Khi thấy hiệu quả của các loại thuốc trừ rầy trên đồngruộng bị suy giảm do rầy nâu đã quen thuốc và hình thành tính kháng thuốc,người nông dân thường tăng nồng độ thuốc sử dụng, tăng lượ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
(NILAPARVATA LUGENS STAL) Ở NGHỆ AN ĐỐI VỚI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài khóa luận này, ngoài sự phấn đấu nỗ lực của bảnthân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cánhân Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoaNông học - trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôitrong suốt quá trình nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS HồThị Thu Giang – Bộ môn côn trùng – Khoa Nông học đã tận tình giúp đỡ tôitrong thời gian nghiên cứu và viết khóa luận để tôi hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn bà con huyện cô chú ở chi cục bảo vệ thực vậtvùng IV và bà con ở xã Nghi Trung-Hưng Nguyên - Nghệ An đã tạo điều kiệngiúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và thu thập rầy trên đồng ruộng Cuối cùng,tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôitrong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 07 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Tiến Qúy
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH vi
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Một số khái niệm về tính kháng thuốc ( Pesticides Resistance) 4
2.2 Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học và tính kháng thuốc của rầy nâu 5
2.2.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước 5
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 13
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 18
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1 Phương pháp điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy tại Nghệ an-Đối tượng khảo sát: Hộ nông dân của 3 huyện ở tỉnh Nghệ An 19
3.4.2 Đánh giá tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của quần thể rầy nâu 20
3.4.3 Nghiên cứu kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV có hiệu quả để quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu 25
Trang 4PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Tình hình sử dụng thuốc trên đồng ruộng thông qua điều tra nông dân ở 3 huyện: Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Thanh Chương tỉnh Nghệ An 28
4.1.1 Các giống lúa được trồng phổ biến một số huyện ở tỉnh Nghệ An năm 2013 (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %) 28
4.1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại các địa điểm nghiên cứu tỉnh Nghệ An 33
4.1.3 Số lần phun thuốc trừ sâu trong một vụ lúa tại một số huyện ở tỉnh Nghệ An ( 2003- 2013) 36
4.2 Đánh giá tính kháng của quần thể rầy nâu(Nilaparvata lugens Stal) ở Nghệ An với một số nhóm hoạt chất thuốc trừ sâu 43
4.3 Nghiên cứu sử dụng luân phiên thuốc bảo vệ thực vật hợp lý trên đồng ruộng 47
PHẦN 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Các giống lúa được trồng phổ biến một số huyện ở tỉnh Nghệ
An năm 2013 (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %) 28Bảng 4.2 Thứ tự các loài sâu rầy quan trọng nhất trong những năm gần của
một số huyện ở tỉnh Nghệ An (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %) 32Bảng 4.3 Số loại thuốc thương phẩm và số loại hoạt chất thuốc trừ sâu trên
lúa đã được nông dân sử dụng tại một số huyện ở tỉnh Nghệ An 33Bảng 4.4 Các hoạt chất trừ sâu được sử dụng để phòng trừ rầy trên lúa
2013 của một số huyện ở tỉnh Nghệ An 34Bảng 4.5 Số loại thuốc trừ rầy được dùng nhiều nhất từ 2003 đến 2013 tại
một số huyện ở tỉnh Nghệ An (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %) 36Bảng 4.6 Số lần phun thuốc trừ sâu trong một vụ lúa tại một số huyện ở
tỉnh Nghệ An (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %) 37Bảng.4.7 Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại một
số huyện ở tỉnh Nghệ An (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %) 38Bảng 4 8 Tỷ lệ % hộ nông dân sử dụng thuốc dưới dạng hỗn hợp hoặc đơn
lẻ tại một số huyện ở tỉnh Nghệ An 41Bảng 4.9 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc
phục sự giảm hiệu lực của thuốc tại một số huyện ở tỉnh Nghệ An 42Bảng 4.10 Hiệu lực của hoạt chất profenofos đối với rầy nâu Nghệ An
trong phòng thí nghiệm 44Bảng 4.11 Hiệu lực của hoạt chất Thiosultarb - sodium đối với rầy nâu
Nghệ An trong phòng thí nghiệm 44Bảng 4.12 Hiệu lực của hoạt chất Imidacloprid đối với rầy nâu ở Nghệ An
trong phòng thí nghiệm 45
Trang 6Bảng 4.13 Hiệu lực của hoạt chất Pymethrozin đối với rầy nâu ở Nghệ An
trong phòng thí nghiệm 45
Bảng 4.14 Tính kháng thuốc một số hoạt chất của quần thể rầy nâu ở Nghệ An 46
Bảng 4.15 Hiệu lực trừ rầy nâu của các thuốc khác nhau (phun lần 1) 49
Bảng 4.16 Hiệu lực trừ rầy nâu của các thuốc khác nhau (phun lần 2) 50
Bảng 4.17.Hiệu lực trừ rầy nâu của các thuốc khác nhau (phun lần 3) 51
Bảng 4.18 Mật độ rầy nâu hại lúa ở các công thức thí nghiệm trước thu hoạch 7 ngày, 10 ngày 52
Bảng 4.19 Một số yếu tố cấu thành năng suất ở các công thức luân phiên thuốc .54
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình ảnh 3.1 Khu trồng lúa cách ly để nhân nuôi rầy 21Hình ảnh 3.2: Lồng mica, lồng lưới nhân nuôi quần thể 21Hình ảnh 3.3: Pha thuốc, nhỏ thuốc và theo dõi cá thể sau thử thuốc 24Hình 4.1 Các ruộng công thức luân phiên thuốc, ảnh điều tra và rầy nâu
chết sau khi xử lý thuốc 48Hình 4.2 Hình ảnh tiến hành đếm cân số hạt để tính năng suất thực tế và
năng suất thực thu 53
Trang 8PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây lúa là cây trồng cần thiết, lâu đời của nhân dân ta và nhiều dân tộckhác trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc Châu Á Khoảng 40% dân số trên thếgiới lấy lúa gạo làm nguồn lương thực chính (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Cây lúa
là cây lương thực chủ lực của Việt Nam, giữ vị trí hàng đầu trong ngành nôngnghiệp nước nhà Trong những năm gần đây, sản xuất lúa gạo ở nước ta đã đạtnhững thành tựu to lớn, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nội địa và dự trữ quốc,đồng thời trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới (Nguyễn ThịHồng Vân, 2010) Theo cục trồng trọt tổng diện tích lúa của Việt Nam trongnăm 2012 khoảng 7.76 triệu ha năng suất đạt khoảng 56,5 tạ/ha với tổng sảnlượng 43.7 triệu tấn
Bên cạnh những thành công vượt bậc trong sản xuất lúa đặc biệt là nângcao năng suất và sản lượng lúa, thì người nông dân trồng lúa cũng đứng trướcnhiều khó khăn như thiên tai, dịch bệnh, côn trùng gây hại Có rất nhiều loài côntrùng gây hại như: rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân….gây
thiệt hại lớn cho người nông dân Trong đó, rầy nâu Nilaparvata lugens Stal là
loài côn trùng gây hại nguy hiểm nhất hiện nay ở vì ngoài việc chích hút gây hạicây lúa, loài rầy này còn là môi giới truyền bệnh virus cho cây lúa như bệnhvàng lùn, vàng xoắn lá
Rầy nâu xuất hiện và gây hại hầu hết các tỉnh trồng lúa cả nước Từ lâurầy nâu được coi là một trong những loài sâu hại quan trọng ở hầu hết các vùngsản xuất lúa trọng điểm Theo thông báo của cục BVTV, 2014 thì diện tíchnhiễmrầy nâu và rầy lưng trắng là 32.243,6 ha (tăng 9.100 ha so với kỳ trước), trong
đó nặng 2.916,8 ha Rầy phân bố nhẹ tại tại các tỉnh Bắc Trung bộ 2.727,6 ha;các tỉnh ĐBSCL 1.955 ha Rầy tập trung chủ yếu tại các tỉnh Bắc bộ trên lúa chắcxanh - chín như Vĩnh Phúc, một số tỉnh miền núi phía Bắc với diện tích nhiễm 27.204
ha , nặng 2.852 ha; ở các diện tích có mật độ rầy cao các tỉnh đã phòng trừ được
Trang 926.749 ha Một số diện tích tại Điện Biên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang, TháiNguyên, Hải Dương mật độ nơi cao >10.000-20.000 con/m2 gây “cháy rầy”.
