gián tiếp Trường hợp phát hành trực tiếp, CP được chủ thể phát hành bán thẳng cho người đầu tư không qua môi giới và người kinh doanh Tuy nhiên, Thương phiếu có thể phát hành qua người kinh doanh
Lãi suất Thương phiếu phụ thuộc vào thời hạn thanh toán, vào số vốn cầnvay, mức lãi suất chung của thị trường tiền tệ, sự xếp hạng tín nhiệm của người phát hành
Cũng giống như Tín phiếu Kho bạc, CP được mua bán dễ dàng trên thị trường trước khi đáo hạn Các nhà kinh doanh duy trì thị trường CP bằng cách sẵn sàng mua lại CP khi nhà đầu tư muốn bán CP trước hạn Đến kì thanh toán, CP bị thu hồi bơi ngân hàng thanh toán, tức ngân hàng được người phát hành chỉ định làm cơ quan thanh toán Để đảm bảo sự an toàn trong quá trình sử dụng và thanh toán thương phiếu, các hoạt động về thương phiếu phải được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản pháp lý phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia và thông lệ quốc tế
Chấp phiếu Ngân hàng:
BA thực ra là các hối phiếu do công ty phát hành, có thời hạn ngắn và được NHTM chấp nhận thanh toán bằng cách đánh dấu chấp nhận lên hốiphiếu
Việc chấp nhận của ngân hàng làm tăng thêm độ tin cậy và tính thanh khoản cho hối phiếu, tuy vậy điều này đặt ngân hàng trước rủi ro tiềm năng trong trường hợp chủ thể phát hành không đảm bảo khả năng thanh toán Vì vậy, cty phát hành hối phiếu phải ký gửi một món tiền bắt buộc vào tài khoản của họ tại ngân hàng để đảm bảo khả năng chi trả hối phiếu Điều này nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng với tư cách chấp nhận thanh toán hối phiếu Các hối phiếu đã được chấp nhận này thường được bán lại ở thị trường thứ cấp với giá nhỏ hơn mệnh giá
Chứng chỉ tiền gửi(CDs):
Đây là công cụ ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường với bản chất tương tự như một khoản tiền gửi có kỳ hạn Theo đó người sở hữu CD đựơc hưởng các khoản lãi suất định kỳ tính toán trên cơ sở 360 ngày và được hoàn trả mệnh giá khi đến hạn Thời hạn của CD thường là từ 1-3 tháng, hoặc 6 tháng và có thể là 5-7 năm, nhưng nói chung là ngắn hạn mặc dù ko có quy định nào giới hạn về thời hạn CD do ngân hang phát hành Lãi suất của CD được tổ
Trang 10chức phát hành ấn định dựa trên lãi suất canh tranh của thị trường tiền tệ, tình trạng tài chính của người phát hành và thời hạn của CD.
Sự cách biệt chủ yếu giữa chứng chỉ tiền gửi và các khoản tiền gửi có kỳ hạn là chúng có thể chuyển nhượng và mệnh giá được thống nhẩt theo 1 mức giá trị chuẩn Điều này thể hiện rõ sự phát triển của 1 công cụ đã được chuyên môn hóa nhằm mở rộng nguồn vốn mới
Việc xuất hiện chứng chỉ tiền gửi cho phép các ngân hàng có thể huy động vốn 1 cách chủ động mà không phải phụ thuộc vào tiền gửi của khách hàng Khả năng chuyển nhượng tạo nên nhiều sự hấp dẫn cho chứng chỉ tiền gửi so với các hình thức tiền gửi có kỳ hạn khác Sự phát triển của chứng chỉ tiền gửi và các hình thức huy động vốn khác tạo điều kiện cho ngân hàng co thể thích ứng môi trường cạnh tranh mới
Hợp đồng mua lại:
Hợp đồng mua lại là 1 món vay ngắn hạn trong đó chứng khoán được dung làm bảo đảm.Một hợp đồng mua lại gồm 2 giao dịch sau:
- Bán chứng khoán kèm theo cam kết mua lại chứng khoán theo cùng mức giá tại thời điểm xác định trong tươnglai Người bán chứng khoán cam kết trả cho người mua 1 lãi suất cố định
- Mua chứng khoán kèm theo cam kết bán lại chứng khoán theo cùng 1 mức giá tại 1 thời điểm xác định trong tương lai Người mua chứng khoán sẻ được nhận một mức lãi suất nhất định(Hợp đông mua lại nghịch chiều)
Thời hạn của Repo rất đa dạng, từ qua đêm đến vài tháng
