Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp 2.1.4.1 Sự ổn định của doanh thu: Một công ty có doanh thu tương đối ổn định có thể sử dụng nhiều nợ vay hơn và chi tr
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
-
NGUYỄN THỊ KIM HƯƠNG
XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH VẬT LIỆU XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số:60340201
Hướng dẫn khoa học: TS Bùi Hữu Phước
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 2HĐKD: Hoạt động kinh doanh
LNT: Lợi nhuận thuần LNTT: Lợi nhuận trước thuế LNST: Lợi nhuận sau thuế NPV: Giá trị hiện tại thuần
Nợ NH: Nợ ngắn hạn PV: Giá trị hiện tại VCSH: Vốn chủ sở hữu VLXD: Vật liệu xây dựng TSCĐ: Tài sản cố định TP: Thành phố TSNH: Tài sản ngắn hạn TTS: Tổng tài sản REM: Mô hình Random Effect WACC: Chi phí sử dụng vốn bình quân
Trang 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tiên đoán, lý thuyết TOT, POT, ACT và kết quả 29
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu trước đây 33
Bảng 4.1: Bảng báo cáo tài chính ngành VLXD qua các năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 45
Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả toàn bộ bộ dữ liệu nghiên cứu 47
Bảng 4.3: Bảng ma trận tương quan giữa các biến với biến phụ thuộc là td 48
Bảng 4.4: Bảng ma trận tương quan giữa các biến với biến phụ thuộc là std 48
Bảng 4.5: Bảng ma trận tương quan giữa các biến với biến phụ thuộc là ltd 49
Bảng 4.6: Mô hình hồi quy Pooled OLS với biến phụ thuộc td 50
Bảng 4.7: Mô hình Fixed Effect đối với biến phụ thuộc td 51
Bảng 4.8: Mô hình Random Effect với biến phụ thuộc là td 52
Bảng 4.9: Kiểm định hausman test đối với biến phụ thuộc td 53
Bảng 4.10: Mô hình hồi quy Pooled OLS đối với biến phụ thuộc std 54
Bảng 4.11: Mô hình Fixed Effect với biến phụ thuộc std 55
Bảng 4.12: Mô hình Random Effect với biến phụ thuộc std 56
Bảng 4.13: Kiểm định hausman với biến phụ thuộc std 57
Bảng 4.14: Mô hình hồi quy Pooled OLS với biến phụ thuộc ltd 58
Bảng 4.15: Mô hình Fixed Effect với biến phụ thuộc ltd 59
Bảng 4.16: Mô hình Random Effect với biến phụ thuộc ltd 60
Bảng 4.17: Kiểm định hausman test với biến phụ thuộc ltd 61
Bảng 4.18: Bảng kiểm định hệ số VIF 62
Bảng 4.19: Bảng hồi quy robust với biến phụ thuộc là td 63
Bảng 4.20: Bảng hồi quy robust với biến phụ thuộc là std 64
Bảng 4.21: Bảng hồi quy robust với biến phụ thuộc là ltd 65
Bảng 4.22: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi với biến phụ thuộc là td 66
Trang 4Bảng 4.23: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi với biến phụ thuộc là std 67 Bảng 4.24: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi đối với biến phụ thuộc ltd 69 Bảng 4.25: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi với bốn biến có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5% 70 Bảng 4.26: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi với bốn biến có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5% 71 Bảng 4.27: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi với sáu biến có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5% 72 Bảng 4.28: Bảng tổng hợp giả thiết, lý thuyết TOT, POT, ACT và kết quả 73
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn ngành VLXD qua các năm 2009, 2010,
2011, 2012, 2013, 2014 45
Trang 6
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Bùi Hữu Phước
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Nguyễn Thị Kim Hương
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Thời gian học tập tại trường Đại học Tài chính – Marketing không phải là khoảng
thời gian dài để em có thể học tất cả các kiến thức, nhưng với khoản thời gian đó em đã
có một quá trình học hỏi, rèn luyện và trao dồi kiến thức, em muốn gởi lời cảm ơn chân
thành đến tất cả quý Thầy Cô trường Đại học Tài chính – Marketing nói chung và những
Giảng Viên khoa Tài chính – Ngân hàng nói riêng, những người đã cho em những kiến
thức nền tảng, làm chỗ dựa vững chắc để em làm hành trang vào đời
Đặc biệt, em cảm ơn Thầy Bùi Hữu Phước đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn em để
em có thể hoàn thành tốt luận văn này
Một lần nữa em chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô và sẽ cố gắng phấn đấu hết
Trang 8
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
7 Bố cục của đề tài 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 6
2.1 Những vấn đề lý luận về cấu trúc vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp 6
2.1.1 Cấu trúc vốn của doanh nghiệp 6
2.1.2 Các lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp 6
2.1.3 Đặc điểm của ngành vật liệu xây dựng……… 12
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp 14
2.2 Các nghiên cứu trước đây 15
2.2.1 Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới 15
2.2.2 Một số mô hình nghiên cứu trong nước 27
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thiết kế mô hình nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 34
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 34
3.1.2 Mô tả dữ liệu 34
3.1.3 Giả thuyết của mô hình 39
3.2 Mô hình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 40
CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Tổng quan về ngành vật liệu xây dựng 42
4.2 Kiểm định và kết quả nghiên cứu 46
Trang 9
4.2.1 Các kiểm định 46
4.1.2 Kết quả nghiên cứu 72
4.3 Thảo luận 73
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
5.1 Kết luận 79
5.2 Khuyến nghị 80
5.3 Những hạn chế còn tồn tại và hướng nghiên cứu phát triển sau khi hoàn thành đề tài 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 101
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều ngành nghề đa dạng khác
nhau, mỗi ngành nghề lại có những đặc thù riêng, cấu trúc vốn đặc trưng riêng Trong đó, ngành xây dựng là ngành kinh tế trọng điểm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Đặc biệt, Việt Nam là nước đang phát triển nên
việc đầu tư phát triển ngành xây dựng làm cơ sở nền tảng cho quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước Là một trong những ngành bổ trợ đắc lực và có tính
quyết định cho ngành xây dựng, ngành vật liệu xây dựng ở Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây đã luôn có những bước tăng trưởng mạnh Song song với việc phát triển để đáp ứng được những nhu cầu tất yếu, ngành vật liệu xây dựng cũng đang có
những chuyển mình tích cực để thích nghi với xu hướng phát triển chung của thế
giới Theo báo cáo, Bộ xây dựng cho biết việc sản xuất tiêu thụ các loại vật liệu xây
dựng phụ thuộc rất lớn vào các dự án bất động sản Thị trường bất động sản đã trầm lắng rất nhiều năm nay, trải qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế 2008 – 2009, giá bất động sản giảm khoảng 20 – 30%, có khu vực giá đã giảm 50% thì đến nay đã giữ ổn định và tiếp cận gần với giá trị thực Từ cuối năm 2013 đến nay thị trường đã ấm dần lên, với dự báo giá trị sản xuất ngành xây dựng có thể tiếp tục tăng 10% trong năm 2015 Sự ấm dần của thị trường BĐS, cùng với các chính sách hỗ trợ đối với ngành, nhiều dự án BĐS và dự án giao thông dự kiến được khởi công trong năm
2015 và hoàn thành trong thời gian tới sẽ là những yếu tố có tác động tích cực đối
với hoạt động xây dựng và theo đó là nhu cầu với các loại VLXD, đặc biệt là các
loại xi măng, nhựa, sắt thép