Để phòng trừ chúng hiện nay biện pháp chính vẫn là sử dụng thuốc trừsâu hóa học Nhưng người nông dân do thiếu hiểu biết về tính kháng thuốc củasâu hại lúa nói chung và của rầy nâu hại nói riêng cũng như các biện pháp khắcphục tính kháng của rầy nâu nên họ vẫn có thói quen sử dụng 1 loại thuốc liêntục, ít thay đổi loại thuốc Khi thấy hiệu quả của các loại thuốc trừ rầy trên đồngruộng bị suy giảm (do rầy nâu đã quen thuốc và hình thành tính kháng thuốc),người nông dân thường tăng nồng độ thuốc sử dụng, tăng lượng thuốc dùng,phun nhiều lần trong một vụ, dũng hỗn hợp nhiều loại thuốc với nhau trong mộtlần phun… Với hy vọng khống chế được quần thể rầy nâu trên đồng ruộng Tuynhiên các nỗ lực này của người sản xuất đã không mang lại hiệu quả như mongmuốn và hậu quả của việc sử dụng thuốc thiếu cân nhắc này đã làm cho tínhkháng thuốc của rầy nâu phát triển nhanh và nghiêm trọng hơn
Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :'' Điều tra
hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy của nông dân tại Nghệ An Đánh giá tính
kháng thuốc của quần thể rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) ở Nghệ An đối
với một số nhóm hoạt chất BVTV vụ xuân 2015''
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy nâu hại lúa tại Nghệ An, từ
đó xác định mức độ kháng thuốc của rầy nâu đối với một số nhóm hoạt chất, lựachọn các hoạt chất phù hợp để sử dụng luân phiên nhằm đề sử dụng thuốc trừsâu hợp lý có hiệu quả trong phòng chống rầy nâu hại lúa, góp phần nâng caosuất, phẩm chất và sản lượng lúa ngoài ra còn góp phần bảo vệ sức khỏe chongười sử dụng và môi trường
1.2.2 Yêu cầu
Nắm được hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy trên lúa của nông dân 3huyện Hưng Nguyên,Nghi Lộc và Thanh Chương ở tỉnh Nghệ An
Trang 10 Xác định tính kháng thuốc của quần thể rầy nâu Nghệ An đối với một
số nhóm hoạt chất chính dựa trên phương pháp nhỏ giọt
Lựa chọn các hoạt chất phù hợp để sử dụng luân phiên nhằm đề xuấtchu kì biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu hợp lý có hiệu quả trong phòng chốngrầy nâu hại lúa
Trang 11PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1.Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm về tính kháng thuốc ( Pesticides Resistance)
Hiện nay có nhiều định nghĩa về tính kháng thuốc :
Theo định nghĩa của WHO (1976) : tính kháng thuốc là sự giảm sút phảnứng của quần thể động hay thực vật đối với một số loại thuốc trừ dịch hại, sau mộtthời gian dài quần thể này liên tục tiếp xúc với thuốc đó khiếm cho những loài sinhvật ấy chịu được lượng thuốc lớn có thể tiêu diệt được hầu hết các cá thể cùng loàichưa chống thuốc Khả năng này được di truyền qua đời sau, dù cá thể đời sau cóhay không tiếp xúc với thuốc ( Nguyễn Trần Oánh và cộng sự, 2006)
Theo IRAC ( Insecticide Resitance Action Committee) (2000) tính khángthuốc trừ sâu là sự thay đổi tính mẫm cảm và di truyền trong quần thể dịch hại, biểuhiện bằng sự thiệt hại lặp lại khi phòng trừ dịch hại bằng thuốc bảo vệ thực vật theokhuyến cáo ghi trên nhãn sản phẩm (dẫn theo Nguyễn Thanh Hải, 2011)
Sự giảm sút phản ứng của một quần thể đối với một loại thuốc trừ dịch hại
do kết quả của việc dùng thuốc thường xuyên, khiến chúng trở nên chịu đựngđược những lượng thuốc lớn mà với lượng thuốc này có thể tiêu diệt được hầuhết các cá thể của một quần thể cùng loài chưa chống thuốc có thể được hiểu làtính kháng thuốc Việc sử dụng lặp lại một hóa chất sẽ loại bỏ các cá thể mẫncảm và tỉ lệ cá thể kháng sẽ tăng và cuối cùng số cá thể kháng sẽ trội lên trongquần thể Nếu trong một quần thể tỷ lệ các cá thể mang gen kháng là 1/10.000,nếu tiếp xúc liên tục với hóa chất qua 15 thế hệ liên tục thì tỷ lệ kiểu di truyềnkháng thuốc tăng lên 1/30 và sau 7 thế hệ nữa (22 thế hệ ) tỷ lệ kiểu di truyềnkháng thuốc trong quần thể này tăng tới 1/10 Sau những khoảng thời gian dài
sử dụng ở một vùng một nòi chống thuốc có thể được hình thành khi một bộphận của quần thể sâu hại có khả năng chống chịu được với thuốc khi tiếp xúctrong một khoảng thời gian dài Bộ phận quần thể sâu hại này tạo được vượt quatác động của thuốc, rồi phát triển dần lên chiếm ưu thế trong quần thể Khả năng
Trang 12này sẽ di truyền sang đời sau dù các thế hệ cá thể sau có hay không tiếp xúc vớithuốc ( Nguyễn Phạm Hùng, 2009).
Đối với các quần thể rầy nâu thường tập trung với mật độ rất lớn và đanguồn gen do có sự di trú, cộng với áp lực chịu thuốc trong một thời gian dài vàđều đặn Đây là yếu tố rất thuận lợi cho việc hình thành nên tính kháng thuốc
đối với loài rầy nâu Nilaparvata lugens Stall ( Nguyễn Thanh Hải, 2011).
2.2 Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học và tính kháng thuốc của rầy nâu.
2.2.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước
2.2.1.1 Đặc điểm sinh học của rầy nâu
Rầy nâu hại lúa có tên khoa học là Nilaparvata lugens Stal Họ Muội bay
(Delphacidae), Bộ cánh đều ( Homoptera)
Rầy nâu được Stal đặt tên đầu tiên vào năm 1854 là Delphax lugens Stal.
Sau đó được đổi tên thành Nilaparvata bởi Muir và Giffard năm 1924 (Dẫn theoNguyễn Danh Định, 2009)
Theo Mochida, (1979) rầy nâu phân bố ở hầu hết các nước trồng lúa nướcvùng Đông Nam châu Á như Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia, Lào, Bangladesh,Indonesia, Srilanca, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,Việt Nam Ký chủ rầy nâu chủ yếu là cây trồng và cây dại thuộc họ hoà thảo Lúanước là ký chủ chính của rầy nâu do đó thời gian không trồng lúa hoặc để ruộngnghỉ không có lúa chét có thể làm giảm số lượng rầy Lúa chét có thể góp phầnlàm tăng số lượng rầy khi lúa gần chín, có thể là chỗ thích hợp để rầy nâu sinhsản Trứng rầy thường được đẻ thành từng ổ ở trong mô của bẹ lúa và trongphiến lá, khi mật độ rầy quá cao thì rầy có thể đẻ trứng phần trên của cây lúahoặc lá lúa Số lượng trứng tùy thuộc vào giai đoạn của cây lúa.Ở vùng nhiệtđới, giai đoạn trứng khoảng 7-11 ngày, giai đoạn rầy non từ 10-15 ngày.Thờigian của từng giai đoạn phụ thuộc vào nhiệt độ và giống cây trồng.Trong điềuthích hợp con cái đẻ từ 100-200 trứng
2.2.1.2 Tính kháng thuốc của rầy nâu.
Rầy nâu đã tồn tại nhiều năm và gây hại trên diện tích lớn ruộng lúa ở
Trang 13châu Á Mật độ rầy nâu phát triển rất nhanh và gây hại rất nặng đến mùa màng ởmột vài quốc gia ở châu Á Theo báo cáo của các nước như Ấn Độ, Indonesia,Philippines và SriLanka thì rầy nâu là loài côn trùng gây hại trên diện rộng và có
sự di trú không ổn định ở nhiều quốc gia Rầy nâu là loài côn trùng gây hại lớnnhất trên ruộng lúa hiện nay, bởi vì chúng không những phá hoại không thể báotrước mà còn gây hại rất lớn một cách đột ngột(Dyck V A và B Thomas ,1979)
Kết quả nghiên cứu của Xue j et al (2010) cũng cho thấy rằng rầy nâu là
một trong những loài côn trùng gây hại nghiêm trọng nhất trên lúa ở châu Á.Rầy nâu chủ yếu hút nhựa cây và lan truyền virus thực vật, ví dụ virus lùn xoắn
lá (RRSV) và virus vàng lùn (RGSV) Ở Trung Quốc, rầy nâu đã gây thiệt hạilên tới hàng triệu tấn lúa mỗi năm kể từ năm 2005 Hiện nay, biện pháp hóa họcvẫn là phương pháp chọn lựa đầu tiên để kiểm soát rầy nâu Tuy nhiên, việc lạmdụng thuốc trừ sâu dẫn đến tính kháng thuốc và sự gia tăng mạnh của rầy, và nó
làm nghiêm trọng thêm tình trạng ô nhiễm môi trường
Sự phát triển tính kháng của rầy nâu và cơ chế của nó đã được nghiên cứu
từ lâu Mức mẫn cảm của dòng rầy nâu kháng Malathion và dòng rầy nâu khángMTMC với thuốc Malathion giảm tương ứng là 39 và 25 lần và với thuốcMTMC giảm tương ứng 2.5 và 4.2 lần sau 45 thế hệ chọn lọc, trong khi đó với
MTMC là 2.5 lần và 4.2 lần (Endo et al., 1988).
Theo Nagata (2002), sự thay đổi tính mẫn cảm đối với thuốc trừ sâu củacôn trùng di cư hại lúa diễn ra hàng năm, điển hình là rầy nâu và rầy lưng trắng.Điều tra tại Nhật Bản cho thấy, giá trị LD50 gia tăng trong khoảng thời gian từ
1967 – 1983, với giá trị khá cao vào năm 1979 và bất ngờ tăng mạnh vào năm
1984, 1985 với giá trị cao nhất từng được ghi nhận, sau đó lại giảm về mức củanăm 1979 và không đổi cho tới hiện tại
Kết quả khác của Nagata cho biết việc cấm sử dụng Beta hexachlorocyclohaxane(BHC) ở Trung Quốc từ đó dẫn đến việc sử dụng các thuốc lân hữu cơ làm chotính kháng thuốc của rầy nâu nhóm thuốc này tăng lên nhanh chóng Đến thập kỷ
80 của thế kỷ 20, các nghiên cứu của Trung Quốc cho biết sau 7 năm sử dụng, giá
Trang 14trị LD50 của thuốc BHC tăng 22 lần, Monocrotophos tăng 78 lần, Methamidophostăng 13 lần, Carbaryl tăng 39 lần, Isoprocard tăng 34 lần và Malathion tăng 15 lần.Năm 1992, quần thể rầy nâu ở Sunphan buri của Thái Lan được đánh giá với 11loại thuốc và kết quả cho thấy, giá trị LD50 tăng từ 10 đến 40 lần so với giá trịLD50 xác định năm 1977
Sự kháng thuốc của quần thể rầy nâu thu thập được ở Trung Quốc đối vớihoạt chất isoprrocarb (MIPC) và 3-methyl phenyl methylcarbamat ( MTMC)giảm nhẹ sau khi nuôi trong phòng thí nghiệm 13 thế hệ Phương pháp càng tăng
áp lực đối với các hoạt chất thì thấy: với isoprocarb thì tính kháng phát triển 6,1lần sau 6 thế hệ và MTMC thì tính kháng phát triển 8 lần sau 7 thế hệ
(Padmakumari et al., 2002 ).
