1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”

89 659 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình kháng thuốc của sâu hại...11 2.3.3 Tình hình sử dụng và tính kháng thuốc của rầy lưng trắng Sogatella Furcifera Horvath với một số nhóm hoạt chất...12 Endo et al 1988 đã kết lu

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới TS

Lê Ngọc Anh là giáo iên hướng dẫn và PGS.TS Hồ Thị Thu Giang, Ths NguyễnĐức Khánh người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu,thực hiện và hoàn thành luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Côntrùng, Khoa nông học, đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận vănnày

Cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi hoànthành luận văn này

Hà Nội, ngày 30 tháng 07 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lan

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC HÌNH v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 3

1.2.1 Mục đích 3

1.2.2 Yêu cầu 3

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Tình hình nghiên cứu rầy lưng trắng (Sogatella fucifera Horvath) 4

2.1.1 Vị trí phân loại 4

2.1.2 Phân bố và ký chủ 4

2.1.3 Đặc điểm gây hại 5

2.1.4 Thiệt hại do rầy lưng trắng Sogatella fucifera Horvath gây ra 5

2.1.5 Đặc điểm sinh học và sinh thái của rầy lưng trắng (Sogatella fucifera Horvath) 6

2.1.6 Biện pháp phòng trừ 8

2.3 Tính kháng thuốc của rầy lưng trắng Sogatells furcifera 11

2.3.1 Nguyên lý chung của tính kháng thuốc 11

2.3.2 Tình hình kháng thuốc của sâu hại 11

2.3.3 Tình hình sử dụng và tính kháng thuốc của rầy lưng trắng (Sogatella Furcifera Horvath) với một số nhóm hoạt chất 12

Endo et al (1988) đã kết luận tính mẫn cảm với các thuốc Lân hữu cơ, Carbamate và DDT của rầy lưng trắng ở Nhật bản đã giảm đi theo thời gian (năm 1987 so với 1980) nhưng độ mẫn cảm với Lindan thì hầu như không thay đổi (1967 so với 1987) Nhưng từ năm 1989 đến nay, rầy lưng trắng ở các nước của Châu Á hầu như cũng đều phát triển tính kháng với các thuốc dùng để phòng trừ chúng trên đồng ruộng Tính kháng tăng cao nhất đối với thuốc Fipronil gấp 40-100 lần ở Philippines và Trung Quốc.Năm 1987, độ mẫn cảm của rầy lưng trắng đối với hoạt chất Malathion và Fenitrothion chỉ bằng 1/50 và 1/69 so với năm 1967 Sự phát triển tính kháng thuốc Gốc Lân hữu cơ trong vòng 7 năm (1980-1987) nhanh hơn so với 13 năm trước (1967-1980) 12

PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 20

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21

3.3 Nội dung nghiên cứu 21

- Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên lúa tại một số tỉnh miền Bắc và miền Nam trong những năm gần đây 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1.Nhân nuôi nguồn 21

3.4.1.1 Thu thập nguồn rầy lưng trắng tại các địa điểm nghiên cứu 21

3.4.1.2 Nhân nuôi quần thể rầy lưng trắng phục vụ cho thí nghiệm đánh giá tính kháng của rầy lưng trắng đối với các hoạt chất 22

3.4.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng hại lúa 23

3.4.2.1.Thí nghiệm tiền đẻ trứng 23

3.4.2.2.Thí nghiệm xác định thời gian trứng 23

Trang 3

3.4.2.3.Thí nghiệm xác định thời gian phát dục các pha sâu non 23

3.4.2.4.Thí nghiệm xác định tổng số trứng, tỷ lệ rầy nở 24

3.4.3 Hệ số tăng của quần thể 24

3.4.3.1 Thí nghiệm theo dõi thời gian phát dục của trứng 24

3.4.3.2 Thí nghiệm theo dõi thời gian phát dục của rầy non 25

3.4.3.3 Sức sinh sản của rầy và nhịp điệu sinh sản 25

3.4.4 Đánh giá tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của quần thể rầy lưng trắng 25

3.4.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số hoạt chất thuốc đến một số chỉ tiêu sinh học của rầy lưng trắng Thái Bình 28

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV tại các hộ nông dân sản xuất lúa ở một số tỉnh miền Bắc và miền Nam 30

4.1.1 Các giống lúa được trồng phổ biến tại miền Bắc và miền Nam năm 2013 30

4.1.2 Điều tra các giống lúa có biểu hiện kháng rầy tại một số tỉnh miền Bắc và miền Nam năm 2013 32

4.1.2.1 Điều tra các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu tại một số tỉnh miền Bắc và miền Nam năm 2013 32

4.1.2.2 Điều tra các giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưng trắng tai một số tỉnh miền Bắc và miền Nam năm 2013 35

4.1.3 Điều tra các loại sâu hại quan trọng trên lúa tại một số tỉnh miền Bắc và một số tỉnh miền Nam các năm 2008 – 2013 37

4.1.4 Điều tra Số lần phun thuốc trừ rầy nâu và rầy lưng trắng trong một vụ lúa tại một số tỉnh miền bắc và một số tỉnh miền Nam từ năm 2003 đến nay 41

4.1.4 Tình hình sử dùng thuốc BVTV tại các địa điểm nghiên cứu trong năm 2013 45

4.1.5 Chủng loại hoạt chất trừ sâu được sử dụng phổ biến để phòng trừ rầy trên lúa năm 2013 tại một số tỉnh miền Bắc và miền Nam 46

4.1.5 Một số loại thuốc được sử dụng phổ biến tại một số tỉnh miền Bắc và một số tỉnh miền Nam 48

4.1.6 Phương thức sử dụng thuốc trừ rầy trên cây lúa tại các địa điểm nghiên cứu 51

4.2 Đánh giá tính kháng đối với một số hoạt chất thuốc trừ sâu cuả quần thể rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) Thái Bình 59

4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số hoạt chất thuốc đến một số chỉ tiêu sinh học của rầy lưng trắng Thái Bình 63

4.3.1 Ảnh hưởng của một số hoạt chất thuốc đến một số chỉ tiêu sinh học của rầy lưng trắng Thái Bình 63

4.3.1 Ảnh hưởng của một số hoạt chất đến thời gian phát dục các pha của rầy lưng trắng Sogatella fucifera Horvth tại Thái Bình trước và sau khi thử thuốc 64

4.3.2 Ảnh hưởng của một số hoạt chất thuốc đến nhịp điệu sinh sản của rầy lưng trắng Thái Bình 66

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

5.1 Kết luận 68

5.2 Đề nghị 69

PHẦN VI.TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Hình 1: Thu bắt nguồn rầy 22

Hình 2: Nhân nuôi rầy 23

Bảng 4.1 Các giống lúa trồng phổ biến tại 4 tỉnh miền Bắc năm 2013 30

Bảng 4.2 Các giống lúa trồng phổ biến tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013 31

Bảng 4.3 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu tại 4 tỉnh miền Bắc năm 2013 33

Bảng 4.4 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013 34

Bảng 4.5 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưng trắng tại 4 tỉnh miền Bắc năm 2013 35

Bảng 4.6 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưng trắng tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013 36

Bảng 4.7 Thứ tự các loài sâu rầy quan trọng nhất tại 4 tỉnh miền Bắc trong năm 2008 37

Bảng 4.8 Thứ tự các loài sâu rầy quan trọng nhất tại 3 tỉnh miền Nam trong năm 2008 38

Bảng 4.9 Thứ tự các loài sâu quan trọng nhất trong năm 2013 39

Bảng 4.10Thứ tự các loài sâu quan trọng nhất tại 3 tỉnh miền Nam trong năm 2013 39

Bảng 4.11 Số loại thuốc thương phẩm và số loại hoạt chất thuốc trừ sâu trên lúa đã được nông dân sử dụng tại 7 tỉnh (đv: loại thuốc) 45

Bảng 4.12 Tỷ lệ % hộ nông dân sử dụng thuốc dưới dạng hỗn hợp hoặc đơn lẻ tại 4 tỉnh miền Bắc từ năm 2003 đến 2013 51

Đv: % ý kiến hộ nông dân 51

Bảng 4.13 Tỷ lệ % hộ nông dân sử dụng thuốc dưới dạng hỗn hợp hoặc đơn lẻ tại 3 tỉnh miền Nam từ năm 2003 đến 2013 52

Đv: % ý kiến hộ nông dân 52

Bảng 4.14 Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013 52

Bảng 4.15 Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013 55

Bảng 4.16 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục sự giảm hiệu lực của thuốc tại 4 tỉnh miền Bắc 56

Bảng 4.17 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục sự giảm hiệu lực của thuốc tại 3 tỉnh miền Nam (đv: %) 58

Bảng 4.18 Hiệu lực của hoạt chất profenofos đối với rầy lưng trắng Thái Bình trong phòng thí nghiệm 59

Bảng 4.19 Hiệu lực của hoạt chất Pymetrozin đối với rầy lưng trắng Thái Bình trong phòng thí nghiệm 59

Bảng 4.20 Hiệu lực của hoạt chất Thiosultap-sodium đối với rầy lưng trắng Thái Bình trong phòng thí nghiệm 60

Bảng 4.21 Hiệu lực của hoạt chất Imidacloprid đối với rầy lưng trắng Thái Bình trong phòng thí nghiệm 61

Bảng 4.22 Mức độ mẫn cảm của quần thể rầy lưng trắng Thái Bình và dòng mẫn cảm đối với hoạt chất Profenofos 62

Hình ảnh 3 Các pha phát dục của rầy lưng trắng 64

Bảng 4.23 Thời gian phát dục các pha của rầy lưng trắng Sogatella fucifera `Horvth tại Thái Bình trước và sau khi thử thuốc 64

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Thu bắt nguồn rầy 22

Hình 2: Nhân nuôi rầy 23

Bảng 4.5 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưng trắng tại 4 tỉnh miền Bắc năm 2013 35

Bảng 4.6 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưng trắng tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013 36

Bảng 4.8 Thứ tự các loài sâu rầy quan trọng nhất tại 3 tỉnh miền Nam trong năm 2008 38

Bảng 4.9 Thứ tự các loài sâu quan trọng nhất trong năm 2013 39

Bảng 4.10Thứ tự các loài sâu quan trọng nhất tại 3 tỉnh miền Nam trong năm 2013 39

Bảng 4.11 Số loại thuốc thương phẩm và số loại hoạt chất thuốc trừ sâu trên lúa đã được nông dân sử dụng tại 7 tỉnh (đv: loại thuốc) 45

Bảng 4.12 Tỷ lệ % hộ nông dân sử dụng thuốc dưới dạng hỗn hợp hoặc đơn lẻ tại 4 tỉnh miền Bắc từ năm 2003 đến 2013 51

