1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015

105 574 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 3,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp 2.1.4.1 Sự ổn định của doanh thu: Một công ty có doanh thu tương đối ổn định có thể sử dụng nhiều nợ vay hơn và chi tr

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING

-

NGUYỄN THỊ KIM HƯƠNG

XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CÁC CÔNG TY NGÀNH VẬT LIỆU XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Mã số:60340201

Hướng dẫn khoa học: TS Bùi Hữu Phước

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015

Trang 2

HĐKD: Hoạt động kinh doanh

LNT: Lợi nhuận thuần LNTT: Lợi nhuận trước thuế LNST: Lợi nhuận sau thuế NPV: Giá trị hiện tại thuần

Nợ NH: Nợ ngắn hạn PV: Giá trị hiện tại VCSH: Vốn chủ sở hữu VLXD: Vật liệu xây dựng TSCĐ: Tài sản cố định TP: Thành phố TSNH: Tài sản ngắn hạn TTS: Tổng tài sản REM: Mô hình Random Effect WACC: Chi phí sử dụng vốn bình quân

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tiên đoán, lý thuyết TOT, POT, ACT và kết quả 29

Bảng 2.2: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu trước đây 33

Bảng 4.1: Bảng báo cáo tài chính ngành VLXD qua các năm 2009, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 45

Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả toàn bộ bộ dữ liệu nghiên cứu 47

Bảng 4.3: Bảng ma trận tương quan giữa các biến với biến phụ thuộc là td 48

Bảng 4.4: Bảng ma trận tương quan giữa các biến với biến phụ thuộc là std 48

Bảng 4.5: Bảng ma trận tương quan giữa các biến với biến phụ thuộc là ltd 49

Bảng 4.6: Mô hình hồi quy Pooled OLS với biến phụ thuộc td 50

Bảng 4.7: Mô hình Fixed Effect đối với biến phụ thuộc td 51

Bảng 4.8: Mô hình Random Effect với biến phụ thuộc là td 52

Bảng 4.9: Kiểm định hausman test đối với biến phụ thuộc td 53

Bảng 4.10: Mô hình hồi quy Pooled OLS đối với biến phụ thuộc std 54

Bảng 4.11: Mô hình Fixed Effect với biến phụ thuộc std 55

Bảng 4.12: Mô hình Random Effect với biến phụ thuộc std 56

Bảng 4.13: Kiểm định hausman với biến phụ thuộc std 57

Bảng 4.14: Mô hình hồi quy Pooled OLS với biến phụ thuộc ltd 58

Bảng 4.15: Mô hình Fixed Effect với biến phụ thuộc ltd 59

Bảng 4.16: Mô hình Random Effect với biến phụ thuộc ltd 60

Bảng 4.17: Kiểm định hausman test với biến phụ thuộc ltd 61

Bảng 4.18: Bảng kiểm định hệ số VIF 62

Bảng 4.19: Bảng hồi quy robust với biến phụ thuộc là td 63

Bảng 4.20: Bảng hồi quy robust với biến phụ thuộc là std 64

Bảng 4.21: Bảng hồi quy robust với biến phụ thuộc là ltd 65

Bảng 4.22: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi với biến phụ thuộc là td 66

Trang 4

Bảng 4.23: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi với biến phụ thuộc là std 67 Bảng 4.24: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi đối với biến phụ thuộc ltd 69 Bảng 4.25: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi với bốn biến có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5% 70 Bảng 4.26: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi với bốn biến có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5% 71 Bảng 4.27: Bảng khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi với sáu biến có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5% 72 Bảng 4.28: Bảng tổng hợp giả thiết, lý thuyết TOT, POT, ACT và kết quả 73

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn ngành VLXD qua các năm 2009, 2010,

2011, 2012, 2013, 2014 45

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Bùi Hữu Phước

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Tác giả

Nguyễn Thị Kim Hương

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Thời gian học tập tại trường Đại học Tài chính – Marketing không phải là khoảng

thời gian dài để em có thể học tất cả các kiến thức, nhưng với khoản thời gian đó em đã

có một quá trình học hỏi, rèn luyện và trao dồi kiến thức, em muốn gởi lời cảm ơn chân

thành đến tất cả quý Thầy Cô trường Đại học Tài chính – Marketing nói chung và những

Giảng Viên khoa Tài chính – Ngân hàng nói riêng, những người đã cho em những kiến

thức nền tảng, làm chỗ dựa vững chắc để em làm hành trang vào đời

Đặc biệt, em cảm ơn Thầy Bùi Hữu Phước đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn em để

em có thể hoàn thành tốt luận văn này

Một lần nữa em chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô và sẽ cố gắng phấn đấu hết

Trang 8

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

7 Bố cục của đề tài 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 6

2.1 Những vấn đề lý luận về cấu trúc vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp 6

2.1.1 Cấu trúc vốn của doanh nghiệp 6

2.1.2 Các lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp 6

2.1.3 Đặc điểm của ngành vật liệu xây dựng……… 12

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp 14

2.2 Các nghiên cứu trước đây 15

2.2.1 Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới 15

2.2.2 Một số mô hình nghiên cứu trong nước 27

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Thiết kế mô hình nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 34

3.1.1 Quy trình nghiên cứu 34

3.1.2 Mô tả dữ liệu 34

3.1.3 Giả thuyết của mô hình 39

3.2 Mô hình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 40

CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Tổng quan về ngành vật liệu xây dựng 42

4.2 Kiểm định và kết quả nghiên cứu 46

Trang 9

4.2.1 Các kiểm định 46

4.1.2 Kết quả nghiên cứu 72

4.3 Thảo luận 73

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79

5.1 Kết luận 79

5.2 Khuyến nghị 80

5.3 Những hạn chế còn tồn tại và hướng nghiên cứu phát triển sau khi hoàn thành đề tài 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều ngành nghề đa dạng khác

nhau, mỗi ngành nghề lại có những đặc thù riêng, cấu trúc vốn đặc trưng riêng Trong đó, ngành xây dựng là ngành kinh tế trọng điểm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Đặc biệt, Việt Nam là nước đang phát triển nên

việc đầu tư phát triển ngành xây dựng làm cơ sở nền tảng cho quá trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước Là một trong những ngành bổ trợ đắc lực và có tính

quyết định cho ngành xây dựng, ngành vật liệu xây dựng ở Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây đã luôn có những bước tăng trưởng mạnh Song song với việc phát triển để đáp ứng được những nhu cầu tất yếu, ngành vật liệu xây dựng cũng đang có

những chuyển mình tích cực để thích nghi với xu hướng phát triển chung của thế

giới Theo báo cáo, Bộ xây dựng cho biết việc sản xuất tiêu thụ các loại vật liệu xây

dựng phụ thuộc rất lớn vào các dự án bất động sản Thị trường bất động sản đã trầm lắng rất nhiều năm nay, trải qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế 2008 – 2009, giá bất động sản giảm khoảng 20 – 30%, có khu vực giá đã giảm 50% thì đến nay đã giữ ổn định và tiếp cận gần với giá trị thực Từ cuối năm 2013 đến nay thị trường đã ấm dần lên, với dự báo giá trị sản xuất ngành xây dựng có thể tiếp tục tăng 10% trong năm 2015 Sự ấm dần của thị trường BĐS, cùng với các chính sách hỗ trợ đối với ngành, nhiều dự án BĐS và dự án giao thông dự kiến được khởi công trong năm

2015 và hoàn thành trong thời gian tới sẽ là những yếu tố có tác động tích cực đối

với hoạt động xây dựng và theo đó là nhu cầu với các loại VLXD, đặc biệt là các

loại xi măng, nhựa, sắt thép

Với việc nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với khu vực

và thế giới sẽ dẫn đến việc cạnh tranh giữa các ngành nghề trong nền kinh tế ngày

càng quyết liệt, do đó cần phải vững vàng về tiềm lực để có thể cạnh tranh với thị

Trang 11

2

trường ở các nước khác Theo ông Lê Anh Ba - Phó chủ tịch Hiệp hội VLXD, năm

2015 cạnh tranh trong thị trường VLXD ở Việt Nam chắc chắn sẽ quyết liệt hơn bởi

nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với các nước trong khu vực

và trên thế giới; đây cũng là năm Việt Nam cam kết cắt giảm 93% số dòng thuế có

mức thuế suất là 0% và 7% Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA, thành lập năm 1993) cũng đang tiến tới thực hiện những cam kết cuối cùng để thành lập Cộng đồng ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015

Thế mạnh của hầu hết doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực VLXD ở