Những thay đổi tính mẫn cảm của một số quần thể đối với thuốc trừ sâu
đã xuất hiện trong rầy ở châu Á (ví dụ như rầy nâu đối với hoạt chấtImidacloprid và rầy lưng trắng với hoạt chất Fipronil) Tính kháng thuốc trừ sâucủa rầy nâu đối với Imidacloprid xuất hiện ở Châu Á trừ Philippin Ngược lại,tính kháng thuốc trừ sâu của rầy lưng trắng đối với Fipronil xuất hiện ở cả Đông
Á và Đông Nam Á (Masaya Matsumura, et al., 2008).
Quần thể rầy nâu thu thập được trên đồng ruộng ở Đài Loan vào năm
1982, với mức kháng cypermethrin, deltamethrin và fenvalerate thấp hơn nhiều( 10-50 lần) và có tính kháng cao với DDT Nghiên cứu về tính kháng thuốc trừsâu của quân thể rầy nâu tại Đài Loan đối với 14 loại thuốc trong năm 1977-
1983 cho biết trong năm 1980 rầy nâu kháng carbaryl tăng 8.4 lần và carbofurantăng 14.8 lần, kháng malathion và monocrotophos đạt mức cao kỷ lục so vớinăm 1976 Năm 1981 và 1982, tính kháng với hầu hết các thuốc carbamate vàorganophosphates giảm dần nhưng trong 1983 lại kháng với 14 loại thuốc trừsâu một lần nữa.Năm 1982, kháng 4 loại thuốc trừ sâu từ 2.4 đến 15.5 lần trong
6 địa phương và trong năm 1983 tăng 2.4 đến 6.4 lần Wang et al (l988a) đãnghiên cứu ở các địa phương về sự khác biệt trong khả năng kháng thuốc trừ sâucarbaryl, carbofuran, malathion và monocrotophos giữa năm 1982 và năm 1984
Trang 15của rầy nâu trên cây lúa tại Trung Đài Loan Tỷ lệ ở mức tối đa và ở mức tốithiểu LC50 đa dạng từ 2.4 đến 15.5 lần cho rầy nâu thu được trong mùa thu năm1982-1984, nhưng chỉ có 2,3 đến 2,9 lần trong các cuộc điều tra thực hiện trong
cây trồng mùa xuân năm 1984 Wang et al.(1997) theo dõi sự mẫn cảm của rầy
nâu ở phía dưới thung lũng sông Dương Tử 1991-1995 và kết luận rằng tínhkháng hơi khác một chút mặc dù có là biến động trong giá trị LD50
2005 và 2006, kết quả nghiên cứu này cho thấy trong 12 mẫu thu thập năm
2005, chỉ có 2 mẫu thu thập muộn nhất từ Ấn Độ đã tăng tỉ lệ sống sót, trong khicác liều còn lại vẫn duy trì được tính mẫn cảm đối với nhómImidacloprid.Nhưng năm 2006, tất cả 13 mẫu thu thập đã tăng tỉ lệ sống lên 100
lần so với dòng mẫn cảm của chúng (Gorman et al., 2008)
Theo Matsumura et al (2009), năm 2003 sự phát triển thuốc trừ sâu đối với Neonicotinoid (chủ yếu là Imidacloprid) của loài rầy nâu Nilaparvata lugens
Stal (Homoptera: Delphacidae),lần đầu tiên được phát hiện ở Thái Lan và từ đótìm thấy ở các nước Châu Á khác như Việt Nam,Trung Quốc và Nhật Bản Tuy
nhiên giá trị LD50 của rầy nâu và rầy lưng trắng Sogatella furcifera
(Horvath),đối với cả hai nhóm thuốc trừ sâu neonicotinoid và phenylpyrazole
Trang 16( chủ yếu là Fipronil) đã được công bố không đáng kể ở nhiều nước Châu Á.
Các giá trị LD50 của Imidacloprid trong quần thể rầy nâu thu thập từ khuvực Đông Á (Nhật Bản, Trung Quốc,Đài Loan) và Việt Nam trong năm 2006 làcao hơn đáng kể so với các giá trị đã thu thập từ Việt Nam trong những nămtrước đó Các quần thể rầy nâu có khả năng kháng chéo giữa Imidacloprid vàThiamethoxam Cũng theo báo cáo trên hầu hết tất cả quần thể rầy từ Nhật Bản,Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam và Philippin giá trị LD50 rất lớn với nhómFipronil, tác giả cũng cho rằng mức độ kháng thuốc trừ sâu đối với rầy lưngtrắng đối với nhóm fipronil xảy ra ở phạm vi rộng ở các vùng trồng lúa Đông vàĐông Nam Châu Á
Một số quần thể rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) được Zewen et al (2003) thu thập và lựa chọn để xác định tính kháng Imidacloprid trong phòng thí
nghiệm Kết quả cho thấy tính kháng tăng 11,35 lần trong 25 thế hệ và tỷ lệkháng đạt 72,83% so với quần thể rầy nâu mẫn cảm trong phòng thí nghiệm.Các quần thể kháng thuốc đã chọn cho thấy rõ ràng kháng chéo vớiacetylcholine (monosultap 1,44 lần, acetamiprid 1,61 lần, tương đồngimidacloprid JS599 2.46 lần và JS598 3,17 lần)
Kết quả nghiên cứu của Wang et al ( 2008) cho thấy, Imidacloprid đã
được sử dụng nhiều năm để phòng trừ rầy nâu ở Trung Quốc Để đánh giá tínhkháng thuốc của rầy nâu tác giả đã thu thập cho 42 quần thể rầy từ 27 địa điểmbao gồm 8 tỉnh để theo dõi liều lượng phản ứng của chúng và sự thay đổi tínhmẫn cảm với Imidacloprid trong thời gian 11 năm (1996 – 2006) Kết quả chothấy hầu hết các quần thể duy trì tính mẫn cảm ngoại trừ một số quần thể từ QuếLâm, Quảng Tây, vào năm 1977, cho thấy một mức độ khángImidacloprid thấp.Tuy nhiên, các cuộc khảo sát tiến hành năm 2005 cho thấy 16 quần thể từ 16tỉnh nhanh chóng phát triển tính kháng với tỷ lệ kháng khác nhau từ 79 đến 811.Các số liệu thu được trong năm 2006 cho thấy mức độ kháng trong 12 quần thểthu được từ 7 tỉnh khác nhau giảm nhẹ (Tỷ lệ kháng = 107 – 316), ngoại trừquần thể Châu (tỉnh Giang Tô), đã phát triển tính kháng 625 lần Sự chiếm ưu
Trang 17thế và sử dụng thâm canh lúa trên phạm vi rộng ở các nước đang phát triển cóthể là một nguyên nhân cho sự phát triển tính kháng Sự di cư của các loài cũngtăng đáng kể tính kháng do sử dụng sâu rộng Imidacloprid trong khu vực di cư
và sử dụng liên tục thuốc xịt hóa chất sau di cư Ngoài ra, chọn lọc tính khángtrong phòng thí nghiệm bằng cách sử dụng Imidacloprid cho thấy tỷ lệ khángtăng 14 lần sau 27 thế hệ, cho thấy rằng sự phát triển nhanh chóng tính kháng cóthể là sự kết hợp với việc sử dụng thường xuyên thuốc trừ sâu trong những nămgần đây
Wang et al (2008) tiếp tục nghiên cứu và cho thấy sự bùng phát của rầy nâu – Nilaparvata lugens Stal đã xảy ra thường xuyên hơn ở Trung Quốc.Kết
quả cho thấy sự thay đổi đáng kể về tính mẫn cảm với thuốc trừ sâu tồn tại trongrầy nâu Quần thể đã phát triển đến mức kháng neonicotinoids với sức khángimidaclopprid cao (RR :135,3 -301,3 lần ), kháng trung bình với hoạt chấtimidacloprid ( RR:35-41,2 lần) mức kháng thấp với hoạt chất thiamethoxan ( lênđến 9,9 lần) và không có khả năng kháng dinotefuran, nitenpyram và thiacloprid( RR < 3 lần ) Tiếp tục kiểm tra cho thấy quần thể đã phát triển mức độ khángtrung bình với Fipronil ( lên đến 10,5 lần) và một vài quần thể đã phát triển mức
độ kháng thấp với buprofezin Ngoài ra, rầy nâu có khả năng phát triển mứckháng 1424 lần với hoạt chất imidacloppid trong phòng thí nghiệm với rầy trảiqua 26 thế hệ
Theo Wen et al (2009) cho biết Imidacloprid là một loại thuốc trừ sâu phổ
biến quan trọng được sử dụng để kiểm soát rầy nâu, và tính kháng của nó đã đượcnghiên cứu trước đây với các quần thể được lựa chọn trong phòng thí nghiệm Khinhững thất bại trong việc kiểm soát xảy ra ở Trung Quốc vào năm 2005, khángimidacloprid trong các quần thể rầy nâu (An Khánh, Nam Kinh, Quế Lâm và NgôGiang) được theo dõi và nghiên cứu Kết quả cho thấy rằng các quần thể rầy nâu thựcđịa đã phát triển từ trung bình đến mức cao về khả năng kháng Imidacloprid Tínhkháng này chủ yếu do monooxygenases P450 tăng cường giải độc và có thể được tăngcường tương tự nếu thuốc trừ sâu được phun nhiều hơn Nghiên cứu cho thấy rầy
Trang 18kháng Imidacloprid không thể hiện có kháng chéo với tất cả các thuốc trừ sâuNeonicotinoid và mức độ kháng cao Imidacloprid trong rầy nâu là rất không ổn định.