Đv: % ý kiến hộ nông dân 51

Đv: % ý kiến hộ nông dân 52

Bảng 4.14 Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013 52

Bảng 4.15 Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013 55

Bảng 4.16 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục sự giảm hiệu lực của thuốc tại 4 tỉnh miền Bắc 56

Bảng 4.17 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục sự giảm hiệu lực của thuốc tại 3 tỉnh miền Nam (đv: %) 58

Bảng 4.18 Hiệu lực của hoạt chất profenofos đối với rầy lưng trắng Thái Bình trong phòng thí nghiệm 59

Bảng 4.19 Hiệu lực của hoạt chất Pymetrozin đối với rầy lưng trắng Thái Bình trong phòng thí nghiệm 59

Bảng 4.20 Hiệu lực của hoạt chất Thiosultap-sodium đối với rầy lưng trắng Thái Bình trong phòng thí nghiệm 60

Bảng 4.21 Hiệu lực của hoạt chất Imidacloprid đối với rầy lưng trắng Thái Bình trong phòng thí nghiệm 61

Bảng 4.22 Mức độ mẫn cảm của quần thể rầy lưng trắng Thái Bình và dòng mẫn cảm đối với hoạt chất Profenofos 62

Hình ảnh 3 Các pha phát dục của rầy lưng trắng 64

Bảng 4.23 Thời gian phát dục các pha của rầy lưng trắng Sogatella fucifera `Horvth tại Thái Bình trước và sau khi thử thuốc 64

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Biểu đồ số lần phun thuốc trừ rầy nâu trong 1 vụ lúa ở 4 tỉnh miền bắc từ 2003 đến nay 41 Biểu đồ 2 Biểu đồ số lần phun thuốc trừ rầy nâu trong 1 vụ lúa ở 3 tỉnh miền nam từ 2003 đến nay 43 Biểu đồ 3 Chủng loại hoạt chất trừ sâu được sử dụng để phòng trừ rầy trên lúa năm 2013 ở 4 tỉnh miền Bắc 46 Biểu đồ 4 Chủng loại hoạt chất trừ sâu được sử dụng để phòng trừ rầy trên lúa năm 2013 ở 3 tỉnh miền Nam 47 Biểu đồ 5 Một số loại thuốc được dùng nhiều nhất của 4 tỉnh miền Bắc tử năm 2003 đến nay .48 Biểu đồ 6 Một số loại thuốc được dùng nhiều nhất của 3 tỉnh miền Nam tử năm 2003 đến nay.50 Biểu đồ 7 So sánh nhịp điệu sinh sản của rầy lưng trắng trước và sau khi thử thuốc 66

Trang 7

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây lúa là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá trình phát triển của loàingười Đến nay cây lúa đã trở thành cây lương thực chính của Châu Á nói chung,người Việt nam ta nói riêng Cùng với những tiến bộ của khoa học kĩ thuật thì nềnnông nghiệp trên thế giới nói chung và nông nghiệp Việt Nam nói riêng cũng cónhững bước phát triển đáng kể Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới từ năm

2002 đến 2012 liên tục tăng cả về diện tích và sản lượng Trong những năm gầnđây, nhiều tiến bộ kĩ thuật về giống cây trồng được áp dụng đã mang lại hiệu quảhết sức to lớn cho sản xuất nông nghiệp.Nước ta từ một nước thiếu hụt lương thựccủa những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước thì những năm 2005- 2008 sản lượngxuất khẩu gạo khá ổn định ở mức trên 4,5 triệu tấn và có những bước đột phá từnhững năm 2009

Tính đến trung tuần tháng Chín, cả nước gieo cấy được 1778,2 nghìn ha lúamùa, bằng 102,5% cùng kỳ năm trước Ước tính năng suất lúa mùa cả nước nămnay đạt 48,7 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha so với vụ mùa năm trước; diện tích gieo trồng đạt

1965 nghìn ha, giảm 21,1 nghìn ha; sản lượng đạt 9,6 triệu tấn, tăng 228,4 nghìntấn Tính đến thời điểm 15/9/2014, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được1798,6 nghìn ha lúa hè thu, bằng 94,9% cùng kỳ năm trước Năng suất lúa hè thu

cả nước ước tính đạt 53,4 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với vụ hè thu 2013; sản lượng đạt11,3 triệu tấn, tăng 53,8 nghìn tấn Ước tính diện tích lúa cả năm 2014 đạt 7802,8nghìn ha, giảm 99,7 nghìn ha so với năm 2013; năng suất đạt 57,5 tạ/ha, tăng 1,8tạ/ha; sản lượng đạt 44,9 triệu tấn, tăng 816 nghìn tấn.( Tổng cục thống kê, 2014)

Bên cạnh những thành quả đạt được thì ngành trồng lúa của Việt Nam cũnggặp phải không ít khó khăn và thách thức Thời tiết, khí hậu thay đổi do sự nónglên của trái đất kéo theo đó là sự hoành hành của các loài dịch hại Một số dịch hại

Trang 8

furcifera), sâu cuốn lá nhỏ ( Cnaphalophora medinalis), sâu đục thân hai chấm (Scirpophaga incertulas), bọ xít dài (Leptocorisa acuta), bệnh đạo ôn ( Pyricularia Oryzae), bệnh khô vằn ( Rhizoctonia Solani) Trong đó loài sâu hại điển hình trên

lúa phải kể đến là rầy lưng trắng, nó gây hại mạnh ở những vùng trồng lúa trên thếgiới trong đó có Việt Nam Chúng không chỉ gây hại trực tiếp bằng cách hút dịchnhựa thân cây, làm cho cây lúa sinh trưởng và phát triển kém mà nguy hiểm hơnchúng còn là môi giới truyền bệnh virus lùn sọc đen cho cây lúa

Hà Viết Cường (2011) cho thấy tỉ lệ rầy nâu chiếm 70% vào năm 1981 đãgiảm xuống còn 30% vào năm 2007 Ngược lại, rầy lưng trắng tăng từ 35% lên70%.Năm 2008 - 2010 diện tích nhiễm rầy tăng gấp 2 so trung bình 10 năm trở lạiđây và tăng 4,7 đến 5,2 lần so với năm có diện tích thấp nhất; đặc biệt các tỉnh phíaBắc diện tích nhiễm rầy tăng gấp 1,9 và 2,3 lần so trung bình 10 năm trở lại đây vàtăng 7,2 đến 9,3 lần so với năm có diện tích thấp nhất Một số nguyên nhân gâybộc phát rầy hại lúa có thể kể đến như tăng cao tỉ lệ sử dụng giống nhiễm rầy trêndiện rộng; gieo cấy quá dầy, bón dư thừa phân đạm và lạm dụng phun thuốc trừsâu, nhất là phun thuốc sớm trong giai đoạn lúa đẻ nhánh, phun thuốc phổ rộng đãtiêu diệt quần thể ký sinh thiên địch tự nhiên trong ruộng lúa hoặc phun thuốckhông đúng đã gây tình trạng kháng thuốc ngày một tăng

Năm 2002, tổng diện tích lúa bị nhiễm rầy lưng trắng và rầy nâu ở nước ta là263.129 ha, trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 12.317 ha Các tỉnh miền Bắc :diện tích bị nhiễm là 141.066 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 9.707 ha Cáctỉnh miền Nam, tổng diện tích bị nhiễm là 122.063 ha, trong đó diện tích nhiễmnặng là 2.610 ha

Ngoài những nguyên nhân sinh thái, sinh học, sử dụng thuốc BVTV quánhều được coi là nguyên nhân cơ bản làm cho rầy bộc phát trên diện rộng và đedọa đến sản xuất lúa Việc lạm dụng thuốc hóa học cả về liều lượng, chủng loại lẫntần suất sử dụng trong thời gian dài đã làm cho tính mẫn cảm của rầy lưng trắng bị

Trang 9

suy giảm đối với thuốc hóa học dẫn tới việc quản lý rầy lưng trắng khó khăn hơnmặt khác còn ảnh hưởng tới đời sống và gây ô nhiễm môi trường … Một vấn đềđặt ra là chúng ta nên sử dụng loại, nhóm thuốc nào, liều lượng ra sao để tránh việc

lạm dụng thuốc hóa học gây ra hiện tượng kháng thuốc ở rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) Để có thêm thông tin về mức độ kháng thuốc của rầy lưng trắng nhằm

giúp cho việc quản lý phòng trừ rầy lưng trắng hiệu quả hơn Được sự phân côngcủa bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tính kháng thuốc của rầy lưng

trắng Sogatella furcifera Horvath trong vụ xuân 2015 tại Thái Bình

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV của các hộ nông dân sản xuất lúa ở một

số tỉnh miền Bắc và miền Nam

Nắm được các đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) và

đánh giá được tính kháng thuốc của rầy lưng trắng đối với một số hoạt chất thuốctrừ sâu, từ đó đề xuất biện pháp quản lý tính kháng thuốc của rầy lưng trắng

(Sogatella furcifera) có hiệu quả.

1.2.2 Yêu cầu

- Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV của các hộ nông dân sản xuất lúa ởmột số tỉnh miền Bắc và miền Nam

- Đánh giá tính kháng của quần thể rầy lưng trắng ( Sogatella furcifera) tại

Thái Bình đối với 4 nhóm hoạt chất: Profenofos, Imidacoprid, Pymethrozine,Thiosultapsodium

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số hoạt chất thuốc đến một số đặc điểmsinh học của rầy lưng trắng Thái Bình

- Nghiên cứu tính kháng của rầy lưng trắng Thái Bình dựa trên hoạt tính của

Trang 10

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nghiên cứu rầy lưng trắng (Sogatella fucifera Horvath)

2.1.1 Vị trí phân loại

Rầy lưng trắng lần đầu tiên được Horvath mô tả và đặt tên là Delphaxfurcifera vào năm 1899 trên cơ sở mẫu thu thập tại Nhật Bản, và sau đó được

đổi là Sogatella furcifera Ngoài ra rầy lưng trắng còn có các tên khác đồng

danh đã được sử dụng như: Delphax furcifera, (1899); Liburnia furcifera (1899); Calligypona furcifera ,(1899); Sogata distincta Distant, (1912); Sogata kyusyunensis Masumura & Ishihara, (1917)

Rầy lưng trắng (Sogatela fucifera Horvarth) thuộc Lớp (Class): Insecta Bộ

(Order): Homoptera.Bộ phụ (Suborder): Auchenorrhyncha.Tổng họ (Superfamily):Fulgoroidae.Họ (Family): Delphacidae.Giống: Sogatella Loài: furcifera