Với việc nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với khu vực
và thế giới sẽ dẫn đến việc cạnh tranh giữa các ngành nghề trong nền kinh tế ngày
càng quyết liệt, do đó cần phải vững vàng về tiềm lực để có thể cạnh tranh với thị
Trang 112
trường ở các nước khác Theo ông Lê Anh Ba - Phó chủ tịch Hiệp hội VLXD, năm
2015 cạnh tranh trong thị trường VLXD ở Việt Nam chắc chắn sẽ quyết liệt hơn bởi
nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với các nước trong khu vực
và trên thế giới; đây cũng là năm Việt Nam cam kết cắt giảm 93% số dòng thuế có
mức thuế suất là 0% và 7% Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA, thành lập năm 1993) cũng đang tiến tới thực hiện những cam kết cuối cùng để thành lập Cộng đồng ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015
Thế mạnh của hầu hết doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực VLXD ở
Việt Nam là vốn, kinh nghiệm, bề dày vận hành thị trường tiêu thụ Tuy nhiên, với
những doanh nghiệp Việt Nam, sự thua kém doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu là
vốn tự có Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dùng vốn vay ngân hàng để đầu tư
nên bị lệ thuộc vào quá trình giải ngân, do đó ảnh hưởng đến tiến độ, cơ hội đầu tư;
việc hoàn trả vốn gốc và lãi vay là nguyên nhân dẫn đến việc tăng giá thành, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước Còn về kinh nghiệm, thị trường thì các doanh nghiệp Việt Nam đã tích lũy theo năm tháng được nhiều bài
học, xây dựng được nhiều mối quan hệ, phương thức bán hàng, khả năng chiếm lĩnh
thị phần, thị trường Chủ tịch Hiệp hội VLXD cho rằng: Để nâng cao năng lực cạnh
tranh, các DN cần tuân thủ các quy định, chủ động trước thời cơ và thách thức, đặc
biệt trong lĩnh vực xuất khẩu, các DN VLXD trong nước cần cạnh tranh lành mạnh
bằng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí và giá thành sản xuất Vì vậy, việc nghiên
cứu vấn đề liên quan đến cấu trúc vốn hay nói cách khác là làm thế nào để có thể
giảm chi phí sử dụng vốn nhằm giúp cho doanh nghiệp giảm bớt phần nào trong giá
thành sản phẩm là điều cấp bách trong thời điểm hiện nay Để làm được điều đó,
việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành vật liệu
xây dựng là một vấn đề không thể bỏ qua, vì nó giúp cho các công ty đưa ra được
các quyết định phù hợp về cấu trúc vốn để có thể giảm chi phí sử dụng vốn, từ đó
Trang 123
làm giảm chi phí và kéo theo làm hạ giá thành sản phẩm
Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu thực hiện trong nước cũng như ngoài nước nói về các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn với nhiều quan điểm khác nhau và vì thế mà các yếu tố nghiên cứu cũng khác nhau Mỗi người một quan điểm, một khía cạnh, mỗi Quốc gia một hoàn cảnh, không Quốc gia nào giống Quốc gia nào Do đó, kết quả nghiên cứu cũng có phần khác nhau, thậm chí còn cho
kết quả hoàn toàn trái ngược nhau
Như vậy đối với thị trường Việt Nam, mà cụ thể là ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì các yếu tố nào tác động đến cấu
trúc vốn của các công ty và mức độ tác động của từng yếu tố đến cấu trúc vốn như
thế nào? Để có câu trả lời cho vấn đề này, tác giả chọn đề tài “Xác định các yếu tố
ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu ba vấn đề sau:
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu
xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014
Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến cấu trúc vốn của các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu đưa ra khuyến nghị
3 Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty công ty ngành
vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến cấu trúc vốn của các công ty công
ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như thế
Trang 134
nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn năm 2009 đến năm 2014
Phạm vi nghiên cứu:
o Về thời gian: Báo cáo tài chính của các công ty ngành vật liệu xây dựng sau
khủng hoảng kinh tế 2008; từ năm 2009 đến năm 2014, gồm 06 năm: 2009, 2010,
2011, 2012, 2013, 2014
o Về không gian: Luận văn nghiên cứu 52 công ty ngành vật liệu xây dựng có đầy
đủ dữ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu được đăng trên trang cophieu68.vn
trong báo cáo tài chính và lịch sử hình thành công ty
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính:
Thu thập thông tin, dữ liệu cần nghiên cứu trên trang cophieu68.vn
Phương pháp định lượng:
Sử dụng kiến thức về kinh tế lượng với sự hỗ trợ của phần mềm Stata11 để
chạy mô hình hồi quy bội, từ đó xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn
của doanh nghiệp
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn chỉ ra các yếu tố nào tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp,
các yếu tố đó tác động như thế nào đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, và yếu tố
nào là yếu tố tác động mạnh nhất Từ đó đưa ra các khuyến nghị giúp doanh nghiệp xác định cấu trúc vốn hợp lý nhằm giảm chi phí sử dụng vốn, từ đó giảm giá thành
sản phầm
Trang 145
7 Bố cục của đề tài
Bố cục của đề tài bao gồm 5 chương sau:
Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan lý luận về cấu trúc vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kiểm định, kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Trang 156
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Những vấn đề lý luận về cấu trúc vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp
2.1.1 Cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc vốn là nguồn tài trợ hỗn hợp gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nợ
trung dài hạn, thể hiện nguồn tài trợ thường xuyên, doanh nghiệp có thể an tâm sử
dụng trong thời gian tương đối dài không phải lo chi trả
2.1.2 Các lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Lý thuyết Modigliani và Miller
Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu với bài viết của Modigliani và Miller đưa ra vào tháng 6 năm 1958 (gọi tắt là học thuyết MM) Hai ông đã được giải Nobel kinh tế với nội dung nghiên cứu chủ yếu xem xét mối quan hệ giữa đòn bẩy
tài chính và giá trị của doanh nghiệp Lý thuyết MM dựa trên những giả định quan
trọng sau:
- Giả định về thuế
- Giả định về chi phí giao dịch
- Giả định về chi phí khốn khó tài chính
- Giả định về thị trường hoàn hảo
Về nội dung, lý thuyết MM được phát biểu thành hai mệnh đề quan trọng
Mệnh đề thứ nhất nói về giá trị công ty Mệnh đề thứ hai nói về chi phí sử dụng vốn
Các mệnh đề này lần lượt được xem xét trong hai trường hợp ứng với hai giả định
chính: có thuế và không có thuế
Trường hợp không có thuế Các giả định đầy đủ của lý thuyết MM bao gồm:
- Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân
- Không có chi phí giao dịch
Trang 167
- Không có chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính
- Cá nhân và công ty đều có thể vay tiền với mức lãi suất như nhau
- Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo
Trong trường hợp không có thuế, giá trị công ty có vay nợ và giá trị công ty không có vay nợ là như nhau Do đó, giá trị công ty không thay đổi khi cơ cấu vốn
của công ty thay đổi Hay nói khác đi, việc thay đổi cơ cấu vốn không mang lại lợi
ích gì cho cổ đông Đây chính là nội dung mệnh đề MM số I Mệnh đề MM số II
cho rằng, chi phí sử dụng vốn trung bình không đổi trong khi chi phí sử dụng vốn