Việt Nam là vốn, kinh nghiệm, bề dày vận hành thị trường tiêu thụ Tuy nhiên, với

những doanh nghiệp Việt Nam, sự thua kém doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu là

vốn tự có Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dùng vốn vay ngân hàng để đầu tư

nên bị lệ thuộc vào quá trình giải ngân, do đó ảnh hưởng đến tiến độ, cơ hội đầu tư;

việc hoàn trả vốn gốc và lãi vay là nguyên nhân dẫn đến việc tăng giá thành, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước Còn về kinh nghiệm, thị trường thì các doanh nghiệp Việt Nam đã tích lũy theo năm tháng được nhiều bài

học, xây dựng được nhiều mối quan hệ, phương thức bán hàng, khả năng chiếm lĩnh

thị phần, thị trường Chủ tịch Hiệp hội VLXD cho rằng: Để nâng cao năng lực cạnh

tranh, các DN cần tuân thủ các quy định, chủ động trước thời cơ và thách thức, đặc

biệt trong lĩnh vực xuất khẩu, các DN VLXD trong nước cần cạnh tranh lành mạnh

bằng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí và giá thành sản xuất Vì vậy, việc nghiên

cứu vấn đề liên quan đến cấu trúc vốn hay nói cách khác là làm thế nào để có thể

giảm chi phí sử dụng vốn nhằm giúp cho doanh nghiệp giảm bớt phần nào trong giá

thành sản phẩm là điều cấp bách trong thời điểm hiện nay Để làm được điều đó,

việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành vật liệu

xây dựng là một vấn đề không thể bỏ qua, vì nó giúp cho các công ty đưa ra được

các quyết định phù hợp về cấu trúc vốn để có thể giảm chi phí sử dụng vốn, từ đó

Trang 12

3

làm giảm chi phí và kéo theo làm hạ giá thành sản phẩm

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu thực hiện trong nước cũng như ngoài nước nói về các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn với nhiều quan điểm khác nhau và vì thế mà các yếu tố nghiên cứu cũng khác nhau Mỗi người một quan điểm, một khía cạnh, mỗi Quốc gia một hoàn cảnh, không Quốc gia nào giống Quốc gia nào Do đó, kết quả nghiên cứu cũng có phần khác nhau, thậm chí còn cho

kết quả hoàn toàn trái ngược nhau

Như vậy đối với thị trường Việt Nam, mà cụ thể là ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì các yếu tố nào tác động đến cấu

trúc vốn của các công ty và mức độ tác động của từng yếu tố đến cấu trúc vốn như

thế nào? Để có câu trả lời cho vấn đề này, tác giả chọn đề tài “Xác định các yếu tố

ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu ba vấn đề sau:

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu

xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014

Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến cấu trúc vốn của các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Từ kết quả nghiên cứu đưa ra khuyến nghị

3 Câu hỏi nghiên cứu

Các yếu tố nào ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty công ty ngành

vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến cấu trúc vốn của các công ty công

ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như thế

Trang 13

4

nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn năm 2009 đến năm 2014

Phạm vi nghiên cứu:

o Về thời gian: Báo cáo tài chính của các công ty ngành vật liệu xây dựng sau

khủng hoảng kinh tế 2008; từ năm 2009 đến năm 2014, gồm 06 năm: 2009, 2010,

2011, 2012, 2013, 2014

o Về không gian: Luận văn nghiên cứu 52 công ty ngành vật liệu xây dựng có đầy

đủ dữ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu được đăng trên trang cophieu68.vn

trong báo cáo tài chính và lịch sử hình thành công ty

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp định tính:

Thu thập thông tin, dữ liệu cần nghiên cứu trên trang cophieu68.vn

Phương pháp định lượng:

Sử dụng kiến thức về kinh tế lượng với sự hỗ trợ của phần mềm Stata11 để

chạy mô hình hồi quy bội, từ đó xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến cấu trúc vốn

của doanh nghiệp

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn chỉ ra các yếu tố nào tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp,

các yếu tố đó tác động như thế nào đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp, và yếu tố

nào là yếu tố tác động mạnh nhất Từ đó đưa ra các khuyến nghị giúp doanh nghiệp xác định cấu trúc vốn hợp lý nhằm giảm chi phí sử dụng vốn, từ đó giảm giá thành

sản phầm

Trang 14

5

7 Bố cục của đề tài

Bố cục của đề tài bao gồm 5 chương sau:

Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan lý luận về cấu trúc vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Kiểm định, kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Trang 15

6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Những vấn đề lý luận về cấu trúc vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp

2.1.1 Cấu trúc vốn của doanh nghiệp

Cấu trúc vốn là nguồn tài trợ hỗn hợp gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nợ

trung dài hạn, thể hiện nguồn tài trợ thường xuyên, doanh nghiệp có thể an tâm sử

dụng trong thời gian tương đối dài không phải lo chi trả

2.1.2 Các lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp

Lý thuyết Modigliani và Miller

Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu với bài viết của Modigliani và Miller đưa ra vào tháng 6 năm 1958 (gọi tắt là học thuyết MM) Hai ông đã được giải Nobel kinh tế với nội dung nghiên cứu chủ yếu xem xét mối quan hệ giữa đòn bẩy

tài chính và giá trị của doanh nghiệp Lý thuyết MM dựa trên những giả định quan

trọng sau:

- Giả định về thuế

- Giả định về chi phí giao dịch

- Giả định về chi phí khốn khó tài chính

- Giả định về thị trường hoàn hảo

Về nội dung, lý thuyết MM được phát biểu thành hai mệnh đề quan trọng

Mệnh đề thứ nhất nói về giá trị công ty Mệnh đề thứ hai nói về chi phí sử dụng vốn

Các mệnh đề này lần lượt được xem xét trong hai trường hợp ứng với hai giả định

chính: có thuế và không có thuế

Trường hợp không có thuế Các giả định đầy đủ của lý thuyết MM bao gồm:

- Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân

- Không có chi phí giao dịch

Trang 16

7

- Không có chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính

- Cá nhân và công ty đều có thể vay tiền với mức lãi suất như nhau

- Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo

Trong trường hợp không có thuế, giá trị công ty có vay nợ và giá trị công ty không có vay nợ là như nhau Do đó, giá trị công ty không thay đổi khi cơ cấu vốn

của công ty thay đổi Hay nói khác đi, việc thay đổi cơ cấu vốn không mang lại lợi

ích gì cho cổ đông Đây chính là nội dung mệnh đề MM số I Mệnh đề MM số II

cho rằng, chi phí sử dụng vốn trung bình không đổi trong khi chi phí sử dụng vốn

cổ phần tăng lên khi công ty gia tăng tỷ số nợ

Trong trường hợp có thuế, giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không vay nợ cộng với hiện giá của tấm chắn thuế do sử dụng nợ Như vậy, việc sử

dụng nợ hay sử dụng đòn bẩy tài chính làm gia tăng giá trị công ty Đây chính là nội

dung mệnh đề MM số I trong trường hợp có thuế Mệnh đề MM số II trong trường

hợp có thuế cho rằng chi phí sử dụng vốn trung bình giảm trong khi chi phí sử dụng

vốn cổ phần tăng lên khi công ty gia tăng tỷ số nợ

Tuy nhiên, lý thuyết MM chưa xem xét tác động của một số chi phí khác

khiến cho lợi ích của tấm chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi công ty gia tăng tỷ số nợ Đó chính là tác động của chi phí khốn khó tài chính Khi công ty gia tăng sử dụng nợ làm cho rủi ro của công ty tăng theo Điều này làm phát sinh chi phí khốn khó tài chính tác động đồng thời với lợi ích của tấm chắn thuế Đến một điểm nào đó thì chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt qua lợi ích của tấm chắn thuế Ở điểm đó gọi là điểm cơ cấu vốn tối ưu, giá trị công ty đạt cực đại và chi phí sử dụng vốn trung bình đạt cực tiểu Khi công ty tiếp tục gia tăng sử dụng nợ, công ty sẽ vượt qua điểm tối ưu, ở đó giá trị công ty bắt đầu giảm và chi phí sử dụng vốn trung bình của công ty bắt đầu tăng Lợi ích của tấm chắn thuế không đủ bù đắp cho chi

phí khốn khó về tài chính

Trang 17

8

Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory - POT)

Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và

Majluf (1984) bắt đầu với thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xứng tác động đến lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ từ bên ngoài, và giữa phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phần Điều này đưa tới một trật tự phân

hạng, theo đó đầu tư sẽ được tài trợ trước tiên bằng vốn nội bộ, chủ yếu là lợi nhuận tái đầu tư; rồi mới đến phát hành nợ mới và cuối cùng bằng phát hành vốn cổ phần mới

