Chất lượng nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu định tính về tình trạng phát triển thể lực, trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, trình độ quản lý, cơ cấu về tuổi, giới tính, phẩm
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LƯU THỊ TÂM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS MAI NGỌC CƯỜNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Lưu Thị Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các giảng viên Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh đã trực tiếp giảng dạy, tư vấn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Mai Ngọc Cường đã tận
tình chỉ bảo giúp đỡ, định hướng và trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình hình thành và hoàn thiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi được hoàn thành khoá học và hoàn thành luận văn này
Dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy, quý cô cùng các anh (chị) và bạn bè quan tâm góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Lưu Thị Tâm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học, đóng góp của đề tài luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP 5
1.1 Chất lượng nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập 5
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và chất lượng nhân lực 5
1.1.2 Đặc điểm chất lượng nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập 6 1.1.3 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập trong điều kiện hiện nay 8
1.2 Nội dung, nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập 16
1.2.1 Nội dung chất lượng nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập 16 1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực của cơ sở đào tạo công lập 20
1.3 Kinh nghiệm và bài học rút ra của một số nước trên thế giới và các đơn vị trên địa bàn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 26
Trang 61.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về phát triển nguồn
nhân lực 26
1.3.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng nhân lực cho Việt Nam 28
1.3.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng nhân lực cho đơn vị công lập 31 1.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra về nâng cao chất lượng nhân lực vận dụng cho một số đơn vị sự nghiệp công lập ở Hải Dương 32
1.4 Tình hình nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực có liên quan 32
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Câu hỏi nghiên cứu và quản lý 34
2.2 Khung phân tích của luận văn 34
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.3.2 Số liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu đề tài 35
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 37
2.2.4 Phương pháp tổng hợp số liệu 38
2.2.5 Phương pháp phân tích 38
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá 40
2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh nguồn lực đầu vào 40
2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu ra của quản lý 41
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 42
Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH HẢI DƯƠNG 43
3.1 Đặc điểm trên địa bàn nghiên cứu 43
3.1.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương 43
3.1.2 Khái quát về hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công của tỉnh Hải Dương 44
Trang 73.1.3 Chức năng, nhiệm vụ Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương 45 3.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương 47 3.2 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương 49 3.2.1 Thực trạng trình độ nguồn nhân lực tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương 49 3.2.2 Thực trạng về kỹ năng nghề nghiệp 54 3.2.3 Về phẩm chất chính trị của nhân lực 54 3.2.4 Về thể chất (sức khỏe) nhân lực tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương 55 3.3 Đánh giá chung về chất lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương 56 3.3.1 Kết quả đạt được về chất lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương 56 3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương 63 3.4 Phân tích SWOT về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trung tâm giáo dục thường Xuyên tỉnh Hải Dương 68
68 69
Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH HẢI DƯƠNG NHỮNG NĂM TỚI 71
4.1 Phương hướng phát triển và nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực của Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương trong những năm tới 71
Trang 84.1.1 Bối cảnh phát triển của lĩnh vực hoạt động tại Trung tâm trong
những năm tới 71
4.1.2 Dự báo nhu cầu về nhân lực tại Trung tâm trong những năm tới 73
4.2 Phương hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương trong những năm tới 75
4.2.1 Phương hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương trong những năm tới 75
4.2.2 Phương hướng nâng cao chất lượng đối với từng bộ phận nhân lực tại Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương 78
4.3 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương thời gian tới 79
4.3.1 Thực hiện đầy đủ quy định về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, chế độ đãi ngộ đối với nhân lực của Trung tâm 80
4.3.2 Hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển về số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ 87
4.3.3 Tăng cường công tác tổ chức quản lý nhân lực và sự quan tâm của lãnh đạo đơn vị 88
4.3.4 Nâng cao ý thức tự phấn đấu rèn luyện của bản thân người lao động 89 4.4 Một số kiến nghị về điều kiện thực hiện 91
4.4.1 Kiến nghị với Sở giáo dục và đào tạo 91
4.4.2 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân Tỉnh 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCNV : Cán bộ công nhân viên CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hoá CNV : Công nhân viên
ĐTB : Điểm trung bình
GDTX : Giáo dục thường xuyên NNL : Nguồn nhân lực
QĐ : Quyết định TCCB : Tổ chức cán bộ UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thang đánh giá Likert 38Bảng 3.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương 44Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu về các đơn vị sự nghiệp công trên địa bàn tỉnh 45Bảng 3.3 Trình độ tin học của nhân lực tại Trung tâm GDTX tỉnh Hải
Dương năm 2013 51Bảng 3.4 Trình độ ngoại ngữ của nhân lực tại Trung tâm GDTX tỉnh Hải
Dương Năm 2013 52Bảng 3.5 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức của cán bộ Trung
tâm GDTX tỉnh Hải Dương (mẫu phiếu điều tra M7) 52Bảng 3.6 Nhận xét về đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý lớp ở Trung
tâm GDTX tỉnh Hải Dương trong điều kiện hiện nay 56Bảng 3.7 Nhận xét về đội ngũ cán bộ làm công tác tuyển sinh, quảng bá ở
Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương trong điều kiện hiện nay 58Bảng 3.8 Nhận xét về đội ngũ cán bộ quản lý Tài chính, tài sản ở Trung
tâm GDTX tỉnh Hải Dương trong điều kiện hiện nay 60Bảng 3.9 Mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của chất lượng nhân lực tại
Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương và Trường CĐ Hải Dương? 62Bảng 3.10 Nhận xét về mức độ tác động của các yếu tố sau đến chất lượng
nguồn nhân lực ở Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương hiện nay 65Bảng 4.1 Thứ tự ưu tiên các biện pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại
trung tâm hiện nay 79
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1 Trình độ đào tạo của nhân lực 50
Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1 Khung phân tích của luận văn 34