Vì vậy, Neonicotinoids có thể được lựa chọn là sự thay thế hiệu quả và ''kiểm soát cửasổ"có thể được thực hiện trong quản lý tính kháng Để kiểm tra sự biến đổi tính kháng
đã được báo cáo trong các quần thể lựa chọn trong phòng thí nghiệm, nhóm các genmới tương ứng với mục tiêu đã được nhân bản vô tính và giải mã, nhưng không có độtbiến nào được tìm thấy có liên quan một cách nhất quán với tính kháng
Theo Matsumura và Morimura( 2010), thì từ năm 2005, sự bùng phát củarầy lúa đã xảy ra ở các nước Đông Á như Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản
Sự bùng phát này có liên quan chặt chẽ với sự phát triển của kháng thuốc trừ sâu
ở các nước này Đánh giá sự mẫn cảm của rầy nâu được thu thập từ Nhật Bản,Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và Philippin trong năm 2006 cho thấy: Giá trịLD50 của Imidacloprid trong các chủng rầy nâu từ Đông Á (Nhật Bản, TrungQuốc và Đài Loan) và Việt Nam đã cao hơn so với quần thể rầy ở Philippin vàcho thấy khả năng kháng Imidacloprid đã phát triển đối với rầy nâu ở Đông Á.Tình trạng kháng thuốc trừ sâu của rầy nâu đang ngày càng trở lên nguy hiểmđối với các nước trồng lúa như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Philippin vàMalaysia
Fabellar và Garcia (2010), cho biết mặc dù thuốc trừ sâu sử dụng ởPhilippin tương đối thấp so với các nước Đông Nam Á đang phát triển như TháiLan và Việt Nam, nhưng các quần thể rầy nâu tại Philippin vẫn có dấu hiệu suygiảm tính mẫn cảm Các thử nghiệm được tiến hành đánh giá chỉ số LD50 củaquần thể rầy nâu đối với 5 loại thuốc trừ sâu bao gồm Fipronil, Imidacloprid,Fenobucard, Chlorpyrifos, Isoprocarb đối với 6 quần thể phân bố đều trên cácđảo của Philippin cho thấy giá trị LD50 của các nhóm thuốc ở mức cao Cụ thể,giá trị LD50 của Fipronil ở 6 địa điểm nghiên cứu dao động từ 93,18-243,51µg/g; LD50 của Imidacloprid từ 24,45-245,39 µg/g; LD50 của Fenobucard từ2146,26-28540,58 µg/g; LD50 của Chlorpyrifos từ 5676,60-15233,75 µg/g và
LD50 của Isoprocarb từ 907,86-3295,38 µg/g
Trang 19Cũng theo nghiên cứu của Fabellar et al 2010, thì giá trị LD50 của rầy
nâu với các nhóm thuốc Fenobucard đang được sử dụng tại 4 quốc gia: TháiLan, Việt Nam, Trung Quốc và Philippin ngày càng tăng nhanh LD50 ởPhilippin là 0,835-4,877µg/g, LD50 ở Thái Lan là 1,418-1,904 µg/g, LD50 ở ViệtNam là 25,450-30,436 µg/g và LD50 ở Trung Quốc là 12,484-44,792µg/g Nhưvậy, trong các quần thể rầy nâu nghiên cứu ở 4 nước thì giá trị LD50 của haiquần thể rầy ở Việt Nam và Trung Quốc là tương đối lớn và rất đáng quan tâm
Kết quả của nghiên cứu của Wang et al (2008) cho biết qua cuộc điều tra
trong vòng 11 năm ở Trung Quốc cho thấy trước năm 2004 hầu hết các quần thểđều có sự mẫn cảm đối với buprofezin Tuy nhiên từ sau năm 2004 thì người talại tìm ra mức kháng cao đáng kể ( lên đến 28 lần ) ở hầu hết các khu vực trồnglúa ở Trung Quốc Các quần thể được thu thập và nhân nuôi chọn lọc 65 thế hệtrong phòng thí nghiệm đã cho thấy sự phát triển tính kháng đối với buprofezinlên gấp 3599 lần Tiến hành kiểm tra tương tự cho thấy O,O-diethyl-O-Phenylphosphorothioate, piperonul butoxide và diethyl maleate làm tăng tính độc củabuprofezin trong chúng kháng chỉ khoảng 1.5-1.6 lần còn esterases, P450-monooxygennases và glutathione S-transferases không ảnh hưởng đáng kể đến
sự phát triển tính kháng của buprofezin
Theo Haibo et al (2008) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thuốc trừ sâu
đến hình thành cánh cho thấy nhóm cánh dài khi thử đối chứng bằng acetone thì
tỉ lệ trưởng thành cái và trưởng thành đực lần lượt là 43,53% và 52,56%, nhómcánh ngắn thì tỉ lệ này là 13,68% và 21,75% Ở cả 2 nhóm hoạt chấtimidacloprid và dinotefuran tăng tỷ lệ phần trăm trưởng thành cái và trưởngthành đực, với hoạt chất Imidacloprid nhóm cánh dài tỉ lệ trưởng thành cái vàtrưởng thành đực lần lượt là 65,27% và 66,23%, nhóm cánh ngắn tỉ lệ trưởngthành cái và trưởng thành đực là 35,77% và 33,28% Với hoạt chất dinotefurannhóm cánh dài tỉ lệ trưởng thành cái và trưởng thành đực lần lượt là 77,19% và72,01%, nhóm cánh ngắn tỉ lệ trưởng thành cái và trưởng thành đực lần lượt là43,19% và 38,72% Triazophos không có tác dụng rõ ràng trong việc hình thànhcánh của 2 nhóm cánh ngắn và cánh dài
Trang 202.2.2 Các nghiên cứu trong nước
2.2.2.1 Phân bố và kí chủ, sự gây hại của rầy nâu
Rầy nâu có mặt ở khắp các vùng trồng lúa trong nước nhất là các vùngthâm canh, từ đồng bằng, ven biển, trung du cho đến vùng núi cao như ĐiệnBiên, Mù Căng Chải
Ngoài cây lúa rầy nâu có thể phá hại trên các cây ngô, lúa mì, mạch, kê,
cỏ gấu, cỏ lồng vực ( Bộ môn côn trùng, 2004)
Tỷ lệ rầy nâu chiếm 70% vào năm 1981 đã giảm xuống còn 30% vào
năm 2007 ( Báo Nông Nghiệp, 2009) Nhưng rầy nâu vẫn là dịch hại được đánhgiá quan trọng nhất trên cây lúa, vì rầy nâu không chỉ trực tiếp chích hút gây hạicây lúa mà còn là môi giới truyền bệnh khác như vàng lùn, vàng xoắn lá Hiệnnay, để phòng trừ rầy nâu người nông dân vẫn sử dụng biện pháp chính là sửdụng biện pháp hóa học tức sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
2.2.2.2 Đặc điểm sinh học của rầy nâu
Theo Phạm Văn Lầm (2006), rầy nâu là loài côn trùng có chu kỳ pháttriển theo kiểu biến thái không hoàn toàn, phải trải qua 3 pha phát dục: phatrứng, pha ấu trùng( rầy non) và pha trưởng thành
Pha trứng:Trứng rầy nâu có hình trụ dài, cong, mới đẻ màu nâu vàngsau chuyển thành màu nâu đen
Pha ấu trùng: hay còn gọi là rầy non của rầy nâu có 5 tuổi
Pha trưởng thành: rầy cánh ngắn+ rầy cánh dài
Rầy nâu có vòng đời ngắn, trung bình từ 20-30 ngày.Trong vụ xuân nhưthời điểm hiện nay thì vòng đời là 25- 30 ngày, còn trong vụ mùa thì vòng đờingắn hơn từ 20- 25 ngày
Thời gian nở của trứng rầy nâu phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ: ở 21,6oC thì sau 13- 14 ngày trứng nở; nếu ở 23,4- 29,6oC thì sau 5- 9 ngày trứng nở
Thời gian phát dục của rầy non ở nhiệt độ 13,6oC sau 60 ngày mới thànhtrưởng thành Ở 18,5 oC là 32,5 ngày; ở 19- 21,2 oC là 19 ngày; ở 26,5 oC là 15ngày; ở 27,5 oC là 13,5 ngày; ở 29,2 oC là 12,5 ngày
Trang 21Rầy trưởng thành có thể sống từ 3- 50 ngày Trung bình thời gian phátdục các giai đoạn của rầy nâu như sau: trứng từ 6- 8 ngày, rầy non từ 12- 14ngày ( mỗi tuổi 2-3 ngày), rầy trưởng thành từ 20- 30 ngày.