2.1.2 Phân bố và ký chủ

Rầy lưng trắng Sogatella furcifera là dịch hại nghiêm trọng trên cây lúa Nó

được báo cáo đầu tiên ở Nhật Bản năm 1899 và ở Ấn Độ năm 1903.Theo hwa và Ngo Dinh Ngoan (1968), rầy lưng trắng được tìm thấy trên khắp các khuvực trồng lúa trên thế giới như Nhật Bản, Okinawa, Hàn Quốc, Đài Loan,Micronesia, Siberia, Mãn Châu, Trung Quốc, Đông Dương, Ấn Độ, Ceylon, BắcPhi, Phi Líp Pin, Sumatra,

Loài ký chủ chính của rầy lưng trắng là cây lúa Ngoài cây lúa rầy lưng

trắng còn có các kí chủ khác như: một số cây thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) như Mía (Saccharum officinarum L.), Đại mạch (Hordeum vulgare L.), Kê (Setaria italica Beauv.), cỏ Lồng Vực (Panicum crusgalli L.), Ngô (Zea mays L.),cỏ Chỉ ( Phalaris arundinacea L.), cỏ Mần Trầu (Eleusine indica Gaertner).( Tao and

Ngoan, 1968)

Trang 11

2.1.3 Đặc điểm gây hại

Cả rầy non và rầy trưởng thành đều chích hút nhựa làm cây lúa khô héo,hạt lúa sẽ lép lửng và quá trình chin hạt bị chậm (Chi cục bảo vệ thực vật NamĐịnh)

Theo Dale (1994), Các cây bị rầy tấn công chuyển sang màu vàng và sau đó

có màu gỉ sắt, lan rộng từ đầu lá đến phần còn lại của cây Mật độ rầy lưng trắng

Sogatella furcifera cao sẽ làm cây lúa bị vàng đỏ, héo khô và chuyển sang màu đỏ

nâu do cây mất nhựa hay còn gọi là hiện tượng cháy rầy Con cái gây hại nặngbằng cách chọc thủng mô bẹ lá để đẻ trứng Dịch ngọt do rầy tiết ra còn làm tăng

sự phát triển của nấm, đây chính là nguyên nhân gián tiếp chính của bệnh muội đentrên lúa

2.1.4 Thiệt hại do rầy lưng trắng Sogatella fucifera Horvath gây ra

Ở Trung Quốc đã ghi nhận rầy lưng trắng phát sinh và gây hại nặng từnhững năm giữa thể kỷ 20 Khi nghiên trên 10 điểm trồng lúa không sử dụng bất

kỳ một loại thuốc trừ sâu nào mỗi năm ở Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốcthì kết quả cho thấy nhóm rầy hại thân lúa tại Trung Quốc được coi là dịch hạichính Từ những năm 1970 trở lại đây cùng với sự mở rộng và phát triển của cácgiống lúa lai thì rầy lưng trắng đã trở thành đại dịch.Thiệt hại do rầy lưng trắnglên tới 1 triệu tấn lúa/năm vào các năm 1978- 1979, 1982- 1983 và 1987- 1988.Đặc biệt, vào những năm 1991 diện tích lúa bị rầy nâu và rầy lưng trắng gây hạinặng lên tới 25 triệu ha (Cheng, 2009)

Reissig H et al.(1993), rầy lưng trắng có thể bùng phát thành dịch như tại

vùng Asam Ấn Độ, tháng 5 -6 năm 1985 có hơn 8.000 ha lúa IR8 đã bị cháy rầylưng trắng

Rầy lưng trắng là một trong 2 loài côn trùng thứu cấp gây hại nặng trên lúatrước 1970 ở Trung Quốc Tuy nhiên sau ngay lập tức sau khi phát sinh nó đã

Trang 12

nhiễm nặng với WBPH, và 80 ha bị phá hoại hoàn toàn trong khu vực thí điểm lúa

lại ở tỉnh Quảng Đông, Phía Nam Trung Quốc (Sogawa et al, 2009)

Trên đồng ruộng rầy lưng trắng du nhập sớm hơn rầy nâu Một năm trênđồng ruộng có 6 – 7 lứa rầy lưng trắng phát sinh gây hại, trong đó có lứa 2 vàocuối tháng 4 giữa tháng 5 hại trên lúa xuân và lứa 5 vào cuối tháng 8 giữa tháng 9gây hại nặng cho lúa mùa Vụ xuân thường gây hại năng hơn vụ mùa, rầy lưngtrắng gây hại nặng trên các giống lúa lai, thuần thơm, ruộng thâm canh cao bón quánhiều đạm Ngoài tác hại trực tiếp rầy lưng trắng còn là môi giới truyền virus gâybệnh lún sọc đen cho cây lúa ( Chi cục bảo vệ thực vật Nam Định, 2012)

Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2010) tổng diện tích nhiễmrầy nâu và rầy lưng trắng lên tới 1,05 triệu ha, tăng 27% so với năm 2009, trong đódiện tích lúa bị nhiễm nặng là 134 ngàn ha, tăng 35%, riêng vụ hè thu và vụ mùadiện tích nhiễm nặng tăng 74% so với năm 2009 Ngoài ra, diện tích lúa bị cháy dorầy hơn 400 ha, tăng 16% so với năm trước Còn theo báo cáo của Cục Bảo VệThực Vật (2011), năm 2008 - 2010 diện tích nhiễm rầy tăng gấp 2 so trung bình 10năm trở lại đây và tăng 4,7 đến 5,2 lần so với năm có diện tích thấp nhất; đặc biệtcác tỉnh phía Bắc diện tích nhiễm rầy tăng gấp 1,9 và 2,3 lần so với trung bình 10năm trở lại đây và tăng 7,2 đến 9,3 lần so với năm có diện tích thấp nhất

Năm 2010, rầy nâu, rầy lưng trắng tiếp tục gây cháy cục bộ tại: Thái Lan 8/2010) kết hợp bệnh VL-LXL; Myanma (2/2010), Malaysia ( 2/2010), Indonesia (8/2010), miền bắc Việt Nam (9/2010) và Lâm Đồng ( 9-10/2010) ( Nguyễn HữuHuân,2010)

(2-2.1.5 Đặc điểm sinh học và sinh thái của rầy lưng trắng (Sogatella fucifera Horvath)

Pha Trứng

Trứng của rầy lưng trắng cũng như trứng của rầy nâu được đẻ ở phần mô

bẹ lá hoặc phần gân chính của lá, đẻ thành từng ổ, trứng có hình dạng và kích

Trang 13

thước tương tự như rầy nâu nhưng mũi trứng dài hơn, trứng nở trong khoảng 6ngày ( Dale ,1994)

Theo Ammar et al (1980) ở Kafr-el-Sheikh, Ai Cập cho biết thời gian

trứng tại 23-34oC là 7,1 ngày, 9,3 ngày ở 17-21oC, ở 13-22oC tỉ lệ nở trung bình

là 64%

Pha rầy non:

Rầy non của rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath) có màu trắng và

một số vệt màu xám hoặc đen Pha phát dục của rầy non là 12- 17 ngày trải qua

5 tuổi.(Dale, 1994) Tổng thời gian sâu non là 13,8 – 15,4 ngày ở nhiệt độ

21-33oC và 50,8 – 52,1 nếu nhiệt độ xuống thấp từ 14-23oC.( Ammar et al ,1980)

Trong vụ đông xuân với nhiệt độ trung bình 24,70 và ẩm độ trung bình64,8%) thời gian nở rầy non tuổi 1 từ trứng do 1 trưởng thành cái đẻ có thể kéo dàitới 20 ngày Phần lớn số lượng rầy non được nở từ trúng tập trung trong khoảng 10ngày đầu sau khi trưởng thành bắt đầu đẻ trứng (Đinh Văn Thành, 2011)

Pha trưởng thành:

Sau khi kết thúc giai đoạn rầy non, rầy lưng trắng tuổi 5 vũ hoá thànhtrưởng thành Trưởng thành rầy lưng trắng có hai dạng cánh ngắn và cánh dài,chiều dài cơ thể của trưởng thành cánh ngắn từ 2,6 đến 2,9 mm, cánh dài 3,5 –4mm

Theo Dale (1994), một con cái có thể đẻ trung bình 164 quả trứng ở Ấn

Độ Tại Nhật Bản, Suenage (1963) tổng số trứng dao động từ 300 – 350 Tuổitrưởng thành có thể tồn tại từ 12 – 17 ngày Thời gian trung bình của trưởngthành đực và cái tương ứng là 12,8 và 18,7 ngày ở 18-30oC, 34,5 và 41,9 ngàytại 12-21oC (Ammar et al ,1980)

Rầy lưng trắng thường phát sinh phát triển quần thể ở giai đoạn đầu vụ, quần

Trang 14

quanh 8 tuần sau cấy Nhiệt độ vừa phải trong xuốt mùa mưa là điều kiện thuận lợicho sự phát triển quần thể rầy lưng trắng Ở Ấn Độ (bang Andra Prades) quần thểrầy lưng trắng trong mùa mưa cao hơn mùa khô và có ít nhất 3 lứa/vụ trong đó vụmùa rầy lưng trắng có số lượng cao trong suốt thời kỳ đầu vụ chúng đạt đỉnh caovào cuối tháng 10; giữa số lượng quần thể với thời gian chiếu sáng có sự tươngquan khá chặt (Ram P., 1986)

có thế sử dụng một số biên pháp như: Biện pháp giống, biện pháp kĩ thuật canh tác,biện pháp sử dụng thiên địch, biện pháp hóa học, Sau đây là một vài biện pháp cóhiệu quả trong việc phòng trừ rầy:

Biện pháp giống:

Theo Enrique et al (1985), các công trình nghiên cứu giữa thập kỷ 80 của

thế kỷ trước đã nêu rằng nguồn gen kháng rầy lưng trắng là rất khác nhau ở cả lúatrồng và lúa dại Các thí nghiệm đánh giá tính kháng của giống với rầy lưng trắng

đã được Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) tiến hành từ năm 1970 Đã có khoảng

5000 giống lúa trồng (Oryza sativa) đã được đánh giá với rầy lưng trắng Khoảng50% trong tổng số 437 giống lúa dại được đánh giá là kháng Các giống lúa dạikháng rầy lưng trắng còn ở dạng nguyên thủy là Oryza minuta, O nivara, O.officinalis Ở Ấn Độ các giống O officinalis, O punctata và O latifolia có sứckháng cao với rầy lưng trắng (Trích theo Ngô Vĩnh Viễn,2011)

Trang 15

Theo Bara et al (2009) , các nghiên cứu khảo sát, đánh giá tính kháng chocác giống lúa đã phát hiện ra hơn 300 giống có tính kháng rầy lưng trắng đượcnhận dạng và 80 trong số đó đã được phân tích gen Sáu gen kháng (Wbph1,Wbph2, Wbph3, wbph4, Wbph5, wbph6) đã được xác định (Khush 1984) Theochi cục bảo vệ thực vật Nam Định (2012) , nên sử dụng các giống có chất lượngtốt, phù hợp với địa phương Những giống nhiễm rầy nếu gieo trồng phải tuân thủtheo quy trình thâm canh, quản lí rầy nghiêm ngặt thoe hướng dẫn của cơ quanchuyên môn.