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của TTGDTX tỉnh Hải Dương 49
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu trong đường lối phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài với mục tiêu: "Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ, phát triển được năng lực của cá nhân" Để đáp ứng yêu cầu ấy nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng và tác động trực tiếp đến quá trình quản lý góp phần quyết định vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện, nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào yếu tố con người
Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực luôn chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là vấn đề hết sức quan trọng Muốn phát triển nhanh và bền vững, chúng ta phải tạo dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và có chính sách phát huy tối đa đó Việc quản lý và
sử dụng đúng nguồn nhân lực là nhân tố tiên quyết cho thành công của tổ chức
Do vậy, các cơ quan, doanh nghiệp cần phải chủ động quy hoạch, tạo nguồn,
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đã trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia trên thế giới Chất lượng nguồn nhân lực hoặc nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực với những con người lao động có tri thức tốt, có kỹ năng cao và có tính nhân văn sâu sắc Kinh nghiệm cho thấy, sự phát triển của các cơ quan, doanh nghiệp gắn chặt với chính sách và chiến lược phát triển nguồn nhân lực
Trang 13Tuy nhiên, nhìn lại nguồn nhân lực của nước ta hiện nay, chúng ta không khỏi lo lắng về chất lượng yếu kém, về cơ cấu và sự phân bổ thiếu hợp
lý Nguồn nhân lực của Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương cũng không nằm ngoài thực trạng chung của đất nước
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương” làm luận văn
tốt nghiệp là có ý nghĩa cấp thiết về lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về nhân lực, yêu cầu của chất
lượng nhân lực nói chung, yêu cầu chất lượng nhân lực trong các khâu công việc nói riêng phục vụ cho hoạt động của Trung tâm luận văn phân tích thực trạng chất lượng nhân lực quản lý lớp; nhân lực làm công tác tuyển sinh quảng
bá và nhân lực làm công tác quản lý tài chính tài sản, thiết bị tại Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương Từ đó rút ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân hạn chế và khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực trong từng khâu công việc tại Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương thời gian tới
Trang 143 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chất lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
Nguồn nhân lực có phạm vi rộng, bao gồm cả nhân lực hiện có và nhân lực tương lai sẽ tuyển dụng Trong phạm vi luận văn này tác giả nghiên cứu nhân lực hiện có tại Trung tâm; phân tích chất lượng nhân lực theo nhiệm vụ công việc như chất lượng nhân lực quản lý lớp; chất lượng nhân lực làm công tác tuyển sinh quảng bá và chất lượng nhân lực làm công tác quản lý tài chính tài sản, thiết bị trên bốn khía cạnh
1 Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và trình độ chính trị;
2 Kỹ năng nghề nghiệp;
3 Về phẩm chất chính trị, về tinh thần trách nhiệm, về đạo đức nghề nghiệp và sự yêu nghề (say mê với nghề);
4 Sức khỏe của nhân lực
- Về không gian và thời gian: Phân tích số liệu về thực trạng chất lượng
nguồn nhân lực trong hoạt động Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2013, kiến nghị giải pháp trong thời gian tới
4 Ý nghĩa khoa học, đóng góp của đề tài luận văn
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Về mặt khoa học: Nghiên cứu góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý
luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại cơ sở đào tạo công lập
- Về mặt thực tiễn: Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại
Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương, đánh giá kết quả đạt được, cũng như những tồn tại và nguyên nhân Từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương
Trang 154.2 Đóng góp chủ yếu của đề tài
Thứ nhất, góp phần nghiên cứu rõ hơn đặc điểm chất lượng nguồn nhân
lực Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương trên cơ sở kết hợp giữa quan niệm chất lượng tổng hợp, chất lượng chung với chất lượng nhân lực gắn liền với các khâu công việc trong hoạt động đào tạo công lập
Thứ hai, đã đánh giá được thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại
Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương hiện nay, chỉ ra những mặt được và chưa được trên phương diện chất lượng nhân lực nói chung, chất lượng nhân lực trong các khâu hoạt động nói riêng
Thứ ba, đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến thành tựu và hạn chế về
chất lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương hiện nay
Thứ tư, khuyến nghị đồng bộ hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực Trung tâm GDTX tỉnh Hải Dương những năm tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực tại
cơ sở đào tạo công lập
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm Giáo
dục thường xuyên tỉnh Hải Dương
Chương 4: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương Những năm tới
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP
1.1 Chất lượng nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và chất lượng nhân lực
Về cơ bản, nhân lực của một quốc gia hay của một ngành là tổng thể những tiềm năng lao động của con người có trong một thời kỳ nhất định phù hợp với kế hoạch và chiến lược phát triển (có thể tính cho 1 năm, 5 năm, 10 năm) Tiềm năng đó bao hàm tổng hòa tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động có thể đáp ứng một cơ cấu lao động cho nền kinh tế - xã hội nhất định hay cho một tổ chức nào đó
Trong nhiều năm trước đây, khái niệm “lực lượng lao động” được sử dụng rất phổ biến và có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam chúng ta có một lực lượng lao động dồi dào (do tính theo khái niệm người trong độ tuổi lao động) Khái niệm nhân lực theo nghĩa mới có tính đến chi tiết hơn những yếu tố nội tại bên trong của lực lượng lao động và chính vì vậy, khi đặt trong bối cảnh cạnh tranh chung của các nước trong khu vực, với Trung Quốc, nhân lực nước
ta đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế Hàng năm chúng ta có hàng vạn sinh viên tốt nghiệp ra trường, trong khi đó nhiều doanh nghiệp không tìm được người
đủ yêu cầu để tuyển dụng Vì vậy, với cơ cấu chất lượng của lực lượng lao động hiện nay, chúng ta cần xác định nhân lực của chúng ta như thế nào và xây dựng kế hoạch phân bổ một cách hợp lý giống như các nhà tài chính phân
bổ ngân sách nhà nước cho các khu vực khác nhau của nền kinh tế
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một"tài nguyên đặc biệt", một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư
Trang 17cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững
Chất lượng nhân lực có hàm nghĩa rất rộng Đối với từng cá nhân đó là những khả năng về sức khỏe, trình độ văn hoá, chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật và thói quen lao động
Chất lượng nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu định tính về tình trạng phát triển thể lực, trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, trình độ quản
lý, cơ cấu về tuổi, giới tính, phẩm chất đạo đức, tác phong và kỷ luật của nhân lực nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước nói riêng
Chất lượng nhân lực được biểu hiện trên các mặt: thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, tác phong và ý thức tổ chức kỷ luật, có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó thể lực là nền tảng, là cơ sở để phát triển trí tuệ, là phương tiện
để truyền tải trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn
Nhân lực của một tổ chức chính là lực lượng lao động mà tổ chức có thể thu hút và sử dụng để đáp ứng được đòi hỏi của tổ chức (về mục tiêu của
tổ chức; loại sản xuất )
Chất lượng nhân lực cơ sở đào tạo công lập,là phạm trù phản ánh tổng thể tình trạng phát triển thể lực, trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, trình độ quản lý, phẩm chất đạo đức, tác phong và kỷ luật của nhân lực làm công tác
1.1.2 Đặc điểm chất lượng nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập
Chất lượng nhân lực có hàm nghĩa rất rộng Đối với từng cá nhân đó là những khả năng về sức khỏe, trình độ văn hoá, chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật và thói quen lao động Chất lượng nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu định tính về tình trạng phát triển thể lực, trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, trình độ quản lý, cơ cấu về tuổi, giới tính, phẩm chất đạo đức, tác phong và kỷ luật của nhân lực nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước nói riêng
Trang 18Chất lượng nhân lực được biểu hiện trên các mặt: thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, tác phong và ý thức tổ chức kỷ luật, có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó thể lực là nền tảng, là cơ sở để phát triển trí tuệ, là phương tiện
để truyền tải trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn
Từ đó, chất lượng nhân lực cơ sở đào tạo công lập được hiểu là tổng thể
những yếu tố về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức và sức khỏe của người cán bộ để thực hiện các nhiệm vụ của cơ sở
đào tạo công lập
Cơ sở đào tạo công lập, một ngành quan trọng trong đời sống kinh tế -
xã hội, ngoài đào tạo ra, cũng như các ngành nghề khác, nó luôn phải được điều chỉnh bởi những tiêu chí đạo đức nghề nghiệp
Chức năng giáo dục là hết sức lớn và là một trong những chức năng qui định tất yếu khiến chúng ta phải quan tâm đặc biệt đến vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ ngành Giáo dục, đặc biệt đối với cán
bộ quản lý lớp học, tuyển sinh lớp Sẽ không có hoạt động Giáo dục đúng đắn, lành mạnh một khi vấn đề đạo đức nghề nghiệp không được coi trọng
Để có được sản phẩm trong ngành Giáo dục có chất lượng thì trình độ cán bộ phải không ngừng được nâng lên đồng thời cả về chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống
Chất lượng nguồn nhân lực trong cơ sở đào tạo công lập là một sự tổng hợp, kết tinh của rất nhiều yếu tố và giá trị cùng tham gia tạo nên Trong đó,
gồm ba yếu tố cơ bản: thể lực, trí lực và tâm lực
Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tư duy mang tính sáng
tạo thích ứng với xã hội của cán bộ quan hệ khách hàng, giáo viên, học sinh, sinh viên Nói đến trí lực là nói đến yếu tố tinh thần, trình độ văn hoá và học vấn, biểu hiện ở khả năng vận dụng những điều kiện vật chất, tinh thần vào hoạt động thực tiễn nhằm đạt hiệu quả cao, đồng thời là khả năng định hướng giá trị hoạt động của bản thân để đạt được mục tiêu Trí lực là yếu tố chiếm vị
Trang 19trí trung tâm chỉ đạo hành vi của con người trong mọi hoạt động, kể cả trong việc lựa chọn các giải pháp phù hợp nhằm phát huy tác dụng của các yếu tố khác trong cấu trúc chất lượng nguồn nhân lực Trí lực là yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người
Tâm lực là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất của cán bộ
quan hệ khách hàng, giáo viên, học sinh, sinh viên… được biểu hiện trong thực tiễn công tác giảng dạy, quản lý lớp học, tuyển sinh Những giá trị đó gắn liền với năng lực tư duy và hành động cụ thể của con người, tạo nên chất lượng của nguồn nhân lực Tâm lực tạo ra động cơ bên trong của chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của con người Nói cách khác, tâm lực góp phần vào việc phát huy vai trò của các yếu tố thể lực và trí lực của con người
Thể lực là cơ sở quan trọng cho hoạt động thực tiễn của cán bộ làm
công việc quan hệ khách hàng truyền bá, quảng cáo chiêu sinh, có thể đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình hoạt và đảm bảo cho con người có khả năng làm việc
1.1.3 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của
cơ sở đào tạo công lập trong điều kiện hiện nay
1.1.3.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yêu cầu cấp bách trong điều kiện kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là sự biến đổi về chất lượng nhân lực biểu hiện qua các mặt thể lực, trình độ, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho những công việc theo yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Nhờ đó, nâng cao được năng lực của người lao động ổn định được công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế - xã hội của họ Nâng cao chất lượng nhân lực quản lý ở tầm vĩ mô là các hoạt động nhằm tạo ra nhân lực có khả năng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến trong mỗi giai đoạn phát triển
Trang 20Thực chất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình tổ chức đào tạo nâng cao thể lực, trí lực, kỹ năng, thói quen và thái độ của người lao động Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhằm tạo ra quy mô chất lượng và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu về lao động phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực luôn gắn bó với nhau và tác động lẫn nhau Về mặt số lượng là tăng nhân lực (con người) Về mặt chất lượng bao gồm sức khoẻ, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và các phẩm chất cá nhân Về cơ cấu bao gồm tỷ lệ cấu thành số lượng, chất lượng giữa các loại lao động, mối tương quan, quan trọng nhất là tỷ lệ giữa đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật lành nghề Ở nước ta hiện nay, việc nâng cao chất lượng nhân lực là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững
Ở góc độ lao động - xã hội, nâng cao chất lượng nhân lực là việc nâng cao dân trí, phát triển giáo dục, đào tạo để nâng cao năng lực tiếp thu và làm chủ công nghệ Nhập khẩu công nghệ nước ngoài nhưng không có khả năng tiếp thu công nghệ một cách hiệu quả thì không có tác dụng phát triển kinh tế Thực tiễn cho thấy, để thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta phải thu hút được công nghệ hiện đại từ bên ngoài, muốn vậy chúng
ta phải luôn nâng cao chất lượng nhân lực, nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ và hoàn chỉnh công nghệ đó trong điều kiện hoàn cảnh của đất nước ta
để phát huy hiệu quả cao hơn Tiếp thu và làm chủ công nghệ cần phát huy và giải quyết hai vấn đề cơ bản: Phát triển nhân lực và đẩy mạnh công tác nghiên cứu và triển khai Để nâng cao chất lượng nhân lực, trước hết công tác giáo dục - đào tạo phải là yêu cầu cấp bách hàng đầu Đây là công việc lâu dài liên tục cho cả quá trình phát triển của đất nước
Trang 21Từ sự phân tích trên có thể khái quát: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình biến đổi nhằm phát huy, khơi dậy tiềm năng của con người, là phát triển toàn bộ nhân cách và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách, phát triển cả về năng lực thể chất lẫn năng lực tinh thần của con người, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức, năng lực chuyên môn trình độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn
Trong tình hình hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển ngày càng cao làm tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế và kinh tế tri thức
Đặc trưng nổi bật nhất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là đã đưa các yếu tố thông tin, tri thức trở thành nhân tố quan trọng để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của các quốc gia Trong điều kiện ngày nay, sự vận hành của các quan hệ kinh tế trở nên năng động, các quy trình từ khoa học, kỹ thuật, công nghệ đến sản xuất và tiêu dùng được rút ngắn, làm tăng khả năng hội nhập, trao đổi vốn tri thức của các quốc gia với nhau Bất kỳ một nước đang phát triển nào nếu biết coi trọng yếu tố "tri thức"
và "thông tin" đều có thể rút ngắn được thời gian của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nét nổi bật của kinh tế tri thức là vai trò ngày càng tăng của "nguồn lực con người" Đó là những con người có trí tuệ, có kỹ năng được đào tạo cơ bản Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với nội dung là phát triển công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng và vật liệu mới, công nghệ compuzit, công nghệ nanô, đã đưa thế giới bước vào giai đoạn mới với những bước nhảy vọt về lực lượng sản xuất chưa từng có
so với các thời đại trước đây Cuộc cách mạng này mang lại cho con người nhiều điều kiện và phương tiện để nâng cao đời sống tinh thần và vật chất, đồng thời cũng tạo ra những hệ quả nghiêm trọng làm ô nhiễm môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội như vấn đề tăng dân số, tài nguyên bị cạn kiệt,
Trang 22môi trường ngày một xấu đi và mặt trái của đạo đức, văn hóa và sự đảo lộn các giá trị xã hội,
Hiện nay, với công nghệ phát triển ngày càng cao, chúng ta có thể dễ dàng tiếp cận với thông tin về kiến thức, kinh nghiệm, cũng như những vấn đề diễn biến phức tạp đang diễn ra trên thế giới thông qua nhiều kênh khác nhau như sách, báo, internet, truyền thông, báo mạng,… Song làm thế nào để chúng ta tiếp nhận được những thông tin đúng, bổ ích, mang tính giáo dục cao, giúp chúng ta có những định hướng, lập trường vững vàng, sống có niềm tin,… Tất cả những vấn đề đó đều phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ
có khả năng nắm bắt được tình hình để thúc đẩy quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tóm lại, sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng nhân lực xuất phát từ những yêu cầu cụ thể sau:
Thứ nhất: Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi một đội ngũ
ngày càng đông đảo lao động trí tuệ có trình độ, chuyên môn, kỹ thuật cao có khả năng đảm nhiệm các chức năng nắm bắt và tiếp thu được các thông tin kiến thức khoa học mới, hiện đại; có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhạy bén phát hiện những diễn biến chính trị phức tạp; năng động, sáng tạo thích ứng với cơ chế thị trường Từ đó, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi một đội ngũ đông đảo công nhân kỹ thuật được đào tạo kỹ lưỡng, có chất lượng tay nghề cao Vấn đề đặt ra là việc quản lý sử dụng đội ngũ này như thế nào để phát huy hết khả năng, năng lực của họ, đồng thời thường xuyên bổ sung kỹ năng, nghiệp vụ và đào tạo lại để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển
Thứ hai: Một yêu cầu không kém quan trọng của sự phát triển nhân
lực là nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và phong cách làm việc công nghiệp Những phẩm chất này sẽ giúp cho con người không bị cám dỗ bởi những mặt trái của cơ chế thị trường, nơi đồng tiền và lợi ích có thể làm đảo lộn luân thường đạo lý và trà đạp lên lương tâm, phẩm hạnh con người Đồng thời, công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn
Trang 23đòi hỏi ý thức tổ chức kỷ luật cao, tác phong làm việc khoa học, điều mà lực lượng quản lý của chúng ta còn yếu kém khi tồn tại quá lâu cơ chế quản lý quan liêu bao cấp
Thứ ba: Nâng cao thể lực cho người lao động nói chung và những
người làm công tác Ngân hàng nói riêng là một yêu cầu không thể xem nhẹ trong phát triển nhân lực Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá với việc áp dụng phổ biến các kỹ thuật và công nghệ hiện đại không chỉ đòi hỏi chất lượng trí tuệ cao của nhân lực mà còn đòi hỏi một lớp người lao động ngày càng có sức khoẻ tốt, thể lực tốt
Xuất phát từ đó nên Đại hội Đảng lần thứ XI đã coi đào tạo nguồn nhân lực là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm mang tính đột phá để đưa đất nước ta
về cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011)
1.1.3.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập
Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong của cơ sở đào tạo công lập xuất phát từ vị trí, vai trò của hoạt động ngành Giáo dục trong nền kinh tế
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là sự biến đổi về chất lượng nhân lực biểu hiện qua các mặt thể lực, trình độ, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho những công việc theo yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Nhờ đó, nâng cao được năng lực của người lao động ổn định được công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế - xã hội của họ Nâng cao chất lượng nhân lực quản lý ở tầm vĩ mô là các hoạt động nhằm tạo ra nhân lực có khả năng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến trong mỗi giai đoạn phát triển
Thực chất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là quá trình tổ chức đào tạo nâng cao thể lực, trí lực, kỹ năng, thói quen và thái độ của người lao động Nâng cao chất lượng nhân lực là nhằm tạo ra quy mô chất lượng và cơ cấu
Trang 24ngày càng phù hợp với nhu cầu về lao động phục vụ sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội Số lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực luôn gắn bó với nhau và tác động lẫn nhau Về mặt số lượng là tăng nhân lực (con người) Về mặt chất lượng bao gồm sức khoẻ, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và các phẩm chất cá nhân Về cơ cấu bao gồm tỷ lệ cấu thành số lượng, chất lượng giữa các loại lao động, mối tương quan, quan trọng nhất là tỷ lệ giữa đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật lành nghề Ở nước ta hiện nay, việc nâng cao chất lượng nhân lực là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững
Ở góc độ lao động - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc nâng cao dân trí, phát triển giáo dục, đào tạo để nâng cao năng lực tiếp thu và làm chủ công nghệ Nhập khẩu công nghệ nước ngoài nhưng không có khả năng tiếp thu công nghệ một cách hiệu quả thì không có tác dụng phát triển kinh tế Thực tiễn cho thấy, để thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta phải thu hút được công nghệ hiện đại từ bên ngoài, muốn vậy chúng ta phải luôn nâng cao chất lượng nhân lực, nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ và hoàn chỉnh công nghệ đó trong điều kiện hoàn cảnh của đất nước ta để phát huy hiệu quả cao hơn Tiếp thu và làm chủ công nghệ cần phát huy và giải quyết hai vấn đề cơ bản: Phát triển nhân lực và đẩy mạnh công tác nghiên cứu và triển khai Để nâng cao chất lượng nhân lực, trước hết công tác giáo dục - đào tạo phải là yêu cầu cấp bách hàng đầu Đây là công việc lâu dài liên tục cho cả quá trình phát triển của đất nước
Từ sự phân tích trên có thể khái quát: Nâng cao chất lượng nhân lực là quá trình biến đổi nhằm phát huy, khơi dậy tiềm năng của con người, là phát triển toàn bộ nhân cách và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách, phát triển