2.2.2.3.Tính kháng thuốc của rầy nâu
Có rất nhiều nghiên cứu về tính kháng thuốc của quần thể rầy nâu đối vớimột số hoạt chất trừ sâu từ trước tới nay Các thí nghiệm nghiên cứu tính khángthuốc được nghiên cứu tại các địa điểm và điều kiện địa lý khác nhau trên khắp
cả nước cho biết tính kháng của rầy nâu là khác nhau
Từ năm 1993, Phạm Văn Lầm và Bùi Hải Sơn (2008) đã làm nghiên cứutrong vụ lúa đông xuân và vụ lúa mùa năm 1993 nhằm tìm hiểu ảnh hưởng củamột số thuốc trừ sâu phổ tác dụng rộng đến sự tích lũy số lượng của rầy nâu trênđồng ruộng Kết quả cho thấy các thuốc trừ sâu hóa học phổ tác dụng rộng nhưthiodan, azodrin, monitor, wofatox, basudin không chỉ không có hiệu lực trừ rầynâu, mà còn có khả năng gây ra những hậu quả không mong muốn Sauk hiphun các thuốc này 2 – 3 lần, thì mật độ quần thể rầy nâu đều tăng lên nhiều sovới trước khi phun Hệ số tích lũy quần thể của rầy nâu ở nơi dùng thuốcwofatox đều đạt rất cao (30 – 73,8) Trong điều kiện thuận lợi cho rầy nâu pháttriển thì việc dùng các thuốc azodrin, monitor, wofatox, basudin dễ dẫn đến hiệntượng tái phát quần thể rầy nâu Hệ số tái phát quần thể rầy nâu khi dùng cácthuốc này trong điều kiện như vậy thường là cao và rất cao, tương ứng 3,52;4,19; 7,25; 7,09 Ngược lại trong điều kiện không thuận lợi cho rầy nâu pháttriển thì việc dùng các thuốc đó chưa thấy gây tái phát quần thể rầy nâu
Tính kháng thuốc của rầy nâu đối thuốc trừ sâu ở Đồng bằng sông Hồng
đã được tiến hành vào năm 2000 của Nguyễn Thị Me và cộng sự (2000) khinghiên cứu về tính kháng của rầy nâu Thái Bình đối với hoạt chất Isoprrocarb vàCarbofuran.Kết quả cho thấy khi so sánh giá trị LD50của rầy nâu năm 2001 vớinăm 1987 đối với 1 số loại thuốc có sự thay đổi tương đối : hoạt chấtIsoprrocarb(MIPC) tăng thêm 12 lần, hoạt chấtCarbofuran tăng 7,3 lần
Kết quả nghiện cứu của Lương Minh Châu và cộng sự (2006-2008) cho
Trang 22biết tính kháng rầy nâu có thể bị phá vỡ khi phun thuốc trừ sâu nhiều lần cùngmột loại thuốc trừ sâu và bón nhiều phân đạm Các loại thuốc trừ sâu có ảnhhưởng gây bộc phát rầy là Regent, Padan, Cyper alpha khi phun lặp lại nhiều lần
do tính gây hồi phục rầy nâu.Liều lượng đạm bắt đầu gây nhiễm rầy nâu từ 150N
và làm cháy rầy cả giống kháng do rầy ăn gia tăng tỷ lệ sống và khả năng ăn.
Theo Phan Văn Tương và cộng sự (2012), cho biết kết quả kết quả đánh giámức độ mẫn cảm của rầy nâu được nuôi trên các cây lúa được bón ở 4 mức đạmkhác nhau 0;50;100 và 200 kgN/ha cho thấy rầy nâu được nuôi trên cây lúa đượcbón lượng đạm cao 200 kgN/ha đã tăng khả năng chống chịu với thuốc trừ sâu sovới rầy nâu được nuôi dưỡng trên những cây lúa được bón với lượng đạm thấp vàkhả năng này có xu hướng tăng lên theo từng thế hệ nếu vẫn được nuôi trên câylúa được bón lượng đạm cao Nguồn rầy nâu thu thập tại huyện Cai Lậy tỉnh TiềnGiang thể hiện kháng cả 3 hoạt chất thuốc trừ rầy đang phổ biến hiện nay làFenobucarb,Imidacloprid và Fipronil.Tính kháng thuốc của rầy nâu đối với 3 hoạtchất này xếp theo thứ tự giảm dần là : Fenobucarb, Imidacloprid và Fipronil
Nguyễn Thanh Hải (2011), đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tính mẫncảm của rầy nâu đối với một số thuốc trừ sâu ở các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên vàPhú Thọ trong vụ mùa 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy: Với hoạt chấtFenobucard, giá trị LD50 và giá trị Ri các quần thể rầy nâu ở Thái Bình là 10.6(µg/g) và Ri= 28.04; Hưng Yên là 12.59 (µg/g) và Ri= 33.31; Phú Thọ là 7.89(µg/g) và Ri= 20.87 Với hoạt chất Imidacloprid, giá trị LD50 và giá trị Ri cácquần thể rầy nâu ở Thái Bình là 0.68 (µg/g) và Ri= 20.00; Hưng Yên là 1.44(µg/g) và Ri= 42.35; Phú Thọ là 3.35 (µg/g) và Ri= 98.52 Với Hoạt chấtFipronil, giá trịLD50 và giá trị Ri của các quần thể rầy nâu ở Thái Bình là 1.12(µg/g) và Ri= 11.78; Hưng Yên là 1.76 (µg/g) và Ri= 18.52; Phú Thọ là 0.62(µg/g)và Ri= 6.42 Như vậy, kêt quả cho ta thấy ở cả 3 quần thể rầy nâu nghiêncứu, tính kháng của rầy nâu đối với các hoạt chất Fenobucard, Imidacloprid vàFipronil đều đã xuất hiện
Theo Lê Thị Kim Oanh và cộng sự (2011), đã tiến hành nghiên cứu tính
Trang 23kháng thuốc của quần thể rầy nâu Nilaparvata lugens Stal ở một số tỉnh đồng
bằng sông Hồng và vùng đông bắc bộ Kết quả điều tra tại 7 tỉnh đồng bằngsông Hồng cho thấy có 8 nhóm thuốc trừ sâu được người dân sử dụng trên lúa,trong đó 3 nhóm sử dụng với tỷ lệ cao là: Phenylpyrazol, Carbamate, Neo-nicotionid Tuy nhiên, qua các năm, ở các địa phương khác nhau thì số chủngloại thuốc sử dụng, mức độ sử dụng các nhóm thuốc là khác nhau Kêt quảnghiên cứu cho thấy 7/7 quần thể rầy nâu kháng với hoạt chất Fenobucard vớichỉ số kháng ( 11,18- 33,31) Có 4/7 quần thể rầy nâu kháng với hoạt chấtImidacloprid với chỉ số kháng ( 20,00- 98,52) Có 2/7 quần thể rầy nâu khángvới hoạt chất Fipronil với chỉ số kháng ( 11,78- 18,52) Các quần thể rầy nâuđều có biểu hiện gia tăng mức độ kháng qua các năm Hoạt chất Fenobucardmức độ gia tăng tính kháng 6,67 lần, Imidacloprid tăng 4,12 lần và đặc biệt hoạtchất Fipronil tuy có chỉ số kháng Ri thấp nhất so với các hoạt chất khác nhưnglại có mức độ gia tăng tính kháng cao, tăng là 9,28 lần ( từ năm 2009- 2010).Đối với các quần thể rầy nâu có biểu hiện kháng Fenobucard và Imidacloprid thìhiệu lực trừ rầy nâu ngoài đồng ruộng của hoạt chất này có hiệu lực thấp hơn khi
sử dụng đơn lẻ chúng Việc hỗn hợp Fenobucard với Imidacloprid hay Fipronilvới Imidacloprid để trừ rầy nâu cho hiệu quả cao hơn
Theo Nguyễn Thị Hồng Vân ( 2010) nghiên cứu hiện trạng kháng thuốccủa quần thể rầy nâu ở đồng bằng sông Cửu Long Nghiên cứu đã đánh giá mức
độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với nhóm thuốc Neonicotinoid.Qua việc xác định chỉ số LD50 đối với hai loại thuốc Clothianidin và Dinotefuranthì kết quả cho thấy 2 loại thuốc này chưa bị rầy nâu kháng Tuy nhiên chỉ số Ricũng đã tăng so với dòng mẫn cảm từ 1,31 – 1,54 lần đối với thuốc Clothianidin
và 1,10 – 1,48 lần đối với Dinotefuran Đặc biệt, hai loại thuốc trong cùng nhóm
là Imidacloprid và Thiamethoxam có giá trị Ri tăng so với dòng mẫn cảm từ2,15 – 4,41 lần đối với Imidacloprid và 2,38 – 4,83 lần đối với Thiamethoxam.Đối với nhóm thuốc Carbamat và nhóm thuốc khác, thì thấy thuốc Bassa 50EC
có chỉ số Ri tang so với dòng mẫn cảm từ 1,68 – 4,07 lần Hai loại thuốc
Trang 24Carbofuản và Etofenprox tang thấp hơn, chỉ từ 1,26 – 2,76 lần Riêng vớiFipronil chỉ số Ri tăng 3,19 – 5,43 lần Đối với các loại thuốc của các nhóm thìrầy nâu đều ở mức chịu đựng hoặc kháng giả.