cổ phần tăng lên khi công ty gia tăng tỷ số nợ
Trong trường hợp có thuế, giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không vay nợ cộng với hiện giá của tấm chắn thuế do sử dụng nợ Như vậy, việc sử
dụng nợ hay sử dụng đòn bẩy tài chính làm gia tăng giá trị công ty Đây chính là nội
dung mệnh đề MM số I trong trường hợp có thuế Mệnh đề MM số II trong trường
hợp có thuế cho rằng chi phí sử dụng vốn trung bình giảm trong khi chi phí sử dụng
vốn cổ phần tăng lên khi công ty gia tăng tỷ số nợ
Tuy nhiên, lý thuyết MM chưa xem xét tác động của một số chi phí khác
khiến cho lợi ích của tấm chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi công ty gia tăng tỷ số nợ Đó chính là tác động của chi phí khốn khó tài chính Khi công ty gia tăng sử dụng nợ làm cho rủi ro của công ty tăng theo Điều này làm phát sinh chi phí khốn khó tài chính tác động đồng thời với lợi ích của tấm chắn thuế Đến một điểm nào đó thì chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt qua lợi ích của tấm chắn thuế Ở điểm đó gọi là điểm cơ cấu vốn tối ưu, giá trị công ty đạt cực đại và chi phí sử dụng vốn trung bình đạt cực tiểu Khi công ty tiếp tục gia tăng sử dụng nợ, công ty sẽ vượt qua điểm tối ưu, ở đó giá trị công ty bắt đầu giảm và chi phí sử dụng vốn trung bình của công ty bắt đầu tăng Lợi ích của tấm chắn thuế không đủ bù đắp cho chi
phí khốn khó về tài chính
Trang 178
Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory - POT)
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và
Majluf (1984) bắt đầu với thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xứng tác động đến lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ từ bên ngoài, và giữa phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phần Điều này đưa tới một trật tự phân
hạng, theo đó đầu tư sẽ được tài trợ trước tiên bằng vốn nội bộ, chủ yếu là lợi nhuận tái đầu tư; rồi mới đến phát hành nợ mới và cuối cùng bằng phát hành vốn cổ phần mới
Trong lý thuyết này, không có hỗn hợp nợ-vốn cổ phần thường mục tiêu được xác định rõ, bởi vì có hai loại vốn cổ phần thường, nội bộ (có sẵn) và từ bên ngoài (phát hành thêm cổ phần mới), một ở đầu và một ở cuối trật tự phân hạng
Mỗi tỷ lệ nợ quan sát được của mỗi doanh nghiệp phản ánh các nhu cầu tích luỹ của
doanh nghiệp đối với tài trợ từ bên ngoài
Lý thuyết trật tự phân hạng giải thích tại sao các doanh nghiệp có khả năng
sinh lời nhất thường vay ít hơn – không phải vì họ có các tỷ lệ nợ mục tiêu thấp mà
vì họ không cần tiền bên ngoài Các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi ít hơn thì
phát hành nợ vì họ không có các nguồn vốn nội bộ đủ cho chương trình đầu tư vốn
và vì tài trợ nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài
Trong lý thuyết trật tự phân hạng, sự hấp dẫn của tấm chắn thuế lãi từ
chứng khoán nợ được coi là có tác động hạng nhì Các tỷ lệ nợ thay đổi khi có bất cân đối của dòng tiền nội bộ, cổ tức và các cơ hội đầu tư thật sự Các doanh nghiệp
có khả năng sinh lời cao với cơ hội đầu tư hạn chế sẽ cố gắng đạt tỷ lệ nợ thấp Các
doanh nghiệp có cơ hội đầu tư lớn hơn các nguồn vốn phát sinh nội bộ thường buộc
phải vay nợ ngày càng nhiều
Lý thuyết này giải thích mối tương quan nghịch trong ngành giữa khả năng
sinh lợi và đòn bẩy tài chính Lẽ thường là các doanh nghiệp thường đầu tư theo
Trang 189
mức tăng trưởng của ngành Như vậy, các tỷ lệ đầu tư sẽ tương tự nhau trong cùng
một ngành Với các tỷ lệ chi trả cổ tức cho sẵn và không thể linh hoạt được thì các
doanh nghiệp sinh lời ít nhất sẽ có ít nguồn vốn nội bộ hơn và sẽ phải vay mượn
thêm
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-Off Theory – TOT)
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn là một lý thuyết trong lĩnh vực kinh tế tài chính nói chung, trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp nói riêng Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần
bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp
không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn
thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất
là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của
việc phá sản có nguyên nhân từ nợ
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể
khác nhau giữa các doanh nghiệp Các công ty có tài sản hữu hình an toàn và nhiều
thu nhập chịu thuế để được khấu trừ nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao Các công ty
không sinh lợi có các tài sản vô hình nhiều rủi ro nên dựa chủ yếu vào tài trợ vốn cổ
phần
Theo lý thuyết đánh đổi, lợi nhuận cao có nghĩa sẽ có nhiều khả năng vay
nợ và có nhiều lợi nhuận chịu thuế để được khấu trừ thuế và sẽ cho một tỷ lệ nợ
mục tiêu cao hơn
Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi
phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp
Trang 1910
dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao
nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu
là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì PV(tấm chắn thuế) = PV(chi phí kiệt quệ
tài chính)
Lý thuyết chi phí đại diện (Agency Cost Theory - ACT)
Nghiên cứu này được khởi sướng bởi Jensen và Meckling (1976) và Jensen
(1986) Lý thuyết này nhìn nhận sự tồn tại cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp bởi
sự có mặt của chi phí đại diện Chi phí đại diện phát sinh từ hai loại mâu thuẫn Thứ
nhất, mâu thuẫn giữa các cổ đông và các nhà quản lý – còn gọi là chi phí đại diện
vốn cổ phần Thứ hai, mâu thuẫn giữa trái chủ và các cổ đông
Mâu thuẫn giữa các cổ đông và các nhà quản lý: Trong công ty cổ phần, đây được coi là mâu thuẫn cơ bản nhất do sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý trong loại hình công ty cổ phần Khi bỏ tiền ra thuê người đại diện điều hành công ty, các cổ đông – chủ sở hữu công ty mong muốn hoạt động của người đại diện đều nhằm mục đích tối đa hóa giá trị công ty, nâng cao thị giá của cổ phiếu, gia tăng cổ tức Trong khi đó, người đại diện – người điều hành của công ty lại có những lợi ích cá nhân riêng, họ có thể trực tiếp quyết định hay ngụy tạo ra những lý do khiến ông chủ
không thực hiện đầu tư vào những dự án có sức sinh lời cao vì tâm lý e ngại rủi ro,
hoặc quyết định đầu tư vào những dự án không mang lại lợi nhuận tối ưu cho công
ty nhưng lại đem lại lợi nhuận cho cá nhân họ, hay thậm chí với những thông tin và quyền lực có được từ việc điều hành công ty, họ có thể tư lợi mà không cần quan tâm đến lợi nhuận của công ty và những hậu quả mà công ty sẽ phải gánh chịu Những mâu thuẫn trong lợi ích của hai chủ thể này cho ta thấy rất rõ sự tồn tại của
vấn đề đại diện trong công ty cổ phần
Mâu thuẫn giữa các chủ nợ và các cổ đông: Trong mối quan hệ này, các cổ đông
trở thành người đại diện cho các chủ nợ Những cá nhân hay tổ chức có tiền đồng ý
Trang 2011
giao tiền cho các cổ đông của một công ty cổ phần để họ đại diện thực hiện việc đầu
tư mang lại lợi ích cho cả hai Quyết định giao tiền của cá nhân hay tổ chức này dựa trên cơ sở người đi vay (công ty cổ phần) đáp ứng được một số yêu cầu từ phía các chủ nợ, như mức độ hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, tỷ
suất sinh lợi của dự án đầu tư, khả năng gia tăng lợi nhuận, khả năng trả nợ,… Ngược lại, các cổ đông khi vay tiền có thể thực hiện đầu tư vào các dự án nhằm mang lại lợi ích tối đa cho công ty mình Khi quyết định cho vay tiền, các chủ nợ