Trong lý thuyết này, không có hỗn hợp nợ-vốn cổ phần thường mục tiêu được xác định rõ, bởi vì có hai loại vốn cổ phần thường, nội bộ (có sẵn) và từ bên ngoài (phát hành thêm cổ phần mới), một ở đầu và một ở cuối trật tự phân hạng

Mỗi tỷ lệ nợ quan sát được của mỗi doanh nghiệp phản ánh các nhu cầu tích luỹ của

doanh nghiệp đối với tài trợ từ bên ngoài

Lý thuyết trật tự phân hạng giải thích tại sao các doanh nghiệp có khả năng

sinh lời nhất thường vay ít hơn – không phải vì họ có các tỷ lệ nợ mục tiêu thấp mà

vì họ không cần tiền bên ngoài Các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi ít hơn thì

phát hành nợ vì họ không có các nguồn vốn nội bộ đủ cho chương trình đầu tư vốn

và vì tài trợ nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài

Trong lý thuyết trật tự phân hạng, sự hấp dẫn của tấm chắn thuế lãi từ

chứng khoán nợ được coi là có tác động hạng nhì Các tỷ lệ nợ thay đổi khi có bất cân đối của dòng tiền nội bộ, cổ tức và các cơ hội đầu tư thật sự Các doanh nghiệp

có khả năng sinh lời cao với cơ hội đầu tư hạn chế sẽ cố gắng đạt tỷ lệ nợ thấp Các

doanh nghiệp có cơ hội đầu tư lớn hơn các nguồn vốn phát sinh nội bộ thường buộc

phải vay nợ ngày càng nhiều

Lý thuyết này giải thích mối tương quan nghịch trong ngành giữa khả năng

sinh lợi và đòn bẩy tài chính Lẽ thường là các doanh nghiệp thường đầu tư theo

Trang 18

9

mức tăng trưởng của ngành Như vậy, các tỷ lệ đầu tư sẽ tương tự nhau trong cùng

một ngành Với các tỷ lệ chi trả cổ tức cho sẵn và không thể linh hoạt được thì các

doanh nghiệp sinh lời ít nhất sẽ có ít nguồn vốn nội bộ hơn và sẽ phải vay mượn

thêm

Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-Off Theory – TOT)

Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn là một lý thuyết trong lĩnh vực kinh tế tài chính nói chung, trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp nói riêng Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần

bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp

không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn

thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất

là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của

việc phá sản có nguyên nhân từ nợ

Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể

khác nhau giữa các doanh nghiệp Các công ty có tài sản hữu hình an toàn và nhiều

thu nhập chịu thuế để được khấu trừ nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao Các công ty

không sinh lợi có các tài sản vô hình nhiều rủi ro nên dựa chủ yếu vào tài trợ vốn cổ

phần

Theo lý thuyết đánh đổi, lợi nhuận cao có nghĩa sẽ có nhiều khả năng vay

nợ và có nhiều lợi nhuận chịu thuế để được khấu trừ thuế và sẽ cho một tỷ lệ nợ

mục tiêu cao hơn

Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi

phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp

Trang 19

10

dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao

nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu

là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì PV(tấm chắn thuế) = PV(chi phí kiệt quệ

tài chính)

Lý thuyết chi phí đại diện (Agency Cost Theory - ACT)

Nghiên cứu này được khởi sướng bởi Jensen và Meckling (1976) và Jensen

(1986) Lý thuyết này nhìn nhận sự tồn tại cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp bởi

sự có mặt của chi phí đại diện Chi phí đại diện phát sinh từ hai loại mâu thuẫn Thứ

nhất, mâu thuẫn giữa các cổ đông và các nhà quản lý – còn gọi là chi phí đại diện

vốn cổ phần Thứ hai, mâu thuẫn giữa trái chủ và các cổ đông

Mâu thuẫn giữa các cổ đông và các nhà quản lý: Trong công ty cổ phần, đây được coi là mâu thuẫn cơ bản nhất do sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý trong loại hình công ty cổ phần Khi bỏ tiền ra thuê người đại diện điều hành công ty, các cổ đông – chủ sở hữu công ty mong muốn hoạt động của người đại diện đều nhằm mục đích tối đa hóa giá trị công ty, nâng cao thị giá của cổ phiếu, gia tăng cổ tức Trong khi đó, người đại diện – người điều hành của công ty lại có những lợi ích cá nhân riêng, họ có thể trực tiếp quyết định hay ngụy tạo ra những lý do khiến ông chủ

không thực hiện đầu tư vào những dự án có sức sinh lời cao vì tâm lý e ngại rủi ro,

hoặc quyết định đầu tư vào những dự án không mang lại lợi nhuận tối ưu cho công

ty nhưng lại đem lại lợi nhuận cho cá nhân họ, hay thậm chí với những thông tin và quyền lực có được từ việc điều hành công ty, họ có thể tư lợi mà không cần quan tâm đến lợi nhuận của công ty và những hậu quả mà công ty sẽ phải gánh chịu Những mâu thuẫn trong lợi ích của hai chủ thể này cho ta thấy rất rõ sự tồn tại của

vấn đề đại diện trong công ty cổ phần

Mâu thuẫn giữa các chủ nợ và các cổ đông: Trong mối quan hệ này, các cổ đông

trở thành người đại diện cho các chủ nợ Những cá nhân hay tổ chức có tiền đồng ý

Trang 20

11

giao tiền cho các cổ đông của một công ty cổ phần để họ đại diện thực hiện việc đầu

tư mang lại lợi ích cho cả hai Quyết định giao tiền của cá nhân hay tổ chức này dựa trên cơ sở người đi vay (công ty cổ phần) đáp ứng được một số yêu cầu từ phía các chủ nợ, như mức độ hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, tỷ

suất sinh lợi của dự án đầu tư, khả năng gia tăng lợi nhuận, khả năng trả nợ,… Ngược lại, các cổ đông khi vay tiền có thể thực hiện đầu tư vào các dự án nhằm mang lại lợi ích tối đa cho công ty mình Khi quyết định cho vay tiền, các chủ nợ

của công ty quan tâm đến phần thu nhập dưới dạng lãi suất cũng như tài sản của công ty trong trường hợp phá sản Các cổ đông, thông qua các nhà điều hành mong muốn công ty mình thực hiện các dự án có tỷ suất sinh lời cao hơn và dĩ nhiên rủi ro cũng cao hơn Nếu dự án đầu tư vốn đầy rủi ro này thành công, tất cả lợi nhuận thuộc về các cổ đông của công ty Tuy nhiên, nếu dự án đó thất bại, các chủ nợ buộc

phải chia sẽ những thiệt hại, bị trì hoãn thanh toán nợ gốc và lãi, thậm chí mất cả số

tiền đã cho vay

Chính vì vậy, các chủ nợ có thể yêu cầu được trực tiếp tham gia giám sát tiến

trình thực hiện của dự án, qua đó mới cho phép công ty được giải ngân khoản vay Đây được xem là chi phí đại diện mà các cổ đông phải trả để được sử dụng các khoản vay của chủ nợ Để hạn chế các cổ đông chiếm đoạt tài sản từ các chủ nợ, các

chủ nợ sẽ tự bảo vệ bằng cách áp dụng các điều khoản hạn chế trong các hợp đồng cho vay trong tương lai Ngoài ra nếu các chủ nợ tin rằng nhà điều hành công ty đang cố gắng lợi dụng họ, họ sẽ hoặc từ chối cung cấp thêm vốn cho công ty hoặc

sẽ đưa ra một lãi suất cao hơn lãi suất thị trường để bù lại rủi ro chiếm đoạt vốn

Các nhà nghiên cứu đã phát triển các mâu thuẫn trong quan hệ đại diện thành lý

thuyết đại diện Lý thuyết đại diện được đề cập đến đầu tiên trong một nghiên cứu

của Fama và Miller (1972) Về sau, lý thuyết đại diện được phát triển sâu hơn trong

nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976) và sau đó là nghiên cứu của Jensen

Trang 21

12

(1986)

Các quan hệ đại diện này nảy sinh các chi phí đại diện Khái niệm về chi phí đại

diện được đề cập nhiều nhất trong loạt bài báo đăng trên tờ “Journal of Finance”

của Michael Jensen và William Meckling Hai ông cho rằng chi phí đại diện là loại chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả, là tổng của các loại chi phí:

- Chi phí giám sát của người chủ (monitoring expenditures by principal)