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Tương và cộng sự (2013) theo phươngpháp nhúng thân cho thấy chỉ số Ri của rầy nâu với hoạt chất Buprofezin qua 5ngày theo dõi liên tục biến động từ 13,16 (1 ngày sau xử lí nhúng) giảm dần và đạt0,82 sau 5 ngày nhúng.Chỉ số Ri này thấp hơn so với ngưỡng cho phép.Điều đóchứng tỏ quần thể rầy nâu này vẫn còn mẫn cảm đối với hoạt chất buprofezin
Cũng vào năm 2013, theo phương pháp nhỏ giọt Phan Văn Tương vàcộng sự đã đánh giá tính kháng thuốc (Fipronil, Imidacloprid, Fenobucarb) củarầy nâu tại An Giang, Tiền Giang, Long An, kết quả cho thấy mức độ kháng đốivới hoạt chất Fenobucarb của 3 quần thể không khác nhau đáng kể Cụ thể chỉ
số kháng Ri của quần thể An Giang tăng mạnh từ 42,6(2009) lên đến 65,6(2010), sau đó tăng chậm đến 66,4 (2011) Đối với chỉ số kháng của quần thểrầy nâu ở Tiền Giang thì tăng cao liên tục trong 3 năm từ 2009, 2010 đến năm
2011 theo thứ tự 57,4 ; 66,9 và 74,9 Còn đối với quần thể rầy nâu ở Long An thìtăng chậm đều qua 3 năm theo thứ tự là 61,4 ; 63,0 và 68,3
Mức độ kháng của quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Imidacloprid qua 3năm (2009-2011) đều tăng dần ở cả 3 tỉnh An Giang, Tiền Giang, Long An Chỉ
số kháng của quần thể rầy An Giang tăng từ 40,5 (2009) lên 61,9 (2010) sau đótăng đến 73,8 (năm 2011), đối với chỉ số kháng của quần thể rầy nâu Tiền Giangthì tăng cao liên tục trong 3 năm từ 2009, 2010, đến 2011 theo thứ tự là 42,9 ;57,1 và 83,3.Còn đối với quần thể rầy nâu ở Long An thì tăng đều qua 3 nămtheo thứ tự là 57,1 ; 66,7 và 78,6
Trang 25
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng: Quần thể rầy nâu ( Nilaparvata lugens Stal.) thu thập được
tại tại Nghệ An
- Vật liệu nghiên cứu:
+ Dụng cụ thu thập mẫu: ống hút rầy được thiết kế chuyên dùng cho việchút rầy ngoài đồng ruộng cũng như trong phòng thí nghiệm, lồng lưới nuôi rầybao gồm cả khay gieo lúa để khi thu thập rầy có sẵn nguồn thức ăn
+ Dụng cụ nhân nuôi côn trùng: Nhà lưới, lồng lưới bao gồm lồng to cókích thước(60x60x120) cm, các lồng lưới nhỏ có kích thước(40x40x60) cm,(30x30x30) cm, khay gieo mạ, giá thể, ống tuýp, điều hòa nhiệt độ, các dụng cụ
đo nhiệt độ, độ ẩm v.v
+ Dụng cụ thử tính kháng thuốc: Bộ micropipettes các loại có thể hútchính xác tới 10μl, lọ thủy tinh, bình CO2(SGA) để gây mê rầy trưởng thành,l, lọ thủy tinh, bình CO2(SGA) để gây mê rầy trưởng thành,đĩa petri, bút lông, hộp nhựa(được thiết kế thoáng khí để có thể nuôi được rầysau khi xử lý thuốc tối thiểu 1 ngày), kính lúp cầm tay v.v…
+ Dụng cụ phục vụ cho thiết kế điều tra thí nghiệm ngoài đồng ruộng:khay tráng dầu, ống hút, cọc tre, dây, bình bơm 16 lít, cốc đong, bộ can thủy tinh
và một số dụng cụ pha thuốc trừ sâu có độ chính xác cao
+ Cân phân tích: Cân phân tích Mettler Toledo AG245(có độ chính xácđến 10-5), dùng cân trọng lượng rầy và thuốc thử thí nghiệm
+ Các hoạt chất thuốc thử nghiệm tính kháng của rầy nâu:Profenofos,Imidacoprid, Pymethrozin, Thiosultapsodium
+ Phòng thí nghiệm: tủ lạnh, kính lúp, kính hiển vi, ống nghiệm, panh,dao, kéo, khay gieo mạ, lồng nuôi rầy…
+ Giống lúa nhân nuôi nguồn rầy nâu ở miền Bắc và miền Trung là BắcThơm 7
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm : Phòng thí nghiệm và nhà lưới tại Bộ môn Côn trùng, Khoa
Trang 26Nông học, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
- Thời gian : Tháng 01/2015 đến tháng 07/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra lịch sử và hiện trạng sử dụng thuốc trừ sâu và rầy tại Nghệ An.-Điều tra diễn biến mật độ rầy nâu tại Nghệ An
-Đánh giá mức độ kháng (giá trị LD50) của rầy nâu (Nilaparvata lugens
Stal.) với một số loại hoạt chất
- Nghiên cứu biện pháp luân phiên thuốc trong phòng chống rầy nâu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy tại Nghệ Đối tượng khảo sát: Hộ nông dân của 3 huyện ở tỉnh Nghệ An
an Phạm vi và quy mô điều tra: Điều tra 3 huyện thuộc tỉnh Nghệ An đại
điện cho vùng sản xuất lúa miền Trung.Mỗi huyện điều tra 2 xã/phường, mỗi xã
dự định điều tra khảo sát 20 nông dân / hộ có nhiều năm tham gia sản xuất lúa
và có kinh nghiệm trong sử dụng thuốc BVTV trên lúa; tổng số nông dân/ hộđiều tra dự kiến là 120 hộ
-Nội dung và phương pháp điều tra :
+Các đối tượng thu thập ý kiến thông qua các phương pháp chủ đạo làphỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi cấu trúc và bán cấu trúc
đã chuẩn bị sẵn kết hợp với tiến hành thảo luận tại chỗ
+Các chỉ tiêu về việc sử dụng thuốc BVTV:
Loại thuốc trừ rầy hại lúa Liều lượng của các loại thuốc đã được sửdụng Mức độ hỗn hợp của các loại thuốc mà nông dân đã dùng Số lần phunthuốc trên vụ và khoảng cách thời gian giữa các lần phun Các chi phí về bảo vệthực vật trên đơn vị diện tích (ha) Nhận thức của nông dân về quy định hiện nay
về sử dụng thuốc BVTV; Hiểu biết của nông dân về thiên địch và ảnh hưởngcủa việc sử dụng thuốc đến thiên địch trên đồng ruộng; Nhận thức của nông dân
về độ độc của thuốc bảo vệ thực vật; Những căn cứ để nông dân lựa chọn thuốcbảo vệ thực vật khi sử dụng; Những căn cứ để nông dân quyết định phun thuốc bảo
vệ thực vật trên đồng ruộng; Kỹ thuật pha thuốc; Dụng cụ phun thuốc; Hiệu lực củathuốc theo các năm sử dụng Phiếu điều tra sẽ được BM Côn trùng cung cấp
Trang 27-Phân tích số liệu và báo cáo:
Các thông tin, số liệu thu thập được từ các cuộc phỏng vấn sâu cán bộ chủchốt và đối tượng kinh doanh thuốc BVTV là các thông tin định tính sẽ đượctổng hợp và lồng ghép với kết quả điều tra xã hội học thực tế sản xuất của nôngdân Số liệu định lượng thu được trên cơ sở phiếu điều tra sẽ được phân tích sửdụng phương pháp thống kê mô tả để tóm tắt số liệu dưới dạng trị số trung bình,
tỷ lệ phần trăm, tần suất xuất hiện Số liệu định tính sẽ được xử lý quy về tỷ lệphần trăm hoặc tần số xuất hiện Số liệu thu thập sẽ được phân tích cho từngvùng, từng địa phương, việc xử lý được thực hiện trên phần mềm phân tíchSPSS và MS Excel 2007
Báo cáo tổng hợp sẽ được hoàn thành dưới dạng báo cáo chuyên đề vềthực trang sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ sâu hại lúa và nhóm rầy tại 3vùng nghiên cứu
3.4.2 Đánh giá tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của quần thể rầy nâu
3.4.2.1 Thu thập nguồn rầy nâu tại địa điểm nghiên cứu
-Phương pháp thu bắt: Rầy nâu được thu bắt bằng ống hút, sau đó thả vàocác hộp nhựa có sẵn mạ non trồng trong đất, đem về các phòng thí nghiệm đểnhân nuôi quần thể Đối với những địa điểm lấy mẫu xa, các hộp nhựa chứa rầyđược chuyển về phòng lưu trú, sau đó chuyển rầy vào các lồng nuôi côn trùng cósẵn mạ non để đảm bảo sức sống cho rầy trong quá trình lưu trú và di chuyển tạiđịa điểm thu mẫu
3.4.2.2 Nhân nuôi quần thể rầy phục vụ cho thí nghiệm đánh giá tính kháng của rầy nâu đối với các hoạt chất
- Địa điểm: Phòng số 7 Bộ môn Côn trùng Phòng thí nghiệm sẽ tiến hànhnhân nuôi các quần thể rầy ở Nghệ An
- Đối tượng: rầy nâu
- Giống lúa nhân nuôi: bắc thơm 7
- Phương pháp thí nghiệm: Rầy nâu sau khi được thu bắt từ các địa điểm,đem về phòng thí nghiệm, sau đó được chuyển ra nhân nuôi riêng rẽ trong các
Trang 28lồng nuôi rầy để nhân số lượng lớn phục vụ thí nghiệm Khi rầy vũ hóa rộ từ 5 –
7 ngày, dùng ống hút hút rầy cái chuyển vào lồng nuôi rầy với nguồn mạ mới đểcho rầy đẻ trứng Ngày hôm sau lấy khay mạ ra và rũ hết rầy vào khay mạ mới,cho trứng nở và phát triển Thay liên tục từ 3 – 5 ngày như vậy để có đượcnhững lứa rầy đồng đều Thí nghiệm nhân nuôi nguồn rầy được tiến hành liêntục tại phòng thí nghiệm và nhà lưới Lúa được gieo liên tục trong các khay mạ,chậu trồng cây, ô chậu vại và ô xi măng để nhân nuôi và lưu giữ nguồn rầy
Những cá thể rầy F1 trở đi mới bắt đầu tiến hành thí nghiệm
Trang 293.4.2.3 Đánh giá tính kháng của các quần thể rầy nâu đối với một số nhóm hoạt chất
- Mục đích của hoạt động: các quần thể rầy ở địa điểm nghiên cứu đãhình thành tính kháng hay chưa và hình thành tính kháng với hoạt chất nào
Các hoạt chất đươc sử dụng:
Imidacloprid dạng kĩ thuật 97% thuộc nhóm Neonicotionoid Thuốc
có tác dụng vào thụ quan nAcheR trong tế bào thần kinh của côn trùng Thuốc
Các bước tiến hành thí nghiệm:
Bước 1.Xác định thang nồng độ thử thuốc cho từng nhóm hoạt chất
Các nhóm hoạt chất sử dụng trong thí nghiệm là hoạt chất chuẩn Thangnồng độ thử thuốc của từng nhóm hoạt chất được chia thành 5 -10 bậc Nồng độtham chiếu (nồng độ trung bình) được căn cứ vào nồng độ trung bình của hoạtchất đó theo khuyến cáo của nhà sản xuất (thông tin này được thu thập qua phầnđiều tra ở nội dung 1) Các thang nồng độ khác sẽ lần lượt được tăng lên theogiá trị 1-1,25-1,50 và giảm xuống lần lượt là 1-0,75-0,50…
Phương pháp pha: dung dịch có nồng độ cao được dùng làm dung dịch mẹ(liều 1), muốn chuyển sang nồng độ thấp hơn (liều 2) theo công thức:
Trang 30V2: thể tích liều thuốc 2 yêu cầu để pha chế.