Lãi suất của Repo được tính toán theo cơ sở lãi suất thị trường hiện hành, lãi suất quỹ liên bang và lãi suất công cụ nợ ngắn hạn Nhìn chung lãi suất Repo thấp hơn lãi suất hơn lãi suất liên bang và là 1 trong những mức lãi suất thấp nhất ở thị trường tiền tệ, nó được tính trên cơ sở
360 ngày một năm
Đôla châu Âu:
Đôla Châu Âu là khoản tiền gửi bằng USD tại ngân hàng ở ngòai nước
Mỹ, với tư cách là 1 công cụ của thị trường tiền tệ Đôla Châu Âu được kinh doanh khắp thế giới, tạo ra thị trường Đôla Châu Âu với trung tâm làLondon, Hongkong, Singapore, Tokyo…
Tiền gửi Đôla Châu Âu có thời hạn rất đa dạng, từ qua đêm tới 5 năm, nhưng hầu hết tiền gửi Đôla Châu Âu có thời hạn 6 tháng hoắc ít hơn.Lãi suất Đôla Châu Âu dựa trên lãi suất Libor tại London Các ngân hàng thương mại sử dụng Đôla Châu Âu để điều chỉnh trạng thái vốn khả dụng của mình Việc giao dịch Đôla Châu Âu được thực hiện thông qua hệ thống ghi sổ
Tiền Ngân hàng Trung Ương:
Đây là những món vay nợ ngắn hạn điển hình giữa các ngân hàng bằng những khoản tiền gửi của họ tại NHTW Nó không phải là món cho vay của chính phủ hay NHTW mà là do NHTM này cho NHTM khác vay
Trang 11khi ngân hàng này không đạt tới tổng số tiền gửi theo quy địng phải có ở NHTW Khi đó ngân hàng này có thể vay những món tiền gửi ở đây của những ngân hàng khác Các ngân hàng cho vay sẽ chuyển khoản thông qua hệ thống chuyển khoản điện tử của NHTW tới ngân hàng đi vay Giao dịch trên thị trường quỹ liên bang chinhs là khoản vay qua đêm và có kỳ hạn trong đó vay qua đêm chiếm tỷ trọng lớn nhất Lãi suất quỹ liên bang đựoc xác định trên cơ sở 360 ngày 1 năm và có vai trò như
1 phong vũ biểu chính xác để đo lường mức căng thẳng của thị trường tín dụng trong hệ thống ngân hàng.Lãi suất quỹ liên bang do các bên tham gia giao dịch thiết lập hay theo nguyên tắc thỏa thuận.Các quỹ này chính là công cụ thị trường tiền tệ và được giao dịch trên thị trường tiền tệ
1.2.5 Mô hình thị trường tiền tệ ở Việt Nam
Phương thức giao dịch:
Trên thị trường tín dụng: nghiệp vụ hoat động vốn thể hiện qua các hoạt động bên tài sản nợ tạo nên nguồn vốn của các ngân hàng mà chủ yếu là các loại tiền gửi Bên cạnh nguồn vốn tiền gửi, các ngân hàng còn xúc tiến phát hành 1 số giấy tờ có gía như các loại kỳ phiếu nội tệ và ngoại tệ.Đây là công cụ có lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm và được phép chuyển nhượng, vì vậy tạo sự linh hoạt cho công cụ và tăng tính hấp dẫn đối với khách hàng Bên phía sử dụng vốn, hay còn gọi là các nghiệp vụ bên tài sản có bao gồm các hoạt động “đầu ra” của ngân hàng thương mại, nhưngchủ yếu là nghiệp vụ cho vay đem lại hơn 90% thu nhập cho các ngân hàng
Trên thị trường liên ngân hàng: hoạt động của thị trường diễn ra theo hình thức các ngân hàng trực tiếp vay mượn lẫn nhau không thực hiện thông qua NHNN Các Ngân hàng thỏa thuận phương thức giao dịch, thời hạn, lãi suất cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay dựa trên mứcđộ tín nhiệm và có sự tham gia tích cực của NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Đến nay, phần lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện dưới các hình thức tín chấp, bảo đảm bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay; thậm chí một số ngân hàng đã thực hiện quan hệ vay mượn dưới hình thức gửi tiền lẫn nhau
Trên thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn: tín phiếu kho bạc có các loại kì hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng do kho bạc phát hành thông qua ngân hàng làm đại lý đã được đưa ra đấu giá công khai Lãi suất áp dụng tùy thuộc kết quả từng đợt phát hành Hình thức phát hành có thể là tín phiếu loại ghi sổ, các chứng chỉ vô danh hoặc các chứng chỉ
Trang 12đích danh Phương thức phát hành là chiết khấu, tức bán thấp hơn mệnh giá và thanh toán theo mệnh giá khi đến hạn.