của công ty quan tâm đến phần thu nhập dưới dạng lãi suất cũng như tài sản của công ty trong trường hợp phá sản Các cổ đông, thông qua các nhà điều hành mong muốn công ty mình thực hiện các dự án có tỷ suất sinh lời cao hơn và dĩ nhiên rủi ro cũng cao hơn Nếu dự án đầu tư vốn đầy rủi ro này thành công, tất cả lợi nhuận thuộc về các cổ đông của công ty Tuy nhiên, nếu dự án đó thất bại, các chủ nợ buộc
phải chia sẽ những thiệt hại, bị trì hoãn thanh toán nợ gốc và lãi, thậm chí mất cả số
tiền đã cho vay
Chính vì vậy, các chủ nợ có thể yêu cầu được trực tiếp tham gia giám sát tiến
trình thực hiện của dự án, qua đó mới cho phép công ty được giải ngân khoản vay Đây được xem là chi phí đại diện mà các cổ đông phải trả để được sử dụng các khoản vay của chủ nợ Để hạn chế các cổ đông chiếm đoạt tài sản từ các chủ nợ, các
chủ nợ sẽ tự bảo vệ bằng cách áp dụng các điều khoản hạn chế trong các hợp đồng cho vay trong tương lai Ngoài ra nếu các chủ nợ tin rằng nhà điều hành công ty đang cố gắng lợi dụng họ, họ sẽ hoặc từ chối cung cấp thêm vốn cho công ty hoặc
sẽ đưa ra một lãi suất cao hơn lãi suất thị trường để bù lại rủi ro chiếm đoạt vốn
Các nhà nghiên cứu đã phát triển các mâu thuẫn trong quan hệ đại diện thành lý
thuyết đại diện Lý thuyết đại diện được đề cập đến đầu tiên trong một nghiên cứu
của Fama và Miller (1972) Về sau, lý thuyết đại diện được phát triển sâu hơn trong
nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976) và sau đó là nghiên cứu của Jensen
Trang 2112
(1986)
Các quan hệ đại diện này nảy sinh các chi phí đại diện Khái niệm về chi phí đại
diện được đề cập nhiều nhất trong loạt bài báo đăng trên tờ “Journal of Finance”
của Michael Jensen và William Meckling Hai ông cho rằng chi phí đại diện là loại chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả, là tổng của các loại chi phí:
- Chi phí giám sát của người chủ (monitoring expenditures by principal)
- Chi phí ràng buộc (the bonding expenditures by the agent)
Tổn thất lợi ích (residual loss hay welfare loss)
Như vậy, việc sử dụng nợ và vốn cổ phần phải gánh chịu chi phí đại diện, lý thuyết chi phí đại diện ngụ ý rằng cấu trúc vốn tối ưu được xác định bằng việc tối
thiểu hoá những khoản chi phí phát sinh từ mâu thuẫn giữa các bên liên quan
Lý thuyết chi phí đại diện giải thích tại sao các công ty có quy mô lớn, có
dòng tiền tự do càng nhiều thường có khuynh hướng sử dụng nhiều nợ hơn Điều này là do các điều khoản trong hợp đồng vay nợ sẽ kiểm soát được phần nào các hành vi của các nhà quản lý không hướng đến mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh
nghiệp
2.1.3 Đặc điểm của ngành vật liệu xây dựng
Đặc trưng của ngành vật liệu xây dựng là một ngành kinh tế thâm dụng vốn, các tài sản của nó là những tài sản nặng vốn, và chi phí cố định của ngành khá cao Đặc tính nổi bật của ngành là nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ
mô Khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh số và lợi nhuận của các công ty trong ngành
sẽ tăng cao Sở dĩ như vậy vì ngành vật liệu xây dựng là đầu vào của các ngành khác
Chẳng hạn, sắt, thép, xi măng là đầu vào cho các công trình như cầu cống, nhà cửa, cao ốc của ngành xây dựng Khi ngành xây dựng làm ăn phát đạt thì ngành vật liệu xây dựng cũng có cơ hội để tăng trưởng
Trang 2213
Ngược lại, tình hình sẽ tồi tệ khi nền kinh tế suy thoái, các công trình xây dựng
sẽ bị trì trệ vì người dân không còn bỏ nhiều tiền ra để xây dựng nhà cửa, chính phủ không mở rộng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng như cầu cống, sân bay, bến cảng, trường học, bệnh viện Điều này làm cho doanh số, lợi nhuận của các công
ty vật liệu xây dựng sụt giảm nhanh chóng
Một lý do khác để giải thích cho sự nhạy cảm của ngành xây dựng đối với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế là do cách thức tăng lợi nhuận của các công ty trong ngành dựa chủ yếu vào tăng trưởng doanh số và các công ty thường sử dụng đòn bẩy hoạt động để tăng lợi nhuận, bởi có rất ít “độc quyền giá” và lợi nhuận biên tế ở mức thấp Theo Morningstar thì lợi nhuận biên tế của ngànhvật liệu xây dựng chỉ ở mức 5%, do đó để gia tăng lợi nhuận, các công ty thực hiện bằng cách đẩy mạnh doanh số bán Nhưng khi thực hiện điều này thì cũng có nghĩa rằng, các công ty vật liệu xây dựng sẽ phải sản xuất ở quy mô lớn và do đó, chi phí cố định sẽ bị đẩy lên cao Lúc này, chi phí cố định cao trở thành vấn đề sống còn đối với các công ty Chỉ công ty nào có chi phí cố định thấp hơn so với đối thủ ở cùng một quy mô sản xuất thì mới có thể gia tăng lợi nhuận và vượt qua khó khăn trong thời kỳ nền kinh tế suy thoái Chi phí thấp sẽ là thế mạnh kinh tế của ngành, công ty nào có chi phí sản xuất thấp sẽ tạo được ưu thế cạnh tranh bền vững
Đứng trên giác độ của người sử dụng khi mua vật liệu xây dựng, đa số họ có tâm
lý quan tâm nhiều đến giá cả Bởi lẽ, họ thường mua với khối lượng lớn, nhất là đối với các công trình xây dựng như bến cảng, nhà xưởng, cầu cống hay các cao ốc Do vậy, một biến động nhỏ về giá cả có thể làm cho chi phí mua của khách hàng thay đổi đáng kể
Tất nhiên, cũng phải nói rằng, thương hiệu, chất lượng và mẫu mã cũng có ảnh hưởng đến quyết định mua của người tiêu thụ Nhưng sự sai khác về chất lượng, mẫu mã của các sản phẩm trong ngành này là không nhiều Chính vì thế, nhu
Trang 2314
cầu hay khách hàng trong ngành này rất nhạy cảm với các biến động giá cả
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp
2.1.4.1 Sự ổn định của doanh thu: Một công ty có doanh thu tương đối ổn định
có thể sử dụng nhiều nợ vay hơn và chi trả được các khoản cố định lớn hơn các
công ty có doanh thu không ổn định Các công ty công ích có lịch sử sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính hơn các công ty trong ngành công nghiệp bởi vì sự ổn định về cầu
sản phẩm của họ
2.1.4.2 Cấu trúc tài sản: Các công ty có tài sản thích hợp như là khoản đảm bảo
cho nợ vay sẽ có khuynh hướng sử dụng nhiều nợ vay hơn Các tài sản có thể sử
dụng cho nhiều ngành là một khoản thế chấp tốt, trong khi đó các tài sản chuyên
dụng thì lại không như vậy Do vậy, các công ty bất động sản thường có đòn bẩy tài chính cao, trong khi đó các công ty trong lĩnh vực nghiên cứu công nghệ thì lại
không
2.1.4.3 Đòn bẩy hoạt động: Khi các yếu tố khác giống nhau, công ty sử dụng ít
đòn bẩy hoạt động hơn có khả năng sử dụng đòn bẩy tài chính tốt hơn bởi vì công ty
này có ít rủi ro kinh doanh hơn
2.1.4.4 Tốc độ tăng trưởng: Khi các yếu tố khác giống nhau, công ty có tốc độ
tăng trưởng nhanh hơn phải dựa nhiều vào nguồn vốn bên ngoài Hơn nữa, do chi phí phát hành trong việc bán cổ phiếu nhiều hơn chi phí phát hành nợ vay, điều này
khuyến khích các công ty tăng trưởng nhanh sử dụng nhiều nợ vay hơn Tuy nhiên, các công ty thường đối mặt với sự bất ổn cao hơn có khuynh hướng giảm mức độ
sẵn sàng sử dụng nợ vay
2.1.4.5 Lợi nhuận: Trong thực tế thường thấy các công ty có tỷ suất lợi nhuận
cao sử dụng rất ít nợ vay
2.1.4.6 Thuế: Lãi vay là chi phí được khấu trừ, và khoản giảm trừ này rất có giá
trị với các công ty có thuế thu nhập cao Do vậy, công ty có mức thuế thu nhập cao
Trang 2415
sẽ sử dụng nợ nhiều hơn
2.2 Các nghiên cứu trước đây
2.2.1 Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Prof B.D.Panda, Prof (Dr.) S.P Mohapatra và Prof (Dr.)