Tương tự làm như vậy để được nồng độ thấp nhất (liều n)
Vì các thuốc kỹ thuật không đạt độ tinh khiết tuyệt đối nên được hiệuchỉnh theo hệ số CF để thuốc đạt 100% hoạt chất
Hệ số CF được hiệu chỉnh theo công thức
100%
CF =
% a.i thuốc kỹ thuật
Bước 2 Tiến hành thử thuốc để thăm dò thang nồng độ chuẩn
-Tiến hành các thí nghiệm thử thuốc để thăm dò thang nồng độ đã xácđịnh ở thí nghiệm 1 khảo sát sơ bộ các nồng độ có thể gây chết trên và dưới 50%
cá thể và các nồng độ tiệm cận Các thang nồng độ pha được nếu không đạt cácngưỡng gây chết đề ra sẽ được điều chỉnh lại sao cho phù hợp (thang nồng độchuẩn với mức 5-10 bậc, nồng độ cao nhất gây chết 90 – 95% số cá thể và nồng
độ thấp nhất gây chết 5 – 10% số cá thể thí nghiệm)
- Thí nghiệm được tiến hành như mô tả trong thí nghiệm 3
Bước 3.Tiến hành thử thuốc để xác định LD50 của các quần thể rầy nâu vàrầy lưng trắng
- Thí nghiệm được tiến hành trên rầy, trong điều kiện nhiệt độ phòng ổnđịnh 25˚C Dùng 10 – 20 con rầy cho mỗi lần tiến hành thí nghiệm và với ít nhất
3 lần lặp lại cho mỗi công thức
- Pha thuốc:Dùng thuốc dạng kỹ thuật (Technical grade) pha chế dungdịch quy về CF để tính ra lượng thuốc cần pha theo liều lượng 1, 2, 4, 8… lũytiến theo logarit
- 10 cá thể rầy được hút chuyển vào ống hút côn trùng, sau đó được làmbất động bằng CO2 trong thời gian khoảng 10-20 giây Khi rầy vừa bất động đổrầy lên đĩa petri có lót giấy thấm Dùng máy nhỏ giọt để nhỏ chính xác lên mảnhlưng ngực trước của các cá thể rầy với thể tích thuốc đồng đều là 0,2 μl, lọ thủy tinh, bình CO2(SGA) để gây mê rầy trưởng thành,l Kỹthuật này được thực hiện dưới kính lúp soi nổi độ phóng đại 40-60 lần và đòi hỏi
sự chính xác cao Các thí nghiệm lặp lại cần tiến hành vào các ngày khác nhau
Trang 31để tránh sự sai số trong cùng một ngày.
- Những cá thể rầy sau khi được tiến hành nhỏ thuốc sẽ được chuyển vàocác chai nhựa 15x7cm trong có sẵn 15 cây mạ 7-10 ngày sau gieo trồng Tỷ lệchết của các cá thể rầy thí nghiệm được theo dõi sau 24 giờ - 48 giờ
Hình ảnh 3.3: Pha thuốc, nhỏ thuốc và theo dõi cá thể sau thử thuốc
Công thức tính toán:
Giá trị LD50 của từng nhóm hoạt chất thí nghiệm đối với các quần thể rầynâu và rầy lưng trắng được tính toán theo chương trình POLO PLUS của Việnlúa quốc tế IRRI, xử lý trên máy vi tính Tỷ lệ chết của rầy thử nghiệm với nhómhoạt chất có tương quan dương hay tương quan thuận với đường thẳng yk = ax +
b Các liều lượng của hoạt chất được logarit và tỷ lệ chết tương ứng với từngliều thử được chuyển thành probit Mức độ tin cậy của giá trị LD50 được kiểmđịnh bằng phương pháp 2
Trang 32LD50 được xác định theo công thức:
Nồng độ gây chết 50% cá thể rầy nâu(ppm) x 0,2 (µl)
LD50 =
1000 x trọng lượng trung bình 1 con rầy
Chỉ số kháng Ri được xác định theo quy định của FAO (1980):
LD50 của thuốc đối với sâu hại khảo sát
Ri =
LD50 của thuốc đối với sâu hại mẫn cảm
Nếu Ri < 10: Dòng sâu hại chưa xuất hiện tính kháng thuốc
Nếu Ri 10: Dòng sâu hại đã kháng thuốc
Ri càng lớn mức độ kháng thuốc càng cao
Hiệu lực thuốc tính theo CT Abbott
* Phân tích và xử lý số liệu theo chương trình POLO PLUS của Việnnghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI)
3.4.3.Nghiên cứu kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV có hiệu quả để quản lý tính kháng thuốc của rầy nâu
3.4.3.1 Nghiên cứu sử dụng luân phiên thuốc BVTV hợp lý(trên đồng ruộng)
- Địa điểm khảo nghiệm: Xóm 1 – Hưng Trung – Hưng Nguyên – Nghệ An
- Thời gian khảo nghiệm: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015
- Cây trồng khảo nghiệm: Cây lúa, giống Nếp 97
- Chế độ canh tác: Độc canh cây lúa
- Bố trí TN diện rộng không lặp lại ,diện tích 1 công thức thí nghiệm: 300m2+75 m2 (dải phân cách)
Trang 33- Thời gian phun thuốc: tùy thuộc vào số lần rầy có mật độ vượt ngưỡng( 10-20 rầy/khóm)
* Phương pháp sử dụng luân phiên theo các công thức dự kiến các hoạtchất như sau:
Công thức 1 : Lân hữu cơ (Cypermethrin + Chlorpyrifos ethyl )-> điều tiết
sinh trưởng côn trùng (Acetamiprid + Buprofezin) ->Avermectin (Chlorpyrifos
Tương ứng với các loại thuốc sử dụng như sau: Trebon 10 EC-> Regent 800
WG -> Elsin 10 EC
Công thức 4: Neonicotinoid (Thiamethoxam) > Nereistoxin (Nereistoxin)
-> Pymetrozine (không phun).
Tương ứng với các loại thuốc sử dụng như sau: Actara 25 WG -> Neretox
95 WP.
Công thức 5: Điều tiết sinh trưởng côn trùng (Acetamiprid + Buprofezin) -> Lân hữu cơ (Cypermethrin + Chlorpyrifos ethyl ) ->Nitepyram(Nitenpyram)
Tương ứng với các loại thuốc sử dụng như sau: Penalty 40WP-> Victory 585
EC-> Elsin 10 EC.
Công thức 6 : 1 loại thuốc trừ rầy(thuốc hóa học phổ biến trong mỗi tỉnh,
Lân hữu cơ (Cypermethrin + Chlorpyrifos ethyl ).
Tương ứng với các loại thuốc sử dụng như sau: Victory 585 EC -> Victory 585
EC-> Victory 585 EC
Công thức 7 : Đối chứng phun nước lã
Trang 34Chỉ tiêu theo dõi
- Xác đinh hiệu lực thuốc : điều tra mật độ rầy trước khi phun 1 ngày vàsau phun 1.3.5.7.10 ngày để xác định hiệu lực thuốc
- Đánh giá năng suất : Gặt năng suất theo phương pháp quy định
Mỗi ô thí nghiệm thu tại 10 điểm ,mỗi điểm 10 khóm Chỉ tiêu theo dõiđếm số rảnh hữu hiệu ,vô hiệu trên 1 khóm ;số hạt chắc ,số hạt lép trên bông;trọng lượng 1000 hạt Đối chứng là bông không bị rầy gây hại
Tính năng suất lý thuyết và năng suất thực tế ở các ô thí nghiệm và đối chứng
Trang 35PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình sử dụng thuốc trên đồng ruộng thông qua điều tra nông dân ở 3 huyện: Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Thanh Chương tỉnh Nghệ An.
Chúng tôi thấy việc sử dụng các giống lúa khác nhau trên đồng ruộng có
ảnh hưởng nhất định tới mức độ gây hại của rầy nâu nên chúng tôi quyết địnhđiều tra các giống lúa được sử dụng ở vụ xuân và vụ mùa của các hộ nông dânmột số huyện ở tỉnh Nghệ An thông qua tỷ lệ các hộ nông dân trả lời các phiếuđiều tra và chúng tôi được bảng như sau
4.1.1 Các giống lúa được trồng phổ biến một số huyện ở tỉnh Nghệ An năm
2013 (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %).
Bảng 4.1: Các giống lúa được trồng phổ biến một số huyện ở tỉnh Nghệ An
năm 2013 (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %).