cả về năng lực thể chất lẫn năng lực tinh thần của con người, tạo dựng và
Trang 25ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức, năng lực chuyên môn và tay nghề từ trình độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn
Trong tình hình hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển ngày càng cao làm tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế và kinh tế tri thức
Đặc trưng nổi bật nhất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là đã đưa các yếu tố thông tin, tri thức trở thành nhân tố quan trọng để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của các quốc gia Trong điều kiện ngày nay, sự vận hành của các quan hệ kinh tế trở nên năng động, các quy trình từ khoa học, kỹ thuật, công nghệ đến sản xuất và tiêu dùng được rút ngắn, làm tăng khả năng hội nhập, trao đổi vốn tri thức của các quốc gia với nhau Bất kỳ một nước đang phát triển nào nếu biết coi trọng yếu tố "tri thức"
và "thông tin" đều có thể rút ngắn được thời gian của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nét nổi bật của kinh tế tri thức là vai trò ngày càng tăng của "nguồn lực con người" Đó là những con người có trí tuệ, có kỹ năng được đào tạo cơ bản Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với nội dung là phát triển công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng và vật liệu mới, công nghệ compuzit, công nghệ nanô, đã đưa thế giới bước vào giai đoạn mới với những bước nhảy vọt về lực lượng sản xuất chưa từng có
so với các thời đại trước đây Cuộc cách mạng này mang lại cho con người nhiều điều kiện và phương tiện để nâng cao đời sống tinh thần và vật chất, đồng thời cũng tạo ra những hệ quả nghiêm trọng làm ô nhiễm môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội như vấn đề tăng dân số, tài nguyên bị cạn kiệt, môi trường ngày một xấu đi và mặt trái của đạo đức, văn hóa và sự đảo lộn các giá trị xã hội,
Trang 26Hiện nay, với công nghệ phát triển ngày càng cao, chúng ta có thể dễ dàng tiếp cận với thông tin về kiến thức, kinh nghiệm, cũng như những vấn đề diễn biến phức tạp đang diễn ra trên thế giới thông qua nhiều kênh khác nhau như sách, báo, internet, truyền thông, báo mạng,… Song làm thế nào để chúng ta tiếp nhận được những thông tin đúng, bổ ích, mang tính giáo dục cao, giúp chúng ta có những định hướng, lập trường vững vàng, sống có niềm tin,… Tất cả những vấn đề đó đều phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý lớp, tuyển sinh và cán bộ chuyên môn có khả năng nắm bắt được tình hình để thúc đẩy quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Để đáp ứng yêu cầu của bạn đọc trong thời kỳ bùng nổ thông tin và quá trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập với những yêu cầu đặt ra ngày càng cao Yêu cầu đó được thể hiện ở các mặt:
Thứ nhất: Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi một đội ngũ
lao động trí tuệ có trình độ, chuyên môn, kỹ thuật cao có khả năng đảm nhiệm các chức năng nắm bắt và tiếp thu được các thông tin kiến thức khoa học mới, hiện đại; có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhạy bén phát hiện những diễn biến chính trị phức tạp; năng động, sáng tạo thích ứng với cơ chế thị trường
Thứ hai: Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi một đội ngũ
kỹ thuật được đào tạo kỹ lưỡng, có chất lượng Vấn đề đặt ra là việc quản lý
sử dụng đội ngũ này như thế nào để phát huy hết khả năng, năng lực của họ, đồng thời thường xuyên bổ sung kỹ năng, nghiệp vụ và đào tạo lại để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển
Thứ ba: Một yêu cầu không kém quan trọng của sự phát triển nhân lực
là nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và phong cách làm việc công nghiệp Những phẩm chất này sẽ giúp cho con người không bị cám dỗ bởi những mặt trái của cơ chế thị trường, nơi đồng
Trang 27tiền và lợi ích có thể làm đảo lộn luân thường đạo lý và trà đạp lên lương tâm, phẩm hạnh con người Đồng thời, công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn đòi hỏi ý thức tổ chức kỷ luật cao, tác phong làm việc khoa học, điều mà lực lượng quản lý của chúng ta còn yếu kém khi tồn tại quá lâu cơ chế quản lý quan liêu bao cấp
Thứ tư: Nâng cao thể lực cho người lao động nói chung và những
người làm công tác cơ sở đào tạo công lập nói riêng là một yêu cầu không thể xem nhẹ trong phát triển nhân lực Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá với việc áp dụng phổ biến các kỹ thuật và công nghệ hiện đại không chỉ đòi hỏi chất lượng trí tuệ cao của nhân lực mà còn đòi hỏi một lớp người lao động ngày càng có sức khoẻ tốt, thể lực tốt
1.2 Nội dung, nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập
1.2.1 Nội dung chất lượng nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo công lập
1.2.1.1 Trình độ nhân lực
Trình độ nhân lực là nhân tố tổng hợp thể hiện sự hiểu biết và khả năng giải quyết nhiệm vụ chuyên môn được giao Trình độ nhân lực là biểu hiện quan trọng nhất của chất lượng nhân lực Trình độ nhân lực càng cao, chất lượng nhân lực càng cao và ngược lại
Trình độ nhân lực được thể hiện ở trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của nhân lực
Trình độ văn hóa của nhân lực là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội Trong chừng mực nhất định, trình độ văn hoá của người lao động biểu hiện mặt bằng dân trí của quốc gia đó Trình độ văn hoá của nhân lực là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nhân lực và có tác động mạnh tới quá trình phát triển kinh tế -
xã hội Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ và thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ vào thực tiễn
Trang 28Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên
môn nào đó, nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, có khả năng thực hiện hoặc chỉ đạo việc thực hiện một chuyên môn hoặc công việc nhất định Do đó trình độ chuyên môn của nhân lực được xác định bằng: tỷ lệ cán bộ trung cấp; tỷ lệ cán bộ cao đẳng, đại học; tỷ lệ cán bộ trên đại học
Do đặc điểm của hoạt động cơ sở đào tạo công lập, nhân lực đảm nhận
ở nhiều khâu hoạt động Ở các khâu này, do yêu cầu, tính chất công việc khác nhau nên đòi hỏi trình độ nhân lực khác nhau
Thứ nhất, trình độ - chất lượng nhân lực làm công tác quản lý lớp học của cơ sở đào tạo công lập
Nâng cao vai trò, trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm lớp Cán bộ, giáo viên chủ nhiệm lớp thực sự là người lãnh đạo có đủ bản lĩnh, trí thức, sự hiểu biết để tuyên truyền, giáo dục và thuyết phục người học chấp hành tốt các quy định của trường liên kết và Trung tâm, đồng thời làm nhà tư vấn đế xây dựng tập thể lớp vững mạnh
Thường xuyên kiểm tra uốn nắn nâng cao chất lượng công tác giáo viên chủ nhiệm Thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp, phối hợp chặt chẽ với phòng giáo vụ, chuyên môn, cán bộ giảng dạy trường đại học và giáo viên chủ nhiệm để quản lý chặt chẽ các lớp học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
Tăng cường chỉ đạo các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua
„Dạy tốt, học tốt, quản lí tốt‟ sâu rộng trong cán bộ, giáo viên, nhân viên Tổ chức các hội nghị về công tác chủ nhiệm lớp, kinh nghiệm học tập
Thứ hai, trình độ chất lượng nhân lực làm công tuyển sinh, quảng bá, giáo vụ, chuyên môn tại cơ sở đào tạo công lập
Tập trung các nguồn lực để nâng cao hiệu quả công tác tuyển sinh, xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tranh thủ sự ủng hộ của các sở ban ngành, UBND các
Trang 29huyện, thị xã, thành phố để làm tốt công tác tuyển sinh Duy trì các lớp hiện có, tiếp tục xây dựng tuyển sinh, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Tăng cường phối hợp với các sở, ngành UBND các huyện, thị xã thành phố để triển khai công tác tuyển sinh kịp thời
Thực hiện đan dạng hóa các loại hình đào tạo, liên kết nhiều trường, nhiều cơ sỏ đào tạo và phối hợp chặt chẽ với các huyện
Xác định công tác tuyển sinh, mở lớp hiện nay là điều kiện "sống còn" của đơn vị, do vậy phải đổi mới công tác tuyển sinh, từng bước nâng cao năng lực làm việc của đội ngũ cán bộ giáo viên làm công tác tuyển sinh mỗi cán bộ tuyển sinh thực sự là người tư vấn cho người học, có thái độ hòa nhã, khiêm tốn, tận tình, chu đáo với người học, nắm chắc quy chế tuyển sinh cua Bộ, chủ quản, quy định của các trường liên kết để kịp thời giải đáp mọi thắc mắc cho người học và có trách nhiệm đến cùng với người học Có chế độ khen thưởng với người có công trong công tác tuyển sinh Tập trung và ưu tiên mọi nguồn lực cho công tác tuyển sinh, mở lớp Xây dựng cộng tác viên trong toàn tỉnh; tuyên truyền vận động các cán bộ, giáo viên và người lao động của Trung tâm coi trọng công tác tuyển sinh đào tạo liên kết là nghĩa vụ, trách nhiệm của từng người và tổ chức trong đơn vị - để mỗi người đều nắm vững kế hoạch và nội dung tuyển sinh, hình thức tuyển sinh, tiến tới ai cũng có thế phát hành và tiếp nhận hồ sơ tuyển sinh đúng quy định
Đẩy mạnh công tác tuyển sinh với việc tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo giúp người học nắm vững nhành nghề, trường lớp, thời gian và kinh phí học tập đến từng cơ sở ở các huyện, các trường trong tỉnh và các tỉnh lân cận
1.2.1.2 Kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp
Trước hết người cán bộ trong hoạt động trong cơ sở đào tạo công lập nói chung, cán bộ trong hoạt động ngành giáo dục nói riêng với tư cách là một công
Trang 30dân, phải sống và làm việc theo tiêu chuẩn đạo đức một công dân, lấy việc gương mẫu sống và làm việc theo pháp luật là tiêu chuẩn đạo đức cơ bản Yêu cầu đặc thù của chức nghiệp làm nghề là phải hoàn thành tốt công việc được giao, phải luôn có ý thức tự học hỏi, tự rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, phải có lập trường chính trị vững vàng, luôn trung thực, khách quan
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, đòi hỏi mỗi cán bộ phải liêm khiết, khiêm tốn, trung thực, thẳng thắn, không vụ lợi, thực hiện bình đẳng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và trách nhiệm như Bác Hồ
đã dạy “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi
đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”
1.2.1.3 Về phẩm chất chính trị của nhân lực
Đó là khả năng nắm bắt được tình hình chính trị đang diễn ra trong
nước và trên thế giới Định hướng phát triển của một đất nước được thể hiện bằng chính quan điểm, chủ trương, chính sách, thể chế của đất nước đó Những định hướng này nhằm đưa đất nước ngày càng phát triển, để người dân được hưởng ấm no, hạnh phúc Do vậy, những người dân cần hiểu và nhận thức được tư tưởng chính trị vững vàng góp sức vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phát triển
Trong hoạt động công lập, phẩm chất chính trị nhân lực thể hiện ở tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ Người cán bộ có phẩm chất chính trị tốt không chỉ là ở chỗ có tư tưởng chính trị vững vàng mà
nó thể hiện ở trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của họ trong hoạt động cơ sở đào tạo công lập Trong việc ra quyết định cho Giáo viên chủ nhiệm lớp, nếu thiếu trách nhiệm xã hội, thiếu đạo đức nghề nghiệp dễ đi đến những quyết định sai, dẫn đến không hiệu quả cho công tác chủ nhiệm lớp Nhìn chung nguồn nhân lực của cơ sở đào tạo đều có phẩm chất chính trị vững vàng Những cán bộ, công nhân viên luôn xác định rõ được chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, một cơ quan công lập đồng thời luôn được học tập, đào
Trang 31tạo tu dưỡng thêm về lý luận chính trị nên đa số họ đều có phẩm chất chính trị tốt, đặc biệt là đội ngũ những người làm công tác quản lý lớp
1.2.1.4 Về thể chất (sức khỏe) nhân lực
Một yếu tố không thể thiếu đối với nguồn nhân lực là sức khoẻ Sức khoẻ ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là
sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần
Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khoẻ và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể Một cơ thể khoẻ mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó Thể lực có ý nghĩa quyết định đến năng lực hoạt động của con người Phải có thể lực, con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội Trong bối cảnh hiện nay, nâng cao thể lực cho nguồn nhân lực là yêu cầu bức xúc hàng đầu nhằm đáp ứng đòi hỏi về chi phí
và cường độ lao động ngày càng cao của cơ sở đào tạo công lập, nâng cao thể lực là nâng cao sức khoẻ nguồn nhân lực và phải được coi như là sự đầu tư cơ bản, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Sức khỏe làm tăng chất lượng nhân lực cả hiện tại và tương lai, người lao động, người quản lý có sức khoẻ tốt có thể mang lại lợi nhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung khi làm việc
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực của cơ sở đào tạo công lập
1.2.2.1 Quy hoạch, kế hoạch phát triển về số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ
Như chúng ta đã biết, chất lượng nhân lực là khả năng lao động của người lao động Chất lượng nhân lực chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân
tố Có thể phân nhóm nhân tố ảnh hưởng đến một số mặt của chất lượng nhân lực như sau:
- Nhóm nhân tố liên quan đến thể chất nhân lực: Như di truyền, dinh dưỡng, chất lượng cuộc sống, thu nhập, chăm sóc y tế, môi trường
Trang 32- Nhóm nhân tố liên quan đến nâng cao trình độ văn hoá, nghề nghiệp: Như giáo dục, đào tạo, trình độ khoa học công nghệ Nhiều quốc gia đã đạt được thành tựu khả quan trong phát triển kinh tế chủ yếu bằng phát triển giáo dục, đào tạo Giáo dục, đào tạo được ưu tiên và trở thành quốc sách
- Các chính sách cơ chế quản lý kinh tế - xã hội Đây là đòn bẩy để kích thích sự nỗ lực cố gắng cống hiến của người lao động Nếu chế độ tuyển dụng, đánh giá người lao động chính xác, trả lương đúng mức sẽ khuyến khích, bắt buộc người lao động phải cố gắng để nâng cao chất lượng lao động của bản thân
- Các nhân tố về tập quán, truyền thống, văn hoá Kinh nghiệm của nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia châu Á cho thấy, các nhân tố này tác động rất mạnh đến nâng cao chất lượng nhân lực
- Nhóm nhân tố về nhu cầu việc làm của xã hội, “đầu ra” của nhân lực Nhu cầu này ảnh hưởng đến cơ hội tìm kiếm việc làm của người lao động, ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ thất nghiệp
Riêng đối với nguồn nhân lực cơ sở đào tạo công lập, cần lưu ý tới các nhóm nhân tố sau:
1.2.2.2 Các quy định và thực hiện quy định về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, chế độ đãi ngộ đối với nhân lực nói chung, nhân lực của các cơ sở quản lý giáo dục nói riêng
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc qua các nhiệm kỳ đã thể hiện rõ quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ Những quan điểm đó được cụ thể hoá trong các Nghị quyết Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đặc biệt, Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII), Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII), Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá IX) của Đảng đã khẳng định cải cách hành chính nhà nước và chiến lược cán bộ, trong