S Moharana về vấn đề các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty thép
ở Ấn Độ Bài nghiên cứu được thực hiện với mẫu là 66 công ty thép có nợ bình quân chiếm 68% trong cấu trúc vốn của công ty với dữ liệu thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2010 cùng với biến độc lập là tỷ lệ nợ và 8 biến giải thích như sau: cấu trúc tài sản, lợi nhuận, các cơ hội tăng trưởng, quy mô công ty, đặc điểm riêng của công ty, rủi ro kinh doanh, tấm chắn thuế phi nợ, tính thanh khoản Với
mô hình nghiên cứu như sau:
Debtrat = α + β1sz + β2ndts + β3asststr + β4profitab + β5liquidit + β6unique + β7risk + β8grot + e
Trong đó:
Debtrat - Debt ratio là tỷ lệ nợ được tính bằng tổng nợ chia cho tổng tài sản
sz - size là quy mô công ty được tính bằng ln(tổng tài sản)
ndts - non debt tax shield là tấm chắn thuế phi nợ được tính bằng khấu hao chia cho tổng tài sản
asststr - asset structure là cấu trúc tài sản được tính bằng tài sản cố định chia cho tổng tài sản
profitab - profitability là lợi nhuận được tính bằng lợi nhuận trước lãi và thuế chia cho vốn chủ sở hữu
liquidit - liquidity là tính thanh khoản được tính bằng tài sản ngắn hạn chia cho nợ ngắn hạn
unique - uniqueness là đặc điểm riêng của công ty được tính bằng chi phí
Trang 2516
bán hàng chia cho doanh thu thuần
risk - business risk là rủi ro kinh doanh được tính bằng hệ số biến thiên của lợi nhuận hoạt động
grot - growth là cơ hội tăng trưởng được tính bằng tăng trưởng bình quân của doanh thu hàng năm
Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến giải thích như lợi nhuận, rủi ro kinh doanh và tăng trưởng có ý nghĩa trong việc phân tích tỷ lệ nợ các công ty thép của
Ấn Độ Các biến giải thích khác như quy mô công ty, cấu trúc tài sản, tấm chắn thuế phi nợ, tính thanh khoản và đặc điểm riêng của công ty không có ý nghĩa Và nếu
xem xét dấu của các hệ số hồi qui thì chúng cho thấy mô hình có khuynh hướng
theo thuyết cân đối hơn là thuyết trật tự phân hạng
Ưu điểm: Bài nghiên cứu khoanh vùng được mẫu nghiên cứu cụ thể là ngành thép và các công ty có tỷ lệ nợ trung bình 68% Xác định được cấu trúc vốn cần
nghiên cứu là tỷ lệ nợ trên tổng tài sản Đồng thời xác định được các biến giải thích
cho biến nghiên cứu gồm 8 biến Và đã đưa ra được kết quả là có 3 biến có ý nghĩa
và ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ của công ty thép, các biến giải thích còn lại không có ý nghĩa
Nhược điểm: Các số liệu thu thập còn hạn chế do nguồn thu thập không có đầy đủ dữ liệu, do đó chỉ sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian và vì vậy làm giảm số quan sát, làm cho bài nghiên cứu giảm độ tin cậy khi xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty Các mô hình hồi quy thường mắc một số hiện tượng như đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi làm cho kết quả thu được bị sai lệch
và không chính xác mà tác giả đã bỏ qua các bước kiểm định để xem mô hình có bị
các hiện tượng trên không
Nghiên cứu của Ali Bayrakdaroglu, Ilhan Ege & Nusret Yazici về vấn đề
“Phân tích dữ liệu bảng của các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn: Bằng chứng
Trang 2617
thực nghiệm từ thị trường vốn Thổ Nhĩ Kỳ” Bài nghiên cứu cố gắng trả lời những
câu hỏi sau: thứ nhất, các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn có mối tương quan với đòn bẩy hay không Và thứ hai là các lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại (ví dụ như lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng) có giá trị trong việc giải thích cơ cấu
vốn của các công ty ở Thổ Nhĩ Kỳ không Tác giả đã áp dụng phân tích kỹ thuật
kinh tế với phân tích dữ liệu bảng Tác giả nghiên cứu thực nghiệm cấu trúc vốn của
242 công ty của các lĩnh vực khác nhau đang được giao dịch ở thị trường chứng
khoán Istanbul trong giai đoạn 2000 đến 2009
Biến phụ thuộc trong bài nghiên cứu này là tỷ lệ nợ Có ba cách đo lường cấu
trúc vốn Tỷ lệ nợ ngắn hạn thị trường Lev-s(mv) được xác định như là nợ ngắn hạn
chia cho nợ ngắn hạn cộng với giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu Tỷ lệ nợ dài
hạn thị trường Lev-l(mv) được xác định như là tỷ lệ nợ dài hạn chia cho nợ dài hạn
cộng với giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu Tỷ lệ tổng nợ thị trường Lev-t(mv) được xác định như là tổng nợ chia cho tổng nợ cộng với giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu Cần lưu ý rằng, tỷ lệ nợ thị trường Lev-t(mv) được sử dụng đo lường
chính về tỷ lệ đòn bẩy và phần còn lại Lev-s(mv) và Lev-l(mv) được sử dụng để
kiểm tra độ mạnh
Trong số các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của công ty, tác giả thảo luận
các yếu tố sau: lợi nhuận, tài sản hữu hình, quy mô công ty, các cơ hội tăng trưởng,
tấm chắn thuế phi nợ Tác giả cũng đi vào xem xét các yếu tố quốc gia cụ thể (yếu
tố kinh tế vĩ mô) như phát triển kinh tế, lạm phát và thuế Lợi nhuận (PRO) đươc đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận trước thuế, lãi và khấu hao Tài sản hữu hình (TAN) được đo lường bằng tài sản cố định hữu hình chia cho tổng tài sản Quy mô công ty (FS) được đo lường bằng lagarith tự nhiên của tổng tài sản Các cơ hội tăng trưởng (GO) được đo lường bằng phần trăm tăng của tổng tài sản trong năm Tấm chắn thuế phi nợ (NDTS) được đo lường bằng tỷ lệ khấu hao hàng năm so với tổng tài
Trang 2718
sản Phát triển kinh tế (ED) được đo lường bằng logarith của phần trăm thay đổi tỷ
lệ GDP bình quân đầu người Lạm phát (INF) được đo lường bằng logarith tự nhiên
của trung bình chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số giá sản xuất Thuế (TAX) được đo lường bằng tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp của nền kinh tế
Mô hình nghiên cứu của tác giả như sau:
Lev-s(mv)it = β0 + β1(FS) + β2(PRO) + β3(TAN) + β4(GO) + β5(NDTS) + β6(ED) + β7(INF) + β8(TAX) + αit
Lev-l(mv)it = β0 + β1(FS) + β2(PRO) + β3(TAN) + β4(GO) + β5(NDTS) + β6(ED) + β7(INF) + β8(TAX) + αit
Lev-t(mv)it = β0 + β1(FS) + β2(PRO) + β3(TAN) + β4(GO) + β5(NDTS) + β6(ED) + β7(INF) + β8(TAX) + αit
Trong bài nghiên cứu tác giả có sử dụng kiểm định hausman để lựa chọn mô
hình fixed effects hay mô hình random effects cho bài nghiên cứu Và kết quả là
chọn mô hình fixed effects
Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các biến trong mô hình đều có ý nghĩa
thống kê, thậm chí trong các mô hình khác nhau Có thể nói đến là các biến FS, PRO, TAN, GO, NDTS, ED, INF và TAX đều có ý nghĩa và giải thích được cho biến phụ thuộc