HN, J01, N27,KSU, Q7, TD
Nghệ an 2, Bắcthơm số 7, B0404,Q5, XI30
3 – 5%
Nếp 97, Nếp 87,
DT 52, Khangdân đột biến, P6,SYN6
Nhị ưu 838,27P31
5 – 10% Nếp 352, Nhị ưu
986, AC5 Nghi hương
10 – 30% Khang dân 18,
Nghệ an 2,Hương thơm,
Hương thơm, Nhị
ưu 986, Khangdân 18, XI23,IR17494
Nếp 97, ZZD,Kinh sử ưu
Trang 36Vụ Chỉ tiêu Hưng Nguyên Nghi Lộc Thanh Chương
HN, J01, N27,Q7, KP1, KSU,
TD
Nếp 87, Nhị ưu
986, BO404
Nếp 97, DT 52,Việt lai 20, DT
68
3 – 5%
Nếp 97, Nếp 87,Khang dân độtbiến, P6, DT 52
Nếp 352, BHB71
10 – 30%
Khang dân 18,Nghệ an 2,Hương thơm
Huyện Hưng Nguyên sử dụng tất cả 24 giống lúa,trong đó vụ xuân sửdụng 23 giống (Nhị ưu 838, XI23, ZZD, Bắc thơm số 7, GS9, HN, J01, N27,Q7, KSU, Nếp 97, Nếp 87, DT 52, Khang dân đột biến, P6, SYN6, TD, Nếp
352, Nhị ưu 986, AC5, Khang dân 18, Nghệ an 2, Hương thơm), còn vụ mùa sửdụng 22 giống (nông dân trồng thêm giống nếp KP1 và không trồng giống Nhị
ưu 986, KSU ở vụ xuân nữa) Các giống được sử dụng nhiều nhất là Khang dân
18, Nghệ An 2 và Hương Thơm với tỷ lệ số hộ nông dân sử dụng >10% ở cả 2
Trang 37vụ xuân và vụ mùa
Ở huyện Nghi Lộc các hộ nông dân chọn sử dụng 16 giống lúa, trong đó
vụ xuân sử dụng 15 giống (Nghệ an 2, Bắc thơm số 7, B0404, Q5, XI30, Nhị ưu
838, 27P31, Nghi hương, Hương thơm, Nhị ưu 986, Khang dân 18, XI23,IR17494, Nếp 97, AC5 ), vụ mùa sử dụng ít giống lúa hơn 10 giống (nông dânkhông tiếp tục trồng giống Nghệ an 2, Nhị ưu 838, AC5, 27P31, Nghi hương,XI23, IR17494 ở vụ xuân và trồng thêm giống Nếp 87 Các giống được lựa chọnnhiều nhất là khang dân 18, Nếp 97, XI23 với tỷ lệ nông dân sử dụng cả 2 vụ20-70%, còn giống AC5, IR17494, Nhị ưu 986 được nông dân sử nhiều ở vụxuân với tỷ lệ nông dân sử dụng là 25-50% còn các giống Hương thơm, Bắcthơm số 7, Q5 nông dân sử dụng nhiều ở vụ mùa tỷ lệ 15-40%
Còn ở huyện Thanh Chương các hộ nông dân sử dụng tất cả 16 giống lúa,
ở vụ xuân sử dụng 6 giống (Nếp 97, ZZD, Kinh sử ưu, GS9, C ưu đa hệ, Nhị ưu986) và vụ mùa sử dụng 11 giống (Nếp 97, DT 52, Việt lai 20, DT 68, Nếp 352,BHB71, QR1, Nghệ An 2, QT, Khang dân 18, PC6) Các giống được người dânlựa chọn nhiều nhất GS9, C ưu đa hệ, Nhị ưu 986 tỷ lệ nông dân sử dụng 30-70% đối với vụ xuân giống Khang dân 18, PC6 với vụ mùa
Kết quả điều tra 3 huyện tại tỉnh Nghệ An có 3 giống được người dân cả 3huyện chọn sử dụng nhiều ở cả 2 vụ là Khang Dân 18, Nghệ An 2, Nếp 97.Trong đó giống Khang dân 18 được lựa chọn nhiều nhất, trung bình tỷ lệ ở vụxuân và vụ mùa lần lượt là 15.9% và 41.9% tỷ lệ số hộ nông dân
Bên cạnh việc điều tra số giống được trồng trong 3 huyện chúng tôi ghinhận ý kiến của nông dân về một số giống lúa mà nông dân cho rằng có biểuhiện tính kháng với rầy nâu (mật độ rầy giảm khi trồng giống lúa đó so với cácgiống còn lại) kết quả thu được thể hiện ở phụ lục 2
Từ kết quả ở phụ lục 2 cho thấy:
Điều tra ở huyện Hưng Nguyên, theo ý kiến của các hộ nông dân có 4giống biểu hiện kháng rầy nâu (Hương thơm 1, Khang dân tạp, IR352, NA2),
Trang 38trong đó giống Hương thơm 1 được nông dân lựa chọn sử dụng nhất, chiếm14.685% tỷ lệ số hộ điều tra còn giống Khang dân tạp được lựa chọn ít nhấtchiếm 3.18% tỷ lệ số hộ điều tra và có 3 giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưngtrắng ( AC57, Nếp 97, NA2) giống NA2 được lựa chọn nhiều nhất (12.825%),giống Nếp 97 được lựa chọn ít nhất (4.88%)
Ở huyện Nghi Lộc có 4 giống được chọn có biểu hiện kháng rầy nâu (Nhị
ưu 986, Nhị ưu 838, 27P31, IR17494 ), trong đó giống được các hộ nông dânchọn có biểu hiện kháng rầy nâu cao nhất là giống Nhị ưu 986 với 10% tỷ lệ số
hộ điều tra và thấp nhất là giống Nhị ưu 838, 27P31 chiếm 2.5% Có 2 giống lúa
có biểu hiện kháng rầy lưng trắng (Nhị ưu 986, IR17494) giống IR17494 đượcchọn nhiều nhất 5% hơn giống Nhị ưu 986 (2.5%)
Còn ở huyện Thanh Chương theo tỷ lệ số hộ điều tra cho biết biết có 4giống có biểu hiện kháng rầy nâu (GS9, Khang dân 18, ZZD, C ưu đa hệ) trong
đó giống GS9 được lựa chọn nhiều nhất (22.5%) còn giống ZZD được chọn ítnhất (5%).Có 4 giống kháng rầy lưng trắng (Nhị ưu 986, Khang dân 18, GS9, C
ưu đa hệ) trong đó giống Khang dân 18 được chọn nhiều nhất (10%),giống Nhị
ưu 986 được chọn ít nhất (2.5%)
Qua điều tra các giống kháng rầy của 3 huyện Hưng Nguyên, Nghi Lộc,Thanh Chương tỉnh Nghệ An cho thấy có 12 giống được nông dân cho là cóbiểu hiện kháng rầy nâu, có 8 giống lúa có biểu hiện kháng rầy lưng trắng
Sâu hại là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm năng suấtcủa cây trồng đặc biệt là cây lúa Với các giống lúa gieo trồng khác nhau quacác vụ sản xuất của các năm tại 3 huyện thì thành phần sâu hại cũng có có sựthay đổi khác nhau Để nắm bắt rõ tình hình diễn biến sâu hại qua các nămchúng tôi đã điều tra các hộ nông dân tại tỉnh Nghệ An, kết quả điều tra đượctrình bày trong bảng sau:
Bảng 4.2 Thứ tự các loài sâu rầy quan trọng nhất trong những năm gần của một số huyện ở tỉnh Nghệ An (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %).
Trang 39STT Tên loài sâu
Tỷ lệ số hộ trả lời (%)
Huyện HưngNguyên
Huyện NghiLộc
Huyện ThanhChương
Năm2008
Năm2013
Năm2008
Năm2013
Năm2008
Năm2013
Tại huyện Nghi Lộc cho thấy từ năm 2008- 2013 số hộ nông dân chorằng rầy nâu là loài dịch hại quan trọng nhất dao động từ 82,5 -100% , tiếp theo
là sâu đục thân gây hại nặng tỷ lệ số hộ trả lời từ 87,5-95%, rầy lưng thì tỷ lệnông dân trả lời từ 70,5-93,5% ,sâu cuốn tỷ hộ nông dân trả lời giảm 68,5-55%
Còn ở huyện Thanh Chương năm 2008-2013 số hộ nông dân vẫn chorằng rầy nâu là loài dịch hại quan trọng nhất tăng nhiều nhất dao động từ 82,5 -100% , tiếp theo là sâu đục thân gây hại nặng tỷ lệ số hộ trả lời từ 87,5-95%, rầylưng thì tỷ lệ nông dân trả lời từ 70,5-93,5% ,sâu cuốn tỷ hộ nông dân trả lờigiảm 68,5-55%
Từ kết quả thu thập từ 3 huyện cho thấy rầy nâu là là loài dịch hại quan
Trang 40trọng nhất luôn được người dân quan tâm nhất tỷ lệ số hộ nông dân trả lời ở một
số huyện đã đạt 100% như huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc
Rầy có xu hướng tăng lên qua các năm vì vậy các thuốc trừ rầy cũng đượcchú trọng và được lựa chọn trong sử dụng để đặt hiệu quả cao nhất.Vì vậy chúngtôi tiếp tục tiến hành điều tra tình hình sử dụng thuốc tại số huyện ở tỉnh Nghệ An
4.1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại các địa điểm nghiên cứu tỉnh Nghệ An.
Hiện nay, thuốc BVTV rất đa dạng về chủng loại Việc các hộ nông dân
sử dụng thuốc BVTV chưa được chú trọng một cách chặt chẽ Điều tra tình hình
sử dụng thuốc BVTV của các nông hộ là bước quan trọng để thu thập thông tin
về các thuốc trừ sâu đang được người nông dân sử dụng để phòng trừ dịch hạitrên cây lúa Điều tra, xác định các loại thuốc đang được sử dụng, sử dụng theophương pháp nào và tần suất sử dụng các loại thuốc đó là bao nhiêu, để từ đóđưa ra các khuyến cáo về sử dụng hợp lý thuốc BVTV Vì vậy, chúng tôi tiếnhành điều tra hộ nông dân tại 3 huyện Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Thanh Chươngtỉnh Nghệ An, kết quả điều tra được thể hiện ở các bảng dưới đây:
Bảng 4.3 Số loại thuốc thương phẩm và số loại hoạt chất thuốc trừ sâu trên lúa đã được nông dân sử dụng tại một số huyện ở tỉnh Nghệ An.
Chỉ tiêu điều tra Huyện Hưng Nguyên Huyện Nghi Lộc Huyện Thanh Chương
Từ đó nói lên có thể cùng một hoạt chất nhưng gồm nhiều thuốc thươngphẩm khác nhau vì vậy việc điều tra sử dụng thuốc quan trọng nhất là chúng ta