Qua quá trình nghiên cứu đã cho thấy có 5 giống lúa có khả năng kháng rầylưng trắng thích nghi với điều kiện Thừa Thiên Huế là ĐT34, Quảng Nam 1, Q5,PC6, HP28 được lựa chọn để tiếp tục nghiên cứu Trong đó ĐT34 và PC6 là haigiống có mật độ rầy gây hại ít, năng suất cao và chất lượng tốt Hai giống ĐT34 vàPC6 đều có phẩm chất gạo tốt, trong đó giống PC6 cho thu nhập 34-38 triệuđồng/ha và ĐT34 cho thu nhập trên 22 triệu đồng/ha.( Sở khoa học công nghệThừa Thiên Huế)

Biện pháp phòng trừ bằng chế độ canh tác:

Thời vụ, lượng phân bón, chế độ nước tưới và liều lượng thuốc hóa học cóảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng phát triển của cây lúa Qua đó chế độ canhtác sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của rầy lưng trắng

Ở Trung Quốc người dân phòng trừ rầy bằng cách điều chỉnh ngày gieo mạ

để tránh rầy, nuôi thả vịt trong ruộng lúa, áp dụng mô hình cá – lúa, sử dụng bẫyánh sáng Trong khi đó ở Indonesia người dân đặc biệt chú ý đến chế độ chăm sóc,làm cỏ, bón phân hợp lí và luân canh cây trồng Và tại cường quốc về xuất khẩugạo Thái Lan thì việc thăm đồng thường xuyên được đặt lên hàng đầu cùng với đó

là diệt trừ cỏ dại cũng là kí chủ của rầy (Catinding et al, 2009)

Nên vệ sinh đồng ruộng bằng cách cày bừa, trục kĩ trước khi gieo mạ( cấy),

Trang 16

Đối với bệnh lùn sọc đen hại lúa, nên thực hiện gieo mạ tập trung theo vùng, khônggieo mạ ở gần những ruộng đang có nguồn bệnh, ven đường giao thông, ( Chi cụcbảo vệ thực vật Nam Định,2012)

Phòng trừ bằng thuốc hóa học:

Năm 1990, Haq cùng cộng sự đã tiến hành thử nghiệm hiệu lực của các loạithuốc có nguồn gốc lân hữu cơ và thào mộc ở Pakistan với rầy lưng trắng và chothấy: Thuốc lân hữu cơ có hiệu lực cao nhất ( 93,15 %) sau đó là Methidathion(89,16%), Nicitin (61,63%), và cuối cùng là dầu Neem (33,39%)

Trong danh mục thuốc đăng ký trừ rầy ở Việt nam tính đến 2010 có 168tên hoạt chất và hỗn hợp với 390 tên thương phẩm thì hầu hết chỉ đăng ký trừrầy nâu mà duy nhất có 3 loại thuốc đăng ký trừ rầy lưng trắng là Lobby 10WP,Shertin 3.6EC và Penalty 40WP Tuy nhiên, trong các khảo nghiệm trên đồngruộng trước đây cũng có những kết quả đánh giá hiệu lực của một số thuốc đốivới rầy lưng trắng

Giai đoạn lúa chưa trỗ có thể dùng các loại thuốc nội hấp và thuốc ức chếsinh trưởng của rầy : Applaud 25WP, Aperlaur 250WP, Wofara 300WG, Giaiđoạn lúa từ đòng già-ngậm sữa, chắc xanh, chỉ dùng các loại thuốc tiếp xúc có hoạtchất Fenobucarb và nhóm Cholorpyrifos Ethyl Phải rẽ lúa 4 hàng/băng; nếu lúatốt, mật đọ rầy cao, rẽ 3 hàng/băng và phun trực tiếp vào nơi cư trú của rầy Sau 3ngày nếu rầy lưng trắng còn trên ruộng phòng trừ thì phải tiến hành phun lại Tiếnhành phun thuốc nội hấp trừ raayfcho mạ trước khi cấy 2 đến 3 ngày ở những vùngtrước đây đã nhiễm bệnh lùn sọc đen hại nặng ( Chi cục bảo vệ thực vật NamĐịnh,2012)

Theo Đinh Văn Thành và cs (2014), nếu sử dụng biện pháp hóa học thì chỉnên trừ rầy non rầy lưng trắng một lần/vụ vào thê hệ thứ 2 (giai đoạn làm đòng-trước chỗ) và trừ rầy ở giai đoạn đỉnh cao hoặc ngay sau đỉnh cao quần thể rầynon, tức là thời điểm từ 11- 15 ngày sau đỉnh cao rầy trưởng thành vào đèn

Trang 17

Đây là biện pháp có thể diệt trừ rầy nhanh nhất và triệt để nhất Tuy nhiên,việc phun thuốc trừ sâu quá liều lượng đã tạo ra tính kháng cho rầy Từ đó đã có rấtnhiều nghiên cứu của các tổ chức, các nhà khoa học về hiệu lực của thuốc với rầy.

2.3 Tính kháng thuốc của rầy lưng trắng Sogatells furcifera

2.3.1 Nguyên lý chung của tính kháng thuốc

 Khái niệm tính kháng thuốc

Theo Rudd( 1964), Khi quần thể dịch hại chịu tác động lặp đi lặp lại của mộtloại thuốc trừ sâu trong nhiều thế hệ nối tiếp nhau thì từ thế hệ này sang thế hệ khác

đã xảy ra một quá trình chọn lọc; những cá thể có mang sẵn những gen kháng thuốccòn được gọi là gen tiền thích ứng sẽ tồn tại, sản sinh ra những cá thể của thế hệ saumang tính kháng thuốc, hình thành nên một nòi kháng thuốc

Theo định nghĩa của WHO (1976): Kháng thuốc là sự giảm tính mẫn cảmcủa một quần thể động thực vật với một loại thuốc BVTV, sau một thời gian dài(trong quá trình sản xuất, bảo quản), quần thể này liên tục tiếp xúc với nhóm thuốc

đó, khiến cho loài sinh vật ấy chịu được lượng thuốc lớn có thể tiêu diệt hầu hếtcác cá thể cùng loài chưa chống thuốc Khả năng này của dịch hại có thể di truyềnqua đời sau, dù các cá thể đời sau có thể không tiếp xúc với thuốc đó (NguyễnTrần Oánh và cs, 2006)

2.3.2 Tình hình kháng thuốc của sâu hại

Việc sử dụng phổ biến các loại thuốc trừ sâu tổng hợp đã dẫn đến hậu quảnghiêm trọng là tính kháng thuốc của côn trùng hại ngày một cao Ghi nhận đầutiên đối với hiện tượng này là sự kháng thuốc của ruồi nhà đối với DDT (năm

1946, tại Thuỵ Điển) Khi cường độ dùng thuốc hoá học tăng dần, thì số lượngcôn trùng có thể kháng lại thuốc cũng tỷ lệ thuận theo Tiêu biểu cho đến nay,

bộ Hemiptera có 20 loài (4,7%), bộ Lepidotera có 64 loài (14,9%), bộColeoptera có 64 loài (14,9%)… có khả năng kháng nhiều loại thuốc trừ sâu

Trang 18

trùng và nhện (trong đó có 264 loài côn trùng và nhện hại nông nghiệp); trên 100loài nấm và vi khuẩn; khoảng 50 loài cỏ dại đã hình thành tính kháng.

Trong thực tế sản xuất, ở nước ta cũng như nhiều nước khác đã xảy ranhiều trường hợp sâu trở nên kháng thuốc Từ năm 1986, trên thế giới đã pháthiện có gần 300 loài sâu và nhện hại cây trồng kháng nhiều loại thuốc có các cơchế tác động khác nhau Ở nước ta đã ghi nhận các loài sâu tơ hại rau, sâu xanh

da láng hại đậu và bông, rầy xanh, bọ trĩ hại bông, chè, sâu cuốn lá nhỏ hại lúa

và một số sâu khác có biểu hiện kháng thuốc Với rầy nâu hại lúa, người ta đãthấy nếu 3 – 4 lứa rầy dùng thuốc Methyl Parathion liên tục thì sau đó rầy chịuđược lượng thuốc cao gấp 10 – 15 lần lượng thuốc ban đầu

2.3.3 Tình hình sử dụng và tính kháng thuốc của rầy lưng trắng (Sogatella Furcifera Horvath) với một số nhóm hoạt chất.

Endo et al (1988) đã kết luận tính mẫn cảm với các thuốc Lân hữu cơ,Carbamate và DDT của rầy lưng trắng ở Nhật bản đã giảm đi theo thời gian (năm

1987 so với 1980) nhưng độ mẫn cảm với Lindan thì hầu như không thay đổi (1967

so với 1987) Nhưng từ năm 1989 đến nay, rầy lưng trắng ở các nước của Châu Áhầu như cũng đều phát triển tính kháng với các thuốc dùng để phòng trừ chúng trênđồng ruộng Tính kháng tăng cao nhất đối với thuốc Fipronil gấp 40-100 lần ởPhilippines và Trung Quốc.Năm 1987, độ mẫn cảm của rầy lưng trắng đối với hoạtchất Malathion và Fenitrothion chỉ bằng 1/50 và 1/69 so với năm 1967 Sự phát triểntính kháng thuốc Gốc Lân hữu cơ trong vòng 7 năm (1980-1987) nhanh hơn so với

13 năm trước (1967-1980)

Trong năm 2003 sự phát triển kháng thuốc trừ sâu đối với neonicotinoids

trong rầy nâu (BPH), Nilaparvata lugens (Stal) (Homoptera: Delphacidae), lần

đầu tiên được quan sát thấy ở Thái Lan và từ đó đã được tìm thấy ở các nướcchâu Á khác như Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản Tuy nhiên, LD50 trong

rầy nâu và rầy lưng trắng (WBPH), Sogatella furcifera (Horvath), chống lại cả

Trang 19

thuốc trừ sâu neonicotinoid và phenylpyrazole it được báo cáo ở nhiều nướcchâu Á.

