1 Abdomen Phần bụng của nhện 3 Anterial laterial spinnerets ALS Bộ phận nhả tơ bên phía trước 4 Anterial laterial eyes 5 Anterior median eyes Phần khối cấu trúc phức tạp của bộ phận sinh
Trang 1HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
Trang 3Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Đình Sắc, Phòng Sinh thái môi trường Đất – Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài cho luận văn này
Tôi xin cảm ơn cơ sở đào tạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả người thân, gia đình, bạn bè, những người đã động viên, ủng hộ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Toàn bộ số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ luận văn nào
Tôi cũng xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ
Trang 51 Abdomen Phần bụng của nhện
3
Anterial laterial spinnerets (ALS) Bộ phận nhả tơ bên phía trước
4
Anterial laterial eyes
5
Anterior median eyes
Phần (khối) cấu trúc phức tạp của bộ phận sinh dục đực, thường nằm ngay dưới vùng lõm của cymbium
Móng vuốt (ở các chân bò và chân xúc giác
ở một số nhện cái)
Đốt háng (đốt số 1 ở các chân bò và chân xúc giác)
Cơ quan sinh dục của nhện có thể sinh dục ngoài với các ống dẫn tách biệt cho việc vận chuyển tinh dịch trong suốt quá trình thụ tinh (đối với túi nhận tinh – spermathecae) và sự thụ tinh (đối với tử cung – uterus)
Ống dẫn tinh dịch từ túi nhận tinh ra tử cung của nhện cái
Trang 6Đốt đầu gối (đốt thứ 4 của chân bò và chân xúc giác)
34
Posterial lateral eyes
35
Posterial median eyes
36
Posterial lateral spinnerets (PLS ) Bộ phận nhả tơ bên phía sau
37
Posterial median spinnerets (PMS) Bộ phận nhả tơ giữa phía sau
44 Tarsus (Tarsi)
Đốt bàn chân (đốt thứ 7 ở chân bò và đốt thứ
6 của chân xúc giác của nhện)
46 Trochanter Đốt chuyển (đốt thứ 2 ở chân bò của nhện)
MỤC LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu về nhện 3
1.1.1 Đặc điểm hình thái học của nhện 3
1.1.2 Đặc điểm cấu tạo bên trong của nhện 8
1.1.3 Một số đặc điểm sinh thái, sinh học của nhện 8
1.2 Nghiên cứu đa dạng nhện trên thế giới 11
1.3 Nghiên cứu đa dạng nhện ở Việt Nam 13
1.3 Vườn Quốc gia Cúc Phương 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Thời gian thực hiện 18
2.3 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 18
2.4.1 Thu mẫu ngoài thực địa 18
2.4.2 Phương pháp xử lý và lưu trữ mẫu 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
3.1 Thành phần loài nhện ở khu vực VQG Cúc Phương 21
3.1.1 Danh sách thành phần loài 21
3.1.2 Mô tả các loài nhện ở VQG Cúc Phương 23
3.1.3 Sự đa dạng thành phần loài nhện ở VQG Cúc Phương 61
3.2 Sự phân bố của nhện theo sinh cảnh ở khu vực VQG Cúc Phương – Tỉnh Ninh Bình 62
3.3 Sự phân bố của nhện theo mùa ở khu vực VQG Cúc Phương – Tỉnh Ninh Bình 68 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
BÀI BÁO CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Tài liệu Tiếng Anh 72
Tài liệu Tiếng Việt 75
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nhện (Araneae, Arachnida) đã được ghi nhận xuất hiện trên Trái Đất cách đây khoảng 400 triệu năm Nhện phân bố rộng khắp và chiếm ưu thế về số lượng loài cũng như số lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện Chúng hầu như được tìm thấy ở tất cả các môi trường sống trên cạn (như hệ sinh thái đài nguyên, rừng taiga, rừng mưa nhiệt đới, sa mạc, v.v) và một số môi trường sống dưới nước: các
hệ sinh thái ngập nước và bán ngập nước trên trái đất Một số loài nhện là thành viên của một họ nhện có gốc Á - Âu (Argyronetidae), được tìm thấy ở môi trường nước ngọt và biển (Foelix, 1996) Một số ít trong chúng đã tiến hóa đặc biệt hơn so với đồng loại để có thể tồn tại trong vài môi trường sống khắc nghiệt Nhện còn được tìm thấy cả trên đỉnh núi Everest, là một trong số ít loài động vật có thể sống sót ở cực Bắc Nhện được tìm thấy ở mọi nơi: trong nhà, vườn cây, trên cánh đồng lúa, công viên, trong rừng, ven suối,…
Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Clause I.H.S., 1986, Foelix R.,
1996, Jean – Pierre Maelfaitl, 1997, nhện được coi là một trong những sinh vật chỉ thị tốt để so sánh đặc điểm sinh thái của các khu hệ có điều kiện môi trường khác nhau và đánh giá ảnh hưởng của môi trường lên hệ sinh thái
Theo Barrion and Litsinger (1995), bộ nhện (Araneae, Arachnida) được xếp vào trong nhóm động vật có sự biến động mật độ cao và độ đa dạng đứng thứ bảy thế giới Các nghiên cứu hệ ĐVKXS nói chung và nhện nói riêng ở các khu bảo tồn, VQG đang ngày trở nên quan trọng dù chỉ mới phát triển bước đầu và tiến hành ở mức kiểm kê Những khảo sát khu hệ nhện Việt Nam của nhiều tác giả trong nước
và ngoài nước còn khá hạn chế và chủ yếu tập trung vào liệt kê danh sách thành phần loài, công bố loài mới (Phạm Đình Sắc, 2005)
Là vườn quốc gia được thành lập đầu tiên trong cả nước, Vườn quốc gia (VQG) Cúc Phương có hệ động thực vật vô cùng đa dạng và phong phú, đặc biệt có hơn 1800 loài côn trùng thuộc 200 họ, nhiều loài côn trùng có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên những nghiên cứu về nhện tại VQG Cúc Phương còn chưa nhiều, chưa
Trang 9đánh giá đầy đủ sự đa dạng khu hệ nhện tại khu vực này Các nghiên cứu trước đây mới chỉ dừng lại ở việc kiểm kê, thu bắt định tính mà chưa có những nghiên cứu về mặt sinh thái nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của chất lượng môi trường đến đa dạng nhện (Lin & Pham & Li, 2009) Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu đa dạng nhện ở Vườn quốc gia Cúc Phương (tỉnh Ninh Bình)”
nhằm góp phần bổ sung dẫn liệu cho những nghiên cứu về nhện tại địa điểm nghiên cứu này
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định thành phần loài và đặc điểm phân bố của nhện tại một số sinh cảnh điển hình của khu vực VQG Cúc Phương, phân bố nhện theo mùa, góp phần khôi phục, bảo vệ tính đa dạng sinh học, sự cân bằng trong các hệ sinh thái ở khu vực nghiên cứu
3 Nội dung nghiên cứu
- Thành phần loài nhện tại VQG Cúc Phương tỉnh Ninh Bình
- Phân bố của các loài nhện theo sinh cảnh: rừng tự nhiên, rừng keo tai tượng, trảng
cỏ cây bụi
- Phân bố nhện theo mùa: mùa mưa, mùa khô, khoảng thời gian giữa 2 mùa mưa và mùa khô
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về nhện
Tên khoa học: Araneae Tên tiếng Anh: Spider Tên Việt Nam: Nhện
Bộ nhện (Araneae) là một bộ lớn thuộc lớp hình nhện (Arachnida), ngành chân khớp (Arthropoda) Bộ nhện chiếm ưu thế về số lượng loài và số lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện (bao gồm: Acarina, Amblypygi, Araneae, Opiliones, Palpigradi, Pseudoscorpiones, Ricinulei, Schizomida, Scopionoides, Solifugae, Thelyphonida)
Nhện được chia làm hai phân bộ dựa vào số đôi phổi sách (book-lungs) thuộc
cơ quan hô hấp và số cặp núm nhả tơ (spinnerets) thuộc bộ phận nhả tơ Cụ thể Platnick (2014) đã chia hai phân bộ nhện là:
Mygalomorphae: có 2 đôi phổi sách và 2 cặp núm nhả tơ
Araneomorphae: có 1 đôi phổi sách và 3 cặp núm nhả tơ
Việc đặt tên khoa học cho nhện được bắt đầu từ năm 1757, tác giả Ovid và Clerek đã đưa ra tên của bộ nhện là Araneae và Aranei Đến năm 1801, Latreille
đưa ra tên bộ nhện là Araneida Năm 1862, Dallas cũng nêu ra tên của bộ nhện là
Araneida Năm 1938, Bristowe đưa tên bộ nhện là Araneae và tên này được sử dụng cho đến ngày nay (Platnick N.I, 2014)
1.1.1 Đặc điểm hình thái học của nhện
Đặc điểm nổi bật của nhện là có 4 đôi chân (trong khi côn trùng có 3 đôi
chân), cơ thể chia 2 phần rõ rệt: phần giáp đầu – ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen) được nối với nhau bởi cuống bụng (pedicel)
- Phần đầu - ngực bao gồm tấm lưng ngực và tấm bụng ngực
+ Phía trên đầu của giáp đầu - ngực có: miệng, 1 đôi chân kìm, 1 đôi chân xúc giác
Trang 11Hình 1: Hình thái bên ngoài của nhện (mặt lƣng)
Nhện có 4 đôi chân bò nằm trên phần giáp đầu ngực, xếp dọc hai bên ức theo
thứ tự từ trước ra sau là I, II, III và IV Mỗi chân gồm bảy đốt: háng (coax) nối liền với ngực, chuyển (trochanter), đùi (femur), gối (patella), cẳng hay ống (tibia), bàn trong hay đốt bàn (metatasus) và bàn ngoài hay đốt cổ chân (tarsus) Thông thường đốt bàn ngoài mang hai hoặc ba móng vuốt (mấu nhọn) (claws) tùy theo loài, nếu có
ba vuốt thì hai trong số ba vuốt tạo thành một đôi và vuốt còn lại nằm ở giữa Các vuốt có thể không có răng lược hoặc có răng lược để kéo tơ
Chân
số II
Chân xúc giác (xúc biện)
Trang 12Hình 2: Các bộ phận của chân nhện
Ngoài ra, chân nhện còn được phủ bởi lông, túm lông hoặc gai cứng đặc biệt Chiều dài, hình dạng của các chân, hình dáng và vị trí cũng như số lượng các lông hay gai là những đặc điểm được sử dụng trong phân loại và định danh nhện
+ Tấm lưng ngực có vị trí của mắt Phần lớn các nhóm nhện thường gặp có 8 mắt xếp thành hai hàng phía trước phần đầu: hàng mắt trước (AE) và hàng mắt sau (PE) Mỗi hàng gồm bốn mắt: hai mắt trong (ME) và hai mắt ngoài (LE) Vì thế, trong phân loại nhện, người ta gọi tên như sau: bốn mắt của hàng mắt trước gồm một cặp mắt trong (AME) và một cặp mắt ngoài (ALE), bốn mắt của hàng sau gồm một cặp trong (PME) và một cặp ngoài (PLE) Hai mắt trong của hàng mắt trước và hai mắt trong của hàng mắt sau tạo thành tứ giác mắt (MOQ) Hình dạng, kích thước, vị trí, khoảng cách của các mắt và tứ giác mắt được sử dụng trong phân loại nhện Ngoài ra có những nhóm nhện có 6 hoặc 4 hoặc 2 mắt
Đốt háng
Đốt chuyển
Đốt đùi Đốt đầu gối
Đốt ống chân Đốt cổ chân
Đốt bàn chân
Móng vuốt
Trang 13Hình 3 .Hình vẽ cách sắp xếp mắt của một số họ nhện (http://www.spiders.us/articles/identification)
1 Họ Lycosidae
2 Họ Salticidae
3 Họ Salticidae, giống Lyssomanes
4 Họ Araneidae
5 Họ Pisauridae, giống Dolomedes
6 Họ Pisauridae, giống Pisaurina
7 Họ Ctenidae
8 Họ Oxyopidae
9 Họ Philodromidae
10 Họ Dysderidae
11 Họ Tetragnathidae, giống Tetragnatha
12 Họ Thomisidae, giống Xysticus
13 Họ Agelenidae, giống Eratigena
14 Họ Agelenidae, giống Agelenopsis
15 Họ Selenopidae, giống Selenops
16 Họ Sparassidae, giống Heteropoda
17 Họ Sparassidae, giống Olios
18 Họ Sicariidae, giống Loxosceles
19 Họ Uloboridae, giống Hyptiotes
20 Họ Zoropsidae, species Zoropsis
spinimana
21 Họ Deinopidae, species Deinopis spinosa
22 Họ Diguetidae, giống Diguetia
23 Họ Antrodiaetidae, giống Antrodiaetus
24 Họ Segestriidae
25 Họ Scytodidae
Trang 14Cơ quan sinh dục con cái nằm mặt dưới của bụng Cơ quan sinh dục con đực trưởng thành nằm ở hai đốt cuối cùng của đôi chân xúc giác, hai đốt này phình to và
có cấu tạo phức tạp Con cái có chân xúc giác bình thường, thuôn dài đều (Jocque,
R and A S Dippenaar-Schoeman, 2007)
Hình 4 Cơ quan sinh dục cái Hình 5 Cơ quan sinh dục đực
Việc phân loại nhện chỉ tiến hành trên nhện trưởng thành, đặc điểm cơ bản nhất sử dụng trong phân loại đến cấp độ giống và loài là xúc biện của con đực (đốt ngoài cùng của chân xúc giác) và bộ phận sinh dục của con cái
Phần cuối của bụng là hậu môn và bộ phận nhả tơ (núm nhả tơ –
Spinnerests) Bộ phận nhả tơ thường có 2 ống nhả tơ bên trước (ALS), 2 ống nhả tơ
bên sau (PLS), một số loài có thêm 2 ống nhả tơ giữa sau (PMS) Một số loài nhện
thuộc bộ Araneomorphae có tấm nhả tơ (cribellum – cribella) ở phía trước bộ phận
nhả tơ
Trang 15Hình 6 Vị trí tấm nhả tơ (cribellum) và núm nhả tơ (spinnerets)
1.1.2 Đặc điểm cấu tạo bên trong của nhện
Bên trong nhện chứa hệ thống tiêu hóa và bài tiết, tuần hoàn, hô hấp, bộ máy sinh dục và các giác quan có liên quan đến hệ thần kinh và các tuyến nội tiết Nhện mang tuyến tơ nằm dưới cuống bụng Theo Rod & Ken (1998), công dụng của tơ nhện là tạo thành mạng lưới để bắt mồi hoặc tạo thành kén để bảo vệ trứng
(Gasterocantha, Plesippus, Heteropoda,…) hoặc dùng để di chuyển từ nơi này sang
nơi khác
Tất cả các loài nhện đều có bộ phận sản xuất tơ Bản chất của tơ nhện là Protein, được cấu thành bởi nhiều amino acid, trong đó có một số amino acid đặc biệt nên tơ nhện có độ bền rất vững chắc đã được nghiên cứu sử dụng trong sản xuất
áo quân sự và kính chống đạn So sánh các vật liệu tự nhiên và vật liệu nhân tạo thì
tơ nhện là vật liệu đáng chú ý: nó có độ bền và sự dẻo dai gấp 2 đến 3 lần xenlulo, cao su, xương, gân và bằng 1/2 độ bền của sắt thép Vải sản xuất từ tơ nhện cũng như tơ tằm để thay thế một số loại vải từ sợi hoá học gây ô nhiễm môi trường
1.1.3 Một số đặc điểm sinh thái, sinh học của nhện
Theo Foelix (1996) nhện phát triển biến thái không hoàn toàn qua 3 giai đoạn: trứng – con non – nhện trưởng thành Nhện non phải qua nhiều lần lột xác
Trang 16mới trưởng thành và hình thành bộ phận sinh dục đực và cái Nhện đực khi đến tuổi thành thục thường ngừng tìm kiếm thức ăn và chuyên tâm vào việc tìm kiếm bạn đời Nhện đực chuyển túi tinh cho nhện cái và bị chết do chính nhện cái ăn thịt Sau giao phối nhện cái đẻ trứng thành ổ và bao bọc ổ trứng bằng tơ nhện do chính mình tạo ra Trứng của mỗi loài có sự khác nhau về số lượng và kích thước Bọc trứng thường được treo trên lưới nhện, dính chặt vào bờ tường, hốc cây, phiến lá (họ Clubionidae), hoặc được nhện mẹ mang gần cuối bụng (một số loài thuộc họ nhện sói Lycosidae) Nhện mẹ canh giữ trứng và con mới nở cho đến khi chúng đủ cứng cáp, có khả năng phân tán Nhện con mới nở thường tập trung trong ổ trứng
Dựa trên tập tính săn mồi, nhện được chia làm hai nhóm lớn: nhện chăng lưới bắt mồi và nhện săn mồi tự do không chăng lưới (Nguyễn Văn Huỳnh (2002)
Nhện chăng lưới bắt mồi vào ban ngày thường săn mồi hay rình mồi trên lưới nhện Khi con mồi vướng vào lưới, nhện nhả tơ để cuốn chặt con mồi rồi tiêm nọc độc giết chết con mồi Thường thì nhện sẽ treo con mồi trên lưới để dành ăn khi đói Các loài nhện chăng lưới ban đêm thì hoạt động vào lúc chiều tối Chúng chăng lưới khi trời bớt gió và cuốn lưới lại và mang con mồi bắt được về nơi trú ẩn (một
số loài thuộc họ Araneidae và Tetragnathidae) Những loài nhện săn mồi tự do, chúng rình và vồ con mồi sau đó nhanh chóng tiêm nọc độc, dùng hàm nghiền nát con mồi; tiết nước bọt tiêu hóa và hút hết dịch chất của con mồi rồi bỏ lại xác khô (Foelix, 1996)
Thức ăn chủ yếu của nhện là các động vật chân khớp nhỏ, thậm chí chúng còn ăn thịt lẫn nhau Trong các loại côn trùng thì ruồi, muỗi, bọ nhảy là nguồn thức
ăn chủ yếu của nhện Tuy nhiên, cũng có những nhóm côn trùng mà nhện phải kiêng dè như ong bắp cày, một số loại kiến, hay một số loại sâu bướm và bọ cánh cứng Những côn trùng này thường tiết ra mùi khó chịu hoặc chất độc để bảo vệ bản thân (Foelix, 1996) Song song đó, nhện được ghi nhận giữ vai trò chủ đạo và là một trong những nhóm ăn thịt quan trọng nhất trong hầu hết các hệ sinh thái Chúng
là nguồn thức ăn cho một số nhóm động vật như: chim, rắn, ong và nhiều loài động vật khác (Peterson et al, 1989) Đặc biệt những nhóm nhện sống trong và trên mặt
Trang 17đất giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa năng lượng trực tiếp từ mảnh vụn thức ăn bên dưới bề mặt đất đến mạng lưới thức ăn trên bề mặt đất cho nhiều họ chim, bò sát, lưỡng cư và thú (Johnston, 2000)
Nghiên cứu khả năng ăn mồi của loài nhện Pardosa birmanica tại Ấn Độ,
cho thấy 1 nhện cái trưởng thành tiêu diệt 28,4 sâu xanh hại cây bông trong 1 ngày đêm, 1 nhện đực trưởng thành tiêu diệt 14,1 sâu xanh trong 1 ngày đêm Sebastian
và Sudhikumar (2002) đã thử nghiệm sức ăn rệp Aphis craccivora của một số loài thuộc họ nhện nhảy Saticidae Nhện đực trưởng thành loài Phidipus pateli tiêu diệt 6,4 con rệp trong 1 ngày đêm, nhện cái trưởng thành loài Phidipus pateli tiêu diệt 6,6 con rệp trong 1 ngày đêm, nhện đực trưởng thành loài Plexippus paykulli tiêu diệt 10,2 con rệp trong 1 ngày đêm, nhện cái trưởng thành loài Plexippus paykulli
tiêu diệt 12,4 con rệp trong 1 ngày đêm Điều này cho thấy khả năng săn mồi của nhện không chỉ phụ thuộc vào loại thức ăn mà còn chịu ảnh hưởng của số lượng con mồi Khi số lượng con mồi tăng cao, nhện có thể ăn nhiều hơn bình thường nhằm hấp thu đầy đủ năng lượng, đẩy nhanh và rút ngắn quá trình tăng trưởng của nhện Ngoài ra, việc ăn nhiều cũng giúp cho nhện dự trữ năng lượng lớn phòng khi gặp điều kiện bất lợi về thức ăn chúng vẫn có thể duy trì sự sống Việc khan hiếm thức
ăn là một trong những nguyên nhân làm giảm thành phần loài nhện Loài nhện nào
có kĩ năng săn mồi tốt hoặc dự trữ và tích lũy được nhiều năng lượng để chịu đói được trong thời gian dài thì sẽ sống sót và ngược lại Rod & Ken (1998) cho rằng: khi săn mồi nhện tiêu tốn rất nhiều năng lượng nhưng chúng lại có khả năng nhịn đói trong suốt một tuần Điều này giúp chúng có thể sống được ở những nơi có môi trường sống khắc nghiệt Đây cũng chính là lí do nhện phân bố rộng khắp trên nhiều
hệ sinh thái Bổ sung thêm dẫn liệu cho những nghiên cứu về vai trò của nhện trong việc phòng trừ tổng hợp sâu hại trên cây trồng nồng nghiệp, Song và Zhu (1999) đã đưa ra nhận xét, so với côn trùng ký sinh và các loài thiên địch khác nhện có nhiều
ưu thế hơn Thứ nhất, nhện có kích thước quần thể lớn Thứ hai, nhện là loài phàm
ăn Thứ ba, nhện xuất hiện trên cây trồng sớm hơn các loài thiên địch khác Thứ tư,
Trang 18trong điều kiện thiếu thức ăn nhện vẫn có thể tồn tại trong thời gian dài Thứ năm, khả năng sinh sản của nhện cao