- Chi phí ràng buộc (the bonding expenditures by the agent)

Tổn thất lợi ích (residual loss hay welfare loss)

Như vậy, việc sử dụng nợ và vốn cổ phần phải gánh chịu chi phí đại diện, lý thuyết chi phí đại diện ngụ ý rằng cấu trúc vốn tối ưu được xác định bằng việc tối

thiểu hoá những khoản chi phí phát sinh từ mâu thuẫn giữa các bên liên quan

Lý thuyết chi phí đại diện giải thích tại sao các công ty có quy mô lớn, có

dòng tiền tự do càng nhiều thường có khuynh hướng sử dụng nhiều nợ hơn Điều này là do các điều khoản trong hợp đồng vay nợ sẽ kiểm soát được phần nào các hành vi của các nhà quản lý không hướng đến mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh

nghiệp

2.1.3 Đặc điểm của ngành vật liệu xây dựng

Đặc trưng của ngành vật liệu xây dựng là một ngành kinh tế thâm dụng vốn, các tài sản của nó là những tài sản nặng vốn, và chi phí cố định của ngành khá cao Đặc tính nổi bật của ngành là nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ

mô Khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh số và lợi nhuận của các công ty trong ngành

sẽ tăng cao Sở dĩ như vậy vì ngành vật liệu xây dựng là đầu vào của các ngành khác

Chẳng hạn, sắt, thép, xi măng là đầu vào cho các công trình như cầu cống, nhà cửa, cao ốc của ngành xây dựng Khi ngành xây dựng làm ăn phát đạt thì ngành vật liệu xây dựng cũng có cơ hội để tăng trưởng

Trang 22

13

Ngược lại, tình hình sẽ tồi tệ khi nền kinh tế suy thoái, các công trình xây dựng

sẽ bị trì trệ vì người dân không còn bỏ nhiều tiền ra để xây dựng nhà cửa, chính phủ không mở rộng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng như cầu cống, sân bay, bến cảng, trường học, bệnh viện Điều này làm cho doanh số, lợi nhuận của các công

ty vật liệu xây dựng sụt giảm nhanh chóng

Một lý do khác để giải thích cho sự nhạy cảm của ngành xây dựng đối với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế là do cách thức tăng lợi nhuận của các công ty trong ngành dựa chủ yếu vào tăng trưởng doanh số và các công ty thường sử dụng đòn bẩy hoạt động để tăng lợi nhuận, bởi có rất ít “độc quyền giá” và lợi nhuận biên tế ở mức thấp Theo Morningstar thì lợi nhuận biên tế của ngànhvật liệu xây dựng chỉ ở mức 5%, do đó để gia tăng lợi nhuận, các công ty thực hiện bằng cách đẩy mạnh doanh số bán Nhưng khi thực hiện điều này thì cũng có nghĩa rằng, các công ty vật liệu xây dựng sẽ phải sản xuất ở quy mô lớn và do đó, chi phí cố định sẽ bị đẩy lên cao Lúc này, chi phí cố định cao trở thành vấn đề sống còn đối với các công ty Chỉ công ty nào có chi phí cố định thấp hơn so với đối thủ ở cùng một quy mô sản xuất thì mới có thể gia tăng lợi nhuận và vượt qua khó khăn trong thời kỳ nền kinh tế suy thoái Chi phí thấp sẽ là thế mạnh kinh tế của ngành, công ty nào có chi phí sản xuất thấp sẽ tạo được ưu thế cạnh tranh bền vững

Đứng trên giác độ của người sử dụng khi mua vật liệu xây dựng, đa số họ có tâm

lý quan tâm nhiều đến giá cả Bởi lẽ, họ thường mua với khối lượng lớn, nhất là đối với các công trình xây dựng như bến cảng, nhà xưởng, cầu cống hay các cao ốc Do vậy, một biến động nhỏ về giá cả có thể làm cho chi phí mua của khách hàng thay đổi đáng kể

Tất nhiên, cũng phải nói rằng, thương hiệu, chất lượng và mẫu mã cũng có ảnh hưởng đến quyết định mua của người tiêu thụ Nhưng sự sai khác về chất lượng, mẫu mã của các sản phẩm trong ngành này là không nhiều Chính vì thế, nhu

Trang 23

14

cầu hay khách hàng trong ngành này rất nhạy cảm với các biến động giá cả

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp

2.1.4.1 Sự ổn định của doanh thu: Một công ty có doanh thu tương đối ổn định

có thể sử dụng nhiều nợ vay hơn và chi trả được các khoản cố định lớn hơn các

công ty có doanh thu không ổn định Các công ty công ích có lịch sử sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính hơn các công ty trong ngành công nghiệp bởi vì sự ổn định về cầu

sản phẩm của họ

2.1.4.2 Cấu trúc tài sản: Các công ty có tài sản thích hợp như là khoản đảm bảo

cho nợ vay sẽ có khuynh hướng sử dụng nhiều nợ vay hơn Các tài sản có thể sử

dụng cho nhiều ngành là một khoản thế chấp tốt, trong khi đó các tài sản chuyên

dụng thì lại không như vậy Do vậy, các công ty bất động sản thường có đòn bẩy tài chính cao, trong khi đó các công ty trong lĩnh vực nghiên cứu công nghệ thì lại

không

2.1.4.3 Đòn bẩy hoạt động: Khi các yếu tố khác giống nhau, công ty sử dụng ít

đòn bẩy hoạt động hơn có khả năng sử dụng đòn bẩy tài chính tốt hơn bởi vì công ty

này có ít rủi ro kinh doanh hơn

2.1.4.4 Tốc độ tăng trưởng: Khi các yếu tố khác giống nhau, công ty có tốc độ

tăng trưởng nhanh hơn phải dựa nhiều vào nguồn vốn bên ngoài Hơn nữa, do chi phí phát hành trong việc bán cổ phiếu nhiều hơn chi phí phát hành nợ vay, điều này

khuyến khích các công ty tăng trưởng nhanh sử dụng nhiều nợ vay hơn Tuy nhiên, các công ty thường đối mặt với sự bất ổn cao hơn có khuynh hướng giảm mức độ

sẵn sàng sử dụng nợ vay

2.1.4.5 Lợi nhuận: Trong thực tế thường thấy các công ty có tỷ suất lợi nhuận

cao sử dụng rất ít nợ vay

2.1.4.6 Thuế: Lãi vay là chi phí được khấu trừ, và khoản giảm trừ này rất có giá

trị với các công ty có thuế thu nhập cao Do vậy, công ty có mức thuế thu nhập cao

Trang 24

15

sẽ sử dụng nợ nhiều hơn

2.2 Các nghiên cứu trước đây

2.2.1 Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Prof B.D.Panda, Prof (Dr.) S.P Mohapatra và Prof (Dr.)

S Moharana về vấn đề các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty thép

ở Ấn Độ Bài nghiên cứu được thực hiện với mẫu là 66 công ty thép có nợ bình quân chiếm 68% trong cấu trúc vốn của công ty với dữ liệu thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2010 cùng với biến độc lập là tỷ lệ nợ và 8 biến giải thích như sau: cấu trúc tài sản, lợi nhuận, các cơ hội tăng trưởng, quy mô công ty, đặc điểm riêng của công ty, rủi ro kinh doanh, tấm chắn thuế phi nợ, tính thanh khoản Với

mô hình nghiên cứu như sau:

Debtrat = α + β1sz + β2ndts + β3asststr + β4profitab + β5liquidit + β6unique + β7risk + β8grot + e

Trong đó:

 Debtrat - Debt ratio là tỷ lệ nợ được tính bằng tổng nợ chia cho tổng tài sản

 sz - size là quy mô công ty được tính bằng ln(tổng tài sản)

 ndts - non debt tax shield là tấm chắn thuế phi nợ được tính bằng khấu hao chia cho tổng tài sản

 asststr - asset structure là cấu trúc tài sản được tính bằng tài sản cố định chia cho tổng tài sản

 profitab - profitability là lợi nhuận được tính bằng lợi nhuận trước lãi và thuế chia cho vốn chủ sở hữu

 liquidit - liquidity là tính thanh khoản được tính bằng tài sản ngắn hạn chia cho nợ ngắn hạn

 unique - uniqueness là đặc điểm riêng của công ty được tính bằng chi phí

Trang 25

16

bán hàng chia cho doanh thu thuần

 risk - business risk là rủi ro kinh doanh được tính bằng hệ số biến thiên của lợi nhuận hoạt động

 grot - growth là cơ hội tăng trưởng được tính bằng tăng trưởng bình quân của doanh thu hàng năm

Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến giải thích như lợi nhuận, rủi ro kinh doanh và tăng trưởng có ý nghĩa trong việc phân tích tỷ lệ nợ các công ty thép của

Ấn Độ Các biến giải thích khác như quy mô công ty, cấu trúc tài sản, tấm chắn thuế phi nợ, tính thanh khoản và đặc điểm riêng của công ty không có ý nghĩa Và nếu

xem xét dấu của các hệ số hồi qui thì chúng cho thấy mô hình có khuynh hướng

theo thuyết cân đối hơn là thuyết trật tự phân hạng

Ưu điểm: Bài nghiên cứu khoanh vùng được mẫu nghiên cứu cụ thể là ngành thép và các công ty có tỷ lệ nợ trung bình 68% Xác định được cấu trúc vốn cần

nghiên cứu là tỷ lệ nợ trên tổng tài sản Đồng thời xác định được các biến giải thích

cho biến nghiên cứu gồm 8 biến Và đã đưa ra được kết quả là có 3 biến có ý nghĩa

và ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ của công ty thép, các biến giải thích còn lại không có ý nghĩa

Nhược điểm: Các số liệu thu thập còn hạn chế do nguồn thu thập không có đầy đủ dữ liệu, do đó chỉ sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian và vì vậy làm giảm số quan sát, làm cho bài nghiên cứu giảm độ tin cậy khi xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty Các mô hình hồi quy thường mắc một số hiện tượng như đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi làm cho kết quả thu được bị sai lệch

và không chính xác mà tác giả đã bỏ qua các bước kiểm định để xem mô hình có bị

các hiện tượng trên không

Nghiên cứu của Ali Bayrakdaroglu, Ilhan Ege & Nusret Yazici về vấn đề

“Phân tích dữ liệu bảng của các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn: Bằng chứng

Trang 26

17

thực nghiệm từ thị trường vốn Thổ Nhĩ Kỳ” Bài nghiên cứu cố gắng trả lời những

câu hỏi sau: thứ nhất, các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn có mối tương quan với đòn bẩy hay không Và thứ hai là các lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại (ví dụ như lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng) có giá trị trong việc giải thích cơ cấu

vốn của các công ty ở Thổ Nhĩ Kỳ không Tác giả đã áp dụng phân tích kỹ thuật

kinh tế với phân tích dữ liệu bảng Tác giả nghiên cứu thực nghiệm cấu trúc vốn của

242 công ty của các lĩnh vực khác nhau đang được giao dịch ở thị trường chứng

khoán Istanbul trong giai đoạn 2000 đến 2009

Biến phụ thuộc trong bài nghiên cứu này là tỷ lệ nợ Có ba cách đo lường cấu

trúc vốn Tỷ lệ nợ ngắn hạn thị trường Lev-s(mv) được xác định như là nợ ngắn hạn

chia cho nợ ngắn hạn cộng với giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu Tỷ lệ nợ dài

hạn thị trường Lev-l(mv) được xác định như là tỷ lệ nợ dài hạn chia cho nợ dài hạn

cộng với giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu Tỷ lệ tổng nợ thị trường Lev-t(mv) được xác định như là tổng nợ chia cho tổng nợ cộng với giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu Cần lưu ý rằng, tỷ lệ nợ thị trường Lev-t(mv) được sử dụng đo lường

chính về tỷ lệ đòn bẩy và phần còn lại Lev-s(mv) và Lev-l(mv) được sử dụng để

kiểm tra độ mạnh

Trong số các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của công ty, tác giả thảo luận

các yếu tố sau: lợi nhuận, tài sản hữu hình, quy mô công ty, các cơ hội tăng trưởng,

tấm chắn thuế phi nợ Tác giả cũng đi vào xem xét các yếu tố quốc gia cụ thể (yếu

tố kinh tế vĩ mô) như phát triển kinh tế, lạm phát và thuế Lợi nhuận (PRO) đươc đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận trước thuế, lãi và khấu hao Tài sản hữu hình (TAN) được đo lường bằng tài sản cố định hữu hình chia cho tổng tài sản Quy mô công ty (FS) được đo lường bằng lagarith tự nhiên của tổng tài sản Các cơ hội tăng trưởng (GO) được đo lường bằng phần trăm tăng của tổng tài sản trong năm Tấm chắn thuế phi nợ (NDTS) được đo lường bằng tỷ lệ khấu hao hàng năm so với tổng tài

Trang 27

18

sản Phát triển kinh tế (ED) được đo lường bằng logarith của phần trăm thay đổi tỷ

lệ GDP bình quân đầu người Lạm phát (INF) được đo lường bằng logarith tự nhiên

của trung bình chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số giá sản xuất Thuế (TAX) được đo lường bằng tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp của nền kinh tế

Mô hình nghiên cứu của tác giả như sau:

Lev-s(mv)it = β0 + β1(FS) + β2(PRO) + β3(TAN) + β4(GO) + β5(NDTS) + β6(ED) + β7(INF) + β8(TAX) + αit

Lev-l(mv)it = β0 + β1(FS) + β2(PRO) + β3(TAN) + β4(GO) + β5(NDTS) + β6(ED) + β7(INF) + β8(TAX) + αit

Lev-t(mv)it = β0 + β1(FS) + β2(PRO) + β3(TAN) + β4(GO) + β5(NDTS) + β6(ED) + β7(INF) + β8(TAX) + αit

Trong bài nghiên cứu tác giả có sử dụng kiểm định hausman để lựa chọn mô

hình fixed effects hay mô hình random effects cho bài nghiên cứu Và kết quả là

chọn mô hình fixed effects

Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các biến trong mô hình đều có ý nghĩa

thống kê, thậm chí trong các mô hình khác nhau Có thể nói đến là các biến FS, PRO, TAN, GO, NDTS, ED, INF và TAX đều có ý nghĩa và giải thích được cho biến phụ thuộc

Ưu điểm: Bài nghiên cứu có nghiên cứu các yếu tố vi mô lẫn vĩ mô ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty nghiên cứu và đối chiếu với thuyết cân đối

và thuyết trật tự phân hạng Có sử dụng và lựa chọn mô hình trước khi đi vào phân tích Đưa ra kết luận là cấu trúc vốn của công ty ở Thổ Nhĩ Kỳ thiên về thuyết trật

tự phân hạng

Nhược điểm: Phạm vi phân tích rộng

Nghiên cứu của Usman Muhammed Umer trường đại học Mekelle, Ethiopia năm 2013 Mục đích của nghiên cứu là để xác định các yếu tố quyết định cơ cấu

Trang 28

19

vốn của các công ty cổ phần nộp thuế lớn ở Ethiopia Tác giả đã phân tích một

nhóm gồm 37 công ty niêm yết trên Ethiopian Revenue and Customs Authority

(ERCA) tại Addis Ababa trong giai đoạn 2006 – 2010 Chín biến giải thích thông thường được sử dụng trong nghiên cứu này, bao gồm lợi nhuận, quy mô công ty, số năm doanh nghiệp hoạt động, tài sản hữu hình, tính thanh khoản, tấm chắn thuế phi

nợ, tăng trưởng, tỷ lệ chi trả cổ tức, mức biến động của lợi nhuận Tác giả sử dụng đồng thời dữ liệu chéo và chuỗi thời gian Hồi quy dữ liệu bảng được dùng để nghiên cứu sự tác động của các biến độc lập lên cấu trúc vốn Kết quả cho thấy, quy

mô công ty, số năm doanh nghiệp hoạt động, tài sản hữu hình, tính thanh khoản và

tấm chắn thuế phi nợ có mối quan hệ dương với đòn bẩy, trong khi lợi nhuận, mức

biến động của lợi nhuận và tỷ lệ chi trả cổ tức có mối tương quan âm với đòn bẩy

tài chính Biến tăng trưởng được tìm thấy là có ý nghĩa thống kê không đáng kể ảnh hưởng đến đòn bẩy của các công ty ở Ethiopia Các dấu hiệu của các mối quan hệ chỉ ra rằng, lý thuyết chi phí đại diện cung cấp bằng chứng thuyết phục hơn so với

lý thuyết cấu trúc vốn khác trong việc làm sáng tỏ cấu trúc vốn của các công ty cổ

phần nộp thuế lớn tại Ethiopia

Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn:

Lợi nhuận: Hầu hết các bài nghiên cứu về cấu trúc vốn đều xem lợi nhuận là

yếu tố then chốt trong việc lựa chọn các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn Tuy

nhiên, có sự mâu thuẫn khi nói về mối quan hệ giữa lợi nhuận và cấu trúc vốn Lý

thuyết đánh đổi cho rằng, công ty có nhiều lợi nhuận hơn có thể có tỷ số nợ nhiều hơn khi được hưởng lợi từ tấm chắn thuế Ngược lại, thuyết trật tự phân hạng thì lại cho rằng khi các mặt khác không thay đổi, các công ty có lợi nhuận nhiều hơn,

chúng có nguồn tài chính nội bộ nhiều hơn, các công ty ưu tiên nguồn tài chính bên trong hơn là bên ngoài Do đó, công ty có được lợi nhuận càng nhiều, họ cần nguồn tài chính bên ngoài ít hơn và họ có đòn bẩy tài chính thấp hơn

Trang 29

20

Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn, mọi người đều tìm

thấy mối tương quan âm giữa lợi nhuận và đòn bẩy tài chính của công ty, điều này

phù hợp với thuyết trật tự phân hạng, ví dụ như nghiên cứu của Titman và Wessels

(1988), Rajan và Zingales (1995), Bevan và Danbolt (2002), Antoniou, Guney và

Paudial (2002) về các công ty phát triển và bài nghiên cứu của Wiattanakantang

(1999), Pandy (2001), Booth et al (2001), Al-Sakran (2001), Chen (2004) từ các nước đang phát triển tìm thấy mối quan hệ âm giữa lợi nhuận và đòn bẩy tài chính

Quy mô công ty: Mặc dù một vài nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô của công ty

có ảnh hưởng tốt đối với tỷ lệ đòn bẩy, tuy nhiên vẫn có nhiều mâu thuẫn khi xét về

mối tương quan giữa quy mô công ty và đòn bẩy của công ty Titman và Wessel

(1988) chỉ ra rằng các công ty lớn được đa dạng hóa nhiều hơn và ít bị phá sản, điều

này cho phép các công ty tài trợ bởi một khoản nợ có thuế suất ưu đãi hơn (Ferri & Jones, 1979) Thêm vào đó, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô công ty ảnh hưởng dương đến tỷ lệ đòn bẩy Wiwattanakantang (1999); Booth et al (2001); Al-Sakran (2001); Pandy (2001); Huang và Song (2002) đã khám phá ra quy mô và tỷ lệ đòn bẩy có ý nghĩa tích cực trong các nước đang phát triển Trong khi, Rajan và

Zingales (1995) chứng minh rằng mối quan hệ âm giữa quy mô và đòn bẩy tài chính

của công ty

Tài sản cố định hữu hình: Tài sản cố định hữu hình là nguồn được chấp

nhận rộng rãi nhất trong việc cho vay của ngân hàng và các khoản nợ có đảm bảo,

khi nó có thể xem như tài sản thế chấp và làm giảm rủi ro của người cho vay Điều

đó có nghĩa rằng cấu trúc tài sản của công ty có vai trò ý nghĩa trong việc xác định cấu trúc vốn của công ty Điều quan trọng được đề cập ở đây là việc nghiên cứu của Titman và Wessels (1988) và Rajan, Zingales (1995) trong các nước phát triển; Wiwattanakantang (1999) tại Thái Lan; Um (2001) tại Nam Hàn Quốc; Attaullah và

Sufiullah (2007) tại Pakistan và nghiên cứu của Dilek, Ozlem và Ayca (2009) từ

Trang 30

21

một vài công ty ở Thổ Nhĩ Kỳ có mối tương quan âm giữa tài sản hữu hình và đòn

bẩy của công ty Hơn nữa, Scott (1977), Myers (1977), Myers và Majiluf (1984) và Williamson (1988) cũng có kết luận tương tự

Các nghiên cứu khác như là Booth et al (2001) tại mười nước đang phát

triển và Huang và Song (2002) tại Trung Quốc đã tìm thấy rằng công ty với tài sản

hữu hình nhiều hơn có khuynh hướng sử dụng tỷ số nợ ít hơn và họ cho rằng có tồn

tại sự kết hợp âm giữa đòn bẩy và tài sản hữu hình Hơn nữa, Myroshnichenko (2004) cũng quan sát thấy có mối tương quan âm giữa tài sản hữu hình và đòn bẩy của công ty trong thời gian ngắn đối với các công ty ở Ucraina Nhưng, hầu hết các

nghiên cứu thực nghiệm đều cho rằng có tồn tại mối tương quan dương giữa đòn

bẩy và tài sản hữu hình

Tấm chắn thuế phi nợ: Một vấn đề cũng được quan tâm góp phần làm giảm

việc thanh toán thuế là tấm chắn thuế phi nợ (cho trường hợp khấu hao) DeAngelo

và Masulis (1980) lập luận rằng tấm chắn thuế phi nợ có thể thay thế lợi thế về thuế

của nợ tài chính và một công ty với tấm chắn thuế phi nợ lớn thì có nhiều khả năng

sử dụng ít nợ hơn Vì lý do này, mối quan hệ giữa tấm chắn thuế phi nợ và đòn bẩy được giả sử là âm Mối quan hệ ngược lại giữa tấm chắn thuế phi nợ và đòn bẩy được tìm thấy bởi Kumer và Reddy (1998), Huang và Song (2002); và Titman và Wessel (1988) Thậm chí, các nghiên cứu khác như là Rafiu và Akinlolu (2008) và Bradly et al (1984) xác định có mối tương quan dương giữa tỷ lệ đòn bẩy và tấm chắn thuế phi nợ

Các cơ hội tăng trưởng: Lý thuyết trật tự phân hạng lập luận rằng các công

ty đang phát triển sử dụng nguồn tài chính nội bộ đầu tiên, nếu không đủ cho mục đích đầu tư thì quyền lựa chọn tiếp theo là sử dụng nợ tài chính Điều này hàm ý rằng các công ty đang phát triển sẽ có một mức độ đòn bẩy cao Tuy nhiên, lý

thuyết cân đối thì cho rằng để tránh xung đột thay thế tài sản và đầu tư dưới chuẩn

Trang 31

22

phát sinh từ sự xung đột của các cổ đông và trái chủ, các công ty có cơ hội đầu tư

nhiều hơn sẽ có đòn bẩy ít hơn Lý thuyết này ước tính có mối quan hệ âm giữa cơ

hội tăng trưởng và đòn bẩy tương ứng

Bằng chứng thực nghiệm liên quan đến mối quan hệ tăng trưởng và đòn bẩy

không nhiều Titman và Wessel, (1988) và Attaullah và Sufiullah (2007) cho rằng chi phí đại diện của các công ty đang phát triển có khả năng cao hơn và kết quả là làm chi phí nợ cao hơn Do đó, các công ty đang phát triển phải đối mặt với chi phí

nợ cao hơn sẽ sử dụng nợ ít hơn và vốn chủ sở hữu nhiều hơn Vì vậy, có một mối

quan hệ âm giữa tăng trưởng và đòn bẩy tài chính được mong đợi Với tiên đoán

này, Jensen và Meckling (1976), Myers (1984), Stulz (1990), Chung (1933), và Rajan và Zingales (1995) đưa ra mối tương quan âm giữa tăng trưởng và mức độ đòn bẩy từ các nước phát triển Tuy nhiên, Kester (1986) và Huang và Song (2002) chứng minh có mối quan hệ dương giữa tăng trưởng và đòn bẩy

Số năm doanh nghiệp hoạt động: Có sự tranh luận giữa lý thuyết cân đối

và lý thuyết trật tự phân hạng về sự ảnh hưởng của số năm doanh nghiệp hoạt động lên đòn bẩy Lý thuyết cân đối cho rằng khi công ty trưởng thành thì khả năng vay mượn của nó tăng, ngụ ý có mối liên hệ dương giữa đòn bẩy và số năm thành lập của doanh nghiệp Ngoài ra, Berger và Udell (1998) phát biểu rằng khi một công ty trưởng thành nó có thể tăng tài sản cố định dưới hình thức đất đai và xây dựng mà

nó có thể đảm bảo thế chấp tài trợ cho một khoản nợ dài hạn và cũng có thể tích lũy

tài sản sử dụng như tài sản thế chấp nợ dưới dạng hàng tồn kho, khoản phải thu và

trang thiết bị Tuy nhiên, lý thuyết trật tự phân hạng lập luận rằng, khi công ty tăng trưởng, nó sẽ xây dựng danh tiếng cho nó Có nghĩa là danh tiếng một công ty tốt được xây dựng qua nhiều năm, cái tên được công nhận bởi thị trường, điều này sẽ tốt hơn và dễ dàng hơn để tăng vốn chủ sở hữu hơn là vốn vay

Một nghiên cứu bởi Petersen và Rajan (1994) cho thấy các công ty trưởng

Trang 32

23

thành có tỷ lệ nợ cao hơn khi chúng có trách nhiệm của công ty chất lượng cao Hơn

nữa, Hutchinson và Michaelas (2004) lập luận rằng số năm doanh nghiệp hoạt động

có mối quan hệ dương đối với nợ dài hạn nhưng có quan hệ âm đối với nợ ngắn

hạn Tuy nhiên, Esperanca, Gama và Gulamhussen (2003) đã tìm thấy số năm

doanh nghiệp hoạt động có mối quan hệ âm đối với cả nợ dài hạn và nợ ngắn hạn

Tính thanh khoản: Mối quan hệ giữa đòn bẩy và tính thanh khoản của công

ty cũng là vấn đề tranh luận Bogdana (2009) lập luận rằng các công ty có tính thanh khoản cao hơn có thể có tỷ lệ nợ cao hơn bằng trực giác rằng chúng có thể đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn Do vậy, mối quan hệ dương được mong đợi giữa tính thanh khoản và đòn bẩy Quan sát của Williamson (1988), Shleifer và Visny (1992), Maksimovic và Phillips (2001) và Valeriy (2007) liên quan đến mối quan hệ giữa tính thanh khoản tài sản và đòn bẩy cho ra kết luận tương tự Hơn thế, các bài

nghiên cứu khác kiểm tra mối quan hệ giữa đòn bẩy và tính thanh khoản tài sản như

Morellec (2001), tìm bằng chứng cho thấy tính thanh khoản tác động tích cực đến tỷ

lệ nợ trên vốn chủ sở hữu

Mặt khác, các công ty có tính thanh khoản cao có thể sử dụng tài sản này để

tài trợ các hoạt động của họ và không sử dụng nợ tài chính Điều này cho ra mối

quan hệ âm giữa tính thanh khoản và tỷ lệ đòn bẩy Phát hiện của nghiên cứu Ozkan

(2003) hỗ trợ cho tiền đề này ở Anh

Tỷ lệ chi trả cổ tức: Cổ tức là số tiền thu nhập ròng được trả cho các cổ

đông Theo lý thuyết phá sản thì có mối quan hệ nghịch chiều giữa tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty với đòn bẩy Theo lý thuyết này, tỷ lệ chi trả cổ tức thấp chứng tỏ có

sự gia tăng vốn chủ sở hữu và xác suất phá sản thấp Như vậy, chi phí phá sản thấp

hàm ý mức độ đòn bẩy trong cấu trúc vốn cao Phát hiện của Keshar (2004) cũng ủng hộ cho lý thuyết chi phí phá sản Ngược lại, theo lý thuyết trật tự phân hạng thì

có mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ nợ trong cấu trúc vốn và tỷ lệ chi trả cổ tức

Trang 33

24

Theo lý thuyết này, có xếp thứ bậc của các nguồn tài chính của công ty Điều này

bắt đầu với nguồn tài chính nội bộ bên trong rồi đến nguồn tài chính bên ngoài

Thay vì phân phối cổ tức cao và đáp ứng các yêu cầu tài chính, nhà quản lý giữ lại

thu nhập Do đó, tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hàm ý mức độ thấp của nợ trong cơ cấu

vốn Những phát hiện của Rafiu và Akinlolu (2008) là phù hợp với lý thuyết trật tự

phân hạng

Mức biến động lợi nhuận: Mức biến động của lợi nhuận được mô tả như là

rủi ro kinh doanh vốn có trong hoạt động của doanh nghiệp hoặc là kết quả của việc

quản lý không hiệu quả Kết hợp tiên đoán của lý thuyết cân đối và lý thuyết trật tự

phân hạng cho rằng có mối quan hệ âm giữa mức biến động của lợi nhuận và đòn

bẩy do không có khả năng trong việc gia tăng để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính với

việc gia tăng mức biến động của lợi nhuận Hơn nữa, Bhaduri (2002), Frank và

Goyal (2003), Attaullah và Sufiullah (2007), Bradly et al (1984) chỉ ra mối tương

quan âm giữa mức biến động lợi nhuận và đòn bẩy Tuy nhiên, Kim và Sorensen (1986) đã tìm thấy mối quan hệ dương giữa mức biến động lợi nhuận và đòn bẩy

của công ty

Mô hình nghiên cứu của tác giả như sau:

LEVit = α + β1PROF + β2SIZE + β3TANG + β4NDTS + β5GROW + β6AGE + β7LIQU + β8DPR + β9EV + ui + εit

 SIZE (quy mô) được tính bằng logarith tự nhiên của doanh thu

 TANG (tài sản hữu hình) được tính bằng tỷ lệ giữa tài sản cố định và tổng

Trang 35

PROF Tỷ lệ thu nhập hoạt động trên

Nguồn: Bài nghiên cứu của Usman Muhammed Umer

Ưu điểm: Sử dụng dữ liệu bảng phân tích sẽ làm tăng số quan sát, kéo theo

đó là độ chính xác về kết quả phân tích sẽ cao hơn Bài nghiên cứu đã đưa ra được các yếu tố nào có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy là bao nhiêu, và các yếu tố đó tác động như thế nào đến cấu trúc vốn, cùng chiều hay ngược chiều Cuối bài tác giả thống kê dấu kì vọng của mô hình, dấu của các lý thuyết TOT, POT, ACT và dấu

của thực nghiệm Từ đó so sánh và đưa ra nhận xét, lý giải sự khác nhau giữa dấu kì

vọng và dấu thực nghiệm

Nhược điểm: Cũng như các nghiên cứu trước, bài nghiên cứu này tác giả

Trang 36

27

cũng bỏ qua kiểm định các hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai sai

số thay đổi…điều này có thể làm kết quả không chính xác

2.2.2 Một số mô hình nghiên cứu trong nước

Đề tài của học viên Lê Thị Mỹ Phượng chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng đã nghiên cứu về việc “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Hà Nội” vào năm 2012 Đề tài nghiên cứu đối với các biến như sau:

o Biến phụ thuộc bao gồm:

(1) Tỷ suất nợ = (Nợ phải trả/ Tổng tài sản) *100%

(2) Tỷ suất nợ dài hạn = (Nợ dài hạn/ Tổng tài sản) *100%

(3) Tỷ suất nợ trên vốn chủ = (Nợ phải trả/ Vốn chủ sở hữu) *100%

o Biến độc lập bao gồm:

(1) Quy mô của doanh nghiệp: Tổng doanh thu

(2) Thời gian hoạt động: Số năm kể từ ngày thành lập

(3) Cấu trúc tài sản: (TSCĐ/ TTS)*100%

(4) Tính thanh khoản: TSNH/Nợ ngắn hạn

(5) Hiệu quả hoạt động kinh doanh đo lường bằng tỷ suất sinh lời tài sản

(ROA)=(LNST/TTS)*100% và tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu

(ROE)=(LNST/VCSH)*100%

(6) Cơ hội tăng trưởng =

(7) Tỷ lệ Vốn nhà nước: % sở hữu cổ phần của Nhà nước

(8) Rủi ro kinh doanh: % thay đổi của EBIT/% thay đổi của doanh thu thuần

Đề tài nghiên cứu 9 nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất nợ của các công ty cổ phần ngành xây dựng Tuy nhiên qua quá trình sử dụng mô hình hồi quy của SPSS

thì kết quả chỉ có 4 nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty, đó là : Quy

Trang 37

28

mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán, tỷ lệ vốn nhà nước và rủi ro kinh doanh

Hạn chế của đề tài là việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn

chỉ mới giới hạn trong giai đoạn 2009-2011 nên kết quả thống kê chưa phản ánh

thật sự sự phát triển của tổng thể

Hướng nghiên cứu và phát triển của đề tài là hướng đến phân tích các nhân

tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành xây dựng và xác định

thêm các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn

Nghiên cứu của Đoàn Thị Thanh Thủy vào năm 2012 với đề tài “ Các nhân

tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên

thị trường chứng khoán Việt Nam”

Các mô hình cụ thể của tác giả nghiên cứu như sau:

LEV = α + β1GRO + β2SIZE + β3TANG + β4TAX + β5LIQ + β6ROA + ε

STD = α + β1GRO + β2SIZE + β3TANG + β4TAX + β5LIQ + β6ROA + ε

LTD = α + β1GRO + β2SIZE + β3TANG + β4TAX + β5LIQ + β6ROA + ε

Trong đó, nguồn dữ liệu được lấy từ các báo cáo tài chính của 88 doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và

Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian từ 2008 – 2011 Cấu trúc

vốn được đại diện bởi tỷ lệ đòn bẩy tài chính, do vậy, các biến (ba biến) phụ thuộc

là: tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản (LEV), tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (STD),

tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản (LTD) và các biến (sáu biến) độc lập là: tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp (GRO), quy mô doanh nghiệp (SIZE), tài sản cố định hữu hình (TANG), thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TAX), khả năng thanh toán

hiện hành (LIQ) và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA)

Đề tài sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu: các thống kê mô tả, t-test, hồi quy bội với phần mềm SPSS for Windows v.16 để kiểm tra mối tương quan giữa

các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho

Trang 38

29

thấy: quy mô doanh nghiệp và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp có mối tương quan dương với tỷ lệ đòn bẩy tài chính Trong khi đó, tài sản cố định hữu hình và khả năng thanh toán hiện hành, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản có chiều tương quan khác nhau đối với từng thành phần nợ Tốc độ tăng trưởng không ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính với mức ý nghĩa 5%

Kết quả thu được của đề tài là: Tổng kết các kết quả nghiên cứu trên thế giới

về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến cấu trúc vốn Nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng Việt Nam bao gồm: quy mô doanh nghiệp, tài sản cố định hữu hình, thuế suất thuế thu nhập doanh

nghiệp, khả năng thanh toán hiện hành, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản Xây dựng được mô hình hồi quy giới hạn các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng Việt Nam Đánh giá được mức độ ảnh hưởng của

từng nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng Việt Nam

Một số hạn chế nhất định của đề tài là: do số lượng các công ty niêm yết

không nhiều nên số lượng mẫu quan sát còn bị giới hạn Ngoài ra, số liệu lấy từ các

báo cáo các công ty niêm yết có thể chưa chính xác do việc công bố thông tin Chưa

nghiên cứu được hết các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp

Trang 39

ở Ấn Độ

debtrat

Sz, ndts, asststr,profitab,liquidit,unique, risk,

grot

Các biến giải thích như lợi nhuận, rủi ro kinh doanh và tăng trưởng có ý nghĩa trong việc phân tích tỷ lệ nợ các công ty thép của Ấn Độ Các biến giải thích khác như quy

mô công ty, cấu trúc tài sản, tấm chắn thuế phi nợ, tính thanh khoản và đặc điểm riêng của công ty không có ý nghĩa thống kê

lev-s, lev-l, lev-t

PRO, TAN, FS,

GO, NDTS, ED, INF, TAX

tất cả các biến trong mô hình đều có ý nghĩa thống kê, thậm chí trong các mô hình khác nhau Có thể nói đến là các biến FS, PRO, TAN, GO, NDTS, ED, INF và TAX đều

có ý nghĩa và giải thích được cho biến phụ thuộc

Usman

Muhammed

Umer

Mục đích của nghiên cứu là

để xác định các yếu tố quyết định cơ cấu vốn của

LEV

PROF, SIZE, TANG, NDTS, GROW, AGE, LIQU, DPR, EV

Các biến quy mô công ty, số năm doanh nghiệp hoạt động, tài sản hữu hình, tính thanh khoản và tấm chắn thuế phi

nợ có mối quan hệ dương với đòn bẩy, trong khi lợi nhuận,

Trang 40

31

các công ty

cổ phần nộp thuế lớn ở Ethiopia

mức biến động của lợi nhuận

và tỷ lệ chi trả cổ tức có mối tương quan âm với đòn bẩy tài chính Biến tăng trưởng được tìm thấy là có ý nghĩa thống

kê không đáng kể ảnh hưởng đến đòn bẩy của các công ty ở Ethiopia

Lê Thị Mỹ

Phượng

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các công

ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng

Quy mô của doanh nghiệp, thời gian hoạt động, cấu trúc tài sản, tính thanh khoản, hiệu quả hoạt động kinh doanh, cơ hội tăng trưởng, tỷ lệ Vốn nhà nước, rủi

ro kinh doanh

chỉ có 4 nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công

ty, đó là : Quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán,

tỷ lệ vốn nhà nước và rủi ro kinh doanh

Thanh Thủy

Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị

LEV, STD, LTD

GRO, SIZE, TANG, TAX, LIQ, ROA

quy mô doanh nghiệp và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp có mối tương quan dương với tỷ lệ đòn bẩy tài chính Trong khi đó, tài sản cố định hữu hình và khả năng thanh toán hiện hành, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản có

Ngày đăng: 20/11/2015, 13:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Gujarati, D. N., 2004, Econometrics, 4th ed., McGraw-Hill Sách, tạp chí
Tiêu đề: Econometrics
13. Tugba Bas, and et, 2009, Determinants of Capotal Structure in Developing Countries. Journal of Finance Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of Capotal Structure in Developing Countries
14. Usman Muhammed Umer, 2014, Determinants of Capital Structure: Empirical Evidence from Large Taxpayer Share Companies in Ethiopia, International Journal of Economics and Finance; Vol. 6, No. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of Capital Structure: Empirical Evidence from Large Taxpayer Share Companies in Ethiopia
1. Huỳnh Đạt Hùng và cộng sự, 2011, Kinh tế lượng, NXB Phương đông Khác
2. Nguyễn Minh Kiều, 2011, Tài chính doanh nghiệp căn bản, NXB Lao Động Xã Hội Khác
3. Bùi Hữu Phước và cộng sự, 2006, Tài chính doanh nghiệp, NXB Lao Động Xã Hội Khác
5. Nguyễn Hải Sản, 2010, Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Thống Kê Khác
6. Trần Ngọc Thơ, 2002, Tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB Thống Kê Khác
8. Ali Bayrakdaroglu, and et, A Panel Data Analysis of Capital Structure: Empirical Results from Turkisk Capital Market Khác
9. Badi H.Baltagi, Econometric Analysis of Panel Data Khác
10. B.D.Panda, Capital Structure of Indian Steel Companies: Its Determinants Khác
11. Eugene F.Brigham and Joel F.Houston, Finance management, Florida University Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu trước đây - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu trước đây (Trang 39)
Bảng 4.1: Bảng báo cáo tài chính ngành VLXD qua các năm 2009, 2010, - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.1 Bảng báo cáo tài chính ngành VLXD qua các năm 2009, 2010, (Trang 53)
Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả toàn bộ bộ dữ liệu nghiên cứu - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.2 Bảng thống kê mô tả toàn bộ bộ dữ liệu nghiên cứu (Trang 56)
Bảng 4.5: Bảng ma trận tương quan giữa các biến với biến phụ thuộc là ltd - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.5 Bảng ma trận tương quan giữa các biến với biến phụ thuộc là ltd (Trang 58)
Bảng 4.7: Mô hình Fixed Effect đối với biến phụ thuộc td - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.7 Mô hình Fixed Effect đối với biến phụ thuộc td (Trang 60)
Bảng 4.8: Mô hình Random Effect với biến phụ thuộc là td - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.8 Mô hình Random Effect với biến phụ thuộc là td (Trang 61)
Bảng 4.11: Mô hình Fixed Effect với biến phụ thuộc std - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.11 Mô hình Fixed Effect với biến phụ thuộc std (Trang 64)
Bảng 4.12: Mô hình Random Effect với biến phụ thuộc std - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.12 Mô hình Random Effect với biến phụ thuộc std (Trang 65)
Bảng 4.15: Mô hình Fixed Effect với biến phụ thuộc ltd - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.15 Mô hình Fixed Effect với biến phụ thuộc ltd (Trang 68)
Bảng 4.17: Kiểm định hausman test với biến phụ thuộc ltd - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.17 Kiểm định hausman test với biến phụ thuộc ltd (Trang 70)
Bảng 4.18: Bảng kiểm định hệ số VIF - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.18 Bảng kiểm định hệ số VIF (Trang 71)
Bảng 4.20: Bảng hồi quy robust với biến phụ thuộc là std - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.20 Bảng hồi quy robust với biến phụ thuộc là std (Trang 73)
Bảng 4.28: Bảng tổng hợp giả thiết, lý thuyết TOT, POT, ACT và kết quả - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Bảng 4.28 Bảng tổng hợp giả thiết, lý thuyết TOT, POT, ACT và kết quả (Trang 82)
Hình biến phụ thuộc là ltd thì lợi nhuận cũng có tác động ngược chiều và trong điều - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các công ty ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ 2015
Hình bi ến phụ thuộc là ltd thì lợi nhuận cũng có tác động ngược chiều và trong điều (Trang 83)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w