Quần thể rầy lưng trắng và rầy nâu tại Viện nghiên cứu lúa quốc tế, LosBanos, Philippin lần đầu tiên được khảo sát vào năm 1977 và giá trị LD50 của 8loại thuốc được xác định trên quần thể rầy lưng trắng cánh dài và rầy nâu cánhngắn, cánh dài Nói chung độ mẫn cảm lớn hơn so với quần thể ở Nhật Bản trongcùng năm đó (1977) Đặc biệt cả rầy lưng trắng và rầy nâu đều có độ mẫn cảm caohơn đối với thuốc DDT so với quần thể Nhật Bản (Nagata and Masuda, 1980)

Endo et al.(1988) đã xác định giá trị LD50 của 18 loại thuốc đối với quần

thể rầy lưng trắng ở Indonesia vào năm 1988 và so sánh với giá trị LD50 của quầnthể Nhật Bản ở cùng năm đó thì thấy rằng độ mẫn cảm của quần thể Indonesia đối

với thuốc p,p’- DDT cao hơn quần thể rầy ở Nhật Bản ( 1/5 lần), còn đối với 17

loại thuốc còn lại thì có độ mẫn cảm gần như bằng nhau Giá trị LD50 của thuốcMalathion ở quần thể rầy lưng trắng Malaysia (SPW, ASW) ở năm 1989 và 1990cao hơn đáng kể (lần lượt 4 và 7 lần) so với quần thể ở Nhật Bản (FUW), giá trịLD50 của một số loại thuốc khác không có sự khác nhau đáng kể

Theo Nagata và Masuda (1980), năm 1989 giá trị LD50 của nhóm thuốc gốclân hữu cơ và Carbamates ở quần thể rầy lưng trắng Nhật Bản cao hơn so với năm

1976 lần lượt là 17- 28 lần và 7- 9 lần Năm 1989 và 1990 giá trị LD50 của thuốcgốc lân hữu cơ đối với quần thể lưng trắng Malaysia tăng 52- 340 lần, của thuốc

Carbamates tăng 4- 15 lần, của thuốc p,p’- DDT tăng 52- 66 lần so với giá trị

LD50 trong quần thể rầy lưng trắng Thái Lan năm 1977

Giá trị LD50 của Imidacloprid trong các quần thể rầy nâu thu thập từ Đông

Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan) và Việt Nam trong năm 2006 là 4,3-24,2

µg.g-1 và cao hơn đáng kể so với thu từ Philippines (0,18 -0,35 µg.g-1) Các quầnthể rầy nâu cho thấy sự kháng chéo tích cực giữa imidacloprid và thiamethoxam.Trong trường hợp của imidacloprid, tất cả các quần thể rầy lưng trắng có LD50 từ

Trang 20

06 μ gg -1) Đối với BPMC, LD50 trong rầy lưng trắng dao động từ 6,1-26 6 μ gg-1 và sự khác biệt là không đáng kể giữa quần thể rầy Đông Á và Đông Nam ÁHầunhư tất cả các quần thể rầy lưng trắng từ Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, ViệtNam và Philippines đã xác định được LD 50 (19,7-239 µg.g-1 hoặc hơn) củaFipronil, ngoại trừ một số quần thể từ Philippines và Trung Quốc Trong 48 và 72giờ sau khi điều trị,giá trị LD 50 giảm, nhưng một số vẫn còn cao sau 48 h thử

thuốc (Mastumura et al., 2008)

Theo Su et al.(2013),hầu hết các quần thể rầy lưng trắng ở Miền Đông,

Trung Quốc đã hình thành tính kháng thuốc mạnh đối với Buprofezin (lên tới 25lần) Khoảng 32% quần thể rầy lưng trắng phản ứng kháng thuốc ở mức độ vừaphải với Imidacloprid, trong khi đó một số quần thể có sự thay đổi nhỏ (7,6 lần) về

độ mẫn cảm với thuốc này Sự thay đổi về độ mẫn cảm của quần thể đối với thuốcThiamethoxam là tương đối thấp (<6 lần) và tương đối rõ rệt đối với Chlopryrifos(10,2 lần) Thống kê cho thấy có 8% quần thể kháng mạnh và 32% quần thể thểhiện tính kháng thấp với Chlopryrifos Hầu hết quần thể rầy lưng trắng (72%) mẫncảm với Pymetrozine và sự thay đổi độ mẫn cảm của quần thể ở mức tương đốithấp

Ozaki và Kassai (1982) đã theo dõi giá trị LD50 của các hoạt chất thuốc trừsâu đối với quần thể rầy lưng trắng ở khu vực Sikoku, Nhật Bản Sau khi so sánhkết quả năm 1976 và năm 1979 cho thấy giá trị LD50 của hoạt chất Malathiontăng 24 lần, thuốc Fenthion tăng 14 lần, trong khi đó giá trị này chỉ tăng nhẹ với 6nhóm thuốc thuộc nhóm lân hữu cơ và Carbamate.(Trích theo Nagata, 2002)

Trang 21

Su et al (2013) cho thấy hầu hết các quần thể rầy lưng trắng từ Nhật Bản,

Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines có giá trị LD50 của Fipronil cựclớn (9,7-239 µg.g-1 hoặc hơn) ngoại trừ một số quần thể từ Philippines và TrungQuốc Tính kháng thuốc Fipronil của rầy lưng trắng xảy ra rộng rãi ở các nước Đông

Giá trị LC50 của hoạt chất Imidacloprid ở quần thể rầy lưng trắng thuộcMiền Đông, Trung Quốc (2013) dao động từ 0.216mg/L( ở Nanning) đến 1.635mg/L(ở Qianshan) Như vậy, độ mẫn cảm giữa các quần thể rầy lưng trắng daođộng không lớn (7.6 lần giữa quần thể đến từ Nanning và Qianshan) ) 2 quần thểđến từ Nanning và Naxi có độ mẫn cảm thấp đối với hoạt chất Imidacloprid 7trong 25 quần thể (28%) đến từ Hejiang, Guilin, Jiangpu, Yixing, Minqing,Changsha và Qianshan cho thấy tính kháng mạnh đối với hoạt chất Imidacloprid

10 quần thể (40%) có tính kháng thấp đối với hoạt chất này Còn lại các quần thểkhác (32%) thì vẫn mẫn cảm trung bình với hoạt chất này Có tới 21 trên 25 quầnthể (84%) phát triển tính kháng mạnh đối với hoạt chất Buprofezin 2 quần thể đến

từ Minqing và Changsha thể hiện tính kháng thấp đối với hoạt chất này và duy nhấtmột quần thể đến từ Nanning không thể hiện tính kháng thuốc với Buprofezin.( Su

et al., 2013)

Nagata and Masuda (1980) cho rằng các mẫu rầy nâu và rầy lưng trắng thu

Trang 22

biệt là DDT so với các mẫu ở Nhật bản Không những thế, chúng còn có tỉ lệ khôngcánh cao hơn khá nhiều so với mẫu Nhật Bản khi được nuôi trên mạ 1 trong 2chủng rầy nâu từ Đài Loan khá tương tự với chủng Nhật Bản về độ nhạy với thuốctrừ sâu và tỉ lệ có cánh, trong khi loại kia nhạy cảm hơn với DDT và tỉ lệ không cánhcũng cao hơn Những điều này nói lên rằng quần thể sống trong vùng nhiệt đới của 2loài rầy này có nhiều khác biệt về đặc tính sinh lí và sinh thái so với quần thể sốngtrong môi trường ôn đới.

Qua kết quả của Masumura et al.(2008) cho ta thấy được tại mỗi quốc gia và

mỗi vùng của một quốc gia thì giá trị LD50 của mỗi hoạt chất với rầy nâu và rầylưng trắng là khác nhau Và tại mỗi vùng của mỗi quốc gia thì LD50 cũng rất khácnhau Hầu hết tất cả quần thể rầy lưng trắng thu được từ Nhật Bản, Đài Loan,Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đều có khoảng giá trị LD50 dao động 6.1 –26.6 µg- g-1 đối với hoạt chất 2-sec- Butylphenyl carbamate (BPMC) Tại NhậtBản, hiệu lực phòng trừ của biện pháp hóa học đối với rầy lưng trắng không đượcchú ý đến.Nghiên cứu cũng cho thấy rầy lưng trắng thường mẫn cảm nhất vớithuốc trừ sâu có giá trị LD50 nhỏ nhất

Năm 1985, Hosoda đã tìm thấy quần thể rầy lưng trắng ở Quận Hirosima cógiá trị LD50 của nhóm thuốc gốc lân hữu cơ cao hơn nhiều so với các báo cáotrước đó của Fukuda và Nagata (1969) Tỉ lệ kháng thuốc của rầy lưng trắng vớinhóm thuốc gốc lân hữu cơ (1985/1967) nhìn chung là cao, Malathion là 73 lần;Fenitrothion 51 lần; Phenthoate 39 lần và Diazinon là 7 lần ((Trích theo Nagata,2002).Trong khoảng thời gian 1987- 1994, giá trị LD50 của hoạt chất Carbaryl daođộng 1.0 ~ 38.5 μg/g và 1.2 ~ 40.8 μg/g với hoạt chất isoprocarb Như vậy trong

7 năm giá trị LD50 tăng lên 39 lần đối với hoạt chất Carbaryl và 34 lần đối vớiIsoprocarb (Nagata, 2002)

Giá trị LD50 của 7 hoạt chất trong rầy nâu và rầy lưng trắng thu thập tạiNhật Bản năm 2005 – 2007 (malathion, fenitrothion, MIPC, BPMC, carbaryl,

Trang 23

etofenprox, andimidacloprid) được đem so sánh với quần thể thu được ở Nhật Bảntrước năm 2001 Nói chung, kết quả thay đổi không đáng kể ngoại trừ sự gia tăngLD50 của Imidacloprid trong rầy nâu năm 1990 – 2007 Giá trị LD50 củaimidacloprid trong rầy nâu năm 2000 lớn hơn năm 1999 10 lần (Nagata et al.,

2002) và xu hướng này tiếp tục đến năm 2005 (Matsumura et al., 2009)

Trước những năm 1990, buprofezin, carbamates và organophosphates đóngmột vai trò quan trọng trong phòng trừ rầy nâu Nhờ có tác động độc nhất trong quátrình lột xác của giai đoạn sâu non, buprofezin trở thành thuốc trừ sâu có tính vượttrội do có tính hệ thống và tác động chống lại côn trùng tương đối nhanh, kết quả là

sự ứng dụng buprofezin đã tăng rõ rệt Tuy nhiên, imidacloprid được giới thiệu lầnđầu tiên vào đầu những năm 1990 tại Trung Quốc, đã nhanh chóng trở thành mộtloại thuốc được sử dụng rộng rãi Nhưng mức độ kháng imidacloprid quá cao củarầy nâu đã được tìm thấy ở nhiều cánh đồng lúa năm 2005 Bởi vậy, buprofezin đã 1lần nữa được giới thiệu lại như một thuốc trừ sâu chính để phòng trừ rầy (Yanhua

Wang et al., 2008).

Yanhua Wang et al.( 2008) chỉ ra rằng rầy nâu biến đổi tính kháng đáng kể

với thuốc trừ sâu Chúng phát triển tính kháng với neonicotinoids ở các mức độ khácnhau, có khả năng kháng cao với imidacloprid (RR: 135,3-301,3 lần), kháng thấpvới thiamethoxam và không có khả năng chống lại dinotefuran, nitenpyram vàthiacloprid (RR <3 lần) Một số quần thể kháng trung bình với Fipronil ( 10,5 lần),

có quần thể đã bắt đầu kháng thấp buprofezin Ngoài ra N lugens có thể phát triểntính kháng lên đến 1424 lần với imidacloprid trong phòng thí nghiệm sau 26 thế

hệ.Zewen et al.(2003) đã tiến hành nghiên cứu mức độ mẫn cảm của rầy nâu với

Imidacloprid và thấy được tính kháng của rầy nâu với hoạt chất này tăng 11,35 lầnsau 25 thế hệ và tỉ lệ kháng tăng 72,83 lần so với dòng mẫn cảm được nuôi trongphòng thí nghiệm

Trang 24

Imidacloprid là một loại thuốc trừ sâu chính để kiểm soát sâu bệnh, đã được

sử dụng rộng rãi trong nhiều năm.Rây nâu là một trong số ít các loài gây hại có khảnăng kháng Imidacloprid Năm 2005, Trung Quốc đã không thể kiểm soát được một

số quần thể rầy nâu do khả năng kháng thuốc quá lớn Khi nó xay ra, khángimidacloprid đã được nghiên cứu tại phòng thí nghiệm giám sát thực địa cho thấyrầy nâu không chỉ có thể kháng ở mức độ cao với imidacloprid mà còn tăng sức đềkháng của nó trong cùng mùa sinh trưởng Nguyên nhân có thể do mở rộng sử dụng

thuốc trừ sâu này để kiểm soát rầy nâu.(Wen et al., 2009)

Kết quả nghiên cứu đánh giá mức mẫn cảm của rầy nâu với hoạt chấtFenobucard ở đồng bằng sông Cửu Long của Phạm Văn Tương và công sự (2013)cho thấy mức độ mẫn cảm của rầy qua 3 năm (2009 – 2011) ở 3 địa điểm nghiêncứu đều giảm dần đối với hoạt chất này Khi so sánh giá trị LD50 của Fenobucardtrong rầy nâu qua từng năm với giá trị LD50 của dòng mẫn cảm thấy rằng rầy nâutại địa điểm nghiên cứu đã kháng với hoạt chất này và cũng tăng dần qua 3 năm

Theo Nguyễn Hữu Huân(2010), Fipronil có chỉ số nguy cơ cao nhất gây bộcphát rầy nâu, kế tiếp là các loại thuốc Diazinon, Cyfluthrin, Imidacloprid vàAbamectin Mức độ mẫn cảm của rầy nâu với hoạt chất này cũng giảm và khi sosánh với mức độ mẫn cảm Fipronil của dòng mẫn cảm cho thấy rầy nâu đã khángvới Fipronil và tính kháng cũng tăng dần (Phạm Văn Tương và công sự , 2013)

Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh và công sự (2013) cho thấy 7/7quần thể rầy nâu kháng với hoạt chất Fenobucarb với chỉ số kháng (11.18 – 33.31)

Có 4/7 quần thể rầy nâu kháng cao với hoạt chất Imidacloprid với chỉ số kháng(20,00 – 98,52) Có 2/7 quần thể rầy nâu kháng với hoạt chất Fipronil với chỉ sốkháng (11.78–18,52) Các quần thể rầy nâu đều có biểu hiện gia tăng mức độkháng qua các năm Hoạt chất Fenobucarb mức độ gia tăng tính kháng tăng 6,67lần, Imidacloprid 4,12 lần và đặc biệt hoạt chất Fipronil tuy có chỉ số kháng Rithấp so với các hoạt chất khác nhưng lại có mức độ gia tăng tính kháng cao tăng là

Trang 25

9,28 lần (từ năm 2009 – năm 2010) Đối với các quần thể rầy nâu có biểu hiệnkháng Fenobucarb và Imidacloprid thì hiệu lực trừ rầy nâu ngoài đồng ruộng củahoạt chất này có hiệu lực thấp hơn khi sử dụng đơn lẻ chúng Việc hỗn hợpFenobucarb với Imidacloprid hay Fipronil với Imidacloprid để trừ rầy nâu cho hiệuquả phòng trừ cao hơn Đây cũng là một trong các biện pháp hữu hiệu để khắcphục hiện tượng kháng thuốc của rầy nâu.

Tính mẫn cảm của rầy đối với thuốc được thể hiện qua giá trị LD50 Trongcùng thế hệ được nuôi dưỡng trên cây lúa được bón với mức độ đạm khác nhau,giá trị LD50 thu được sau khi thí nghiệm với 3 hoạt chất Fenobucard, Fipronil,Imidacloprid có xu hướng tăng tỉ lệ thuận với mức độ đạm bón cho cây lúa Rầyđược nuôi trên cây lúa được bón đạm với mức độ cao có tính mẫn cảm với cả 3hoạt chất thấp hơn rầy được nuôi trên cây lúa không bón đạm hay được bón vớilượng đạm thấp ( Phan văn Tương và cộng sự, 2012)

Trang 26

PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng: Quần thể rầy lưng trắng ( Sogatella fucifera Horvath) thu thập

được tại tại Thái Bình

- Vật liệu nghiên cứu:

+ Dụng cụ thu thập mẫu: ống hút rầy, được thiết kế chuyên dùng cho việchút rầy ngoài đồng ruộng cũng như trong phòng thí nghiệm, lồng lưới nuôi rầy baogồm cả khay gieo lúa để khi thu thập rầy có sẵn nguồn thức ăn

+ Dụng cụ nhân nuôi côn trùng: Nhà lưới, lồng lưới bao gồm lồng to có kíchthước(60x60x120) cm, các lồng lưới nhỏ có kích thước(40x40x60) cm,(30x30x30) cm, khay gieo mạ, giá thể, ống tuýp, điều hòa nhiệt độ, các dụng cụ đonhiệt độ, độ ẩm v.v

+ Dụng cụ thử tính kháng thuốc: Bộ micropipettes các loại có thể hút chínhxác tới 10μl, lọ thủy tinh, bình CO2(SGA) để gây mê rầy trưởng thành, đĩa petri,bút lông, hộp nhựa(được thiết kế thoáng khí để có thể nuôi được rầy sau khi xử lýthuốc tối thiểu 1 ngày), kính lúp cầm tay v.v…

+ Dụng cụ phục vụ cho thiết kế điều tra thí nghiệm ngoài đồng ruộng: Khaytráng dầu, ống hút, cọc tre, dây, bình bơm 16 lít, cốc đong, bộ can thủy tinh và một

số dụng cụ pha thuốc trừ sâu có độ chính xác cao

+ Cân phân tích: Cân phân tích Mettler Toledo AG245(có độ chính xác đến10-5), dùng cân trọng lượng rầy và thuốc thử thí nghiệm

+ Các hoạt chất thuốc thử nghiệm tính kháng của rầy lưng trắng: Profenofos,Imidacoprid, Pymethrozine, Thiosultapsodium

+ Phòng thí nghiệm: tủ lạnh, kính lúp, kính hiển vi, ống nghiệm, panh, dao,kéo, khay gieo mạ, lồng nuôi rầy…

Trang 27

+ Giống lúa nhân nuôi nguồn rầy lưng trắng ở miền Bắc và miền Trung làBắc Thơm 7.

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm : Phòng thí nghiệm và nhà lưới tại Bộ môn Côn trùng, KhoaNông học, Trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

- Thời gian : Tháng 01/2015 đến tháng 07/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên lúa tại một số tỉnh miền Bắc và miền

Nam trong những năm gần đây

- Đánh giá tính kháng của quần thể rầy lưng trắng ( Sogatella furcifera) tại

Thái Bình đối với 4 nhóm hoạt chất: Profenofos, Imidacloprid, Pymethrozine,Thiosultapsodium

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số hoạt chất đến một số đặc điểm sinh học

của rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) trên giồng BT7

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1.Nhân nuôi nguồn

3.4.1.1 Thu thập nguồn rầy lưng trắng tại các địa điểm nghiên cứu

- Phương pháp thu bắt: Rầy nâu và rầy lưng trắng được thu bắt bằng ống

hút, sau đó thả vào các hộp nhựa có sẵn mạ non trồng trong đất, đem về các phòngthí nghiệm để nhân nuôi quần thể Đối với những địa điểm lấy mẫu xa, các hộpnhựa chứa rầy được chuyển về phòng lưu trú, sau đó chuyển rầy vào các lồng nuôicôn trùng có sẵn mạ non để đảm bảo sức sống cho rầy trong quá trình lưu trú và dichuyển tại điểm thu mẫu

Trang 28

Hình 1: Thu bắt nguồn rầy

3.4.1.2 Nhân nuôi quần thể rầy lưng trắng phục vụ cho thí nghiệm đánh giá tính kháng của rầy lưng trắng đối với các hoạt chất

- Phương pháp thí nghiệm: Rầy lưng trắng sau khi thu bắt được tại các địa

điểm, đem về phòng thí nghiệm sau đó được chuyển ra nhân nuôi riêng rẽ trongcác lồng nuôi rầy để nhân số lượng lớn phụ vụ thí nghiệm Khi rầy vũ hóa rộ từ 5 –

7 ngày , dùng ống hút hút rầy cái chuyển vào lồng nuôi rầy với nguồn mạ mới đểcho rầy đẻ trứng Ngày hôm sau lấy khay mạ ra và rũ hết rầy vào trong mạ mới,cho trứng nở và phát triển Thay liên tục từ 3-5 ngày như vậy để có được nhữnglứa rầy đồng đều Thí nghiệm nhân nuôi rầy được tiến hành liên tục tại 3 phòng thínghiệm và nhà lưới Lúa được gieo liên tục trong các khay mạ, chậu trồng cây, ôchậu vại và ông xi măng để nhân nuôi và nuôi và lưu trữ nguồn rầy Những cá thểF1 trở đi mới bắt đầu tiến hành thí nghiệm