Nhện còn được sử dụng như chỉ thị sinh thái học để đánh giá chất lượng
môi trường sống, điển hình là nhóm nhện thuộc họ nhện cuốn tổ Clubionidae rất
mẫn cảm với các kim loại nặng như chì và kẽm Các kết quả nghiên cứu cho thấy thuốc trừ sâu hại ảnh hưởng lớn tới nhện Chen và Gao (1990) đã chỉ rõ: việc sử dụng thuốc trừ sâu trên vườn cây ăn quả làm giảm đáng kể số lượng nhện sống ở trên đó Tác giả cho rằng nhện rất mẫn cảm với thuốc hoá học, thuốc hoá học là nhân tố xua đuổi nhện ra khỏi nơi hoạt động và cư trú đặc biệt là thời điểm nhện tìm nơi ẩn nấp qua mùa đông
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về sinh học sinh thái nhện còn rất rải rác Kết
quả nghiên cứu của Bùi Hải Sơn (1995) cho thấy: loài nhện Pardosa pseudoannulata giai đoạn con non có 8 tuổi; thời gian phát dục của nhện non đực từ
76,2 - 155,7 ngày, của nhện non cái từ 92,6 - 167,7 ngày; vòng đời của nhện từ
122,9 - 219 ngày Loài nhện Oxyopes javanus giai đoạn con non có 9 tuổi; thời gian
phát dục của nhện non đực từ 152,9 - 204,0 ngày, của nhện non cái từ 159,6 - 223,7
ngày; vòng đời của nhện từ 185,0 - 238,5 ngày Nhện Pardosa pseudonnulata có khả năng ăn 9,4 - 22,5 con rầy nâu trong một ngày, nhện Oxyopes javanus có khả
năng ăn 0,32 - 0,48 sâu non cuốn lá nhỏ trong một ngày Phạm Văn Lầm (2004) đã tiến hành thí nghiệm tìm hiểu phổ vật mồi của một số loài nhện trên cánh đồng lúa,
cho rằng: các loài Pardosa pseudonnulata và Oxyopes javanus biểu hiện tính đa thực Loài Dyschiriognatha tenera và Theridium octomaculatum chỉ sử dụng 4 loài rầy nâu hại lúa trong phòng thí nghiệm để làm thức ăn Còn loài Myrmaracha elongata và Clubiona japonicola không ăn các loài bọ xít hại lúa Nhện là nhóm có
số lượng loài lớn, phân bố rộng, có vai trò trong nhiều lĩnh vực do đó các nghiên cứu về khu hệ bổ sung thành phần loài và sinh học sinh thái là việc làm cần thiết
1.2 Nghiên cứu đa dạng nhện trên thế giới
Nhận thức rõ tầm quan trọng của các loài nhện trong khoa học và thực tiễn
đời sống, năm 1965 một tổ chức với tên gọi là Hội nhện Quốc tế (International
Trang 19Society of rachnology) đã được thành lập Cho đến nay tổ chức này đã đón nhận
thành viên từ hơn 70 quốc gia khác nhau trên thế giới Với sự phát triển không ngừng của các công trình nghiên cứu về nhện, môn khoa học mới đã được ra đời là
Arachnology - Nhện học
Được bắt đầu nghiên cứu từ cuối thế kỷ 18 (theo tác giả Barrion & Litsinger, 1995) nhưng thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 mới là giai đoạn có hàng loạt các nghiên cứu chi tiết cũng như các công trình công bố loài mới ngày càng nhiều, được đánh giá là thời kỳ hoàng kim của phân loại học về nhện
Dofour – tác giả người Pháp, được cho là người đầu tiên sử dụng các hình vẽ chi tiết về hình thái học của nhện để mô tả so sánh, ghi nhận loài mới với 12 bài báo
có giá trị công bố loài mới từ năm 1820 đến 1831
Blackwall, một trong những cha đẻ của ngành nhện học, có nhiều công trình quan trọng đến họ Araneidae, một họ lớn của bộ nhện có nhiều đại diện ở vùng nhiệt đới Đặc biệt vào năm 1841, ông là người đầu tiên đề nghị sử dụng mắt nhện
để định loại đến loài, đặc điểm phân loại mà những nhà khoa học trước đó chưa có
ai đề cập đến
Theo thống kê gần đây nhất của Platnick (2014), trên thế giới hiện nay đã ghi nhận được 44.906 loài thuộc 3.935 giống của 114 họ nhện
Ở khu vực Đông và Đông Nam Á, từ năm 1841, Walokenaer đã mô tả chi
tiết 22 loài nhện chăng lưới thuộc 2 giống: Epeira (11 loài) và Plectanna (11 loài)
của 2 họ Araneidae và Tetragnathidae ở Philippine trong 2 quyển của bộ “ Historie Naturelle des Insects Aptères” Tiếp theo đó các công trình nghiên cứu khu hệ
nhện ở các quốc gia khác: Nhật Bản (Karsch 1897, Kishida 1913-1914); Malaysia (Pocock 1892, Thorell 1890s)
Trong những năm gần đây, số lượng các loài nhện được ghi nhận ở khu vực này gia tăng Murphy & Murphy (2000) đã đưa ra danh sách các loài nhện đã ghi nhận được tại các nước khu vực Đông Nam châu Á, sắp xếp theo thứ tự số lượng loài đã ghi nhận được từ cao đến thấp là: Indonesia (660 loài), Malaysia (463 loài),
Trang 20Myanma (455 loài), Philipine (426 loài), Singapo (308 loài), Việt Nam (230 loài), Thái Lan (156 loài)
Năm 2009, hai tác giả Y Norma-Rashid và Daiqin Li đã tổng hợp 3 danh sách thành phần loài nhện (gồm danh sách của Murphy & Murphy 2000, Platnick 2006 and Song et al.2002) và đưa ra danh sách chỉ còn 425 loài thuộc 42 họ và 238 giống được ghi nhận ở bán đảo Malaysia
Ở Trung Quốc, nghiên cứu về nhện bắt đầu từ năm 1798 Năm 1999, Song và Zhu đưa ra danh sách 2361 loài thuộc 450 giống của 56 họ nhện đã ghi nhận được ở nước này Cho đến nay, Trung Quốc đã xuất bản được 5 tập sách Động vật chí của 6
họ nhện bao gồm các họ Araneidae (năm 1997 với 286 loài, 33 giống), họ Thomicidae (năm 1997 với 115 loài, 29 giống), họ Tetragnathidae (năm 2003 với
111 loài, 20 giống), họ Therididae (năm 1998 với 223 loài, 27 giống), họ Gnaphosidae (năm 2004 với 166 loài, 34 giống), họ Philodromidae (năm 1997 với
30 loài, 3 giống) (Song et al, 1999) Nghiên cứu nhện ở các trang trại trồng cây ăn quả ở Trung Quốc, Chen và Gao (1990) đã ghi nhận được 332 loài nhện
Trong số các loài nhện đã ghi nhận được trên thế giới hiện nay, có 15 loài được ghi vào sách đỏ của IUCN (2002)
1.3 Nghiên cứu đa dạng nhện ở Việt Nam
Theo Zabka: Simon (1886, 1896, 1903, 1904, 1906, 1908), và Hogg (1922) đã cho công bố những công trình nghiên cứu đầu tiên về nhện ở Việt Nam Hai tác giả trên đã công bố ra 20 loài nhện mới cho khoa học được phát hiện ở Việt Nam Đến năm 1985, Zabka đã công bố danh sách 100 loài nhện nhảy Salticidae, trong đó bao gồm 51 loài và 8 giống mới cho khoa học được ghi nhận ở Việt Nam Các tác giả nước ngoài khác như Ono (1997, 1999, 2002, 2003) đã phát hiện 7 loài nhện mới cho khoa học thuộc các họ Zodaridae và Liphistidae
Phạm Đình Sắc và Khuất Đăng Long (2001) đã công bố thành phần loài nhện trên đậu tương tại 3 tỉnh Hà Nội, Hoà Bình và Bắc Ninh bao gồm 26 loài thuộc 9 họ nhện
Trang 21Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã được công bố Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn (2002) đã ghi nhận được 34 loài nhện trên cây vải thiều ở Sóc Sơn, Hà Nội; 29 loài nhện trên cây vải thiều ở Mê Linh, Hà Nội Thái Trần Bái và cs (2005) đã phát hiện được 33 loài nhện trên cây vải thiều ở Thanh Hà, Hải Dương
Trong vòng hai năm 2004 – 2005, Phạm Đình Sắc và cs đã cho công bố danh sách và phân bố của 113 loài nhện nhảy họ Salticidae cho khu hệ nhện Việt Nam Gần đây khi nghiên cứu nhện tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình, tác giả Phạm Đình Sắc đã chỉ ra rằng khu hệ nhện hang động tiềm ẩn nhiều điều mới lạ, cần khám phá (Phạm Đình Sắc và cs, 2011)
Khu hệ nhện rừng ngập mặn mới chỉ được nghiên cứu trong một vài năm gần đây, giới hạn trong một vài địa điểm rừng ngập mặn phía Nam Việt Nam ( Cồn Trong – Cà Mau, Cù Lao Dung – Sóc Trăng, VQG Tràm Chim) (Nguyễn Trần Thụy Thanh Mai và cs, 2013)
Năm 2009, sáu loài nhện mới được phát hiện tại hai VQG Cúc Phương tỉnh Ninh Bình và Cát Bà tỉnh Hải Phòng (Lin & Pham & Li, 2009) Năm 2010, thêm 1
loài nhện mới được phát hiện tại VQG Cát Bà Hải Phòng (Liu, Li & Pham, 2010b)
Trước đó , tại vườn quốc gia Ba Bể, Phạm Đình Sắc (2003) bước đầu đã công
bố danh sách 82 loài thuộc 23 họ nhện Lần đầu tiên ở Việt Nam, một loài nhện có nọc độc họ Theraphosidae đã được tìm thấy ở VQG Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên tỉnh Lạng Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn, 2005) Cho đến năm 2005, Việt Nam đã ghi nhận được 275 loài thuộc 144 giống của 30 họ nhện (Phạm Đình Sắc, 2005) Năm 2007 bổ sung thêm 45 loài, 15 giống, 1 họ cho khu hệ nhện Việt Nam (Phạm Đình Sắc và cs, 2007)
Trong giai đoạn từ 2009 đến 2013, tác giả Phạm Đình Sắc phối hợp với các chuyên gia nước ngoài tiến hành các đợt khảo sát nhện ở miền Bắc Việt Nam, đã
công bố 36 loài nhện mới cho khoa học (Lin & Pham & Li, 2009; Liu, Li & Pham, 2010; Zha, Pham & Li, 2012; Yao, Pham & Li, 2012)
Trang 22Hình 7 Địa điểm các VQG có những nghiên cứu về nhện
1.3 Vườn Quốc gia Cúc Phương
Trang 23Việt Nam được thế giới ghi nhận như là một trong những điểm nóng về đa dạng sinh học Từ năm 1962, sau khi vườn quốc gia đầu tiên được thành lập là VQG Cúc Phương, đến nay có rất nhiều các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập Tuy nhiên khu hệ nhện ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam nói chung và ở VQG Cúc Phương rất ít được nghiên cứu
- Vị trí địa lý: Nằm ở tọa độ 20o14' – 20o24' vĩ độ Bắc; 105o29' – 105o44' kinh độ Đông, thuộc địa phận 3 tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình và Ninh Bình, VQG Cúc Phương được thành lập từ năm 1962 theo quyết định 72/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đánh dấu cho sự ra đời của khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam
- Địa hình: VQG Cúc Phương nằm ở phần tận cùng về phía đông nam của một dãy núi đá vôi chạy về từ Tỉnh Sơn La ở hướng tây bắc Dải núi đá vôi này ưu thế bởi kiểu cát-tơ tự nhiên vốn có gốc hình thành trong biển cách đây khoảng 200 triệu năm Dãy núi này nhô lên đến độ cao 636 m tạo thành một nét địa hình nổi bật giữa một vùng đồng bằng Phần dãy núi đá vôi bao quanh VQG có chiều dài khoảng
25 km và rộng đến 10 km, ở giữa có một thung lũng chạy dọc gần hết chiều dài của dãy núi
- Thủy văn: Phần lớn nước ở trong VQG bị hút nhanh chóng bởi một hệ thống các mạch nước ngầm chằng chịt vốn rất phổ biến ở các kiểu cảnh quan cát-tơ, nước sau đó thường chảy ra ở những khe nhỏ ở bên hai sườn của VQG Vì lý do này, không có các ao hồ tự nhiên hay các thủy vực tĩnh ở trong VQG, mà chỉ có một dòng chảy thường xuyên là sông Bưởi Con sông tách cắt ở phía tây của vườn chảy theo hướng bắc nam và chảy vào sông Mã là con sông chính của Tỉnh Thanh Hoá
(Cục Kiểm lâm Thông tin về các VQG trực thuộc)
- Thảm thực vật: VQG Cúc Phương ưu thế bởi rừng trên núi đá vôi Ở một số
vị trí, rừng hình thành nên nhiều tầng tán có thể đến 5 tầng rõ rệt, trong đó tầng vượt tán đạt đến độ cao trên 40 m Do địa hình dốc, tầng tán thường không liên tục và đôi khi sự phân tầng không rõ ràng Nhiều cây rất phát triển hệ rễ bạnh vè để đáp ứng với tầng đất mặt thường mỏng VQG Cúc Phương hiện là nơi có nhiều loài cây gỗ
Trang 24lớn như Chò xanh Terminalia myriocarpa, Chò chỉ Shorea sinensis, và Đăng Tetrameles nudiflora (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) hiện đang được bảo vệ để thu hút
du khách thăm quan Đây cũng là nơi rất phong phú về các cây gỗ và cây thuốc
VQG Cúc Phương có một khu hệ thực vật cực kỳ phong phú Đến nay, đã thống kê được 1.960 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 887 chi và 221 họ thực vật trong vườn Về mặt số lượng loài, các họ giàu loài nhất trong hệ thực vật Cúc Phương là Euphorbiaceae, Poaceae, Fabaceae, Rubiaceae, Asteraceae, Moraceae, Lauraceae, Cyperaceae, Orchidaceae và Acanthaceae (Davis et al 1995) Tính đa dạng của khu hệ thực vật Cúc Phương rất cao đã phản ánh mức độ điều tra nghiên cứu rất chi tiết trong thời gian rất dài trước đây VQG Cúc Phương cũng được xác định là một trong bảy Trung tâm Đa dạng Thực vật của Việt Nam (Davis et al 1995)
- Hệ động vật: Cúc Phương là nơi sinh sống của một vài quần thể thú quan trọng về mặt bảo tồn, trong đó có phân loài linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng
trên toàn cầu ở mức đe dọa rất nguy cấp là Voọc quần đùi trắng Trachypithecus delacouri và loài sẽ bị nguy cấp trên toàn cầu là Cầy vằn Hemigalus owstoni (CPCP, 1999) Thêm vào đó, loài Báo hoa mai Panthera pardus là loài bị đe dọa ở
mức quốc gia cũng mới được ghi nhận gần đây (Báo Lao động, năm 2000)
Cúc Phương nằm tại tận cùng phía bắc của vùng chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ (Stattersfield et al 1998), tuy nhiên, chỉ có một loài có vùng phân bố giới hạn được
ghi nhận tại đây là Khướu mỏ dài Jabouilleia danjoui (Robson 1995) VQG Cúc
Phương đã được công nhận là một trong số các vùng chim quan trọng tại Việt Nam (Tordoff 2002)
Nhiều nhóm sinh vật khác cũng đã được nghiên cứu ở Cúc Phương trong đó có
ốc, 111 loài (có 27 loài đặc hữu) cho VQG và các khu vực kề cận (Vermeulen và Whitten 1998), 280 loài bướm, 7 loài trong số đó là các loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam tại Cúc Phương vào năm 1998 (Hill et al 1999)
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủ yếu nghiên cứu nhóm nhện sống trong tầng lá rác và nhóm nhện sống lang thang trên mặt đất
2.2 Thời gian thực hiện
Thời gian thực hiện: từ tháng 10/2013 đến 10/2014 Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực địa thu mẫu nhện trong 3 đợt:
- Đợt 1: giai đoạn mùa khô (tháng 10 -11/2013)
- Đợt 2: giai đoạn cuối mùa khô, đầu mùa mưa (tháng 2 – 3/2014)
- Đợt 3: giai đoạn mùa mưa ( tháng 5 – 6/2014)
Thời gian còn lại chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu, phân tích mẫu, xử lý
số liệu và viết báo cáo
2.3 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này chỉ được thực hiện ở VQG Cúc Phương của tỉnh Ninh Bình Nhện được thu ở 3 sinh cảnh: rừng tự nhiên, rừng trồng (keo tai tượng), trảng cỏ cây bụi
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thu mẫu ngoài thực địa
Các phương pháp thu mẫu đã được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài gồm:
- Phương pháp rây rác (sieving) để thu các mẫu nhện trong các lớp rác bề mặt, sỏi đất vụn trên bề mặt đất Rây rác gồm một túi được chia làm 2 phần ngăn cách nhau bởi 1 rây lưới làm bằng kim loại có kích thước mắt lưới khoảng 1-2cm2 Miệng rây rác rộng, gắn với một vòng kim loại hoặc gỗ có cán để cố định kích thước và hình dạng của miệng rây rác Đáy của rây rác có dạng một cái túi mở, có dây buộc đấy thành túi Cho rác, đất, sỏi trên nền đất vào rây rác, lắc mạnh sao cho các nhóm động vật lẫn trong lớp đất đá và rác rơi xuống túi bên dưới của rây rác Các loại lá cây, đất đá có kích thước lớn sẽ được giữ lại ở tầng trên của rây rác Loại
bỏ lớp rác tầng trên, cho toàn bộ đất đá, rác lá vụn có lẫn động vật rơi xuống tầng
Trang 26dưới của rây rác vào một tấm vải hoặc nilon trắng Dùng panh, ống hút hoặc chổi lông để bắt nhện lẫn trong rác vụn và giữa trong cồn 80o
Mỗi sinh cảnh chọn 5 điểm thu mẫu, các điểm thu mẫu cách nhau trên 1 km
- Phương pháp sử dụng bẫy hố (pitfall trap): Bẫy hố cấu tạo gồm hai cốc nhựa Cốc nhựa ngoài (kích thước 8cm x 14 cm) được chôn ngập xuống đất sao cho
bề mặt cốc nhựa bằng với bề mặt nền đất Cốc trong được lồng vào trong cốc ngoài Bên cạnh đó, vào mùa mưa bẫy hố được thiết kế nắp che, để hạn chế nước mưa sẽ vào trong cốc Trong cốc nhựa này cho 100ml dung dịch hỗn hợp gồm cồn 95%, nước và ethylen glycol theo tỷ lệ 70:15:15 Ngoài ra, để hạn chế sự bay hơi của hóa chất chúng tôi có sử dụng formol 2% để thay thế cho hóa chất bên trong cốc Phương pháp này để nghiên cứu nhóm nhện sống lang thang trên mặt đất Mỗi sinh cảnh chọn 5 điểm thu mẫu, các điểm thu mẫu cách nhau trên 1 km Mỗi điểm thu mẫu đặt 15 bẫy hố Bẫy hố được đặt trong thời gian 1 tháng cho mỗi đợt thu mẫu, mỗi đợt thu mẫu tương ứng với 1 mùa Mẫu vật được thu 5 ngày 1 lần
- Phương pháp bắt trực tiếp bằng tay (Searching): Quan sát bằng mắt thường
và sử dụng các dụng cụ hỗ trợ như kẹp, chổi lông, ống hút để thu bắt nhện
Hình 8 Các phương pháp thu mẫu
A Rây rác B Bẫy hố
Trang 272.4.2 Phương pháp xử lý và lưu trữ mẫu
Mẫu nhện thu thập ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 70%, đựng trong
lọ nhựa 100ml có nắp đậy kín và có ghi chú một số thông tin như thời gian, sinh cảnh, điểm thu…
Mẫu nhện được định loại tại phòng Sinh thái môi trường Đất, Viện Sinh thái
& Tài nguyên Sinh vật
Chúng tôi chỉ sử dụng các mẫu nhện trưởng thành để định loại tới loài, bởi vì việc định loại nhện ở giai đoạn con non đến cấp độ giống và loài là rất khó
Định loại nhện dựa theo các tài liệu của Zabka (1985); Davies (1986); Davies (1988) ; Chen và Gao (1990); Barrion và Litsinger (1995); Song và cộng sự (1997, 1999, 2004); Yin và cộng sự (1997); Zhu và cộng sự (1998, 2003), Jocque và Schoeman (2007)
Các mẫu thu cùng một điểm được chứa cùng một lọ, được tiến hành phân loại như sau : Trước tiên mẫu được đỗ ra đĩa petri đưa lên kính lúp quan sát, các mẫu có đặc điểm hình thái bên ngoài giống nhau sẽ được phân thành một type, chứa cùng một lọ, được ghi chú thông tin giống như khi chứa trong lọ lớn thu ngoài thực địa Sau khi phân type, mỗi type được phân tích đến họ và loài dựa vào các đặc điểm để nhận diện như: hình dạng, kích thước, số lượng và cách sắp xếp mắt, chiều dài và vị trí sắp xếp các gai đặc biệt trên các đốt chân, xúc biện nhện đực và cơ quan sinh dục nhện cái, các u hay đốm sigillum trên mặt lưng… Các mẫu sau khi được nhận dạng tới loài được đánh số thứ tự và ghi chú thông tin đầy đủ bao gồm thời gian, sinh cảnh, điểm thu, số lượng, tên họ, tên giống và tên loài Cuối cùng là tiến hành chụp ảnh để lưu trử làm tư liệu ảnh
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài nhện ở khu vực VQG Cúc Phương
3.1.1 Danh sách thành phần loài
Chúng tôi đã thu thập được 2015 cá thể trưởng thành ở khu vực VQG Cúc Phương, thuộc 32 loài, 27 giống, 15 họ nhện tại 3 sinh cảnh thu mẫu là trảng cỏ cây
bụi, rừng keo tai tượng và rừng tự nhiên (Bảng 1)
Bảng 1 Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện thu được tại khu vực VQG
Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình
I Araneidae
II Họ Amaurobiidae
III Clubionidae
IV Corinnidae
V Hersiliidae
VI Linyphiidae
Trang 2918 Erigone prominens Bösenberg et Strand, 1906 20
(*): loài ghi nhận mới cho khu hệ Việt Nam
(**): Có thể là loài mới cho khoa học
Trang 303.1.2 Mô tả các loài nhện ở VQG Cúc Phương
HỌ ARANEIDAE Simon, 1895
Giống Araneus Clerck, 1757
1 Araneus tonkinus (Simon, 1909)
Mẫu vật: (VQG Cúc Phương), No CP01
Đặc điểm chuẩn loại: Kích thước nhỏ khoảng 4 - 5 mm, 3 móng vuốt cổ
chân, 1 đôi phổi sách, 8 mắt, thuộc nhóm không có tấm nhả tơ (ecribella), có cơ quan sinh dục ngoài (entelegyne) Các mắt màu đen, xếp thành 2 hàng (4/4) trên phần nhô lên của đầu, mắt bên tách rộng với mắt giữa Toàn thân có phủ lông trắng mịn Giáp với phần đầu và phần ngực được tách biệt bởi chỗ lõm xiên Ức hình tim phủ lông trắng Chân kìm thấy rõ hai hàng răng Chân có nhiều lông gai, chiều dài chân giảm dần từ I, IV,II, III, chân I với xương ống có lông hình lược ở hai bên, chân số IV có hàng lông cứng ngắn thẳng hàng ở xương bàn và xương ống, có hàng lông hình lược ở xương ống Phần bụng phủ lông trắng, có 2 u nhô cao và một chấm
đỏ ở giữa lưng Núm nhả tơ to, đơn giản
Hình 3.1 Araneus tonkinus Simon, 1909
A Hình thái ngoài; B Giáp và cách xếp mắt; C Hàng lông cứng ở xương bàn IV;
D Cơ quan sinh dục con cái; E Ức và xúc biện con đực
Trang 31Phân bố: Việt Nam: Hà Nội, Ninh Bình,
Nhận xét: Ở khu vực VQG Cúc Phương, trong ba sinh cảnh thu mẫu, loài
Araneus tonkinus Simon, 1909, được tìm thấy ở trảng cỏ cây bụi và rừng tự nhiên
với số lượng ít, không tìm thấy ở rừng keo tai tượng
Giống Cyclosa Menge, 1866
2 Cyclosa centrodes (Thorell, 1887) (Hình 3.2)
Mẫu vật: (VQG Cúc Phương), No CP02
Đặc điểm chuẩn loại: Kích thước nhỏ khoảng 2 – 2,5 mm, 3 móng vuốt cổ
chân, 2 phổi sách, 8 mắt, thuộc nhóm ecribellate, entelegyne Các mắt xếp thành 2 hàng (4/4) trên phần nhô lên, sát mép trước của đầu, 2 mắt bên trước và bên sau xếp khít nhau Chân kìm thấy rõ hai hàng răng Toàn thân màu nâu đen, trơn láng, riêng mặt bụng dưới và chân màu vàng nhạt với những đốm nâu đen Giáp nhỏ, có rãnh đặc trưng Phần bụng hình giống ốc, cuối bụng thon nhọn Núm nhả tơ nằm giữa ở phần nhô ra của mặt dưới bụng
Phân bố:
Thế giới: Ấn độ, Singapore, Indonesia, Myanmar
Việt nam: Khu vực sông Lục Nam
Nhận xét: Ở khu vực VQG Cúc Phương, trong ba sinh cảnh thu mẫu, loài Cyclosa
centrodes (Thorell, 1887), được tìm thấy ở với số lượng ít ở rừng keo tai tượng rất
hiếm ở rừng tự nhiên, và không tìm thấy ở trảng cỏ cây bụi
Trang 32Hình 3.2 Cyclosa centrodes (Thorell, 1887)
A.B Hình thái ngoài (A mặt lưng; B mặt bên); C Giáp và cách xếp mắt;
D Cơ quan sinh dục con cái
Giống Neoscona Simon, 1864
1 Neoscona nautica (L Koch, 1875) (Hình3 3)
Mẫu vật: (VQG Cúc Phương), No CP03
Trang 33Hình 3.3 Neoscona nautica (L Koch, 1875)
A Hình thái ngoài; B Giáp và cách xếp mắt; C Cơ quan sinh dục con cái;
D Núm nhả tơ; E Xúc biện con đực
Đặc điểm chuẩn loại: Kích thước nhỏ khoảng 3 - 4 mm, 3 móng vuốt cổ
chân, 2 phổi sách, 8 mắt, thuộc nhóm ecribellate, entelegyne Mắt xếp thành 2 hàng (4/4) trên phần nhô lên của đầu, sát mép trước của đầu, mắt bên tách rộng với mắt giữa, 2 mắt bên trước và bên sau xếp khít nhau Giáp màu nâu vàng với phần đầu và phần ngực được tách biệt bởi các rãnh xiên, chia phần đầu ngực ra thành 3 phần
Trang 34Chân kìm thấy rõ hai hàng răng Bụng gần tròn, chiều dài chỉ hơi lớn hơn chiều rộng, màu nâu đen với các mảng hoa văn màu sáng bạc Bộ phận ngoài sinh dục cái
có thân rộng, dạng hình tam giác
Phân bố: Thế giới: Thái Lan, Singapore, Myanmar, Cosmopolitan
Việt Nam: Sông Lục Nam, Mỹ Đồng Nhận xét: Ở khu vực VQG Cúc Phương, trong ba sinh cảnh thu mẫu, loài
Neoscona nautical chỉ tìm thấy với số lượng ít ở rừng tự nhiên
4 Neoscona punctigera (Doleschall, 1857)
Mẫu vật: (VQG Cúc Phương), No CP04
Synonyms: Epeira punctigera (Doleschall, 1857), Epeira opima (L Koch, 1878), Epeira slateri (Butler, 1879), Araneus parascylla (Schenkel, 1963), Araneus
lugubris (Simon), Neoscona lugubris (Tikader & Bal)
Đặc điểm chuẩn loại: Kích thước nhỏ khoảng 2,5 – 3 mm, 3 móng vuốt cổ
chân, 2 phổi sách, 8 mắt màu đục, thuộc nhóm ecribellate, entelegyne Mắt xếp thành 2 hàng (4/4) trên phần nhô lên của đầu, sát mép trước của đầu, 2 mắt bên trước và bên sau xếp khít nhau Giáp màu nâu, có rãnh nằm ngang Chân kìm thấy
rõ hai hàng răng Chân có màu vàng nâu, xen kẻ những đốm nâu đen, chiều dài chân giảm dần từ I, IV,II, III Bụng gần tròn màu nâu, với các đốm trắng dài hơn rộng, xếp vòng quanh mép bụng, chiều dài chỉ hơi lớn hơn chiều rộng
Phân bố:
Thế giới: Châu phi, Tây Á, Nhật Bản, Singapore, Indonesia
Việt Nam: Hà Nội, Lục Nam, Tây Côn Lĩnh - Hà Giang
Nhận xét: Ở khu vực VQG Cúc Phương, trong ba sinh cảnh thu mẫu, loài
Neoscona punctigera, được tìm thấy ở với số lượng ít ở rừng keo tai tượng, rất ít ở
rừng tự nhiên, và không tìm thấy ở trảng cỏ cây bụi
Trang 35Hình 3.4 Neoscona punctigera (Doleschall, 1857)
A Hình thái ngoài; B Giáp và cách xếp mắt; C Cơ quan sinh dục con cái;
D Ức và xúc biện con đực
HỌ AMAUROBIIDAE
Coelotes Blackwall, 1841
5 Coelotes furvus Liu, Li & Pham, 2010
Mẫu vật: (VQG Cúc Phương), No CP05
Đặc điểm chuẩn loại: Kích thước trung bình khoảng 8 – 9mm, có tuyến tơ, 3