đó có nội dung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là vấn đề thuộc đường lối chiến lược của Đảng ta
Trang 33Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nội dung cải cách hành chính và là một trong 7 chương trình hành động của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001)
Yêu cầu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn
và năng lực thực tiễn, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhà doanh nghiệp và các chuyên gia Trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị, coi trọng cả đức và tài, lấy đức là gốc"
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định phải:
"Sớm xây dựng chiến lược cán bộ của thời kỳ mới" Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) ngày 18/6/1997 ra Nghị quyết: "Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Trên cơ sở tổng kết công tác cán bộ trong những năm qua, chủ yếu là trong 10 năm đổi mới, Nghị quyết xác định phương hướng cơ bản, các chính sách và giải pháp lớn xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ đến năm 2020 Mục tiêu là:
"Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội"
Nhằm tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức hiện nay, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 874/TTg ngày 20/11/1996 về "công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ và công chức nhà nước hiện nay" Mục tiêu và đối tượng của việc đào tạo, bồi dưỡng công chức hiện nay là:
Trang 34- Trang bị những kiến thức và kỹ năng cơ bản, bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa, tận tuỵ với công vụ, có trình độ, quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước; thực hiện chương trình cải cách nền hành chính nhà nước
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức nhà nước theo tiêu chuẩn của từng ngạch công chức và chức danh cán bộ quản lý đã được Nhà nước ban hành nhằm khắc phục về cơ bản những khiếm khuyết, hẫng hụt hiện nay để thực thi công vụ, bảo đảm yêu cầu công việc và tạo nguồn nhân lực thường xuyên cho cơ quan nhà nước, bao gồm thi tuyển công chức, đào tạo tiền công
vụ, đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm, thi nâng ngạch, bậc công chức
Trong đào tạo và xây dựng đội ngũ những người làm công quản lý đào tạo, cần quán triệt quan điểm chung về phát triển nhân lực của đất nước mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” Đồng thời lựa chọn phát triển nhanh nhân lực làm công tác đào
tạo chất lượng cao
Sự nghiệp đào tạo chỉ thành công khi chúng ta biết khai thác hợp lý và
sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực Song, yếu tố giữ vai trò quyết định nhất, đảm bảo cho sự thắng lợi của quá trình đó chính là nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao trong công tác quản lý đào tạo Các nguồn lực khác trong lĩnh vực đào tạo (ngoại trừ nguồn nhân lực), xét về mặt số lượng có thể là dồi dào, nhưng nếu khai thác và sử dụng không hợp lý thì đến một lúc nào đó sẽ trở nên cạn kiệt, đó là yếu tố cơ bản để hoạt động đào tạo phát triển một cách bền vững Đây là một ưu điểm nổi trội của nguồn nhân lực so với các nguồn lực khác trong hệ thống nguồn lực phục vụ cho công tác đào tạo nói riêng và phát triển kinh tế tri thức nói chung Ngày nay,
Trang 35trở ngại chủ yếu nhất được xác định chính là sự hạn chế về trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người khi thực hiện một công việc rất khó khăn
Xác định được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ công chức, đối với đội ngũ cán bộ làm tại cơ sở đào tạo công lập, cũng như các ngành khác việc đào tạo, bồi dưỡng có vai trò quan trọng đặc biệt, bởi vì:
- Trong hoàn cảnh nền kinh tế quốc dân phát triển cả về số lượng và chất lượng, khoa học - công nghệ ngày càng phát triển cao, hoạt động xuất bản đã, đang và sẽ phát triển một cách đa dạng và phức tạp, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác đào tạo ngày càng nặng nề
- Để đảm bảo nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác cơ sở đào tạo công lập đội ngũ cán bộ công chức quản lý, tuyển sinh, phải ngày càng được nâng cao trình độ cả về chuyên môn, cả về năng lực tổ chức thực thi chính sách và năng lực vận động quần chúng Đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh
cơ sở đào tạo công lập phải được nâng cao trình độ về mọi mặt, phải đảm bảo các kiến thức cơ bản sau:
+ Nắm vững đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
+ Biết sử dụng máy tính và công nghệ thông tin vào công tác chuyên môn + Biết ngoại ngữ để nâng cao hiểu biết và phục vụ công tác chuyên môn Tóm lại, công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ công chức trong công tác quản lý lớp, quản lý tài chính, tuyển sinh phải được coi như một nội dung quan trọng trong hoạt động trong cơ sở đào tạo công lập Do vậy, vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là rất quan trọng trong chiến lược phát triển nhân lực
1.2.2.3 Công tác tổ chức quản lý nhân lực và sự quan tâm của lãnh đạo
Bất kỳ một tổ chức nào, công tác tổ chức quản lý cán bộ có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng Điều này có liên quan đến tất cả các khâu từ tuyển dụng, đến sử dụng, đánh giá, sắp xếp, đề bạt khen thưởng và kỷ luật đối với cán bộ trong cơ quan Trong tổ chức quản lý cần quan tâm đến những vấn đề cụ thể sau đây:
Trang 36- Tuyển dụng và sắp xếp cán bộ thực hiện những chuyên môn phù hợp với trình độ, năng lực, đảm bảo cho cán bộ, viên chức phát huy hết khả năng
và sở trường, hăng say công tác
- Xây dựng được hệ thống dữ liệu để thực hiện nhiệm vụ quản lý cán
bộ, gắn quyền hạn với trách nhiệm hành chính và vật chất của cán bộ trên từng vị trí công tác…
- Xây dựng được quy định, quy chế, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, các quy định về đánh giá chất lượng hoạt động của nhân lực để nhận xét đánh giá cán bộ, viên chức tạo tiền đề và là cơ sở cho việc bố trí, sử dụng cán bộ, viên chức một cách phù hợp
- Thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng và đạo đức nghề nghiệp của nhân lực, có các hình thức khen thưởng và kỷ luật cán bộ nhằm điều chỉnh hoạt động của cán bộ trong tổ chức
1.2.2.4 Ý thức tự phấn đấu rèn luyện của bản thân người lao động
Hoạt động cơ sở đào tạo công lập trong nền kinh tế thị trường đặt ra những yêu cầu mới đối với cán bộ hoạt động trong lĩnh vực quản lý khác hẳn
so với trước đây Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã đề ra những yêu cầu chung cho đội ngũ cán bộ ở nước ta trong thời kỳ mới là:
“ - Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Không tham nhũng Có ý thức
tổ chức kỷ luật không cơ hội được nhân dân tín nhiệm
- Có trình độ hiểu biết lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng
và chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao”
Trang 37Đây cũng là những yêu cầu đối với những người làm công tác tại cơ sở
đào tạo công lập trong tình hình hiện nay
1.3 Kinh nghiệm và bài học rút ra của một số nước trên thế giới và các đơn vị trên địa bàn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về phát triển nguồn nhân lực
Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Mỹ, Nhật Bản, các nước phương Tây trong những năm giữa của thế kỷ XX, hiện tượng những “con hổ” ở khu vực Đông Á, tiếp đến là sự tăng trưởng nhanh chóng của các nước ASEAN, Trung Quốc phần lớn đều nhờ vào nguồn nhân lực có chất lượng Thực tiễn phát triển của các quốc gia này đáng để chúng ta học tập
Tại Mỹ, với một chiến lược dài hạn, kinh phí cho giáo dục đại học của