Ưu điểm: Bài nghiên cứu có nghiên cứu các yếu tố vi mô lẫn vĩ mô ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty nghiên cứu và đối chiếu với thuyết cân đối
và thuyết trật tự phân hạng Có sử dụng và lựa chọn mô hình trước khi đi vào phân tích Đưa ra kết luận là cấu trúc vốn của công ty ở Thổ Nhĩ Kỳ thiên về thuyết trật
tự phân hạng
Nhược điểm: Phạm vi phân tích rộng
Nghiên cứu của Usman Muhammed Umer trường đại học Mekelle, Ethiopia năm 2013 Mục đích của nghiên cứu là để xác định các yếu tố quyết định cơ cấu
Trang 2819
vốn của các công ty cổ phần nộp thuế lớn ở Ethiopia Tác giả đã phân tích một
nhóm gồm 37 công ty niêm yết trên Ethiopian Revenue and Customs Authority
(ERCA) tại Addis Ababa trong giai đoạn 2006 – 2010 Chín biến giải thích thông thường được sử dụng trong nghiên cứu này, bao gồm lợi nhuận, quy mô công ty, số năm doanh nghiệp hoạt động, tài sản hữu hình, tính thanh khoản, tấm chắn thuế phi
nợ, tăng trưởng, tỷ lệ chi trả cổ tức, mức biến động của lợi nhuận Tác giả sử dụng đồng thời dữ liệu chéo và chuỗi thời gian Hồi quy dữ liệu bảng được dùng để nghiên cứu sự tác động của các biến độc lập lên cấu trúc vốn Kết quả cho thấy, quy
mô công ty, số năm doanh nghiệp hoạt động, tài sản hữu hình, tính thanh khoản và
tấm chắn thuế phi nợ có mối quan hệ dương với đòn bẩy, trong khi lợi nhuận, mức
biến động của lợi nhuận và tỷ lệ chi trả cổ tức có mối tương quan âm với đòn bẩy
tài chính Biến tăng trưởng được tìm thấy là có ý nghĩa thống kê không đáng kể ảnh hưởng đến đòn bẩy của các công ty ở Ethiopia Các dấu hiệu của các mối quan hệ chỉ ra rằng, lý thuyết chi phí đại diện cung cấp bằng chứng thuyết phục hơn so với
lý thuyết cấu trúc vốn khác trong việc làm sáng tỏ cấu trúc vốn của các công ty cổ
phần nộp thuế lớn tại Ethiopia
Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn:
Lợi nhuận: Hầu hết các bài nghiên cứu về cấu trúc vốn đều xem lợi nhuận là
yếu tố then chốt trong việc lựa chọn các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn Tuy
nhiên, có sự mâu thuẫn khi nói về mối quan hệ giữa lợi nhuận và cấu trúc vốn Lý
thuyết đánh đổi cho rằng, công ty có nhiều lợi nhuận hơn có thể có tỷ số nợ nhiều hơn khi được hưởng lợi từ tấm chắn thuế Ngược lại, thuyết trật tự phân hạng thì lại cho rằng khi các mặt khác không thay đổi, các công ty có lợi nhuận nhiều hơn,
chúng có nguồn tài chính nội bộ nhiều hơn, các công ty ưu tiên nguồn tài chính bên trong hơn là bên ngoài Do đó, công ty có được lợi nhuận càng nhiều, họ cần nguồn tài chính bên ngoài ít hơn và họ có đòn bẩy tài chính thấp hơn
Trang 2920
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn, mọi người đều tìm
thấy mối tương quan âm giữa lợi nhuận và đòn bẩy tài chính của công ty, điều này
phù hợp với thuyết trật tự phân hạng, ví dụ như nghiên cứu của Titman và Wessels
(1988), Rajan và Zingales (1995), Bevan và Danbolt (2002), Antoniou, Guney và
Paudial (2002) về các công ty phát triển và bài nghiên cứu của Wiattanakantang
(1999), Pandy (2001), Booth et al (2001), Al-Sakran (2001), Chen (2004) từ các nước đang phát triển tìm thấy mối quan hệ âm giữa lợi nhuận và đòn bẩy tài chính
Quy mô công ty: Mặc dù một vài nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô của công ty
có ảnh hưởng tốt đối với tỷ lệ đòn bẩy, tuy nhiên vẫn có nhiều mâu thuẫn khi xét về
mối tương quan giữa quy mô công ty và đòn bẩy của công ty Titman và Wessel
(1988) chỉ ra rằng các công ty lớn được đa dạng hóa nhiều hơn và ít bị phá sản, điều
này cho phép các công ty tài trợ bởi một khoản nợ có thuế suất ưu đãi hơn (Ferri & Jones, 1979) Thêm vào đó, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô công ty ảnh hưởng dương đến tỷ lệ đòn bẩy Wiwattanakantang (1999); Booth et al (2001); Al-Sakran (2001); Pandy (2001); Huang và Song (2002) đã khám phá ra quy mô và tỷ lệ đòn bẩy có ý nghĩa tích cực trong các nước đang phát triển Trong khi, Rajan và
Zingales (1995) chứng minh rằng mối quan hệ âm giữa quy mô và đòn bẩy tài chính
của công ty
Tài sản cố định hữu hình: Tài sản cố định hữu hình là nguồn được chấp
nhận rộng rãi nhất trong việc cho vay của ngân hàng và các khoản nợ có đảm bảo,
khi nó có thể xem như tài sản thế chấp và làm giảm rủi ro của người cho vay Điều
đó có nghĩa rằng cấu trúc tài sản của công ty có vai trò ý nghĩa trong việc xác định cấu trúc vốn của công ty Điều quan trọng được đề cập ở đây là việc nghiên cứu của Titman và Wessels (1988) và Rajan, Zingales (1995) trong các nước phát triển; Wiwattanakantang (1999) tại Thái Lan; Um (2001) tại Nam Hàn Quốc; Attaullah và
Sufiullah (2007) tại Pakistan và nghiên cứu của Dilek, Ozlem và Ayca (2009) từ
Trang 3021
một vài công ty ở Thổ Nhĩ Kỳ có mối tương quan âm giữa tài sản hữu hình và đòn
bẩy của công ty Hơn nữa, Scott (1977), Myers (1977), Myers và Majiluf (1984) và Williamson (1988) cũng có kết luận tương tự
Các nghiên cứu khác như là Booth et al (2001) tại mười nước đang phát
triển và Huang và Song (2002) tại Trung Quốc đã tìm thấy rằng công ty với tài sản
hữu hình nhiều hơn có khuynh hướng sử dụng tỷ số nợ ít hơn và họ cho rằng có tồn
tại sự kết hợp âm giữa đòn bẩy và tài sản hữu hình Hơn nữa, Myroshnichenko (2004) cũng quan sát thấy có mối tương quan âm giữa tài sản hữu hình và đòn bẩy của công ty trong thời gian ngắn đối với các công ty ở Ucraina Nhưng, hầu hết các
nghiên cứu thực nghiệm đều cho rằng có tồn tại mối tương quan dương giữa đòn
bẩy và tài sản hữu hình
Tấm chắn thuế phi nợ: Một vấn đề cũng được quan tâm góp phần làm giảm
việc thanh toán thuế là tấm chắn thuế phi nợ (cho trường hợp khấu hao) DeAngelo
và Masulis (1980) lập luận rằng tấm chắn thuế phi nợ có thể thay thế lợi thế về thuế
của nợ tài chính và một công ty với tấm chắn thuế phi nợ lớn thì có nhiều khả năng
sử dụng ít nợ hơn Vì lý do này, mối quan hệ giữa tấm chắn thuế phi nợ và đòn bẩy được giả sử là âm Mối quan hệ ngược lại giữa tấm chắn thuế phi nợ và đòn bẩy được tìm thấy bởi Kumer và Reddy (1998), Huang và Song (2002); và Titman và Wessel (1988) Thậm chí, các nghiên cứu khác như là Rafiu và Akinlolu (2008) và Bradly et al (1984) xác định có mối tương quan dương giữa tỷ lệ đòn bẩy và tấm chắn thuế phi nợ
Các cơ hội tăng trưởng: Lý thuyết trật tự phân hạng lập luận rằng các công
ty đang phát triển sử dụng nguồn tài chính nội bộ đầu tiên, nếu không đủ cho mục đích đầu tư thì quyền lựa chọn tiếp theo là sử dụng nợ tài chính Điều này hàm ý rằng các công ty đang phát triển sẽ có một mức độ đòn bẩy cao Tuy nhiên, lý
thuyết cân đối thì cho rằng để tránh xung đột thay thế tài sản và đầu tư dưới chuẩn
Trang 3122