Trang 29

Hình 2: Nhân nuôi rầy

3.4.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng hại lúa

Thời gian tiền đẻ trứng = Ngày thấy trứng – Ngày ghép

3.4.2.2.Thí nghiệm xác định thời gian trứng

Từ thí nghiệm tiền đẻ trứng tiếp tục theo dõi cho chỉ tiêu xác định thời giantrứng Kiểm tra cây hàng ngày, khi nào có rầy nở thì ghi lại Thời gian trứng đượctính theo công thức:

Thời gian trứng = Ngày có rầy nở - Ngày ghép

3.4.2.3.Thí nghiệm xác định thời gian phát dục các pha sâu non

Tiếp tục theo dõi thời gian phát dục các pha sâu non của rầy trên các cốcnhựa thí nghiệm của thí nghiệm xác định thời gian trứng Hằng ngày theo dõi khi

Trang 30

lúa mới đã chuẩn bị sẵn Hàng ngày kiểm tra, ghi lại thời gian lột xác của rầy non.Thời gian phát dục các pha sâu non được tính theo công thức:

Thời gian phát dục các pha sâu non = Ngày lột xác chuyển tuổi - ngày lột xác chuyển tuổi kế trước

Tổng số trứng trung bình/ trưởng thành cái = tổng số rầy nở + tổng số rầy không nở

Tổng số rầy nở

Tổng số trứng trung bình / trưởng thành

Thời gian sống của trưởng thành= Ngày chết – Ngày vũ hóa

3.4.3 Hệ số tăng của quần thể

3.4.3.1 Thí nghiệm theo dõi thời gian phát dục của trứng

- Lúa: cây lúa được 7-10 ngày tuổi được cấy trong ống nghiệm, đầu trên

được bịt bằng vải màn, đánh số thứ tự trên ống

- Rầy vừa vũ hóa, bắt ghép đôi, thả vào ống nghiệm( 1 đôi rầy/ ống) đãchuẩn bị Sau 24h, cặp rầy trưởng thành được tách ra khỏi ống mạ cũ và chuyểnsang ống mạ mới Tiến hành chuyển ống mạ hàng ngày cho đến khi trưởng thànhchết Những cây lúa sau khi tiếp xúc với rầy được để cách ly theo dõi để xác địnhthời điểm trưởng thành cái bắt đầu đẻ trứng và thời gian tiền đẻ trứng Theo dõi

Trang 31

hằng ngày ghi rõ thời gian nở của quả trứng đầu tiên cho đến quả trứng cuối cùng

từ đó xác định thời gian phát dục của trứng

3.4.3.2 Thí nghiệm theo dõi thời gian phát dục của rầy non

Khi trứng bắt đầu nở thành rầy non tuổi 1, tách riêng để mỗi ống chỉ có một

cá thể rầy hàng ngày quan sát ghi chép sự lột xác qua các tuổi đồng thời ghi chép

số cá thể rầy chết tù đó tính được thời gian phát dục từng tuổi Số cá thể theo dõi n

≥ 30

3.4.3.3 Sức sinh sản của rầy và nhịp điệu sinh sản

Thả một cặp rầy đực cái mới vũ hóa vào ống nghiệm có cây mạ 7 ngày tuổiđược cách ly Sau 24h, cặp rầy trưởng thành được tách ra khỏi ống mạ cũ vàchuyển sang ống mạ mới Thí nghiệm thực hiện cho đến khi trưởng thành chết sinh

lý, ghi chép thời gian sống của trưởng thành đực cái Các ống lúa đã được tiếp xúcvới rầy hàng ngày được ghi chép số rầy cám nở Số cặp theo dõi ≥ 20

3.4.4 Đánh giá tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của quần thể rầy lưng trắng

- Nhóm hoạt chất thí nghiệm: Dựa trên nội dung điều tra hiện trạng sử

dụng thuốc Dự kiến một số nhóm hoạt chất sẽ được sử dụng trong thí nghiệm:S

T

T

6 Emamectin benzoate (Avermectin B1a 90% +Avermectin B1b 10%) Thuốc thuộc nhóm Avermectin,thuốc trừ sâu sinh học

Trang 32

- Phương pháp thí nghiệm: Theo nghiên cứu tính kháng thuốc của Việnnghiên cứu lúa quốc tế IRRI (Heong et al 2011)

- Các bước tiến hành thí nghiệm:

+ Bước 1: Xác định thang nồng độ thử thuốc cho từng nhóm hoạt chất

Các nhóm hoạt chất sử dụng trong thí nghiệm là hoạt chất chuẩn Thangnồng độ thử thuốc của từng nhóm hoạt chất được chia thành 5 – 10 bậc Nồng độtham chiếu (nồng độ trùng bình) được căn cứ vào nồng độ trung bình của hoạt chất

đó theo khuyến cáo của nhà sản xuất (thông tin này được thu thập qua phần điềutra ở nội dung 3.4.1) Các thang nồng độ khác nhau sẽ lần lượt được tăng lên theogiá trị 1-1,25-1,50 và giảm xuống lần lượt là 1-0,75-0,50…

Phương pháp pha : Dung dịch có nồng độ cao được dùng làm dung dịch mẹ

(liều 1), muốn chuyển sang nồng độ thấp hơn (liều 2) theo công thức:

C1V1 = C2V2

Trong đó: C1: Nồng độ thuốc ở liều 1

C2: Nồng độ thuốc ở liều 2

V1: Thể tích liều thuốc 1 cần để pha chế

V2: Thể tích liều thuốc 2 yêu cầu để pha chế

Tương tự làm như vậy để được nồng độ thấp nhất (liều n).

Vì các thuốc kỹ thuật không đạt độ tinh khiết tuyệt đối nên được hiệu chỉnhtheo hệ số CF để thuốc đạt 100% hoạt chất

Hệ số CF được hiệu chỉnh theo công thức:

100%

% a.i thuốc kỹ thuật

Trang 33

+ Bước 2: Tiến hành thử thuốc để thăm dò thang nồng độ chuẩn

- Tiến hành các thí nghiệm thử thuốc để thăm dò thang nồng độ đã xác định

ở thí nghiệm 1 khảo sát sơ bộ các nồng độ có thể gây chết trên và dưới 50% các thể

và các nồng độ tiệm cận Các thang nồng độ pha được nếu không đạt các ngưỡnggây chết đề ra sẽ được điều chỉnh lại sao cho phù hợp (thang nồng độ chuẩn vớimức 5 – 10 bậc, nồng độ cao nhất gây chết 90 – 95% số cá thể và nồng độ thấpnhất gây chết 5 – 10% số cá thể thí nghiệm)

- Thí nghiệm được tiến hành như mô tả trong thí nghiệm 3

+ Bước 3: Tiến hành thử thuốc để xác định LD 50 của quần thể rầy lưng trắng

- Thí nghiệm được tiến hành trên rầy, điều kiện nhiệt độ phòng ổn định

250C Dùng 10 – 20 con rầy cho mỗi lần tiến hành thí nghiệm và với ít nhất 3 lầnlặp lại cho mỗi công thức

- Pha thuốc: Dùng thuốc dạng kỹ thuật (Technical grade) pha chế dung dịchquy về CF để tính ra lượng thuốc cần pha theo liều lượng 1,2,4,8,… lũy tiến theologarit

- 20 cá thể rầy được hút chuyển vào ống hút côn trùng, sao đó được làm bấtđộng bằng CO2 trong thời gian khoảng 10 – 20 giây Khi rầy vừa bất động đổ lênđĩa petri có lót giấy thấm Dùng máy nhỏ giọt để nhỏ chính xác lên mảnh lưngngực trước của các cá thể rầy với thể tích thuốc đồng đều là 0,2µl Kỹ thuật nàyđược thực hiện dưới kính lúp soi nổi độ phóng đại 40 – 60 lần và đòi hỏi sự chínhxác cao Các thí nghiệm lặp lại cần tiến hành vào các ngày khác nhau để tránh sựsai số trong cùng một ngày

- Những cá thể rầy sau khi được tiến hành nhỏ thuốc sẽ được chuyển vào cácchai nhựa 15×7cm trong có sẵn 15 cây mạ 7-10 ngày sau gieo trồng Tỷ lệ chết củacác cá thể rầy thí nghiệm được theo dõi sau 24 giờ - 48 giờ

Công thức tính toán:

Trang 34

Giá trị LD50 của từng nhóm hoạt chất thí nghiệm đối với các quần thể rầynâu và rầy lưng trắng được tính toán theo chương trình POLO PLUS của Viện lúaquốc tế IRRI, xử lý trên máy vi tính Tỷ lệ chết của rầy thử nghiệm với nhóm hoạtchất có tương quan dương hay tương quan thuận với đường thẳng yk = ax + b Cácliều lượng của hoạt chất được logarit và tỷ lệ chết tương ứng với từng liều thửđược chuyển thành probit Mức độ tin cậy của giá trị LD50 được kiểm định bằngphương pháp χ2.

LD 50 được xác định theo công thức:

Nồng độ gây chết 50% cá thể rầy nâu (ppm) x 0,2 (µl)

1000 x trọng lượng trung bình của 1 con rầy

Chỉ số kháng Ri được xác định theo quy định của FAO (1980):

LD50 của thuốc đối với sâu hại khảo sát

LD50 của thuốc đối với sâu hại mẫn cảm

Nếu Ri < 10: Dòng sâu hại chưa xuất hiện tính kháng thuốc

Nếu Ri ≥ 10: Dòng sâu hại đã kháng thuốc

Trang 35

nghiệm thực hiện ở trong phòng nhiệt Cho rầy trưởng thành tiếp xúc với dảnh lúatrong 24h, sau 24h thay bằng 1 dảnh lúa mới, thí nghiệm tiến hành theo dõi liên tụccho đến khi rầy trưởng thành chết sinh lý Các dảnh lúa đã được tiếp xúc với rầyhàng ngày quan sát cho đến khi rầy non xuất hiện đếm số rầy non Các dảnh lúasau khi tách rầy non thì dùng kim tách và quan sát dưới kính lúp soi nổi đếm sốtrứng không nở.