móng vuốt cổ chân, 8 mắt xếp thành hai hàng, thuộc nhóm entelegyne Giáp màu
Trang 36nâu đen, dài hơn rộng, phần đầu hơi nhô cao Mắt xếp thành hai hàng (4/4), hố mắt theo chiều dọc, mắt bên sau và bên trước xếp khích nhau, các mắt bên cách một khoảng rộng với các mắt giữa Ở con đực chân kìm mạnh mẽ, dài và thon gọn hơn con cái Môi dưới rõ nét, thu hẹp ở đáy Các chân đồng nhất về màu sắc, màu cam với các đốm màu nâu đen, có lông cứng Bụng hình trứng, màu nâu đen, được phủ bởi các lông mịn dài ngắn khác nhau, có các đốm màu cam xếp đối xứng qua trục
Ba đôi núm nhả tơ, đôi núm nhả tơ sau xếp khít nhau và dài hơn hai đôi còn lại
Phân bố:
Việt Nam: Ninh Bình
Nhận xét: Ở khu vực VQG Cúc Phương, trong ba sinh cảnh thu mẫu, loài Coelotes
furvus chỉ tìm thấy với số lượng ít ở rừng tự nhiên
Hình 3.5 Coelotes furvus Liu, Li & Pham, 2010
A Hình thái ngoài; B Xúc biện con đực; C Cơ quan sinh dục con cái
Giống Drconarius Ovtchinnikov, 1999
6 Drconarius pseudoclavellatus Liu, Li & Pham, 2010
Mẫu vật: (VQG Cúc Phương), No CP06
Trang 37Đặc điểm chuẩn loại: Kích thước trung bình khoảng 8 – 9 mm, có tuyến tơ,
3 móng vuốt cổ chân, 8 mắt, 2 phổi sách, thuộc nhóm entelegyne Giáp màu đen, dài hơn rộng, phần đầu hơi nhô cao Mắt xếp thành hai hàng (4/4), hố mắt theo chiều dọc, hàng mắt sau cong về phía trước, mắt bên sau và bên trước xếp khích nhau, các mắt bên cách các mắt giữa một khoảng rộng hơn so với các mắt khác, mắt giữa trước hơi lớn hơn các mắt còn lại Ở con đực chân kìm mạnh mẽ, dài và thon gọn hơn con cái Môi dưới rõ nét, thu hẹp ở đáy Ức màu cam và có lông cứng ngắn Các chân đồng nhất về màu sắc, màu cam với các đốm đen, có lông cứng Bụng hình trứng, màu đen, được phủ bởi các lông mịn dài ngắn khác nhau, có các đốm màu cam lớn xếp đối xứng qua trục Ba đôi núm nhả tơ, đôi núm nhả tơ sau dài hơn hai đôi còn lại
Phân bố:
Việt Nam: Vĩnh phúc
Nhận xét: Ở khu vực VQG Cúc Phương, trong ba sinh cảnh thu mẫu, loài
Drconarius pseudoclavellatus chỉ tìm thấy với số lượng ít ở rừng tự nhiên, rất ít ở
trảng cỏ cây bụi, không tìm thấy ở rừng keo tai tượng
Hình 3.6 Drconarius pseudoclavellatus Liu, Li & Pham, 2010
A Hình thái ngoài; B Xúc biện con đực
Trang 38HỌ CLUBIONIDAE Wagner, 1887
Giống Clubiona Latreille, 1804
7 Clubiona bachmaensis Ono, 2009
Mẫu vật: (VQG Cúc Phương), No CP07
Đặc điểm chuẩn loại: Kích thước nhỏ khoảng 4 – 5 mm, 2 móng vuốt cổ chân, 8 mắt, 2 phổi sách, thuộc nhóm ecribellate, entelegyne Giáp hình trứng, màu nâu vàng, phủ ít lông đen mịn Mắt xếp thành hai hàng (4/4), các mắt nhỏ, tương đối đồng kích cở, hố mắt cạn, chiều rộng của vùng mắt hơi lớn hơn hoặc bằng 1/2 chiều rộng của giáp Hàng mắt trước cong, hàng mắt sau thẳng, hai mắt giữa sau gần nhau hơn các mắt khác Bụng màu xám, phủ lông dài mịn Chân kìm có 4 -5 răng Chiều dài chân giảm dần I, IV, II,III, các chân có màu cam Ba đôi núm nhả
tơ, trong đó đôi núm nhả tơ trước và giữa có hình trụ, bộ phận nhả tơ sau phân hai
đoạn với đoạn đỉnh ngắn
Hình 3.7 Clubiona bachmaensis Ono, 2009
A Hình thái ngoài; B Xúc biện con đực; C Giáp và cách xếp mắt;
D Cơ quan sinh dục con cái;
Trang 39Phân bố:
Việt Nam: Bạch Mã, Tỉnh Thừa Thiên Huế
Nhận xét: Ở khu vực VQG Cúc Phương, trong ba sinh cảnh thu mẫu, loài
Clubiona bachmaensis, được tìm thấy nhiều nhất ở trảng cỏ cây bụi , ít ở rừng keo
tai tượng và rất ít ở rừng tự nhiên
HỌ CORINNIDAE Karsch, 1880
Giống Oedignatha Thorell, 1881 2.8 Oedignatha sima Simon, 1886 (Hình 3.8)
Mẫu vật: (VQG Cúc Phương), No CP08
Đặc điểm chuẩn loại: Kích thước nhỏ khoảng 3.5 - 4 mm, 2 móng vuốt cổ
chân, 8 mắt, 2 phổi sách, thuộc nhóm ecribellate, entelegyne Ba đôi núm nhả tơ, có
lổ thở nằm gần bộ phận nhả tơ Giáp có dạng oval hơi dài, màu đen nâu, xơ cứng.Vùng mắt rộng, các mắt có kích thước gần bằng nhau xếp thành 2 hàng 4/4, hàng mắt sau hơi cong, mắt giữa trước hơi lớn hơn mắt bên trước Ức dài hơn rộng, đỉnh nhọn, bề mặt có nhiều nốt sần, môi dưới có rìa lông Các chân màu nâu, ở đốt đùi của các chân có màu đen Chân xúc giác hơi dài Chân I, II xếp hướng về trước, ngược với chân III, IV, chiều dài của chân giảm dần từ chân IV, I, II, III, có chùm lông ở vuốt Bụng hình trứng, mặt trên bụng được che bởi một lớp giáp cứng chắc
có các đốm hoa văn xếp thành 2 hàng đối xứng
Phân bố:
Thế giới : Thái Lan
Việt Nam: TP Hồ Chí Minh
Nhận xét: Ở khu vực VQG Cúc Phương, trong ba sinh cảnh thu mẫu, loài
Oedignatha sima, được tìm thấy với số lượng nhiều ở trảng cỏ cây bụi, kế đến là
rừng keo tai tượng và ít nhất ở rừng tự nhiên
2.9 Oedignatha jocqueiDeeleman-Reinhold, 2001 (*) (Hình 3.9)
Mẫu vật: (VQG Cúc Phương), No CP09
Đặc điểm chuẩn loại: Kích thước trung bình khoảng 3- 4mm, có 8 mắt, 2
móng vuốt cổ chân, 3 đôi núm nhả tơ, 2 phổi sách, thuộc nhóm ecribellate, entelegyne, có lổ thở nằm gần bộ phận nhả tơ Giáp màu nâu, trơn láng, có dạng oval hơi dài Vùng mắt rộng, có viền mắt màu đen, các mắt có kích thước gần bằng nhau xếp thành 2 hàng 4/4, hàng mắt sau hơi cong Ức dài hơn rộng màu vàng nhạt
Trang 40có viền màu nâu sậm, đỉnh nhọn, bề mặt có nhiều nốt sần, môi dưới có rìa lông, có màu vàng nhạt Các chân màu vàng với các đốm màu nâu đen, có 2 vuốt, chân I, II xếp hướng về trước, ngược với chân III, IV, chiều dài của chân giảm dần từ chân
IV, I, II, III, có chùm lông ở vuốt Bụng hình trứng, màu nâu đen, trên mặt lưng có các đốm hình bầu dục có màu trắng, xếp song song thành hai hàng
Phân bố: Trên thế giới: Thái Lan
Việt Nam: Ninh Bình
Nhận xét: Ở khu vực VQG Cúc Phương loài Oedignatha jocquei được tìm thấy ở
cả 3 sinh cảnh, phổ biến ở rừng keo tai tượng, kế đến ở trảng cỏ cây bụi , ít nhất ở rừng tự nhiên Đây là một trong những loài thu được với số lượng lớn