Hiện nay, Việt nam theo đuổi mô hình thị trường tiền tệ mới- thị trường của các GTCG ngắn hạn
1.3 Thị trường vốn
1.3.1 Khái niệm
Thị trường vốn là thị trường cung cấp vốn cho các khoản đầu tư dài hạn các doanh nghiệp, của chính phủ và các hộ gia đình Thị trường vốn (TTV) là nơi trao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạn một công cụ tài chính có thời hạn thanh toán trên 1 năm được coi là công cụ của TTV
Do thời gian luân chuyển vốn trên thị trường này dài hạn hơn so với thị trường tiền tệ nên các công cụ trên thị trường vốn có độ rủi ro cao hơn và
đi theo nó là lợi tức kì vọng cũng cao hơn
1.3.2 Vai trò
- Vai trò tập trung và tích tụ vốn cho đầu tư vốn cho đầu tư
Thị trường vốn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi đất nước, đây là một kênh bổ sung vốn rất hiệu quả và nhanh chóng cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp
Thông qua việc phát hành và mua bán các loại chứng khoán , các khoản vốn nhỏ lẻ tồn tại trong dân cư được các tổ chức kinh tế huy động nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho công cuộc đầu tư và xây dựng của chủ đầu tư
Các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu , trái phiếu để huy động vốn cùng chính phủ và các địa phương phát hành trái phiếu của chính phủ và trái phiếu địa phương để bù đắp thiếu hụt ngân sách hoặc đầu tư xây dựng các
dự án lớn
Nếu đem so sánh với các phương thức huy động vốn khác thì thị trường vốn có thể huy động một cách đa dạng hơn, rộng rãi hơn với một phương thức linh hoạt hơn , từ đó có thể đáp ứng một cách nhanh chóng những nhu cầu khác nhau của các nhà đầu tư, đảm bảo được tính hiệu quả và thời gian cho nhà đầu tư và những người cần vốn
Ngoài ra , thông qua thị trường vốn thì chính phủ và địa phương có thể huy động vốn cho ngân sách hoặc đầu tư vào các công trình bằng việc phát hành trái phiếu , công trái Hơn nữa , nếu xét theo quan điểm kinh tếhọc thì đây là hình thức cụ thể kiềm chế được lạm phát do không phải in thêm tiền vào lưu thông để phục vụ cho chi tiêu của chính phủ
Ở Việt Nam hiện nay thì vai trò này đã bắt đầu phát huy tác dụng nhưng vẫn chưa thoả mãn nhu cầu về vốn hiện nay Theo các nhà kinh tế thì tổng nhu cầu về vốn đầu tư của Việt Nam hiện nay : 258000 tỉ đồng (năm2004) , 300.000 tỉ đồng ( năm 2005) và khoảng từ 360.000-370.000 tỉ đồng ( năm 2006) trong khi đó thì đến tháng 8/2006 chúng ta chỉ mới huyđộng được một lượng rất nhỏ khoảng 8.000 tỉ đồng so với quy mô đầu tư
Trang 13- Thị trường vốn góp phần tạo lập cơ chế đầu tư hợp lý, thúc đẩy quá trình sử dụng vốn một cách hợp lý.