Mỹ đến từ các nguồn khác nhau, như các công ty, tổ chức nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo, nhà từ thiện Nguồn kinh phí dồi dào mang lại cho các trường khả năng xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, thuê giảng viên giỏi cũng như xây dựng quỹ hỗ trợ sinh viên Trong giáo dục đại học ở Mỹ, tính cạnh tranh giữa các trường rất khốc liệt Nếu sinh viên vào được các trường đại học tốt, nổi tiếng và học giỏi, cơ hội có việc làm sẽ tăng lên rất nhiều
Để phát triển nguồn nhân lực, Mỹ rất coi trọng môi trường sáng tạo và khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực Chiến tranh thế giới thứ hai đã mang lại cho nước Mỹ - nước duy nhất trên thế giới, cơ hội thu hút nguồn chất xám rất lớn, đó là rất nhiều các nhà khoa học, nhà nghiên cứu giỏi từ Châu Âu và nhiều nước khác đã nhập cảnh vào
Mỹ Thực tế này trả lời cho câu hỏi, tại sao hiện nay Mỹ là một trong những nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực
Ở châu Á, Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ việc xác định rằng, nước Nhật nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát triển, chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật
Trang 38Bản, Chính phủ nước này đã đặc biệt chú trọng tới giáo dục - đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách hàng đầu Theo đó, chương trình giáo dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc; tất cả học sinh trong độ tuổi từ 6 đến
15 tuổi được học miễn phí Kết quả là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ở nước này ngày càng nhiều Và Nhật Bản đã trở thành một trong những cường quốc giáo dục của thế giới
Về sử dụng và quản lý nhân lực, Nhật Bản thực hiện chế độ lên lương
và tăng thưởng theo thâm niên Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này chủ yếu dựa vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như không có trường hợp cán bộ trẻ tuổi, ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền lương cao hơn người làm lâu năm
Tại Hàn Quốc, chính sách giáo dục được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế Năm 1950, Chính phủ Hàn Quốc chủ trương xóa mù chữ cho toàn dân Những năm sau đó, hệ thống giáo dục dần được đẩy mạnh như: phát triển giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học (năm 1960); các trường dạy nghề kỹ thuật (năm 1970); đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và giáo dục trên lĩnh vực khoa học cơ bản và công nghệ, nâng cao chất lượng giáo dục và học suốt đời Năm 1992, Hàn Quốc thực hiện cải cách giáo dục với mục tiêu tái cấu trúc hệ thống giáo dục hiện có thành một hệ thống giáo dục mới, bảo đảm cho người dân được học suốt đời Tháng 12-2001, Chính phủ Hàn Quốc công bố Chiến lược quốc gia lần thứ nhất về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2001-2005 Tiếp đó, Chiến lược quốc gia lần thứ hai về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ 2006-2010 được xây dựng và thực hiện hiệu quả Nội dung chính của các chiến lược này đề cập tới sự tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, trường đại học và các cơ sở nghiên cứu; nâng cao trình độ sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý kiến thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển nguồn nhân lực; xây dựng và phát triển thị trường tri thức
Trang 39Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore được coi là hình mẫu về phát triển nguồn nhân lực Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này đã rất thành công trong việc xây dựng một đất nước có trình độ dân trí cao và hệ thống giáo dục phát triển hàng đầu châu Á
Singapore áp dụng linh hoạt chính sách giáo dục và luôn hướng đến khả năng, sở thích cũng như năng khiếu của từng học sinh nhằm giúp các em phát huy cao nhất tiềm năng của mình Bên cạnh việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học - công nghệ mới vào giảng dạy, chương trình đào tạo của Singapore luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách, truyền thống văn hóa dân tộc Để thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, Chính phủ Singapore miễn xét thị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí học tập vừa phải, môi trường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo đa dạng Ngoài ra, Chính phủ đầu tư thích đáng cho giáo dục đại học, ví dụ trường đại học quốc gia Singapore (NUS) với 13 trung tâm/viện nghiêm cứu cấp quốc gia, 11 viện/trung tâm cấp trường và 70 viện/trung tâm cấp khoa, Chính phủ cùng NUS quyết tâm đẩy mạnh khám phá kiến thức và phát minh mới, đào tạo sinh viên lỗi lạc và bồi dưỡng nhân tài phục vụ đất nước và xã hội Hàng trăm chương trình đào tạo được thiết kế với nền căn bản rộng, liên ngành và liên khoa Với những cố gắng đó, NUS được quốc tế công nhận đứng vào danh sách 100 trường đại học chất lượng nhất thế giới trong các bảng xếp hạng của Times hay Đại học Giao thông Thượng Hải Năm 2004, NUS đã thu hút được 31.346 sinh viên, trong đó có 8.595 sinh viên sau đại học
1.3.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng nhân lực cho Việt Nam
Trong nhiều năm qua, mặc dù giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định, song nhìn chung, vẫn còn tồn tại nhiều nghịch lý, chưa theo kịp trình độ phát triển của giáo dục thế giới, thậm chí còn nhiều tiêu cực nảy sinh trong hệ thống giáo dục Bước vào năm học mới, bên cạnh niềm vui đưa con, nhìn con đến trường, hân hoan với sự trưởng thành của con cái, là
Trang 40nỗi băn khoăn, lo lắng, của các bậc phụ huynh khi nghĩ đến những việc phải làm đối với việc học tập của con trong suốt cả năm học
Thực tế cho thấy, học sinh ở bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông học căng thẳng, chịu “tải” nhiều hơn ở bậc học đại học Học sinh
và phụ huynh đều lao vào cuộc chạy đua trang bị kiến thức với sự mệt mỏi và cảm giác “vô lý”, nhưng lại không yên tâm để dừng lại Học sinh phải học và nhớ nhiều kiến thức lý thuyết nhưng khi học xong, hoặc không nhớ, hoặc chóng quên, trong khi kiến thức thực tế, cách cư xử trong gia đình, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng giao tiếp, hành xử trong cộng đồng , lại không được đề cập hoặc được đào tạo, giáo dục không tương xứng
“Chúng ta không thiếu việc làm mà thiếu cử nhân làm được việc” Nhận xét khái quát này cho thấy việc đào tạo học để có nghề và ra làm được nghề có rất nhiều bất cập Điều này tồn tại đã lâu và được nói đến nhiều nhưng vẫn chưa thể khắc phục Chính vì thế mà hằng năm Việt Nam có khoảng 223.000 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ công lập và 22.700 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ dân lập (theo số liệu của Tổng cục Thống kê), nhưng tỷ
lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường bị thất nghiệp là 63% (theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Một hậu quả tiếp theo là, vì phần đông cử nhân ra trường vẫn mơ hồ về định hướng nghề nghiệp, mục tiêu mong muốn đạt tới, hình mẫu lý tưởng trong nghề nghiệp của mình, thiếu kiến thức thực tế và kỹ năng hành nghề, cũng như kỹ năng thuyết trình, làm việc nhóm làm cho nhiều nhà tuyển dụng thấy việc tuyển các cử nhân vào các vị trí làm việc rất khó khăn
Một vấn đề nữa là, việc đào tạo ở bậc học đại học chưa thực sự gắn chặt với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc lựa chọn nghề nghiệp theo học mang nhiều cảm nhận chủ quan Dự báo quốc gia về nhu cầu lao động trong tương lai chưa có, vì thế dẫn tới tình trạng mất cân đối trong đào tạo nghề, và tiếp theo sẽ là thừa cung lao động trong một số nghề và thiếu