phát sinh từ sự xung đột của các cổ đông và trái chủ, các công ty có cơ hội đầu tư
nhiều hơn sẽ có đòn bẩy ít hơn Lý thuyết này ước tính có mối quan hệ âm giữa cơ
hội tăng trưởng và đòn bẩy tương ứng
Bằng chứng thực nghiệm liên quan đến mối quan hệ tăng trưởng và đòn bẩy
không nhiều Titman và Wessel, (1988) và Attaullah và Sufiullah (2007) cho rằng chi phí đại diện của các công ty đang phát triển có khả năng cao hơn và kết quả là làm chi phí nợ cao hơn Do đó, các công ty đang phát triển phải đối mặt với chi phí
nợ cao hơn sẽ sử dụng nợ ít hơn và vốn chủ sở hữu nhiều hơn Vì vậy, có một mối
quan hệ âm giữa tăng trưởng và đòn bẩy tài chính được mong đợi Với tiên đoán
này, Jensen và Meckling (1976), Myers (1984), Stulz (1990), Chung (1933), và Rajan và Zingales (1995) đưa ra mối tương quan âm giữa tăng trưởng và mức độ đòn bẩy từ các nước phát triển Tuy nhiên, Kester (1986) và Huang và Song (2002) chứng minh có mối quan hệ dương giữa tăng trưởng và đòn bẩy
Số năm doanh nghiệp hoạt động: Có sự tranh luận giữa lý thuyết cân đối
và lý thuyết trật tự phân hạng về sự ảnh hưởng của số năm doanh nghiệp hoạt động lên đòn bẩy Lý thuyết cân đối cho rằng khi công ty trưởng thành thì khả năng vay mượn của nó tăng, ngụ ý có mối liên hệ dương giữa đòn bẩy và số năm thành lập của doanh nghiệp Ngoài ra, Berger và Udell (1998) phát biểu rằng khi một công ty trưởng thành nó có thể tăng tài sản cố định dưới hình thức đất đai và xây dựng mà
nó có thể đảm bảo thế chấp tài trợ cho một khoản nợ dài hạn và cũng có thể tích lũy
tài sản sử dụng như tài sản thế chấp nợ dưới dạng hàng tồn kho, khoản phải thu và
trang thiết bị Tuy nhiên, lý thuyết trật tự phân hạng lập luận rằng, khi công ty tăng trưởng, nó sẽ xây dựng danh tiếng cho nó Có nghĩa là danh tiếng một công ty tốt được xây dựng qua nhiều năm, cái tên được công nhận bởi thị trường, điều này sẽ tốt hơn và dễ dàng hơn để tăng vốn chủ sở hữu hơn là vốn vay
Một nghiên cứu bởi Petersen và Rajan (1994) cho thấy các công ty trưởng
Trang 3223
thành có tỷ lệ nợ cao hơn khi chúng có trách nhiệm của công ty chất lượng cao Hơn
nữa, Hutchinson và Michaelas (2004) lập luận rằng số năm doanh nghiệp hoạt động
có mối quan hệ dương đối với nợ dài hạn nhưng có quan hệ âm đối với nợ ngắn
hạn Tuy nhiên, Esperanca, Gama và Gulamhussen (2003) đã tìm thấy số năm
doanh nghiệp hoạt động có mối quan hệ âm đối với cả nợ dài hạn và nợ ngắn hạn
Tính thanh khoản: Mối quan hệ giữa đòn bẩy và tính thanh khoản của công
ty cũng là vấn đề tranh luận Bogdana (2009) lập luận rằng các công ty có tính thanh khoản cao hơn có thể có tỷ lệ nợ cao hơn bằng trực giác rằng chúng có thể đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn Do vậy, mối quan hệ dương được mong đợi giữa tính thanh khoản và đòn bẩy Quan sát của Williamson (1988), Shleifer và Visny (1992), Maksimovic và Phillips (2001) và Valeriy (2007) liên quan đến mối quan hệ giữa tính thanh khoản tài sản và đòn bẩy cho ra kết luận tương tự Hơn thế, các bài
nghiên cứu khác kiểm tra mối quan hệ giữa đòn bẩy và tính thanh khoản tài sản như
Morellec (2001), tìm bằng chứng cho thấy tính thanh khoản tác động tích cực đến tỷ
lệ nợ trên vốn chủ sở hữu
Mặt khác, các công ty có tính thanh khoản cao có thể sử dụng tài sản này để
tài trợ các hoạt động của họ và không sử dụng nợ tài chính Điều này cho ra mối
quan hệ âm giữa tính thanh khoản và tỷ lệ đòn bẩy Phát hiện của nghiên cứu Ozkan
(2003) hỗ trợ cho tiền đề này ở Anh
Tỷ lệ chi trả cổ tức: Cổ tức là số tiền thu nhập ròng được trả cho các cổ
đông Theo lý thuyết phá sản thì có mối quan hệ nghịch chiều giữa tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty với đòn bẩy Theo lý thuyết này, tỷ lệ chi trả cổ tức thấp chứng tỏ có
sự gia tăng vốn chủ sở hữu và xác suất phá sản thấp Như vậy, chi phí phá sản thấp
hàm ý mức độ đòn bẩy trong cấu trúc vốn cao Phát hiện của Keshar (2004) cũng ủng hộ cho lý thuyết chi phí phá sản Ngược lại, theo lý thuyết trật tự phân hạng thì
có mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ nợ trong cấu trúc vốn và tỷ lệ chi trả cổ tức
Trang 3324
Theo lý thuyết này, có xếp thứ bậc của các nguồn tài chính của công ty Điều này
bắt đầu với nguồn tài chính nội bộ bên trong rồi đến nguồn tài chính bên ngoài
Thay vì phân phối cổ tức cao và đáp ứng các yêu cầu tài chính, nhà quản lý giữ lại
thu nhập Do đó, tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hàm ý mức độ thấp của nợ trong cơ cấu
vốn Những phát hiện của Rafiu và Akinlolu (2008) là phù hợp với lý thuyết trật tự
phân hạng
Mức biến động lợi nhuận: Mức biến động của lợi nhuận được mô tả như là
rủi ro kinh doanh vốn có trong hoạt động của doanh nghiệp hoặc là kết quả của việc
quản lý không hiệu quả Kết hợp tiên đoán của lý thuyết cân đối và lý thuyết trật tự
phân hạng cho rằng có mối quan hệ âm giữa mức biến động của lợi nhuận và đòn
bẩy do không có khả năng trong việc gia tăng để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính với
việc gia tăng mức biến động của lợi nhuận Hơn nữa, Bhaduri (2002), Frank và
Goyal (2003), Attaullah và Sufiullah (2007), Bradly et al (1984) chỉ ra mối tương
quan âm giữa mức biến động lợi nhuận và đòn bẩy Tuy nhiên, Kim và Sorensen (1986) đã tìm thấy mối quan hệ dương giữa mức biến động lợi nhuận và đòn bẩy
của công ty
Mô hình nghiên cứu của tác giả như sau:
LEVit = α + β1PROF + β2SIZE + β3TANG + β4NDTS + β5GROW + β6AGE + β7LIQU + β8DPR + β9EV + ui + εit
SIZE (quy mô) được tính bằng logarith tự nhiên của doanh thu
TANG (tài sản hữu hình) được tính bằng tỷ lệ giữa tài sản cố định và tổng
Trang 35PROF Tỷ lệ thu nhập hoạt động trên
Nguồn: Bài nghiên cứu của Usman Muhammed Umer
Ưu điểm: Sử dụng dữ liệu bảng phân tích sẽ làm tăng số quan sát, kéo theo
đó là độ chính xác về kết quả phân tích sẽ cao hơn Bài nghiên cứu đã đưa ra được các yếu tố nào có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy là bao nhiêu, và các yếu tố đó tác động như thế nào đến cấu trúc vốn, cùng chiều hay ngược chiều Cuối bài tác giả thống kê dấu kì vọng của mô hình, dấu của các lý thuyết TOT, POT, ACT và dấu
của thực nghiệm Từ đó so sánh và đưa ra nhận xét, lý giải sự khác nhau giữa dấu kì
vọng và dấu thực nghiệm
Nhược điểm: Cũng như các nghiên cứu trước, bài nghiên cứu này tác giả
Trang 3627
cũng bỏ qua kiểm định các hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai sai
số thay đổi…điều này có thể làm kết quả không chính xác
2.2.2 Một số mô hình nghiên cứu trong nước