Thị trường vốn là kênh huy động vốn theo tín hiệu cơ chế thị trường , là van điều tiết hữu hiệu các khoản vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn , từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi sử dụng vốn hiệu quả hơn
Theo các chuyên gia, các nhà quản lý của các tổ chức quỹ đầu tư hàng đầu thế giới nhận xét thì việc khả năng huy động vốn đầu tư của nước ngoài là rất tốt và có triển vọng tăng cao hơn trong các năm tiếp theo
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Hàng năm Việt Nam thu hút vốn một lượng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài rất lớn từ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế của người nước ngoài thông qua việc đầu tư vào thị trường cổ phiếu trên thị trường chứngkhoán
Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ mang lại vốn mà cũng có vai trò quan trọng thúc đẩy thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng qui mô và tăng tính minh bạch; nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp
Tuy nhiên, dung vốn này cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh huy động vốn nước ngoài khác Chính vì vậy, thúc đẩy thu hút FII ổn định và tương xứng với tiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển thị trường vốn và nền kinh tế Việt Nam đang là vấn đề được các cơ quan hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp quan tâm
Theo Bà Nguyễn Thị Liên Hoa, Trưởng Ban phát triển thị trường thuộc
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thì :
"Trong hai năm 2004 và 2005, tốc độ cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước đó được đẩy mạnh hơn so với những năm trước rất nhiều lần Tới cuối tháng 3 năm 2006, đó cú 4.673 doanh nghiệp Nhà nước được tái cơ cấu, trong đó có 3.298 doanh nghiệp được cổ phần hoá
.Một khu vực tiềm tàng nữa mà có thể thu hút được nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đó chính là khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ tưnhân Hiện nay, có tới 97% của hơn 230.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động tại Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp tư nhân rất năng động và phát triển mạnh mẽ và đó trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế
Sự phát triển chung của cả nền kinh tế cùng những cải cách mạnh mẽ về thể chế và khuôn khổ pháp lý trong nỗ lực gia nhập WTO đó được các nhà đầu tư nước ngoài chú ý
- Thị trường vốn tác động đến tăng trưởng tới nền kinh tế của đất nước Theo các lý thuyết về đầu tư như : lý thuyết về đầu tư , lý thuyết gia tốc đầu tư … thì vốn có tác động rất lớn tới sự phát triển kinh tế
Như ta đã biết thì vốn được huy động từ rất nhiều nguồn khác nhau trong đó có thị trường vốn Theo tính chất bắc cầu trong kinh tế thì thị trường vốn cũng có một tác động rất lớn tới sự phát triển kinh tế của đất nước
Trang 14Ta có thể thông qua hình vẽ dưới đây để có thể hiểu được tầm quan trọng của vốn đầu tư với sự tăng trưởng của nền kinh tế
Tăng trưởng kinh tế
vốn đầu tư
Khi nguồn vốn đầu tư tăng thì khối lượng sản phẩm sản xuất ra tăng , từ đó làm tăng tổng thu nhập quốc dân , làm cho GDP tăng từ đó làm cho nền kinh tế tăng trưởng
Tuy nhiên khi nguồn vốn đầu tư tăng đến một mức nào đó thì kinh tế không thể tăng trưởng thêm đựơc do nền kinh tế cũng phụ thuộc rất nhiềuyếu tố khác nhau như : lao động , tài nguyên thiên nhiên, hay chính sách tài khoá của chính phủ
Nước ta xuất phát từ một nước nghèo nàn và lạc hậu thì nguồn vốn lại là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Không có tiền chúng ta không thể làm được gì, không có tiền chúng ta không thể mọc thêm các nhà máy sản xuất, không thể tận dụng nguồn lao động dồi dào của nước ta , không thể tận dụng những gì mà thiên nhiên đó ban tặng cho chúng ta
Kể từ khi đất nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì nguồn vốn là một điều rất quan trọng Chính phủ đã cố gắng tạo ra những cơ chế chính sách hợp lý tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh của đất nước ta, để có thể phát huy tối đa mọi khả năng và nguồn lực của đất nước.Và, cũng từ đó thì thị trường vốn cũng dần dần
mở cửa khi chúng ta hội nhập kinh tế thế giới
Hiếm thấy lần phát hành trái phiếu Chính phủ đầu tiên nào thu được thành công như của Việt Nam" là nhận định được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đưa ra Bằng chứng là ngay ngày đầu tiên tại Hong Kong (19.10), số lượng các nhà đầu tư đặt mua đó đạt khoảng 1 tỷ USD, gấp 2 lần số lượng trái phiếu Chính phủ Việt Nam định phát hành Đến ngày 26.10, sau khi Chính phủ quyết định tăng khối lượng phát hành thêm 250 triệu USD, số lượng các nhà đầu tư đặt mua đó tăng lên tới hơn gấp 3 lần từ mức trên 1 tỷ USD lên khoảng 3 tỷ USD Ngày định giá trái phiếu, 29/10,số lượng các nhà đầu tư đặt mua đó lờn tới con số kỷ lục 4,5 tỷ USD, tức là gấp 6 lần mức Chính phủ Việt Nam phát hành trong đợt này Đặc biệt, có ngân hàng của Malaysia cũn dựng cả tiền dự trữ để tham gia mua 50 triệu USD Điều này chứng tỏ, sức hút mạnh mẽ của trái phiếu Việt Nam trên thị trường vốn quốc tế
- Thị trường vốn làm đa dạng hoá các cơ hội đầu tư cho các chủ đầu tư
Trang 15Trước kia khi chưa có thị trường vốn thì các nhà đầu tư thường không có nhiều cơ hội đầu tư, nhất là những nhà đầu tư có quy mô vốn nhỏ , nhữngngười có vốn nhàn rỗi
Hiện nay, khi thị trường vốn xuất hiện thỡ đó tạo ra rất, rất nhiều cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư Chỉ tính riêng trên thị trường chứng khoán hiện nay đó cú trên 40 doanh nghiệp cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung và cũn rất nhiều doanh nghiệp khác trên thịtrường OTC Chính điều này đó làm tăng khả năng cạnh tranh nhau về vốn trên thị trường vốn Chẳng hạn ,trên thị trường không chính thức, cáchoạt động mua bán cổ phiếu diễn ra hết sức sôi động với hơn 100 loại cổ phiếu được giao dịch khá thường xuyên; trong đó có những tên tuổi nổi tiếng như Vinamilk, Giống Cây trồng miền Nam, Dầu Tường An, Dược Hậu Giang, Bảo Minh, Sacombank, ACB, EximbankTuy nhiờn thỡ số lượng nhà đầu tư tham gia trên thị trường chứng khoán chưa nhiều như mong đợi, diễn biến giao dịch trên thị trường có những giai đoạn trầm lắng, nhiều công ty vẫn cũn tình trạng thiếu minh bạch trong cụng bố thụng tin khi đấu giá bán cổ phần lần đầu ra công chúng
Cho tới thời điểm hiện nay, đó cú 41 công ty niêm yết tại Trung tâm Giaodịch Chứng khoán Tp.HCM và 11 công ty đăng ký giao dịch tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội Dữ liệu thị trường vào trung tuần tháng 7/2006 cho thấy mức vốn hoá của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM ước đạt 44.442 tỷ VND, và của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội là 15.000 tỷ VND
Tổng mức vốn hoá của toàn bộ thị trường tại thời điểm này ước chiếm tỷ trọng 7,6% GDP (khoảng 3,8 tỷ USD) Trong thời gian sắp tới, sẽ có ít nhất 7 công ty nữa được cấp phép niêm yết và dự kiến thị trường sẽ chiếm tỷ trọng ít nhất 8,5% GDP trong năm nay
- Thị trường vốn tạo điều kiện để thực hiện các chính sách kinh tế vi mô.Thị trường vốn có một ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, của chính phủ và địa phươngtạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế
Thị trường vốn hoạt động dựa theo những tín hiệu của thị trường như lãi suất , hệ số tín nhiệm, độ rủi ro Thị trường vốn như một cái van điều tiết của nền kinh tế, điều tiết từ nơi sử dụng vốn không hiệu quả sang đến nơi sử dụng vốn có hiệu quả hơn, từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn Do đó thị trường vốn đó gúp phần giúp chính phủ và các tổ chức tài chính điều tiết cho nền kinh tế
Thực tế đó chứng minh điều đó rất rõ, từ khi xuất hiện thị trường vốn thì thị trường tài chính của Việt Nam đó được ổn định rất nhiều, không có những biến động quá lớn trên thị trường tài chính, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế đất nước trên thị trường vốn thì bất cứ khoản vốn nào
Trang 16được sử dụng đều phải trả giá do vậy mà người sử dụng vốn phải quan tâm rất nhiều đến khả năng sinh lợi của mỗi đồng vốn bỏ ra.
Khi đất nước ta chưa có cải cách kinh tế thì tình hình tài chính của Việt Nam rất rối ren, và mang tính khó lường Tỉ lệ lạm phát tăng cao, có khi đến hàng trăm phần trăm, người dân không dám cầm tiền mặt trong tay
do sợ mất giá đồng tiền , từ đó kinh tế chậm phát triển ,đời sống nhân dângặp rất nhiều khó khăn Nhưng cũng hiện nay, do có những chính sách tàichính ổn định cùng với sự xuất hiện của thị trường vốn thì thị trường tài chính của Việt Nam đó ổn định đi rất nhiều , không còn những con số lạmphát cao như trước đây nữa mà thay vào đó là tỉ lệ lạm phát luôn luôn nằm trong phạm vi được kiểm soát
Thông qua thị trường vốn thì chính phủ đó điều tiết và thực hiện những chính sách kinh tế của mình nhằm phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình và nhằm bình ổn giá cả , bình ổn thị trường tài chính , từ đó phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của doanh nghiệp ,của đất nước
- Thị trường vốn là công cụ đánh giá, dự báo chu kì kinh doanh của các doanh nghiệp của nền kinh tế
Đứng trên quan điểm của chính phủ và trên quan điểm của các doanh nghiệp thì thị trường vốn thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp , nhà nướcvà thị trường Thị trường vốn như cái van điều tiết hữu hiệu các nguồn huy động vốn và sử dụng vốn
Với chính phủ thì phải ban hành những quy định và chính sách kinh tế ngày càng hợp lý hơn, ngày càng đi sâu đi sát vào tình hình trên thị
trường vốn hơn Chẳng hạn như : Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1/1/2005 của Chính phủ về quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài giúpChính phủ xây dựng một cơ chế quản lý nợ an toàn, hiệu quả, thống nhất, và mang tính chuyên nghiệp; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền trên cơ sở đảm bảo sự nhất quán và đồng bộ trong hệ thống văn bản phỏp
lý hiện hành, đảm bảo sự không phân biệt giữa các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận nguồn vốn của Chính phủ Đạt được mục tiêu giám sátcó hiệu quả hơn các nghĩa vụ dự phũng và rủi ro tiềm ẩn đối với ngân sách Nhà nước và dự trữ ngoại tệ quốc gia Đồng thời tiến dần tới áp dụng các thông lệ được quốc tế thừa nhận rộng rói, nhằm hỗ trợ quỏ trỡnhhội nhập kinh tế-tài chính khu vực và quốc tế của nước ta Việc theo dõi, thu thập, xử lý thụng tin quản lý đảm bảo thường xuyên, kịp thời đối với mọi hoạt động thuộc lĩnh vực quản lý Quy trình huy động, đàm phán ký kết các Hiệp định vay, thủ tục giải ngân, thanh toán, thu hồi vốn, trả nợ từnguồn vốn nước ngoài đó được cải tiến theo hướng giảm bớt thủ tục, thời gian và từng bước hài hoà với thông lệ quốc tế Việc bố trí sử dụng vốn đó được quy định một cỏch rừ ràng, trong đó xác định rừ những loại dự án nào được ngân sách Nhà nước cấp, dự án phải vay lại, đồng thời tăng thêm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc vay vốn thương mại nước ngoài của các doanh nghiệp, gắn trách nhiệm sử dụng vốn hiệu quả,