Từ các công thức đối chứng và thí nghiệm thuốc 20- 30 cá thể rầy nonđược tiếp tục nuôi trong ống nghiệm có sẵn dảnh mạ sau 3- 4 ngày thay dảnh mạmới hàng ngày quan sát những cá thể rầy non cho đến khi vũ hóa trưởng thành ghichép tỷ lệ đưc/cái, số lượng rầy cánh ngắn, cánh dài

Trang 36

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV tại các hộ nông dân sản xuất lúa

ở một số tỉnh miền Bắc và miền Nam

4.1.1 Các giống lúa được trồng phổ biến tại miền Bắc và miền Nam năm 2013

Hiện nay, dân số ngày càng tăng với tốc độ rất nhanh, việc đáp ứng đủ lươngthực cho con người trên thế giới là một trong những mối quan tâm hàng đầu củanhiều quốc gia Để tiếp tục tăng sản lượng lương thực và xuất khẩu gạo trongnhững năm tới có nhiều vấn đề chúng ta cần phải tập trung nghiên cứu Trong đó,việc chọn lọc và xác định các giống lúa tốt có năng suất cao, chất lượng tốt, đápứng nhu cầu của người tiêu dùng và phù hợp với điều kiện sinh thái của các vùngsản xuất nông nghiệp là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết.Trong sản xuất, cácgiống lúa có năng suất cao, chất lượng ngày càng được sử dụng nhiều để phục vụnhu cầu tiêu dùng cũng như xuất khẩu Để biết được các giống lúa được trồng phổbiến tại các hộ nông dân sản xuât lúa chúng tôi tiến hành điều tra trên 4 tỉnh miềnbắc ( Hưng Yên, Phú Thọ, Thái Bình, Nghệ An) và 3 tỉnh miền Nam ( Cần Thơ,

An Giang, Tiền Giang), mỗi tỉnh điều tra 120 hộ nông dân thong qua phiếu điềutra Kết quả được trình bày ở bảng 4.1, 4.2

Bảng 4.1 Các giống lúa trồng phổ biến tại 4 tỉnh miền Bắc năm 2013

Trang 37

-Qua bảng 4.1 chúng tôi thấy , các tỉnh miền Bắc trồng nhiều giống lúa khácnhau Trong đó, trồng nhiều nhất ( 33 giống), sau đó là Phú Thọ ( 22 giống) Tiếp đến

là Thái Bình (26 giống) và cuối cùng là Nghệ An (25 giống) Giống lúa được trồngphổ biến nhất ở cả 4 tỉnh là Khang dân và Nếp Một số giống được trồng phổ biến tại

3 tỉnh Hưng Yên, Phú Thọ, Thái Bình phải kể đến đó là nếp 97, trong khi đó, Nghệ

An lại có nhiều hộ dân sử dụng giống Nhị ưu 986 (30 – 50%)( Phụ lục 1)

Bảng 4.2 Các giống lúa trồng phổ biến tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013

Giang

TiềnGiang

Như vậy, chúng ta có thể thấy giữa miền Bắc và miền Nam có cơ cấu giốnglúa trồng khác nhau Miền Bắc thì chủ yếu trồng các giống như Khang dân, Nếp 97

Trang 38

trong khi đó miền Nam lại trồng chủ yếu các giống như IR 50404 và Nàng hoachín.

4.1.2 Điều tra các giống lúa có biểu hiện kháng rầy tại một số tỉnh miền Bắc và miền Nam năm 2013

Rầy nâu và rầy lưng trắng là một trong 3 nhóm dịch hại quan trọng nhấttrên cây lúa Do vậy, việc phòng trừ chúng chiếm vai trò rất quan trong, một trongnhững biện pháp được nhiều người dân sử dụng hiện nay là trồng các giống lúakháng rầy.Để biết được các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu và rầy lưngtrắng, chúng tôi tiến hành điều tra trên 4 tỉnh miền Bắc ( Hưng Yên, Phú Thọ,Thái Bình Nghệ AN) và 3 tỉnh miền Nam ( Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang), mỗitỉnh điều tra 120 hộ nông dân thong qua phiếu điều tra Kết quả được thể hiện ởcác bảng 4.3, 4.4, 4.5, 4.6

4.1.2.1 Điều tra các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu tại một số tỉnh miền Bắc

và miền Nam năm 2013

Chúng tôi tiến hành điều tra tại 4 tỉnh miền Bắc ( Hưng Yên, Phú Thọ, TháiBình, Nghệ An) và 3 tỉnh miền Nam ( Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang) Kết quảcho thấy miền bắc có khá nhiều giống lúa có biểu hiện kháng rầy, miền Nam thì ítgiống hơn Kết quả được thể hiện ở bảng 4.3, 4.4

Trang 39

Bảng 4.3 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu tại 4 tỉnh miền Bắc năm

2013

Đv: %ý kiến hộ nông dân

<10 % ý kiến

hộ nông dân

8 (KD18, BTS17, GF9,

Nếp 97, RVT,

Syn6, Thịnh

Du, Mộc Thuyền)

9 (KD18, Hương thơm 1, VS1,

QR1, JO2, Nếp

97, Nếp 352, Nhị

ưu số 7, Q5)

11 (DT68, TBR225, TBR1, Lúa Nhật, BC15, Bắc thơm, Nếp, NB01, BT7, BC16, Lúa lai)

12 (Hương thơm 1, ZZD04, ZZD01, Cưu đa hệ, Lai

986, IR17494, IR352, Tạp giao, DDT52, Nếp Hà Nội, Nhị ưu 986, GS9)

(QR1)

2 (DS1, BC15)

-Qua bảng 4.3 chúng ta có thể thấy, qua điều tra 120 hộ nông dân của 4 tỉnhmiền Bắc thì có khá nhiều giống lúa được trồng có biểu hiện kháng rầy nâu trong

năm 2013, đầu tiên là Nghệ An ( 15 giống), sau đó là Thái Bình (13 giống), tiếp

đến là Phú Thọ (10 giống) và cuối cùng là Nghệ An ( 8 giống) Trong số các

giống có biểu hiện kháng rầy nâu thì giống Nếp 97 là giống được ghi nhận ở

nhiều tỉnh (3/4 tỉnh) và KD có tỉ lệ ý kiến hộ dân cho rằng có biểu hiện kháng rầy

nâu cao nhất (30 – 50%) Hai giống này cũng là giống được trồng nhiều nhất tại

miền Bắc

Trang 40

Bảng 4.4 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu tại 3 tỉnh miền Nam năm

-10 –30% Ý kiến hộ nông dân 3

(IR5040

OM5451,

Nàng hoachin)

4

(OM4900,OM4218,

OM 8017,OM7347)

-Qua bảng 4.4 chúng ta thấy, miền Nam cũng có một số giống lúa đươc ghinhận là có biểu hiện kháng rầy nâu, cao nhất là Tiền Giang (9 giống), sau đó là

An Giang (5 giống) và cuối cùng là Cần Thơ (3 giống) Trong số các giống cóbiểu hiện kháng rầy nâu thì OM5451, OM4900, OM6976 được 2/3 tỉnh ghi nhận

là có biểu hiện kháng rầy nâu Đây cũng là các giống được trồng phổ biến ở miềnNam

Như vậy, qua điều tra các giống có biểu hiện kháng rầy nâu ở một số tỉnhmiền Bắc và miền Nam chúng tôi thấy rằng miền Bắc có giống lúa có biểu hiệnkháng rầy hơn miền Nam Do cơ cấu giống được trồng khác nhau mà các giốnglúa có biểu hiện kháng rầy cũng khác nhau và những giống có biểu hiện khángrầy thường là các giống được trồng phổ biến tại 2 miền

Ngày đăng: 20/11/2015, 17:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Cảnh giác rầy nâu, rầy lưng trắng cuối vụ”. Báo Nông Nghiệp Việt Nam, 7/6/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh giác rầy nâu, rầy lưng trắng cuối vụ
2. “Nguy hiểm rầy lưng trắng” . Chi cục bảo vệ thực vật . 11/03/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy hiểm rầy lưng trắng
3. “Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2014”, Tổng cục thống kê. 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2014
4. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ( 2013), Thông Tư “ Ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng và danh mục bổ sung giống cây trồng được phép sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành danh mục thuốc bảovệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng và danh mục bổ sung giống câytrồng được phép sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam
5. Bộ Nông ngiệp và phát triển nông thôn, “ Danh lục các hoạt chất phổ biến trừ rầy( Trong đó có rầy lưng trắng) hại lúa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các hoạt chất phổ biến trừ rầy( Trong đócó rầy lưng trắng) hại lúa
6. Chi cục Bảo vệ thục vật Nam Định, sổ tay kỹ thuật quản lý rầy và bệnh lùn sọc đen hại lúa (2012) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Thu bắt nguồn rầy - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Hình 1 Thu bắt nguồn rầy (Trang 28)
Hình 2: Nhân nuôi rầy - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Hình 2 Nhân nuôi rầy (Trang 29)
Bảng 4.1 Các giống lúa trồng phổ biến tại 4 tỉnh miền Bắc năm 2013 - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.1 Các giống lúa trồng phổ biến tại 4 tỉnh miền Bắc năm 2013 (Trang 36)
Bảng 4.3 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu tại 4 tỉnh miền Bắc năm - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.3 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu tại 4 tỉnh miền Bắc năm (Trang 39)
Bảng 4.4 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu tại 3 tỉnh miền Nam năm - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.4 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy nâu tại 3 tỉnh miền Nam năm (Trang 40)
Bảng 4.5 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưng trắng tại 4 tỉnh miền Bắc - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.5 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưng trắng tại 4 tỉnh miền Bắc (Trang 41)
Bảng 4.6 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưng trắng tại 3 tỉnh miền Nam - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.6 Các giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưng trắng tại 3 tỉnh miền Nam (Trang 42)
Bảng 4.7 Thứ tự các loài sâu rầy quan trọng nhất tại 4 tỉnh miền Bắc trong - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.7 Thứ tự các loài sâu rầy quan trọng nhất tại 4 tỉnh miền Bắc trong (Trang 43)
Bảng 4.10Thứ tự các loài sâu quan trọng nhất tại 3 tỉnh miền Nam trong năm - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.10 Thứ tự các loài sâu quan trọng nhất tại 3 tỉnh miền Nam trong năm (Trang 45)
Bảng 4.12 Tỷ lệ % hộ nông dân sử dụng thuốc dưới dạng hỗn hợp hoặc đơn lẻ - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.12 Tỷ lệ % hộ nông dân sử dụng thuốc dưới dạng hỗn hợp hoặc đơn lẻ (Trang 57)
Bảng 4.13 Tỷ lệ % hộ nông dân sử dụng thuốc dưới dạng hỗn hợp hoặc đơn lẻ - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.13 Tỷ lệ % hộ nông dân sử dụng thuốc dưới dạng hỗn hợp hoặc đơn lẻ (Trang 58)
Hình dịch hại trên lúa từ - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Hình d ịch hại trên lúa từ (Trang 59)
Bảng 4.15  Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013 - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.15 Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại 3 tỉnh miền Nam năm 2013 (Trang 61)
Bảng 4.16 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.16 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục (Trang 62)
Bảng 4.17 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục - Khóa luận: Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân và đánh gía tính kháng thuốc của quần thể rầu nâu (nilaparvata lugens stal ) tại cần thơ đối với một số nhóm hoạt chất trong vụ xuân năm 2015”
Bảng 4.17 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w