Đề tài của học viên Lê Thị Mỹ Phượng chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng đã nghiên cứu về việc “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Hà Nội” vào năm 2012 Đề tài nghiên cứu đối với các biến như sau:
o Biến phụ thuộc bao gồm:
(1) Tỷ suất nợ = (Nợ phải trả/ Tổng tài sản) *100%
(2) Tỷ suất nợ dài hạn = (Nợ dài hạn/ Tổng tài sản) *100%
(3) Tỷ suất nợ trên vốn chủ = (Nợ phải trả/ Vốn chủ sở hữu) *100%
o Biến độc lập bao gồm:
(1) Quy mô của doanh nghiệp: Tổng doanh thu
(2) Thời gian hoạt động: Số năm kể từ ngày thành lập
(3) Cấu trúc tài sản: (TSCĐ/ TTS)*100%
(4) Tính thanh khoản: TSNH/Nợ ngắn hạn
(5) Hiệu quả hoạt động kinh doanh đo lường bằng tỷ suất sinh lời tài sản
(ROA)=(LNST/TTS)*100% và tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu
(ROE)=(LNST/VCSH)*100%
(6) Cơ hội tăng trưởng =
(7) Tỷ lệ Vốn nhà nước: % sở hữu cổ phần của Nhà nước
(8) Rủi ro kinh doanh: % thay đổi của EBIT/% thay đổi của doanh thu thuần
Đề tài nghiên cứu 9 nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất nợ của các công ty cổ phần ngành xây dựng Tuy nhiên qua quá trình sử dụng mô hình hồi quy của SPSS
thì kết quả chỉ có 4 nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty, đó là : Quy
Trang 3728
mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán, tỷ lệ vốn nhà nước và rủi ro kinh doanh
Hạn chế của đề tài là việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn
chỉ mới giới hạn trong giai đoạn 2009-2011 nên kết quả thống kê chưa phản ánh
thật sự sự phát triển của tổng thể
Hướng nghiên cứu và phát triển của đề tài là hướng đến phân tích các nhân
tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành xây dựng và xác định
thêm các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn
Nghiên cứu của Đoàn Thị Thanh Thủy vào năm 2012 với đề tài “ Các nhân
tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam”
Các mô hình cụ thể của tác giả nghiên cứu như sau:
LEV = α + β1GRO + β2SIZE + β3TANG + β4TAX + β5LIQ + β6ROA + ε
STD = α + β1GRO + β2SIZE + β3TANG + β4TAX + β5LIQ + β6ROA + ε
LTD = α + β1GRO + β2SIZE + β3TANG + β4TAX + β5LIQ + β6ROA + ε
Trong đó, nguồn dữ liệu được lấy từ các báo cáo tài chính của 88 doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian từ 2008 – 2011 Cấu trúc
vốn được đại diện bởi tỷ lệ đòn bẩy tài chính, do vậy, các biến (ba biến) phụ thuộc
là: tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản (LEV), tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (STD),
tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản (LTD) và các biến (sáu biến) độc lập là: tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp (GRO), quy mô doanh nghiệp (SIZE), tài sản cố định hữu hình (TANG), thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TAX), khả năng thanh toán
hiện hành (LIQ) và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA)
Đề tài sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu: các thống kê mô tả, t-test, hồi quy bội với phần mềm SPSS for Windows v.16 để kiểm tra mối tương quan giữa
các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho
Trang 3829
thấy: quy mô doanh nghiệp và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp có mối tương quan dương với tỷ lệ đòn bẩy tài chính Trong khi đó, tài sản cố định hữu hình và khả năng thanh toán hiện hành, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản có chiều tương quan khác nhau đối với từng thành phần nợ Tốc độ tăng trưởng không ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính với mức ý nghĩa 5%
Kết quả thu được của đề tài là: Tổng kết các kết quả nghiên cứu trên thế giới
về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến cấu trúc vốn Nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng Việt Nam bao gồm: quy mô doanh nghiệp, tài sản cố định hữu hình, thuế suất thuế thu nhập doanh
nghiệp, khả năng thanh toán hiện hành, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản Xây dựng được mô hình hồi quy giới hạn các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng Việt Nam Đánh giá được mức độ ảnh hưởng của
từng nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng Việt Nam
Một số hạn chế nhất định của đề tài là: do số lượng các công ty niêm yết
không nhiều nên số lượng mẫu quan sát còn bị giới hạn Ngoài ra, số liệu lấy từ các
báo cáo các công ty niêm yết có thể chưa chính xác do việc công bố thông tin Chưa
nghiên cứu được hết các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp
Trang 39ở Ấn Độ
debtrat
Và
Sz, ndts, asststr,profitab,liquidit,unique, risk,
grot
Các biến giải thích như lợi nhuận, rủi ro kinh doanh và tăng trưởng có ý nghĩa trong việc phân tích tỷ lệ nợ các công ty thép của Ấn Độ Các biến giải thích khác như quy
mô công ty, cấu trúc tài sản, tấm chắn thuế phi nợ, tính thanh khoản và đặc điểm riêng của công ty không có ý nghĩa thống kê
lev-s, lev-l, lev-t
Và
PRO, TAN, FS,
GO, NDTS, ED, INF, TAX
tất cả các biến trong mô hình đều có ý nghĩa thống kê, thậm chí trong các mô hình khác nhau Có thể nói đến là các biến FS, PRO, TAN, GO, NDTS, ED, INF và TAX đều
có ý nghĩa và giải thích được cho biến phụ thuộc
Usman
Muhammed
Umer
Mục đích của nghiên cứu là
để xác định các yếu tố quyết định cơ cấu vốn của
LEV
Và
PROF, SIZE, TANG, NDTS, GROW, AGE, LIQU, DPR, EV
Các biến quy mô công ty, số năm doanh nghiệp hoạt động, tài sản hữu hình, tính thanh khoản và tấm chắn thuế phi
nợ có mối quan hệ dương với đòn bẩy, trong khi lợi nhuận,
Trang 4031
các công ty
cổ phần nộp thuế lớn ở Ethiopia
mức biến động của lợi nhuận
và tỷ lệ chi trả cổ tức có mối tương quan âm với đòn bẩy tài chính Biến tăng trưởng được tìm thấy là có ý nghĩa thống
kê không đáng kể ảnh hưởng đến đòn bẩy của các công ty ở Ethiopia
Lê Thị Mỹ
Phượng
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các công
ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng
Và
Quy mô của doanh nghiệp, thời gian hoạt động, cấu trúc tài sản, tính thanh khoản, hiệu quả hoạt động kinh doanh, cơ hội tăng trưởng, tỷ lệ Vốn nhà nước, rủi
ro kinh doanh
chỉ có 4 nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công
ty, đó là : Quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán,
tỷ lệ vốn nhà nước và rủi ro kinh doanh
Thanh Thủy
Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị
LEV, STD, LTD
Và
GRO, SIZE, TANG, TAX, LIQ, ROA
quy mô doanh nghiệp và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp có mối tương quan dương với tỷ lệ đòn bẩy tài chính Trong khi đó, tài sản cố định hữu hình và khả năng thanh toán hiện hành, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản có